1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường

319 1,7K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 319
Dung lượng 3,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bùi Hoài Nam và Cộng sự BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ PHỤC

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG VIỆN KHOA HỌC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

Tác giả: PGS.TS Phạm Văn Lợi

TS Đỗ Nam Thắng Ths Bùi Hoài Nam và Cộng sự

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ PHỤC VỤ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ XỬ LÝ CÁC VI PHẠM VỀ MÔI

HÀ NỘI, NĂM 2012

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM NGHIÊN CỨU

1 PGS.TS Phạm Văn Lợi Chủ nhiệm Viện KHQLMT, TCMT

2 ThS Bùi Hoài Nam Thư ký Viện KHQLMT, TCMT

3 TS Đỗ Nam Thắng Thành viên Viện KHQLMT, TCMT

4 CN.Nguyễn Thị Thu Hoài Thành viên Viện KHQLMT, TCMT

5 CN.Nguyễn Thị Thu Thảo Thành viên Viện KHQLMT, TCMT

6 ThS Nguyễn Thị Oanh Thành viên Viện KHQLMT, TCMT

7 ThS Trần Mai Phương Thành viên Viện KHQLMT, TCMT

8 CN.Hàn Trần Việt Thành viên Viện KHQLMT, TCMT

9 ThS.Mai Thị Thu Huệ Thành viên Viện KHQLMT, TCMT

10 CN Tạ Thị Thuỳ Linh Thành viên Viện KHQLMT, TCMT

11 TS Đinh Đức Trường Thành viên ĐH kinh tế quốc dân

12 PGS.TS.Lê Thu Hoa Thành viên ĐH kinh tế quốc dân

13 TS.Lại Bùi Dũng Thành viên Đại học Quốc gia Hà Nội

DANH SÁCH ĐƠN VỊ PHỐI HỢP THỰC HIỆN

1 Khoa môi trường đô thị, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

2 Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Mô hình hóa Môi trường

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 10

1.1 Đặt vấn đề 10

1.2 Mục tiêu đề tài 12

1.3 Cách tiếp cận 12

CHƯƠNG II PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 17

2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Nội dung nghiên cứu 18

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

CHƯƠNG III TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ 27

3.1 Tổng quan các phương pháp lượng giá thiệt hại 27

3.1.1 Phương pháp đánh giá thiệt hại trong sản xuất: 27

3.1.2 Nhóm phương pháp lượng giá thiệt hại đến sức khỏe 29

3.1.3 Phương pháp lượng giá thiệt hại cơ sở hạ tầng 33

3.1.4 Phương pháp hành vi thay đổi và ngăn ngừa 36

3.1.5 Phương pháp đánh giả theo tình huống giả định (contingent valuation method) 39

3.2 Kinh nghiệm quốc tế về lượng giá thiệt hại đến sức khỏe do ô nhiễm môi trường và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 43

3.2.1 Kinh nghiệm đánh giá thiệt hại sức khỏe tại Hoa Kỳ 43

3.2.2 Kinh nghiệm đánh giá thiệt hại sức khỏe tại Canada 47

3.2.3 Kinh nghiệm đánh giá thiệt hại sức khỏe ở một số nước Châu Âu 50

3.2.4 Kinh nghiệm đánh giá thiệt hại sức khỏe tại Trung Quốc 53

3.2.5 Kinh nghiệm của Indonesia 57

3.2.6 Các bài học kinh nghiệm về lượng giá thiệt hại sức khỏe do ÔNKK cho Việt Nam61 CHƯƠNG IV THỰC TRẠNG LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI, BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ XỬ LÝ VI PHẠM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM 63

4.1 Thực trạng các nghiên cứu đánh giá và lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí ở Việt Nam 63

4.2 Thực trạng xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường không khí phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp ở Việt Nam 67

4.2.1 Quy định pháp luật Việt Nam 67

4.2.2 Thực trạng xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường không khí phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp ở Việt Nam 68

4.2.3 Khó khăn, thuận lợi trong việc áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại nhằm tính toán, xác định bồi thường và xử lý vi phạm do ô nhiễm không khí ở Việt nam hiện nay: 70

4.2.4 Khó khăn trong xác định bồi thường thiệt hại và xử lý vi phạm do ô nhiễm, suy thoái môi trường ở việt nam 74

Trang 4

4.2.5.Khó khăn, thách thức trong việc thực hiện qui trình xử lý vi phạm đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường không khí 77

4.3 Đề xuất qui trình và phương pháp lượng giá thiệt hại tổng thể sức khỏe, thiệt hại mạng sống do ô nhiễm không khí và qui trình xử phạt trong bồi thường thiệt hại 78

4.3.1 Đề xuất qui trình lượng giá thiệt hại tổng thể sức khỏe do ô nhiễm không khí 78 4.3.2 Đề xuất qui trình và phương pháp đánh giá thiệt hại sức khỏe và thiệt hại mạng

sống do ÔNKK gây ra tại Việt Nam 80 4.3.3 Phân tích khả năng áp dụng của phương pháp và qui trình lượng giá đã đề xuất ở Việt Nam: 84

CHƯƠNG V ÁP DỤNG THÍ ĐIỂM LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI SỨC KHỎE DO Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TẠI KHU VỰC NHÀ MÁY XI MĂNG BỈM SƠN 87 5.1 Giới thiệu nhà máy xi măng Bỉm Sơn: 87 5.2 Kết quả điều tra, thu thập thông tin phục vụ lượng giá: 91 5.3 Kết quả tính toán, lượng giá thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm không khí từ nhà máy xi măng Bỉm Sơn 105 5.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 120

5.4.1 Thảo luận Kết quả mô phỏng ô nhiễm để lựa chọn địa điểm điều tra, khảo sát khu vực thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa 120 5.4.2 Thảo luận kết ảnh hưởng đến một số bệnh tật và lượng giá thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm không khí 121

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 124 TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

Trang 5

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 1 Chất lượng môi trường không khí tại khu vực xung quanh 20 

nhà máy xi măng Bỉm Sơn 20 

Bảng 2 Tổng hợp số lượng mẫu điều tra theo phường 23 

Bảng 3 Giá trị các trường hợp liên quan đến bệnh về hô hấp tại Hoa Kỳ 46 

Bảng 4 Chi phí cho thiệt hại môi trường 51 

Bảng 5 Kết quả ước lượng VSL tại một số thành phố của Trung Quốc 56 

Bảng 6 Lợi ích sức khoẻ khi giảm nồng độ chất ô nhiễm PM xuống bằng mức tiêu chuẩn do Indonesia và WHO quy định 59 

Bảng 7 Lợi ích sức khoẻ khi giảm nồng độ chì xuống bằng mức tiêu chuẩn do Indonesia và WHO quy định, hoặc giảm 90% nồng độ chì 60 

Bảng 8 Tỷ lệ nam nữ đối tượng điều tra 91 

Bảng 9 Thời gian sống tại địa phương 91 

Bảng 10 Đánh giá chủ quan của người dân (đối tượng điều tra) về ô nhiễm bụi và mức độ ô nhiễm bụi do nhà máy xi măng Bỉm sơn ở khu vực nghiên cứu 93 

Bảng 11 Đánh giá chủ quan của đối tượng NC vùng bị ô nhiễm bụi do hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng Bỉm sơn 95 

Bảng 12 Đánh giá chủ quan của đối tượng NC về ô nhiễm khói và mức độ ô nhiễm khói do nhà máy xi măng Bỉm sơn ở khu vực nghiên cứu 96 

Bảng 13 Đánh giá chủ quan của đối tượng NC về mùi khói do hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng Bỉm sơn đến khu vực nghiên cứu 97 

Bảng 14 Đánh giá chủ quan của đối tượng NC về màu khói do hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng Bỉm sơn đến khu vực nghiên cứu 97 

Bảng 15 Đánh giá chủ quan của đối tượng NC về tiếng ồn và mức độ ồn do hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng Bỉm sơn đến khu vực nghiên cứu 97 

Bảng 16 Mùa bị ô nhiễm không khí do hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng Bỉm sơn đến khu vực nghiên cứu 98

Bảng 17 Thời điểm ô nhiễm không khí do hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng Bỉm sơn đến khu vực nghiên cứu nhiều nhất trong ngày 99 

Bảng 18 Hướng khói bụi do hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng Bỉm sơn đến khu vực nghiên cứu 100 

Bảng 19 Sự phát tán khói, bụi từ nhà máy xi măng Bỉm sơn đến nhà dân bị cản trở bởi núi, cây cối 101 

Trang 6

Bảng 20 Đánh giá chủ quan của người dân về ảnh hưởng chất lượng không khí khu vực

sinh sống do ô nhiễm khói, bụi của nhà máy XMBS 102 

Bảng 21 Đánh giá chủ quan của người dân về ảnh hưởng đến cây cối, mùa màng do ô nhiễm khói, bụi của nhà máy XMBS 103 

Bảng 22 Tiền sử bệnh tật năm 2010 của đối tượng nghiên cứu 104 

Bảng 23 Nguyên nhân mắc các loại bệnh trong năm 2010 104 

Bảng 24 Trình độ văn hóa của đối tượng nghiên cứu 109 

Bảng 25 Tóm tắt đặc điểm kinh tế - xã hội của mẫu điều tra 110 

Bảng 26 Thống kê về sự khác biệt giữa số ca bệnh ÔNKK giữa vùng ô nhiễm và Vùng so sánh 112 

Bảng 27 Tính toán chi phí thiệt hại của các ca bệnh ÔNKK 113 

Bảng 28 Tính toán chi phí thiệt hại của các ca bệnh ÔNKK 113 

Bảng 29 Thiệt hại trung bình của một hộ gia đình do mắc bệnh liên quan đến ÔNKK năm 2010 114 

Bảng 30 Phân bổ bảng hỏi theo dạng tại các phường nghiên cứu 115 

Bảng 31 Mô tả các biến trong mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới WTP 117 

Bảng 32 Giải thích các mô hình ước lượng WTP 117 

Bảng 33 Kết quả ước lượng mô hình 1, 2, 3 118 

Bảng 34 Kết quả ước lượng mô hình 4, 5 118 

Bảng 35 Kết quả ước lượng WTP theo mô hình phi tham số 119 

Trang 7

MỤC LỤC HÌNH

Hình 1 Lựa chọn phương pháp lượng giá đối với từng loại tác động do ô nhiễm không

khí 14 

Hình 2 Các bước đánh giá mức độ tác động 15 

Hình 3 Quan hệ liều lượng đáp ứng trong sự liên hệ với hành vi ngăn ngừa và hành vi làm giảm nhẹ tác động của ô nhiễm 16 

Hình 4 Hàm lượng bụi tổng và bụi silic trong môi trường không khí tại 21 

khu vực xung quanh nhà máy 21 

Hình 5 Biểu diễn kết quả mô phỏng khu vực bị ô nhiễm bụi của NMXMBS 21 

Hình 6: Vị trí hình ảnh vệ tinh 3 phường: địa điểm nghiên cứu 22 

Hình 7 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi trong năng suất 27 

Hình 8 Mối quan hệ giữa giá nhà đất và chất lượng môi trường không khí 35 

Hình 9 Qui trình xác định thiệt hại do ô nhiễm không khí bằng phương pháp liều lượng đáp ứng tại Trung Quốc 55 

Hình 10 Sơ đồ qui trình lượng giá thiệt hại tổng thể sức khỏe do ô nhiễm không khí 79 

Hình 11 Đánh giá chủ quan của người dân về tình trạng ô nhiễm không khí của khu vực thị xã Bỉm Sơn 92 

Hình 12 Khói, bụi của nhà máy xi măng Bỉm Sơn là nguồn gây ô nhiễm không khí chính cho khu vực nghiên cứu 93 

Hình 13 Đánh giá chủ quan của đối tượng NC về ô nhiễm bụi và mức độ ô nhiễm bụi do nhà máy xi măng Bỉm sơn ở khu vực nghiên cứu 94 

Hình 14 Nhận thức của người dân về các tác nhân chính gây ÔNKK 95 

Hình 15 Đánh giá chủ quan của đối tượng NC về ô nhiễm khói và mức độ ô nhiễm khói do nhà máy xi măng Bỉm sơn ở khu vực nghiên cứu 96 

Hình 16 Đánh giá chủ quan của đối tượng NC về tiếng ồn và mức độ ồn do hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng Bỉm sơn đến khu vực nghiên cứu 98 

Hình 17: Mùa bị ô nhiễm không khí do hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng Bỉm sơn đến khu vực nghiên cứu 99 

Hình 18 Thời điểm ô nhiễm không khí do hoạt động sản xuất của nhà máy xi măng Bỉm sơn đến khu vực nghiên cứu nhiều nhất trong ngày 100 

Hình 19 Nhận thức của người dân về các biện pháp xử lý ÔNKK của NMXMBS 101 

Hình 20 Đánh giá chủ quan của người dân về ảnh hưởng chất lượng không khí khu vực sinh sống do ô nhiễm khói, bụi của nhà máy XMBS 102 

Hình 21 Đánh giá chủ quan của người dân về ảnh hưởng đến cây cối, mùa màng do ô nhiễm khói, bụi của nhà máy XMBS 103 

Hình 22 Nhóm nghề nghiệp của đối tượng điều tra 109 

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AHC : Phương pháp điều chỉnh vốn con người APEEP : Mô hình phân tích thực nghiệm phát thải

Ô nhiễm không khí AQVM : Mô hình lượng giá chất lượng không khí BVMT : Bảo vệ môi trường

BID : Mức chi trả CGE : Mô hình cân bằng tổng thê CNP : Chi phí hàng năm

COI : Phương pháp chi phí y tế CPCH : Chi phí cơ hội

CPDT : Chi phí điều trị CVM : Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên EPA : Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ GAD : Tổng thiệt hại hàng năm

MAF : Hàm chi phí giảm thải ÔNKK : Ô nhiễm không khí QCVN : Qui chuẩn Việt Nam TCCP : Tiêu chuẩn cho phép TSP : Bụi lơ lửng

USD : Đô la Mỹ VSL : Mức chi trả của xã hội

WB : Ngân hàng Thế giới WHO : Tổ chức Y tế thế giới WTA : Mức sẵn lòng chấp nhận WTO : Tổ chức Thương mại Quốc tế WTP : Sự sẵn lòng chi trả

Trang 9

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.1 Đặt vấn đề

Môi trường là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng sức khoẻ của mỗi cá nhân, cộng đồng và quốc gia Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường có một tác động to lớn đối với cuộc sống của con người Hàng năm, hàng trăm triệu người mắc phải các bệnh hô hấp và các bệnh khác có liên quan đến ô nhiễm không khí, liên quan đến những yếu tố vật

lý, hóa học độc hại không cần thiết trong môi trường sống

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tình trạng ô nhiễm không khí đang không ngừng gia tăng ở các thành phố lớn của nước ta Các số liệu của Báo cáo Môi trường quốc gia (2010) cho thấy diễn biến chất lượng môi trường không khí trong những năm qua vẫn theo chiều hướng tiếp tục suy giảm Đáng lưu ý nhất là vấn đề ô nhiễm bụi tại các đô thị diễn ra ngày càng trầm trọng hơn Hàm lượng các khí SO2, NO2, CO và các khí thải độc hại khác đã tăng lên tới ngưỡng qui chuẩn cho phép, đặc biệt là tại các đô thị lớn, các tuyến đường giao thông chính, các khu vực tập trung nhiều cơ sở sản xuất cũ và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp cũ Xét các nguồn phát thải các khí gây ô nhiễm trên phạm vi toàn quốc, ước tính hoạt động giao thông đóng góp gần 85% lượng khí CO, 95% lượng VOCs Trong khi đó, các hoạt động công nghiệp là nguồn đóng góp chính khí SO2 Đối với NO2, hoạt động giao thông và các ngành sản xuất công nghiệp có tỷ lệ đóng góp xấp xỉ nhau Riêng đối với TSP, ngành sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng là nguồn phát thải chủ yếu (chiếm 70%)

Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ, đặc biệt đối với đường hô hấp Thực tế cho thấy, nhiều bệnh đường hô hấp có nguyên nhân trực tiếp bởi môi trường không khí bị ô nhiễm do bụi, SO2, NOx, CO, chì Các tác nhân này gây ra các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, hen, lao, dị ứng, viêm phế quản mạn tính và ung thư Thiệt hại kinh tế do ảnh hưởng đến sức khoẻ, bao gồm các khoản chi phí: khám, chữa bệnh, thiệt hại cho sản xuất và nền kinh tế do gián đoạn lao động Trên thực tế, nhiều vụ việc gây ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường không khí nói riêng xảy ra rất nghiêm trọng, nhưng có những hậu quả nặng nề lại không thể nhìn thấy ngay được mà tiềm ẩn và phải đến hàng chục năm sau người ta mới có thể nhận ra

Bài toán giải quyết vấn đề này khá phức tạp, đòi hỏi phải xác định được mức độ ô nhiễm, nhận dạng các quy luật diễn biến chất ô nhiễm và nguồn phát sinh để từ đó có hướng xử lý phù hợp Việc đánh giá thiệt hại do ô nhiễm không khí đã được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng ở Việt Nam hiện nay pháp luật môi trường chưa quy định rõ ràng, cụ thể việc xác định các thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường không

Trang 10

khí gây nên, cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường và sức khỏe của người dân chịu tác động của ô nhiễm Vì vậy, cần thiết phải xây dựng đề xuất qui trình lý thuyết về lượng giá và những kỹ thuật thực nghiệm phục vụ cho việc lượng giá thiệt hại

do ô nhiễm môi trường nói chung và không khí nói riêng

Lượng hoá thiệt hại kinh tế cho phép ước tính được những tác động bất lợi đối với sức khỏe, môi trường, đối với nền kinh tế và xã hội mà từ trước đến nay mới chỉ được đề cập đến một cách định tính Các kết quả lượng giá là căn cứ khoa học để xác định mức đền bù thiệt hại hợp lý mà đối tượng có hành vi gây ô nhiễm phải chi trả, bồi thường cho người bị ảnh hưởng Đồng thời là căn cứ cho các nhà quản lý đưa ra quyết định, hình thức, mức xử phạt hành vi gây ô nhiễm đó Ngoài ra công tác lượng giá là một trong những biện pháp đánh giá, dự báo để các nhà quản lý có cơ sở khoa học trong việc xây dựng các chính sách, qui hoạch, xây dựng các qui định, tiêu chuẩn, mức thuế, phí ô nhiễm, khung phạt, mức xử phạt …, nhằm hạn chế và giảm thiểu tổn thất do ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm không khí nói riêng gây ra cho con người và tài sản tối ưu nhất

Hiện nay, các kỹ thuật lượng giá trên thế giới đã tương đối phát triển và ngày càng trở nên phổ biến Các quốc gia đã áp dụng rất nhiều các kỹ thuật khác nhau nhằm xác định mức độ thiệt hại kinh tế, sức khỏe do ô nhiễm môi trường không khí Tuy nhiên, việc lựa chọn các kỹ thuật, qui trình lượng giá tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể của từng nước và từng trường hợp

Tại Việt Nam, việc lượng giá tài nguyên và tác động môi trường là một công việc khá mới mẻ Vào năm 2005, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi lại nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định các giá trị kinh tế thiệt hại do ô nhiễm môi trường phục vụ cho công tác quản lý Tuy nhiên, trong những năm qua, mới chỉ có một vài nghiên cứu về

lượng giá giá trị thiệt hại do ô nhiễm môi trường, trong đó có bản thảo phương pháp

lượng giá kinh tế các tổn thất môi trường sinh thái do sự cố tràn dầu đối với các hệ sinh thái biển, phù hợp với môi trường Việt Nam – thực hiện năm 2008 bởi Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường Một nghiên cứu mới nhất gần đây của Nguyễn Thế

Chinh và cộng sự năm 2010“Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất mô hình, quy trình phù hợp với điều kiện Việt Nam về lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra” kết quả cũng mới dừng lại ở đề xuất mô hình, qui trình lượng giá thiệt

hại kinh tế do ô nhiễm, suy thoái môi trường và áp dụng thí điểm lượng giá thiệt hại ô nhiễm không khí đến sức khỏe người dân khu vực Hà Nội (mới chỉ tập trung tính toán thiệt hại về chi phí khám chữa bệnh…)

Trang 11

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có văn bản pháp luật qui định qui trình lượng giá thiệt hại do ô nhiễm môi trường và đặc biệt là ô nhiễm không khí để có những qui định, mức bồi thường Do vậy, khi xảy ra các tranh chấp hay khiếu nại về môi trường nói chung và không khí nói riêng rất khó để xác định được mức bồi thường thiệt hại (nếu phải bồi thường) cho bên chịu thiệt hại do ô nhiễm không khí Thực tế Việt Nam cũng cho thấy rằng, có rất nhiều trường hợp, người dân bị ảnh hưởng do ô nhiễm không khí, khiếu nại lên đòi bồi thường thiệt hại, nhưng khi đem ra xét xử các cơ quan chức năng không có căn

cứ, cơ sở pháp lý để tính toán thiệt hại xác định bồi thường cho người dân Vì vậy, việc xây dựng qui trình lượng giá thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm không khí (phải đánh giá được mức độ thiệt hại về chi phí khám và điều trị bệnh, chi phí khắc phục, cải thiện ô nhiễm môi trường sống được qui đổi thành tiền) là hết sức cần thiết

Do vậy, đề tài “Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô

nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm

về môi trường có ý nghĩa rất lớn, làm cơ sở ban đầu cho việc đề xuất giải pháp bồi

thường thiệt hại do ô nhiễm không khí và giải quyết các nhu cầu thực tiễn đặt ra

1.2 Mục tiêu đề tài

Mục tiêu tổng quan của đề tài:

Nghiên cứu các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí làm căn cứ bước đầu cho công tác xử lý vi phạm và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường không khí hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

Các mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm:

1- Làm rõ một số vấn đề về các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí;

2- Đánh giá thực trạng áp dụng phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí tại một địa bàn lựa chọn cụ thể nhằm chỉ ra ưu khuyết điểm của mỗi phương pháp lượng giá thiệt hại;

3- Đề xuất các phương pháp, các giải pháp hiệu quả góp phần phục vụ công tác bồi thường thiện hại và xử lý vi phạm do ô nhiễm không khí

1.3 Cách tiếp cận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở Luật Bảo vệ môi trường 2005, Bộ Luật dân sự

2005 và Kế hoạch quốc gia về kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 328/2005/QĐ-TTg ngày 12/12/2005 Các văn bản pháp lý này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, bao gồm các phương pháp lượng giá giá trị thiệt hại do ô nhiễm không khí

Trang 12

Trong khuôn khổ đề tài này, cách tiếp cận tổng thể (holistic) của việc lượng hoá giá trị kinh tế thiệt hại sẽ được áp dụng Theo cách tiếp cận này, các phương pháp lượng giá thiệt hại được lựa chọn tùy thuộc vào đối tượng tác động do ô nhiễm không khí, các đối tượng đó, còn được gọi là giá trị kinh tế thiệt hại, được chia thành hai loại là giá trị thiệt hại trực tiếp và giá trị thiệt hại gián tiếp Cụ thể, giá trị thiệt hại trực tiếp bao gồm: các giá trị thiệt hại do ô nhiễm không khí tác động đến năng suất, sức khỏe con người và

cơ sở hạ tầng; các giá trị thiệt hại gián tiếp gồm độ hưởng thụ từ đó làm thay đổi thói quen sinh hoạt của con người Tổng thể các giá trị mất đi từ thay đổi năng suất, suy giảm sức khỏe, thiệt hại về cơ sở hạ tầng và độ hưởng thụ của con người chính bằng tổng giá trị kinh tế do ô nhiễm không khí Để lượng hoá được các giá trị này đòi hỏi các phương pháp thị trường (market approach) và các phương pháp phi thị trường (non-market approaches) Các phương pháp thị trường được sử dụng để đánh giá thiệt hại vật chất hữu hình và các thiệt hại đó thường có giá thị trường, đó là phương pháp thay đổi năng suất, phương pháp chi phí sức khoẻ, phương pháp chi phí cơ hội, phương pháp chi phí phòng ngừa, phương pháp chi phí thay thế Các phương pháp đánh giá phi thị trường được sử dụng để đánh giá các thiệt hại khó lượng giá được trên thị trường Mô hình hóa các thiệt hại, chia theo đối tượng, do ô nhiễm không khí và các phương pháp lượng giá kinh tế thiệt hại được thể hiện như sau:

Trang 13

Hình 1 Lựa chọn phương pháp lượng giá đối với từng loại tác động do ô nhiễm

không khí

Nguồn: Ngân hàng thế giới, 2005.

- Lượng giá sự thay đổi trong năng suất, trong khuôn khổ đề tài này đây là giá trị mất đi trong năng suất hoa màu Phương pháp lựa chọn để lượng giá giá trị mất đi này là phương pháp hàm sản xuất Phương pháp này coi tài nguyên không khí như một đầu vào của hoạt động tạo ra hàng hóa và dịch vụ trong nông nghiệp Khi đầu vào này bị suy thoái (ô nhiễm) dẫn đến năng suất tạo ra hàng hóa và dịch vụ trong nông nghiệp giảm đi kéo theo sự suy giảm trong thu nhập của nông dân

- Lượng giá giá trị thiệt hại do ô nhiễm không khí tác động đến sức khỏe: trước khi lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí tới sức khỏe con người cần phải xác định chính xác mối quan hệ biện chứng nguyên nhân hệ quả giữa ô nhiễm không khí và suy giảm sức khỏe

Ô nhiễm không khí

Thay đổi năng suất

Tác động đến sức khỏe

Tác động thay đổi hành vi Bộc lộ Không bộc lộ

Tác động theo lượng ô nhiễm

Hàm sản xuất

Cách tiếp cận chi phí

cơ hội

Cách tiếp cận chi phí thay thế

Cách tiếp cận vốn con người

Cách tiếp cận chi phí bệnh tật

Phương pháp giá hưởng thụ

Thói quen phòng ngừa

Phương pháp chi phí du lịch

Phương pháp đánh giá phụ thuộc tình huống ngẫu nhiên

Thiệt hại gián tiếp

Cách tiếp cận chi phí thay thế

Phương pháp giá ẩn

Trang 14

Hình 2 Các bước đánh giá mức độ tác động

+ Mức độ ô nhiễm không khí gây bệnh cho con người, đặc biệt là các bệnh về đường hô hấp Lượng giá được những thiệt hại này giúp cho ta nắm bắt được mức độ tác động của các chất ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người Có ba bước để xác định mối quan hệ giữa ô nhiễm không khí và sức khỏe, được biểu thị qua hình 2, bước thứ nhất xác định mức độ ô nhiễm (vd., điển hình là mức độ tập trung chất ô nhiễm) Sau khi xác định được nồng độ ô nhiễm sẽ tiến hành đánh giá tác động của ô nhiễm tới sức khỏe Tác động được đo bằng hệ số tương tác theo liều lượng (dose response coefficient) Bước thứ ba, xác định nhóm người bị tác động bởi ô nhiễm không khí

+ Sau khi phân tích mức độ tác động, tiến hành lượng giá giá trị kinh tế các thiệt hại Giá trị thiệt hại sức khỏe được tính theo phương pháp truyền thống là những “chi phí tài chính” tạo ra từ sự tử vong hay bệnh tật của nhóm người chịu tác động của ô nhiễm không khí Trong phạm vi đề án, chỉ giới hạn phân tích cách tiếp cận chi phí bệnh tật Phương pháp này ước tính chi phí tạo ra bởi một số bệnh đặc chủng (vd: bệnh về hệ hô hấp) Cả chi phí trực tiếp (vd: chi phí khám và chữa bệnh…) và chi phí gián tiếp (vd: giảm mức lương) đều được tính đến trong quá trình lượng giá Ngoài ra, một số chi phí được tính đến là chi phí bảo hiểm y tế và các chi phí cho nỗ lực giảm tác động do ô nhiễm không khí tới sức khỏe

- Lượng giá thiệt hại tác động làm thay đổi hành vi, hành vi ở đây được hiểu là hành động làm giảm tác động ô nhiễm đến con người Hành vi được chia làm 02 loại là hành vi ngăn ngừa và hành vi làm giảm nhẹ tác động của ô nhiễm không khí Phương pháp lượng giá này dựa trên giả thuyết: các cá nhân nhận thấy được sự tồn tại của các chất ô nhiễm

và hành động để giảm bớt hoặc tránh tác động của các chất ô nhiễm đó, vì thế gây ra chi phí (Freeman, 1992) Chi phí từ các hành vi này được coi như một cấu thành của tổng thiệt hại do ô nhiễm không khí

Xác định nồng độ ô nhiễm

Phân tích liều lượng đáp ứng

Phân tích mức độ tác động

Trang 15

Hình 3 Quan hệ liều lượng đáp ứng trong sự liên hệ với hành vi ngăn ngừa và hành

vi làm giảm nhẹ tác động của ô nhiễm

Nguồn: World bank 2002

Phần cuối của đề tài là đề xuất các biện pháp quản lý, đề tài sẽ áp dụng cách tiếp cận phát triển bền vững, trong đó cân nhắc đến chi phí và lợi ích ngắn hạn và dài hạn của các phương án, đảm bảo rằng ‘phát triển hôm nay không làm ảnh hưởng đến việc phát triển của các thế hệ tương lai’

Ô nhiễm (P) Phát thải (E) Thời gian mắc

bệnh (S)

Hành vi ngăn ngừa (D)

ví dụ: sự dụng máy lọc không khí

Hành vi làm giảm nhẹ tác

động

ví dụ: mua thuốc chữa bệnh

Trang 16

CHƯƠNG II PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

¾ Đối tượng nghiên cứu:

- Đề tài tập trung vào nghiên cứu các phương pháp lượng giá giá trị thiệt hại do ô nhiễm không khí gây ra bởi nguồn gây ô nhiễm cố định tác động lên ba đối tượng chính là sức khỏe con người, cơ sở hạ tầng và năng suất mùa màng Đề tài nghiên cứu tập trung hệ thống hóa cơ sở phương pháp luận tổng hợp lượng giá tổng giá trị kinh tế thiệt hại do ô nhiễm môi trường không khí, bao gồm các thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp

- Áp dụng thí điểm lượng giá thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm không không khí tại

nhà máy Xi măng Bỉm Sơn

¾ Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung lượng giá thiệt hại sức khoẻ do ô nhiễm không khí từ hoạt động sản xuất công nghiệp

¾ Địa điểm nghiên cứu:

- Khu vực nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Thanh Hóa được chọn làm địa điểm nghiên

cứu thí điểm trong đề tài này, bởi các tiêu chí sau:

+ Thứ nhất, hoạt động sản xuất xi măng có ô nhiễm đặc trưng là khói và bụi

nên tác động lớn đến môi trường không khí;

+ Thứ hai, nhà máy xi măng Bỉm Sơn là một trong những trọng điểm gây ô

nhiễm không khí, do đã được xây dựng từ những năm 80 và sử dụng công nghệ cũ của Liên Xô kết hợp với tính chất của hoạt động sản xuất xi măng nên nhà máy gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng;

+ Thứ ba, nguồn gây ô nhiễm không khí cố định, vị trí nhà máy nằm ở địa

hình vùng đồng bằng và núi đá

- Phạm vi khu vực nghiên cứu lượng giá thí điểm, do hạn chế về mặt thời gian và tài chính do vậy trong phần này chỉ lựa chọn một số thiệt hại chính, cụ thể là thiệt hại đến sức khỏe người dân sống xung quanh khu vực nhà máy trong phạm vi 10km Số lượng mẫu điều tra được tính toán theo công thức tính phù hợp với phương pháp nghiên cứu Thiệt hại về sức khỏe được thể hiện thông qua tình hình bệnh tật của cộng đồng (đặc biệt là một số bệnh liên quan đến hệ hô hấp, mắt, dị ứng ngoài da), thông qua điều tra về chi phí thuốc men, khám điều trị bệnh liên quan đến hệ hô hấp ngoài da Đánh giá

kết quả lượng giá thí điểm và đề xuất xử lý vi phạm (chỉ ở mức độ giả định) (được nêu

cụ thể cách tính, chọn mẫu chi tiết ở phần 2.2.2.Các thí điểm)

Trang 17

¾ Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 1/2010 đến 12/2011 Tuy nhiên do điều kiện kinh phí nguồn khoa học công nghệ hạn chế, do vậy năm 2011 Bộ Tài nguyên và Môi trường không cấp hết mà điều chỉnh kinh phí và phê duyệt dãn thời gian thực hiện đề tài và kết thúc trong năm

2012 Vì vậy, đề tài đã kéo dài thành 3 năm

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Các Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá tổng quan tài liệu về ô nhiễm không khí:

+ Khái niệm về ô nhiễm không khí và các tác nhân gây ô nhiễm, các nguồn phát thải gây ô nhiễm không khí chính ở Việt Nam (trong đề tài này chỉ phân tích nguồn gây ô nhiễm cố định

+ Xác định đối tượng chính chịu tác động của ô nhiễm không khí sức khỏe con người; năng suất và cơ sở hạ tầng

+ Mô hình lan truyền ô nhiễm và quy mô ô nhiễm: xác định nồng độ bụi, vùng bị ảnh hưởng ô nhiễm bụi và mức độ lan truyền bụi trong không khí

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các phương pháp kỹ thuật lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí

+ Cơ sở lý luận về giá trị kinh tế, lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí

+ Các phương pháp kỹ thuật lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí (trong nghiên cứu này chỉ giới hạn phân tích với các nguồn ô nhiễm cố định và theo đối tượng bị tác động chịu thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp)

- Nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm quốc tế và hiện trạng Việt Nam về các trường

hợp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

+ Kinh nghiệm quốc tế về lượng giá thiệt hại và các chính sách, qui trình tính toán bồi thường do ô nhiễm không khí và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

+ Hiện trạng ứng dụng lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí ở Việt Nam

- Phân tích các khả năng áp dụng phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí tại Việt Nam

- Đề xuất qui trình lượng giá thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm không khí và bồi thường thiệt hại phù hợp với Việt nam

Trang 18

2.2.2.Các thí nghiệm

a.Thiết kế nghiên cứu, cỡ mẫu, chọn mẫu, nghiên cứu điều tra phục vụ thí điểm:

- Thiết kế nghiên cứu:

+ Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang: Tổ chức, điều tra, khảo sát, đánh giá cắt ngang tại một thời điểm và mô tả về tình trạng sức khỏe, đánh giá về tình hình ô nhiễm môi trường và mức độ sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện môi trường, bảo vệ sức khoẻ người dân (có so sánh đối chứng)

Trong đó: Z: Hệ số tin cậy (95%) = 1,96; P: Tỷ lệ mắc bệnh mũi họng ước tính: 0,4;

q=1-p =0,6 (theo báo cáo số liệu thống kê của Trung tâm Y tế Bỉm sơn – Thị xã Bỉm sơn

năm 2010); e: sai số ước lượng ±5%; Cỡ mẫu tính được là n= 369

Tuy nhiên, đợt khảo sát này đã được tiến hành với 500 hộ gia đình để đề phòng trường hợp một số mẫu điều tra nào đó không có giá trị hoặc thông tin nào đó bị thiếu Ngoài ra, nghiên cứu lựa chọn thêm nhóm so sánh, đối chứng với số mẫu là 150 hộ gia đình ở khu vực không chịu ảnh hưởng ô nhiễm khói bụi của nhà máy xi măng Bỉm Sơn

¾ Cách thức chọn mẫu và lựa chọn phạm vi nghiên cứu

Lựa chọn phạm vi nghiên cứu áp dụng thí điểm:

Dựa vào kết quả mô phỏng ô nhiễm không khí và xác định vùng ô nhiễm ở khu vực xung quanh nhà máy Xi măng Bỉm Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa cũng cho thấy:

02 phường được các chuyên gia mô phỏng tình trạng ô nhiễm và đánh giá là nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp của ÔNKK là phường Ba Đình và P.Lam Sơn Đồng thời cũng tiến hành nghiên cứu các dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn các cơ quan quản lý nhà nước, môi trường

và y tế tại địa phương (Theo kết quả quan trắc năm 2010 của Sở TNMT tỉnh Thanh Hoá

về tình hình ô nhiễm bụi khu vực xung quanh nhà máy Xi măng Bỉm Sơn cho thấy: Phường Ba Đình và P.Lam Sơn là 2 khu vực chịu ảnh hưởng và có nồng độ ô nhiễm bụi

p q

e2

Trang 19

cao nhất và vượt tiêu chuẩn cho phép, còn lại các phường, huyện lân cận ít bị ảnh hưởng

ô nhiễm bụi của nhà máy XMBS)

Theo số liệu thứ cấp Báo cáo kết quả quan trắc hiện trạng môi trường khu vực xung quanh nhà máy xi măng Bỉm Sơn năm 2010, Sở TN&MT Thanh Hóa cho thấy: hàm lượng bụi lơ lửng tổng số TSP tại hầu hết các điểm khảo sát xung quanh nhà máy Xi măng Bỉm sơn đều vượt TCCP Như vậy, môi trường xung quanh nhà máy xi măng Bỉm Sơn có dấu hiệu bị ô nhiễm bụi TSP

Bảng 1 Chất lượng môi trường không khí tại khu vực xung quanh

nhà máy xi măng Bỉm Sơn

Bụi tổng Bụi silic

Kí hiệu mẫu

µg/m 3 µg/m 3

Tổ 11, khu 6, phường Lam Sơn 579,25 16,5

Tổ 7, khu 6, phường Lam Sơn 988,75 29,5

Tổ 5, khu 9, phường Lam Sơn 788,5 24,5

Sở TN&MT Thanh Hóa

Theo tính toán mô phỏng nồng độ bụi ô nhiễm do nhà máy xi măng Bỉm sơn năm

2010 của Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Mô hình hóa Môi trường, Đại học Khoa

học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (tính toán dựa trên số liệu thứ cấp của nhà máy cho thấy cho thấy vị trí khu vực bị ô nhiễm bụi nhiều nhất do nhà máy XMBS là nằm cách ống khói nhà máy khoảng từ 0,4 – 1,8km về phía Tây Bắc (297 - 381 µg/m3), vượt quá tiêu chuẩn môi trường không khí xung quanh về chỉ tiêu bụi lơ lửng Các vùng ô nhiễm bụi bị ảnh hưởng do phát thải của nhà máy tập trung ở phía Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc và Đông Nam của nhà máy thuộc địa bàn Phường Ba Đình, phường Lam Sơn và phường Bắc Sơn thuộc thị xã Bỉm Sơn Các vùng còn lại nằm ở phía Nam của nhà máy ít

Trang 20

bị ảnh hưởng ô nhiễm do khói thải của nhà máy như phường Ngọc Trạo, xã Quang Trung

và xã Hà Lan thuộc thị xã Bỉm Sơn

Hình 4 Hàm lượng bụi tổng và bụi silic trong môi trường không khí tại

khu vực xung quanh nhà máy

Bụi tổng Bụi silic TC bụi tổng TC bụi silic

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu quan trắc và mô hình hóa Môi trường – Viện KHQLMT 2011

Hình 5 Biểu diễn kết quả mô phỏng khu vực bị ô nhiễm bụi của NMXMBS

P Ba Đình

P Lam Sơn

P Ngọc Trạo

Trang 21

Chính vì vậy, đề tài lựa chọn 2 khu vực P.Ba Đình và P.Lam Sơn tiến hành điều tra thu thập thông tin về nhận thức, đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường, tình hình sức khỏe và chi phí y tế và mức độ sẵn lòng chi trả để cải thiện môi trường sống và sức khoẻ người dân Ngoài ra, đề tài lựa chọn thêm địa điểm P.Ngọc Trạo để nghiên cứu so sánh (tuy nhiên các tiêu chí lựa chọn đều dựa trên căn cứ của nghiên cứu đối chứng)

Điều kiện, tiêu chí lựa chọn nhóm so sánh: (1) điều kiện kinh tế xã hội, số dân, mức sống, cơ sở hạ tầng, địa hình của P.Ngọc Trạo khá tương đồng với hai phường Ba Đình và Lam Sơn, đồng thời không chịu tác động trực tiếp của ô nhiễm không khí từ nhà máy xi măng Bỉm Sơn (theo báo cáo thông tin thu thập được từ Phòng thống kê thị xã Bỉm Sơn

về đặc điểm kinh tế xã hội, nghề nghiệp, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, cơ sở

Trang 22

Cách chọn mẫu:

Do không có sự khác biệt đáng kể trong điều kiện kinh tế - xã hội tại các phường nên nghiên cứu sử dụng cách điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên Trong đó Ba Đình và Lam Sơn là hai phường trọng tâm chịu ảnh hưởng của ÔNKK có số phiếu điều tra mỗi phường

là 250, phường Ngọc Trạo (nhóm so sánh) có số phiếu là 150

Bảng 2 Tổng hợp số lượng mẫu điều tra theo phường

trong đợt điều tra này

¾ Bảng câu hỏi điều tra

- Trong phần thứ nhất, bảng hỏi tìm kiếm những thông tin định tính về nhận thức

và quan điểm của người dân về môi trường tại địa phương, đặc biệt là nhận thức về vấn

đề ÔNKK Đối tượng điều tra được đề nghị đưa ra thái độ và nhận thức của mình với những biểu hiện của ÔNKK trong khu vực

- Phần thứ hai thu thập những thông tin về tình hình bệnh tật liên quan đến ÔNKK của người dân, cụ thể phần này hỏi về số ca bệnh của các thành viên trong gia đình, thời gian nghỉ việc để điều trị, thu nhập tổn thất do mất khả năng lao động và chi phí cơ hội của người thân phải nghỉ việc để chăm sóc bệnh nhân

Trang 23

- Phần thứ ba được thiết kế nhằm thu thập những thông tin về sự sẵn sàng chi trả (WTP) của các hộ dân để cải thiện chất lượng môi trường không khí và cảnh quan tại nơi

hộ sinh sống Trước khi trả lời câu hỏi về mức sẵn sàng chi trả (WTP), đối tượng điều tra được giải thích cụ thể những lợi ích về sức khỏe cộng đồng, chất lượng môi trường và

cảnh quan của địa phương khi chất lượng không khí được cải thiện Câu hỏi WTP được thiết kế ở dạng câu hỏi đóng là dạng câu hỏi trong đó người phỏng vấn nêu ra một mức

tiền đóng góp nhất định rồi hỏi người dân có sẵn lòng chi trả (đóng góp) mức đó hay không Với câu hỏi này, câu trả lời từ người dân sẽ là có hoặc không sẵn sàng chi trả Cách tiếp cận này còn được gọi là đánh giá ngẫu nhiên nhị phân (vì câu trả lời là có hoặc không) và thuận tiện cho người trả lời khi chỉ phải lựa chọn giữa hai khả năng là có hay không

- Phần thứ tư gồm những câu hỏi về các đặc điểm kinh tế xã hội của đối tượng điều tra Những câu hỏi bao gồm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, số thành viên hộ gia đình và mức thu nhập của hộ

¾ Cán bộ phỏng vấn

Đợt khảo sát này được tiến hành theo hình thức phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình và

do các cán bộ phỏng vấn của Viện KHQLMT và địa phương tiến hành Những cán bộ phỏng vấn đã có kinh nghiệm điều tra hiện trường Việc tập huấn về cách để tiếp cận đối tượng điều tra và hỏi những câu hỏi về sẵn sàng chi trả cũng được tổ chức cho các cán bộ

đi phỏng vấn nhằm đảm bảo độ tin cậy của các câu trả lời

¾ Tiến hành điều tra

Công tác điều tra được thực hiện sau khi đã tập huấn cho các cán bộ phỏng vấn và cung cấp các tài liệu: (i) một bộ bảng câu hỏi; (ii) một bản đồ vùng nghiên cứu và danh sách hộ gia đình; và (iii) các tài liệu bổ sung Đợt điều tra này đã được tiến hành từ tháng

7 - 9 năm 2011

Tổ trưởng dân phố nơi tiến hành điều tra đi cùng nhóm nghiên cứu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận với các hộ dân Cuộc phỏng vấn thường diễn ra trong khoảng 30 phút

¾ Phân tích số liệu

Nhóm nghiên cứu đã kiểm tra và mã hóa các kết quả từ bảng câu hỏi, hoàn thành phân loại và thiết lập cơ sở dữ liệu của đợt khảo sát Trong phần lớn các trường hợp, những thông tin cần thiết đã được thu thập đủ

Những kết quả điều tra này đã được phân tích theo cách thức sau đây:

Trang 24

ƒ Thống kê cơ bản về người được phỏng vấn;

ƒ Thống kê về sự khác biệt giữa số ca bệnh giữa vùng ô nhiễm và vùng so sánh

ƒ Ước tính WTP;

ƒ Kiểm tra độ tin cậy;

ƒ Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến WTP

Số liệu đã được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 15.0

2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi, hoặc thu thập số liệu

- Thu thập số liệu phục vụ phân tích và tính toán lan truyền ô nhiễm không khí: + Thu thập các số liệu thông số kỹ thuật ống khói của nhà máy xi măng Bỉm Sơn + Hồi cứu số liệu và đo đạc môi trường xung quanh nhà máy

+ Thu thập những thông tin định tính về nhận thức và quan điểm của người dân về môi trường tại địa phương, đặc biệt là nhận thức về vấn đề ô nhiễm không khí (ÔNKK)

- Thu thập số liệu phục vụ tính toán, lượng giá thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm không khí:

+ Thu thập thông tin về đặc điểm kinh tế xã hội của đối tượng điều tra

+ Thu thập thông tin về tình hình bệnh tật liên quan đến ÔNKK của người dân, cụ thể phần này hỏi về số ca bệnh của các thành viên trong gia đình, thời gian nghỉ việc để điều trị, thu nhập tổn thất do mất khả năng lao động và chi phí cơ hội của người thân phải nghỉ việc để chăm sóc bệnh nhân

+ Thu thập thông tin về sự sẵn sàng chi trả (WTP) của các hộ dân để cải thiện chất lượng môi trường không khí và cảnh quan tại nơi hộ sinh sống

2.3 Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp kế thừa: Nghiên cứu kế thừa các tài liệu, mô hình, kỹ thuật, giải pháp

liên quan đã và đang được áp dụng để lượng giá, xác định giá trị kinh tế thiệt hại do ô nhiễm không khí trên thế giới và ở Việt Nam

2 Phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang: điều tra khảo sát thu thập thông tin

về nhận thức, đánh giá về tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, sức khoẻ, chi phí điều trị bệnh tật tại địa phương

3 Phương pháp chuyên gia: Tổ chức các hội thảo, tổ chuyên gia trao đổi kinh nghiệm

xác định giá trị kinh tế thiệt hại do ô nhiễm không khí trên thế giới và ở Việt Nam

4 Phương pháp chuyên ngành: bao gồm phương pháp thị trường và phương pháp

phi thị trường Trong đó:

Trang 25

- Phương pháp thị trường: được sử dụng để đánh giá thiệt hại vật chất hữu hình và

các thiệt hại đó thường có giá thị trường, đó là phương pháp thay đổi năng suất, phương pháp chi phí sức khoẻ, phương pháp chi phí cơ hội, phương pháp chi phí phòng ngừa,

phương pháp chi phí thay thế;

- Phương pháp phi thị trường: thường được sử dụng để đánh giá các thiệt hại vô

hình khó lượng giá được trên thị trường Hai phương pháp đánh giá gián tiếp được sử dụng trong nghiên cứu này là: Phương pháp giá trị hưởng thụ và phương pháp đánh giá tùy thuộc vào tình huống giả định

5 Phương pháp mô hình: Xây dựng các mô hình toán kinh tế, kinh tế lượng, mô hình

phân tích hành vi để xác định các nhóm giá trị sử dụng gián tiếp và phi sử dụng

Trang 26

CHƯƠNG III TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI DO Ô

NHIỄM KHÔNG KHÍ 3.1 Tổng quan các phương pháp lượng giá thiệt hại

3.1.1 Phương pháp đánh giá thiệt hại trong sản xuất:

Phương pháp hàm sản xuất

¾ Lý thuyết chung

Khi một đầu vào (đầu vào trong trường hợp này là yếu tố môi trường) của quá trình sản xuất thay đổi dẫn đến sự thay đổi về số lượng hàng hóa được sản xuất ra Ví dụ: Khi môi trường đất bị suy thoái sẽ dẫn đến sản lượng hoa màu thu hoạch được giảm đi Tuy nhiên, người nông dân có thể thay thế sự suy giảm của chất lượng đầu vào (độ màu mỡ của đất) bằng một một đầu vào thay thế khác (trong trường hợp này là phân bón) Hình 4

mô tả một hàm sản xuất, trong đó năng suất là hàm độ màu mỡ của đất (S), và các yếu tố đầu vào khác (X) Khi độ màu mỡ của đất giảm từ S1 đến S2 do suy thoái, hàm sản xuất lúc này sẽ dịch chuyển đến S2 Lúc này, người nông dân phải đối mặt với 2 lựa chọn: lựa chọn thứ nhất là không tác động gì và người nông dân nhận được mức sản lượng mới là Q2 thay vì Q1, các yếu tố đầu vào khác không thay đổi; lựa chọn thứ 2, để giữ được mức sản lượng như ban đầu tại Q1, người nông dân sử dụng tăng các yếu tố đầu vào, như phân bón, từ X1 đến X2 Trong thực tế, người nông dân thường thu được mức sản lượng nằm trong khoảng từ Q2 đến Q1 Mặt khác, người nông dân phải chịu mất đi một khoản do lợi nhuận giảm Với lựa chọn thứ nhất, người nông dân mất đi một phần sản lượng hoa màu Trong lựa chọn thứ 2, người nông dân mất thêm một khoản chi phí để tăng các yếu tố đầu vào

Hình 7 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi trong năng suất

Năng suất

Các đầu vào Dịch chuyển do suy thoái môi trường

Trang 27

Như vậy, có hai cách để lượng giá thiệt hại do suy thoái là: giá trị mất đi do giảm sản lượng hoa màu hoặc chi phí tăng thêm cho các yếu tố đầu vào tăng thêm Cả hai đều ảnh hưởng đến thu nhập:

π= PQ – c(Q) Trong đó, π = lợi nhuận

P = giá (giả định không đổi trên thị trường)

Q = năng suất

c= chi phí đầu vào (phụ thuộc vào các mức sản lượng, Q)

¾ Quy trình áp dụng phương pháp thay đổi trong năng suất

- Các tác động lên năng suất cả trong và sau tiến trình dự án đều phải được đánh giá Thậm chí phải xem xét các trường hợp có nhiều dự án thay thế và trường hợp không

có dự án để xác định những thay đổi do các dự án mang lại so với khi tiến hành dự án

Bước 2: Gán giá thị trường cho những tổn thất

Phương pháp này sử dụng giá thị trường để đo lường những tổn thất trong sản xuất hoặc chi phí đầu vào gia tăng

Cần phải giả thiết về thời gian để đo lường những thay đổi, về giá “chuẩn” được sử dụng và về những thay đổi ở tương lai với mức giá tương đối

Một vấn đề nảy sinh trong phương pháp này là không tồn tại thị trường cho hàng hoá hệ sinh thái hoặc thị trường bị bóp méo Khi đó cần phải có các phương pháp thay thế, các phương pháp này sẽ lượng giá:

- Lợi ích của sản phẩm Ví dụ, các loài cây thuốc có thể được lượng giá thông qua lợi ích do tránh được những hậu quả của bệnh tật

- Giá của hàng hoá thay thế Ví dụ, tổn thất do mất tính sẵn có của củi đốt có thể được lượng giá thông qua giá của dầu hoả, hay đi lại bằng đường bộ là phương án thay thế cho đi lại trên sông, hồ…

Trang 28

- Chi phí thời gian lao động gia tăng Thời gian bỏ ra để thu lượm các sản phẩm từ

hệ sinh thái có thể được sử dụng để đo lường giá trị của các sản phẩm đó Hoặc là trong trường hợp giảm lượng củi đốt, tổn thất được đo bằng chi phí của thời gian gia tăng để thu lượm cùng một lượng củi như trước

¾ Ưu điểm và hạn chế của phương pháp

• Ưu điểm:

- Đây là phương pháp lượng giá các tác động ít gây tranh cãi nhất so với các phương pháp khác Cơ sở áp dụng phương pháp này khá đơn giản, chi phí ít tốn kém (do

dữ liệu thu thập dễ dàng), có thể dễ dàng giải thích và chứng minh được

- Phương pháp này sử dụng giá thị trường để đo lường tổn thất trong sản xuất hoặc chi phí đầu vào gia tăng

• Hạn chế:

- Sử dụng giá thị trường có thể đem lại kết quả sai do sự can thiệp của chính phủ

gây bóp méo thị trường như thuế, trợ cấp, bảo hộ nhập khẩu hoặc do độc quyền

- Trong nhiều trường hợp, sự thay đổi trong sản xuất đủ lớn thì việc giá thị trường thay đổi sẽ làm phân tích khó khăn hơn Trong trường hợp này, giá thị trường cần được điều chỉnh để phản ánh giá dự đoán khi không có sự thay đổi môi trường

- Phương pháp này sử dụng giá thị trường nên thường chỉ phản ánh được giá trị sử dụng mà không tính được các giá trị phi sử dụng như giá trị tuỳ thuộc, giá trị tồn tại hay giá trị lựa chọn

3.1.2 Nhóm phương pháp lượng giá thiệt hại đến sức khỏe

a) Phương pháp vốn con người (Human capital approach)

¾ Khái niệm

Phương pháp vốn con người thường được áp dụng đo lường tổn thất trong sản xuất,

cụ thể là thu nhập của người bệnh bị mất do ô nhiễm môi trường gây ra Đối với các chi phí do tử vong hoặc ốm yếu, tàn tật vĩnh viễn thì phương pháp này đo lường bằng cách nhân thu nhập bị mất ở mỗi độ tuổi với xác suất sống đến tuổi đó Phương pháp này cũng tính đến cả công việc nội trợ, xem đó là chi phí cơ hội của việc thuê lao động khác từ thị trường

¾ Đặc điểm và tính chất

Phương pháp vốn con người thường được áp dụng cùng với phương pháp chi phí sức khỏe bởi phương pháp này chỉ giúp lượng giá được giá trị trực tiếp tổn thất do thiệt hại về sức khỏe mà không lượng giá được toàn bộ giá trị thiệt hại về sức khỏe do ô nhiễm môi trường

Trang 29

Phương pháp vốn con người, đo lường giá trị mất đi do tử vong, đây là phương pháp

dễ áp dụng nhất, tuy nhiên ít chính xác và gặp phải sự tranh cãi về mặt đạo đức lớn nhất khi lượng giá các tác động về sức khỏe Phương pháp này coi các cá nhân như các đơn vị của vốn con người tạo ra hàng hóa và dịch vụ cho xã hội Và chỉ những cá nhân khỏe mạnh mới tạo ra các giá trị cơ bản trong tương lai Lý thuyết vốn con người giả thiết rằng một cá nhân có giá trị tương đương với giá trị của các sản phẩm mà họ tạo ra trong tương lai, được thể hiện dưới dạng mức thu nhập người đó nhận được nếu không tử vong

Giá trị này phụ thuộc vào độ tuổi tử vong và mức thu nhập, kỹ năng và nơi sinh sống Ví dụ, tại Mexico khi áp dụng phương pháp vốn con người giá trị của một cuộc sống mất đi do tác hại của ô nhiễm bụi được ước tính trung bình là US$ 75,000 Trong khi

đó ở Brazil mức giá trị này là US 7,700 cho khu vực Sao Paulo và US$ 25,000 cho khu vực Cubatao năm 1988 Sự khác biệt giữa các khu vực là do khác nhau về mức lương trung bình

¾ Bước tiến hành tính toán:

Để xác định các tác động của ô nhiễm không khí và lượng hóa quy đổi các tác động này ra giá trị tiền tệ, đặc biệt tập trung vào xem xét thiệt hại về sức khỏe do ô nhiễm không khí Quy trình tính toán được thực hiện qua 05 bước sau:

Bước 1: Xác định các yếu tố ô nhiễm, vùng ô nhiễm và các điều kiện liên quan Bước 2: Xác định các đối tượng bị tác động và mối quan hệ nhân quả nguồn gây ô

nhiễm và đối tượng bị thiệt hại

Bước 3: Xác định nồng độ các chất ô nhiễm trong khu vực nghiên cứu

Bước 4: Ước lượng các tác động về mặt vật lý, sử dụng thông tin từ bước 2 và 3 Bước 5: Lượng hóa các tác động vật lý theo giá trị tiền tệ

Ví dụ: Một nghiên cứu ở Trung Quốc đã được thực hiện về mối quan hệ giữa ô nhiễm bụi và tỷ lệ tử vong ở trẻ em; bệnh viêm phổi mãn tính, bệnh tim mạch và đột quỵ; cách bệnh về được hô hấp; và ảnh hướng đến hoạt động hàng ngày Sự kết hợp của chất trong ô nhiễm không khí – SO2 với nước, oxi và các chất khác trong không khí tạo ra mưa axit làm giảm năng suất mùa màng, sản lượng lâm nghiệp và tạo ra các thiệt hại về cơ sở

hạ tầng, cũng như các vật liệu khác

Nhóm nghiên cứu CECM lượng hóa các ca bệnh viêm phổi mãn tính, bệnh về hô hấp, tim mạch và tỷ lệ tử vong ở trẻ em mà tác nhân chính là PM10 trong ô nhiễm không khí ở khu vực đô thị, Trung Quốc Đây là một nghiên cứu từ dưới lên trên (bottom-up analysis), được thực hiện ở cấp độ thành phố có phối hợp với cấp tỉnh và cấp quốc gia

Điểm khác biệt của nghiên cứu này là nó sử dụng các hàm phản ứng – mức độ tập trung ô

Trang 30

nhiễm của Trung Quốc mà không phải chỉ áp dụng đơn thuần phương pháp liều lượng đáp ứng như lý thuyết chung của quốc tế Trong nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp ứng tính sự sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân để giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em

và cách tiếp cận vốn con người có điều chỉnh (Adjusted Human Capital – AHC

approach), đây là phương pháp chính thống được sử dụng để lượng hóa các tổn thất về sức khỏe ở Trung Quốc

Kết quả là khi áp dụng phương pháp AHC để tính chi phí tử vong do PM10 sấp xỉ 0.8% GDP của Trung Quốc; ước tính về giá trị cuộc sống (value of statistical life – VLS) trong nghiên cứu ở Thượng Hải và Chongqing là 1 tỷ Yuan, chiếm 2.9% GDP Sử dụng phương pháp AHC tính được tổng thiệt hại về sức khỏe do ô nhiễm không khí là 1.2% GDP và sử dụng phương pháp VSL là 3.8% GDP Chi phí tử vong ước tính bằng 3/4 tổng thiệt hại về sức khỏe khi sử dụng cả hai phương pháp [56]

b) Phương pháp chi phí y tế (Medical costs approach)

Phương pháp này thường được sử dụng để lượng giá chi phí của bệnh tật do ô nhiễm môi trường gây ra Giống với phương pháp thay đổi năng suất, phương pháp này dựa trên hàm thiệt hại cơ bản Trong phương pháp chi phí sức khoẻ, hàm thiệt hại liên kết giữa mức độ ô nhiễm với mức độ tác động lên sức khoẻ

¾ Quy trình áp dụng

Có ba lựa chọn liên quan đến phương pháp chi phí sức khỏe

i) nghiên cứu dựa trên tỷ lệ mắc bệnh và phạm vi tác động của bệnh;

ii) nghiên cứu áp dụng phương pháp từ trên xuống và từ dưới lên;

iii) các chi phí trực tiếp và gián tiếp được xác định và đo lường như thế nào

• Tỷ lệ mắc bệnh và phạm vi tác động

Nghiên cứu dựa trên tỷ lệ mắc bệnh thường được sử dụng để đo lường tác động của các biện pháp phòng ngừa Tỷ lệ mắc bệnh được xác định là số ca bệnh trong một thời gian nhất định Bằng cách đo lường sự khác nhau trong số người mắc bệnh giữa hai năm, thì tác động của các biện pháp phòng ngừa được đo bằng số ca bệnh tránh được

Trang 31

Còn nghiên cứu dựa trên phạm vi tác động của bệnh thì xem xét tổng chi phí liên quan đến dịch vụ y tế, bao gồm cả chi phí phòng ngừa, điều trị và hồi phục Thậm chí còn xem xét cả tổn thất do bệnh tật và tử vong gây ra trong một khoảng thời gian nhất định

• Cách tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên

Từ trên xuống có nghĩa là dữ liệu về người bệnh được thu thập từ sổ sách của các tổ chức, bệnh viện công còn từ dưới lên nghĩa là thu thập số liệu sơ cấp trực tiếp từ người bệnh, ví dụ như sử dụng bảng hỏi Đôi khi có thể sử dụng cả hai cách trên

• Chi phí trực tiếp và gián tiếp

Trong lượng giá kinh tế có ba loại chi phí thường được đề cập, đó là chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và chi phí không nhìn thấy được Loại thứ ba thường là sự đau đớn,

lo lắng, sự chịu đựng do bệnh tật gây ra, chúng thường bị bỏ qua vì rất khó đo lường

Các chi phí trực tiếp là giá trị của nguồn lực thay vì tạo ra các hàng hóa, dịch vụ

khác thì nó được dùng để chi trả cho các dịch vụ y tế Theo cách tiếp cận chi phí cơ hội, chi phí trực tiếp được hiểu là các nguồn lực cần có để phòng ngừa, chuẩn đoán và điều trị bệnh Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào chi phí cho thuốc thang, điều trị nội trú và ngoại trú Chi phí đi lại từ nhà đến trung tâm y tế và thời gian chờ đợi cũng được xem là chi phí trực tiếp nhưng thường bị bỏ qua trong các nghiên cứu chi phí sức khỏe do chúng khó đo lường

Các chi phí gián tiếp xuất hiện khi khả năng làm việc của con người bị suy giảm Có

ba phương pháp dùng để đo lường chi phí gián tiếp, đó là: phương pháp vốn con người, phương pháp chi phí gián đoạn (friction cost method) và phương pháp sẵn lòng chi trả

- Phương pháp vốn con người đo lường tổn thất trong sản xuất, cụ thể là thu nhập của người bệnh bị mất Đối với các chi phí do tử vong hoặc ốm yếu, tàn tật vĩnh viễn thì phương pháp này đo lường bằng cách nhân thu nhập bị mất ở mỗi độ tuổi với xác suất sống đến tuổi đó Phương pháp này cũng tính đến cả công việc nội trợ, xem đó là chi phí

cơ hội của việc thuê lao động khác từ thị trường

- Phương pháp chi phí gián đoạn chỉ đo lường những tổn thất trong sản xuất trong khoảng thời gian thay lao động Nghĩa là, phương pháp này cho rằng, những tổn thất trong sản xuất sẽ được bù đắp bởi một lao động Còn mất công việc chỉ tạo ra chi phí trong thời gian một lao động mới được thuê và đào tạo lại mà thôi

- Phương pháp sẵn lòng chi trả đo lường khoản tiền mà cá nhân sẵn lòng chi trả để giảm khả năng mắc bệnh và khả năng tử vong

Trang 32

¾ Ưu điểm và hạn chế

• Ưu điểm:

Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong lý thuyết về kinh tế học môi trường khi không áp dụng phương pháp sẵn lòng chi trả, dễ áp dụng và dễ thu thập thông tin cho việc tính toán

Phương pháp này dùng phân tích giả định các đối tượng điều trị bệnh khi có tác động từ bên ngoài và họ không có biện pháp phòng ngừa nào, đồng thời bỏ qua chi phí tự điều trị để giảm rủi ro bệnh tật Loại trừ được những tổn thất phi thị trường do bệnh tật gây ra như đau đớn và sự chịu đựng của người bệnh và người nhà, hoặc sự hạn chế đối với các hoạt động khác ngoài công việc

Phương pháp dễ áp dụng để lượng giá các tác động môi trường khi các bệnh thường

là ngắn, tách biệt, và không có ảnh hưởng tiêu cực trong dài hạn

• Nhược điểm: Phương pháp này khó xử lý đối với các bệnh kinh niên khi giai đoạn

bệnh kéo dài

3.1.3 Phương pháp lượng giá thiệt hại cơ sở hạ tầng

Phương pháp giá hưởng thụ (hedonic price)

¾ Khái niệm

- Phương pháp giá theo hưởng thụ là phương pháp được sử dụng để đo lường giá trị kinh tế của dịch vụ sinh thái hoặc môi trường mà được phản ánh trực tiếp qua giá thị trường Phương pháp này thường được sử dụng trong việc định giá nhà đất

- Phương pháp này thường sử dụng để đo lường chi phí và lợi ích, như:

+ Chất lượng môi trường, bao gồm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước hay tiếng

tố chất lượng môi trường khi mua hàng hóa và dịch vụ

Quy trình thực hiện phương pháp này gồm 4 bước như sau:

- Xây dựng hàm giá hưởng thụ

Trang 33

- Thu thập số liệu

- Đánh giá sự tương quan giữa chất lượng môi trường và giá cả thị trường của hàng hóa

- Xây dựng đường cầu cho chất lượng môi trường

Bước 1: Xây dựng hàm giá theo hưởng thụ

Đầu tiên chúng ta cần xác định những thuộc tính mà có thể quyết định tới giá nhà đất trên thị trường Có thể chia thành 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng tới giá nhà đất

- Các đặc tính vật lý của nhà đất – chúng bao gồm: kích cỡ của căn hộ/ngôi nhà, số phòng, thang máy, dịch vụ giặt là…

- Các đặc tính vùng lân cận: hiện trạng của các dịch vụ công cộng tốt như giao thông, xử lý chất thải, hệ thống nước, chúng có thể là một nhân tố quan trọng trong việc quyết định giá nhà đất Một phương diện tương tự, như mức độ tội phạm, khoảng cách tới khu vực thương mại, trường học, công sở…cũng rất quan trọng

- Các đặc tính môi trường: khi chọn một địa điểm cho căn hộ/ngôi nhà, các cá nhân

sẽ xem xét mức độ ô nhiễm không khí, tiếng ồn, hay ô nhiễm mùi và các đặc tính môi trường khác

Ta có:

Giá P = f ( các đặc trưng vật lý, các đặc trưng khu vực lân cận, các đặc trưng về môi trường)

Hàm này có thể gọi là hàm giá theo hưởng thụ hay hàm hưởng thụ Việc xây dựng

hàm này dựa trên nguyên lý thống kê và giá sẵn sàng chi trả cho chất lượng môi trường

Bước 2: Thu thập số liệu

Để quá trình phân tích chính xác thì đòi hỏi rất nhiều số liệu Những dữ liệu mà chúng ta có thể quan sát được trên giá và các đặc trưng của những thuộc tính khác trong một thời kỳ đã cho thì gọi là dữ liệu dạng hàm Những dữ liệu sử dụng thông tin trên những thuộc tính thời gian (chuỗi thời gian) thì khó thu thập Dữ liệu có thể thu thập bằng cách khảo sát hoặc điều tra Số liệu này phải dựa vào mẫu điều tra trong thực tế, thường là mẫu câu hỏi chuẩn bị sẵn

Nhà nghiên cứu cần phải chắc chắn rằng thị trường đang vận hành tốt và không bị phân đoạn Hơn nữa, người dân cần phải thấy được sự khác nhau trong biến đổi môi trường giữa các khu vực lân cận Điều này đảm bảo giá nhà đất phản ánh được sự khác nhau trong thuộc tính môi trường

Bước 3: Đánh giá sự tương quan giữa chất lượng môi trường và giá cả thị trường

của hàng hóa

Trang 34

(Ước lượng giá ẩn của chất lượng không khí)

Các biến về khu vực lân cận và môi trường đã được xác định, hàm liên quan tới các biến này tới giá cả nhà đất được đo lường Mỗi tham số liên quan tới một thuộc tính của căn hộ làm ảnh hưởng tới giá của nó (ví dụ tham số về “chất lượng không khí”) Về cơ bản, có một sự thay đổi trong chất lượng không khí sẽ dẫn tới một sự thay đổi trong giá của nhà đất Lưu ý rằng, khi chất lượng không khí được cải thiện thì giá lại tăng, nhưng tăng với một tỷ lệ giảm dần Việc hồi quy được dùng để đánh giá một cách tốt nhất các tham số phù hợp với dữ liệu sẵn có

Hàm quan hệ giữa chất lượng không khí và giá ẩn (β) được biết đến trong lý thuyết như một hàm giá ẩn Hàm này cho phép ước tính giá trị WTP cho chất lượng không khí được cải thiện Hàm được minh họa trong hình 5 dưới đây:

Giá = αo + α1x Diện tích + … + βx Chất lượng môi trường không khí + …+ ε

Hình 8 Mối quan hệ giữa giá nhà đất và chất lượng môi trường không khí

Ghi chú: β cho thấy tỷ lệ thay đổi của chất lượng môi trường không khí tác động đến mức thay đổi trong giá nhà đất (giả thiết các biến khác không đổi)

Bước 4: Xây dựng đường cầu cho chất lượng môi trường

Quan sát giá của nhà đất sẽ cho ta một sự tương quan giữa cung và cầu nhà đất Tuy nhiên, chúng ta chỉ quan tâm tới việc đo lường đường cầu cho chất lượng không khí Trong bước 3, chúng ta đã xây dựng được một giá ẩn về chất lượng không khí Có thể áng chừng hiệu quả phúc lợi cho việc cải thiện chất lượng không khí Việc lượng giá đường

Chất lượng không khí Giá

nhà đất

Trang 35

cầu đòi hỏi hồi quy lần hai mà giá ẩn của chất lượng không khí là biến phụ thuộc và đặc trưng của các cá nhân là biến giải thích Hầu hết các nghiên cứu không tính đến bước thứ hai trong quá trình phân tích Sự lựa chọn tốt nhất của các nhà nghiên cứu là đo lường sự thay đổi phúc lợi trực tiếp từ hàm giá theo hưởng thụ Một sự thay đổi nhỏ trong chất lượng không khí không phải là một mối quan tâm Trong thực tế “giá ẩn” của chất lượng không khí bắt nguồn từ hàm giá theo hưởng thụ tương đương với “bằng lòng chi trả biên”

¾ Đánh giá các ưu nhược điểm của phương pháp

• Ưu điểm:

- Có thể đo lường giá trị dựa vào các lựa chọn thực tế của người tiêu dùng;

- Việc tìm kiếm thông tin và sử dụng phương pháp dễ dàng

- Cho phép phân tích các quyết định phức tạp liên quan đến chính sách và môi

trường;

- Phương pháp này là linh hoạt, và có thể được điều chỉnh để xem xét các tương tác

có thể có giữa thị trường hàng hóa và chất lượng môi trường

• Nhược điểm:

- Phương pháp này chỉ sử dụng được ở những nơi mà giá hàng hóa thông thường chứa đựng các yếu tố môi trường Phương pháp này chỉ tốt cho định giá có liên quan đến

bất động sản

- Trong trường hợp nếu sử dụng giá nhà, giá đất để thay thế thì thị trường bất động

sản cũng như việc bóc tách có nhiều phức tạp

- Định giá theo hưởng thụ là phương pháp rất nhạy cảm với dữ liệu đầu vào

3.1.4 Phương pháp hành vi thay đổi và ngăn ngừa

Phương pháp hành vi thay đổi và ngăn ngừa là một trong những phương pháp lượng giá thuộc cách tiếp cận sở thích bộc lộ dựa trên giả thiết rằng con người thực hiện các hành vi ngăn ngừa hoặc làm giảm nhẹ tác động của ô nhiễm ảnh hưởng đến họ (gọi là thay đổi hành vi) Phương pháp này (L Van Houtven) quan sát các hành vi tự bảo vệ bản thân chống lại ô nhiễm môi trường và thiệt hại về sức khỏe Phương pháp sử dụng thông tin về các hành vi này để lượng giá giá trị các cá nhân chấp nhận chi trả để giảm thiệt hại

do ô nhiễm

¾ Quy trình áp dụng

Phương pháp này được thực hiện dựa trên giả thiết các cá nhân nhận biết được mức

độ ô nhiễm của môi trường ảnh hưởng đến họ và thực hiện những hành đồng nhằm tránh

Trang 36

hoặc hạn chế các tác động tiêu cực từ sự ô nhiễm đó Áp dụng phương pháp hành vi thay đổi và ngăn ngừa được thực hiện qua các bước sau:

- Xác định mức độ ô nhiễm và số người bị tác động bởi sự ô nhiễm đó

- Quan sát phản ứng của các cá nhân đối với sự ô nhiễm

- Đo lường chi phí tạo ra từ các hoạt động ngăn ngừa của các cá nhân

Bước 1: Xác định mức độ ô nhiễm và số người chịu tác động của ô nhiễm

Các loại ô nhiễm có tác động làm con người thay đổi hành vi hoặc đưa ra các hành động ngăn ngừa là ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn từ hoạt động ở sân bay hoặc giao thông, suy thoái đất canh tác nông nghiệp Các thiết bị quan sát đóng vai trò rất quan trọng trong việc đo lường các thông số ô nhiễm và xác định các mức độ ô nhiễm

Một bước quan trọng tiếp theo trong phương pháp này là xác định số người chịu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường Phương pháp này dựa trên các quan sát và hoàn toàn phụ thuộc vào thông tin thu thập được từ những người chịu tác động của ô nhiễm Nếu các quan sát chỉ được thực hiện đối với những người bị tác động bởi ô nhiễm thì phân tích lượng giá sẽ không phản ảnh đầy đủ giá trị thiệt hại do ô nhiễm Nếu các quan sát được thực hiện với những người bị tác động nghiêm trọng bởi ô nhiễm, sau đó tổng quát hóa cho tất cả những người bị tác động bởi ô nhiễm thì phân tích lượng giá sẽ phản ánh quá mức so với giá trị thiệt hại do ô nhiễm Ngoài ra trong phân tích cần xem xét các yếu tố khác có ảnh hưởng đến phân tích lượng giá Trong trường hợp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí, khó xác định tất cả những người bị thiệt hại do ô nhiễm không khí bởi còn phụ thuộc vào các yếu tố thời tiết và mùa

Bước 2: Quan sát phản ứng của các cá nhân với ô nhiễm

Có nhiều cách thu thập thông tin về phản ứng của các cá nhân Cách thứ nhất là hỏi tất cả những người có nguy cơ chịu thiệt hại do ô nhiễm trong trường hợp số người chịu thiệt hại không quá lớn Cách thứ hai, thực hiện phỏng vấn một nhóm đại diện cho những người bị thiệt hại do ô nhiễm Bảng hỏi cần được thiết kế cẩn thận nhằm hạn chế các lỗi thông dụng như sai số mẫu, sai sót trong quá trình lập bảng hỏi và sai số do quan điểm cá nhân

Trong trường hợp chi phí thiệt hại không do người bị thiệt hại chi trả, ví dụ, thuốc được trợ cấp bởi chính phủ qua hệ thống y tế quốc gia Liệu rằng những chi phí này có được tính trong các phân tích quan sát hành vi của người bị thiệt hại? Câu trả lời là không, tuy nhiên nên tính đến những chi phí này Nếu những người bị thiệt hại nhận được đền bù hoặc không phải trả cho sự dùng thuốc men của họ thì những chi phí này nên được tính vào chi tiêu của họ Điều này không có nghĩa các cá nhân không sẵn lòng chi trả cho

Trang 37

những chi phí này, chỉ đơn thuần là đã có một cá nhân hay tổ chức nào đó chi trả cho những loại chi phí đó Các nhà nghiên cứu do đó sẽ xem xét tính thêm các chi phí xã hội trong chi phí đề phòng của các cá nhân và đưa những chi phí này vào các tính toán liên quan đến WTP Nếu những chi phí này không được tính đến thì phân tích lượng giá đó được coi và xử lý như một phân tính không phản ánh đầy đủ giá trị thật của WTP

Bước 3: Đo lường chi phí tạo ra từ hành động ngăn ngừa của các cá nhân

Bước cuối cùng là các hành động ngăn ngừa hoặc thay đổi hành vi của các cá nhân

bị thiệt hại do ô nhiễm cần được lượng giá theo giá trị tiền tệ Giá trị đo lường thường phụ thuộc vào các thay thế cho chất lượng môi trường, ví dụ như thiết bị lọc không khí Tuy nhiên, giá trị của các thay thế này có thể không phản ánh một cách hoàn hảo giá trị thiệt hại do ô nhiễm Ví dụ: tại một mức ô nhiễm nào đó con người vẫn có thể chịu đựng được

mà không thực hiện các hành vi ngăn ngừa hoặc chưa làm thay đổi hành vi của họ mà chỉ đến một mức ô nhiễm nhất định người bị thiệt hại mới bắt đầu có các phản ứng và làm phát sinh chi phí

Trong tất cả các trường hợp cần thiết phải tìm hiểu lý do tại sao người chịu thiệt hại lại thực hiện hoặc lựa chọn các hành vi đề phòng hoặc ngăn chặn và liệu rằng sự thay đổi hành vi của họ có đủ để hoàn toàn tránh được sự ô nhiễm

¾ Phân tích hạn chế của phương pháp

Là một phương pháp phức tạp bởi hai lý do xuất phát từ thực tiễn như sau:

- Một số hàng hóa hoặc dịch vụ chỉ thay thế được một phần cho chất lượng môi trường Ví dụ: Máy điều hòa không khí chỉ làm giúp một phần giảm ô nhiễm không khí Khi phân tích cần lưu ý rằng bệnh tật hoặc sự không thoải mái cần được đưa vào trong phân tích

- Một số hàng hóa hoặc dịch vụ tạo ra các lợi ích phi môi trường Ví dụ: máy điều hòa nhiệt độ có thể điều chỉnh nhiệt độ trong phòng tạo ra sự thoải mái cho người dùng Tương tự, trong trường hợp nước đóng chai, ngoài việc giảm bệnh tật do ô nhiễm nguồn nước mà còn có hương vị ngon hơn Những lợi ích tăng thêm này cần được xem xét trong nghiên cứu để tránh việc lượng giá quá mức cho các thiệt hại môi trường

Một hạn chế nữa của phương pháp này là dựa trên giả thiết người bị thiệt hại thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hoặc điều trị bệnh nhằm làm giảm tác động của ô nhiễm môi trường mà bỏ qua thực tế rằng các cá nhân có thể tự làm giảm tác động hoặc có thể chịu đựng tại một mức ô nhiễm nào đó dẫn đến sai lệch trong kết quả lượng giá thiệt hại

do ô nhiễm môi trường

Trang 38

3.1.5 Phương pháp đánh giả theo tình huống giả định (contingent valuation method)

¾ Khái niệm

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) là phương pháp được sử dụng để đánh giá hàng hoá chất lượng môi trường không dựa trên giá thị trường, đặc thù cho nhóm giá trị phi sử dụng Bằng cách xây dựng một thị trường ảo, người ta xác định được hàm cầu

về hàng hoá môi trường thông qua sự sẵn lòng chi trả của người dân (WTP) hoặc sự sẵn lòng chấp nhận khi họ mất đi hàng hoá đó (WTA), đặt trong một tình huống giả định trong bảng hỏi Thị trường thì không có thực, WTP thì không thể biết trước, ta gọi đây là phương pháp “ngẫu nhiên” là vì thế

Một khi tình huống giả thuyết đưa ra đủ tính khách quan, người trả lời đúng với hành động thực của họ thì kết quả của phương pháp là khá chính xác Các nhà phân tích sau đó có thể tính toán mức sẵn lòng chi trả trung bình của những người được hỏi, nhân với tổng số người hưởng thụ giá trị hay tài sản môi trường thì thu được ước lượng giá trị

mà tổng thể dân chi trả cho tài sản đó

¾ Quy trình áp dụng CVM

Mô tả: để thực hiện một CVM thành công, thực hiện theo 4 bước như sau:

Bước 1: Xây dựng thị trường giả định

Bước đầu tiên là xây dựng một thị trường giả định cho các dịch vụ môi trường Các kịch bản lượng giá cần được xác định rõ ràng, giải thích đầy đủ các hàng hoá môi trường được nói đến và bản chất sự thay đổi Để làm được điều này nên sử dụng các hình ảnh như ảnh chụp hoặc ảnh minh hoạ

Phải xác định rõ các tổ chức có trách nhiệm cung cấp hàng hoá và khả năng cung cấp hàng hoá của họ Điều này giúp người được hỏi nhìn thấy được hàng hoá đó được cung cấp trong thực tế như thế nào

Ví dụ về một kịch bản:

“Một toà nhà cổ ở trung tâm thành phố là một mẫu kiến trúc duy nhất từ giai đoạn những năm 1600 Mười năm qua nó đã hư hại nhiều do không được sửa chữa (đưa ra ảnh chụp trước và sau) Nếu không có sự can thiệp toà nhà sẽ càng xuống cấp và sẽ sụp đổ trong vòng 5 năm Chính quyền địa phương sẽ phải chi trả một khoản tiền để phục hồi nguyên trạng của nó mười năm trước Khoản tiền này sẽ được huy động bằng cách tăng thuế thu nhập”

Bước này cũng cần xác định các khoản chi trả là bao nhiêu Các khoản này thường được chi trả dưới dạng thuế, phí, giá thay đổi hoặc các khoản biếu tặng Bước này đòi hỏi phải tạo ra kịch bản về phương tiện chi trả hoặc đền bù dưới hai dạng sau:

Trang 39

Kịch bản đóng: Một hệ thống giá trị tiền tệ được xây dựng từ thấp đến cao hoặc từ cao xuống thấp Với dạng kịch bản này, chúng ta đã ấn định trước một mức giá cho người được hỏi lựa chọn lựa chọn

Kịch bản mở: Trong kịch bản này không ấn định mức giá trước mà thay vào đó, người được hỏi sẽ đưa ra mức giá bao nhiêu tiền

Mục đích của điều tra là xác định mức sẵn lòng chi trả lớn nhất để cải thiện môi trường (hoặc mức chi trả lớn nhất để ngăn chặn sự suy giảm chất lượng môi trường), ngoài ra là các thông tin về các yếu tố khác ảnh hưởng đến kết quả điều tra như học vấn, thu nhập

Các câu hỏi có tính liên tục như “Bạn có nghĩ rằng các dịch vụ môi trường sẽ cải thiện chất lượng môi trường cho công đồng bạn không?” cũng cần được đưa ra nhằm để hiểu được động lực nào phía sau mỗi người được hỏi Điều này giúp loại bỏ các câu trả lời “phản đối” (protest bids) hoặc không hợp lý

Bước 3: Phân tích các dữ liệu

Các thông tin thu thập được sử dụng trong nhiều cách khác nhau cho nhiều mục đích khác nhau Các đầu ra có thể thu được từ mỗi nghiên cứu CVM là:

WTP hay WTA trung bình

Giá (WTP hay WTA) thu thập được cho phép tính giá trung bình Giá trung bình này được sử dụng để đánh giá nhanh giá trị của tài nguyên đối với một bộ phận dân cư

Giá “phản đối” (protest bids) thường được loại khỏi quá trình tính toán Thay vì cho giá trị của nguồn tài nguyên bằng không thì giá phản đối được đặt bằng không Ví dụ, một người được hỏi từ chối bất kỳ khoản đền bù nào để mất đi một nguồn tài nguyên nhất định vì họ cho rằng chính phủ phải có trách nhiệm bảo tồn nguồn tài nguyên đó, hoặc đơn giản là anh ta không muốn tham gia vào cuộc phỏng vấn Như vậy yêu cầu đặt ra là phải nhận dạng và xử lý các số liệu ra khỏi quá trình tính toán

Trang 40

Giá trung bình sẽ dễ dàng được tính toán hơn nếu sử dụng phương pháp điều tra

“kịch bản đóng”, còn nếu sử dụng “kịch bản mở”, ví dụ như câu trả lời Yes/No, thì cần

phải sử dụng các kỹ thuật toán học để tính toán xác suất câu trả lời Yes với mỗi một khoản

tiền được đưa ra

Đường giá

Đường giá được xây dựng bằng cách sử dụng hồi quy toán học Lượng tiền WTP/WTA được coi là biến phụ thuộc, và thông tin về các biến số như thu nhập (I), tuổi (A), trình độ giáo dục (E) được thu thập trong quá trình điều tra được sử dụng như các biến giải thích

Hàm hồi quy : WTPi = f (Ii, Ei, Ai) trong đó i: người được hỏi thứ i

Đường giá cho phép dự đoán được lượng tiền sẵn lòng chi trả khi có sự thay đổi của các biến độc lập Ví dụ, “Mức lương cao hơn ảnh hưởng gì đến mức sẵn lòng chi trả cho cung cấp dịch vụ liên quan đến nước?”

ƒ Thứ ba là chọn một khoảng thời gian nhất định để tổng hợp lợi ích Việc lựa chọn này phụ thuộc vào bối cảnh áp dụng CVM Giá trị của dòng lợi ích môi trường qua thời gian thường được chiết khấu về thời điểm hiện tại

Bước 4: Đánh giá việc áp dụng CVM

Bước này đòi hỏi phải đánh giá việc áp dụng CVM thành công như thế nào Kết quả điều tra có cho tỷ lệ giá “phản đối” cao không? Có chứng cứ chứng minh người được hỏi hiểu được thi trường giả định không? Người được hỏi hiểu được bao nhiêu về hàng hoá môi trường được nói đến? Giả thiết rằng người được hỏi thể hiện sự sẵn lòng chi trả

để bảo tồn loài gấu trúc ở Trung Quốc, thì điều này thiếu tính tin cậy nếu người được hỏi không biết rõ về loài động vật này

Chất lượng một nghiên cứu CVM phụ thuộc vào chất lượng của cả quá trình tiến hành Ví dụ như sự chuẩn bị hay tiến hành điều tra Bảng hỏi là một phần quan trọng trong đánh giá ngẫu nhiên, bởi vì hầu hết các kết luận của nghiên cứu đều dựa trên thông tin lấy được từ những người trả lời bảng phỏng vấn Chính vì vậy, khi thực hiện bảng hỏi

Ngày đăng: 09/03/2015, 18:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[15]. Viện Đại học Mở Hà Nội – Bộ Giáo dục và đào tạo. 1996. Kinh tế môi trường. Hà Nội.II. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế môi trường
Tác giả: Viện Đại học Mở Hà Nội, Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1996
[20]. World Bank (2003), The cost of pollution in China, Washington D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: The cost of pollution in China
Tác giả: World Bank
Nhà XB: Washington D.C
Năm: 2003
[21]. World Bank (2007), Economic Estimates of Physical Damages: Cost of Pollution in China.III. Tài liệu Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Estimates of Physical Damages: Cost of Pollution in China
Tác giả: World Bank
Năm: 2007
[14]. Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Phương pháp lượng giá kinh tế các tổn thất môi trường sinh thái do sự cố tràn dầu đối với các hệ sinh thái biển, phù hợp với môi trường Việt Nam Khác
[16]. Minister of the Environment, Government of Canada (1999), Canada Environmental Protection Act Khác
[17]. Xiaoqi Guo, Timothy C. Haab and James K. Hammitt (2006). Contingent Valuation and the economic value of air pollution-related health risk in China Khác
[18]. WHO (2002), Global burden of disease in 2002: date sourses, methods and results, [19]. World Bank (1998), The Effects of Pollution on Health: The Economic Toll Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6: Vị trí hình ảnh vệ tinh 3 phường: địa điểm nghiên cứu - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
Hình 6 Vị trí hình ảnh vệ tinh 3 phường: địa điểm nghiên cứu (Trang 21)
Hình 11. Đánh giá chủ quan của người dân về tình trạng ô nhiễm không khí của khu - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
Hình 11. Đánh giá chủ quan của người dân về tình trạng ô nhiễm không khí của khu (Trang 91)
Hình 20. Đánh giá chủ quan của người dân về ảnh hưởng chất lượng không khí khu - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
Hình 20. Đánh giá chủ quan của người dân về ảnh hưởng chất lượng không khí khu (Trang 101)
Nhận xét: Qua kết quả bảng 21, hình 21 cho thấy có sự khác biệt giữa 2 vùng về ô - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
h ận xét: Qua kết quả bảng 21, hình 21 cho thấy có sự khác biệt giữa 2 vùng về ô (Trang 102)
Hình 22. Nhóm nghề nghiệp của đối tượng điều tra - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
Hình 22. Nhóm nghề nghiệp của đối tượng điều tra (Trang 108)
Hình 23: Tính toán chi phí thiệt hại của các ca bệnh ÔNKK - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
Hình 23 Tính toán chi phí thiệt hại của các ca bệnh ÔNKK (Trang 113)
Hình 1. Bản đồ địa hình thị xã Bỉm Sơn - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
Hình 1. Bản đồ địa hình thị xã Bỉm Sơn (Trang 146)
Hình  2. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất thị xã Bỉm Sơn - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
nh 2. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất thị xã Bỉm Sơn (Trang 147)
Hình 3. Ảnh vệ tinh 3D thị xã Bỉm Sơn - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
Hình 3. Ảnh vệ tinh 3D thị xã Bỉm Sơn (Trang 147)
Hình 2.  Sơ đồ qui trình lượng giá thiệt hại tổng thể sức khỏe do ô nhiễm không khí - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
Hình 2. Sơ đồ qui trình lượng giá thiệt hại tổng thể sức khỏe do ô nhiễm không khí (Trang 231)
Hình 1: Lựa chọn phương pháp lượng giá đối với từng loại tác động - Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ công tác xác định bồi thường thiệt hại và xử lý các vi phạm về môi trường
Hình 1 Lựa chọn phương pháp lượng giá đối với từng loại tác động (Trang 288)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w