LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng và tiến trình đổi mới của Việt Nam ngày càng phát triển, Việt Na
Trang 1VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN NGHIÊN CỨU CHÂU PHI VÀ TRUNG ĐÔNG
-
ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIÊN CỨU CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC
ĐỂ MỞ RỘNG QUAN HỆ HỢP TÁC CỦA VIỆT NAM
VỚI KHU VỰC TRUNG ĐÔNG ĐẾN NĂM 2020
Mã số: ĐTĐL.2010T/37 BÁO CÁO TỔNG HỢP
Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ẢNH HƯỞNG
ĐẾN QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM - TRUNG ĐÔNG
20
1.1 Các lý thuyết và quan điểm chính sách có ảnh hưởng tới quan
hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông
20
1.1.2 Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia 22
1.1.4 Các quan điểm mới về Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Kiến
tạo, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức
1.3 Những thay đổi về chính sách và thực tiễn diễn ra tại Trung
Đông và thế giới thời kỳ gần đây
45
1.3.1 Những thay đổi về chính sách và biến động chính trị - xã hội
diễn ra gần đây tại Trung Đông - Bắc Phi
45
1.3.2 Cuộc khủng hoảng tài chính và sự thay đổi giá dầu thế giới 51
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN TẠI KHU VỰC
TRUNG ĐÔNG
54
2.1 Tình hình chính trị, an ninh và ngoại giao của Trung Đông 54
2.1.1 Thực trạng chính trị, an ninh Trung Đông thời kỳ Chiến tranh
Trang 32.1.3 Tương đồng, khác biệt - nguyên căn của hợp tác và xung đột tại
Trung Đông
66
2.2 Sự phát triển thương mại và du lịch của Trung Đông 72
2.2.1 Quan hệ thương mại của Trung Đông 72
2.2.2 Sự phát triển của ngành du lịch Trung Đông 78
2.3.1 Tổng quan thị trường lao động Trung Đông 81
2.3.2 Các đối tác xuất khẩu lao động sang Trung Đông 87
2.3.3 Các ngành nghề tiếp nhận lao động ở Trung Đông 88
2.3.4 Các hình thức và điều kiện đối với người lao động nước ngoài
ở một số nước Trung Đông
89
2.3.5 Tác động của lao động nước ngoài đối với thị trường lao động
Trung Đông
92
2.4.1 Trữ lượng và phân bổ dầu lửa của Trung Đông 95
2.4.2 Sản lượng dầu lửa của Trung Đông 97
2.4.3 Nguồn thu từ xuất khẩu dầu lửa của Trung Đông 101
2.4.4 Cách thức sử dụng nguồn thu từ dầu lửa của Trung Đông 103
2.4.5 Vai trò dầu lửa Trung Đông trong ngành dầu lửa thế giới 110
2.4.6 Vai trò của OPEC đối với nguồn dầu lửa Trung Đông 110
2.4.7 Các nước lớn với nguồn dầu lửa Trung Đông 113
2.5 Đầu tư nước ngoài vào Trung Đông và đầu tư của Trung
Đông ra nước ngoài
115
2.5.1 Đầu tư nước ngoài vào Trung Đông 116
2.5.2 Đầu tư của Trung Đông ra nước ngoài 122
2.5.4 Đầu tư của Các Tiểu Vương quốc Arab Thống nhất 132
CHƯƠNG III: QUAN HỆ QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC CỦA
TRUNG ĐÔNG
150
Trang 43.1 Quan hệ quốc tế và khu vực của Trung Đông những năm gần
đây
150
3.1.1 Những vấn đề nổi bật trong quan hệ quốc tế của Trung Đông 150 3.1.2 Quan hệ quốc tế của một số quốc gia chủ chốt tại Trung Đông 154 3.1.3 Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) 157
3.1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của GCC 157
3.1.3.2 Những đặc điểm chủ yếu của GCC 159
3.2 Quan hệ của Trung Đông với các nước lớn 168
3.2.1.1 Chính sách Trung Đông của Mỹ trong thời kỳ vừa qua 168
3.2.1.2 Quan hệ Trung Đông - Mỹ trong một số lĩnh vực tiêu biểu 171
3.2.2.1 Chính sách Trung Đông của Liên bang Nga 183
3.2.2.2 Quan hệ Trung Đông - Nga trong một số lĩnh vực tiêu biểu 186
3.2.3 Quan hệ của Trung Đông với Liên minh Châu Âu 192
3.2.3.1 Chính sách Trung Đông của EU 192
3.2.3.2 Hợp tác trong khuôn khổ Đối tác Châu Âu - Địa Trung Hải 193
3.2.3.4 EU với vấn đề an ninh, chính trị Trung Đông 201
3.2.4.1 Chính sách Trung Đông của Nhật Bản 203
3.2.4.2 Hợp tác Trung Đông - Nhật Bản trong một số lĩnh vực tiêu
biểu
206
3.2.5.1 Chính sách Trung Đông của Trung Quốc 209
3.2.5.2 Quan hệ kinh tế Trung Đông - Trung Quốc 213
3.2.5.3 Quan hệ của một số quốc gia trọng yếu ở Trung Đông với
Trung Quốc
217
3.2.6 Quan hệ hợp tác khu vực giữa Trung Đông và Châu Á 220
Trang 53.2.6.1 Con đường tơ lụa mới 221
3.2.6.3 Đối thoại Trung Đông - Châu Á 225
CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP
ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC ĐỂ MỞ RỘNG QUAN HỆ HỢP TÁC
VIỆT NAM - TRUNG ĐÔNG
227
4.1 Ảnh hưởng của các quan điểm lý thuyết và thực tiến đến
quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông
227
4.1.1 Ảnh hưởng của các lý thuyết và quan điểm phát triển đối với
quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông
227
4.1.2 Ảnh hưởng của các tôn giáo đến khả năng hợp tác giữa Việt
Nam với Trung Đông
228
4.1.3 Ảnh hưởng của những biến động chính trị - xã hội - kinh tế diễn
ra gần đây tại Trung Đông - Bắc Phi và trên thế giới đối với quan hệ
hợp tác Việt Nam - Trung Đông
230
4.2 Thực trạng quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông trong
những lĩnh vực chủ yếu
234
4.2.1 Hợp tác thương mại và du lịch Việt Nam - Trung Đông 234
4.2.2 Hợp tác lao động Việt Nam - Trung Đông 249
4.2.3 Hợp tác dầu khí Việt Nam - Trung Đông 265
4.2.4 Hợp tác đầu tư Việt Nam - Trung Đông 272
4.3 Quan điểm chủ đạo và giải pháp đột phá chiến lược để mở
rộng quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACWA ACWA Power International Công ty Năng lượng Quốc tế
ACWA của Saudi Arabia
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Tự do Thương mại
ASEAN AKP Trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là
AK parti hoặc AKP (Adalet ve
Kalkınma Partisi)
Đảng Công lý và Phát triển
AMED Asia - Middle East Dialogue Đối thoại Châu Á - Trung
Đông AMU Alliance of Maghreb Union Liên minh Arab Maghreb APEC Asia Pacific Economic
Cooperation
Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương ARAMCO Arabian American Oil
Company
Công ty dầu Mỹ Saudi Arabia
ARC ASEAN Riyadh Commitee Ủy ban Riyadh ASEAN Arab FTA Arab Free Trade Area Khu vực Tự do Thương mại
Arab ASEAN Association of Southeast
Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế
CIA Central Intelligence Agency Cục Tình báo Trung ương
Mỹ CNPC China National Petroleum Tập đoàn Dầu khí Quốc gia
Trang 7Corporation Trung Quốc
EURO-MED Euro - Mediterranean
Arab Mở rộng GATT General Agreement on Trade
GCC Gulf Cooperation Council Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội GFP Global Fire Power Tổ chức Hỏa lực Toàn cầu GSD Gulf Security Dialogue Đối thoại An ninh vùng Vịnh GSP General System of Priority Chế độ ưu đãi phổ cập
IAEA International Atomic Energy
Agency
Cơ quan Năng lượng Nguyên
tử Quốc tế IAF Islam Action Front Mặt trận Hành động Hồi giáo
Trang 8(Jordan)
Cooperation with Industrialised and other high - income countries and
territories
Công cụ tài chính để hợp tác với các quốc gia và vùng lãnh thổ công nghiệp hóa, có thu nhập cao
Finance
Viện Tài chính Quốc tế
IKC Idemitsu Kosan Corp Tập đoàn Idemitsu Kosan
Organization
Tổ chức Lao động Quốc tế
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Trang 9LHQ United Nations Liên hợp quốc
LNG Liquefied natural gas Khí tự nhiên hóa lỏng
MCI Mitsui Chemical Inc Công ty Hóa chất Mitsui MEFTA Middle East Free Trade Area Khu vực Mậu dịch Tự do
Trung Đông MENA Middle East - North Africa Nhóm các nước Trung Đông
- Bắc Phi MFN Most Favour Nations Quyền Tối huệ quốc
MIT Masachusett Institute of
M&A Merge & Association Sáp nhập và mua lại
Mubadala Mubadala Development
Company
Công ty Phát triển Mubadala
NAFTA North America Free Trade
Neo - Ottomanism Chủ nghĩa Ottoman mới
NIOC National Iranian Oil Company Công ty Dầu khí Quốc gia
Iran NOGA National Oil and Gas
Authority
Cơ quan Dầu mỏ và Khí đốt Quốc gia Bahrain
OECD Organization of Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế
OFID OPEC Fund for International Quỹ Phát triển Quốc tế của
Trang 10Development OPEC OIC Organization of Islam
Conference
Tổ chức Hội nghị Hồi giáo
OPEC Organization of Petroleum
PPP Purchasing Power Parity Sức mua tương đương
PVI Petrovietnam Insurance Joint
Stock Corporation
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí
Việt Nam QFC Quatar Financial Center Trung tâm Tài chính Qatar
QP Qatar Petroleum Tập đoàn Dầu khí Quốc gia
Qatar QPI Qatar Petroleum International Công ty Dầu khí Quốc tế
Qatar QSTP Qatar Science and Technology
Trang 11Committee for Recruitment động Quốc gia Saudi Arabia SCG Siam Cement Group Tập đoàn Xi măng Thái Lan SINOPEC China National Petrochemical
Trade and Development
Ủy ban Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc UNDOF United Nations
Disengagement Observer Force
Phái bộ Giám sát Ngừng bắn của Liên hợp quốc
UNESCO United Nations Education -
Science - Culture Organization
Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục Liên hợp Quốc
UNWTO United Nations World Tổ chức Du lịch Thế giới của
Trang 12Tourism Organization Liên hợp quốc VCCI Vietnam Chamer of
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VCM vinyl chloride monomer vinyl chloride monomer Vinachem Vietnam Chemical Tập đoàn Hóa chất Việt Nam
WEF World Economic Forum Diễn đàn Kinh tế Thế giới WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
WTO World Trade Organisation Tổ chức Thương mại Thế
giới
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng và tiến trình đổi mới của Việt Nam ngày càng phát triển, Việt Nam tiếp tục nỗ lực để mở rộng quan hệ hợp tác về mọi mặt với các bạn bè năm châu, trong đó có các nước Trung Đông, nơi thu hút sự quan tâm ngày càng cao của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là về các lĩnh vực chiến lược, kinh tế, thương mại, khai thác và buôn bán dầu khí, nhằm phát triển các mối quan hệ hợp tác cùng có lợi, tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước
Trung Đông là khu vực có vị trí địa chính trị quan trọng, là vùng đất giao thoa giữa ba châu lục Á - Âu - Phi, tiếp nối giữa hai biển lớn là Địa Trung Hải
và Ấn Độ Dương, là mạch giao thông rất quan trọng của thế giới Hơn thế, Trung Đông còn chứa đựng nguồn tài nguyên dầu lửa lớn nhất thế giới, chiếm 68% trữ lượng dầu thô toàn cầu, nguồn năng lượng quý giá và cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mọi quốc gia Nhóm các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) có tiềm lực tài chính lớn, có khả năng đầu
tư trên nhiều lĩnh vực Trung Đông theo nghĩa rộng có dân số khoảng 350 triệu người với mức thu nhập trung bình cao, là một thị trường lớn về hàng hóa, dịch
vụ, lao động, trong đó có những thứ Việt Nam có nhiều khả năng cung cấp như hàng hóa nông sản, tiêu dùng, lao động
Nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực Trung Đông, Chính phủ Việt
Nam đã đưa ra “Chương trình hành động thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam -
Trung Đông giai đoạn 2008 - 2015” nhằm tăng cường phát triển sự hợp tác
nhiều mặt, cùng có lợi, thiết thực và hiệu quả với các nước trong khu vực này Cho đến nay, quan hệ này đang được thúc đẩy mạnh mẽ, bước đầu dành được những thành tựu nhất định
Việt Nam và các nước trong khu vực Trung Đông cùng là những nước đang phát triển có điều kiện hợp tác bổ sung cho nhau về kinh tế, lao động, tài
Trang 14nguyên thiên nhiên v.v… Đây là tiền đề đẩy nhanh các mối quan hệ vì lợi ích của mỗi bên
Trong khi khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 2008 đến nay đang kéo thị phần xuất khẩu của Việt Nam ở các thị trường truyền thống giảm xuống thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường Trung Đông có xu hướng tăng lên
Đó là một dấu hiệu tốt cho tiềm năng quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam với thị trường Trung Đông Tuy nhiên, quan hệ này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế, thương mại của Việt Nam và Trung Đông Trong thời gian qua quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước thuộc khu Trung Đông còn hạn chế ở mức nhỏ lẻ và thường qua khâu trung gian
Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với Trung Đông còn bị hạn chế và kết quả hợp tác còn khiêm tốn như vậy là vì sự hiểu biết của chúng ta về Trung Đông còn rất ít ỏi Tài liệu tra cứu thông tin về các nước Trung Đông nhằm hỗ trợ đánh giá, phân tích tiềm năng, thế mạnh của thị trường Trung Đông, phân tích, giới thiệu về văn hóa, tập tục, tôn giáo, cũng như các đặc điểm về chính trị, luật pháp của các quốc gia Trung Đông hầu như chưa có hoặc nếu có thì rất sơ sài
Xuất phát từ thực trạng và nhu cầu thực tiễn hiện nay, chúng ta cần đi sâu tìm hiểu về Trung Đông nói chung, thị trường Trung Đông nói riêng Do vậy,
việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các khâu đột phá chiến lược để mở rộng quan
hệ hợp tác của Việt Nam với khu vực Trung Đông đến năm 2020” làm đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước không chỉ cần thiết mà còn cấp bách bởi
hiện nay Chính phủ ta đã thông qua ˝Chương trình hành động thúc đẩy quan hệ
hợp tác Việt Nam - Trung Đông giai đoạn 2008 - 2015˝
Phần tổng quan tình hình nghiên cứu về Trung Đông tại Việt Nam cho thấy chúng ta còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu toàn diện và hệ thống về
Trung Đông Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu các khâu đột phá chiến lược để
mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với khu vực Trung Đông đến năm 2020”
là một đề tài hoàn toàn mới ở Việt Nam Việc nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp những thông tin và dữ liệu cần thiết, đa dạng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và
Trang 15sẽ giúp có được một cái nhìn tổng thể về khu vực Trung Đông; đưa ra các phân tích, đánh giá, các luận cứ khoa học và các gợi ý giải pháp cho việc xác định các khâu đột phá chiến lược ở Trung Đông đối với Việt Nam, phục vụ trực tiếp và
góp phần thực hiện tốt “Chương trình hành động thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt
Nam - Trung Đông giai đoạn 2008 - 2015” mà Chính phủ đã ban hành Ngoài
ra, đề tài cũng sẽ góp phần tuyên truyền và mở rộng nhận thức về Trung Đông, cung cấp các tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở các trường học, các viện nghiên cứu, các cơ quan có liên quan, và cung cấp các thông tin cần thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, tìm hiểu cơ hội, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tại Trung Đông
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của đề tài nhằm tìm ra những khâu đột phá chiến lược để mở rộng quan hệ hợp tác, đối tác chiến lược giữa Việt Nam và các quốc gia thuộc khu vực Trung Đông, góp phần vào việc thực hiện các chương trình hành động
và Đề án quốc gia thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 và xa hơn
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Xác định những nhu cầu và tiềm năng quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với khu vực Trung Đông, trong đó tìm hiểu và xem xét toàn diện những khả năng, tiềm lực và cơ hội, đồng thời chỉ ra những khó khăn, cản trở và hướng khắc phục các khó khăn đó khi Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác với khu vực này
- Lựa chọn nghiên cứu và đề xuất những chính sách, biện pháp thiết thực, khả thi nhằm xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với một số nước Trung Đông
có khả năng hợp tác nhiều mặt và lâu dài với Việt Nam Những đối tác chiến lược này sẽ là những địa bàn đột phá quan trọng nhất để Việt Nam mở rộng quan hệ với các nước còn lại ở Trung Đông
- Xác định các hướng ưu tiên và các đối tác chiến lược cụ thể của khu vực Trung Đông Mục tiêu của phần này là lựa chọn, nghiên cứu và đề xuất xây
Trang 16dựng một số ngành, lĩnh vực ưu tiên hàng đầu để từ đó Việt Nam mở rộng sang các ngành, lĩnh vực khác trong quan hệ với các nước Trung Đông
- Đề xuất hướng đi, giải pháp và chính sách phát triển, mở rộng các quan
hệ hợp tác nhiều mặt với khu vực Trung Đông đến năm 2020 và xa hơn, trong
đó trọng tâm nghiên cứu những chính sách, giải pháp mang tính chiến lược, thiết thực và có tính khả thi để mở rộng quan hệ hợp tác, đối tác với các nước Trung Đông
- Cung cấp cho bạn đọc những thông tin, tư liệu và cơ sở lý luận cần thiết cho các hoạt đông nghiên cứu, giảng dạy, học tập, phát triển kinh doanh, hoạch định chính sách, nói chung là để nâng cao tầm hiểu biết của đông đảo bạn đọc
về Trung Đông - khu vực có tầm quan trọng chiến lược và lợi ích kinh tế - xã hội thiết yếu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cúu
Nhằm thực hiện mục tiêu nêu trên và phục vụ cho việc xây dựng và thực thi các chính sách của Chính phủ Việt Nam, nên trong quá trình nghiên cứu tuy các tác giả có tham khảo một số quan niệm khác nhau được các tổ chức quốc tế
và các nước khác trên thế giới đã nêu ra, nhưng trọng tâm tập trung nghiên cứu các nước Trung Đông theo quan niệm và khuôn khổ chính sách đã được nêu trong Đề án thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Đông giai đoạn 2008-2015 mà Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Theo Đề án này, Trung Đông là khu vực có 16 nước với tổng diện tích khoảng 6 triệu km2, dân số trên 260 triệu người, gồm các nước cụ thể như Saudi Arabia, Bahrain, Qatar, UAE, Kuwait, Jordan, Iran, Iraq, Israel, Lebanon, Oman, Palestine, Cyprus, Turkey, Syria và Yemen1
Việt Nam và Trung Đông có nhiều lợi thế so sánh có thể bổ sung cho nhau thông qua các quan hệ hợp tác hai bên, ba bên và nhiều bên cùng có lợi Vì thế, việc nghiên cứu để góp phần thúc đẩy các quan hệ hợp tác thiết thực trên đây là rất cần thiết và hữu ích
1 Theo phiên âm tiếng Việt là: A-rập Xê-út, Ba-ranh, Ca-ta, Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất (UAE),
Trang 17Cô-Nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào những vấn đề chính gồm cơ
sở lý luận và thực tiễn của quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông; tình hình chính trị, an ninh, ngoại giao của khu vực; thực trạng, tiềm năng, triển vọng phát triển các quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư, lao động, khai thác tài nguyên thiên nhiên, du lịch; cùng các quan hệ hợp tác mang tính khu vực như hợp tác thông qua Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) từ đó có một số đánh giá, kết luận và kiến nghị về các khâu đột phá chiến lược để mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước Trung Đông từ nay đến năm 2020 và xa hơn
4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài kết hợp việc vận dụng các phương pháp truyền thống về duy vật lịch sử và duy vật biện chứng với những phương pháp thông thường và phương pháp mới như phân tích, tổng hợp, so
sánh, cụ thể gồm: Thứ nhất, sưu tầm, khảo sát, lựa chọn các tài liệu có liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu ở trong và ngoài nước; Thứ hai, gặp gỡ, trao đổi
với các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn trong và ngoài nước để tìm hiểu các lĩnh vực liên quan, nhất là lĩnh vực quan hệ quốc tế với Trung Đông, tiến
hành tổ chức các hội thảo khoa học; Thứ ba, xử lý tài liệu, đánh giá, phân tích
rút ra các kết luận khoa học về bản chất, đặc điểm và xu hướng phát triển của cục diện thế giới đến năm 2020, vai trò, vị trí và tầm quan trọng của Trung Đông trong cục diện chung của thế giới, sự quan tâm của thế giới tới Trung Đông, và khả năng mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với Trung Đông, từ
đó xác định những lĩnh vực, đối tác cần ưu tiên, coi đó là các khâu đột phá để thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông
5 Đóng góp của đề tài
Những đóng góp chính của đề tài bao gồm:
- Một công trình nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, cung cấp các kiến thức cơ bản, khái quát, mang tính tổng hợp và hệ thống về khu vực Trung Đông
- Đã phân tích làm rõ tầm quan trọng chiến lược của khu vực Trung Đông, đồng thời làm rõ những lĩnh vực có khả năng bổ sung và mở rộng quan hệ hợp
Trang 18tác của Việt Nam với cả khu vực Trung Đông nói chung, với từng nước trong khu vực nói riêng, từ đó xác định cụ thể các khâu đột phá chiến lược nhằm mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với khu vực Trung Đông đến năm 2020 và
Cuối cùng, các thành viên tham gia nghiên cứu đề tài tự nhận thấy đã có nhiều nỗ lực, nhưng do đây là một đề tài lớn với nhiều vấn đề khó và các tác giả còn có những hạn chế trong quá trình nghiên cứu, nhất là ít có điều kiện đi nghiên cứu, tiếp cận thực tế tại các nước Trung Đông, nên không tránh khỏi có những khiếm khuyết nhất định, rất mong được các nhà khoa học góp ý, bổ khuyết
Hà Nội, tháng 6 năm 2012
Thay mặt tập thể tác giả
PGS.TS Đỗ Đức Định
Trang 19Xô cũ, Hoa Kỳ và đế quốc Ottoman Vị trí địa - chính trị của Trung Đông có tầm quan trọng chiến lược, không chỉ vì đây là cầu nối giao thương giữa ba châu lục lớn Á - Âu - Phi, mà còn vì ở đó có nguồn tài nguyên dầu khí lớn nhất thế giới, có nhiều tiềm năng phát triển chưa được khai thác, khiến các siêu cường luôn nhòm ngó, tranh giành ảnh hưởng
Đối với Việt Nam, Trung Đông cũng là khu vực đã có mối quan hệ hợp tác từ khá lâu, nhất là từ khi nước ta cùng các nước Trung Đông chia sẻ những kinh nghiệm đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước Nhưng hầu hết các quan hệ hợp tác trước đây chủ yếu tập trung trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao, chỉ đến một vài thập kỷ gần đây mới chuyển dần sang các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ mang tính thiết thực hơn Để hiểu
rõ những cơ hội và thách thức trong tiến trình đẩy mạnh hơn nữa các quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia Trung Đông từ nay đến năm 2020 và xa hơn, công trình này sẽ bắt đầu từ việc nghiên cứu những cơ sở lý thuyết, chính sách và thực tiễn chính trị, kinh tế, xã hội làm nền tảng cho những quan hệ hợp tác trước mắt cũng như lâu dài giữa hai bên
1.1 Các lý thuyết và quan điểm chính sách có ảnh hưởng tới quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông
Lợi thế quốc gia, năng lực cạnh tranh là một chủ đề được nghiên cứu và đánh giá trên Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) hàng năm Phương pháp đánh giá chủ yếu do các giáo sư Đại học Harvard như Porter, Jeffrey, Andrew và một
số chuyên gia của WEF như Peter, Mache Levinson và Klaus Schwale xây dựng
từ thập niên 1970 Đến cuối thập niên 1980, học giả Mỹ S Nye lại đưa ra khái
Trang 20niệm về sức mạnh mềm của một quốc gia Theo ông, nhiều quốc gia hiện nay không chỉ có sức mạnh cứng (được đánh giá qua năng lực cạnh tranh), mà còn
có lợi thế về sức mạnh mềm như văn hóa, hình thái ý thức, hệ thống giá trị, tư tưởng về tự do, dân chủ, nhân quyền… Lợi thế của một quốc gia được hiểu ở những cấp độ khác nhau, trước hết là lợi thế so sánh, tiếp theo là lợi thế cạnh tranh, và cao hơn là nâng tầm các lợi thế đó thành sức mạnh quốc gia
Thứ ba, lợi thế so sánh chú ý tới số lượng các yếu tố đầu vào cho sản xuất, còn
lợi thế cạnh tranh chú ý đến chất lượng các yếu tố sản xuất, chất lượng hàng hóa, năng lực quản lý Mặc dầu trong lý luận về kinh tế có thể phân biệt được hai khái niệm này nhưng trong thực tế chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Bởi lẽ chúng có một số đặc điểm chung như sự chi phối của giá cả, bị khống chế bởi tài nguyên khan hiếm, quy mô thị trường và tri thức công nghệ Nhiều người cho rằng một quốc gia có lợi thế so sánh ở một ngành thì cũng có lợi thế cạnh tranh ở ngành đó Mặt khác bản chất của lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh đều hướng tới so sánh về năng suất trên bình diện quốc tế Tuy nhiên, lợi thế so sánh chủ yếu do thiên nhiên ưu ái, tạo ra
Vị thế của một quốc gia, các công ty trong hệ thống kinh tế thế giới do nhiều yếu tố quyết định Xét trên bình diện phân công quốc tế, lợi thế so sánh có tác dụng quyết định Xét ở phương diện ngành thì lợi thế cạnh tranh có vị trí quyết định lớn hơn Theo Porter, một trong những nguyên nhân căn bản cản trở tốc độ phát triển kinh tế là do chưa nhận thức đầy đủ sự khác nhau về lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của một quốc gia Chỉ dựa vào tài nguyên, giá nhân công rẻ và gia công lắp ráp thì chưa đủ điều kiện đưa đất nước tới phồn vinh
Trang 21kinh tế Nên hiểu lợi thế so sánh là các yếu tố cấp thấp do thiên nhiên, vị trí địa
lý tạo ra Khi quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra thì lợi thế này giảm dần vai trò Lợi thế cạnh tranh quốc gia cần phải được tập trung vào các yếu tố chứa đựng năng lực động Trong số đó các yếu tố chất lượng nhân lực, năng lực công nghệ, hạ tầng cơ sở, tinh thần chủ động hội nhập là rất quan trọng
1.1.2 Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia
Sự thịnh vượng của một quốc gia được xác định bởi GDP bình quân đầu người, đó là thước đo tổng quát về năng lực, lợi thế cạnh tranh quốc gia, nó có quan hệ dài hạn với mức sống của người dân GDP bình quân đầu người phụ thuộc vào vốn đầu tư và trình độ công nghệ Khái niệm vốn đầu tư ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cơ sở kỹ thuật (máy móc, thiết bị, nhà xưởng, hạ tầng kỹ thuật), nguồn vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, thái độ làm việc, sức khỏe), nguồn lực xã hội và hệ thống thể chế cho hoạt động sản xuất kinh doanh Tăng trưởng GDP phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm, trình độ công nghệ hiện đại và tốc độ đổi mới, cải tiến công nghệ Tuy nhiên, ngày nay còn có nhiều yếu tố tác động tới tăng trưởng, một yếu tố quan trọng đang được chú ý là thể chế (bao gồm cả thể chế chính trị và thể chế kinh tế) Thể chế, hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mô có vai trò tạo ra môi trường chung Còn bản thân năng suất phụ thuộc nhiều vào sự cải thiện năng lực ở cấp vi mô, tức là cấp ngành và doanh nghiệp Theo WEF, lợi thế cạnh tranh của một quốc gia được quy định bởi 8 yếu tố cơ bản:
Thứ nhất, mức độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế Yếu tố này bao gồm
các chính sách xuất khẩu, nhập khẩu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu như tín dụng, bảo hiểm và khả năng chuyển đổi đồng tiền khi thực hiện các giao dịch vãng lai Thước đo độ mở của nền kinh tế thường là tỷ trọng xuất nhập khẩu trong GDP, nhưng giá trị tăng thêm của xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng hơn Chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua nhiều kênh nhưng công nghệ gắn chặt với hàng hóa, dịch vụ Do
đó nhập khẩu hàng hóa là một kênh chuyển giao công nghệ Độ mở của nền kinh tế càng sâu thì đổi mới công nghệ càng nhanh, tác động tích cực tới năng
Trang 22suất, là điều kiện quan trọng cho một quốc gia nâng cao năng lực cạnh tranh
Mở cửa để thu hút FDI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển Tác động của FDI tới năng lực sản xuất và dịch vụ của một quốc gia không chỉ thông qua sự phân bổ nguồn lực trong hệ thống công ty mà còn giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm, lan tỏa công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến tới các ngành công nghệ, dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn Toàn cầu hóa, khu vực hóa và cách mạng về công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đã tạo điều kiện cho nhiều quốc gia thực hiện chắnh sách mở cửa thoát khỏi nghèo đói và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế Thành công của các quốc gia Đông Á là một thắ dụ điển hình, được nhiều công trình nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới phân tắch, đánh giá và nêu lên các bài học kinh nghiệm trong vài thập niên gần đây
Thứ hai, sự phát triển của thể chế kinh tế thị trường với hệ thống tài chắnh
tiền tệ, ngân hàng là trung tâm Quy mô của hệ thống tài chắnh tiền tệ so với GDP, sự đa dạng của các loại hình dịch vụ tài chắnh tiền tệ, tỷ lệ tiết kiệm, đầu
tư và nợ khó đòi của nền kinh tếẦ thể hiện năng lực tài chắnh của một quốc gia
Hệ thống tài chắnh càng phát triển, nghĩa là khả năng tiếp cận tắn dụng càng dễ dàng hoạt động với tỷ lệ rủi ro thấp Nước nào sử dụng vốn đầu tư, vốn vay của nước ngoài hiệu quả thì nguồn vốn đó có tác dụng tắch cực tới tăng trưởng kinh
tế Sai lầm của các nước đang phát triển là vay nợ tràn lan, không tắnh đến điều kiện hấp thụ, hấp thụ kém, ắt khi tắnh tới khả năng trả nợ Hệ thống tài chắnh kém hiệu quả đã dẫn đến một số cuộc khủng hoảng tài chắnh, thắ dụ Mỹ Latinh thập niên 1980, khủng hoảng tài chắnh Đông Á cuối thập niên 1990 và cuộc khủng hoảng tài chắnh xuất phát từ Mỹ từ năm 2007
Thứ ba, nhóm yếu tố về khoa học công nghệ, xét tới trình độ khoa học
công nghệ của quốc gia so với thế giới, thể hiện qua công nghệ đột phá, đầu tư cho hoạt động R&D, sự phát triển của thị trường công nghệ và quan hệ hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với các ngành công nghiệp Mỹ là quốc gia hàng đầu đang độc quyền chi phối các công nghệ cao Thung lũng Silicon tại California của Mỹ là một khu công nghệ cao về công nghệ thông tin,
Trang 23y sinh học, công nghệ nano, vật liệu và năng lượng mới Vai trò của công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế đã được các lý thuyết tăng trưởng nội sinh xét đến từ nhiều thập niên trước đây Dựa vào lý thuyết tăng trưởng nội sinh, các nhà khoa học tiêu biểu như Lucas, Romer đã khẳng định rằng công nghệ và nhân lực có
kỹ năng đã tạo ra lợi tức tăng dần Mối liên hệ giữa công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở hai khía cạnh Công nghệ quyết định hiệu quả sản xuất, tăng năng suất, giảm giá thành, mặt khác công nghệ tạo ra các sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao hơn và được thương mại hóa Chính vì nhận thức được vai trò của công nghệ mà nhiều quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Hàn Quốc đang đầu tư ở mức cao cho hoạt động R&D
Thứ tư, kết cấu hạ tầng và hiệu quả vận hành sử dụng kết cấu hạ tầng Cụ
thể là dựa vào hệ thống giao thông, cảng biển, hàng không, kho bãi, viễn thông, internet Ngoài ra, ở khía cạnh chi phí cần chú ý tới chi phí đầu tư, thời gian thực hiện các dịch vụ và mức độ an toàn các dịch vụ Hoa Kỳ, Nhật Bản và một
số quốc gia EU đều có hệ thống hạ tầng cơ sở hiện đại Hệ thống hạ tầng cơ sở
có mối quan hệ chặt chẽ với thể chế ở mức độ độc quyền hay cho phép các nhà đầu tư tham gia xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở Ở Mỹ nhiều đặc khu kinh tế
tự do là do tư nhân quản lý, đầu tư, do đó hệ thống sân bay, cảng biển, đường giao thông cao tốc rất hiện đại
Thứ năm, lao động được đánh giá cả về số lượng và chất lượng Chất
lượng được đo bởi trình độ chuyên môn, sức khỏe, kỷ luật lao động và khả năng linh hoạt trước các thay đổi về kỹ năng của thị trường lao động Thurow, một nhà kinh tế hàng đầu của Viện Công nghệ Masachusett (MIT), Mỹ, cho rằng kỹ năng của người lao động là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong thế kỷ 21 Do đó, các quốc gia đang tích cực mở rộng quy mô đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đi đầu là Mỹ và Tây Âu, gần đây là các nước đang phát triển Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, nhờ chính sách phát triển nguồn nhân lực đã nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm xuất khẩu trên thị trường thế giới và rút ngắn thời kỳ công nghiệp hóa
Trang 24Thứ sáu, quản lý doanh nghiệp thể hiện qua số lượng các doanh nghiệp
đã xây dựng được các chiến lược kinh doanh Một doanh nghiệp muốn nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì phải tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu hoặc trở thành một mắt xích trong chuỗi cung của mạng lưới sản xuất toàn cầu Muốn vậy phải nâng cấp hệ thống sản xuất, đổi mới công nghệ để trở thành nhà sản xuất theo hợp đồng Tại các quốc gia Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, hầu hết các công ty lớn đang nâng cấp hệ thống sản xuất và năng lực quản lý để tham gia vào mạng lưới sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp điện tử và ô tô, hợp tác sản xuất với các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia của Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu
Thứ bảy, vai trò của chính phủ thể hiện qua sự can thiệp vào hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp
và ảnh hưởng của các nhóm lợi ích tới các chính sách của chính phủ Do đó, tính công khai, minh bạch, mức độ quan liêu, tình trạng tham nhũng là những chỉ báo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động và tính chuyên nghiệp của chính phủ Tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường đầy đủ thì vai trò của doanh nghiệp nhà nước giảm, chính phủ không tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh Môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ là điều kiện thôi thúc các doanh nghiệp nâng cao vị thế của mình
Thứ tám, các nhóm yếu tố về thể chế nhấn mạnh tới hệ thống luật pháp,
hiệu quả của luật pháp và sự phù hợp của hệ thống đó đối với kinh tế thị trường
Sự khách quan và hiệu lực của pháp luật bảo đảm cho các hợp đồng về thương mại, đầu tư, vai trò trọng tài được thực hiện nghiêm minh Thể chế thị trường tự
do sẽ giúp cho các loại chi phí giao dịch giảm Một lần nữa cần nhắc lại sự đổ
vỡ của các tập đoàn Đông Á là do chủ nghĩa thân hữu (quan chức chính phủ cấu kết với tư nhân) tạo nên, một trong những yếu tố gây nên khủng hoảng tài chính 1997-1998
Từ sau thời kỳ chiến tranh lạnh đến nay, cùng với sự tiến bộ của công nghệ, mức độ phụ thuộc của các quốc gia ngày càng tăng do toàn cầu hóa và hội nhập Sự xuất hiện của các chủ thế hành vi là các công ty đa quốc gia, sự thay
Trang 25đổi thể chế chính trị tại một số nước và sự thức tỉnh của chủ nghĩa dân tộc, tôn giáo dẫn tới tình cảnh các nước lớn không thể lợi dụng sức mạnh kinh tế để thực hiện các mục tiêu nhằm gây ảnh hưởng của mình Trong bối cảnh đó, các nước lớn sử dụng sức mạnh mềm như văn hóa, chính sách đối ngoại, truyền bá tư tưởng tự do dân chủ đã gây ảnh hưởng với các nước nhỏ Sức mạnh mềm đã trở thành sức mạnh và lợi thế của một quốc gia, được xem như là một tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực chính trị quốc tế
1.1.3 Lý thuyết về tự do thương mại
Cùng thời kỳ với Ricardo, rất ít đại biểu quốc hội Anh hiểu được lý thuyết thương mại tự do của ông, đó là lý thuyết về lợi thế so sánh Ricardo
Trong thời đại Ricardo, các chúa đất thầm thì với các chính trị gia để nhờ
vả quốc hội duy trì sự bảo vệ, cấm nhập khẩu ngũ cốc từ bên ngoài Giá ngũ cốc tăng vọt một phần do cấm vận của đế chế Napoleon và các chúa đất muốn được hưởng lợi Do đó, các chủ đất đã vận động quốc hội thông qua luật cấm nhập khẩu ngũ cốc vào năm 1815 được gọi là luật ngô (bao gồm cả lúa mỳ, yến mạch
và lúa mạch) Lúc đó Ricardo đã nhìn thấy hai hướng đi cho nước Anh Thứ nhất, theo quan điểm của những người thiển cận theo phái bảo hộ sẽ tự cô lập mình, tách khỏi thị trường hàng hóa thế giới Nếu nước Anh lựa chọn hướng đi này, nền kinh tế sẽ sụp đổ Theo lý thuyết lợi thế so sánh tuyệt đối của Adam Smith thì khi hàng hóa của các nước khác sản xuất rẻ hơn hàng hóa cùng loại của mình, thì nên mua hàng hóa của các nước khác và bản thân mình hãy dùng các nguồn lực để sản xuất ra các hàng hóa có lợi thế so sánh hơn Con đường thứ hai, với tư cách là một nhà buôn hướng ngoại, theo Ricardo nước Anh cần phải chuyên môn hóa sản xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh Theo ông thương mại tự do là hoàn toàn có thể thực hiện được với những hộ gia đình nhiều hàng hóa hơn Ricardo đã cổ vũ cho chính sách mở cửa, trong khi những người thợ thủ công, thợ làm bánh mỳ, thợ may đòi hỏi chính phủ phải bảo hộ họ Việc ngăn cấm nhập khẩu theo ông ảnh hưởng đến đời sống của các chủ thuê mướn và công nhân, bởi vì hàng hóa rẻ sẽ cải thiện cuộc sống của họ Bất chấp sức mạnh trí tuệ và nhiều cách thuyết phục của ông, luật ngô vẫn tồn tại tới năm
Trang 261846 Ông tuyên bố với quốc hội Anh là bảo hộ sẽ có hại cho hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế mà chỉ có lợi cho một số người
Nghiêm trọng hơn, Ricardo còn cho rằng chủ nghĩa bảo hộ ở các quốc gia giàu đẩy các nước nghèo rơi vào tình trạng trì trệ Việc hỗ trợ cho các nước nghèo hàng trăm triệu đô la, dưới các khoản vay ưu đãi hoặc viện trợ chẳng có tác dụng gì nếu những hàng rào thuế quan thương mại ở các nước giàu tiếp tục tăng lên Lịch sử thế giới chứng minh rằng không có quốc gia nào giàu lên bằng
tự cung tự cấp Ricardo đã cảnh báo các tác động tiêu cực của thuế quan vì nó ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Do đó, những lời khẩn cầu của ông trước quốc hội, các nhà kinh tế là nên giúp đỡ người tiêu dùng, tăng thêm việc làm bằng cách dựa vào các quan điểm thương mại tự do Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều quốc gia đã gia nhập Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), một tổ chức được lập ra nhằm mục đích thúc đẩy thương mại tự
do Tuy nhiên, nguy cơ về chủ nghĩa bảo hộ vẫn còn tồn tại
Trong suốt một thời kỳ dài, từ đầu thế kỷ 19 đến thập niên 1970, lý thuyết thương mại quốc tế được xây dựng dựa trên ý tưởng của Ricardo về lợi thế so sánh, sau đó được phát triển thông qua lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của Porter Paul Krugman, một giáo sư của đại học Princeton, Mỹ, được trao giải Nobel kinh tế năm 2008 là nhờ công trình của ông về vai trò của lý thuyết thương mại trong hoạt động kinh tế, đặc biệt trong thương mại quốc tế và địa lý kinh tế Các
lý thuyết thương mại trước đây thường cho rằng, thương mại quốc tế diễn ra trên cơ sở các điều kiện khác biệt giữa các quốc gia có các yếu tố sản xuất khác nhau Một số nước dư thừa lao động nhưng thiếu vốn, trong khi một số nước khác thừa vốn mà lại thiếu lao động Kết quả là những nước tiến hành chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu được cho là nước có lợi thế so sánh về xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế so sánh, và đổi lại đã nhập khẩu những mặt hàng kém lợi thế Càng ngày người ta càng nhận thấy các lý thuyết này không thể giải thích được hiện tượng diễn ra trong thương mại quốc tế ở nhiều nơi Một trong những hiện tượng đó là thương mại nội ngành công nghiệp (Intra Industry Trade) như Mỹ xuất khẩu ô tô sang Nhật Bản và Châu Âu, nhưng cũng nhập
Trang 27khẩu ô tô từ các nước này Nếu dựa vào lợi thế so sánh thì trao đổi thương mại trong ngành công nghiệp này không thể xảy ra, bởi vì mặt hàng chỉ có một chiều thương mại từ nơi có lợi thế đến nơi không có lợi thế Lý thuyết lợi thế so sánh cũng không thể giải thích được tại sao Đài Loan, Hàn Quốc lại thành công trong việc chuyển từ xuất khẩu quần áo, giầy dép ở thập niên 1960 sang xuất khẩu máy tính cá nhân, ô tô sang thị trường Mỹ như hiện nay
Năm 1976, trong một lần nghe Solow, người được giải thưởng Nobel kinh tế năm 1956 thuyết trình, Krugman hiểu được thế nào là cạnh tranh độc quyền, đó là sự cạnh tranh khi các nhà sản xuất có lợi thế cạnh tranh độc quyền
ở những sản phẩm có thương hiệu Ý tưởng vận dụng khái niệm cạnh tranh độc quyền trong thương mại quốc tế chợt nảy ra và ông đã trình bày ý tưởng mới đó nhưng bị các tạp chí từ chối đăng tải Mãi tới năm 1979, bài báo 10 trang của ông mới được đăng trên tạp chí kinh tế quốc tế, lập tức gây được sự chú ý trong giới học thuật Krugman trở thành cha đẻ của lý thuyết thương mại mới khi ông còn ở tuổi 26 Trong bài báo đó, ông đưa ra lý thuyết hoàn toàn mới về thương mại quốc tế, giải thích quan hệ thương mại nội bộ ngành dựa trên giả định về lợi thế theo quy mô, với nhận xét sản xuất trên quy mô lớn đã làm cho chi phí giảm Bên cạnh lợi thế quy mô sản xuất, ông còn dựa trên giả thiết người tiêu dùng cũng quan tâm tới tính đa dạng của sản phẩm Do hai đặc tính này mà lợi thế theo quy mô của nhà sản xuất và sự ưa chuộng về tính đa dạng của người tiêu dùng đã tạo điều kiện cho nhà sản xuất thành nhà sản xuất độc quyền với những sản phẩm của mình, kể cả khi họ chịu áp lực cạnh tranh từ các nhãn hiệu hàng hóa khác
Lý thuyết của Krugman cũng giải thích tại sao thương mại quốc tế vẫn cứ diễn ra giữa những nước có lợi thế tương đối về công nghệ với các yếu tố sản xuất tương tự nhau Thí dụ, Mỹ và Châu Âu cùng có lợi thế tương đối về vốn và công nghệ, nhưng ô tô Ford của Mỹ xuất khẩu sang Châu Âu, mặt khác Mỹ nhập khẩu xe BMW của Đức Sự ưa thích tính đa dạng về nhãn hiệu của người tiêu dùng giúp cho cả hai quốc gia cùng có lợi thế tương đương nhau nhưng đều
có thể sản xuất và trao đổi các hàng hóa cùng loại của mình Ngoài ra, Krugman
Trang 28còn là người đi tiên phong trong lý thuyết địa lý kinh tế Luận điểm quan trọng của lý thuyết này là các hãng có xu hướng xác định vị trí sản xuất của mình tại trung tâm đông đúc dân cư và dồi dào vốn, họ vừa là người tham gia sản xuất vừa là người tiêu dùng Điều đó giúp tạo ra các hàng hóa đa dạng về chủng loại với giá cả rẻ hơn Mặt khác muốn giảm chi phí vận chuyển hàng hóa cần lập ra nhiều trung tâm sản xuất, chính nó là điều kiện thúc đẩy đô thị hóa và tập trung hóa sản xuất Lý thuyết thương mại mới của ông đã trở thành một bộ phận chủ yếu trong lý thuyết thương mại quốc tế, bổ sung cho lý thuyết lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh
1.1.4 Các quan điểm mới về Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Kiến tạo, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức
Từ cuối thập niên 1980, nhất là sau Chiến tranh lạnh, đã có sự phát triển của một số lý thuyết và quan điểm mới về quan hệ quốc tế, trong đó nổi bật là Chủ nghĩa Tự do, Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Kiến tạo, Chủ nghĩa Hậu thực dân, Chủ nghĩa Hậu hiện đại, các quan điểm toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
và kinh tế tri thức Các lý thuyết và quan điểm này góp phần làm phong phú và
đa dạng hơn các quan điểm và cách tiếp cận về quan hệ quốc tế Dưới đây
chúng ta sẽ xem xét những lý thuyết và quan điểm mới nổi bật nhất trong số đó
Khác với thuyết tự do thương mại chủ yếu tập trung vào các hoạt động
kinh tế, Chủ nghĩa Tự do (liberalism) là một luận thuyết triết học, với cách tiếp
cận đa ngành và liên ngành, cho rằng mỗi quốc gia đều có nhiều mục tiêu và lợi ích khác nhau, bao gồm cả quyền lực chính trị, lợi ích kinh tế và các lợi ích về văn hóa, xã hội, giá trị tinh thần Các lợi ích đa dạng này có sự tương tác chặt chẽ với nhau, trong đó lợi ích văn hóa - xã hội tuy có thể không quan trọng bằng chính trị và kinh tế, nhưng lại đang có xu hướng ngày càng mở rộng và có khả năng tác động ngày càng nhiều đến hai lĩnh vực chính trị và kinh tế, vì thế không thể không chú ý tới các lĩnh vực này trong các hoạt động quốc tế Rộng hơn nữa, Chủ nghĩa Tự do mới còn cho rằng các chủ thể trong quan hệ quốc tế hiện nay không chỉ bao gồm các quốc gia, mà còn có cả các chủ thể phi quốc gia là những chủ thể sẽ ngày càng tăng lên về số lượng cũng như nội dung hoạt
Trang 29động, góp phần làm giảm tính tự trị của quốc gia Trong số các chủ thể phi quốc gia này, có cả những tổ chức tôn giáo, phong trào tôn giáo cũng như các nhóm khủng bố quốc tế
Không những thế, Chủ nghĩa Tự do mới còn coi quốc gia không phải là một chỉnh thể, nghĩa là bên trong quốc gia có nhiều lực lượng khác nhau có ảnh hưởng đến chính sách đối nội và đối ngoại Tuy nhiên, không vì thế mà quá đề cao hay đánh đồng các phong trào tôn giáo và các nhóm khủng bố so với các chủ thể phi quốc gia khác Chủ nghĩa Tự do mới nhìn nhận xung đột văn hóa/văn minh là một thực tế lớn trong đời sống quốc tế bên cạnh nhiều loại hình xung đột khác chứ không phải chỉ mỗi xung đột quyền lực như quan niệm của chủ nghĩa hiện thực Chủ nghĩa Tự do mới cũng coi những sự va chạm giữa các nền văn minh hay nhóm tôn giáo hiện nay là xuất phát từ sự xung đột của nhiều lợi ích đa dạng khác nhau, trong đó có nguyên nhân văn hóa/văn minh Theo Hệ
phái Chức năng (functionalism) của lý thuyết này, việc giải quyết các vấn đề
văn hóa và kinh tế dễ hơn chính trị, bởi các nền văn hóa/văn minh vốn bình đẳng hơn nên dễ hợp tác hơn so với chính trị là lĩnh vực thường chứa nhiều bất bình đẳng và rất nhạy cảm Vì thế, thúc đẩy hợp tác văn hóa - xã hội và kinh tế trở thành một cách tiếp cận quan trọng để giải quyết sự va chạm giữa các quốc gia nói chung, giữa các nền văn minh nói riêng
Cùng với xu hướng chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại, Chủ nghĩa Tự
do mới nhìn sự phát triển của các quan hệ quốc tế theo hướng hợp tác ngày càng tăng lên, thay thế dần cho xung đột Vì thế, những người theo lý thuyết này cho rằng sự phân chia thế giới thành những nền văn minh hay văn hóa khác nhau đang là cản trở cho hợp tác và ḥa b́nh Với quan điểm hợp tác sẽ ngự trị tương lai của các quan hệ quốc tế, thuyết này cho rằng tương lai của thế giới là hòa đồng, sự va chạm giữa văn minh Phương Tây và Hồi giáo hiện nay chỉ là hiện tượng tạm thời, hai nền văn minh này sẽ dần tìm được cách chung sống hòa bình với nhau thông qua việc thúc đẩy giao lưu và hợp tác Hệ phái gần đây
nhất của Chủ nghĩa Tự do mới là Chủ nghĩa Xuyên quốc gia (transnationalism)
lại cho rằng sự phát triển kinh tế thị trường với xu hướng ngày càng phụ thuộc
Trang 30lẫn nhau về kinh tế mới là cách thức quan trọng để chấm dứt tình trạng xung đột quốc tế Theo đó, sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ làm giảm xung đột, thúc đẩy hợp tác, làm tăng hội nhập và ngày càng dệt kết các quốc gia thành xã hội quốc tế, đem lại khả năng đưa các nền văn minh vào một cộng đồng cùng nhau
Cách thức cơ bản mà Chủ nghĩa Tự do mới hướng tới là giải quyết xung đột nói chung, sự va chạm giữa các nền văn minh nói riêng, thông qua xây dựng
và phát triển các thể chế quốc tế Chính vì nhấn mạnh đến điều này mà trường
phái lý thuyết này còn được gọi là Chủ nghĩa Thể chế tự do (liberal
institutionalism) Nói cách khác, xung đột sẽ giảm bớt, hợp tác sẽ tăng lên nhờ
vào việc xây dựng các quy định, chuẩn mực, nguyên tắc đưa các quan hệ quốc
tế về cùng một hướng bằng những lợi ích chung, tạo ra cơ chế tăng cường hợp tác và giải quyết tranh chấp một cách hữu hiệu Đây chính là phương thức để khắc phục những thách thức mà thực tế đang đặt ra là hiện nay các quốc gia trong hai nền văn minh Phương Tây và Hồi giáo đều thiên về việc tạo ra những chế độ và thể chế cho riêng mình hơn là đi tìm cơ chế hợp tác chung Những chế độ quốc tế chịu ảnh hưởng của Phương Tây thì thường không được các nước Hồi giáo đi theo Trong những thể chế chung gồm cả hai nhóm nước như Liên hợp quốc chẳng hạn, sự bất đồng và đấu tranh giữa chúng là khá nhiều như vấn đề chống chủ nghĩa thực dân trước kia, vấn đề xung đột Arab - Israel gần đây hay cuộc đấu tranh đòi thiết lập trật tự kinh tế quốc tế mới hiện nay… Nhìn chung, trong khi việc hình thành các thể chế riêng rẽ giữa hai nhóm nước đang tạo ra sự ngăn cách thì việc tồn tại các thể chế gồm cả hai nhóm nước lại làm bộc lộ nhiều bất đồng và đấu tranh giữa chúng Có vẻ thể chế quốc tế trong trường hợp này là có tính hai mặt chứ không một chiều như quan niệm của Chủ nghĩa Tự do mới
Chủ nghĩa Hiện thực (realism) là một trong những lý thuyết đề cập nhiều
nhất đến các vấn đề văn hóa, văn minh và tôn giáo Lý thuyết này ban đầu coi quốc gia là chủ thể cơ bản trong các quan hệ quốc tế, vì thế nó gần như không tính đến các nền văn minh và phong trào tôn giáo xuyên quốc gia với tư cách là chủ thể quan hệ quốc tế Các nền văn minh đơn giản chỉ được coi là một tập hợp
Trang 31những quốc gia riêng rẽ với điểm chung văn hóa nào đó hơn là một nhóm có thể đóng vai trò đáng kể trong quan hệ quốc tế Đã từng có quan niệm về khu vực
bá quyền như bá quyền của La Mã hay của Châu Âu, nhưng đó không phải là sự phản ánh tương quan giữa các nền văn minh mà thực chất là tương quan giữa các cường quốc trong khu vực này đối với khu vực khác của thế giới Lý thuyết này cũng coi quốc gia là nhất thể, tức là không tính đến các lực lượng hay nhóm lợi ích bên trong quốc gia, trong đó có thế lực tôn giáo Các thế lực tôn giáo chỉ được tính đến khi chúng có sự gắn liền với nhà nước nhưng lại chỉ được coi như một loại công cụ của quốc gia nhằm thực hiện lợi ích quốc gia hơn là vì chính mục tiêu của phong trào tôn giáo
Chủ nghĩa Hiện thực coi mục đích chính của quốc gia trong quan hệ quốc
tế là quyền lực, theo đó quyền lực quốc gia được xây dựng chủ yếu dựa vào các thành tố vật chất như sức mạnh quân sự và kinh tế cùng một số yếu tố khác là diện tích lãnh thổ và dân số Trong khi đó, khả năng đóng góp cho quyền lực quốc gia từ các yếu tố tinh thần như giá trị, bản sắc, truyền thống, tư tưởng… có trong những nền văn hóa/văn minh hay tôn giáo thường bị coi nhẹ Chủ nghĩa Hiện thực mang nặng tính duy vật, coi vật chất là yếu tố quyết định đối với quyền lực quốc gia và cả đối với các yếu tố tinh thần
Chủ nghĩa Hiện thực coi bản chất của quan hệ quốc tế là xung đột quyền lực bởi mọi quốc gia đều theo đuổi quyền lực trong quan hệ quốc tế, trong khi quyền lực luôn có tổng số bằng 0 Vì thế, lý thuyết này nhìn nhận xung đột giữa các nền văn minh hay chiến tranh tôn giáo trong lịch sử đều là những cuộc chiến giữa các quốc gia nhằm tranh giành quyền lực, đặc biệt trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế Xung đột văn hóa/văn minh được quy vào mâu thuẫn quyền lực chứ không phải từ mâu thuẫn giá trị, niềm tin và bản sắc, từ đó nó coi nhẹ khả năng giải quyết xung đột bằng hợp tác và giao lưu trong lĩnh vực văn hóa -
xã hội
Mãi tới gần đây, chủ yếu vào thời kỳ cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, một trường phái mới của Chủ nghĩa Hiện thực đã hình thành, đại diện là hai quan điểm mới về sự va chạm giữa các nền văn minh của Samuel Huntington và
Trang 32quyền lực mềm do Joseph Nye đề xướng Chủ nghĩa Hiện thực mới thừa nhận
sự khiếm khuyết của Chủ nghĩa Hiện thực truyền thống là đã quá coi trong các yếu tố vật chất, coi nhẹ các yếu tố tinh thần, từ đó bổ sung thêm vai trò của các giá trị văn hóa, văn minh, tinh thần, sắc tộc và tôn giáo Tuy nhiên, đến nay các yếu tố này vẫn chỉ được xem như đóng vai trò thứ yếu, vì rằng cho dù có cùng một nền văn minh hay cùng một tôn giáo, các quốc gia vẫn theo đuổi những lợi ích riêng có tính vật chất nhiều hơn là vì các giá trị chung mang tính tinh thần của nền văn minh, tôn giáo Điều này đang được chứng thực bằng tình trạng mất đoàn kết trong thế giới Hồi giáo ở Trung Đông Tại đây, ngay cả các nhóm khủng bố Hồi giáo chính thống cực đoan - vốn được coi như biểu hiện của sự va chạm giữa các nền văn minh Hồi giáo và Thiên Chúa giáo - vẫn chịu sự chi phối của quốc gia, lãnh thổ nhiều hơn, mục tiêu của họ vẫn là tập trung xây dựng nhà nước Hồi giáo hơn là thế giới Hồi giáo
Chính vì lẽ đó, những người theo Chủ nghĩa Hiện thực ở Phương Tây không quá lo lắng về sự nổi lên của một “trật tự Hồi giáo” có thể thách thức bá quyền hiện nay của Phương Tây vốn vẫn giữ được ưu thế hơn hẳn về quân sự, kinh tế, khoa học kỹ thuật và diện tích đất đai Có chăng chỉ là sự lo ngại nhất định trước sự thay đổi tương quan trong vấn đề dân số khi các tín đồ Hồi giáo
đã trở thành một lực lượng lớn nhất trên thế giới, dẫn tới khả năng chênh lệch dân số giữa các nước Hồi giáo và Thiên Chúa giáo ngày càng cao Đồng thời,
họ cũng chú ý hơn tới mối quan hệ với nhiều giá trị bất đồng giữa văn minh Phương Tây với văn minh Hồi giáo như một nguồn của sự xung đột quốc tế, nhưng trong thực tế sự xung đột giữa các nước Phương Tây và Hồi giáo hiện nay vẫn bị chi phối chủ yếu bởi nguyên nhân quyền lực Sự khác biệt giữa nền văn minh Phương Tây và thế giới Hồi giáo chỉ được coi là một yếu tố góp thêm vào nguyên nhân này Chủ nghĩa khủng bố quốc tế hiện nay của những người Hồi giáo cực đoan có thể bị ảnh hưởng bởi sự khác biệt văn minh mà dẫn đến một mối đe dọa nhất định đối với quyền lực của các nước Phương Tây
Chủ nghĩa Kiến tạo (constructivism) là một cách tiếp cận mới xuất hiện
cách đây không lâu nhưng đã nhanh chóng có được vị trí đáng kể Đây là một
Trang 33chủ thuyết mang nặng tính duy tâm, đề cao yếu tố chủ quan và cho rằng bản sắc, nhận thức, tư tưởng và tri thức giúp cấu thành thực tại xã hội Với cách tiếp cận như vậy, Chủ nghĩa Kiến tạo cho rằng sự vận động của các quan hệ quốc tế chịu
sự chi phối khá nhiều bởi các yếu tố thuộc về ý thức chủ quan và có thể thay đổi chứ không chỉ bởi các yếu tố khách quan, có tính tất yếu như quan niệm của Chủ nghĩa Hiện thực và Chủ nghĩa Tự do mới Như vậy, Chủ nghĩa Kiến tạo đã đem thêm cách tiếp cận văn hóa - xã hội vào lý giải các quan hệ quốc tế bên cạnh cách tiếp cận quyền lực của Chủ nghĩa Hiện thực và cách tiếp cận kinh tế - chính trị quốc tế của Chủ nghĩa Tự do mới Từ đó, Chủ nghĩa Kiến tạo cho rằng các nền văn minh/văn hóa và tôn giáo khác nhau sẽ tạo ra các nhận thức khác nhau, chi phối nhiều quan hệ giữa các nước thuộc những nền văn minh/văn hóa
và tôn giáo khác nhau
Chủ nghĩa Kiến tạo không đề cao vai trò của quốc gia và các chủ thể phi quốc gia như quan niệm của hai lý thuyết trên mà tập trung vào vai trò của giới
tinh hoa xã hội (elite) trong việc hình thành lợi ích và hành vi của quốc gia
trong quan hệ quốc tế Đây thực chất là sự nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của
cá nhân, nhưng cách tiếp cận dựa trên tổng thể xã hội (con người nói chung) và
được hướng chủ yếu vào giới elite, từ đó cho rằng suy cho cùng xã hội nào cũng
có sự cai trị của thiểu số đối với đa số, và chính thiểu số đó đã thực thi chính sách đối ngoại dựa trên nhận thức và niềm tin của riêng mình - của riêng giới tinh hoa - chứ không phải niềm tin và nhận thức chung Thông qua việc đề cao vai trò của giới tinh hoa trong quan hệ quốc tế, Chủ nghĩa Kiến tạo đã đề cao các giá trị văn hóa - xã hội và tôn giáo như những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến các quan hệ quốc tế
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Kiến tạo, các nước có cùng nền văn minh như Phương Tây hay Hồi giáo dễ quan tâm tới nhau hơn bởi có những bản sắc
có thể cùng chia sẻ Tuy nhiên, bản sắc của các nước Phương Tây và Hồi giáo là khác nhau đáng kể nên mâu thuẫn và xung đột dễ xảy ra hơn giữa hai nền văn minh này Đồng thời, bản sắc hoàn toàn có thể thay đổi theo thời gian nên nhận thức, lợi ích và hành vi cũng thay đổi theo Chính vì thế, trước kia khi chưa phát
Trang 34triển, bản sắc của hai nền văn minh Phương Tây và Hồi giáo chưa khác biệt nhiều như bây giờ khi bản sắc của Phương Tây có sự biển đổi nhanh hơn nhiều nên dẫn đến sự khác nhau ngày càng lớn so với văn minh Hồi giáo
Chủ nghĩa Kiến tạo coi trọng chuẩn mực tập thể như yếu tố có khả năng tác động tới lợi ích và hành vi của quốc gia trong quan hệ quốc tế Chuẩn mực
có thể được sử dụng làm cơ sở cho hành vi “can thiệp nhân đạo” mà gần đây nhất là sự can thiệp của Mỹ, Anh, Pháp… vào Libya và một số nước khác ở Trung Đông và Bắc Phi Quan niệm khác nhau về chuẩn mực dẫn đến cách hành xử khác nhau trong quan hệ quốc tế, từ đó sự va chạm giữa các nền văn hóa/văn minh và nhóm tôn giáo cũng dễ xảy ra Sự thành công của Châu Âu trong hợp tác khu vực khiến Phương Tây tin rằng chuẩn mực tập thể của họ là đúng đắn, còn các quốc gia khác như các nước Trung Đông chẳng hạn phải tính đến việc phải hành xử như thế nào cho phù hợp với chuẩn mực Nghĩa là Hồi giáo sẽ dần dần phải thay đổi theo hướng tiếp thu để có sự tương hợp nhiều hơn với bản sắc của Phương Tây
Tuy nhiên, Chủ nghĩa Kiến tạo cũng gặp phải không ít những lời phê phán Trước tiên đó là quan điểm cho rằng Chủ nghĩa Kiến tạo đã coi nhẹ các yếu tố chính trị và kinh tế quốc tế trong việc giải thích mối quan hệ giữa các nền văn hóa/văn minh Thứ hai là sự đề cao quá mức vai trò của bản sắc và chuẩn mực, trong khi những yếu tố này chỉ đóng vai trò hạn chế, còn thực chất lợi ích mới là yếu tố chi phối và là động lực chính trong các quan hệ quốc tế
Khác với những học thuyết trên, Chủ nghĩa Mác - Lênin nhìn xung đột giữa các nước Phương Tây và Hồi giáo như cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức
và bóc lột của chủ nghĩa tư bản thế giới, chứ không đơn thuần là sự va chạm giữa các nền văn hóa/văn minh và tôn giáo Gần với quan điểm của Chủ nghĩa
Mác-xít, Lý thuyết về Sự phụ thuộc (theory of dependency) nhìn sự xung đột
như một sự cưỡng lại của thế giới Hồi giáo trước những những hành vi trói buộc của Phương Tây đối với họ Lý thuyết hệ thống kinh tế quốc tế thì coi đó là sự mâu thuẫn giữa trung tâm và ngoại vi trong nền kinh tế thế giới Chủ nghĩa Hậu
thực dân (postcolonialism) thì đưa thêm vấn đề chủng tộc vào các quan hệ quốc
Trang 35tế, theo đó sự khác biệt chủng tộc là một hiện diện trong quan hệ giữa hai nền văn minh Phương Tây với Hồi giáo Những vấn đề này đang ngày càng làm cho quan hệ của các nước Trung Đông với thế giới Phương Tây ngày càng trở nên phức tạp hơn, xung đột gia tăng và kéo dài, khó giải quyết, ảnh hưởng bất lợi cho nhiều mối quan hệ quốc tế khác, trong đó có quan hệ của Việt Nam với các nước Trung Đông
Khác với những quan điểm đầy mâu thuẫn và phức tạp trên đây, từ thập niên 1980 trên thế giới đã hình thành những quan điểm mới về toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức, mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của thị trường thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa gắn liền với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức Những thành tựu đột phá của khoa học công nghệ, đặc biệt là ICT, đã có tác động tích cực tới sự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động quốc tế, phát triển nhanh chóng thị trường thương mại và đầu tư quốc tế
Sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức đã vượt qua biên giới quốc gia Nền kinh tế tri thức ra đời trong điều kiện nền kinh tế của cả nhân loại đã được toàn cầu hóa Do đó, bất cứ ngành sản xuất, dịch vụ nào cũng dựa vào nguồn cung của nhiều nước và sản phẩm được tiêu thụ trên toàn thế giới Có thể gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu nối mạng Các giao dịch thương mại dựa trên cơ sở xử lý và truyền dữ liệu thông qua internet Mức độ toàn cầu hóa
về khoa học - công nghệ cũng phát triển nhanh, nhiều quốc gia đang phát triển
có thể tận dụng các cơ hội sử dụng các thành quả khoa học - công nghệ toàn cầu Các hình thức hợp tác trong khoa học trở nên rất đa dạng, từ hợp tác giữa các trường đại học với nhau, giữa đại học với các viện, trung tâm nghiên cứu, ứng dụng, với các doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm mới và công nghệ mới
Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế tri thức là một xu hướng phát triển
có tính tất yếu, là nền kinh tế lấy thị trường toàn cầu làm mục tiêu và động lực cho quá trình hình thành và phát triển Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới, muốn hình thành nền kinh tế tri thức phải có 4 điều kiện: 1) Nguồn nhân lực đạt trình độ cao; 2) Cơ sở hạ tầng hiện đại (đặc biệt là công nghệ thông tin); 3) Thể
Trang 36chế kinh tế thuận lợi cho các hoạt động truyền bá tri thức và thu hút vốn đầu tư cho ICT; 4) Đầu tư cho hoạt động R&D ở mức cao, đồng thời tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu với các doanh nghiệp để thực hiện chiến lược đổi mới
Nền kinh tế tri thức làm tăng thêm nhu cầu sử dụng đối với lao động có
kỹ năng cao, công nghệ cao và cung cách quản lý hiện đại Trong nền kinh tế tri thức, vòng đời của sản phẩm ngày càng ngắn Hệ quả là mô hình kinh doanh mới theo quan điểm của Krugman được áp dụng để sản xuất ra hàng loạt sản phẩm, thay thế cho mô hình sản xuất theo quy trình cố định của Taylor Mô hình sản xuất mới giúp cho các công nhân có thể làm việc theo nhóm, thay đổi công việc, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất giúp cho người công nhân luôn tiếp thu tri thức mới để đối phó với tình trạng thay đổi nghề nghiệp Nền kinh tế tri thức cũng làm tăng nhanh nhu cầu sử dụng lực lượng lao động khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Sự mở rộng quy mô lao động
có trình độ chuyên môn cao là sự thay đổi về chất đối với nhu cầu chất lượng lao động trong nền kinh tế tri thức, khác xa so với nền kinh tế công nghiệp trước đây
1.2 Các tôn giáo lớn tại Trung Đông
1.2.1 Hồi giáo
Hồi giáo ra đời vào thế kỷ thứ 7 tại bán đảo Arab do nhà tiên tri Mohamed sáng lập Mặc dầu là tôn giáo ra đời muộn nhất ở Trung Đông so với Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo, nhưng Hồi giáo đã mau chóng mở rộng phạm
vi ảnh hưởng, trở thành tôn giáo chính tại khu vực Trung Đông Lịch sử hình thành và phát triển của Hồi giáo gắn liền với kinh Koran Có những truyền thuyết cho rằng kinh Koran là sự kết nối những dòng tư tưởng về tôn giáo độc thần từ tổ phụ Abraham, sau đó đến Maisen qua Jesus và cuối cùng là Mohamed
Từ năm 2000 trước công nguyên, người Arab đã biết đến Thiên Chúa của Abraham mà họ gọi là Thánh Alla Điều đó có nghĩa là người Arab đã thờ Alla
từ 27 thế kỷ trước khi xuất hiện Mohamed và Đạo Hồi Qua nhiều thế kỷ tiếp xúc với văn hóa của người Do Thái, người Arab đã quen biết tới các vị thánh
Trang 37trong Thánh kinh Cựu ước Từ thế kỷ thứ 7 trở đi, người Arab đã tiếp xúc với người Thiên Chúa giáo thuộc Đế quốc Byzantine rộng lớn và từ các nước láng giềng như Syria, Ai Cập Mặc dầu có rất ít người Arab theo đạo Thiên Chúa lúc
đó, nhưng họ vẫn bị ảnh hưởng bởi tôn giáo này Trước khi kinh Koran ra đời,
sự thiếu hụt nền tảng văn hóa và đức tin làm chỗ dựa cho quá trình phát triển xã hội khiến cho cộng đồng người Arab tại Trung Đông gặp nhiều khó khăn trong việc tạo lập sức mạnh đoàn kết chống lại các thế lực bên ngoài, cũng như chống lại sự đồng hóa về văn hóa của các nền văn minh khác
Kinh Koran xuất hiện trở thành nền tảng tinh thần cho đời sống của người Arab Họ đón nhận kinh Koran và đạo Hồi với tinh thần dân tộc và truyền thống văn hóa lâu đời của họ Điều đó giúp cho đạo Hồi lan truyền nhanh và kinh Koran trở thành sợi dây liên kết chặt chẽ các bộ lạc lại với nhau, biến khối Arab trở thành một lực lượng đoàn kết Đạo Hồi ra đời và lan truyền khắp nơi, toàn
bộ khu vực Trung Đông đạt tới đỉnh cao của sự phát triển kể từ thế kỷ thứ 8 tới thế kỷ thứ 13, được đánh giá là thời hoàng kim của những người Hồi giáo Trung Đông Cũng vào thời kỳ đó, người Arab bị ảnh hưởng bởi văn hóa Hy Lạp, do
đó họ chú ý tới toán học, thiên văn học, các khoa học thực nghiệm Đầu thế kỷ thứ 8, trường đại học đầu tiên trên thế giới được xây dựng tại Baghdad, Iraq Thành phố này nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm văn hóa lớn nhất thế giới Trong các thế kỷ sau đó, nhiều tác phẩm về toán học, triết học, văn hóa, y học của người Hy Lạp đã được dịch sang tiếng Arab
Kinh Koran gồm 114 chương, được trình bày bằng 6236 câu thơ Phần lớn quyển kinh Koran được Mohamed viết tại thánh địa Mecca, số còn lại được viết tại Medina Cuốn kinh được lưu truyền từ đời này qua đời khác nhờ có những người sao chép và phục hồi, đặc biệt là công lao của các vị vua của Arab, trong đó có công lao to lớn của vua Athman (644-657) Khác với kinh Cựu ước, kinh Koran ngoài việc đề cập đến các giá trị thiêng liêng, truyền thống lịch sử, còn đề cập tới các giáo lý cơ bản Không có 10 điều răn như thánh kinh Thiên Chúa giáo, nhưng kinh Koran lại có 5 trụ cột chống đỡ và tạo nên rường cột cho
đời sống tinh thần của người Hồi giáo Thứ nhất, không có thần thánh nào ngoài
Trang 38thượng đế và Mohamed là sứ giả của thượng đế Thứ hai, người Hồi giáo phải thực hiện 5 lần cầu nguyện một ngày hướng về thánh địa Mecca Thứ ba, nhịn đói ban ngày trong suốt tháng Ramadan Thứ tư, bố thí gồm quyên góp thường
là 1/40 tài sản cho người nghèo khó, vì mục đích từ thiện Thứ năm, hành hương
tới Mecca, ít nhất một lần trong đời vào tháng 12 của lịch Hồi giáo Sau khi Mohamed từ trần vào năm 632, cộng đồng Hồi giáo lập ra một chính phủ và các luật lệ dựa trên kinh Koran Bộ luật này có tên là Shari’a, do các chuyên gia lập
ra có liên quan tới tất cả các hoạt động của cá nhân, cộng đồng Cũng sau khi Mohamed qua đời, Hồi giáo Trung Đông được phân chia ra hai nhánh chính là Shia và Sunni Người Hồi giáo Sunni tự coi mình là nhánh chính thống, truyền thống của Đạo Hồi và sùng kính tất cả các đấng tiên tri được nêu trong kinh Koran, đặc biệt là Mohamed Trong khi đó người Hồi giáo Shia tự coi mình là quyền của Ali, con rể của Mohamed có tư cách chính trị, lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo Cả hai nhánh này đều tôn thờ thánh Alla và Mohamed, thực hiện 5 trụ cột cơ bản của kinh Koran, nhưng sau khi Mohamed qua đời, đã xảy ra xung đột giữa hai nhánh tranh giành vị trí lãnh đạo Ngày nay, người Sunni chiếm 85% dân số Hồi giáo của khu vực Trung Đông, người Shia chỉ chiếm 15% Sự tách biệt giữa hai dòng đạo này đã làm cho nội bộ khối Hồi giáo trước đây đoàn kết chặt chẽ, nay bị chia rẽ Xung đột giữa người Hồi giáo Sunni và Shia ngày càng trở nên sâu sắc hơn, cuộc chiến tôn giáo giữa hai phe nhóm đã xảy ra ở Iraq, Pakistan và lan sang một số quốc gia khác
Trong suốt khoảng thời gian dài từ thế kỷ 12 tới 20, Trung Đông luôn bị các đế chế nước ngoài cai trị, đó là cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất (1096-1099) của Công giáo La Mã, sự đàn áp và thống trị của quân Mông Cổ, sự cai trị của
đế chế Ottoman, sau này là thuộc địa của Anh và Pháp Thời kỳ hưng thịnh của Trung Đông đã kết thúc, nền kinh tế suy kiệt, lạc hậu, hầu hết người dân Trung Đông mù chữ và sống trong tình cảnh nghèo đói Hồi giáo được xem như là cứu cánh để cứu rỗi linh hồn và thể xác của các tín đồ Sự cuồng tín Hồi giáo cũng bắt đầu xuất hiện từ tình cảnh nghèo đói này và họ đổ lỗi cho nghèo đói là do
Trang 39các nước Phương Tây gây ra Tất cả sự căm giận được biện minh bằng lời răn của chúa trong kinh Koran
Ngoài những điều có nội dung tốt, kinh Koran còn chứa đựng những nội dung cực đoan Theo luật Hồi giáo, thế giới được phân chia thành hai lãnh địa, Dar al - Islam (có nghĩa là vùng đất của Hồi giáo) và Dar al - Harle ( là vùng đất của chiến tranh) Jihad được nhắc đến trong kinh Koran có nghĩa là chiến đấu Cụm từ này thường được sử dụng để diễn tả sự chiến đấu vì Chúa (Thánh chiến) của các tín đồ chống lại những kẻ không theo Đạo Hồi, tà giáo theo quan niệm của người Hồi giáo Hồi giáo cực đoan phát triển mạnh từ năm 1996 khi Bin Laden đề xướng ra Fatwah - một quyết định tôn giáo chính thức kêu gọi những người Hồi giáo giết lính Mỹ đang đóng quân tại Saudi Arabia Bin Laden đã lập
ra lực lượng Al - Qaeda hiện có mặt ở 60 nước trên thế giới, trong đó phong trào Jihad được xem là đội quân tiên phong chống Mỹ, các nước Phương Tây,
Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hindu giáo Kể từ sau vụ khủng bố ở Hoa Kỳ ngày 11 tháng 9 năm 2001, lực lượng Al - Qaeda lớn mạnh không ngừng, đã gây ra nhiều vụ khủng bố đẫm máu ở Mỹ, Châu Âu, Iraq, Lebanon, Pakistan, Israel và Palestine… Nghèo đói và sự can thiệp của nước ngoài vào khu vực Trung Đông đã làm cho thái độ thù địch của người Hồi giáo với người không phải là Hồi giáo, người theo các tôn giáo khác hoặc không theo tôn giáo nào tăng lên Chính sách của các nước lớn như Mỹ, Châu Âu, Nga, Trung Quốc, đặc biệt là cuộc chiến tranh của Mỹ lật đổ Hussen tại Iraq, chính sách bao vây của
Mỹ đối với Iran và ủng hộ Israel theo cách hiểu của người dân Trung Đông là
để tìm kiếm nguồn lợi từ dầu mỏ và lợi dụng vị trí chiến lược của khu vực này chứ không hề giúp cho người dân Trung Đông thoát khỏi cảnh nghèo đói
Về phương diện chính trị, các quốc gia Hồi giáo tại Trung Đông tiếp tục chính sách Hồi giáo hóa bộ máy cầm quyền Những người có lợi thế lớn từ chính quyền trung ương tới địa phương đều là người Hồi giáo, họ ra sức bảo vệ lợi ích của người Hồi giáo Nhiều hoạt động cứu trợ, tuyên truyền tư tưởng chính trị đã thoát ra ngoài phạm vi hoạt động tín ngưỡng tôn giáo Hệ thống luật pháp của các quốc gia này dựa vào kinh Koran để cai trị và quản lý đất nước
Trang 40Có thể khẳng định rằng, tại các quốc gia Hồi giáo, không thấy sự phân cách rõ
ràng giữa tôn giáo với chính quyền Các học sĩ (mullahs) đều là những nhà lãnh
đạo chính trị Trong nhiều thế kỷ, các quốc gia Trung Đông đã trải qua nhiều cuộc cải cách chính trị, năm 1979 nhà nước Hồi giáo Iran chính thức được thành lập, biến chủ nghĩa Hồi giáo phong kiến thành lực lượng chính trị Hồi giáo Sau cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran, một loạt các nhà nước Hồi giáo khác được hình thành ở Trung Đông, lấy Hồi giáo làm quốc đạo, xây dựng xã hội Hồi giáo tuân theo ý thức hệ Hồi giáo độc quyền Nhiều lãnh đạo các quốc gia Arab cũng chính là các nhà truyền giáo rất tích cực khuyếch trương sức mạnh của Hồi giáo trong hệ thống chính trị đất nước và quốc tế
Nhìn bề ngoài hệ thống chính trị của các nước Trung Đông giống như các nước Phương Tây với hệ thống chính trị đa đảng Tuy nhiên, nền dân chủ tại các quốc gia Hồi giáo Trung Đông bị bóp nghẹt bởi thế lực chính trị cầm quyền hà khắc Ở hầu hết các quốc gia này, quyền lực được chuyển giao theo kiểu “cha truyền con nối” Những nước có bầu cử tự do, thì người thắng cử phải được các giáo sĩ, giáo chủ tại nước đó ủng hộ Tóm lại, đó là thể chế chính trị không thoát khỏi sự ràng buộc của ý thức hệ Hồi giáo
1.2.2 Thiên Chúa giáo
Theo các tài liệu lịch sử, cộng đồng Thiên Chúa giáo ở Trung Đông đã phát triển từ rất lâu đời Thiên Chúa giáo có mặt tại Trung Đông từ thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, trước Hồi giáo khoảng 600 năm Apostle Bartholomew là người đưa Thiên Chúa giáo đến các vùng đất Arab Vào thế kỷ thứ 3, các nhà thờ Thiên Chúa giáo được xây dựng trên vùng đất Bahrain, sau đó lan rộng sang Yemen và các quốc gia vùng Vịnh Nhưng từ thế kỷ thứ 7, khi Hồi giáo ra đời, Thiên Chúa giáo bắt đầu bị thu hẹp tại Trung Đông, đến thế kỷ thứ 10, chỉ còn chiếm một tỷ lệ nhỏ Số lượng người theo đạo Thiên Chúa chỉ còn lại ở các nước Lebanon, Syria, Jordan, Iraq và một vài quốc gia vùng vịnh Ba Tư Theo
số liệu thống kê, năm 2008, tại các quốc gia này có khoảng một triệu người Thiên Chúa giáo, phần đông họ là những người di cư từ Hoa Kỳ và Phương Tây tới để thực hiện các dự án kinh tế Do luật lệ hà khắc của Hồi giáo nên Thiên