1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam

145 293 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được tính toán theo các tiêu chí: - Nghiên cứu triển khaiR&D: Tính bằng % tiền ngân sách chi cho R&D của ngành doanh nghiệp/tổng ngân sách trong năm tài chính của ngành doanh nghiệp và %

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI

HỒ SƠ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG VIỆC TÍNH TOÁN “CHỈ SỐ

ĐỔI MỚI CÔNG NGHIỆP” TẠI VIỆT NAM

Mã số: 172.12 RD/HĐ-KHCN

Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại

Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Tú Oanh

9712

NĂM 2012

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: RD/HĐ-KHCN Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2012

HỢP ĐỒNG ĐẶT HÀNG SẢN XUẤT VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

(Dành cho đề tài R&D)

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương; Nghị định số 44/2011/NĐ -CP ngày 14/6/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung điều 3 Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ

Căn cứ Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ;

Căn cứ Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 6968/QĐ-BCT ngày 29 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng

Bộ Công Thương về việc đặt hàng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2012

Chúng tôi gồm:

1 Bên đặt hàng là: Bộ Công Thương (dưới đây gọi là Bên A)

Đại diện là bà: Phạm Thu Giang

Chức vụ : Phó Vụ trưởng -Vụ Khoa học và Công nghệ

Địa chỉ : 54, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Điện thoại: 04.22202343

2 Bên cung cấp dịch vụ là: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại

(dưới đây gọi là Bên B)

Đại diện là ông: Đỗ Văn Chiến

Trang 3

Điều 1 Trách nhiệm và quyền của bên B:

1 Bên B cam kết thực hiện đề tài “Nghiên cứu áp dụng việc tính toán “Chỉ số

đổi mới công nghiệp” tại Việt Nam” theo các yêu cầu về nội dung, tiến độ thực hiện

và dự toán kinh phí được nêu trong Thuyết minh đề tài kèm theo Hợp đồng này

2 Chấp hành các quy định pháp luật và những yêu cầu của cơ quan quản lý trong quá trình thực hiện Hợp đồng; gửi báo cáo giữa kỳ và báo cáo đột xuất (nếu có) về tình hình thực hiện đề tài về Bộ theo yêu cầu

3 Hoàn thành các thủ tục nghiệm thu các cấp, thanh quyết toán tài chính theo tiến độ nêu trong Thuyết minh đề tài kèm theo Hợp đồng và nộp Báo cáo tổng kết đề tài về Bộ Công Thương và Cục Thông tin KH&CN Quốc gia theo quy định

4 Báo cáo kịp thời với bên A các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện đề tài và đề xuất các kiến nghị điều chỉnh cần thiết để bên A xem xét, giải quyết

Điều 2 Kinh phí và thời gian thực hiện hợp đồng

1 Kinh phí cấp từ Ngân sách Nhà nước để thực hiện Hợp đồng là: 160.000.000

đồng (bằng chữ: một trăm sáu mươi triệu đồng chẵn)

2 Thời gian thực hiện hợp đồng là: 12 tháng; từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2012

Điều 3 Trách nhiệm và quyền của Bên A

1 Duyệt Thuyết minh đề tài và tổ chức kiểm tra tình hình bên B thực hiện Hợp đồng theo các nội dung, tiến độ nêu trong Thuyết minh đề tài

2 Chuyển cho bên B số kinh phí thực hiện Hợp đồng nêu tại Điều 2 theo quy định hiện hành về cấp phát kinh phí từ ngân sách Nhà nước

3 Tổ chức kiểm tra giữa kỳ và đánh giá nghiệm thu cấp Bộ kết quả thực hiện đề tài và thanh lý Hợp đồng với Bên B theo các quy định hiện hành

4 Kịp thời xem xét, giải quyết theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền giải quyết các kiến nghị của bên B khi có phát sinh

5 Được quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng và thu hồi kinh phí đã cấp theo quy định trong các trường hợp sau:

- Bên B không đủ khả năng thực hiện Hợp đồng hoặc cố tình dây dưa không thực hiện Hợp đồng và không báo cáo khi được bên A yêu cầu

- Thực hiện không đúng nội dung nghiên cứu nêu trong Thuyết minh Hợp đồng;

sử dụng kinh phí không đúng mục đích

Điều 4 Điều chỉnh, bổ sung nội dung Hợp đồng

Trong trường hợp kiến nghị liên quan đến đề tài của bên B được bên A xem xét, giải quyết thì văn bản trả lời/chấp thuận của bên A sẽ là bộ phận của Hợp đồng làm

Trang 4

Điều 5 Điều khoản thi hành

- Hai bên cam kết thực hiện đầy đủ các điều khoản đã ghi trong hợp đồng Nếu có yêu cầu cần thay đổi, hoặc có vi phạm Hợp đồng, hai bên sẽ thoả thuận để giải quyết

- Hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày ký, được lập thành 07 bản có giá trị như nhau Bên A giữ 4 bản./

Đại diện Bên A

Trang 5

THUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

(kèm theo Hợp đồng số …………/HĐ-KHCN, ký ngày tháng năm 2012)

1 Tên đề tài: Nghiên cứu áp dụng việc tính toán “Chỉ số đổi mới

công nghiệp” tại Việt Nam

2 Mã số:

3 Thuộc Chương trình trọng điểm cấp Bộ/Chuyên mục (nếu có)

4 Thời gian thực hiện: 12 tháng (Từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2012)

Cơ quan: Trung tâm thông tin Công nghiệp - Thương mại

Địa chỉ: 76 Nguyễn Trường Tộ

Điện thoại CQ: 04.22192890 Di động: 0983557655

Fax: 04 37150520 E-mail: tuoanhbta@yahoo.com

7 Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại

Địa chỉ: 46 Ngô Quyền, Hà Nội

Điện thoại: 04.38262316 Fax: 04 39349177 Email: vtic@vtic.vn

8 Cơ quan phối hợp chính:

- Vụ Kế hoạch, Vụ Công nghiệp nhẹ, Vụ Công nghiệp nặng, Vụ HTQT, Vụ KHCN, Tổng cục Năng lượng - Bộ Công Thương

- Tổng cục Thống kê

- Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ KH và CN

- Một số Hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp sản xuất công nghiệp

9 Danh sách những người thực hiện chính:

STT Họ và tên Học vị, học hàm Cơ quan

Nguyễn Thị Tú Oanh Thạc sỹ Trung tâm Thông tin CN và TM

Nguyễn Xuân Hòa Cử nhân Trung tâm Thông tin CN và TM

Lê Mai Thanh Cử nhân Trung tâm Thông tin CN và TM

Phạm Huyền Trang Cử nhân Trung tâm Thông tin CN và TM

Nguyễn Thị Ánh Ngọc Cử nhân Trung tâm Thông tin CN và TM

Nguyễn Duy Tuấn Cử nhân Trung tâm Thông tin CN và TM

Trần Thị Phương Thảo Cử nhân Trung tâm Thông tin CN và TM

Trang 6

10 Mục tiêu của đề tài:

Nghiên cứu áp dụng việc tính toán “Chỉ số đổi mới công nghiệp” tại Việt Nam với các mục tiêu chính là:

- Những vấn đề lý luận, phương pháp tính toán và thực tiễn tính toán chỉ số đổi mới của các tổ chức quốc tế, các nước phát triển, các tập đoàn lớn trên thế giới

- Khả năng áp dụng chỉ số đổi mới công nghiệp đối với ngành công nghiệp Việt Nam

và một số tính toán thử

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện việc tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp và bổ sung vào danh mục chỉ tiêu thống kê của ngành Công Thương

11 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:

Chỉ số đổi mới đã được nghiên cứu và tính toán ở một số tổ chức như OEDC, Viện nghiên cứu Melbourne, và được dùng để đánh giá mức độ đổi mới của nhiều lĩnh vực như đầu tư công, công nghiệp, khoa học, công nghệ

12 Tình hình nghiên cứu ở trong nước:

Hiện nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến chỉ số đổi mới ở Việt Nam

13 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện việc nghiên cứu Đề tài, một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng kết hợp là:

- Thu thập số liệu, tài liệu

- Khảo sát thực chứng

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

- Phương pháp chuyên gia, hội thảo chuyên đề

14 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tài gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phương pháp tính và bộ chỉ tiêu tính toán chỉ số đổi mới, đổi mới công nghiệp đã được sử dụng trên thế giới

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.2 Khái luận về chỉ số đổi mới, chỉ số đổi mới công nghiệp

1.3 Thực tế tính toán và công bố chỉ số đổi mới, chỉ số đổi mới công nghiệp trên thế giới

1.4 Kinh nghiệm quốc tế về tính toán và công bố chỉ số đổi mới, chỉ số đổi

Trang 7

2.1 Phương pháp tính chỉ số đổi mới và các điều kiện áp dụng

2.1.1 Phương pháp tính chỉ số đổi mới

Chỉ số đổi mới công nghiệp bao gồm những quy trình mới, công nghệ mới, sản phẩm mới và các giải pháp hữu ích được tính theo năm tài chính Được tính toán theo các tiêu chí:

- Nghiên cứu triển khai(R&D): Tính bằng % tiền( ngân sách) chi cho R&D của ngành (doanh nghiệp)/tổng ngân sách trong năm tài chính của ngành (doanh nghiệp) và % lao động cho R&D/ tổng lao động sử dụng trong ngành (doanh nghiệp)

- Bằng sáng chế: Tính bằng số đơn xin cấp bằng/ tổng lao động trong ngành (doanh nghiệp)

- Nhãn hiệu hàng hóa: Tính bằng nhãn hiệu hàng hóa(mới)/ tổng lao động trong ngành (doanh nghiệp)

- Khả năng sáng tạo thiết kế: Tính bằng số thiết kế, sáng tạo mới/ tổng lao động trong ngành (doanh nghiệp)(nếu có)

- Đổi mới tổ chức, quản lý: Dựa trên việc trả lời bảng câu hỏi có sẵn.(nếu có)

- Năng suất lao động: Tính bằng giá trị tăng thêm/1 người lao động trong ngành (doanh nghiệp)

2.1.2 Các điều kiện áp dụng tính toán

2.2 Tính toán thử chỉ số đổi mới công nghiệp đối với một số ngành công nghiệp chính của Việt Nam

2.2.1 Tính toán thử chỉ số đổi mới công nghiệp

2.2.2 Tính toán thử chỉ chỉ số đổi mới công nghiệp đối với ngành khai khoáng 2.2.3 Tính toán thử chỉ chỉ số đổi mới đối với ngành công nghiệp chế biến chế tạo

2.3 Đánh giá chung về khả năng áp dụng tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp phù hợp điều kiện Việt Nam

2.3.1 Đánh giá nguồn số liệu đầu vào để tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp 2.3.2 Đánh giá khả năng áp dụng tính toán và công bố chỉ số đổi mới công nghiệp ở Việt Nam

Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện việc tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp

và bổ sung vào danh mục chỉ tiêu thống kê của ngành Công Thương

3.1 Tính hữu ích của việc tính toán thử chỉ số đổi mới công nghiệp đối với định hướng phát triển ngành công nghiệp của Việt Nam

- Tính hữu ích của chỉ số đối với cơ quan quản lý Nhà nước

- Tính hữu ích của chỉ số đối với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp

- Định hướng phát triển công nghiệp

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện việc tính toán và công bố chỉ số đổi mới công nghiệp

3.2.1 Đề xuất đối với việc hoàn thiện dữ liệu thống kê

3.2.2 Đề xuất trong quá trình tính toán và công bố chỉ số đổi mới công nghiệp

Trang 8

- Báo cáo phân tích x

- Tài liệu dự báo

17 Yêu cầu khoa học đối với sản phẩm (cho dạng sản phẩm II và III trong mục 16)

STT Tên sản phẩm Yêu cầu khoa học Chú thích

18 Yêu cầu kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng đối với sản phẩm (cho đề tài R&D)

Mức chất lượng

TT Mẫu tương tự Tên sản phẩm và chỉ

tiêu chất lượng chủ yếu

Đơn

vị đo quả đạt Kết

được Trong nước

Thế giới

Số lượng sản phẩm tạo ra

Ghi chú

TT Nội dung

Từ Đến

Trang 9

Thời gian thực hiện Kết quả cụ

thể

(Số lượng, khối lượng, chất lượng)

2 Điều tra, khảo sát, thu thập

số liệu, tài liệu 3/2012 4/2012 Bảng số liệu, tài liệu

tiêu tính toán chỉ số đổi

mới, đổi mới công nghiệp

đã được sử dụng trên thế

giới

- Nghiên cứu áp dụng và tính

toán thử đối với ngành công

nghiệp Việt Nam

- Đề xuất giải pháp hoàn

thiện việc tính toán chỉ số

đổi mới công nghiệp và bổ

sung vào danh mục chỉ tiêu

thống kê của ngành Công

4 Báo cáo giữa kỳ về kết quả

triển khai với Bên A 01/6/2012 31/6/2012

Báo cáo giữa

kỳ các nội dung đã thực hiện

BCN và các

CQ phối

hợp

6 Hội thảo khoa học, lấy ý kiến

chuyên gia, chỉnh sửa báo

cáo

10/2012 11/2012 Báo cáo tổng hợp và BCTT

BCN và các

chuyên gia

7 Nghiệm thu cấp cơ sở và nộp

hồ sơ đề tài về Bên A để

nghiệm thu cấp Bộ 1/12/2012 15/12/2012

Hồ sơ trình nghiệm thu đề tài cấp Bộ

TT Thông tin CN và

TM

8 Nộp báo cáo tổng kết, thanh

lý, quyết toán tài chính

5/12/2012 25/1/2013 - Giấy biên

nhận nộp BC tổng kết -Biên bản nghiệm thu cấp Bộ và

Trung tâm Thông tin

CN và TM

& Bộ Công

Trang 10

Thời gian thực hiện Kết quả cụ

thể

(Số lượng, khối lượng, chất lượng)

20 Dự toán Kinh phí thực hiện đề tài 1

Thành tiền (nghìn đồng) Nguồn NSNN cấp

Trong đó

TT Nội dung thực hiện

Đơn

vị tính

Khối lượng

Đơn giá (nghìn đồng) Tổng số

Khoán Không

khoán

Nguồn khác

1 Chi công lao động

Chi mua sách, báo, tài

liệu dùng cho công tác

Trang 11

4.2

Hội nghị, hội thảo,

nghiệm thu cấp cơ sở

6,700

- Hội thảo khoa học

2,700

- Nghiệm thu cấp cơ sở

4,000

4.3 Văn phòng phẩm, in ấn, dịch tài liệu

2,900

4.4 Quản lý chung nhiệm vụ KH&CN

11,400

Tổng cộng

160,000

(Một trăm sáu mươi triệu đồng) Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2012 Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2012 TRUNG TÂM THÔNG TIN

CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI

GIÁM ĐỐC Chủ nhiệm đề tài Đỗ Văn Chiến Nguyễn Thị Tú Oanh Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2012 TL BỘ TRƯỞNG KT VỤ TRƯỞNG VỤ KH&CN KT VỤ TRƯỞNG VỤ TÀI CHÍNH PHÓ VỤ TRƯỞNG PHÓ VỤ TRƯỞNG

Phạm Thu Giang Nguyễn Hồng Dương

Trang 12

Phụ lục: Danh sách các chuyên đề khoa học của đề tài Nội dung các chuyên đề cụ thể

Kinh phí thực hiện (1000 VNĐ)

Thời gian thực hiện

01 khái niệm cơ bản, các vấn đề lý luận) Tình hình nghiên cứu chỉ số đổi mới trên thế giới (các 10.000 4/2012 - 6/2012

02 mới công nghiệp trên thế giới Tình hình tính toán và công bố chỉ số đổi mới, chỉ số đổi 10.000 4/2012 -6/2012

03

Nghiên cứu phương pháp tính toán chỉ số đổi mới và chỉ

số đổi mới công nghiệp, các điều kiện áp dụng tại Việt

Nam

10.000 4/2012 - 6/2012

04 Đánh giá khả năng áp dụng tính toán và tính toán thử chỉ số đổi mới công nghiệp đối với ngành mỏ, khai khoáng 10.000 4/2012 - 6/2012

05

Đánh giá khả năng áp dụng tính toán và tính toán thử chỉ

số đổi mới công nghiệp đối với một số ngành công

nghiệp nặng

10.000 4/2012 -

6/2012

06

Đánh giá khả năng áp dụng tính toán và tính toán thử chỉ

số đổi mới công nghiệp đối với một số ngành công

nghiệp nhẹ

10.000 4/2012 - 6/2012

07

Thực trạng nguồn số liệu đầu vào trong việc tính toán

chỉ số đổi mới công nghiệp và khả năng tính toán, công

bố chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam

10.000 4/2012 - 6/2012

08

Định hướng phát triển ngành công nghiệp của Việt Nam

và tính hữu ích của việc tính toán thử chỉ số đổi mới

công nghiệp

10.000 4/2012 -

6/2012

09

Một số đề xuất đối với hoàn thiện hệ thống số liệu thống

kê làm nguyên liệu đầu vào cho việc tính toán chỉ số đổi

mới công nghiệp

10.000 4/2012 - 6/2012

10 Một số đề xuất trong quá trình tính toán và công bố chỉ số đổi mới công nghiệp Việt Nam 10.000 4/2012 - 6/2012

11

Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện tính toán và

công bố chỉ số sản xuất công nghiệp 10.000

4/2012 -

6/2012

Trang 13

LỜI NÓI ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh ngày càng khốc liệt và đổi mới trở thành yêu cầu cấp thiết với tất cả các doanh nghiệp, các ngành và các quốc gia Vấn đề then chốt của mỗi doanh nghiệp, ngành, quốc gia hiện nay là phải không ngừng đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trước các đối thủ Đổi mới là quá trình liên tục làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, của ngành, doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đáp ứng xu hướng thay đổi của xã hội

Đối với các doanh nghiệp lớn trên thế giới, quá trình đổi mới đã được xây dựng thành tập hợp các quy trình, bao gồm phát triển ý tưởng, sàng lọc

ý tưởng, phát triển và thử nghiệm khái niệm, phân tích kinh doanh, phát triển và thử nghiệm vật mẫu, marketing thử nghiệm và thương mại hóa Sự đổi mới không chỉ giới hạn trong các sản phẩm và dịch vụ mới mà còn bao hàm cả công việc kinh doanh mới và cách thức kinh doanh mới

Chỉ số đổi mới của các doanh nghiệp lớn trên thế giới đã được nghiên cứu và tính toán Khi xem xét, đánh giá doanh nghiệp, chỉ số đổi mới là chỉ

số quan trọng phản ánh sức sống của doanh nghiệp Chỉ số này thể hiện tỷ lệ doanh số của các sản phẩm mới có trong vòng ba năm gần nhất Không có công ty nào tồn tại được với chỉ số đổi mới là con số không Các doanh nghiệp, các ngành kinh tế sẽ gặp khó khăn và không thể thành công được nếu chỉ số đổi mới của họ đạt mức thấp

Chỉ số đổi mới công nghiệp là chỉ số dùng để đo lường mức độ đổi mới công nghiệp của một quốc gia trong khoảng thời gian nhất định Thông qua chỉ số đổi mới công nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước có những biện pháp thích hợp nhằm khuyến khích sự phát triển của ngành công nghiệp cũng như các mục tiêu an sinh xã hội khác

Trang 14

Ở cấp độ ngành và cấp độ nền kinh tế, chỉ số đổi mới đã được nghiên cứu tính toán và công bố tại nhiều quốc gia và đã phát huy hiệu quả nhất định Tuy nhiên, ở Việt Nam, chỉ số này hiện vẫn chưa được nghiên cứu tìm hiểu, tính toán và công bố

Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển của nền kinh tế được phản ánh qua hệ thống các chỉ số Chỉ số đổi mới công nghiệp là một chỉ số quan trọng phản ánh mức độ đổi mới của ngành công nghiệp - ngành được coi là nền tảng cho sự phát triển kinh tế quốc dân (nhất là đối với các nước đang phát triển), phản ánh sức sống của nền kinh tế, của các ngành, các doanh nghiệp nên việc tính toán và công bố chỉ số này là hết sức cần thiết Do đó,

nhóm nghiên cứu đã bước đầu Nghiên cứu áp dụng việc tính toán “Chỉ

số đổi mới công nghiệp” tại Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài phải đạt được các mục tiêu chính là:

- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn tính toán chỉ số đổi mới của một số tổ chức quốc tế và một số nước trên thế giới;

- Nghiên cứu, tính toán thử và chỉ rõ khả năng áp dụng việc tính toán

và công bố chỉ số đổi mới công nghiệp ở Việt Nam;

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện việc tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp ở Việt Nam và bổ sung vào danh mục chỉ tiêu thống kê của ngành Công Thương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

a/ Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là: Chỉ số đổi mới, chỉ số đổi mới

công nghiệp và chỉ số đổi mới của các yếu tố cấu thành chỉ số đổi mới công nghiệp

b/ Phạm vi nghiên cứu:

Do giới hạn về nhiều mặt, đề tài tập trung nghiên cứu phương pháp tính và bộ chỉ tiêu tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp đã được sử dụng

Trang 15

trên thế giới và từ đó áp dụng để tính toán thử đối với ngành công nghiệp Việt Nam nói chung và một số ngành công nghiệp riêng biệt

4 Nội dung nghiên cứu:

Ngoài lời nói đầu, kết luận và các phụ lục, nội dung nghiên cứu của

đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1: Nghiên cứu, tìm hiểu phương pháp tính và bộ chỉ tiêu tính

toán chỉ số đổi mới công nghiệp đã được sử dụng trên thế giới

Chương 2: Nghiên cứu áp dụng và tính toán thử chỉ số đổi mới đối

với ngành công nghiệp Việt Nam

Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện việc tính toán chỉ số đổi mới

công nghiệp và bổ sung vào danh mục chỉ tiêu thống kê của ngành Công

Thương

Trang 16

Chương 1

NGHIÊN CỨU, TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP TÍNH VÀ

BỘ CHỈ TIÊU TÍNH TOÁN CHỈ SỐ ĐỔI MỚI CÔNG NGHIỆP

ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRÊN THẾ GIỚI

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1 Chỉ số, chỉ số đổi mới công nghiệp

a/ Khái niệm về chỉ số

Chỉ số là một đại lượng dùng để so sánh mức độ thay đổi của cùng một đại lượng tại thời điểm hiện tại so với thời điểm gốc đã được chọn trước Các chỉ số thường được tính toán bằng % thay đổi so với năm gốc Công thức tính chung:

Trong đó:

Iq: Tốc độ phát triển của đại lượng cần đo

iq: Tốc độ phát triển của đại lượng thành phần cấu thành nên đại lượng cần

đo

Wq: Quyền số được tính bằng giá trị tăng thêm kỳ gốccủa đại lượng cần

đo, tính theo đơn vị tự nhiên của đại lượng đó (Ví dụ: Đơn vị khối lượng tính bằng tấn, kg…; đơn vị giá trị tính bằng tiền: Ngàn, triệu, tỷ, ngàn tỷ… (USD, VND…)

Bản chất của việc tính toán chỉ số là xác định tốc độ tăng trưởng/phát triển của đại lượng cần đo Với phương pháp tính chỉ số, ta có thể đánh giá được tốc độ tăng trưởng cho toàn ngành công nghiệp/ngành công nghiệp cụ thể hay một doanh nghiệp công nghiệp một cách chính xác, kịp thời, đáp ứng

Trang 17

tốt cho nhu cầu điều hành nhanh, linh hoạt của các cấp quản lý trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Phương pháp tính chỉ số là phương pháp đã và đang được các nước trên thế giới áp dụng để tính toán sự biến động của các đại lượng thường gặp Đặc biệt, phương pháp tính chỉ số thường được sử dụng để tính chỉ số giá, chỉ số sản xuất, các chỉ số trên thị trường chứng khoán… và thường xuyên được tính toán và công bố của các tổ chức/cơ quan thống kê quốc tế

Đặc điểm của việc sử dụng các chỉ số trong thống kê:

- Tính toán các chỉ số trong thống kê cho phép phản ánh và đánh giá

xu hướng thay đổi của các đại lượng sát với thực tế

- Tính toán các chỉ số trong thống kê cho kết quả phong phú, chi tiết,

đa dạng theo các ngành/lĩnh vực chi tiết, cụ thể

- Kết quả tính toán các chỉ số trong thống kê có thể dùng để so sánh với các thống kê của các nước khác hoặc thống kê quốc tế

Tuy nhiên, do các chỉ số chú trọng vào phản ánh sự thay đổi của các đại lượng thống kê (số %) nên không thể hiện được bằng giá trị tuyệt đối Mặt khác, các bộ chỉ số thường sử dụng mốc thời gian nhất định nào đó làm gốc

để so sánh nên không phản ánh được một cách chính xác sự biến động của những chu kỳ tính tiếp theo so với chu kỳ liền trước nó

b/ Khái niệm về đổi mới công nghiệp và chỉ số đổi mới công nghiệp + Công nghiệp là một ngành, một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh

vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm của nó bắt buộc phải qua khâu chế tạo, chế biến nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư

Theo cách phân loại của Việt Nam, ngành công nghiệp được phân loại thành các nhóm chính là: Công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước, khí đốt và Công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải Đây là

Trang 18

các nhóm ngành công nghiệp cơ bản, được sử dụng ổn định trong các hệ thống thống kê và từ đó có thể phân chia thành các nhóm ngành nhỏ hơn tùy theo đặc điểm của từng nhóm ngành Trong hệ thống thống kê, các nhóm ngành nhỏ hơn có sự ổn định thấp hơn so với các nhóm ngành chính

Tại Việt Nam, hệ thống ngành kinh tế hiện nay được áp dụng thống nhất theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam

Theo đó, Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam được chia làm 5 cấp (21 ngành cấp 1, 88 ngành cấp 2, 242 ngành cấp 3, 437 ngành cấp 4, 642 ngành cấp 5)

Trong số đó, ngành công nghiệp có 4 nhóm ngành cấp 1 là: Khai khoáng, Công nghiệp chế biến, chế tạo; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; Cung cấp nước, hoạt động quản

lý và xử lý rác thải, nước thải.

Cách hiểu và phân loại các ngành công nghiệp của Việt Nam cũng được

sử dụng ở một số nước trên thế giới, các lĩnh vực thuộc ngành công nghiệp (theo cách phân loại trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam) cũng tương

tự như cách phân ngành kinh tế của nhiều nước

Tuy nhiên, một số nước lại đưa thêm một số lĩnh vực khác vào ngành công nghiệp như các dịch vụ hậu cần (vận chuyển, kho bãi, thậm chí cả tài chính, bảo hiểm ) liên quan trực tiếp đến sản xuất hàng hóa, xây dựng nhà xưởng )

+ Đổi mới công nghiệp

Đổi mới là quá trình làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, của ngành hoặc của doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực,

Trang 19

hiệu quả sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về hàng hóa, dịch vụ của

xã hội

Đổi mới được xem như là nguồn gốc của sự thịnh vượng kinh tế ở tất cả các quốc gia và là nền tảng để duy trì sự phát triển ổn định của doanh nghiệp, của một ngành kinh tế hay của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh thị trường đang diễn ra mạnh mẽ ở tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế với quy mô và mức độ ngày càng cao

Đổi mới công nghiệp hiểu theo cách đơn giản nhất là quá trình làm thay

đổi quy trình công nghệ cũ và một quy trình “mới và hữu dụng” được áp

dụng với mục tiêu mang lại hiệu quả kinh tế cao, thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển

Để nghiên cứu về đổi mới công nghiệp, cần nghiên cứu một cách toàn diện về hoạt động đổi mới của ngành công nghiệp nói chung, của các ngành công nghiệp riêng biệt (khai khoáng; chế biến, chế tạo…) và của các tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp

Trên thực tế, đổi mới công nghiệp thường được nhận dạng sau khi các quy trình, công nghệ mới được áp dụng, các sản phẩm mới được đưa vào thực

tế đời sống và bản thân nó đã phát huy hiệu quả trong tăng trưởng sản lượng công nghiệp, gắn với việc sản xuất ra sản phẩm mới với chất lượng tốt, giá thành hạ

Tuy nhiên, đổi mới công nghiệp không chỉ được hiểu đơn giản là việc

áp dụng quy trình, công nghệ mới và tạo ra sản phẩm mới mà nó còn mang nghĩa rộng hơn (bao gồm nhiều hoạt động khác của ngành và của doanh nghiệp công nghiệp như: Tổ chức và vận hành bộ máy, cách sắp xếp, phân công lao động trong các khâu, các công đoạn của ngành/doanh nghiệp…) Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh luận trong việc xác định sản phẩm, quy trình, công nghệ thế nào được gọi là “mới”

Nhiều ý kiến cho rằng, đổi mới công nghiệp phải là quá trình tạo ra và đưa vào ứng dụng một sản phẩm, quy trình, công nghệ hoàn toàn mới đối với

Trang 20

thế giới chứ việc đưa mô hình hoạt động của tập đoàn/doanh nghiệp A sang

áp dụng ở tập đoàn/doanh nghiệp B chỉ là sự đổi mới đối với doanh nghiệp B nhưng không có gì mới với doanh nghiệp A

Để thuận tiện trong việc nghiên cứu và thống kê, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, đổi mới sẽ được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả 2 cấp độ

(cấp độ quốc gia và cấp độ doanh nghiệp)

Cụ thể, đổi mới được hiểu là những gì mới đối với thế giới, đối với một quốc gia hay ngành kinh tế nào đó (Ví dụ: Các phát minh, sáng chế…) và những gì được coi là mới đối với công ty/doanh nghiệp (Ví dụ: Thương hiệu, kiểu dáng…)

Mặt khác, đề tài cũng tập trung nghiên cứu tất cả các hoạt động đổi mới công nghiệp không chỉ ở các hoạt động trực tiếp, mang lại kết quả cụ thể mà

cả ở các hoạt động đổi mới được thực hiện gián tiếp (số liệu thống kê ngân sách cho hoạt động R&D)

Như vậy, đổi mới công nghiệp không chỉ được nghiên cứu dựa trên các đổi mới hữu hình (sản phẩm mới, công nghệ mới, quy trình sản xuất mới) mà còn được tính toán trên các đổi mới vô hình thông qua việc thu thập thông tin liên quan đến đổi mới hoạt động của ngành/doanh nghiệp Tất cả những thống

kê này sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về hoạt động đổi mới

Trong một số trường hợp nhất định, kể cả khi đã có khái niệm về đổi mới tương đối rõ ràng, thì vấn đề thống kê các yếu tố về “đổi mới” để tính chỉ

số đổi mới công nghiệp cũng sẽ rất phức tạp

Điều này quả là khó khăn khi mà các cơ quan thống kê phải đo lường, tính toán các yếu tố “đổi mới” khi các yếu tố này luôn ở trạng thái động (luôn thay đổi)

Hơn thế, ở cấp độ doanh nghiệp, các hoạt động đổi mới trong nội bộ doanh nghiệp công nghiệp (bí mật thương mại hoặc quá trình cải tiến sản phẩm…) đều không được tiết lộ ra bên ngoài Những sự đổi mới này sẽ được

đo lường gián tiếp thông qua việc doanh nghiệp được cơ quan có thẩm quyền

Trang 21

công nhận hoặc cấp giấy chứng nhận (sản phẩm mới, bằng phát minh, sáng chế mới, giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa mới…) và được khách hàng thừa nhận rằng họ được doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm có chất lượng tốt hơn, hợp sở thích hơn, với giá rẻ hơn

+ Khái niệm về chỉ số đổi mới công nghiệp

Như ta đã biết, ở một số nước trên thế giới, các ngành được đưa vào tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp gồm: Ngành mỏ, khai khoáng, sản xuất, xây dựng, thương mại bán buôn, thương mại bán lẻ, dịch vụ gia tăng, vận tải

và kho bãi, truyền thông, tài chính, bảo hiểm…

Tuy nhiên, ở Việt Nam, chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu và tính toán thử đối với các ngành công nghiệp được quy định tại Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Hệ thống Ngành kinh tế của Việt Nam

Trong bối cảnh như vậy, nhóm thực hiện đề tài đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm về chỉ số đổi mới công nghiệp như sau:

Chỉ số đổi mới công nghiệp là chỉ số tổng hợp được xây dựng với mục tiêu lượng hóa toàn bộ các hoạt động đổi mới trong ngành công nghiệp của

một quốc gia/doanh nghiệp công nghiệp trong phạm vi thời gian nhất định

Chỉ số đổi mới công nghiệp thường được tính theo năm

Các yếu tố được đưa vào tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp bao gồm:

(1) Nghiên cứu và phát triển (R&D);

(2) Số liệu bằng sáng chế;

(3) Nhãn hiệu hàng hóa mới;

(4) Khả năng sáng tạo, thiết kế;

(5) Các hoạt động đổi mới tổ chức, quản lý;

(6) Năng suất lao động

Trang 22

Để tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp nói chung và chỉ số đổi mới đối với từng ngành công nghiệp riêng biệt, cần xem xét, tính toán và lượng hóa được những thay đổi của mọi yếu tố nêu trên và áp dụng vào công thức tính Việc tính toán và lượng hóa những thay đổi của mọi yếu tố trên càng chính xác bao nhiêu thì việc tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp càng thể hiện rõ những thay đổi về chất, những thay đổi bên trong của ngành công nghiệp một cách chính xác và hiệu quả hơn

1.1.2 Một số khái niệm khác có liên quan

- Nghiên cứu và phát triển (R&D)

+ Đối với ngành công nghiệp nói chung, hoạt động nghiên cứu và phát triển bao gồm việc đầu tư, tiến hành thực hiện và/hoặc mua bán các kết quả nghiên cứu hoặc công nghệ mới phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của ngành công nghiệp cũng như doanh nghiệp trong ngành

Hoạt động nghiên cứu và phát triển cũng nhằm khám phá những tri thức mới liên quan đến sản phẩm, đến quy trình sản xuất, cung ứng và các dịch vụ liên quan, sau đó áp dụng những tri thức đó để tạo ra sản phẩm mới

có quy trình sản xuất, cung ứng mới, có các dịch vụ liên quan mới, hoàn hảo,

có tính cải tiến để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc của thị trường một cách tốt hơn

Hoạt động R&D của ngành công nghiệp bao gồm cả hoạt động nghiên cứu, phục vụ mục tiêu phát triển ngành nói chung và mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp riêng biệt cũng như phát triển các doanh nghiệp trong ngành

Hoạt động R&D của ngành công nghiệp thường được thực hiện tại các

cơ quan, tổ chức chuyên thực hiện hoạt động nghiên cứu như: Các viện

Trang 23

nghiên cứu chuyên ngành, các trường đại học, các hoạt động đầu tư nghiên cứu độc lập liên quan đến ngành

+ Đối với các doanh nghiệp công nghiệp, hoạt động R&D của doanh nghiệp thường được thực hiện thông qua bộ phận R&D (phòng hoặc ban nghiên cứu), với một số giới hạn các mục tiêu nghiên cứu và nhân lực thực hiện

Trong phạm vi doanh nghiệp, các hoạt động R&D thường hướng tới mục tiêu phát triển sản phẩm mới, dịch vụ mới, cải tiến quy trình sản xuất, nghiên cứu áp dụng các tiến bộ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm

- Bằng sáng chế

Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2009 (ngày

19 tháng 6 năm 2009), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010, sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên

Thuộc tính cơ bản của sáng chế/giải pháp hữu ích là đặc tính kỹ thuật bởi vì sáng chế/giải pháp hữu ích là giải pháp kỹ thuật, tức là dùng biện pháp mang tính kỹ thuật giải quyết vấn đề mục tiêu

Sáng chế/giải pháp hữu ích có thể được thể hiện dưới 5 dạng sau đây:

v Cơ cấu là tập hợp các chi tiết có chức năng giống nhau hoặc

khác nhau, liên kết với nhau để thực hiện một chức năng nhất định (ví dụ: Dụng cụ, máy móc, thiết bị, chi tiết máy, cụm chi tiết máy, các sản phẩm khác )

v Chất là tập hợp các phần tử có quan hệ tương hỗ với nhau, được

Trang 24

chức năng nhất định Chất có thể là hợp chất hóa học, hỗn hợp chất (ví dụ: Vật liệu, thực phẩm, dược phẩm…)

v Phương pháp là quy trình thực hiện các công đoạn hoặc hàng

loạt các công đoạn xảy ra cùng một lúc hoặc liên tiếp theo thời gian, trong điều kiện kỹ thuật xác định nhờ sử dụng phương tiện xác định (ví dụ: phương pháp hoặc quy trình sản xuất, xử lý, khai thác, đo đạc, thăm dò )

v Vật liệu sinh học là vật liệu có chứa các thông tin di truyền, có

khả năng tự tái tạo hoặc được tái tạo trong hệ thống sinh học (ví dụ: tế bào, gen…)

v Sử dụng một cơ cấu (hoặc một chất, một phương pháp, một vật

liệu sinh học) đã biết theo chức năng mới (khác với chức năng đã biết)

Sáng chế do cá nhân hay tổ chức nghiên cứu, sáng tạo và chỉ được thừa nhận khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế đó bằng văn bản

Hay nói cách khác, Bằng sáng chế là văn bản do cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế đó

Để được cấp Bằng sáng chế và được bảo hộ của Nhà nước, sáng chế cần có những tiêu chuẩn sau:

(1) Có tính mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới;

(2) Có trình độ sáng tạo;

(3) Có khả năng áp dụng trong sản xuất công nghiệp

- Nhãn hiệu hàng hóa

Trang 25

Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2009 (ngày

19 tháng 6 năm 2009), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010 thì “nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu của một doanh nghiệp (hoặc tập thể các doanh nghiệp) dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác”

Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc từ ngữ kết hợp với hình ảnh được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc

Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm:

- Chữ có khả năng phát âm, có nghĩa hoặc không có nghĩa, trình bày dưới dạng chữ viết, chữ in hoặc chữ được viết cách điệu

Nhãn hiệu được coi là một loại tài sản vô hình được hình thành bởi trí tuệ mà doanh nghiệp đầu tư cho sản phẩm, dịch vụ và là một trong các đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ

Tuy nhiên, tùy theo luật ở mỗi quốc gia, nhãn hiệu cần đăng ký để trở thành thương hiệu được bảo hộ theo luật định

Trang 26

1.2 PHƯƠNG PHÁP TÍNH CHỈ SỐ ĐỔI MỚI CÔNG NGHIỆP

Như ta đã biết, chỉ số đổi mới công nghiệp sẽ được tính toán cho ngành công nghiệp nói chung, các ngành công nghiệp riêng biệt và các doanh nghiệp công nghiệp nói riêng

Để tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp, công tác thống kê các yếu tố cấu thành và những thay đổi của chúng là rất quan trọng Việc thống kê sẽ được tiến hành với tất cả các hoạt động đổi mới liên quan đến sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, quá trình kinh doanh, thậm chí chức năng tổ chức và các hoạt động điều hành tổ chức của toàn ngành (nếu tính chỉ số đổi mới toàn ngành công nghiệp), của từng ngành công nghiệp cụ thể (nếu tính chỉ số đổi mới đối với ngành công nghiệp riêng biệt) và trong doanh nghiệp (nếu tính chỉ số đổi mới đối với doanh nghiệp công nghiệp)

Đối với toàn ngành công nghiệp hay các ngành công nghiệp riêng biệt hay trong các doanh nghiệp, để tính chỉ số đổi mới công nghiệp, 6 yếu tố chính cần được thống kê là:

(1) Nghiên cứu và phát triển (R&D)

Yếu tố về hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghiệp được

tính bằng số % tiền chi cho hoạt động R&D trong phạm vi ngành công nghiệp

so với tổng ngân sách nhà nước giành cho ngành trong năm tài chính hoặc % lao động cho R&D/tổng lao động sử dụng trong ngành

Bên cạnh đó, hàng năm các doanh nghiệp cũng đầu tư cho hoạt động này

và chỉ số đổi mới đối với R&D có thể tính trong phạm vi từng doanh nghiệp theo năm tài chính

Trang 27

(3) Nhãn hiệu hàng hóa

Số nhãn hiệu hàng hóa (mới) là yếu tố quan trọng cần được xem xét và đưa vào tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp

Đây là số lượng nhãn hiệu hàng hóa được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu với

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được các cơ quan này công nhận là nhãn hiệu của ngành/doanh nghiệp công nghiệp trong năm tài chính được xem xét (4) Khả năng thiết kế, sáng tạo

Khả năng thiết kế, sáng tạo được tính bằng số bằng thiết kế, sáng tạo mới của ngành/doanh nghiệp công nghiệp trong năm tài chính được xem xét

(5) Đổi mới tổ chức, quản lý ngành/doanh nghiệp

Khả năng đổi mới tổ chức quản lý được thống kê, tính toán dựa trên bảng trả lời cho các câu hỏi có sẵn trong các phiếu điều tra doanh nghiệp hàng năm

(6) Năng suất lao động

Tính bằng giá trị tăng thêm/1 lao động trong ngành hoặc trong doanh nghiệp công nghiệp

Dựa trên thống kê đầy đủ và chính xác các yếu tố nêu trên, chỉ số đổi mới công nghiệp có thể tính theo công thức sau đây:

w

w i I

Trong đó:

In: Chỉ số đổi mới công nghiệp;

in: Chỉ số đổi mới của các yếu tố cấu thành;

wn: Quyền số được tính bằng tỷ trọng đóng góp của các yếu tố cấu thành chỉ số đổi mới công nghiệp

Trang 28

Đối với mỗi ngành công nghiệp riêng biệt, chỉ số đổi mới công nghiệp cũng được tính toán độc lập dựa trên 6 yếu tố trên

Theo công thức đề xuất trên, khó khăn lớn nhất đặt ra ở đây là việc làm thế nào tính toán được quyền số của từng yếu tố cấu thành chỉ số đổi mới công nghiệp Trên thực tế trong mỗi ngành công nghiệp riêng biệt, sự đóng góp của từng yếu tố cấu thành trong công thức trên là không giống nhau Đặc biệt, để đưa ra quyền số (số liệu về tỷ trọng đóng góp) của các yếu

tố để tính toán chỉ số đổi mới là không dễ dàng vì số liệu không có sẵn ở các

cơ quan thống kê mà phải có những điều tra riêng

Hơn thế, việc điều tra riêng cho từng yếu tố đòi hỏi cần nhiều thời gian, kinh phí và nguồn nhân lực

1.3 THỰC TẾ TÍNH TOÁN VÀ CÔNG BỐ CHỈ SỐ ĐỔI MỚI CÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1 Thực tế tính toán và công bố chỉ số đổi mới công nghiệp của EIU

EIU (The Economist Intelligence Unit) là tổ chức nghiên cứu kinh tế độc lập (thuộc The Economist Group) hàng năm đều công bố danh sách các quốc gia có hoạt động đổi mới mạnh mẽ nhất dựa trên việc phân tích các kết quả của hoạt động đổi mới (hoặc hiệu suất quá trình đổi mới) cũng như phân tích các yếu tố đầu vào của quá trình đổi mới

Nghiên cứu các báo cáo hàng năm của EIU, liên quan đến việc tính toán chỉ số đổi mới kinh tế nói chung và chỉ số đổi mới công nghiệp nói riêng, các vấn đề luôn được tổ chức này khẳng định là:

- Trong thống kê các hoạt động của nền kinh tế hay ngành kinh tế cụ thể, việc đo lường sự đổi mới, dù ở cấp độ nền kinh tế hay ngành kinh tế luôn

là một trong những vấn đề khó khăn nhất

Trang 29

Một phương pháp thường được áp dụng là tổng hợp một số lượng lớn

các chỉ số phản ánh các khía cạnh khác nhau của khoa học, công nghệ và các yếu tố liên quan vào một chỉ số tổng hợp duy nhất

Chính vì vậy, khi tính toán chỉ số đổi mới đòi hỏi phải thực hiện một sự kết hợp khoa học giữa các chỉ số đổi mới đầu vào, các chỉ số đổi mới đầu ra cũng như một số chỉ tiêu khác liên quan đến hoạt động đổi mới

- Khi tính toán chỉ số đổi mới, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) thường được sử dụng rộng rãi như là một thước đo của sự đổi mới đó

Tuy nhiên, cần phải hiểu rõ ràng rằng, R&D là biện pháp đo lường các yếu tố đầu vào của quá trình đổi mới chứ không phải là sự đổi mới về sản lượng (số lượng) hay tổng giá trị đạt được

Biện pháp quan trọng để thực hiện quá trình đổi mới là nên tập trung vào việc ứng dụng kết quả nghiên cứu để tạo sự đổi mới về chất (thay đổi thành phần, cấu trúc, kiểu dáng ) để sản phẩm có chất lượng cao nhất phục

vụ sản xuất và tiêu dùng hơn là tập trung vào việc tăng số lượng sản phẩm

- Trong quá trình đổi mới nền kinh tế cũng như đổi mới ngành công nghiệp, các phát minh, sáng chế phản ánh quá trình đổi mới một cách thực chất hơn

Số lượng các sáng chế mới của mỗi nền kinh tế được dựa trên dữ liệu quốc tế về bằng sáng chế được công bố thông qua ba văn phòng bằng sáng chế lớn trên thế giới là:

+ Văn phòng Bằng sáng chế châu Âu (EPO);

+ Văn phòng Bằng sáng chế Nhật Bản (JPO);

+ Văn phòng Bằng sáng chế và nhãn hiệu hàng hóa Hoa Kỳ (USPTO) Các dữ liệu về số Bằng sáng chế mới của mỗi nền kinh tế được tính và công bố hàng năm

Trang 30

Một điều đáng quan tâm là khi tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp, việc sử dụng các dữ liệu về bằng sáng chế cũng cần phải được xem xét kỹ khả năng vận dụng các sáng chế này vào thực tiễn sản xuất công nghiệp và việc áp dụng các sáng chế mới này mang lại kết quả đầu ra cho sự đổi mới đạt mức nào Cũng có những trường hợp, phát minh sáng chế được cấp bằng sáng chế

và công bố nhưng khả năng áp dụng vào thực tiễn sản xuất công nghiệp kém hoặc hiệu quả không như mong đợi thì việc đưa yếu tố này vào tính toán chỉ

số đổi mới công nghiệp sẽ không phản ánh đúng thực chất của quá trình đổi mới ngành công nghiệp cũng như quá trình đổi mới nền kinh tế

Xem xét vấn đề này một cách kỹ hơn cho thấy: Mặc dù bằng sáng chế

là yếu tố phản ánh quá trình đổi mới tổng thể một cách thực chất nhưng các công ty/doanh nghiệp cũng luôn giữ (không công bố) những cải tiến như một

bí mật thương mại nhạy cảm của riêng họ Vì thế, đưa yếu tố này vào tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp, kết quả đạt được cũng mang tính tương đối Hơn nữa, có một thực tế là tất cả các bằng sáng chế đều không có cùng giá trị Sự phân bố giá trị của bằng sáng chế bị sai lệch, một số bằng sáng chế

có giá trị cao, trong khi nhiều sáng chế khác có giá trị thấp hơn

Vì không có sự thừa nhận chung nên phương pháp dễ áp dụng để đo lường mức độ đóng góp vào chỉ số đổi mới của yếu tố này là các nhà nghiên cứu đếm số lượng bằng sáng chế đáp ứng đủ tiêu chuẩn để làm căn cứ tính toán

- Trong quá trình tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp, chỉ số về Khả năng đổi mới là chỉ số cũng được ưu tiên xem xét

Chỉ số về khả năng đổi mới là chỉ số dùng để đo lường các yếu tố đầu vào của quá trình đổi mới/hoặc có khả năng đổi mới

Chỉ số về khả năng đổi mới cần được xem xét ở các yếu tố đầu vào trực tiếp và các yếu tố đầu vào gián tiếp

Trang 31

(1) Khả năng đổi mới của các yếu tố đầu vào trực tiếp:

Khả năng đổi mới của các yếu tố đầu vào trực tiếp là tổng hòa khả năng đổi mới của năm yếu tố sau:

■ Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D)

■ Chất lượng của cơ sở hạ tầng

■ Trình độ của lực lượng lao động

■ Kỹ năng kỹ thuật của lực lượng lao động

■ Chất lượng và cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc (2) Khả năng đổi mới của các yếu tố đầu vào gián tiếp

Khi tính toán chỉ số về khả năng đổi mới, bên cạnh việc xem xét khả năng đổi mới của các yếu tố đầu vào trực tiếp, người ta cũng quan tâm xem xét khả năng đổi mới của các yếu tố đầu vào gián tiếp như: Bối cảnh kinh tế,

xã hội và chính trị của quốc gia đang xem xét, môi trường cho sự đổi mới Môi trường cho sự đổi mới gồm:

v Các chính sách và thuộc tính của môi trường kinh doanh bao gồm cả những thiết chế đặc biệt để tăng cường kết quả đổi mới và nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc đổi mới

v Mức độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, mức độ ưu đãi thuế cho sản phẩm, hàng hóa sau khi đổi mới kỹ thuật, công nghệ, chính sách cạnh tranh, chính sách đối với sản phẩm mới, các quy định về thị trường lao động, sự phát triển của thị trường tài chính và “độ mở” của nền kinh tế (cả thương mại và đầu tư)

Khả năng đổi mới của các yếu tố đầu vào gián tiếp là yếu tố vô cùng quan trọng có tác động kích thích hoặc gây cản trở cho hoạt động đổi mới ngành công nghiệp

Trang 32

Theo nghiên cứu của EIU, khi tính chỉ số đổi mới nền kinh tế cũng như chỉ số đổi mới công nghiệp, các trọng số được sử dụng là 0,75 cho khả năng đổi mới của các yếu tố đầu vào trực tiếp và 0,25 cho khả năng đổi mới của các yếu tố đầu vào gián tiếp

1.3.2 Các báo cáo về Chỉ số đổi mới toàn cầu của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)

Báo cáo về Chỉ số Đổi mới toàn cầu (Global Innovation Index: GII) được Tổ chức Sở hữu trí tuệ toàn cầu (World Intellectual Property Organization - viết tắt là WIPO) của Liên Hiệp Quốc công bố hàng năm từ

2007

Mục đích của việc công bố báo cáo chỉ số Đổi mới toàn cầu là đưa ra các đánh giá về độ sáng tạo/đổi mới của mỗi quốc gia một cách toàn diện nhất

Theo phương pháp truyền thống, chỉ số đổi mới/sáng tạo của mỗi quốc gia được đánh giá dựa trên một số yếu tố như: Số lượng tiến sĩ, số lượng các công trình nghiên cứu khoa học được công bố, số bằng sáng chế, số % kinh phí dành cho R&D trong tổng GDP

Tuy nhiên, ở góc độ nào đó, các yếu tố nêu trên không phản ảnh đúng

và đầy đủ về mức độ đổi mới/sáng tạo của từng quốc gia Chỉ số đổi mới toàn cầu cần được đánh giá một cách toàn diện và trên nhiều lĩnh vực, không chỉ dựa trên chỉ số sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, mà còn phải dựa trên chỉ

số sáng tạo trong xã hội, trong các mô hình kinh doanh…

Theo các chuyên gia của WIPO, chỉ số sáng tạo toàn cầu (GII) được tính toán dựa trên hai nhóm chỉ số cơ bản là:

(i) Nhóm chỉ số đầu vào;

Trang 33

(ii) Nhóm chỉ số đầu ra

Nhóm chỉ số đầu vào gắn chặt với các yếu tố cơ bản của nền kinh tế

mỗi quốc gia, làm nền tảng và tiền đề cho các hoạt động đổi mới/sáng tạo Nhóm chỉ số đầu vào bao gồm 5 chỉ số cơ bản sau:

v Tổ chức (Institutions)

v Nguồn nhân lực và khả năng nghiên cứu (Human capital and research)

v Cơ sở hạ tầng (Infrastructure)

v Độ chín của thị trường (Market sophistication)

v Mức độ hoàn thiện của môi trường kinh doanh (Business

sophistication)

Nhóm chỉ số đầu ra

Đây là nhóm chỉ số biểu thị cho kết quả của quá trình đổi mới/sáng tạo Nhóm chỉ số đầu ra bao gồm 2 chỉ số cơ bản là:

(1) Kết quả khoa học (Scientific outputs)

(2) Thành quả sáng tạo (Creative outputs)

Chỉ số GII hàng năm đều được công bố và có giá trị tham khảo đối với nhiều quốc gia và rất hữu ích cho các công trình nghiên cứu

Tuy nhiên, đối với mục tiêu đo lường chỉ số đổi mới công nghiệp trong phạm vi quốc gia, chỉ số này chỉ có giá trị tham khảo nhất định

1.3.3 Thực tế tính toán và công bố chỉ số đổi mới công nghiệp của Úc

Viện Nghiên cứu Melbourne (Melbourne Institute) hàng năm đều công

bố báo cáo chỉ số đổi mới các ngành công nghiệp Úc

Trang 34

Đây là chỉ số phức tạp, được đo lường ở 6 yếu tố khác nhau của hoạt động đổi mới Trên cơ sở kết quả đo lường và tính toán, các nhà nghiên cứu

đã đưa ra nhận định chung nhất về hoạt động đổi mới diễn ra trên phạm vi quốc gia và cụ thể cho từng ngành công nghiệp trong năm xác định so với năm trước đó

Kết quả tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp được các chuyên gia thực hiện dựa trên sự thay đổi của các yếu tố bên trong của ngành công nghiệp của nước này như: Sáng chế/giải pháp hữu ích, năng suất lao động, nghiên cứu và phát triển (R&D)

Ngoài ra, việc tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp của Úc cũng được các chuyên gia căn cứ vào tác động của các yếu tố bên ngoài đến các hoạt động đổi mới của từng ngành công nghiệp riêng biệt cũng như toàn ngành công nghiệp nước này như:

(1) Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến phát triển kinh tế và ngành công nghiệp của Úc;

(2) Chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ Úc;

(3) Độ mở của nền kinh tế Úc

Theo Viện Nghiên cứu Melbourne, để tính chỉ số đổi mới của các ngành công nghiệp Úc, người ta phải tiến hành theo điều tra hoạt động đổi mới tại hàng loạt các doanh nghiệp công nghiệp trên phạm vi toàn quốc

Kết quả nghiên cứu, tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp của Viện Nghiên cứu Melbourne nhiều năm chỉ ra rằng: Bản thân chỉ số đổi mới cho thấy đây là sự thay đổi theo tỉ lệ (chứ không theo cấp độ) của các hoạt động đổi mới Nó gồm sự đổi mới liên quan đến hàng hóa và dịch vụ, đến quy trình kinh doanh, đến các chức năng tổ chức, quản lý…

Các chỉ số này được đo lường và tính toán dựa trên các dữ liệu đổi mới của 6 yếu tố cấu thành chỉ số đổi mới công nghiệp gồm:

Trang 35

1 Hoạt động nghiên cứu & phát triển (R&D);

Dữ liệu này được đo bởi tổng chi phí giành cho hoạt động nghiên cứu & phát triển (R&D) của ngành công nghiệp;

2 Số lượng bằng sáng chế (Số lượng các sáng chế mới được đăng

ký và ứng dụng trong ngành công nghiệp Úc trong năm nghiên cứu);

3 Số lượng nhãn hiệu được đăng ký;

4 Số lượng ứng dụng thiết kế mới được đăng ký;

5 Mức độ Đổi mới tổ chức/quản lý (được tính toán trên cơ sở tổng hợp kết quả trả lời theo Phiếu khảo sát về Mức độ Đổi mới tổ chức/quản lý của Viện Nghiên cứu xã hội học và ứng dụng kinh

tế Melbourne)

Nội dung khảo sát liên quan tới mức độ các nguồn lực dành cho việc thay đổi tổ chức/quản lý như: Chuyển dịch cơ cấu và thay đổi tác phong làm việc, thay đổi cách thức quản lý (áp dụng cách thức quản lý mới và cách thức đàm phán trong doanh nghiệp), các phương pháp tiếp thị đối với các sản phẩm mới…;

6 Năng suất lao động

Có ba nguồn dữ liệu chính được sử dụng để tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp ở Úc là:

(i) Cục thống kê Úc (ABS)

Cục Thống kê Úc có trách nhiệm cung cấp các dữ liệu về:

v Năng suất lao động;

v Số nhân viên và chi phí cho hoạt động nghiên cứu & phát triển;

v Dữ liệu về giá trị gia tăng công nghiệp

Trang 36

Trên cơ sở các số liệu được ABS cung cấp, các nhà nghiên cứu có thể tính toán xây dựng các trọng số dùng để phản ánh tầm quan trọng của từng yếu tố cấu thành chỉ số đổi mới công nghiệp

(ii) Cục Sở hữu trí tuệ Úc

Cục Sở hữu trí tuệ Úc có trách nhiệm cung cấp dữ liệu về số lượng bằng sáng chế, số lượng thương hiệu và thiết kế mới

Các thông số này được thống kê theo doanh nghiệp trong từng ngành sản xuất công nghiệp của Úc trên các trang vàng (yellow pages)

(iii) Viện Nghiên cứu xã hội học và ứng dụng kinh tế Melbourne

Viện Nghiên cứu xã hội học và ứng dụng kinh tế Melbourne chịu trách nhiệm cung cấp các dữ liệu về sự đổi mới tổ chức/quản lý ngành công nghiệp

Để có đầy đủ dữ liệu liên quan đến vấn đề này, hàng năm, Viện phải tiến hành các cuộc khảo sát về sự đổi mới tổ chức/quản lý đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp Úc

1.4 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG TÍNH TOÁN

VÀ CÔNG BỐ CHỈ SỐ ĐỔI MỚI CÔNG NGHIỆP

Chỉ số Đổi mới công nghiệp là khái niệm khó lượng hóa vì nó liên quan đến đặc điểm của ngành công nghiệp ở từng quốc gia, liên quan đến năng lực sáng tạo trong quá khứ và hiện tại cũng như khả năng sáng tạo mới trong tương lai

Các yếu tố biểu thị sự đổi mới là rất khác biệt, không thể lượng hóa bằng một đơn vị chung, do đó, chỉ có thể tính toán chỉ số đổi mới khi đã loại

bỏ yếu tố đơn vị tính và xem xét sự đóng góp của các yếu tố cấu thành vào chỉ

số chung

Trang 37

Chỉ số đổi mới phản ánh năng lực cũng như khả năng đổi mới của ngành, lĩnh vực công nghiệp là có ý nghĩa thống kê, có thể tính toán được và phản ánh khá hiệu quả sự thay đổi của hoạt động đổi mới trên phạm vi ngành công nghiệp (kể cả trong các ngành công nghiệp riêng biệt) cũng như trong phạm vi nền kinh tế

Thực tế cho thấy, chỉ số đổi mới công nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động quản lý và điều hành ở cấp vĩ mô trong phát triển ngành công nghiệp cũng như trong phát triển toàn bộ nền kinh tế

Chỉ số đổi mới công nghiệp là một trong những chỉ tiêu đánh giá hoạt động đổi mới của quốc gia, cũng như ngành được xem xét và cũng là cơ sở để đánh giá trình độ công nghệ, năng lực đổi mới của ngành công nghiệp cũng như doanh nghiệp công nghiệp ở từng thời kỳ nhất định

Thông qua việc nghiên cứu kinh nghiệm tính toán và công bố chỉ số đổi mới công nghiệp của một số nước và tổ chức quốc tế, một số bài học kinh nghiệm được rút ra là:

Thứ nhất: Việc tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp nói chung và chỉ

số đổi mới công nghiệp đối với doanh nghiệp công nghiệp nói riêng cần phải trả lời được câu hỏi “Kết quả của toàn bộ quá trình đổi mới dựa trên sự thay đổi của các yếu tố chủ yếu nào” trong một loạt các yếu tố như: Sáng chế, giải pháp hữu ích, năng suất lao động, nghiên cứu triển khai (R&D), đổi mới quản lý

Khi đã xác định được các yếu tố chủ yếu tạo nên quá trình đổi mới, cần phải có những giải pháp hỗ trợ để chúng có thể trở thành “yếu tố mũi nhọn” thúc đẩy quá trình đổi mới trong dài hạn

Thứ hai: Trong quá trình tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp, từng

yếu tố cấu thành có thể bị ảnh hưởng từ những yếu tố bên ngoài Chính vì vậy, cần xem xét một cách kỹ lưỡng những tác động của các yếu tố bất lợi

Trang 38

bên ngoài và có các giải pháp cụ thể, thích hợp nhằm hạn chế các tác động tiêu cực từ các yếu tố đó đến quá trình đổi mới ngành công nghiệp

Thứ ba: Phạm vi tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp ở các quốc gia

khác nhau là không giống nhau Các chỉ số Đổi mới toàn cầu, Chỉ số sáng tạo toàn cầu cũng như Chỉ số đổi mới công nghiệp của Úc… đều áp dụng tính toán cho những lĩnh vực công nghiệp có phạm vi rộng hơn nhiều so với phạm

vi các ngành công nghiệp được quy định tại Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Hệ thống Ngành kinh tế của Việt Nam

Đối với điều kiện thực tế của Việt Nam, chỉ số đổi mới công nghiệp được tính toán trên các ngành: Khai khoáng; công nghiệp chế biến, chế tạo; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí

Do đó, để chỉ số này phản ánh được một cách toàn diện quá trình đổi mới công nghiệp ở Việt Nam, việc tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp cần được xem xét kỹ ở một số lĩnh vực khác (như các nước vẫn thực hiện) để có

cơ sở so sánh, đánh giá

Tuy nhiên, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng: Chỉ số đổi mới công nghiệp

sẽ được đo lường trên các yếu tố: Nghiên cứu và phát triển (R&D); Bằng sáng chế; Nhãn hiệu hàng hóa; Khả năng sáng tạo, thiết kế; Đổi mới tổ chức/quản lý; Năng suất lao động Đây là các nhân tố chính tạo nên sự đổi mới cũng như năng lực đổi mới của ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế

Thứ tư: Khó khăn lớn nhất trong tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp là

xác định trọng số đóng góp của từng yếu tố cấu thành đối với chỉ số tổng hợp Việc xác định các trọng số này phải căn cứ vào đặc điểm từng quốc gia, từng ngành công nghiệp, khả năng phân tích, đánh giá của các chuyên gia cũng như so sánh, điều chỉnh chỉ số đổi mới công nghiệp trong nhiều năm

Trang 39

Để có thể tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp ở Việt Nam, do thời gian, kinh phí nghiên cứu hạn hẹp, trước mắt nhóm nghiên cứu áp dụng trọng

số dựa trên nghiên cứu Viện Nghiên cứu Melbourne (Melbourne Institute)

Thứ năm: Nguồn dữ liệu ban đầu cần thiết được sử dụng để tính toán

chỉ số đổi mới công nghiệp là các số liệu về số lao động, số lao động dành cho hoạt động R&D, năng suất lao động, ngân sách dành cho hoạt động R&D và giá trị gia tăng trong các ngành công nghiệp, các số liệu về sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa…Các số liệu liên quan này được thu thập từ Tổng cục Thống

Các số liệu về sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa mới dùng cho thống kê chỉ

số đổi mới công nghiệp cũng được thu thập từ dữ liệu của Cục Sở hữu trí tuệ -

Bộ Khoa học và Công nghệ

Tuy nhiên, nguồn dữ liệu để tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp ở nước ta chưa được thống kê một cách thường xuyên và khoa học, nhiều yếu tố khi muốn có số liệu để đưa vào tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp phải tiến hành các cuộc điều tra riêng Đây quả là thách thức đối với việc tính toán và công bố của các cơ quan có liên quan

Trang 40

Chương 2

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG VÀ TÍNH TOÁN THỬ

CHỈ SỐ ĐỔI MỚI ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

2.1 PHƯƠNG PHÁP TÍNH CHỈ SỐ ĐỔI MỚI CÔNG NGHIỆP

số đổi mới công nghiệp được tính toán trên cơ sở các yếu tố sau đây:

- Yếu tố về hoạt động nghiên cứu & phát triển (R&D)

Yếu tố về hoạt động nghiên cứu & phát triển (R&D) công nghiệp được

tính bằng số % tiền chi cho hoạt động R&D trong phạm vi ngành công nghiệp

so với tổng ngân sách nhà nước giành cho ngành trong năm tài chính hoặc % lao động cho R&D/tổng lao động sử dụng trong ngành

Bên cạnh nguồn chi từ ngân sách nhà nước cho hoạt động R&D, các doanh nghiệp cũng luôn chủ động đầu tư cho hoạt động này và chỉ số đổi mới đối với R&D có thể tính trong phạm vi từng doanh nghiệp theo năm tài chính

Như vậy, tỷ lệ đầu tư vốn từ ngân sách/doanh nghiệp và chi phí cho nguồn nhân lực trong hoạt động R&D càng cao thì chỉ số đổi mới đối với hoạt động R&D càng lớn và ngược lại

+ Ý nghĩa của việc đưa yếu tố R&D vào tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp

Việc đưa chỉ số R&D vào tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp mang ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó thể hiện sự đầu tư của nhà nước/doanh nghiệp vào hoạt động nghiên cứu & phát triển trong tổng thể các hoạt động của ngành/doanh nghiệp được thống kê Mặt khác, trong tính toán chỉ số đổi mới

Ngày đăng: 09/03/2015, 18:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu  Các chuyên đề  Báo cáo tổng hợp,   báo cáo tóm tắt - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng s ố liệu Các chuyên đề Báo cáo tổng hợp, báo cáo tóm tắt (Trang 8)
Số liệu, tài liệu  3/2012 4/2012  Bảng số liệu,  tài liệu - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
li ệu, tài liệu 3/2012 4/2012 Bảng số liệu, tài liệu (Trang 9)
Bảng 2.1: Các dữ liệu dùng để tính toán thử chỉ số đổi mới nền kinh tế - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.1 Các dữ liệu dùng để tính toán thử chỉ số đổi mới nền kinh tế (Trang 51)
Bảng 2.3: Các dữ liệu dùng để tính toán thử chỉ số đổi mới công - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.3 Các dữ liệu dùng để tính toán thử chỉ số đổi mới công (Trang 53)
Bảng 2.4: Tính toán thử chỉ số đổi mới công nghiệp - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.4 Tính toán thử chỉ số đổi mới công nghiệp (Trang 54)
Bảng 2.5: Các dữ liệu dùng để tính toán thử - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.5 Các dữ liệu dùng để tính toán thử (Trang 57)
Bảng 2.6: Tính toán thử các chỉ số đổi mới đối với - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.6 Tính toán thử các chỉ số đổi mới đối với (Trang 58)
Bảng 2.1: Các dữ liệu dùng để tính toán thử chỉ số đổi mới nền kinh tế - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.1 Các dữ liệu dùng để tính toán thử chỉ số đổi mới nền kinh tế (Trang 119)
Bảng 2.2: Tính toán thử chỉ số đổi mới của nền kinh tế - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.2 Tính toán thử chỉ số đổi mới của nền kinh tế (Trang 120)
Bảng 2.4: Tính toán thử chỉ số đổi mới công nghiệp - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.4 Tính toán thử chỉ số đổi mới công nghiệp (Trang 121)
Bảng 2.3: Các dữ liệu dùng để tính toán thử chỉ số đổi mới công nghiệp - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.3 Các dữ liệu dùng để tính toán thử chỉ số đổi mới công nghiệp (Trang 121)
Bảng 2.5: Các dữ liệu dùng để tính toán thử - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.5 Các dữ liệu dùng để tính toán thử (Trang 123)
Bảng 2.8: Tính toán thử chỉ số đổi mới đối với công nghiệp chế biến, chế tạo  Đơn vị tính: Điểm % - Nghiên cứu áp dụng việc tính toán Chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
Bảng 2.8 Tính toán thử chỉ số đổi mới đối với công nghiệp chế biến, chế tạo Đơn vị tính: Điểm % (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm