Trong bối cảnh đó, Đề tài “Nghiên cứu, xây dựng các chỉ thị môi trường các đảo Việt Nam – Áp dụng thử nghiệm tại đảo Cồn Cỏ - Quảng Trị“ đã được triển khai với mục tiêu là nghiên cứu xây
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
Tác giả: - TS Lê Xuân Tuấn
- KS Nguyễn Hải Anh
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
ĐỀ TÀI “NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG CÁC CHỈ THỊ
MÔI TRƯỜNG CÁC ĐẢO VIỆT NAM-ÁP DỤNG THỬ NGHIỆM
TẠI ĐẢO CỒN CỎ, QUẢNG TRỊ”
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT 6
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Đặt vấn đề 9
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về chỉ thị môi trường 11
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về chỉ thị môi trường 20
1.2 Mục tiêu của đề tài 25
1.3 Cách tiếp cận 25
CHƯƠNG II PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, môi trường và kinh tế - xã hội các đảo ở Việt Nam 31
3.1.1 Vùng đảo ven bờ Bắc Bộ 32
3.1.2 Vùng đảo ven bờ Bắc Trung Bộ 33
3.1.3 Vùng đảo ven bờ Nam Trung Bộ 33
3.1.4 Vùng đảo ven bờ phía Đông Nam Bộ 34
3.1.5 Vùng đảo ven bờ phía tây Nam Bộ 34
3.1.6 Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 40
3.1.7 Tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu ở các vùng biển đảo 40
3.1.8 Định hướng phát triển kinh tế xã hội của các huyện đảo 48
3.2 Xây dựng bộ chỉ thị môi trường cho các đảo 58
3.2.1 Một số nguyên tắc, ưu tiên trong xây dựng bộ chỉ thị 58
3.2.2 Chỉ thị môi trường không khí 68
3.2.3 Chỉ thị môi trường nước mặt và nước ngầm trên đảo 74
3.2.4 Chỉ thị môi trường nước biển ven đảo 80
3.3 Áp dụng thử nghiệm xây dựng bộ chỉ thị tại đảo Cồn Cỏ 86
3.3.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu 86
3.3.2.Hiện trạng chất lượng môi trường nước, không khí khu vực huyện đảo Cồn Cỏ 93
3.3.3 Đa dạng sinh học 112
3.3.4 Áp dụng thử nghiệm bộ chỉ thị môi trường không khí 118
Trang 33.3.5 Áp dụng thử nghiệm bộ chỉ thị môi trường nước ngầm và nước mặt trên
đảo 126
3.3.6 Áp dụng thử nghiệm bộ chỉ thị môi trường nước biển ven đảo 134
3.4 Đề xuất bộ chỉ thị môi trường nước biển ven đảo Việt Nam 143
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 162
Kết luận 162
Kiến nghị 163
Lời cảm ơn 164
Tài liệu tham khảo 165
PHỤ LỤC 169
Trang 4Bảng 3.1 Phân vùng chức năng hệ thống đảo ven bờ Việt Nam 37
Bảng 3.2 Phân vùng hệ thống đảo ven bờ theo tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất (đơn vị tính: ha) 38
Bảng 3.3 Phân vùng hệ thống đảo ven bờ theo số lượng và diện tích các vùng 39
Bảng 3.4 Danh sách các khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2015 42
Bảng 3.5 Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm (0C) 87
Bảng 3.6 Lượng mưa trung bình tháng và năm (mm) 87
Bảng 3.7 Hệ thống giao thông đường bộ trên đảo Cồn Cỏ 90
Bảng 3.8 Đặc điểm khai thác của các lỗ khoan nước ngầm trên đảo 90
Bảng 3.9 Hàm lượng Bụi, NO2 và CO2 trên đảo ở các vị trí khác nhau 94
Bảng 3.10 Cấu trúc thành phần loài thực vật nổi khu vực huyện đảo Cồn Cỏ - Tỉnh Quảng Trị 113
Bảng 3.11 Tóm tắt kết quả áp dụng thử nghiệm bộ chỉ thị môi trường không khí ở đảo Cồn Cỏ 119
Bảng 3.12 Tóm tắt kết quả áp dụng thử nghiệm bộ chỉ thị môi trường nước ngầm, nước mặt trên đảo Cồn Cỏ 126
Bảng 3.13 Tóm tắt kết quả áp dụng thử nghiệm bộ chỉ thị môi trường nước biển ven đảo Cồn Cỏ 134
Bảng 3.14 Danh sách đề xuất bộ chỉ thị môi trường không khí cho các huyện đảo nhóm 1 145
Bảng 3.15 Danh sách đề xuất bộ chỉ thị môi trường nước mặt và nước ngầm trên đảo cho các huyện đảo nhóm 1 148
Bảng 3.16 Danh sách bộ chỉ thị môi trường nước biển ven đảo cho các huyện đảo nhóm 1 151
Bảng 3.17 Danh sách đề xuất bộ chỉ thị môi trường không khí cho các huyện đảo nhóm 2 154
Bảng 3.18 Danh sách đề xuất bộ chỉ thị môi trường nước mặt và nước ngầm trên đảo cho các huyện đảo nhóm 2 156
Bảng 3.19 Danh sách bộ chỉ thị môi trường nước biển ven đảo cho các huyện đảo nhóm 2 158
MỤC LỤC HÌNH
Trang 5Hình 1.1 Mô hình động lực - áp lực - trạng thái - tác động - thích ứng (Driving
forces - pressure - state - impact - response: DPSIR) của OECD 14
Hình 1.2 Mô hình thiết kế cấu trúc khối tính toán thang điểm của chỉ số đánh giá tính bền vững về môi trường (ESI) 17
Hình 1.3 Chỉ số bền vững về môi trường 18
Hình 3.1 Mô hình DPSIR tổng quát 61
Hình 3.2 Mối quan hệ giữa các thành phần trong mô hình DPSIR 62
Hình 3.3 Mô hình tháp dữ liệu và thông tin (Theo Hana, 2000) 63
Hình 3.4 Mô hình DPSIR áp dụng với lĩnh vực môi không khí 70
Hình 3.5 Mô hình DPSIR áp dụng với lĩnh vực nước mặt, nước ngầm 76
Hình 3.6 Mô hình DPSIR áp dụng với lĩnh vực nước biển ven đảo 83
Hình 3.7 Vị trí các điểm khảo sát tại khu vực đảo Cồn Cỏ (9/2011-8/2012) 93
Hình 3.8 Nhiệt độ không khí quanh đảo tại các vị trí nghiên cứu 93
Hình 3.9 Nhiệt độ nước biển ven bờ tầng mặt tại các vị trí nghiên cứu 95
Hình 3.10 Nhiệt độ nước ngầm và mặt trên đảo tại các vị trí nghiên cứu 95
Hình 3.11 Độ mặn nước biển quanh đảo tại các vị trí nghiên cứu 96
Hình 3.12 Độ dẫn điện tại các vị trí nghiên cứu 97
Hình 3.13 pH nước biển tầng mặt quanh đảo 97
Hình 3.14 pH nước ngầm và nước mặt trên đảo 97
Hình 3.15 Hàm lượng DO nước biển tầng mặt bao quanh đảo 98
Hình 3.16 Hàm lượng DO nước ngầm và nước mặt trên đảo 98
Hình 3.17 Hàm lượng BOD nước biển tầng mặt bao quanh đảo 99
Hình 3.18 Hàm lượng BOD nước ngầm và nước mặt trên đảo 99
Hình 3.19 Hàm lượng COD nước biển tầng mặt bao quanh đảo 100
Hình 3.20 Hàm lượng COD nước ngầm và nước mặt trên đảo 100
Hình 3.21 Nồng độ chất rắn lơ lửng trong nước biển ven đảo 101
Hình 3.22 Nồng độ chất rắn lơ lửng trong nước ngầm và nước mặt trên đảo 101
Hình 3.23 Hàm lượng NO3- nước biển tầng mặt bao quanh đảo 102
Hình 3.24 Hàm lượng NO3- nước ngầm và nước mặt trên đảo 102
Hình 3.25 Hàm lượng PO43- nước biển tầng mặt bao quanh đảo 103
Hình 3.26 Hàm lượng PO43- nước ngầm và nước mặt trên đảo 103
Hình 3.27 Hàm lượng NH4+ nước biển tầng mặt bao quanh đảo 104
Hình 3.28 Hàm lượng NH4+ nước ngầm và nước mặt trên đảo 104
Trang 6Hình 3.30 Chỉ số colifrom tại trong nước biển ven đảo 105
Hình 3.31 Chỉ số colifrom trong nước ngầm và nước mặt trên đảo 106
Hình 3.32 Nồng độ Cu tại các vị trí nghiên nước biển tầng mặt bao quanh đảo 106
Hình 3.33 Nồng độ Cu tại các vị trí nghiên nước ngầm và nước mặt trên đảo 107
Hình 3.34 Nồng độ Chì tại các vị trí nghiên nước biển quanh đảo 107
Hình 3.35 Nồng độ Chì tại các vị trí nghiên nước ngầm và nước mặt trên đảo 108
Hình 3.36 Nồng độ Crom tại các vị trí nghiên nước biển quanh đảo 108
Hình 3.37 Nồng độ Crôm trong nước ngầm và nước mặt trên đảo 108
Hình 3.38 Nồng độ Cadmin trong nước biển quanh đảo 109
Hình 3.39 Nồng độ Cadimin trong nước ngầm và nước mặt trên đảo 109
Hình 3.40 Nồng độ Asen trong nước biển quanh đảo 110
Hình 3.41 Nồng độ Asen trong nước ngầm và nước mặt trên đảo 110
Hình 3.42 Nồng độ Thủy ngân trong nước biển quanh đảo 111
Hình 3.43 Nồng độ Thủy ngân trong nước ngầm và nước mặt trên đảo 111
Hình 3.44 Nồng độ mỡ trung bình khu vực nước biển bao quanh đảo 111
Hình 3.45 Nồng độ độ Chlorophyll- a trung bình trong nước biển đảo Cồn Cỏ 112
Hình 3.46 Tỷ lệ % Thành phần loài thực vật nổi khu vực huyện đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị trong hai đợt khảo sát 114
Hình 3.47 Tỷ lệ % thành phần loài thực vật nổi khu vực huyện đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị T9/2011 114
Hình 3.48 Tỷ lệ % thành phần loài thực vật nổi khu vực huyện đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị T8/2012 114
Hình 3.49 Bản đồ ranh giới và các Phân khu chức năng Khu bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ 118
Trang 7TÓM TẮT
Vùng biển Việt Nam là vùng biển có giá trị tài nguyên, đa dạng sinh học cao và là vùng có tuyến hàng hải quốc tế quan trọng của Việt Nam và thế giới Với 12 huyện đảo (trong đó có 10 huyện đảo ven bờ và 2 huyện đảo xa bờ là Trường Sa và Hoàng Sa) của Việt Nam, các đảo là các khu vực
có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế biển cũng như vị thế chính trị, xã hội, quốc phòng quan trọng của cả nước Các đảo chịu ảnh hưởng trực tiếp và khá sâu sắc của chế độ hải dương, khí tượng thủy văn biển Trong những năm gần đây, các đảo đã được chú trọng phát triển kinh tế xã hội của khu vực này Bên cạnh những lợi ích từ kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, một số vấn đề môi trường, sinh thái đã nảy sinh ở các đảo Sự mất cân đối giữa khai thác, sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế xã hội đã xuất hiện Một số huyện đảo đã và đang phải đối diện với những tác động tiêu cực của sự phát triển các đô thị, các hoạt động công nghiệp và hải cảng, đối với môi trường, các hệ sinh thái, gây thiệt hại đến kinh tế, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và phúc lợi xã hội Công tác quản lý, hệ thống giám sát (monitoring), đánh giá và báo cáo hiện trạng môi trường đã được thiết lập trong nhiều năm qua Đó là công cụ quan trọng để cung cấp thông tin, số liệu - yếu tố đầu vào chủ chốt giúp các nhà lãnh đạo có cơ sở ra quyết định trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường Đồng thời, các kết quả giám sát môi trường sẽ được phổ biến rộng rãi giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về chất lượng môi trường Bộ chỉ thị môi trường không khí, nước lục địa và nước biển ven bờ đã được xây dựng và triển khai phục vụ cho công tác đánh giá, báo cáo môi trường từ năm 2009 Tuy nhiên, do có một số đặc thù biển đảo, cần phải xây dựng bộ chỉ thị môi trường phù hợp cho các đảo của Việt Nam Trong bối cảnh đó, Đề tài “Nghiên cứu, xây dựng các chỉ thị môi trường các đảo Việt Nam – Áp dụng thử nghiệm tại đảo Cồn Cỏ - Quảng Trị“ đã được triển khai với mục tiêu là nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị môi trường cho các vùng hải đảo Việt Nam, áp dụng thử nghiệm tại đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững các đảo Việt Nam
Trong nghiên cứu này, đề tài đã sử dụng tiếp cận quản lý tổng hợp, tiếp cận sinh thái, trên cơ
sở kế thừa các kết quả của các nghiên cứu trước đó trên thế giới và Việt Nam Mô hình Động lực –
Áp lực - Trạng thái - Tác động - Thích ứng (Driving forces - pressure - state - impact - response: DPSIR) đã được sử dụng là khung tiếp cận chính trong quá trình xây dựng bộ chỉ thị môi trường cho các đảo Việt Nam Phiếu chỉ thị môi trường sẽ được áp dụng theo Thông tư 09/2009-BTNMT về
“Quy định về xây dựng và quản lý các chỉ thị môi trường Quốc gia“ Lĩnh vực môi trường được giới hạn trong nghiên cứu này là: môi trường không khí, nước ngầm và nước mặt trên đảo, nước biển ven đảo Một số phương pháp nghiên cứu chính đã áp dụng trong nghiên cứu này là: Phương pháp thống
kê, đánh giá tài liệu; Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu điển hình hiện có của các đơn vị, tổ chức nghiên cứu khoa học liên quan đến chỉ thị môi trường; Phương pháp khảo sát thực địa nhằm cung cấp các thông tin đầy đủ hơn về đặc điểm của các hợp phần tự nhiên, tài nguyên môi trường sau khi đã nghiên cứu nội nghiệp; Phương pháp chuyên gia trong việc lựa chọn và đánh giá các chỉ thị môi trường; Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp Sau khi có đầy đủ các thông tin về khu vực nghiên cứu cần tiến hành phân tích và đánh giá tổng hợp để đưa ra những nhận xét và những hướng phát triển đúng đắn nhất phù hợp với tiềm năng vốn có của khu vực nghiên cứu
Nội dung của đề tài bao gồm các nghiên cứu chính như sau:
- Tổng hợp, phân tích tài liệu về chỉ thị môi trường trên thế giới và Việt Nam làm cơ sở phương pháp luận, đồng thời lựa chọn, xác định được phương pháp xây dựng bộ chỉ thị môi trường cho các đảo của Việt Nam
- Nghiên cứu, đánh giá các đặc trưng kinh tế - xã hội, môi trường, từ đó nêu bật các đặc điểm
Trang 8- Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị đánh giá môi trường cho các đảo Việt Nam trong các lĩnh vực: môi trường không khí, môi trường nước ngầm và nước mặt, môi trường nước biển ven đảo
Nghiên cứu áp dụng bộ chỉ thị môi trường tại đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị Từ đó, rút ra các khó khăn, thuận lợi, tính khả thi và đề xuất bộ chỉ thị môi trường cho các đảo Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của đề tài bao gồm các điểm chính như sau:
- Đánh giá, nêu lên các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường cơ bản cũng như định hướng phát triển kinh tế xã hội của các đảo Việt Nam
- Nghiên cứu đánh giá được các yếu tố động lực, áp lực, hiện trạng, tác động, thích ứng đối với môi trường không khí trên đảo, môi trường nước ngầm – nước mặt trên đảo, môi trường nước biển ven đảo Trên cơ sở đó, xây dựng bộ chỉ thị đánh giá môi trường cho các hải đảo Việt Nam đối trong lĩnh vực không khí, nước biển ven đảo, nước mặt - nước ngầm trên đảo
- Khảo sát, đánh giá điều kiện tự nhiên, môi trường, kinh tế xã hội của đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị
- Nghiên cứu, áp dụng bộ chỉ thị môi trường đã xây dựng tại đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị; Từ đó, nêu ra các khó khăn, thuận lợi, tính khả thi của bộ chỉ thị môi trường cho các đảo Việt Nam
- Đề xuất bộ chỉ thị môi trường cho các đảo Việt Nam
- Công bố 8 bài báo khoa học trên Hội thảo Quốc gia và Tạp chí Khoa học
- Đào tạo được 03 Thạc sĩ khoa học
Qua nghiên cứu, có thể rút ra những kết luận chính như sau:
- Các đảo, huyện đảo Việt Nam có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo
an ninh quốc phòng Với định hướng phát triển kinh tế biển, quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế của các huyện đảo, vấn đề môi trường đã và đang xuất hiện ở các huyện đảo
- Việc áp dụng mô hình DPSIR là phù hợp với việc phân tích nguyên nhân, hậu quả của các hoạt động kinh tế, xã hội đối với môi trường cũng như các giải pháp đáp ứng nhằm hạn chế hoặc ngăn ngừa các tác động tới môi trường, con người, đa dạng sinh học và sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản) trên quy mô huyện đảo
- Các chỉ thị động lực chính đối với môi trường các đảo là phát triển dân số, phát triển du lịch, vận tải hàng hải, phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, chế biển hải sản và một số loại hình sản xuất công nghiệp khác
- Các áp lực đối với môi trường không khí tập trung vào Thải lượng bụi và các khí ô nhiễm tổng số và theo ngành; Áp lực đối với môi trường nước ngầm và nước mặt là: Nhu cầu sử dụng nước, sự phát triển các bãi chôn lấp rác và nước thải theo các lĩnh vực; Áp lực đối với môi trường nước biển ven bờ là thải lượng chất ô nhiễm từ đất liền, ô nhiễm do rò rỉ, tràn dầu
và nạo vét luồng lạch ở khu vực biển gần các đảo
- Các biện pháp đáp ứng đối với lĩnh vực môi trường không khí bao gồm áp sử dụng nhiên liệu sạch hơn, các biện pháp quản lý môi trường, đầu tư cho BVMT, tăng diện tích cây xanh trên đảo; các biện pháp đáp ứng trong lĩnh vực môi trường nước ngầm và nước mặt tập trung vào kiểm soát nguồn nước thải đô thị và công nghiệp, phát triển nguồn nước sinh hoạt và sử dụng
hố xí hợp vệ sinh và các biện pháp quản lý, thu phí BVMT đối với nước thải; Các biện pháp đáp ứng đối với lĩnh vực môi trường nước biển ven đảo tập trung vào các biện pháp pháp luật
về môi trường biển và kiểm soát nguồn nước thải đô thị và công nghiệp thải trực tiếp vào nước biển
Trang 9- Huyện đảo Cồn Cỏ là huyện đảo có định hướng ưu tiên về bảo vệ an ninh quốc phòng, phát triển du lịch, nghề cá, kết hợp với bảo tồn đa dạng sinh học Hiện tại, các áp lực môi trường là nhỏ do vậy, hiện trạng môi trường không khí, môi trường nước mặt và nước ngầm trên đảo và môi trường nước biển ven đảo là khá tốt Việc áp dụng thí điểm bộ chỉ thị cho đảo Cồn Cỏ cho thấy có nhiều khó khăn về số liệu, đặc biệt là các số liệu quan trắc chất lượng môi trường không khí, môi trường nước mặt và nước ngầm trên đảo và môi trường nước biển ven đảo
- Bộ chỉ thị môi trường được đề xuất cho các huyện đảo Việt Nam bao gồm:
*) Nhóm 1: bao gồm các đảo có kinh tế phát triển, với định hướng ưu tiên phát triển đô thị, công
nghiệp, dịch vụ hàng hải, dịch vụ nghề cá kết hợp với bảo tồn đa dạng sinh học, thuộc các huyện đảo Vân Đồn, Cát Hải, Phú Quý và Phú Quốc
*) Nhóm 2: bao gồm các đảo kinh tế chưa phát triển, với định hướng ưu tiên phát triển nghề cá và
du lịch, kết hợp với bảo tồn đa dạng sinh học, thuộc các huyện đảo Cô Tô, Bạch Long Vỹ, Lý
Sơn, Cồn Cỏ, Kiên Hải, Côn Đảo, Hoàng Sa và Trường Sa
*) Nhóm 3: bao gồm các đảo chưa có người ở của các huyện đảo hoặc thuộc các huyện ven bờ
Đối với các đảo thuộc nhóm 3, bộ chỉ thị sẽ được áp dụng đối với môi trường nước biển ven đảo
Bên cạnh đó, có thể thấy, việc áp dụng sẽ được phân kỳ thành các giai đoạn: từ nay tới năm
2020 và sau năm 2020
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Đặt vấn đề
Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam, với khoảng trên 2700 hòn đảo phân bố dọc theo trên 3200 km bờ biển suốt từ Bắc vào đến Nam, có vị thế rất quan trọng Do phân bố trên biển, khu vực lãnh thổ này chịu ảnh hưởng trực tiếp và khá sâu sắc của chế độ hải dương, khí tượng thủy văn biển, là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển một số ngành kinh tế biển tiềm năng như du lịch, năng lượng, tham quan, nghỉ dưỡng, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, Bên cạnh đó, các đảo còn có tầm quan trọng đặc biệt, là “cửa ngõ” của đất nước trong giao lưu với quốc tế và khu vực, đảm bảo an ninh quốc phòng của cả nước
Một số nghiên cứu về hệ thống đảo ven bờ do các đơn vị nghiên cứu, các trường đại học và các địa phương đã được tiến hành, như công trình “Nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên dải ven biển và hải đảo ven bờ” mã số 48 B.05.01 do GS.TS Lê Đức An làm chủ nhiệm (1991); “Đặc điểm địa mạo của các đảo vùng thềm Việt Nam” của Lại Huy Anh, Võ Thịnh, Korotky A.M (1991); “Tiềm năng tài nguyên nước của hệ thống đảo ven bờ Việt Nam và triển vọng sử dụng chúng” của Ngô Ngọc Cát (1996); “Tài nguyên đất trên các đảo ven bờ Việt Nam” của Trần Quang Ngãi, v.v Trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (sau này là CHLB Nga) với Trung tâm KHTN & CNQG, các nghiên cứu về địa mạo, thổ nhưỡng và sinh thái đã được tiến hành trên một số đảo ven bờ (Ba Mùn, Phượng Hoàng, Thổ Chu và Bảy Cạnh, v.v ) Nhìn chung, các công trình này tập trung vào nghiên cứu từng hợp phần tự nhiên của hệ thống các đảo một cách
cụ thể, cung cấp tư liệu, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo Các đề tài, đề án thuộc các chương trình nghiên cứu Biển và các đề tài độc lập thuộc Chương trình các nhiệm vụ Biển Đông Hải đảo đã được triển khai thực hiện, trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu theo hướng địa lý tổng hợp như đề tài KT.03.12 “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội biển” do GS.TS Lê Đức An làm chủ nhiệm (từ năm 1994-1998)
Đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng những luận cứ khoa học cho công tác di dân ra đảo,
sử dụng hợp lý tài nguyên cũng như để phát triển KT-XH hệ thống đảo Các kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu này đã có những đề xuất, kiến nghị cho công tác khai
Trang 11thác, sử dụng tài nguyên các khu vực biển, đảo và nhất là đã hình thành nên một bộ tư liệu khá đầy đủ về tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên hệ thống đảo ven bờ nước ta
Trong những năm 2001-2004, trong khuôn khổ Chương trình Điều tra cơ bản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển do Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì thực hiện, GS.TS Lê Đức Tố làm chủ nhiệm đã nghiên cứu theo hướng kinh tế - sinh thái với đề tài “Luận chứng khoa học về một mô hình phát triển kinh
tế - sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam” Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển kinh tế sinh thái hải đảo, cung cấp bộ cơ sở dữ liệu (CSDL) về điều kiện tự nhiên và môi trường và đưa ra được các mô hình kinh tế - sinh thái ở một số đảo Năm 2006, TSKH Phạm Hoàng Hải đã chủ trì thực hiện đề tài: “Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế - xã hội; thiết lập cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho một số huyện đảo” Đề tài đã thiết lập cơ sở dữ liệu tương đối đầy đủ, đồng bộ về tài nguyên, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội các huyện đảo Đề xuất định hướng phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng cho một số huyện đảo (huyện đảo Cô Tô tỉnh Quảng Ninh và huyện đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi) và cho toàn hệ thống các huyện đảo của nước ta Ngoài ra, còn rất nhiều các công trình, các đề tài nghiên cứu khác về từng hợp phần cụ thể như địa mạo, địa chất, địa chất thủy văn, khí hậu, thủy văn trên các đảo của các cá nhân, các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học
Về phương diện hành chính, Việt Nam có 12 huyện đảo (trong đó có 10 huyện đảo ven bờ và 2 huyện đảo xa bờ là Trường Sa và Hoàng Sa) Có thể thấy, trừ một vài huyện đảo sát ven bờ, sự phát triển KT-XH của khu vực lãnh thổ này còn chậm so với yêu cầu của đất nước, đặc biệt trong bối cảnh mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế Tuy vậy, trong những năm gần đây, nhờ các chính sách phát huy tiềm năng các đảo, phát triển kinh tế biển và đảm bảo chủ quyền của đất nước nên tình hình kinh tế xã hội ở các huyện đảo đã
có nhiều khởi sắc Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ thì đã có những vấn đề môi trường nảy sinh như: rác thải, chất thải dân sinh, từ các khu nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất công nghiệp, cảng biển, hoạt động hàng hải, khai thác khoáng sản, dầu khí, vv Môi trường tự nhiên ở nhiều vùng biển ven các đảo bị xuống cấp Môi trường không khí, nước ngầm và nước mặt trên các đảo cũng bị tác động Những thách thức này tác động đến cuộc sống của người dân đảo, các hệ sinh thái ở các vùng biển đảo Như vậy, tồn tại các khó khăn, thách thức trong việc cân đối giữa nhu cầu phát triển, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên trên nguyên tắc phát triển bền vững, bảo vệ môi trường
Trang 12Trong bối cảnh đó, các vấn đề về quản lý môi trường, các công cụ quản lý môi trường đã được đề cập, thể hiện trong các văn bản pháp luật ở những năm gần đây Quản
lý tổng hợp vùng ven biển cũng đã được chú trọng, xây dựng và triển khai trong thời gian qua Tuy nhiên, cần thiết có một công cụ để có thể giám sát, đánh giá được sự thay đổi môi trường cũng như nguyên nhân, hậu quả của nó Giám sát (monitoring) môi trường được đánh giá là một công cụ quan trọng để cung cấp thông tin, số liệu - yếu tố đầu vào chủ chốt giúp các nhà lãnh đạo có cơ sở ra quyết định Đồng thời, các kết quả giám sát môi trường sẽ được phổ biến rộng rãi giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về chất lượng môi trường Thông tin về hiện trạng môi trường cần được diễn dịch thành dạng dễ hiểu giúp cho cơ quan chức năng có biện pháp trong việc quản lý môi trường Bộ chỉ thị môi trường là một trong những công cụ đang được áp dụng hiệu quả trong việc giám sát môi trường và đã được xây dựng đối với môi trường không khí, nước mặt lục địa, nước biển ven bờ ở Việt Nam Tuy nhiên, do các đảo có đặc thù riêng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, môi trường cũng như kinh tế xã hội nên việc xây dựng bộ chỉ thị môi trường các đảo Việt Nam là rất cần thiết
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về chỉ thị môi trường
Chỉ thị và báo cáo môi trường
Thuật ngữ chỉ thị đã được sử dụng khá phổ biến từ lâu Trước đây, trong khoa học
về Trái Đất, người ta đã sử dụng các chỉ thị (đất đá, thực vật…) để phát hiện các mỏ khoáng sản, các vành phân tán các nguyên tố… Trong sinh thái học, khoa học môi trường… người ta cũng sử dụng sinh vật là các dấu hiệu sinh học (bioindicator, biomarker) để quan trắc định tính sự phát triển của hệ sinh thái hoặc phát hiện biến động môi trường (chẳng hạn sự có mặt của lươn chỉ thị cho môi trường nước ngọt bị ô nhiễm) Khoảng vài thập kỷ qua, thuật ngữ chỉ thị môi trường và phát triển bền vững xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà khoa học, quản lý, hoạch định chính sách và công chúng về các thông tin lượng hóa trên cơ sở dữ liệu thu thập trong quá trình khảo sát, điều tra và quan trắc các hệ thống môi trường, tài nguyên, từ đó có được những giải pháp thích hợp cho phát triển bền vững Vì vậy, thuật ngữ chỉ thị môi trường ngoài nghĩa hẹp như tên gọi, người ta còn sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa rộng hơn, bao gồm cả các chỉ thị về sinh thái, tài nguyên
Chỉ thị có thể được hiểu là các tập hợp định tính/định lượng hoặc các thông số có thể đo đếm/quan sát được dùng để mô tả trạng thái hiện tại và xác định sự thay đổi hoặc
xu hướng theo thời gian Việc truyền đạt thông tin là chức năng chính của các chỉ thị: các
Trang 13chỉ thị phải có khả năng đảm bảo hay hỗ trợ việc trao đổi những thông tin liên quan đến vấn đề mà chỉ thị đang đề cập tới Các chỉ thị môi trường cung cấp những thông tin về các hiện tượng được coi là điển hình và/ hoặc đóng vai trò trọng yếu đối với chất lượng môi trường
Các chỉ thị là công cụ quan trọng trong công tác quản lý, có vai trò như một tín hiệu cảnh báo sớm về các vấn đề mới phát sinh hoặc cung cấp các thông điệp xúc tích cho cho cộng đồng và các nhà quản lý Như vậy, các chỉ thị thường được đơn giản hoá nhằm lượng hoá các hiện tượng phức tạp, nhờ đó cho phép hoặc tăng cường chia sẻ thông tin
cho các nhà hoạch định chính sách, các bên quan tâm khác và toàn xã hội
Do yêu cầu của các cơ quan quản lý, các báo cáo môi trường trình bày các thông tin dựa trên các đơn vị khác nhau như lưu vực sông, các hệ sinh thái hay các thành phần môi trường (đất, thảm thực vật, nước, ) Các vấn đề ưu tiên có liên quan của các báo cáo môi trường cũng khác nhau: như sự thiệt hại, ô nhiễm, các tác động, hậu quả kinh tế (Rump, 1996); US GAO 2004) Trong giai đoạn tiếp theo, các báo cáo môi trường hướng tới việc lựa chọn tập hợp các chỉ thị để mô tả, phân tích nhằm truyền tải các số liệu phức tạp về dạng thông tin tổng hợp, có thể thể hiện theo các chỉ số và chỉ ra được xu hướng thay đổi (CGER 2000; Keating, 2001)
Năm 1972, cộng đồng quốc tế nhận thấy nhu cầu phải có những báo cáo về môi trường định kỳ để có được những đánh giá, giám sát môi trường ở các cấp độ khác nhau: quốc gia, vùng (UNEP, 1972) Trong các báo cáo đầu tiên, hiện trạng môi trường và xu hướng thay đổi chất lượng môi trường đã được mô tả, tập trung vào các lĩnh vực không khí, nước ngọt, đất, tài nguyên biển, tài nguyên rừng, (Rump, 1996) Các chuỗi số liệu thường không đảm bảo cho yêu cầu phân tích xu thế Hơn nữa, mặc dù con người là một phần của môi trường, nhưng mối quan hệ giữa hoạt động của con người và sự thay đổi môi trường thường bị tách rời Canada là tổ chức đóng vai trò then chốt trong lĩnh vực phát triển báo cáo môi trường Sau năm 1992, các chỉ thị về phát triển bền vững đã được phát triển và sau đó được lồng ghép vào báo cáo môi trường (NIRO, 2003; SCOPE, 2003)
Khung tiếp cận
Vào cuối những năm 1970, Canada đã phát triển tiếp cận “sinh thái“, là sự tổng hợp của các khía cạnh kinh tế và sinh thái Khung tiếp cận “sinh thái“ là tiền đề cho việc phát triển “Mô hình áp lực – trạng thái – đáp ứng (PSR)“ được sử dụng rộng rãi hiện nay
Trang 14Friend, 1979) Khung này dựa trên cơ sở hành vi sinh thái với giải thuyết là: áp lực môi trường (áp lực lên hệ sinh thái), hiện trạng môi trường và đáp ứng của hệ sinh thái/hệ thống OECD đã loại bỏ đi thành phần „đáp ứng sinh thái“ trong khung STRESS “Đáp ứng“ được hiểu là đáp ứng của xã hội và khung này được chuyển thành “Mô hình PSR“ (OECD, 1991) Mô hình PSR giúp cho người phân tích kết nối giữa sự thay đổi môi trường và phản ánh tương tác giữa hoạt động của con người với các qúa trình sinh, hóa vật lý của môi trường (NIRO, 2003) Mô hình này trả lời cho các câu hỏi: cái gì xảy ra với môi trường? tại sạo lại xảy ra? Chúng ta làm gì để giải quyết vấn đề môi trường? Chỉ thị trạng thái mô tả các thông tin định lượng về điều kiện và xu hướng môi trường của các thành phần môi trường Các chỉ thị áp lực mô tả các áp lực tự nhiên cũng như do con người tạo ra và cả các động lực hay các yếu tố tiềm ẩn dưới các tác động của chính sách dẫn đến các áp lực trực tiếp như phát thải ô nhiễm hay khai thác tài nguyên, Các chỉ thị dáp ứng mô tả các chính sách/hành động của chính quyền, nhà quản lý, cộng đồng nhằm mục đích giảm thiểu các vấn đề về môi trường (UNDP, 2000; Pinter and Swanson, 2004)
Do vấn đề môi trường không chỉ là áp lực, trạng thái, đáp ứng mà bao gồm cả các
hoạt động kinh tế ban đầu, nên Mô hinh PSR được mở rộng thành Mô hình Driving forces - pressure - state - impact – response (DPSIR) trong đầu những năm 1990 (Hình
1.1) Mô hình DPSIR được mô tả là: các hoạt động của con người, áp lực, hiện trạng môi trường, tác động tới hệ sinh thái và vật chất/sức khỏe của con người, đáp ứng Mô hình đã được Cơ quan môi trường châu Âu áp dụng vào năm 1995 (EEA, 1995) trong công tác quản lý, biên soạn báo cáo môi trường của mình và sau đó được sử dụng rộng rãi Tunner
và cộng sự (1997) đã áp dụng Mô hình DPSIR để phân tích quản lý tổng hợp các hệ sinh thái, đới bờ biển
Trang 15Hình 1.1 Mô hình động lực - áp lực - trạng thái - tác động - thích ứng (Driving forces -
pressure - state - impact - response: DPSIR) của OECD
Theo báo cáo kỹ thuật số 24 của Cơ quan môi trường châu Âu (EEA), năm yếu tố cấu thành chuỗi DPSIR bao gồm (EEA, 1999):
- Động lực thường là các yếu tố vĩ mô, ảnh hưởng gián tiếp đến hệ tự nhiên, hay là
“nguyên nhân sâu xa” Các chỉ thị động lực mô tả các hoạt động xã hội, nhân khẩu học và kinh tế trong xã hội Chúng có thể gây ra những thay đổi ở mức độ tổng thể trong sản xuất
và tiêu dùng, do đó những thay đổi này gây áp lực đối với môi trường
- Các chỉ thị áp lực thường mô tả các thông tin định tính và định lượng về việc xả
nước thải, phần dư của ứng dụng từ các đại lý sinh học và hóa học, sử dụng đất đai và các nguồn tài nguyên khác, v…v… Những áp lực được gây ra bởi mô hình sản xuất và tiêu thụ của xã hội sau đó được chuyển đổi theo một loạt các quá trình mà có thể dẫn đến những thay đổi trạng thái của môi trường Như vậy, áp lực là các nguyên nhân trực tiếp của vấn đề, chúng gây nên sự thay đổi trạng thái (môi trường, hế thống sinh kế) Sự thay đổi này dẫn đến các tác động mang tính lâu dài, trên diện rộng như sự thay đổi các quá trình, chức năng của hệ tự nhiên
- Các chỉ thị hiện trạng cung cấp thông tin về trình độ, chất lượng và/ hoặc số
lượng của hiện tượng vật lý, sinh học và hóa học trong một thời điểm nhất định Chúng thường thay đổi chậm và những thay đổi đó có thể gây ra những tác động môi trường và kinh tế đối với hệ sinh thái, sức khỏe con người, về kinh tế và phúc lợi xã hội của toàn bộ
xã hội
- Các chỉ thị tác động có liên quan đến các hậu quả của sự thay đổi trạng thái môi
trường Hậu quả của các áp lực là làm thay đổi các sản phẩm mà con người khai thác từ
hệ tự nhiên, phúc lợi xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, các giá trị tồn tại, bảo tồn Thông thường, những tác động này có thể xảy ra chậm hơn sự thay đổi trạng thái và không thể trực tiếp và ngay lập tức thay đổi bằng việc ứng phó
- Các chỉ thị ứng phó mô tả những nỗ lực của xã hội (Chính phủ, tổ chức, hiệp hội
và cá nhân) để ngăn ngừa hay làm giảm những ảnh hưởng tiêu cực của các thay đổi trạng thái Điều đó đòi hỏi các bên tham gia (stakeholders) có những giải pháp thích ứng với sự thay đổi của trạng thái Mặc dù xu hướng của chung của mô hình là làm giảm các áp lực, nhưng trong một số trường hợp, việc giảm áp lực này có thể làm tăng áp lực khác Các
Trang 16phản ứng có thể được kết cấu trong nghiên cứu, quy định, nhận thức và sự tham gia cộng đồng, hợp tác với các quyết định cấp hoặc những vùng lãnh thổ khác
Những động lực thường bắt nguồn từ các ngành kinh tế của xã hội như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng Một loại áp lực có thể sinh ra từ một ngành cụ thể của xã hội hoặc từ nhiều ngành Tương tự, các hoạt động trong một ngành
cụ thể có thể tạo ra 1 vài hoặc một chuỗi những áp lực khác nhau vì thế ảnh hưởng tới 1 vài hoặc nhiều vấn đề/chủ đề môi trường Mức độ áp lực do các hoạt động của một ngành
cụ thể gây ra tuỳ thuộc vào mức độ và loại hình hoạt động, công nghệ áp dụng khi tiến hành hoạt động cũng như “hành vi môi trường” của những người đang thực hiện các hoạt động đó Ba yếu tố: hoạt động, công nghệ và hành vi chính là các điểm trọng tâm của các chính sách và biện pháp mà xã hội có thể áp dụng nhằm giảm các áp lực đối với môi trường
Hiện trạng môi trường thường được mô tả theo hiện trạng vật lý, hoá học cũng như sinh học của môi trường Hiện trạng vật lý gồm những vấn đề thuỷ văn, khí tượng, thuỷ động lực, cảnh quan và tài nguyên thiên nhiên Hiện trạng hoá học gồm chất lượng không khí, nước và đất tính theo thành phần và nồng độ các chất khác nhau trong những môi trường này
Những tác động vào tự nhiên có thể là làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm suy yếu các chức năng đang vận hành rất tốt của nhiều hệ sinh thái khác nhau (sông,
hồ, rừng ), hoặc nói theo một cách khác là làm giảm tính đa dạng sinh học Những tác động này cũng bao gồm việc làm cạn kiệt hoặc phá huỷ nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất nông nghiệp Những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ do những vấn đề môi trường gây ra là một khía cạnh quan trọng của những tác động tới con người, hoặc thậm chí trong một số trường hợp còn có khả năng đe doạ tới mọi sinh kế của con người Tác động lên nguồn lực nhân tạo gồm rất nhiều loại tổn thất khác nhau (ví dụ xói mòn, lũ lụt) làm giảm thời gian tồn tại và chức năng của nguồn lực này
Trên cơ sở những đánh giá về các tác động không mong muốn, mô tả một cách hệ thống bức tranh cũng như tổng quan về những tác động tương hỗ giữa chất lượng môi trường, các áp lực và các hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau mà mô hình DPSIR đưa ra, xã hội sẽ có các biện pháp đáp ứng để chống lại những tác động không mong muốn này Việc áp dụng các biện pháp đáp ứng này hàm chứa việc đưa ra những vấn đề
ưu tiên, đặt ra những mục tiêu về môi trường và xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp về môi trường (hoặc những điều chỉnh hợp lý các chính sách ngành) Những chính
Trang 17sách và biện pháp này có thể bao gồm cả những biện pháp về pháp lý và những biện pháp tài chính, những biện pháp thuyết phục, đầu tư và các hoạt động công cộng, thông tin, hướng dẫn và tư vấn
Mô hình DPSIR có thể cung cấp một khung linh hoạt theo đó các phân tích có thể
hỗ trợ trong các công tác sau:
- Nâng cao hiểu biết về tính phức tạp của những liên kết và những phản hồi giữa các yếu tố nguyên nhân - hậu quả trong các vấn đề về môi trường
- Xác định các chỉ thị để giải thích và định lượng những liên kết và những phản hồi này
Các chỉ thị môi trường trong phát triển bền vững
Bên cạnh đó, có một số mô hình/tiếp cận khác của các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực môi trường và phát triển bền vững để có một số phép đo nhằm đánh giá tổng thể mức bền vững Ví dụ một dạng “GDP xanh” như Chỉ số thịnh vượng kinh tế bền vững (ISEW) Các chỉ số được tính toán dựa theo các giả thiết ưu tiên là những ví dụ về các chỉ thị có khả năng diễn đạt những thông điệp phức tạp như “Xét một cách toàn diện thì liệu chúng
ta có thịnh vượng hơn không?” Tuy nhiên rất khó xây dựng được các chỉ số loại này và quy trình xây dựng rất phức tạp
Chương trình nghị sự 21 đã đưa ra các chỉ thị phát triển bền vững (SD) cấp quốc gia, vùng và toàn cầu Trong giai đoạn tiếp theo (1995 – 2000), Hội đồng PTBV LHQ (UN/CSD) đã đề xuất và khuyến nghị áp dụng Bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững về môi trường theo 05 lĩnh vực, 13 chủ đề và tổng số 19 chỉ thị Tuy nhiên, đây là cách tiếp cận còn khá thô, rời rạc, thiên về thử nghiệm và kiểm chứng thực tiễn bước đầu về khả năng đánh giá định lượng hoá tính bền vững trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, song cũng đã được khá nhiều quốc gia ủng hộ và triển khai cụ thể hoá vào điều kiện phát triển
cụ thể của nước mình
Chỉ số bền vững môi trường Environmental Sustainability Index (ESI) do trường đại học Yale và Columbia thiết lập Sau năm 2000, Hội đồng PTBV LHQ (UN/CSD) đã đưa ra áp dụng Bộ chỉ số đánh giá tính bền vững về môi trường (ESI) của các nước gồm 5 chủ đề chính, 21 chỉ thị và 76 biến số có tính chất khá bao quát về tài nguyên, môi trường, sinh thái, thể chế, xã hội Từ năm 2001, hàng năm UN/CSD đều có phát hành Bảng chỉ thị đánh giá tính bền vững về môi trường của các nước, với thang bậc xếp loại thứ hạng vị trí cao - thấp cụ thể giữa các quốc gia và các nhóm khu vực quốc gia
Trang 18Mô hình thiết kế cấu trúc khối tính toán thang điểm của chỉ thị đánh giá tính bền vững về môi trường (ESI) được trình bày tại hình 1.2
Hình 1.2 Mô hình thiết kế cấu trúc khối tính toán thang điểm của chỉ số đánh giá tính bền
vững về môi trường (ESI)
Chỉ số này đã được cập nhật vào năm 2005, được tổng hợp từ 76 chỉ thị khác nhau bao trùm các lĩnh vực môi trường, kinh tế và quản lý đặc biệt quản lý môi trường Điểm tối đa của chỉ số này là 100 điểm Năm 2005, Phần Lan là nước đạt chỉ số cao nhất với 75 điểm Việt nam cũng đã được đưa vào danh sách các nước tính chỉ số Việt nam đạt 42.3 điểm và đứng thứ 127 trong số 146 nước trong danh sách (hình 1.3)
Trang 19Hình 1.3 Chỉ số bền vững về môi trường Tuy có một số quốc gia đã ứng dụng các bảng xếp hạng của UN/CSD, Tổ chức OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) và Tổ chức các nước nằm ngoài OECD (điển hình ở khu vực ASEAN là Philippin) vào việc phân tích và hoạch định chính sách PTBV về tài nguyên và môi trường, song cơ bản các bảng ESI này còn có độ tương thích chưa cao, cho thấy vấn đề xây dựng Bộ chỉ số, chỉ thị, biến số PTBV về tài nguyên và môi trường trên thế giới còn chưa được giải quyết triệt để, chưa thống nhất và tiếp tục phải hoàn thiện
Bộ chỉ số thành tựu về môi trường - Environmental Performance Index (EPI) đã được phát triển trên cơ sở bộ chỉ số ESI là phương pháp cho điểm về chất lượng và số lượng các thành tựu đạt được khi thực hiện các chính sách môi trường Bộ chỉ số này đã được công bố vào các năm 2006, 2008, 2010 và 2012 Trong năm 2012, báo cáo về EPI
đã xếp hạng các quốc gia, chỉ ra các nước có xu hướng cải thienej môi trường và các nước
mà thành tựu môi trường có xu hướng giảm đi
Trang 20Một số nước phát triển như Thụy Điển; Vương Quốc Anh (Châu Âu) và Hoa Kỳ (Mỹ) có phương pháp xây dựng Bộ chỉ thị theo tính hệ khá thống nhất và hài hoà giữa kinh tế - xã hội - thể chế và môi trường Ví dụ, Thụy Điển có 30 tiêu chí phát triển bền vững thuộc 4 nhóm chủ đề, trong đó có các tiêu chí sau đây liên quan đến tài nguyên và môi trường:
• Chất thải
• Phát thải CO2
• Các loài quý hiếm có nguy cơ tiệt chủng
• Khai thác cá trích ở biển Bantic
• Diện tích rừng được bảo vệ
• Tổng nhu cầu tiêu thụ năng lượng theo GDP
Có thể thấy rằng tuỳ thuộc mức độ phát triển và tình hình thực tế của mỗi nước, bộ tiêu chí và số lượng các tiêu chí phát triển bền vững có thể khác nhau, song các tiêu chí về tài nguyên và môi trường đều theo những chủ đề chính giống nhau và tương đồng với những tiêu chí do Tổ chức UN/CSD đề xuất
Một số nước đang phát triển như Philippin, Indonexia, Thái Lan (ASEAN) và Trung Quốc có phương pháp xây dựng Bộ chỉ thị theo thành phần tài nguyên và môi trường quan tâm
Phillippin có tiêu chí về phát triển bền vững liên quan đến môi trường như sau: Vấn đề toàn cầu Tiêu chí phát triển bền vững
Tiêu dùng bình quân đầu người sản phẩm có tác động đến tầng ozone
Khí hậu Tiêu dùng bình quân đầu người năng lượng hoá thạch
của phương tiện giao thông Chi phí bảo vệ môi trường tính theo GDP (%) Thay đổi độ che phủ
của đất
Tỷ trọng nhập khẩu hàng hoá có tác động tới môi trường
Năm 1999 Indonesia đã lựa chọn 21 tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia, trong đó có 4 tiêu chí liên quan trực tiếp đến tài nguyên và môi trường:
• Phát thải khí CO2
Trang 21• Diện tích rừng so với diện tích tự nhiên
• Số người được sử dụng nước sạch
• Tỷ lệ số hộ có phương tiện xử lý chất thải hợp vệ sinh
Thái Lan đã lựa chọn 16 chỉ tiêu phát triển bền vững chủ yếu, trong số đó có 2 chỉ tiêu về tài nguyên và môi trường là Tiếp cận nước sạch và Tiêp cận vệ sinh
Như vậy, xây dựng chỉ thị đánh giá môi trường trường phục vụ hoạch định chính sách phát triển bền vững đã được các cơ quan (quản lý và nghiên cứu) của nhiều quốc gia trên thế giới tiến hành, triển khai trong thực tế Có thể thấy, các phương pháp xây dựng và
áp dụng hệ thống chỉ thị đánh giá môi trường dựa trên quan điểm tổng hợp, phát triển bền vững, phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý nhà nước tài nguyên – môi trường Các kết quả nghiên cứu đề xuất đã có những sự khác biệt khá lớn về số lượng các vấn đề môi trường quan tâm và số lượng các chỉ thị áp dụng Các yêu cầu đánh giá cho từng vấn đề môi trường quan tâm cũng có những quan điểm tiếp cận nghiên cứu khá khác nhau Trong quá trình xây dựng các chỉ thị, khung tiếp cận DPSIR cũng đã được áp dụng khá linh hoạt
và rộng rãi Việc học tập kinh nghiệm thực tiễn của các nước, kế thừa, điều chỉnh cho phù hợp với thể chế, chính sách và thực tế công tác quản lý tổng hợp và thống nhất biển và hải đảo của Việt Nam trong quá trình xây dựng bộ tiêu chí, chỉ thị về môi trường là rất cần thiết và phù hợp với điều kiện thực tế
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về chỉ thị môi trường
Ở Việt Nam, trong một số công trình đã đề cập đến các chỉ thị môi trường và phát biển bền vững tài nguyên Năm 1996, Cục Môi trường đã phối hợp với Trung tâm Môi trường và Phát triển Bền vững (MT&PTBV) nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị môi trường ở nước ta, trên cơ sở phương pháp luận của UNEP, EPA-AP (trong đó chia thành 6 vấn đề lớn, 20 vấn đề cụ thể) và theo 3 bước: Áp lực (Pressure), Tình trạng (State) và Đáp ứng (Response), gọi tắt là PSR [OECD, 1993] Đã có 80 chỉ thị, trong đó 33 chỉ thị xây dựng trong năm 1997, 47 chỉ thị trong năm 1998, phân thành 8 nhóm Kết quả là đã có được bộ chỉ thị môi trường đầu tiên của Việt Nam bao gồm 16 vấn đề lớn, 20 vấn đề cụ thể với 80 chỉ thị sau khi rà soát số lượng CTMT do Cục MT đề xuất (16 vấn đề lớn, 69 vấn đề cụ thể) Mẫu phiếu chỉ thị gồm 10 mục:
1 Tên chỉ thị
2 Ký hiệu chỉ thị
Trang 224 Thuộc vấn đề
5 Thuyết minh về chỉ thị
6 Trị số của chỉ thị
7 Trị số của chỉ thị 5 năm trước
8 Mục tiêu phấn đấu của chỉ thị
9 Nguồn cung cấp dữ liệu
10 Sơ đồ
Năm 1998, Bộ chỉ thị được Cục Môi trường ban hành thử nghiệm gồm 44 chỉ thị, trong đó: Môi trường đất có 7 chỉ thị; nước trên lục địa có 5 chỉ thị; nước biển có 4 chỉ thị; không khí có 6 chỉ thị; chất thải rắn có 3 chỉ thị; đa dạng sinh học có 11 chỉ thị và sự
cố môi trường có 8 chỉ thị Ngoài ra, lĩnh vực quản lý môi trường cũng được đề xuất Bộ chỉ thị gồm 16 chỉ thị
Năm 1999, đề tài trong khuôn khổ “Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam” đã đề xuất bộ chỉ thị phát triển bền vững (được gọi là tiêu chí) gồm 30 chỉ thị, trong đó có 4 chỉ thị về kinh tế, 15 chỉ thị về xã hội và 11 chỉ thị về môi trường
Năm 2002, Viện Môi trường và Phát triển bền vững, thuộc Hội Bảo vệ thiên nhiên
và môi trường/Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam đã tiếp tục nghiên cứu kế thừa các kết quả trước và kiến nghị bộ chỉ thị phát triển bền vững gồm 34 chỉ thị cấp quốc gia Trong
đó có 4 về kinh tế, 12 về xã hội, 14 về môi trường và 4 về đáp ứng của xã hội với yêu cầu PTBV Từ các chỉ tiêu PTBV quốc gia đề tài cũng đã kiến nghị bộ chỉ thị PTBV cho cấp
cơ sở là cấp xã với 29 chỉ thị, trong đó 6 về kinh tế, 10 về xã hội, 10 về môi trường và 3
về đáp ứng Những chỉ thị môi trường được đề cập tới bao gồm: Diện tích nhà ở/người; Diện tích đất thổ cư/người; Chất lượng không khí khu đô thị và công nghiệp; Chất lượng môi trường nước sông, hồ tự nhiên; Tỷ lệ rác thải được thu gom và xử lý; Diện tích các khu bảo tồn/ diện tích lãnh thổ; Tổng lượng xả thải các khí nhà kính; Tổng thiệt hại do thiên tai và sự cố môi trường
Năm 2003, Hội Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam đề xuất Bộ chỉ thị PTBV về tài nguyên và môi trường gồm 17 chỉ thị, và Bộ chỉ thị rút gọn gồm 10 chỉ thị Năm 2005, trong khuôn khổ dự án VIE/01/21 của Viện Chiến lược và Phát triển thuộc Bộ Kế hoạch
và Đầu tư đã thực hiện đề tài “Xác định bộ chỉ tiêu PTBV và cơ chế xây dựng cơ sở dữ liệu PTBV ở Việt Nam” dựa trên các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010, Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa nghèo Đề
Trang 23tài đã đề xuất bộ Chỉ thị PTBV của Việt Nam bao gồm 14 chỉ thị về xã hội, 5 chỉ thị về môi trường, 7 chỉ thị về kinh tế và 6 chỉ thị về thể chế Những chỉ thị về lĩnh vực môi trường bao gồm: Đất canh tác và diện tích cây lâu năm; Đất canh tác được thủy lợi tưới, tiêu; Tỷ lệ che phủ rừng; Diện tích đất thành thị chính thức; Diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên so với tổng diện tích
Từ tháng 8/2003 với sự giúp đỡ của DANIDA thông qua Chương trình Hỗ trợ Môi trường của Đan Mạch đối với Việt Nam dự án “Thông tin và báo cáo môi trường (EIR)”
do Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) quản lí, trong đó có nội dưng rất quan trọng, làm cơ sở cho các thông tin và báo cáo môi trường là xây dựng bộ chỉ thị môi trường đã được triển khai Dự án này sử dụng mô hình DPSIR hoàn chỉnh hơn, tách áp lực (P) làm 2: Động lực (hay nguyên nhân sâu xa D) và Áp lực (hay nguyên nhân trực tiếp P) Dự án này hạn chế cho 3 lĩnh vực là môi trường không khí, nước mặt lục địa và nước biển ven
bờ Dự án đã đưa ra các khuôn mẫu thống nhất cho 5 loại chỉ thị môi trường D, P, S, I, R
và xây dựng các chỉ thị môi trường theo 5 loại đó ở cấp trung ương Còn ở cấp tỉnh/thành,
đã có 4 tỉnh/thành xây dựng các chỉ thị môi trường cho các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hà Nam, Thái Nguyên, Quảng Nam
Năm 2006, TS Chế Đình Lý, Viện Môi trường và Tài nguyên – ĐHQG Thành phố
Hồ Chí Minh đã sử dụng mô hình DPSIR trong nghiên cứu và áp dụng hệ thống chỉ thị môi trường trên phạm vi lưu vực sông Sài gòn - Đồng Nai Lê Xuân Tuấn và cộng sự, năm 2006 cũng áp dụng mô hình Mô hình DPSIR trong nghiên cứu của mình vào công tác quản lý tổng hợp tài nguyên vùng ven biển nhằm đánh giá hiện trạng tài nguyên, việc khai thác và quản lý tài nguyên ở cấp địa phương trên cơ sở tiếp cận quản lý tổng hợp đới
bờ; qua đó, xác định những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý ở vùng ven biển
Thái Bình
Năm 2007, Phạm Hồng Nga, Đại học Thủy lợi cũng đã sử dụng phương pháp đánh giá tổng hợp DPSIR trong việc xây dựng bộ thông số chỉ thị cho chiến lược giám sát vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế, từ đó giúp phân tích và đánh giá chuỗi quan hệ nhân quả, ảnh hưởng của hoạt động kinh tế xã hội và quá trình tự nhiên tới chất lượng môi trường và đa dạng sinh học
Luận án tiến sỹ “Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên vùng biển ven
bờ Đông Bắc Việt Nam trên cơ sở xây dựng chỉ thị môi trường’’ đã đề xuất 30 chỉ thị môi trường phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên vùng biển ven bờ Đông Bắc, gồm
09 chỉ thị sức ép, 18 chỉ thị hiện trạng và 03 chỉ thị phản hồi (Trần Đình Lân, 2007) Luận
Trang 24án đã bước đầu góp phần phát triển lý luận về quản lý đới bờ biển ở vùng biển ven bờ Đông Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung, hình thành các công cụ giúp cho các nhà khoa học, nhà quản lý và hoạch định chính sách, cũng như cộng đồng có thể giám sát và đánh giá khách quan về tác động của các chính sách, kế hoạch phát triển cũng như bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Phát triển và kế thừa nghiên cứu của mình trong luận án tiến sĩ, đến năm 2010 với vai trò là Chủ nhiệm đề tài “ Xây dựng chỉ số phát triển bền vững tài nguyên đất ngập nước vùng bờ biển phía Tây Vịnh Bắc Bộ’’ tác giả đã đưa
ra 30 chỉ thị với qui mô áp dụng cho 3 hệ sinh thái cơ bản là rạn san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn
Việc xây dựng các chỉ thị môi trường và yêu cầu biên soạn các báo cáo môi trường
có sử dụng các chỉ thị môi trường đã được đề cập đến trong các văn bản pháp luật sau:
• Luật Bảo vệ Môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, trong điều
98, chương X định nghĩa: “Chỉ thị môi trường là một hoặc tập hợp thông số về môi trường để chỉ ra đặc trưng của môi trường”
• Quyết định số 18/2007/QĐ-BTNMT ngày 05 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường v/v ban hành hệ thống các chỉ tiêu thống kê ngành tài nguyên và môi trường tại Việt Nam
• Chỉ thị số 26/2007/CT-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc theo dõi, giám sát và đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về tài nguyên – môi trường và phát triển bền vững tại Việt Nam
• Nghị định 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 của Chính phủ về việc quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, trong đó có quy định trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường: “Hướng dẫn, kiểm tra Ủy ban nhân dân các tỉnh ven biển xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên
và bảo vệ môi trường ven biển; xây dựng các chỉ thị đánh giá tiến độ và kết quả công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường ven biển”
• Thông tư 09/2009/TT-BTNMT ngày 11/08/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc: “Quy định về xây dựng và quản lý các chỉ thị môi trường Quốc gia” định nghĩa: Chỉ thị môi trường là thông số cơ bản phản ánh các yếu tố đặc trưng của môi trường phục vụ mục đích đánh giá, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường, lập báo cáo hiện trạng môi trường Chỉ thị môi trường là cơ sở để lượng hóa chất lượng môi trường, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường, lập báo cáo hiện trạng môi trường và là công cụ thiết yếu đối với quản lý môi trường
Trang 25• Thông tư 10/2009/TT-BTNMT ngày 11 tháng 08 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc: Quy định về Bộ chỉ thị môi trường quốc gia đối với môi trường không khí, nước mặt lục địa, nước biển ven bờ
Thông tư 08/2010/TT-BTNMT ngày 18/03/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc Quy định việc xây dựng báo cáo môi trường quốc gia Phiếu chỉ thị môi trường ban hành trong Thông tư này có nhiều điểm mới, cung cấp nhiều thông tin cụ thể hơn so với phiếu chỉ thị thử nghiệm năm 1997 Báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực và báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh cũng sử dụng mô hình DPSIR (Động lực - Áp lực – Hiện trạng –Tác động – Đáp ứng) trong việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường Theo mô hình này, các chỉ thị về môi trường thường được phân loại theo tính chất sau:
• Các chỉ thị trạng thái: chỉ rõ trạng thái của hệ thống tại một thời điểm cụ thể, ví dụ như: chất lượng không khí hiện tại, mức ồn bên cạnh các trục giao thông (ký hiệu
• Các chỉ thị ảnh hưởng: Chỉ rõ các tác động đến sự thay đổi trạng thái, ví dụ: tỷ lệ chết vì bệnh tim do tiếng ồn gây ra… (ký hiệu nhóm I-Impact)
• Các chỉ thị đáp ứng: chỉ ra nỗ lực của xã hội giải quyết các vấn đề, ví dụ: các chương trình nâng cao chất lượng không khí… (ký hiệu nhóm R-Response)
Như vậy, chỉ thị môi trường đã được quy định tại văn bản pháp luật, quy phạm của Nhà nước trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng nhằm đáp ứng mục tiêu bảo vệ môi trường Bộ chỉ thị môi trường là cơ sở, tiêu chí quan trọng đánh giá hiện trạng môi trường
đã và đang bị tác động như thế nào, từ đó đánh giá tính bền vững, hoạch định hướng chính sách phát triển bền vững tài nguyên và môi trường các hải đảo Việt Nam Đề xuất các chỉ thị môi trường phục vụ sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên thiên nhiên các hải đảo là một hướng tiếp cận cần thiết trong xây dựng cơ sở quản lý và hoạch định chính sách cũng như nâng cao kiến thức về môi trường và tài nguyên
Về lĩnh vực tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, mặc dù đã có một số nghiên cứu tiếp cận xác định chỉ thị về môi trường và quản lý đới bờ biển, phát triển các chỉ thị
Trang 26làm cơ sở cho sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhưng chủ yếu ở ven biển, mà chưa chú trọng tới các đảo Trong khi đó, đặc thù của đảo là hệ thống hoàn chỉnh của tự nhiên được hình thành bởi 2 phụ hệ thống về mặt không gian lãnh thổ là các phụ hệ thống “đảo”
và “biển” (hai hệ sinh thái đặc thù và độc lập với nhau), trong đó các yếu tố hình thành nên chúng luôn có mối liên quan ràng buộc và có những tác động tương hỗ với nhau, khác biệt so với đất liền Tuy nhiên, việc xây dựng các chỉ thị môi trường cho các vùng hải đảo chưa được thực hiện Do vậy nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị môi trường phù hợp với vùng đảo là rất cần thiết
1.2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị môi trường cho các vùng hải đảo Việt Nam, áp dụng thử nghiệm tại đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững các đảo Việt Nam
1.3 Cách tiếp cận
Để xây dựng được bộ chỉ thị môi trường cho các đảo và áp dụng thử nghiệm đánh giá môi trường (ứng dụng cho đảo Cồn Cỏ - Quảng Trị), đề tài tiếp cận các phương pháp truyền thống như tiếp cận tổng hợp, tiếp cận hệ thống, tiếp cận hệ sinh thái kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp khảo sát điều tra, đánh
giá tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh và đặc biệt là tiếp cận đa lĩnh vực “Quản lý tổng hợp vùng ven biển” nhằm đạt được mục tiêu xây dựng chỉ thị đánh giá môi trường
hải đảo, bảo vệ môi trường, phát triển KT-XH bền vững
Có thể thấy rất rõ rằng sự khác biệt cơ bản giữa các đảo so với các đơn vị hành chính trên đất liền là: các đơn vị hành chính trên đất liền có đặc trưng phân bố liền kề với nhau và các đường ranh giới phân chia được xác định khá cụ thể và do đó đặc điểm của các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, đặc trưng của các điều kiện kinh tế, xã hội
và đôi khi cả những định hướng phát triển thường có mối quan hệ, tác động lẫn nhau Trong khi đó nhiều đảo phân bố cô lập giữa một vùng biển, do đó về điều kiện tự nhiên và
xã hội thường là các hệ độc lập và đều có mối liên quan trực tiếp đến biển
Trước hết, việc xem xét đối tượng nghiên cứu, đánh giá trong một hệ thống hoàn chỉnh được hình thành bởi 2 phụ hệ thống về mặt không gian lãnh thổ là các phụ hệ thống
“đảo” và “biển” Điều này đã được phản ánh một cách rất rõ nét không chỉ ở đặc điểm chung của điều kiện tự nhiên lãnh thổ (thông qua các yếu tố thành phần tự nhiên, các tổng hợp thể tự nhiên - các đơn vị cảnh quan tự nhiên được hình thành nên trong đó), các đặc điểm mang tính đặc thù của các quá trình hình thành, động lực biến đổi và phát triển (các
Trang 27quá trình động lực) của tự nhiên, đồng thời còn thể hiện rất cụ thể ở các điều kiện kinh tế,
xã hội, các đặc trưng văn hóa của cư dân các khu vực biển, đặc điểm đặc trưng trong bố trí quần cư, phong tục tập quán trong sinh sống và nhất là trong các hoạt động sản xuất, phát triển KT-XH Với những đặc điểm mang tính đặc thù như vậy nên rõ ràng trong cách tiếp cận nghiên cứu, xây dựng các chỉ thị môi trường điều kiện cụ thể của biển, đảo thì việc quan tâm, xem xét đến đặc điểm đặc thù của các yếu tố hải dương, yếu tố biển cần được đặc biệt chú trọng ngay từ đầu khi tiến hành lựa chọn các chỉ thị đánh giá, khi xác định trọng số của từng chỉ thị đó và đặc biệt là ở khâu cuối cùng khi sử dụng các kết quả đánh giá đã được thực hiện thông qua các kết quả đánh giá riêng, đánh giá tổng hợp chung cho các mục đích thực tiễn cụ thể sau này
Sự khác biệt cơ bản trong lựa chọn các định hướng phát triển kinh tế xã hội ở các khu vực lãnh thổ này, đặc biệt trong phát triển các ngành kinh tế biển sẽ mang ý nghĩa chủ đạo và là các ngành chính đối với khu vực lãnh thổ đảo như đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản, du lịch - dịch vụ trên biển, đảo, giao thông biển, công nghiệp chế biến, dầu khí còn các ngành sản xuất, kinh tế khác như nông nghiệp, lâm nghiệp chỉ mang ý nghĩa tận dụng khai thác tài nguyên, bảo vệ các nguồn sinh thủy trên các đảo, bảo vệ môi trường sinh thái Xuất phát từ những tiếp cận như vậy nên việc sử dụng hệ thống chỉ thị đánh giá môi trường mục tiêu để đánh giá môi trường hải đảo sẽ gắn liền và liên quan mật thiết với một số nội dung quan trọng trong xác định chiến lược phát triển bền vững, lâu dài của các đảo
Đồng thời, các chỉ thị môi trường cần đáp ứng các tiêu chí sau:
• Hiệu quả thông tin: Số lượng các chỉ thị, thông tin đưa ra cần có hiệu quả nhất trong việc mô tả, thể hiện hiện trạng môi trường
• Đơn giản hóa thông tin: Đơn giản hóa quá trình giao tiếp thông tin và thông qua chúng, các kết quả đo lường được cung cấp cho người sử dụng
• Phòng ngừa: Tóm lược hiện trạng môi trường hiện tại nhằm cung cấp các tín hiệu
về sự thay đổi các tình trạng môi trường
Như đã phân tích ở phần trên, mô hình DPSIR được ứng dụng rộng rãi trong các báo cáo môi trường trên thế giới và đây cũng là công cụ giám sát hữu hiệu Ở Việt Nam,
bộ chỉ thị môi trường nước mặt lục địa, nước biển ven bờ và không khí cũng đã được xây dựng trên cơ sở mô hình DPSIR và đã được ban hành trong các thông tư số 9 và 10 năm
2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Do vậy, bộ chỉ thị môi trường cho vùng đảo cũng
Trang 28sẽ được xây dựng trên cơ sở ứng dụng mô hình DPSIR và thừa kế, tham khảo các bộ chỉ thị môi trường không khí, nước mặt lục địa và nước biển ven bờ đa ban hành
CHƯƠNG II PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị môi trường cho các đảo, sẽ giới hạn vào 3 lĩnh vực: môi trường không khí, môi trường nước mặt và nước ngầm trên đảo, môi trường nước biển ven đảo
Địa điểm nghiên cứu ứng dụng thử nghiệm bộ chỉ thị môi trường cho các đảo sẽ là huyện đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị
2.2 Nội dung nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu chính của đề tài bao gồm:
Tổng hợp, phân tích đặc thù của các huyện đảo Việt Nam
- Phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường và quản lý môi trường của các đảo ở Việt Nam trên cơ sở các tài liệu sẵn có và kết quả khảo sát sơ
bộ một số đảo
- Tổng hợp, phân tích các tài liệu về định hướng phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững các huyện đảo Việt Nam
Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị đánh giá môi trường cho các đảo Việt Nam
- Nghiên cứu, đánh giá các đặc thù của các đảo và lựa chọn các tiêu chí, yêu cầu chung, cấp độ hành chính đối với việc xây dựng bộ chỉ thị đánh giá môi trường cho các đảo Việt Nam
- Nghiên cứu xây dựng các chỉ thị về môi trường không khí
- Nghiên cứu xây dựng các chỉ thị về môi trường nước ngầm và nước mặt trên đảo
- Nghiên cứu xây dựng các chỉ thị về môi trường nước biển ven đảo
Nghiên cứu áp dụng bộ chỉ thị môi trường tại đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị
Trang 29- Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên, môi trường và định hướng phát triển của đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị trên cơ sở kế thừa tài liệu sẵn có và điều tra, khảo sát, bổ sung
- Nghiên cứu, áp dụng các bộ chỉ chỉ thị môi trường không khí, nước ngầm và nước mặt trên đảo, nước biển ven đảo đã được đề xuất cho đảo Cồn Cỏ
- Nghiên cứu, phân tích các khó khăn, thuận lợi, những vấn đề còn tồn tại trong quá trình ứng dụng bộ chỉ thị môi trường tại đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị
- Đề xuất bộ phiếu chỉ thị môi trường cho các đảo Việt Nam
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Một số phương pháp nghiên cứu đã áp dụng trong nghiên cứu này như sau:
- Phương pháp thống kê, đánh giá tài liệu hiện có về hệ thống chỉ thị môi trường trên thế giới để lựa chọn, xác định được phương pháp xây dựng hệ thống chỉ thị đánh giá môi trường tại Việt Nam
- Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu điển hình hiện có của các đơn vị, tổ chức nghiên cứu khoa học về chỉ thị môi trường
- Phương pháp khảo sát thực địa nhằm cung cấp các thông tin đầy đủ hơn về đặc điểm của các hợp phần tự nhiên, tài nguyên môi trường sau khi đã nghiên cứu nội nghiệp từ các tài liệu thu thập trước đó
- Phương pháp chuyên gia trong việc lựa chọn và đánh giá các chỉ thị môi trường Tham vấn chuyên gia cũng đã được thực hiện thông qua tổ chức hội thảo lấy ý kiến
về danh sách các chỉ thị môi trường cho các đảo
- Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp: Sau khi có đầy đủ các thông tin về khu vực nghiên cứu cần tiến hành phân tích và đánh giá tổng hợp để đưa ra những nhận xét và những hướng phát triển đúng đắn nhất phù hợp với tiềm năng vốn có của khu vực nghiên cứu
Điều tra khảo sát về chất lượng môi trường đã được tiến hành tại khu vực đảo Cồn
Cỏ với các chỉ tiêu cụ thể như sau (hình 3.8):
- Mẫu nước biển quanh đảo: 30 mẫu (S1-S30)
- Mẫu nước phân tích hàm lượng Chlorophyll-a: 20 mẫu (S1-20)
- Mẫu không khí: 15 mẫy ở 5 địa điểm quanh đảo (A1, A2, A3, A4, A5)
Trang 30- Mẫu nước trên đảo: 2 mẫu (M4 và M5) mẫu nước mặt, 3 mẫu nước ngầm-giếng khoan (M1, M2 và M3)
- Mẫu thực vật nổi (Phytoplankton) quanh đảo: 30 mẫu (S1-S30)
- Thu mẫu định tính và định lượng phytoplankton: Pytoplankton được vớt bằng vợt tảo N0-75 thu mẫu tại tầng mặt nước (0- 0,5 m), mẫu định tính được cố định bằng dung dịch foocmon 4% theo phương pháp chuẩn dùng trong phân tích và kiểm tra chất lượng nước (Standar Methods for the Examination of the water and waste water - APHA, 1995)
- Mẫu nước dùng phân tích thuỷ lý - hoá được cố định bằng axit HCl, H2SO4 (1ml/1lmẫu) hoặc bảo quảng lạnh 2-40C
- Tại hiện trường đo nhanh các chỉ tiêu lý hoá môi trường nước: Nhiệt độ, DO, pH,
độ mặn, độ đục, độ dẫn điện bằng máy DO-chechker A22
- Phân tích mẫu vật thực vật nổi bằng kính hiển vi quang học, xác định tên loài Phytoplankton theo khoá định loại Xác định thành phần loài bằng phương pháp so sánh hình thái dưới kính hiển vi Olympus ở độ phóng đại 150 và 600 lần, có máy chụp ảnh Sử dụng các khoá định loại của Akihiko Shirota, 1966 Trương Ngọc An, 1993; Dương Đức Tiến và Võ Hành, 1997; Đặng Thị Sy, 2008 (Tảo học)
- Phân tích định lượng Phytophankton: Xác định mật độ tảo theo phương pháp đếm trên buồng đếm Goriaev có dung tích 0.0009 ml, cô đặc mẫu thu đến dung tích 50 ml, quan sát dưới kính hiển vi ở vật kính dầu Tiến hành đếm từ 3-5 lần và lấy giá trị trung bình
Phân tích các chỉ tiêu NH4+, NO3-, PO43, COD, BOD, Coliorm, kim loại nặng và các ion kim loại theo phương pháp chuẩn (APHA, 1995), QCVN 10:2008/BTNMT
- Phương pháp xác định hàm lượng Ammonia NH4+: Xác định NH4+ được tiến hành bằng phương pháp trắc quang so màu với thuốc thử (Palintest Amonia No1 LR Tablets và Palintest Amonia No2 LR Tablets) ở bước sóng 640nm
- Phương pháp xác định Phosphate PO43-: Xác định PO43- bằng phương pháp trắc quang so màu với thuốc thử (Palintest Phosphate No1 LR Tablets, Palintest Phosphate No2 LR Tablets) ở bước sóng 640nm
- Phương pháp xác định Nitrate NO3- : Xác định NO3- bằng phương pháp trắc quang so màu với thuốc thử Palintest Nitratest Powder, Palintest Nitratest Tablets và Palintest Nitricol Tablets ở bước sóng 570nm
Trang 31- Phương pháp xác định nhu cầu ô xy sinh hoá - BOD5 (Biological Oxygen Demand): Chất ôxy hóa có mặt trong các thủy vực bị nhiễm bẩn có thể được đặc trưng bằng số lượng ôxy hòa tan đòi hỏi để phân hủy hết các chất hữu cơ hòa tan trong điều kiện chuẩn đối với các quá trình sinh hóa Hàm lượng ôxy hòa tan cần cho quá trình đó được chỉ ra bằng đơn vị mg O2/lit, gọi là nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5) Để phân tích chỉ tiêu này mẫu phải đuợc “tiệt trùng” bằng clorophooc hoặc được bảo quản ngay trong thiết
bị lạnh (nước đá) Mẫu trước khi phân tích được ủ trong tủ điều nhiệt (Incubator) ở nhiệt
độ 20oC trong thời gian 5 ngày (BOD5) Khi phân tích cần được pha loãng theo những mức độ xác định Nước mẫu được pha loãng bằng dung dịch nước pha loãng (nước cất có thêm K2HPO4, MgSO4, CaCl2, FeCl3 theo phương pháp chuẩn do Bộ khoa học và công nghệ môi trường soạn thảo cho các trạm quan trắc môi trường cả nước), dung dịch Alkali- oide aside, dung dịch Na2S2O3 0,025 N
- Phân tích hàm lượn các kim loại Thủy Ngân (Hg), Chì (Pb), Cadmi (Cd), Asen (As) và Crom (Cr), Đồng (Cu) Các kim loại này được xác định bằng máy quang phổ hấp thụ AAS (Atomic Absorption Spectrometry)
- Phương pháp phân tích Coliform: bằng phương pháp nuôi cấy vi sinh vật trực tiếp trên môi trường Aga-endo ủ trong tủ điều nhiệt (incubator) ở nhiệt độ 37oC trong 12 giờ với Coliform tổng số Sau thời gian ủ trong tủ điều nhiệt, đưa mẫu ra đếm số khuẩn lạc trên đĩa nuôi cấy
- Phương pháp phân tích dầu mỡ tổng số: Sử dụng phương pháp đo phổ hồng ngoại trên thiết bị Oil contest Analyzer – Horiba
Trang 32CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, môi trường và kinh tế - xã hội các đảo ở Việt Nam
Các điều kiện môi trường của hệ thống biển - đảo có chung các đặc điểm về thời tiết, khí hậu của môi trường không khí trên biển đảo, song trên đảo có những đặc điểm tự nhiên riêng mà dưới biển không có và ngược lại dưới biển có những đặc thù không thấy trên đảo Vì diện tích đảo nổi chỉ chiếm một phần rất nhỏ của không gian biển đảo, nên các quá trình tự nhiên biển thường chiếm ưu thế Khí hậu trên các đảo mang tính nhiệt đới gió mùa và khí hậu đại dương Chế độ gió ở các đảo nhìn chung mang tính chất mùa đậm nét Nhiệt độ không khí trung bình năm trên lãnh thổ Việt Nam dao động trong khoảng từ
8 đến 28oC Nhiệt độ trung bình năm giảm dần theo vĩ độ và theo độ cao địa lý Nhiệt độ trung bình tháng I tại các địa điểm có số liệu cao nhất là 26oC ở Trường Sa
Trên vùng biển và ven biển Việt Nam có 6 trung tâm mưa lớn trên 2400mm, đó là: Móng Cái Quảng Ninh (2400-2800mm, Kỳ Anh Hà Tĩnh (2400-2800mm), Nam Đông Thừa Thiên Huế (2400-3600mm), Trà My Quảng Nam (2400-4000mm), Ba Tơ Quảng Ngãi (2400-3600mm), Phú Quốc Kiên Giang (2400-3200mm) Có 2 trung tâm mưa bé với lượng mưa trung bình năm dưới 1400 mm: Mường Xén, Nghệ An (800-1300mm), Phan Thiết, Bình thuận (1100-1400mm) Có 3 trung tâm có số ngày mưa trên 180 ngày/năm, đó là: Kim Cương, Hà Tĩnh (180-200), A Lưới, Thừa Thiên Huế 180-200) và Trường Sa (180-200ngày/năm) và 5 trung tâm có ngày mưa dưới 120 ngày/năm: Bạch Long Vĩ (80-100), Hoàng Sa (100-120), Cam Ranh (60-80), Ba Tư Bến Tre (80-100) và
Mỹ Tho Tiền Giang (100-120 ngày/năm)
Gió mùa gây gió mạnh cấp 4, cấp 5 trên đất liền, cấp 6, cấp 7 giất trên cấp 8 trên biển Tại trạm Bạch Long Vĩ đã ghi nhận được tốc độ gió 18-20 m/s, giật > 22-24 m/s (20 m/s ngày 26/1/2003, giật 24 m/s) Gió mùa Tây Nam cũng hoạt động lên cả vùng biển thuộc khu vực Nam Biển Đông
Hệ thống đảo ven bờ vùng biển Việt Nam với 2773 hòn đảo đã thống kê được, có
sự phân dị rất phức tạp và đa dạng Dựa vào các đặc điểm về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, nhất là điều kiện địa chất, địa mạo, đồng thời có liên hệ với các đặc điểm dải ven biển, có thể phân chia hệ thống đảo ven bờ thành 5 vùng với 13 cụm đảo (Lê Đức An và nnk, 1995): Vùng đảo ven bờ Bắc Bộ; Vùng đảo ven bờ Bắc Trung Bộ; Vùng đảo ven bờ Nam Trung Bộ; Vùng đảo ven bờ phía đông Nam Bộ và Vùng đảo ven bờ phía tây Nam
Trang 33Bộ (Vịnh Thái Lan) Ngoài các đảo ven bờ, Việt Nam còn có hệ thống đảo xa bờ là các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
3.1.1 Vùng đảo ven bờ Bắc Bộ
Vùng đảo ven bờ Bắc Bộ chiếm 83,7% về số lượng và 48,8% về diện tích toàn hệ thống đảo với 3 cụm đảo như sau:
1 Tuyến giáp đất liền Quảng Ninh gồm các đảo: Miều, Vĩnh Thực, Cái Chiên,
Thoi Xanh, Vạn Mặc, Vạn vược, Cái Bầu, Đồng Rui lớn, Đồng Rui Bé, tạo thành tuyến phía trong gần bờ, chạy dài theo hướng ĐB - TN từ bán đảo Trà Cổ tới Cái Bầu Thành phần vật chất cấu tạo nên đảo chủ yếu là loại lục nguyên Phần lớn địa hình thoải, độ dốc<120 Tầng thổ nhưỡng tương đối dày, thảm thực vật là loại rừng nhiệt đới thứ sinh cây gỗ lá rộng thường xanh Trên đảo thường có diện tích dành cho canh tác nông nghiệp Tài nguyên nước đủ cho nhu cầu sinh hoạt Dân cư sống trên đảo khá đông và đời sống tương đối ổn định với các hoạt động kinh tế đa dạng, hoạt động dịch vụ, thương mại phát triển mạnh
2 Tuyến ngoài cùng của vùng đảo Bắc Bộ gồm các đảo Chàng Tây, Cô Tô, Thanh
Lam, Cảnh Cước, Thượng Mai, Vạn Cảnh, Nất Đất, Đầu Bê và quần đảo Long Châu Các đảo xếp theo hướng đông bắc- tây nam, cấu tạo bằng đá biến chất và vài nơi có đá cacbonat, địa hình thường phân bậc, tạo các mặt bằng nhỏ có khả năng canh tác và xây dựng các công trình dân dụng Vùng bãi triều có nhiều loại đặc sản Đất nghèo chất dinh dưỡng, lớp phủ thực vật thứ sinh, thưa, tổng lượng sinh khối thấp Nước ngọt tạm đủ cho các nhu cầu nhỏ Cụm đảo này có dân sinh sống ở một số đảo Hoạt động kinh tế chủ yếu
là nông, lâm, ngư nghiệp Ngành dịch vụ thương mại đang có xu hướng phát triển
3 Cụm đảo Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và lân cận gồm các đảo lớn như Cát Bà,
Trà Bản, Cao Lô (Ba Mùn), Cái Lim và hàng nghìn đảo nhỏ Phần lớn nền của các đảo là
đá vôi hoặc đá vôi xen lục nguyên Địa hình khá dốc, chia cắt mạnh (trừ Cái Lim, Cao Lô) Thảm thực vật là rừng thường xanh phát triển trên đá vôi nhiều nơi còn được bảo tồn tốt Nguồn nước ngầm không đều, nước dạng khe nứt – cactơ Quá trình cáctơ đã tạo nên cho cụm đảo này rất nhiều hình dạng khác nhau, nhiều hang động, tập hợp thành một quần thể cảnh quan đặc biệt có sức hấp dẫn lớn đối với hoạt động du lịch Xung quanh các đảo này có khả năng nuôi nhiều loại thủy đặc sản Các đảo lớn, có nhiều vị trí địa hình thuận lợi cho việc xây dựng các công trình hoạt động kinh tế và dịch vụ
Trang 344 Đảo Bạch Long Vĩ là một hòn đảo độc lập, nằm ở giữa Vịnh Bắc Bộ, cấu tạo
bằng trầm tích Neogen, có nước ngọt hạn chế, xa bờ nhất trong số các đảo ở Vịnh Bắc
Bộ Bạch Long Vĩ có vị thế hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo an ninh và giữ vững chủ quyền vùng biển
3.1.2 Vùng đảo ven bờ Bắc Trung Bộ
Có khoảng 57 đảo (2%) với diện tích 14 km2 , bao gồm 2 cụm đảo và một số đảo phân tán:
5 Cụm Hòn Mê gồm Hòn Mê, Hòn Đót, Hòn Mát và một số đảo nhỏ khác, cấu tạo
bằng đá trầm tích phun trào Thảm thực vật chủ yếu là cây bụi, tuy nhiên có lớp thổ nhưỡng không mỏng lắm nên có thể trồng một số loại cây thích hợp Xung quanh các đảo này thuỷ sinh vật biển tương đối phong phú, thuận lợi phát triển ngành hải sản, các khu bảo tồn dưới biển phục vụ cho du lịch và nghiên cứu
6 Đảo Cồn Cỏ là đảo nhỏ đứng đơn lẻ, có vai trò to lớn trong việc bảo vệ an ninh
phía nam Vịnh Bắc Bộ Do diện tích nhỏ nên nguồn tài nguyên bị hạn chế, nhất là quỹ đất, quỹ rừng và nguồn nước Trên đảo thuận lợi cho phát triển đánh bắt, nuôi trồng hải
sản, cung cấp dịch vụ trên biển, phục vụ du lịch với số dân hạn chế
3.1.3 Vùng đảo ven bờ Nam Trung Bộ
Có khoảng 200 đảo (7,2%) với trên 170 km2 diện tích Có thể chia ra một số cụm đảo:
7 Cụm đảo Sơn Trà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn (Cù Lao Ré) và các đảo nhỏ dọc bờ biển Quảng Nam - Đà Nẵng Cụm đảo này dù nước ngọt, có tiềm năng về đánh bắt và
nuôi trồng hải sản, có nguồn đặc sản chim yến Cụm đảo nằm trong vùng khí hậu khá thuận lợi, hầu như ấm áp quanh năm, độ ẩm không lớn, số ngày mưa không nhiều, ít chịu ảnh hưởng của bão nên có tiềm năng du lịch, nghỉ dưỡng và ngư nghiệp
8 Cụm đảo ven biển Bình Định - Khánh Hoà gồm các đảo Xanh, Ma Nha, Hòn
Bịp, Hòn Lớn, Hòn Mỹ Giang, Hòn Thị, Hòn Tre I, Hòn Mun, Hòn Tằm, Bình Ba và hàng trăm đảo nhỏ ven biển Nam Trung Bộ từ 110 đến 140 VĐB, trong đó có hai đảo lớn: Hòn Lớn (45,1km2), Hòn Tre (38km2) Cụm đảo với các vũng vịnh tuyệt đẹp của Nam Trung Bộ như vịnh Cam Ranh, vũng Bình Giang, Bến Gội Vùng biển có nhiều điều kiện thuận lợi cho ngư nghiệp, đời sống, phát triển du lịch nghỉ dưỡng Nguồn nước ngọt khá khan hiếm Trên các đảo lớn như Hòn Tre, Hòn Lớn (Hòn Bà) có nước quanh năm, còn
Trang 35các đảo khác hiếm nước Nguồn tài nguyên đất, rừng cũng rất hạn chế Dân cư chủ yếu phân bố trên các đảo lớn như Hòn Lớn, Hòn Tre I, Hòn Thị
9 Cụm đảo Phú Quý gồm đảo Phú Quý có diện tích 16km2 và các đảo nhỏ khác nằm khá xa bờ biển cực Nam Trung Bộ Đảo Phú Quý có nguồn nước ngọt khá, tiềm năng đất tương đối cao, có nguồn lợi hải sản khá dồi dào và cho phép khai thác quanh năm Phú Quý có nhiều ưu thế trong cung cấp dịch vụ trên biển Phú Quý có vị trí quan trọng trong tuyến đường từ đất liền ra Trường Sa, à điểm trung chuyển cho Trường Sa
3.1.4 Vùng đảo ven bờ phía Đông Nam Bộ
Có số lượng không nhiều, 30 đảo (khoảng 1,1%) với trên 80 km2
10 Cụm đảo Côn Đảo gồm đảo Côn Đảo, Hòn Cau, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Bà II,
là một khu di tích cách mạng nổi tiếng Đảo được cấu tạo bằng đá măcma, có lớp phủ thực vật là rừng lá rộng thường xanh Tiềm năng tài nguyên của cụm đảo thích hợp cho việc phát triển tổng hợp kinh tế biển như khai thác khoáng sản, giao thông trên biển, dịch
vụ cơ khí đóng và sửa chữa tàu biển, đánh bắt và nuôi trồng hải sản
11 Cụm đảo Hòn Khoai gồm đảo Hòn Khoai và các đảo nhỏ ven bờ tỉnh Minh Hải
như: Hòn Đá Bạc, Hòn Chuối, Hòn Buông Cụm đảo nằm trên thềm lục địa nông, nơi diễn ra quá trình bồi đắp phù sa sông Cửu Long Đảo được cấu tạo bằng đá granit, đã tạo nên cảnh quan khác biệt hẳn so với vùng đất liền kế cận của Minh Hải (thảm thực vật, tài nguyên nước ngầm, thổ nhưỡng, ), có tiềm năng thuận lợi cho phát triển kinh tế biển ven
bờ và du lịch, dịch vụ
3.1.5 Vùng đảo ven bờ phía tây Nam Bộ
Có khoảng 165 đảo (6%) với trên 650 km2 (trên 35% diện tích toàn hệ thống) Có thể chia làm hai cụm:
12 Cụm Nam Du - Bà Lụa
Nhóm đảo Nam Du tuy diện tích nhỏ song lại có khả năng phát triển nông nghiệp
và đánh bắt, nuôi trồng hải sản Cơ sở hạ tầng của cụm đảo có thể sử dụng cho nhiệm vụ trung chuyển hậu cần cho cụm đảo Thổ Chu và phát triển khả năng dịch vụ vì đảo có nguồn nước ngọt, có tiềm năng đất canh tác và dân cư có truyền thống sản xuất nghề biển Nhóm đảo ven bờ Rạch Giá - Hà Tiên bao gồm: đảo Hòn Thơm, Hòn Roi II, Hòn Tre II, Hòn Rái, Hòn Minh Hoà và các đảo nhỏ, trong đó Hòn Rái có diện tích lớn nhất (11,1km2) Cụm đảo có nguồn gốc nước ngọt, có tiềm năng hải sản dồi dào, có nhiều kinh
Trang 36nghiệm đánh bắt, nuôi trồng hải sản Vị trí của các đảo là các trạm trung gian giữa Phú Quốc và đất liền Cụm đảo có tiềm năng du lịch, tiềm năng đất canh tác cho phép phát triển kinh tế biển tổng hợp
13 Cụm đảo Thổ Chu - Phú Quốc gồm đảo Thổ Chu (7,4 km2), Phú Quốc (557
km2) và các đảo nhỏ lân cận có vai trò khá quan trọng trong việc giữ gìn an ninh vùng biển Tây Nam Cụm đảo nằm trong vùng biển nhiệt đới điển hình có nền nhiệt cao, ổn định, ít các tác động thiên tai, mưa tập trung vào mùa hè, mùa khô kéo dài song mức độ khô hạn không cao do tác động của biển nên có thể phát triển các cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là cây ăn quả và cây công nghiệp Thổ Chu có nguồn nước ngọt lại nằm gần các bãi tôm cá lớn xuất hiện quanh năm Phú Quốc có tiềm năng lớn nhất và điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất trong số các đảo Việt Nam cho phát triển tổng hợp kinh tế biển
Có thể thấy, hệ thống đảo có giá trị quan trọng về vị thế, xác định chủ quyền vùng biển, trong khai thác tài nguyên và tiến hành các dịch vụ trên biển (bảng 3.1)
Trang 3837
Bảng 3.1 Phân vùng chức năng hệ thống đảo ven bờ Việt Nam
Định hướng phát triển Các
nhóm đảo Trung tâm kinh tế
biển tổng hợp
Điểm kinh tế biển tổng hợp Một số ngành kinh tế Kinh tế và bảo tồn
Nhóm đảo có chức năng quốc phòng
tổng hợp với phát triển kinh tế
Phú Quý Côn Đảo Phú Quốc
Bạch Long Vĩ Thổ Chu Hòn Khoai
Hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa Vĩnh Thực; Chàng Tây (Đảo Trần)
Côn Đảo Phú Quốc Thổ Chu Hòn Khoai
Nhóm đảo tổng hợp kinh tế với quốc
phòng
Cát Bà Cái Bầu
Thanh Lam
Cô Tô
Lý Sơn
Cù Lao Xanh Hòn Tre I Nam Du
Cảng Cước Thượng Mai Hòn Mê Cồn Cỏ
Cù Lao Chàm Hòn Mun Bảy Cạnh
Cát Bà Hòn Mê Cồn Cỏ
Cù Lao Chàm Hòn Mun Bảy Cạnh
Nhóm đảo chủ yếu phát triển kinh tế
Tuần Châu Ngọc Vừng Cát Hải
Phượng Hoàng Hòn Lớn Hòn Bà II Hòn Rái Hòn Tre II Hòn Nghệ
Trà Bản Phượng Hoàng Hòn Lớn
Nguồn: Lê Đức An, 2008.Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Huy Yết, 2010
Trang 39Bảng 3.2 Phân vùng hệ thống đảo ven bờ theo tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất (đơn vị tính: ha)
Đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất chưa sử dụng
Khả năng
Có rừng
Đất chuyên dùng Có khả
năng nông nghiệp
Đất lâm nghiệp hoang hoá
Trang 4039
Bảng 3.3 Phân vùng hệ thống đảo ven bờ theo số lượng và diện tích các vùng
Ghi chú: I : Ven bờ Bắc Bộ từ Móng Cái đến hết Bạch Long Vĩ
II : Ven bờ Bắc Trung Bộ từ Thanh Hoá đến hết đảo Cồn Cỏ
III: Ven bờ Nam Trung Bộ từ Quảng Trị đến hết Hòn Hải
IV: Ven bờ đông Nam Bộ từ Bà Rịa đến Minh Hải (đến đảo Hòn Khoai)
V : Ven bờ vịnh Thái Lan từ Minh Hải đến Kiên Giang.