5 Tuy nhiên chưa có khảo sát nào chuyên sâu về thực trạng sản xuất và sử dụng chất liệu vải có tính năng kháng khuẩn và an toàn sức khỏe của quần áo bảo hộ dùng trong ngành y tế và thực
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU VÀ SÁNG TÁC QUẦN ÁO BẢO HỘ
SỬ DỤNG VẬT LIỆU MAY CÓ TÍNH NĂNG ĐẶC BIỆT
VÀ CHUYÊN DÙNG
CNĐT: BÙI THỊ CẨM LOAN
9806
TP.HCM – 2012
Trang 2Hình 2.1 – Tụ cầu khuẩn (S.aureus) 5
Hình 2.2 – Vi khuẩn Escherichia coli 5
Hình 2.3 – Vi khuẩn Vi khuẩn klebshiella 6
Hình 2.4 – Vi khuẩn P.aeruginosa 6
Hình 2.5 – Vi khuẩn S pneumonia 7
Hình 2.6 – Vi khuẩn Salmonella 8
Hình 2.7 – Trực khuẩn Shigella 8
Hình 2.8 – Cấu trúc Vius H5N1 10
Hình 2.9 – Cấu trúc vải 11
Hình 2.10 – Các phương pháp xử lý hoàn tất vải kháng khuẩn 19
Hình 2.11 – Vùng quan trọng của áo choàng (Critical Zone) 24
Hình 2.12 – Vùng quan trọng của rèm cửa 24
Bảng 3.1 – Tổng số bệnh viện và giường bệnh theo tuyến bệnh viện 27
Bảng 3.2 – Số liệu nhân lực y tế TP HCM năm 2006 – 2010 28
Hình 3.3 – Chiếc áo blouse cổ 32
Hình 3.4 –Trang phục đang sử dụng phổ biến tại các bệnh viện 33
Bảng 3.5 – Thống kê dữ liệu tại các đơn vị khảo sát 36
Biểu đồ 3.6 – Biểu đồ đánh giá mức độ trang bị bảo hộ lao động ngành y tế 37
Biểu đồ 3.7 – Biểu đồ đánh giá mức độ trang thiết bị bảo hộ lao động của ngành thực phẩm 39
Biểu đồ 3.8 – Biểu đồ thăm dò xu hướng sử dụng bảo hộ có tính kháng khuẩn trong ngành y tế 40
Biểu đồ 3.9 – Biểu đồ thăm dò xu hướng sử dụng bảo hộ có tính kháng khuẩn trong ngành thực phẩm 40
Biểu đồ 3.10 – Biểu đồ thăm dò ý kiến mẫu thiết kế trong ngành y tế 43
Biểu đồ 3.10 – Biểu đồ thăm dò ý kiến mẫu thiết kế trong ngành thực phẩm 43
Bảng 4.1 – Bảng thông số thành phẩm áo bảo hộ lao động nam 48
Trang 3Bảng 4.4 – Bảng thông số thành phẩm quần nữ 50
Bảng 4.5.1a – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo Bác sĩ nam 1.1 51
Bảng 4.5.1b – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo Bác sĩ nữ 1.2 55
Bảng 4.5.1c – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo Y tá nữ 1.3 60
Bảng 4.6.2a – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo Bác sĩ nam 2.1 63
Bảng 4.6.2b – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo Bác sĩ nữ 2.2 66
Bảng 4.6.2c – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo Y tá nữ 2.3 69
Bảng 4.7.3a – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo Bác sĩ nam 3.1 72
Bảng 4.7.3b – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo Bác sĩ nữ 3.2 76
Bảng 4.7.3c – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo Y tá nữ 3.3 79
Bảng 4.8.1a – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo đồng phục nam 4.1 82
Bảng 4.8.1b – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo đồng phục nữ 4.2 85
Bảng 4.9.2a – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo đồng phục nam 5.1 88
Bảng 4.9.2b – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo đồng phục nữ 5.2 91
Bảng 4.10.3a – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo đồng phục nam 6.1 95
Bảng 4.10.3b – Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật mẫu áo đồng phục nữ 6.2 99
Bảng 4.11 – Bảng tính giá thành sản phẩm 108
Trang 41
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 3
1.2 Những đóng góp mới của đề tài: 4
1.3 Tình hình nghiên cứu ngoài nước: 4
1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước: 4
1.5 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: 5
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 5
1.7 Phương pháp nghiên cứu: 5
1.8 Nội dung bố cục của đề tài: gồm 4 chương 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU CHUYÊN DÙNG TRONG NGÀNH Y TẾ VÀ THỰC PHẨM 6
2.1 Khái quát về vi khuẩn và virus 6
2.1.1 Vi khuẩn 6
2.1.2 Virus 11
2.2 Tổng quan về vật liệu kháng khuẩn sử dụng trong y tế và thực phẩm 12
2.2.1 Các khái niệm: 12
2.2.2 Khái quát về các tác nhân lây nhiễm vi sinh vật trong ngành y 14
2.2.3 Sự truyền vi khuẩn và chất lỏng qua vải 14
2.2.4 Vải sợi dùng trong áo choàng y tế 16
2.2.5 Một số loại vải sợi kháng khuẩn trên thị trường 22
2.3 Một số phương pháp thử, tiêu chuẩn quy định, hướng dẫn về an toàn của vật liệu kháng khuẩn và tiêu chuẩn về trang phục bảo hộ lao động dùng trong y tế và thực phẩm .23
2.3.1 Phương pháp thử của AATCC (American Association of Textile Chemists and Colorists – Hiệp hội các nhà hóa học và màu sắc Hoa kỳ): 23
2.3.2 Một số phương pháp thử của ASTM (American Society for Testing and Materials – Hội kiểm nghiệm và vật liệu Hoa Kỳ) 23
Trang
Trang 52
2.3.3 Phương pháp thử của BS EN ISO (Bristish Stardard: Tiêu chuẩn Vương Quốc
Anh) 24
2.3.4 Tiêu chuẩn của AAMI/ANSI (Association for the Advancement of Medical Instrumentation/ American National Standards Institute: Hiệp hội cho sự tiến bộ của Dụng cụ Y tế/Viện tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ) 24
2.3.5 Tiêu chuẩn của AST (Hiệp hội các công nghệ phẫu thuật Hoa Kỳ): Tiêu chuẩn đề nghị trong thực tiễn dùng áo choàng và găng tay: 27
2.3.6 Phương pháp thử JIL L 1902 (Japanese Industrial Standard: Chuẩn công nghiệp Nhật Bản): Antimicrobial Fabric Test: 27
2.4 Kết luận chương 2 27
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM TRANG PHỤC BHLĐ CÓ SỬ DỤNG CHẤT LIỆU VẢI CHUYÊN DÙNG TẠI BỆNH VIỆN VÀ DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 29
3.1 Giới thiệu về ngành y tế tại TPHCM, Việt Nam 29
3.1.1 Khái quát về ngành y tế tại TPHCM, Việt Nam 29
3.1.2 Tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện 30
3.2 Giới thiệu về ngành chế biến thực phẩm tại TPHCM, Việt Nam 32
3.2.1 Khái quát về ngành chế biến thực phẩm tại TPHCM, Việt Nam 32
3.2.2 Thực trạng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: 33
3.3 Phân tích thực trạng quần áo BHLĐ có sử dụng vật liệu chuyên dùng để đảm bảo an toàn sức khỏe cho người lao động 34
3.4 Khảo sát nhu cầu trang phục BHLĐ chuyên dùng cho ngành y tế và chế biến thực phẩm 37
3.4.1 Nội dung, đối tượng khảo sát 37
3.4.2 Phương pháp khảo sát 37
3.4.3 Kết quả khảo sát 38
3.5 Nghiên cứu xu hướng quần áo BHLĐ có sử dụng các loại vải chuyên dùng 41
3.6 Khảo sát mức độ yêu thích mẫu trang phục phác họa 44
3.7 Nguyên nhân các mặt tồn tại 46
3.8 Kết luận chương 3 46
Trang 63
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành dệt may Việt Nam là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, với tốc độ tăng trưởng bình quân 25% năm cho thấy hàng Dệt may Việt Nam có nhiều lợi thế để tiếp tục tăng trưởng trong những năm của kế hoạch 5 năm 2011 -2015 Ngành dệt may hiện nay đang đóng góp không nhỏ cho đất nước với gần 3700 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân chiếm 75%, giải quyết việc làm cho trên 3 triệu lao động Nếu như năm 2006 dệt may Việt Nam xếp thứ 16/153 nước xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới thì đến năm 2010 dệt may Việt Nam đã leo lên top 5 nước xuất khẩu hàng dệt may hàng đầu của thế giới và với sự tăng trưởng nhảy vọt này ngành dệt may đang được đặt kì vọng vươn lên top 5 thế giới với kim ngạch xuất khẩu trong năm 2011 đạt 15,6 tỷ USD và dự kiến năm 2012 đạt 17 tỷ USD Vị trí xếp hạng trên thị trường dệt may quốc tế có thay đổi theo hướng đi lên là điều đáng tự hào, tuy nhiên ngành Dệt may Việt Nam cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa để hội nhập thị trường thế giới và mở rộng thị trường nội địa
Thực tế cho thấy ngành Dệt may Việt Nam đang lên tới đỉnh điểm của sự hội nhập với thế giới và đã làm xuất hiện nhiều nhà thiết kế trẻ có tâm huyết và có tính ứng dụng vào cuộc sống cao có khả năng góp phần thúc đẩy việc xây dựng thương hiệu thời trang Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay hàng dệt may sản xuất trong nước chỉ chiếm thị phần khiêm tốn trên thị trường nội địa, năm 2009 tiêu thụ hàng dệt may trong nước chỉ đạt 3,2
tỷ USD, năm 2010 với nhiều nỗ lực của ngành và được sự hưởng ứng của người tiêu dùng qua cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” nên mức tiêu thụ có tăng nhưng cũng chỉ đạt 4,5 tỷ USD, dự kiến năm 2012 đạt 5,5 tỷ USD và phấn đấu đến năm 2015 hàng dệt may tiêu thụ trên thị trường nội địa sẽ đạt 8,6 tỷ USD, đây là
cơ hội để ngành thời trang Việt Nam phát triển
Năm 2011 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết đại hội XI của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 và chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011-2020, đồng thời tiếp tục triển khai quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23-2-2005 nhằm từng bước đưa công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống nhân dân phát triển cả về lượng và chất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người dân và sự an toàn cho người lao động Trước tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện và công tác vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng diễn biến phức tạp, việc đầu tư trang bị trang phục chuyên dùng cho ngành y tế và thực phẩm nhằm đảm bảo
an toàn sức khỏe cho đội ngũ cán bộ ngành y, cán bộ chuyên môn kỹ thuật để thực hiện
Trang 74
nhiệm vụ cao quý của mình, góp phần cải thiện tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là việc cần ưu tiên thực hiện
Vì vậy, đặt vấn đề nghiên cứu đề tài ”Nghiên cứu và sáng tác quần áo bảo hộ sử
dụng vật liệu may có tính năng đặc biệt và chuyên dùng” là hết sức cần thiết và cấp
bách để đưa hàng dệt may sản xuất trong nước chiếm lĩnh dần thị trường nội địa và tăng
tỷ lệ nội địa hóa, đồng thời góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân
1.2 Những đóng góp mới của đề tài:
Phân tích một số tính chất của vải kháng khuẩn để nghiên cứu sáng tác mẫu trang phục mang tính an toàn cao cho cơ thể đội ngũ bác sĩ trong ngành y tế, cán bộ chuyên môn kỹ thuật trong ngành công nghiệp thực phẩm, đồng thời đảm bảo chất lượng sản phẩm làm ra của ngành thực phẩm, nhằm mục đích đa dạng hóa sản phẩm hàng dệt may, tạo tiền đề cơ sở cho việc phát triển mạnh ngành thời trang Việt Nam với nhiều mẫu mã sáng tạo trên nền vải chuyên dùng đặc biệt Đó không chỉ là ước mơ của nhiều doanh nghiệp Dệt May hiện nay mà còn nhằm mục đích đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng và an toàn cho toàn xã hội, góp phần hội nhập cùng các nước trong khu vực và trên thế giới
1.3 Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Một số nước như Mỹ, Đức, Nhật đã có nhiều nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn về vật liệu sử dụng cũng như quần áo bảo hộ chuyên dùng trong ngành y tế, thực phẩm và
đã triển khai áp dụng, nhưng chưa nghiên cứu sâu trên đặc điểm cơ thể người và khí hậu Việt Nam
1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Một số nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu đặc trưng của các loại vải để ứng dụng trong thiết kế quần áo bảo hộ có sử dụng vật liệu chuyên dùng Có thể kể đến:
− Đề tài Xử lý kháng khuẩn cho vải bằng hợp chất kháng khuẩn gốc amoni bậc bốn
của Vũ Thị Hồng Khanh – Lê Hữu Chiến – Đào Anh Tuấn: Nghiên cứu xử lý kháng
khuẩn cho vải bông pha polyeste bằng phương pháp Ngấm ép – Sấy – Nung với việc sử dụng hợp chất kháng khuẩn gốc amôni bậc bốn Kết quả xử lý được đánh giá bằng hai phương pháp: Phương pháp phân tích vi sinh vật và phương pháp phân tích hoá học có
sử dụng Bromophenol Blue – BPB
− Đề tài Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của tấm vải cotton ngâm trong dung dịch keo nano bạc của Ngô Võ Kế Thành – Nguyễn Thị Phương Phong – Đặng Mậu
Chiến: Hoạt tính kháng khuẩn của vải cotton tẩm dung dịch keo nano bạc được khảo sát
ở các nồng độ dung dịch keo nano bạc, thời gian tiếp xúc vi khuẩn và số lần giặt
Trang 85
Tuy nhiên chưa có khảo sát nào chuyên sâu về thực trạng sản xuất và sử dụng chất liệu vải có tính năng kháng khuẩn và an toàn sức khỏe của quần áo bảo hộ dùng trong ngành y tế và thực phẩm và đặc biệt là mảng sáng tác mẫu phục vụ cho sản xuất
1.5 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
− Nghiên cứu quần áo bảo hộ có sử dụng vật liệu kháng khuẩn khi làm việc trong ngành y tế, thực phẩm
− Khảo sát thực trạng công tác trang bị bảo hộ lao động, nhu cầu thị hiếu sử dụng quần áo bảo hộ có tính năng bảo vệ sức khỏe cho người lao động tại các cơ sở y tế và chế biến thực phẩm
− Thiết kế và thực hiện các mẫu quần áo bảo hộ lao động dựa trên chất liệu vải có tính năng kháng khuẩn và an toàn cho sức khỏe
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài sẽ tập trung tiến hành nghiên cứu trang phục bảo hộ lao động trong ngành y
tế và thực phẩm trên địa bàn TP.HCM và các tỉnh lân cận Quá trình nghiên cứu có sử dụng các tài liệu cũng như các giáo trình thiết kế mẫu để làm cơ sở cho việc thiết kế mẫu trang phục BHLĐ có sử dụng vật liệu có tính năng kháng khuẩn dùng trong ngành y tế và thực phẩm
1.7 Phương pháp nghiên cứu:
− Phương pháp phân tích hệ thống, phân tích thống kê
− Phương pháp phân tích thực nhiệm
− Phương pháp lịch sử, kế thừa những thành quả nghiên cứu và tư liệu thống kê
− Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
− Phương pháp tham dự, phương pháp chuyên gia
1.8 Nội dung nghiên cứu của đề tài: gồm 4 chương
− Chương 1: Phần mở đầu
− Chương 2: Tổng quan về tính chất của vật liệu chuyên dùng trong ngành y tế
và thực phẩm
− Chương 3: Phân tích thực nghiệm trang phục BHLĐ có sử dụng chất liệu vải
chuyên dùng tại bệnh viện và doanh nghiệp chế biến thực phẩm trên địa bàn TP.HCM
− Chương 4: Kết quả thiết kế mẫu BHLĐ có sử dụng chất liệu vải chuyên dùng
Trang 96
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU CHUYÊN DÙNG TRONG NGÀNH Y TẾ VÀ THỰC PHẨM 2.1 Khái quát về vi khuẩn và virus
2.1.1 Vi khuẩn
Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào, có cấu trúc tế bào đơn giản không có nhân (Prokaryote – sinh vật nhân sơ) Có kích thước trung bình bằng 1/1.000mm, một số vi khuẩn có kích thước nhỏ hơn và không thể thấy chúng bằng kính hiển vi bình thường
Vi khuẩn hiện diện ở khắp mọi nơi trong đất, nước, không khí và trong các sinh vật khác, kể cả những nơi có điều kiện sống khắc nghiệt như trên miệng núi lửa hay trên băng tuyết… Chúng tái sinh qua quá trình phân đôi tế bào Dưới những điều kiện thích hợp, mức tăng trưởng của chúng tăng rất nhanh Trong vòng 20 phút, một con vi khuẩn
sẽ tăng số lượng lên gấp 4 lần và gấp 64 lần trong 2 giờ Tuy nhiên, do thiếu thực phẩm
và nước nên chỉ có một phần trăm vi khuẩn có thể sống sót được
Có rất nhiều chủng vi khuẩn, và mỗi chủng vi khuẩn đều có sự khác nhau về đặc tính và hình thái, có thể được phân làm 4 loại: một vài vi khuẩn có hình tròn được gọi là khuẩn cầu (coccus), vi khuẩn có hình que được gọi là khuẩn que (bacillus), vi khuẩn có hình xoắn gọi là khuẩn xoắn (spirillum) và vi khuẩn có hình dấu phẩy gọi là khuẩn phẩy (vibrio)
Theo cấu tạo của thành tế bào, vi khuẩn có thể chia thành 2 nhóm: Gram dương (như Staphylococcus aureus), Gram âm (như E-Coli), có mang bào tử hoặc không mang bào tử
Vi khuẩn vừa có hại và vừa có lợi Chúng gây nhiều thứ bệnh cho con người, động vật và thực vật; chẳng hạn như bệnh sốt thương hàn (typhoid fover), bệnh phong đòn gánh (tetanus), bệnh dịch tả (cholera), bệnh bạch cầu (leukemia), bệnh kiết lị, ho gà Ngược lại, một vài vi khuẩn rất hữu ích cho con người Sự chuyển đổi từ sữa sang sữa đông làm pho mát được thực hiện bởi vi khuẩn Chúng làm mục rữa các thực vật chết hoặc động vật chết Giấm ăn cũng được làm ra nhờ vi khuẩn Vi khuẩn tạo ra men sử dụng để làm bánh mì và tạo ra các loại thực phẩm, nhuộm màu da súc vật Một số chất kháng sinh cũng được làm từ vi khuẩn Như vậy, vi khuẩn vừa hữu ích và vừa có hại đối với chúng ta
Vi khuẩn có ích hoặc có hại cho môi trường, thực vật và động vật bao gồm cả con người Một số tác nhân gây bệnh như bệnh uốn ván (tetanus), sốt thương hàn (typhoid fover), giang mai (syphilis), tả (cholera), lao (tuberculosis)…
Trang 107
Một số loại vi khuẩn thường phân lập được từ đồ vải y tế và được cô lập từ vải
kháng khuẩn flutect
¾ Staphylococcus aureus (S aureus - tụ cầu khuẩn):
Staphylococcus phân bố rộng rãi
trong đất, nước, thực phẩm, da người, niêm
mạc
Tụ cầu khuẩn được phân làm 2 nhóm
lớn: Coagulase dương (Staphylococcus
aureus, Staphylococus intermedius) và
coagulase âm (Staphylococcus epidermidis,
Staphylococcus saprophyticus,
Staphylococcus haemolyticuss) Nhóm
coagulase âm trước nay vẫn được xem là
hoại sinh không gây bệnh, nhưng hiện nay,
theo kết quả của các nghiên cứu mới đây nó cũng có khả năng gây bệnh trong một số trường hợp đặc biệt là nhiễm trùng cơ hội Staphylococcus aureus (tụ cầu khuẩn vàng) hiện nay là một trong những tác nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn bệnh viện, đặc biệt là các chủng kháng Methicilline (Methicilline Resistant Staphylococcus aureus = MRSA) Staphylococcus spp có thể gây các bệnh từ nhiễm khuẩn thông thường như mụn nhọt, apxe, viêm tai, viêm khớp, viêm phổi, xoang mũi đến nhiễm khuẩn trầm trọng như: sưng phổi, nhiễm trùng huyết, viêm màng não, viêm màng trong tim và nhiễm khuẩn đường tiểu, có thể gây tử vong
Staphylococcus aureus gây ngộ độc thực phẩm khi bị nhiễm vào thức ăn, tiết ra độc tố đường ruột làm người ăn bị nôn mửa, tiêu chảy dữ dội, nhưng không sốt Bệnh thường lành nhanh chóng và không cần điều trị kháng sinh Nhưng nếu nhiễm một lượng lớn Staphylococcus thì vẫn phải điều trị bằng kháng sinh
¾ Escherichia coli
E coli có nhiều trong tự nhiên, trong
đường ruột của người và gia súc.Trong
đường ruột, chúng có nhiều ở đại tràng nên
còn gọi là vi khuẩn đại tràng Chúng nhiễm
vào đất, nước, thực vật từ phân của người và
động vật, chúng trở nên gây bệnh khi có điều
kiện thuận lợi E coli là vi khuẩn chính gây
nhiễm khuẩn đường ruột và đường tiểu Có
Hình 2.1 Tụ cầu khuẩn (S aureus)
Hình 2.2 - Vi khuẩn Escherichia coli
Trang 118
nhiều loại E coli nhiễm khuẩn theo cơ chế khác nhau:
− Nhiễm khuẩn đường tiểu: E coli là tác nhân thường thấy nhất, 90% các trường hợp nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ do E coli, với các triệu chứng như: tiểu gắt, buốt, tiểu ra máu, tiểu có mủ Có thể đưa đến nhiễm khuẩn bàng quang, thận, cơ quan sinh dục và nhiễm khuẩn máu…
− Nhiễm khuẩn máu: khi sức đề kháng của vi khuẩn giảm, vi khuẩn vào máu gây nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh và sau khi nhiễm khuẩn đường tiểu
− Viêm màng não: E coli chiếm khoảng 40% trường hợp viêm màng não ở trẻ sơ sinh
− Tiêu chảy: Chủng E coli liên quan đến tiêu chảy, đặc biệt là ở trẻ em
¾ Klebshiella
Thường hoại sinh trong các nguồn
nước cung cấp, một vài gốc cộng sinh ở
đường ruột của người
Klebsiella pneumoniae gây bệnh viêm
thùy phổi nặng và các bệnh nhiễm khuẩn
đường hô hấp trên… Klebsilla ozaenae,
Klebsillar hinoscleromatis: Gây viêm mũi,
nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và nhiễm
khuẩn huyết Ngoài ra, Klebsilla còn gây ra nhiễm khuẩn đường tiểu, viêm niệu đạo, viêm màng tim, nhiễm khuẩn vết thương Vỏ bọc của nó có khả năng bảo vệ vi khuẩn khỏi sự thực bào cũng như thấm qua của các loại kháng sinh
¾ Pseudomonas aeruginosa (Trực
khuẩn mủ xanh)
Trực khuẩn mủ xanh thường sống ở
trong đất, nước, trên da và niêm mạc người
và động vật Là loại vi khuẩn gây bệnh có
điều kiện, khi cơ thể bị suy giảm miễn dịch,
bị mắc các bện ác tính hoặc mạn tính, …
Trực khuẩn mủ xanh có ở nhiều nơi,
nhiều dụng cụ máy móc trong bệnh viện như
ống thông, máy hô hấp nhân tạo, … Chúng
xâm nhập vào cờ thể qua da (nhất là sau khi bị bỏng) hoặc qua vết thương, do phẫu thuật Tại chỗ vi khuẩn gây viêm có mủ điển hình là mủ có màu xanh Nếu cơ thể giảm sức đề kháng hoặc do bệnh toàn thân, vi khuẩn xâm nhập và gây viêm các cơ quan như viêm
Hình 2.3 - Vi khuẩn Klebshiella
Hình 2.4 - Vi khuẩn P.aeruginosa
Trang 129
bàng quang, tai giữa, màng não, màng bụng, … vi khuẩn có thể vào máu gây nhiễm khuẩn huyết, viêm nội tâm mạc Ngoài ra, trực khuẩn mủ xanh hiện được coi là tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện mắc phải ở những bệnh nhân nằm viện lâu ngày Nhiễm khuẩn do trực khuẩn mủ xanh ngày càng trở nên trầm trọng do sự kháng kháng sinh rất mạnh của vi khuẩn
Ở thực vật: Pseudomonas aeruginosa gây bệnh ở thực vật
Ở động vật: Pseudomonas mallei gây bệnh ở ngựa, thường xâm nhiễm vào phổi Bệnh có thể truyền từ ngựa sang người
Nguồn lây nhiễm vi khuẩn P aeruginosa cho người là môi trường ẩm thấp của bệnh viện Người mang mầm bệnh tiềm ẩn là nguồn lây quan trọng từ người này sang người khác
¾ Streptococcus pneumoniae (S.pneumoniae – Phế cầu khuẩn)
Phế cầu khuẩn là một thành viên phổ biến
của hệ vi khuẩn chí vùng hầu họng, tuy nhiên tỷ lệ
người lành mang phế cầu thay đổi tuỳ theo tuổi,
môi trường sống, mùa và sự có mặt của nhiễm
trùng đường hô hấp trên (tỷ lệ trung bình từ
25-70% dân số) Là căn nguyên hàng đầu của “viêm
phổi mắc phải ở cộng đồng”
Phế cầu khuẩn có thể gây viêm mũi-họng
(nasopharyngitis), viêm tai giữa, viêm xoang
Viêm phổi thùy (thường xảy ra ở người 30-50
tuổi), viêm tiểu thùy phổi (thường xảy ra ở trẻ em, người lớn > 50 tuổi), viêm phế phổi, nhiễm khuẩn huyết dẫn tới viêm màng não, viêm nội tâm mạc, viêm ngoại tâm mạc, hoặc gây apxe ở nhiều tổ chức khác trong cơ thể Đường lây truyền:
quản-Từ người lành mang vi khuẩn:
− Trẻ nhỏ < 5 tuổi: 60% trẻ khoẻ mạnh có phế cầu vùng hầu họng
− Người lớn: 10-30% mang vi khuẩn phế cầu vùng họng
Yếu tố ngoại sinh: chủ yếu lây từ những người đang có bệnh hay người lành mang
vi khuẩn sang những người nhạy cảm mà có sức đề kháng với phế cầu đang bị giảm vì nhiễm virut, dị ứng, suy dinh dưỡng, nghiện rượu, suy nhược nói chung Bệnh nhân cắt lách hoặc thiếu máu hồng cầu hình liềm là những người nhạy cảm đặc biệt với các bệnh
do phế cầu
Hình 2.5 - Vi khuẩn S.pneumoniae
Trang 1310
Yếu tố nội sinh: từ một người lành mang vi khuẩn vùng mũi-họng chuyển thành
người bệnh do sức đề kháng giảm bởi các yếu tố được nêu ở trên
¾ Vi khuẩn Salmonella
Salmonella là tên chỉ một loài vi khuẩn
gồm hơn 2,500 loại khác nhau, có hình que với
lông roi, có thể sống trong các ống ruột của
người và động vật khác và có thể gây bệnh cho
người, súc vật, và chim chóc (đặc biệt là gia
cầm) Vi khuẩn salmonella có khắp mọi nơi và
có thể nhiễm gần như bất cứ loại thức ăn nào
Vi khuẩn Salmonella là một nguyên nhân
phổ biến gây ngộ độc thực phẩm (viêm dạ dày –
ruột), sốt thương hàn, sốt cận thương hàn Bệnh thường truyền sang người do ăn phải đồ
ăn nhiễm vi khuẩn salmonella và thường lây lan qua các đường: phát tán từ phân người
và động vật bị bệnh, thường xâm nhập vào nhà qua các loại thịt gia cầm sống, và cả các loại thực phẩm khác, gồm trứng, và trên động vật nuôi (đặc biệt là vật nuôi ngoại lai) Chúng đi vào cơ thể qua đường miệng và lan truyền từ người sang người thông qua thực phẩm nhiễm bẩn, tiếp xúc tay và các bề mặt Nguy cơ lây nhiễm trở nên đặc biệt nghiêm trọng khi có người bị tiêu chảy
¾ Trực khuẩn Shigella (lỵ trực khuẩn)
Trực khuẩn Shigella, thuộc họ
Enterobacteriae (vi khuẩn đường ruột) là trực
khuẩn gram âm, nhỏ, dài 1-3 mm, không có bao,
không tạo bào tử, không di động, ái khí, có thể
kỵ khí, mọc dễ dàng ở môi trường thạch lỏng
37oC
Vi khuẩn Shigella khi xâm nhập cơ thể
người sẽ gây bệnh viêm đường ruột Bệnh này
có thể gây tiêu chảy nặng, đau thắt bụng và sốt Một số người bị nhiễm bệnh cũng có thể hoàn toàn không có triệu chứng gì, nhưng cũng có thể lây bệnh sang những người khác Bệnh lây qua đường tiêu hóa, lây trực tiếp là từ người sang người hoặc do bàn tay bẩn nhiễm khuẩn Hoặc lây gián tiếp thường qua nước uống, thức ăn Ruồi nhặng là mối đe dọa tiềm tàng ở các nước ôn đới, ở vùng khí hậu nóng, dân sống chen chúc tại các thành phố trong khi vệ sinh cá nhân và cộng đồng kém
Hình 2.6 - Vi khuẩn Salmonella
Hình 2.7 - Trực khuẩn Shigella
Trang 1411
Con người là nguồn bệnh độc nhất, do những người mắc bệnh thể cấp, thể mãn tính và người lành mang vi khuẩn Bệnh nhân mắc thể cấp là mối đe dọa nghiêm trọng nhất, những ngày đầu họ thải một khối lượng lớn vi khuẩn ra ngoài Những bệnh nhân mắc thể nhẹ thường không bị cách ly, không được điều trị sớm, bệnh nhân mắc thể mạn, thường là trẻ em, cũng gieo rắc mầm bệnh ở thời kỳ bộc phát Họ duy trì căn nguyên bệnh giữa các mùa dịch, vụ dịch Có thể từ vài tháng đến vài năm
2.1.2 Virus
Virus là loại vi sinh vật có kích thước nhỏ hơn rất nhiều so với vi khuẩn (chỉ thấy được nhờ kính hiển vi điện tử) và có cấu trúc gọi là "phi tế bào" Virus bắt buộc phải sống ký sinh bên trong tế bào ký chủ mà nó xâm nhiễm Ví dụ như HIV sống bên trong tế bào bạch cầu có tên lym-phô bào T (gọi tắt là CD4), còn virus cúm A thì sống bên trong
tế bào của hệ hô hấp
Virus được phát hiện vào cuối thế kỷ XIX khi nhận thấy nó qua được màng lọc vi khuẩn Virus nhỏ nhất có đường kính 20nm Năm 1935, W.M Stanlex phát hiện các virus
có thể tạo thành tinh thể (điều mà các sinh vật khác không thực hiện được)
¾ Cấu trúc của virus chỉ gồm có 2 phần:
Lớp vỏ bên ngoài gồm các glycoprotein, được gọi là các kháng nguyên (như HIV
có kháng nguyên GP 120, hay virus cúm A chứa kháng nguyên H và N, loại rất độc lưu hành hiện nay được định danh H5N1)
Phần nhân bên trong (còn gọi là capsid) chỉ chứa protein và bộ gen là DNA hoặc RNA (như virus cúm có bộ gen là RNA gồm 8 mảnh rời nhau, HIV có bộ gen là 2 chuỗi RNA)
¾ Đặc điểm chính của Virus:
Không có cấu tạo tế bào, chỉ mang một loại acid nucleic (DNA hoặc RNA), không
có hệ thống sinh tổng hợp protein, không có khả năng trao đổi chất do không có hệ thống biến dưỡng riêng Không tạo màng lipid riêng, một số virus biến đổi màng của tế bào chủ tạo thành màng bao của chính nó Sống ký sinh nội bào bắt buộc
Không chịu tác động bởi các thuốc kháng sinh ở mức độ tế bào Phương thức vận chuyển duy nhất là khuyếch tán, không tăng trưởng về khối lượng và kích thước
Virus được hình thành trọn vẹn được gọi là virion, bộ gen của nó được gói trong
vỏ protein và bên ngoài có thể có màng bao (envelop)
¾ Quá trình xâm nhiễm và nhân lên của virus trong tế bào gồm các giai đoạn:
Trang 15mã thành DNA nhờ men phiên mã ngược có tên reverse transcriptase
Ở bên trong tế bào bị nhiễm, virus cũng tìm cách nhân lên nhiều virus mới (gọi là
sự sao chép của virus)
Các virus mới trưởng thành được phóng thích khỏi tế bào đã nhiễm để xâm nhập các tế bào mới
¾ Vi rút H5N1
Vi rút cúm đã được nghiên cứu từ lâu
trên thế giới, thuộc họ Orthomyxoviridiae Các
chủng vi rút cúm được chia thành 3 typ (cúm A,
cúm B và cúm C) dựa theo sự khác biệt của cấu
trúc kháng nguyên nucleoprotein và vỏ protein
Các virút thuộc nhóm B và C thường tìm thấy
trong con người nhưng chúng không có tác hại
lớn, ngoại trừ gây ra vài rối loạn cấp tính đường
hô hấp, chúng không có khả năng gây tử vong cho bệnh nhân Nhưng các virút thuộc nhóm A là đáng quan tâm hơn hết, bởi vì chúng có thể đột biến một cách nhanh chóng thành những virút có khả năng kháng nguyên (antigenic), có nghĩa là chúng có thể tiến hóa thành những virút mà hệ thống miễn nhiễm của con người không nhận ra được (và không có khả năng phòng chống chúng)
Virút cúm thuộc nhóm A có cấu trúc gồm hai nhóm protein: hemagglutinin (HA)
và neuraminidase (NA) HA có 15 chi với mã danh H1 đến H15 NA có 9 chi với mã danh N1 đến N9 Trong rất nhiều các typ cúm A, có chủng thường gây bệnh ở người, nhưng có những chủng virút cúm thường chỉ gây bệnh trên gia cầm, trong một số rất ít trường hợp có thể xuất hiện tình trạng lây từ gia cầm sang người và gây bệnh ở người (H1, H2 và H3) Chủng virút cúm gia cầm H5N1 chủ yếu gây bệnh trên gia cầm Năm
1997, lần đầu tiên phát hiện chủng vi rút cúm gia cầm H5N1 này gây bệnh trên người, bệnh diễn biến nặng và có tỷ lệ tử vong cao
2.2 Tổng quan về vật liệu kháng khuẩn sử dụng trong y tế và thực phẩm
2.2.1 Các khái niệm:
Hình 2.8 – Cấu trúc vi rus H5N1
Trang 1613
2.2.1.1 Khái niệm về vải:
Vải là sản phẩm dạng tấm làm từ xơ sợi, có độ che phủ, độ mềm rũ và độ bền cơ học nhất định; chịu được thời tiết như mưa gió, nhiệt độ, ánh sáng … và không tan chảy trong nước hay các dung dịch thông thường Vải là nguyên liệu chính của ngành may Theo cấu trúc, vải được chia làm 3 loại:
− Vải dệt thoi (Weaving): do các hệ sợi vuông góc đan kết lại với nhau, hệ thống sợi nằm xuôi theo biên vải gọi là sợi dọc, hệ thống sợi nằm vuông góc với biên vải gọi
là sợi ngang (hình 2.9a)
− Vải dệt kim (knitting): do các hệ sợi liên kết lại với nhau bằng vòng sợi (hình 2.9b)
− Vải không dệt (nonwoven): do các hệ sợi hoặc xơ liên kết lại với nhau bằng các phương pháp dính kết cơ học, vật lý, hóa học, vv khác với những phương pháp truyền thống đã mô tả ở trên (hình 2.9c)
2.2.1.1 Khái niệm về vải kháng khuẩn:
Các loại vải kháng khuẩn (sợi kháng khuẩn) là vải dựa trên các tác nhân chống khuẩn đã được áp dụng ở bề mặt, hoặc kết hợp vào các sợi, làm cho vải (sợi) có thể tiêu diệt hoặc ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn
Trong điều kiện giặt bình thường, không thể loại bỏ được các loại vi khuẩn Để loại bỏ được các loại vi khuẩn, phải giặt tẩy ở điều kiện đặc biệt
Ví Dụ: nhiệt độ 95oC, các chất tẩy mạnh nhưng không loại bỏ hoàn toàn tất cả các loại vi khuẩn được, chỉ cần 1 lượng vi khuẩn rất nhỏ còn tồn tại, chúng sẽ nhanh chóng nhân lên khi mặc Vì vậy, cần phải sử dụng các loại vải kháng khuẩn Vải kháng khuẩn sẽ
ức chế sự phát triển của vi khuẩn và làm giảm mùi khó chịu, hoặc có thể giết chết các vi khuẩn
(a) Vải dệt thoi
Hình 2.9 – Cấu trúc vải
(b) Vải dệt kim (c) Vải không dệt
Trang 1714
2.2.2 Khái quát về các tác nhân lây nhiễm vi sinh vật trong ngành y
Trong các vấn đề chăm sóc sức khỏe hiện nay, mối quan tâm về phơi nhiễm và di chuyển của các vi sinh vật thực hiện thông qua các chất dịch cơ thể ngày càng được quan tâm Có một thừa nhận rằng hiệu quả của các rào cản trong y tế sẽ loại bỏ hoặc giảm thiểu các nguy cơ lây nhiễm Mối quan tâm này ở phạm vi quốc tế, gần đây được chứng minh bằng việc giới thiệu các quy định, nguyên tắc và các phương pháp thử nghiệm của các tổ chức trên khắp thế giới Áo choàng và drap phủ đã được sử dụng tại các phẫu thuật
kể từ cuối thế kỷ thứ 19 Hiện nay, ngoài việc bảo vệ sức khỏe người lao động về các bệnh do vi sinh vật và virus, áo choàng và drap phủ được sử dụng để bảo vệ các bệnh nhân nhiễm vi sinh vật từ các nhân viên chăm sóc sức khỏe và từ người bệnh sang người bệnh
Sự xuất hiện càng nhiều của các nhân tố có thể kháng lại các bệnh truyền nhiễm cũng được quan tâm Vấn đề này dẫn tới việc cần sản xuất, sáng tạo và phát triển các sản phẩm mới trong ngành công nghiệp dệt Lúc đó, đó báo cáo của Beck và Collette (1952) cho rằng áo phẫu thuật và drap phủ làm từ chất liệu bằng bông có đặc tính kháng lại vi khuẩn, nhưng sẽ mất hiệu lực kháng khuẩn khi bị ướt Các đánh giá và phát triển vải với thuộc tính kháng khuẩn phù hợp cho hoạt động trong phòng phẫu thuật đã được nghiên cứu Dệt may có tiềm năng là làm rào cản phù hợp, nhưng nó phải ngăn chặn việc truyền của
vi khuẩn và chất lỏng tìm thấy được trong các phòng phẫu thuật Quần áo có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu bệnh lây truyền qua đường không khí và đường máu bằng cách tạo ra một rào cản vật lý giữa nguồn nhiễm với cá nhân lành mạnh Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) xác định ba tuyến đường chính trong mối quan hệ giữa những nhân viên chăm sóc sức khỏe và vi sinh vật: tiếp xúc (trực tiếp và gián tiếp), hô hấp và nước bọt, các hạt nhỏ qua đường không khí Tiếp xúc được coi là phổ biến nhất và tiếp xúc xảy ra khi vi sinh vật được chuyển trực tiếp từ người này qua người khác Truyền qua nước bọt xuất hiện khi ho, hắt hơi hoặc nói chuyện sẽ đẩy ra các giọt dung dịch nhỏ trong khoảng cách ngắn và lưu lại trên người khác Trong cả hai
cơ chế truyền (tiếp xúc trực tiếp và nước bọt), việc sử dụng trang phục bảo vệ thích hợp
có thể để tạo ra rào cản để loại bỏ hoặc giảm cơ chế truyền này, và do đó ngăn chặn việc chuyển giao các vi sinh vật giữa các bệnh nhân và nhân viên chăm sóc sức khỏe
2.2.3 Sự truyền vi khuẩn và chất lỏng qua vải
Tính chất vật lý và hóa học của vải, hình dạng và đặc tính bề mặt của các vi khuẩn,
và các tính chất của phần tử vận chuyển góp phần kiểm soát sự chuyển động của vi sinh vật thông qua cấu trúc vải Vi khuẩn không thể tự di chuyển từ nơi này sang nơi khác,mà nhờ sự hỗ trợ của bụi, xơ bông, tế bào da (Beck và Carlson 1963, Dineen 1969).Trong
Trang 1815
các qui trình của ngành y tế, các chất lỏng như máu, mồ hôi và cồn thường hiện diện trong môi trường và chúng chính là nhân tố vận chuyển các vi khuẩn qua vải Các vật thể như tế bào da, bông xơ và bụi, cũng như các giọt nước được phát tán ra ngoài cơ thể do
ho, hắt hơi hoặc khi nói chuyện đều là vật thể đưa vi khuẩn đi vào trong vải Vì vậy, chúng ta cần xem xét sự tương tác của phần tử vận chuyển và khả năng ngăn ngừa, cũng như hiệu quả của nó đối với sự hoạt động của các phần tử vi khuẩn
Trong bệnh viện, khoa phẫu thuật là nguồn gây nhiễm nhiều nhất (Whyte et al 1983, Woodhead và ctv 2002) Hầu hết sự nhiễm trùng các vết thương chính là sự lây lan nhiễm khuẩn giữa các nhân viên và bệnh nhân Sự lan truyền của nhiễm khuẩn trong bệnh viện khi xảy ra có thể có hoặc không có sự hỗ trợ của chất lỏng, tuy nhiên sự hiện diện của chất lỏng tạo điều kiện vi khuẩn dễ lây lan và làm tăng khả năng nhiễm khuẩn (AWMF năm 1998) Để kiểm tra cơ chế truyền vi khuẩn, cần tìm hiểu sự dịch chuyển của chất lỏng vào vải Chất lỏng và vi khuẩn có thể thấm vào vải dựa vào độ mao dẫn của vải (Woodhead et al 2002)
Cấu trúc của xơ và sợi được sử dụng trong vải thường có hình trụ và bề mặt thì hình cầu và hẹp tạo thành mao quản Áp suất giảm trên bề mặt cong là nguyên nhân làm tăng hoặc giảm chất lỏng trong mao mạch Theo Giáo sư Gupta, các hệ số đóng một vai trò trong quá trình mao dẫn của các mao quản được xác định:
− Đặc trưng của các chất lỏng (sức căng bề mặt, độ nhớt và mật độ)
− Bản chất của bề mặt (năng lượng bề mặt và hình thái bề mặt)
− Tương tác của các chất lỏng với bề mặt (sức căng bề mặt và góc tiếp xúc)
− Đặc điểm khe (lỗ trống) (kích cỡ thể tích, hình học và hướng) (Gupta 1988)
Sự kết hợp của các yếu tố trên chỉ ra cơ chế dịch chuyển của chất lỏng vào vải Kiểm soát khả năng thấm ướt thông qua mối quan hệ giữa sức căng bề mặt của chất lỏng và năng lượng bề mặt của vật liệu là bước đầu tiên trong quá trình truyền tải Mối quan hệ này được đo qua góc tiếp xúc bề mặt Thông thường nếu góc tiếp xúc giữa chất lỏng với
bề mặt vải lớn hơn 90 độ chất lỏng sẽ ở dạng giọt nước và bị đẩy trên bề mặt vải (có sự khác nhau lớn về sức căng bề mặt giữa chất lỏng và vải), nói cách khác vải có tính kỵ nước cao Tuy nhiên, nếu góc tiếp xúc nhỏ hơn 90 độ, chất lỏng có khả năng chảy tràn, tăng khả năng hấp phụ của chất lỏng vào vải và xơ Năng lượng bề mặt của vải bị ảnh hưởng bởi tất cả các thông số của vải Việc đo lường góc tiếp xúc giữa vải và chất lỏng rất khó khăn, phụ thuộc vào bề mặt không đồng nhất của vải Hiện nay có các hệ thống
đo lường hiện đại có thể đo góc tiếp xúc giữa các chất lỏng và vải
Trang 1916
Các chất lỏng dùng trong phòng phẫu thuật lỏng có sức căng bề mặt từ thấp đến cao Dung dịch nước và muối có sức căng bề mặt tương đối cao (~ 70±72 dyne/cm), máu thì trung bình (~ 42 dyne/cm) và rượu isopropyl có sức căng bề mặt thấp (~ 22 dyne/cm) Do vậy, vải được sử dụng như là khả năng ngăn ngừa trong các cơ sở y tế và phải có khả
năng đẩy lùi các chất lỏng có sức căng bề mặt thấp
Sự đa dạng vi khuẩn có thể được thấy trong các biến thể kích thước tế bào, hình thái,
sự trao đổi chất, tính di động, sự phân chia tế bào, phát triển sinh học, sự thích ứng với môi trường, và nhiều khía cạnh khác Về cấu trúc và chức năng của tế bào vi khuẩn thường nhỏ hơn so với nấm và dài 1±5 micromet và hoàn toàn không thấy bằng mắt thường Virus có kích thước còn nhỏ hơn vi khuẩn Hình dạng của vi sinh vật có thể cũng khác nhau và điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng di chuyển qua cấu trúc vải Nghiên cứu trong lĩnh vực lọc đã chỉ ra rằng vi khuẩn hình que (như E coli) có nhiều khả năng được mắc kẹt hơn vi khuẩn hình dạng cầu
Vi sinh vật có thể được truyền qua rào cản vải bằng cách thẩm thấu của chất lỏng dựa vào áp suất hoặc việc nghiêng mặt tiếp xúc Các hoạt động cơ thể như tạo áp lực có thể dẫn đến việc xâm nhập của vi khuẩn dạng khô và lỏng nếu áp lực vượt quá mức kháng tối đa của các vật liệu
2.2.4 Vải sợi dùng trong áo choàng y tế
Áo choàng và drap phủ sử dụng trong phòng phẫu thuật trên thị trường hiện nay được sản xuất từ nhiều chủng loại vải Chúng phân thành 2 nhóm sản phẩm ‘dùng một lần’ và
‘tái sử dụng’ Áo choàng sử dụng một lần hoặc tái sử dụng đều được dùng để mặc khi phẫu thuật Tuy nhiên loại dùng một lần chiếm phần lớn thị trường Những sản phẩm này thường được may bằng vải không dệt và có thiết kế đơn giản và sau 1 lần sử dụng thì loại
bỏ Chúng có thể được sản xuất từ nhiều loại vải không dệt và phổ biến nhất là vải không
dệt gồm màng xơ ghép với vải dệt thoi hay dệt kim Áo phẫu thuật “tái sử dụng” được
“xử lý lại” (giặt và tiệt trùng) sau mỗi lần sử dụng Loại vải phổ biến thường được may những sản phẩm này là vải dệt thoi hay trilaminate Phần lớn áo phẫu thuật “ tái sử dụng” được may từ vải có kiểu dệt vân điểm và nguyên liệu dệt từ bông pha polyester hoặc 100% polyester Vải Trilaminate là vải được tạo thành do sự liên kết giữa các màng mỏng siêu lọc với vải dệt thoi polyester và dệt kim polyester Sản phẩm dệt và không dệt cũng có thể tăng cường bằng lớp bổ sung để gia tăng hiệu quả của khả năng ngăn ngừa
vi khuẩn
Sản phẩm được dùng một lần hoặc tái sử dụng, hoặc sản xuất từ vải không dệt hoặc vải dệt, cũng cần phải có những tính chất đặc trưng của vải là có khả năng ngăn ngừa Chúng bao gồm khả năng chống nước, kích thước lỗ trống, mật độ sợi và độ dày
Trang 2017
Bên cạnh đó, khả năng kháng thủy tĩnh thường được đo và được sử dụng như là một chỉ
số cho khả năng ngăn ngừa Để đạt được các tính chất cần thiết cho khả năng ngăn ngừa đạt hiệu quả và đáp ứng các yêu cầu cần thiết cho áo choàng và drap phủ dùng trong phòng phẩu thuật, cần phải tìm hiểu đặc tính xơ, sợi (nếu có) và đặc biệt là cấu trúc của vải, quá trình xử lý hoàn tất vải và các tương tác giữa chúng Sau đây là tổng quan về các thành phần cơ bản của vải và quá trình xử lý hoàn tất vải kháng khuẩn
2.2.4.1 Xơ
Xơ là đơn vị nhỏ nhất của vải và tính chất của chúng phụ thuộc vào các tính chất hóa học và vật lý Về mặt hóa học, độ mao dẫn của xơ là tính chất quan trọng đối với các cơ chế truyền Xơ thấm nước càng cao đẩy các chất lỏng mang các vi khuẩn đi sâu trong cấu trúc xơ (Leonas 1997b) Với xơ có độ thấm nước thấp, chất lỏng mang các vi khuẩn sẽ thấm dọc theo bề mặt xơ Xơ có nguồn gốc từ thiên nhiên như bông, len có khả năng hút nước cao hơn xơ tổng hợp bao gồm cả polyolefins, polyester và nylon Xơ tái sinh Rayon
có khả năng hút nước cao hơn xơ tổng hợp Xơ có khả năng hút nước thấp thì bề mặt xơ phù hợp cho xử lý kháng nước
Các tính chất vật lý hoặc hình dạng mặt cắt ngang của xơ cũng ảnh hưởng đến hiệu quả rào cản Mặt cắt ngang không đồng nhất của xơ hạn chế khả năng di chuyển các hạt
Xơ bông sợi có cấu trúc xoắn tự nhiên dễ dàng giữ lại các hạt chất lỏng
Bề mặt xơ Rayon không đồng nhất và có sọc nhăn Các sọc này không có tác dụng
giữ lại các hạt khi chúng di chuyển vào trong vải như cấu trúc xoắn của xơ bông Các xơ
tổng hợp vốn có mặt cắt phẳng, tròn nên các hạt dễ dàng trượt trên xơ Với tính chất này
nó tạo một lực giữa các xơ Tuy nhiên, với công nghệ sản xuất đặc biệt biến đổi hình dạng ở đầu spinneret hoặc qui trình tạo dún, xơ tổng hợp có tiết diện không đồng nhất
Gần đây, công nghệ tạo ra sợi polyester với hiệu ứng giống lanh tự nhiên, có bề mặt thân sợi không đều Với hình dạng như vậy lượng ẩm có thể di chuyển qua các khe mao dẫn giữa các bó sợi filament, do đó vật liệu có khả năng hấp thụ ẩm cao
Chiều dài của xơ cũng ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ của vải Với xơ ngắn khả năng bảo vệ hiệu quả hơn xơ dài Vải làm từ xơ siêu mảnh (microfiber – được sản xuất đầu tiên vào năm 1989, có độ mảnh nhỏ hơn 1 denier) có thể đáp ứng các yêu cầu cao của vải có khả năng bảo vệ (Bernstein 1996) Hiện nay xơ siêu mảnh được dùng may áo choàng và drap phủ
2.2.4.2 Sợi
Thành phần cơ bản thứ hai của vải là sợi Quá trình xoắn nhằm liên kết các thành phần xơ lại với nhau Độ xoắn có ảnh hưởng đến các tính chất của sợi Sợi từ xơ filament
Trang 2118
có số vòng xoắn ít hơn sợi từ xơ cắt ngắn Sợi có độ xoắn thấp, đường kính xơ tăng lên
và gia tăng các khe hở giữa các xơ Các hạt mang vi khuẩn sẽ đi vào vải qua các khe hở này Trong nghiên cứu đánh giá phân tích hình ảnh của các loại vải may áo choàng phẫu thuật, xuất hiện nhiều lỗ trống tồn tại bên trong các sợi filament và trong cấu trúc vải (Aibibu và ctv 2003) Sợi từ xơ cắt ngắn có độ xoắn thấp, sẽ có các đầu xơ ló ra ngoài thân sợi Đây chính là nơi lý tưởng để hạt mang vi khuẩn đi vào vải Thêm vào đó chúng còn tạo ra bề mặt sợi không đồng đều làm phá vỡ lực mao dẫn, giảm sự chuyển động của chất lỏng
Mật độ dệt thể hiện sự bố trí sợi nhiều hay ít trên một đơn vị dài của vải (số sợi/inch) Mật độ dệt tăng, khoảng cách giữa các sợi gần nhau hơn (kết cấu chặt), khe hở nhỏ tạo ra
lỗ có kích thước nhỏ do đó mao dẫn tốt hơn Nếu vải có kiểu dệt khác (như vân chéo), sợi
hoặc xơ có khuynh hướng gián đoạn, các mao quản ngắn hơn và khả năng di chuyển các chất lỏng trong vải sẽ bị giảm
Vải không dệt được sản xuất trực tiếp từ màng xơ và quy trình có thể được chia thành hai công đoạn, hình thành màng xơ và liên kết màng xơ Qui trình sản xuất vải không dệt ngắn (giảm bớt công đoạn kéo sợi) và liên tục nên đạt được hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, có sự không đồng nhất trong các sản phẩm Hơn thế do tạo từ các màng
xơ, nên các xơ được sắp xếp trong vải một cách ngẫu nhiên Điều này làm giảm sự hình
thành của mao quản do đó làm giảm khả năng truyền chất lỏng Ngoài ra, định hướng
ngẫu nhiên các vị trí xơ tạo ra một bộ lọc hiệu quả hơn trong việc giữ lại vi khuẩn và các hạt mang vi khuẩn Trong thập kỷ qua, ba loại vải không dệt được tạo ra theo công
nghệ spunlaced, thổi chảy (meltblown) và vải không dệt tạo bởi ba lớp xếp chồng lên
nhau (nonwoven/ meltblown/nonwoven) đã được sử dụng thường xuyên may áo choàng
y tế và drap phủ
2.2.4.4 Xử lý hoàn tất
Xử lý chống thấm cho vải được sử dụng rộng rãi nhất trong trang phục bảo vệ cho người lao động làm việc trong ngành y tế Công nghệ hoàn tất chống thấm nước & kháng khuẩn được ứng dụng cho các loại vải này Trong trường hợp hoàn tất chống thấm nước
& kháng khuẩn được áp dụng, bề mặt của vải bị ảnh hưởng bởi tính chất vật lý và hóa
Trang 2219
học của các thành phần vải Các tính chất vật lý được quan tâm bao gồm các kết cấu của vải, bị ảnh hưởng bởi các bề mặt xơ, bề mặt sợi và cấu trúc vải Bề mặt vải trơn nhẵn có tính kháng nước hơn so với bề mặt thô Các đặc tính hóa học có liên quan trực tiếp hơn đến các đặc tính hóa học của sợi Tính không thấm nước tăng lên với sự tăng tỷ lệ xơ sợi
kỵ nước trong vải Sự kết hợp của các yếu tố này và các đặc tính khác tạo ra năng lượng
bề mặt của vải
Để tăng cường khả năng chống thấm nước của bề mặt vải, sức căng bề mặt sẽ giảm bằng cách xử lý hoàn tất vải với hóa chất làm thay đổi sức căng bề mặt Hoàn tất vải dựa trên Fluorocarbon được sử dụng phổ biến nhất trong trang phục bảo vệ cho người lao động ngành y tế Lớp hoàn tất chống nước này rất hữu hiệu trong việc giảm sức căng
bề mặt của vải đủ để đẩy lui cả nước và chất lỏng dựa trên gốc dầu Chúng tạo cho vải khả năng chịu nước (làm tuột ra một lượng nhỏ nước) nhưng bị thấm nước, do đó chúng rất hữu dụng Tuy nhiên, nó có thể dễ bị xâm nhập bởi chất lỏng có sức căng bề mặt thấp, chẳng hạn như rượu isopropyl Khi số lượng các phân tử Fluor tăng trong cấu trúc hóa học chất liệu hoàn tất, sức căng bề mặt giảm
Các nhân tố kháng khuẩn làm tiêu hủy và ức chế sự tăng trưởng của vi sinh vật
Để có hiệu quả ức chế sự tăng trưởng của vi sinh vật, các nhân tố kháng vi khuẩn sinh phải làm gián đoạn chu kỳ tăng trưởng Một số các mục tiêu quan trọng trong chu kỳ tăng trưởng bao gồm thành tế bào, màng tế bào chất, quá trình tổng hợp protein và tổng hợp axít nucleic Tùy thuộc vào loại vi sinh vật các tác nhân hóa học được thiết kế để tấn công phù hợp, các yếu tố kháng khuẩn có thể được thêm vào được phân loại thành kháng sinh diệt khuẩn, thuốc diệt nấm, thuốc tẩy uế, chất khử trùng, các nhân tố hóa học trị liệu
và chất kháng sinh Mức độ nhạy cảm của vi sinh vật với các nhân tố kháng sinh khác nhau Vi khuẩn gam dương thường nhạy cảm với thuốc kháng sinh hơn vi khuẩn gam âm Một kháng sinh phổ rộng sẽ hoạt động trên một phạm vi rộng các vi sinh vật hơn là các kháng sinh đơn Một số nhân tố kháng khuẩn có tác dụng rất hạn chế nên hiệu quả cho chỉ một hoặc một vài loại vi khuẩn và virus Các hợp chất kháng sinh được sử dụng để xử
lý vải sợi bao gồm rượu, các tác nhân ôxi hóa, kim loại nặng, axit, andehide, chất hoạt động bề mặt và thuốc kháng sinh
Trong những năm gần đây đã có sự phát triển của hệ thống kháng sinh có thể được tái tạo bằng cách giặt và tiếp xúc với ánh sáng cực tím Trong hệ thống này, hoạt động kháng khuẩn của vải có thể được liên tục tái tạo qua quá trình giặt hoặc tiếp xúc với ánh sáng cực tím Mặc dù các khu vực chứa các hóa chất kháng sinh trong vải bị giới hạn, bề mặt vẫn có hiệu quả cho thời gian dài
Trang 2320
Có nhiều cách để xử lý hoàn tất kháng khuẩn cho vật liệu dệt may, phụ thuộc vào đặc tính của chất kháng khuẩn và loại sợi sử dụng Thường có 3 dạng chính:
− (1) Tác nhân kháng khuẩn được trộn lẫn vào trong xơ (hình 2.10-a)
− (2) Tác nhân kháng khuẩn được tẩm lên bề mặt xơ (hình 2.10-b)
− (3) Đưa các liên kết hóa học có tác nhân kháng khuẩn gắn vào xơ (hình 2.10-c)
Phương pháp (1), (3) thường chỉ sử dụng trên các loại vải sợi tổng hợp; phương pháp (2) có thể ứng dụng trên tất cả các loại vải
2.2.4.5 Các chất kháng khuẩn sử dụng trong ngành dệt may
Các chất kháng khuẩn rất sử dụng trong ngành dệt may rất đa dạng, phụ thuộc vào bản chất hóa học, cách thức hoạt động của hóa chất và tác dụng phụ của nó với con người
và môi trường Ngoài ra còn phụ thuộc vào phương pháp đưa hóa chất vô vải, độ bền, giá thành, việc tuân thủ các quy định an toàn và cách chúng tương tác với vi khuẩn
Mục đích của việc truyền chất kháng khuẩn vào vải là để bảo vệ vải khỏi sự tấn công của vi khuẩn, ngăn chặn việc truyền và lan rộng khả năng sinh bệnh của vi khuẩn, ngăn chặn mùi do vi khuẩn sinh ra Việc xử lý kháng khuẩn cho vải cần phải đảm bảo một số yêu cầu để có thể đạt được hiệu quả kháng khuẩn tốt cho sản phẩm vải Vật liệu được xử lý kháng khuẩn phải đạt các yêu cầu sau:
− Hiệu quả trong việc ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn và các loại nấm mốc
− Không độc hại với con người và môi trường
Trang 2421
Nguyên lý hoạt động của chất kháng khuẩn
Thực tế cơ chế kiểm soát sự phát triển vi khuẩn của các tác nhân kháng khuẩn rất khác nhau phụ thuộc vào loại hóa chất sử dụng Thông thường tác nhân kháng khuẩn ngăn chặn quá trình sao chép tế bào, phá hủy thành tế bào hoặc thẩm thấu vào làm thay đổi tính chất các protein, ngăn chặn hoạt động enzyme và làm cho tế bào vi khuẩn không thể tồn tại được Các nghiên cứu cho rằng, hợp chất kháng khuẩn tấn công vào màng tế bào chất của vi khuẩn và cơ chế tấn công thường diễn ra theo 6 bước như sau:
− (1) Chất kháng khuẩn bám dính vào bề mặt tế bào vi khuẩn
− (2) Khuếch tán qua thành tế bào vi khuẩn
− (3) Tạo màng bao quanh tế bào vi khuẩn
− (4) Phá vỡ màng tế bào vi khuẩn
− (5) Giải phóng các thành phần cấu tạo tế bào chất của vi khuẩn như K+ ion, DNA và RNA
− (6) Giết chết vi khuẩn
Chất kháng khuẩn có thể hoạt động theo 2 cách riêng biệt:
− Tiếp xúc: chất kháng khuẩn ức chế vi khuẩn chỉ trên bề mặt sợi vải (hóa chất bám dính vào bề mặt sợi vải)
− Khuếch tán: chất kháng khuẩn từ từ giải phóng vào bề mặt sợi (hóa chất có đặc tính điều khiển việc giải phóng)
Các chất kháng khuẩn thường sử dụng:
− Các chất kháng khuẩn tổng hợp: triclosan, kim loại, muối kim loại, ion kim loại, oxit kim loại (TiO2, ZnO, MgO và CaO…), phenol, hợp chất amoni bậc bốn… rất hiệu quả trong việc chống lại nhiều loại khuẩn và bền đối với hàng dệt may dưới các điều kiện khác nhau
− Các chất kháng khuẩn tự nhiên như: chitosan [poly- (1-4) – 2- amino- 2- deoxy – β- D-glucan], sericin, chiết xuất men, thuốc nhuộm tự nhiên (acridines,
aminoacridines, quinon), … trong xử lý hoàn tất kháng khuẩn cũng đã được
nghiên cứu Các chất kháng khuẩn này có nguồn gốc tự nhiên, thân thiện với môi trường và không độc hại
Trang 2522
2.2.5 Một số loại vải sợi kháng khuẩn trên thị trường
2.2.5.1 Vải Stay Fresh (Mỹ):
Đây là sản phẩm của công ty Quick-Med Technologies, Inc (Mỹ) Công nghệ của loại vải này liên quan đến việc kết dính các hydrogen peroxide (H2O2) vào trong xơ hoặc sợi vải để tăng khả năng chống khuẩn lâu dài H2O2 được biết có khả năng cao trong việc chống lại vi khuẩn, virus, nấm, mốc và tảo Theo báo cáo của công ty Quick-Med, nó giúp bảo tồn sợi vải và không mùi và có thể tồn tại đặc tính kháng khuẩn sau 75 lần giặt Việc xử lý này áp dụng rất kinh tế vào trong công đoạn xử lý bình thường, không lem màu và an toàn cho da
2.2.5.2 Vải Trevira Bioactive (Đức):
Đây là sản phẩm của công ty Trevira (Đức), sử dụng các phân tử ion bạc gắn dính vào sợi polymer Các ion bạc di cư vào bề mặt sợi và vì vậy có tác dụng mạnh mẽ trong việc chống vi khuẩn Khi vi khuẩn tiếp xúc với vải, chúng bị phá hủy và bị ngăn chặn phát sinh với các ion bạc Theo báo cáo của công ty Trevira, tác dụng kháng khuẩn còn tồn tại sau 100 lần giặt, ngoài ra, vải loại này dễ giặt ủi, mau khô và giữ nếp, tạo dáng tốt
2.2.5.3 Vải Flutect (Nhật):
Đây là sản phẩm của công ty Shikibo (Nhật).Vật liệu Flutect được phát triển dựa trên kết quả đồng nghiên cứu giữa công ty Shikibo (Nhật) và Viện Sức khỏe Động vật (Nhật) Được dùng làm khẩu trang và cho thấy công dụng hữu hiệu chống lại cúm gia cầm Chất liệu chống khuẩn bao phủ xơ vải và có ảnh hưởng chống khuẩn ngay cả khi vi khuẩn bám dính vào xơ vải Thực nghiệm trên virus cúm H3N8 và H5N1 cho thấy Flutect nhạy cảm với virus và việc nhiễm virus giảm xuống dưới mức cho phép Kết quả kiểm nghiệm và được công ty Shikibo công bố tác dụng chống virus của loại vải này rất nhanh và Flutect vẫn giữ được khả năng chống virus và vi khuẩn sau 50 lần giặt (Phụ lục 1), thông tin về các loại vi khuẩn và virus mà loại vải này có thể cô lập được đã đề cập ở phần đầu của chương
Vải Flutect có thể sử dụng cho các sản phẩm quần áo đặc thù như: quần áo dùng trong ngành y tế, áo choàng phòng thí nghiệm, quần áo cho công nhân trong các trang trại gia cầm, đồng phục trong công nghiệp chế biến thực phẩm
Shikibo cũng phát triển loại khẩu trang N95 dùng vật liệu Flutect Chuẩn N95 được chứng nhận bởi Viện An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp Mỹ (NIOSH) và được dùng rộng rãi trên toàn cầu Sản phẩm đạt chứng nhận nhận này lưu giữ ít nhất 95% các hạt nhỏ trong không khí (0.1 – 0.3 micromet) và có thể được dùng trong ngành y
Trang 26¾ AATCC 147: Đánh giá hoạt động kháng khuẩn của vật liệu dệt: Phương pháp
sọc song song: Phương pháp này được sử dụng để phát hiện vi khuẩn hoạt động trên các vật liệu dệt Phương pháp này rất hữu dụng cho ước tính sơ bộ về hoạt động của vi khuẩn (Phụ lục 2)
¾ AATCC 100: Đánh giá khả năng kháng khuẩn hoàn thiện của vật liệu dệt: Đây
là một phương pháp định lượng để xác định mức độ hoạt tính kháng khuẩn của vật liệu dệt (Phụ lục 3)
¾ AATCC 30: Đánh giá khả năng kháng nấm hoạt động của vật liệu dệt: Khả năng
chống nấm và mục nát của vật liệu dệt Bao gồm 2 phương pháp thử nghiệm được sử dụng để xác định tính nhạy cảm của vật liệu dệt do nấm mốc cũng như mục nát và đánh giá hiệu quả của thuốc diệt nấm trên nguyên liệu dệt
¾ AATCC 127: Khả năng kháng nước: Phương pháp thử áp suất thủy tĩnh:
.Phương pháp này đo lường khả mức độ kháng của vật liệu dệt với sự xâm nhập của nước dưới áp suất thủy tĩnh Áp dụng cho tất cả các vật liệu dệt bao gồm những vật liệu đã qua
xử lý chống thấm nước hay hoàn tất đẩy nước
¾ AATCC 42: Khả năng kháng nước Phương pháp thử xâm nhập do tác động:
phương pháp này áp dụng cho bất kỳ loại vải sợi nào, có hay không có khả năng đẩy nước Nó đo lường khả năng kháng của vật liệu dệt chống lại sự xâm nhập của nước do tác động, và vì vậy có thể được dùng để dự đoán khả năng chống nước của vật liệu do mưa
2.3.2 Một số phương pháp thử của ASTM (American Society for Testing and Materials – Hội kiểm nghiệm và vật liệu Hoa Kỳ)
¾ F1670: Phương pháp thử chuẩn cho khả năng kháng của vật liệu dùng trong
quần áo bảo hộ đối với xâm nhập của máu nhân tạo Phương pháp này thường dùng để đánh giá mẫu thử cho các mẫu quần áo bảo hộ hoàn chỉnh và các mẫu vật liệu dùng trong quần áo bảo hộ Các mẫu quần áo bảo hộ hoàn chỉnh bao gồm vớ, lót tay, áo choàng, miếng che, mũ trùm và giày
Trang 2724
¾ F1671: Phương pháp thử chuẩn cho khả năng kháng của vật liệu dùng trong
quần áo bảo hộ đối với xâm nhập của các nguồn bệnh qua đường máu sử dụng hệ thống Xâm nhập thể thực phẩm Phi-X174 như hệ thống thử
¾ F2407-06: Thông số tiêu chuẩn cho áo choàng phẫu thuật dùng trong thiết bị
ngành y tế Thông số tiêu chuẩn này thiết lập các yêu cầu về khả năng, chỉ dẫn, dán nhãn của áo choàng phẫu thuật dùng trong thiết bị y tế Nó không những bao gồm tất cả các yêu cầu cần thiết để chọn lựa sản phẩm mà còn chỉ ra các tiêu chuẩn để đánh giá sản phẩm Kiểm tra rào cản phải được cân nhắc để xác định xâm nhập do tác động, khả năng chống nước tĩnh và khả năng chống xâm nhập tại một số vùng quan trọng trong áo choàng phẫu thuật Các đặc tính vật lý của các vùng quan trọng này phải được kiểm nghiệm và phù hợp với các yêu cầu sau: sức căng, chống rách, độ bền của đường may, khả năng sinh xơ sợi, chống bay hơi, mức bay hơi nước Những yêu cầu chung phải được dựa trên tính tương hợp sinh học, an toàn tiệt trùng, khả năng dẫn cháy và các đặc tính của cao su latex tự nhiên
¾ E2149 - 10: Phương pháp thử chuẩn cho việc xác định hoạt động kháng khuẩn
của chất kháng khuẩn bất động dưới điều kiện tiếp xúc động: Phương pháp này được thiết
kế để đánh giá khả năng chống khuẩn của các mẫu thử được xử lý chất chống khuẩn không lọc dưới điều kiện tiếp xúc động
2.3.3 Phương pháp thử của BS EN ISO (Bristish Stardard: Tiêu chuẩn Vương Quốc Anh)
¾ BS EN ISO 20645: Xác định hoạt tính kháng khuẩn: Phương pháp thử tấm Agar
khuếch tán Phương pháp này cho thủ tục cho việc xác định hiệu quả của phương pháp điều trị kháng khuẩn áp dụng cho vải dệt thoi, dệt kim và dệt may khác Phương pháp này được áp dụng để kiểm tra khả năng hợp vệ sinh của các vật liệu thấm hút nước, thấm không khí hoặc các sản phẩm kháng khuẩn của sợi
2.3.4 Tiêu chuẩn của AAMI/ANSI (Association for the Advancement of Medical Instrumentation/ American National Standards Institute: Hiệp hội thiết bị Y học tiên tiến/ Viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ)
¾ ST65: Tiêu chuẩn về xử lý các vật liệu dệt may sử dụng nhiều lần dùng trong
các cơ sở y tế: Tài liệu hướng dẫn tác nghiệp này cung cấp những chỉ dân trong việc lưu giữ, xử lý và chuẩn bị các sản phẩm dệt may dùng trong phẫu thuật áp dụng cho các cơ
sở y tế
¾ TIR No 11: Tiêu chuẩn lựa chọn và sử dụng quần áo bảo hộ và drap phủ dùng
cho phẫu thuật trong các cơ sở y tế
Trang 2825
¾ PB70: Tiêu chuẩn về khả năng ngăn cản chất lỏng và phân loại quần áo bảo hộ
dùng trong các cơ sở y tế Tiêu chuẩn này thiết lập một hệ thống xác định và các yêu cầu tối thiểu đòi hỏi cho quần áo bảo hộ và drap phủ dùng trong các cơ sở y tế dựa trên khả năng tạo rào cản chống chất lỏng của chúng Bằng cách thiết lập một nền tảng cơ bản thống nhất cho việc kiểm tra và đánh giá đồ bảo hộ và drap phủ, cung cấp những hiểu biết cơ bản chung về các đặc tính tạo rào cản
Phân loại mức độ của khả năng tạo rào cản
• Cấp 1: Áo choàng và drap phủ
Mô tả áo choàng phẫu thuật, các đồ bảo hộ khác, drap phủ dùng trong phẫu thuật và các phụ kiện phải chứng tỏ có khả năng chống lại sự xâm nhập của chất lỏng trong một thử nghiệm trong phòng lab, thử nghiệm AATCC 42 (Khả năng kháng nước: Phương pháp thử xâm nhập do tác động)
• Cấp 2: Áo choàng và drap phủ
Mô tả áo choàng phẫu thuật, các đồ bảo hộ khác, drap phủ dùng trong phẫu thuật và các phụ kiện phải chứng tỏ có khả năng chống lại sự xâm nhập của chất lỏng trong hai thử nghiệm trong phòng lab, thử nghiệm AATCC 42 (Khả năng kháng nước: Phương pháp thử xâm nhập do tác động) và thử nghiệm AATCC 127: Khả năng kháng nước: Phương pháp thử áp suất thủy tĩnh
• Cấp 3: Áo choàng và drap phủ
Mô tả áo choàng phẫu thuật, các đồ bảo hộ khác, drap phủ dùng trong phẫu thuật và các phụ kiện phải chứng tỏ có khả năng chống lại sự xâm nhập của chất lỏng trong hai thử nghiệm trong phòng lab,thử nghiệm AATCC 42 (Khả năng kháng nước: Phương pháp thử xâm nhập do tác động) và thử nghiệm AATCC 127: Khả năng kháng nước: Phương pháp thử áp suất thủy tĩnh Đối với cấp 3, tiêu chuẩn thử cho thử nghiệm AATCC 127 được thiết lập cao hơn cấp 2
• Cấp 4: Áo choàng
Mô tả áo choàng phẫu thuật, các đồ bảo hộ khác phải chứng tỏ có khả năng chống lại sự xâm nhập của chất lỏng và xâm nhập của virus trong thử nghiệm trong phòng lab, thử nghiệm ASTMF1671
• Cấp 4: Drap phủ
Drap phủ dùng trong phẫu thuật và các phụ kiện phải chứng tỏ có khả năng chống lại sự xâm nhập của chất lỏng và xâm nhập của virus trong thử nghiệm trong phòng lab, thử nghiệm ASTMF1670
Trang 2926
• Các vùng quan trọng
Các yêu cầu về rào cản cho thiết kế và xây dựng áo choàng phẫu thuật, các đồ bảo
hộ khác, drap phủ dùng trong phẫu thuật và các phụ kiện dựa trên các khu vực quan tâm
và mức độ tiếp xúc chất lỏng trong điều kiện sử dụng mong muốn Các vùng quan trọng bao gồm các vùng nơi tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch cơ thể và các nguồn lây nhiễm khác
Với áo choàng phẫu thuật
Hình 2.9 – Vùng quan trọng của áo choàng (Critical Zone)
A: Vùng quan trọng – Trước; B: Vùng quan trọng – Tay áo
Với drap phủ
Hình 2.10 – Vùng quan trọng của drap phủ (A: Vùng quan trọng; B: Thân)
Trang 3027
2.3.5 Tiêu chuẩn của AST (Hiệp hội các chuyên gia phẫu thuật Mỹ): Tiêu chuẩn
đề nghị trong thực tiễn dùng áo choàng và găng tay:
Tiêu chuẩn đề nghị trong việc hành nghề về áo choàng và găng tay của AST, trong
đó có liên quan đến vật liệu và thiết kế áo choàng bao gồm:
¾ Tiêu chuẩn III: Áo choàng phải được chế tạo phù hợp các quá trình phẫu thuật
và phải đảm bảo các mức ngăn chặn sự phơi nhiễm của máu và dung dịch cơ thể
1 Áo choàng phải kháng được sự xâm nhập của máu và dịch cơ thể
2 Theo đề nghị của AAMI, áo choàng phải được kiểm tra các khả năng sau:
a Kháng vi khuẩn và dịch
b Chống rách và thủng lỗ
c Thoải mái, vừa vặn và không sinh nhiệt
d Bền, nếu là vật liệu dùng nhiều lần
e Không độc
f Chống cháy
g Không đổ lông trong quá trình sử dụng
3 Áo choàng, bao gồm dùng một lần và nhiều lần, phải được sản xuất có các vùng tăng cường áp dụng cho điều kiện đặc biệt trong phẫu thuật
¾ Tiêu chuẩn IV: Áo choàng phải không sinh ra xơ sợi cũng như không có hóa
chất độc hại
¾ Tiêu chuẩn V: Áo choàng phải có khả năng chống cháy
¾ Tiêu chuẩn VI: Áo choàng làm bằng vật liệu dùng nhiều lần phải có các đặc tính
kháng khuẩn như áo dùng vật liệu dùng một lần
2.3.6 Phương pháp thử JIL L 1902 (Japanese Industrial Standard: Chuẩn công nghiệp Nhật Bản): Antimicrobial Fabric Test:
Phương pháp thử vải kháng vi sinh vật: Phương pháp thử này thiết kế để kiểm tra định lượng khả năng của vải đã được xử lý với các thành phần kháng vi sinh vật đối với việc ngăn chặn tăng trưởng của vi sinh vật và khả năng tiêu diệt chúng, 24 giờ từ thời điểm tiếp xúc
2.4 Kết luận chương 2
Các loài vi sinh vật hiện diện khắp nơi xung quanh môi trường sống của chúng ta, một số loài vô hại, thậm chí còn có ích cho con người Ngược lại, một số loài gây ra rất
Trang 3128
nhiều nguy hiểm đến mạng sống của con người, gây ra nhiều đại dịch ở khắp nơi trên thế giới Khoa học ngày càng phát triển, những mối nguy hiểm của các loại vi sinh vật có hại đối với con người ngày càng biến đổi Nhận diện các mối nguy hiểm để nghiên cứu ứng dụng và chế tạo các sản phẩm chống lại nó là nhiệm vụ đặt ra cho các nhà khoa học ở các lĩnh vực Y tế và thực phẩm là hai lĩnh vực liên quan mật thiết đến việc chăm lo, bảo vệ sức khỏe con người, tạo nguồn lao động có chất lượng cho mỗi quốc gia Trong đó, nhân viên trong lĩnh vực y tế luôn luôn phải tiếp xúc với rất nhiều vi sinh vật có hại từ người bệnh, và người bệnh trong quá trình điều trị cũng luôn phải đối mặt với việc lây nhiễm chéo từ các tác nhân chăm sóc sức khỏe của mình; lĩnh vực thực phẩm thì ngược lại, đảm bảo chất lượng sản phẩm sản xuất ra không bị nhiễm các vi sinh vật có hại là điều cần phải tuân thủ nghiêm ngặt đối với nhà sản xuất
Chương 2 trình bày tổng quan về các loại vi khuẩn và sự cần thiết để chế tạo ra các loại vải kháng khuẩn phục vụ cho cuộc sống, giới thiệu tổng quan về vật liệu kháng khuẩn, nguyên lý kháng khuẩn cho vải và các tiêu chuẩn để áp dụng kiểm nghiệm các loại vải kháng khuẩn cũng như yêu cầu đặt ra khi sản xuất trang phục bảo hộ cho các lĩnh vực liên quan Ngoài ra còn giới thiệu một số loại vải kháng khuẩn tiêu biểu đang được
sử dụng và lưu hành tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Đức, Nhật để làm cơ sở cho việc lựa chọn nguyên liệu phù hợp cho việc nghiên cứu sáng tác trang phục bảo hộ lao động phù hợp với điều kiện kinh tế ở Việt Nam được thực hiện ở chương tiếp theo
Trang 3229
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM TRANG PHỤC BHLĐ
CÓ SỬ DỤNG CHẤT LIỆU VẢI CHUYÊN DÙNG
TẠI BỆNH VIỆN VÀ DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỰC PHẨM
TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
3.1 Giới thiệu về ngành y tế tại TPHCM, Việt Nam
3.1.1 Khái quát về ngành y tế tại TPHCM, Việt Nam
Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính Trị về công tác bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã xác định “Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi
con người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt
động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước”
Tính đến cuối năm 2011, cả nước có 1.162 bệnh viện, chưa kể các bệnh viện quân
đội do Bộ Quốc phòng quản lý, trong đó các bệnh viện công lập của ngành y tế chiếm
chủ yếu
Bảng 3.1 Tổng số bệnh viện và giường bệnh theo tuyến bệnh viện (năm 2011)
Tổng số Bệnh viện Tổng số giường bệnh Tuyến bệnh viện
Riêng trên địa bànTP HCM hiện có 108 bệnh viện lớn đang hoạt động, trong đó có
21 bệnh viện thuộc trung ương, 31 bệnh viện thuộc Sở Y tế TP, 23 bệnh viện thuộc quận
huyện và 33 bệnh viện tư nhân đang hoạt động (theo báo cáo 6 tháng đầu năm 2012 về
tình hình quản lý và xử lý nước thải y tế của các bệnh viện trên địa bàn TP.HCM)
Theo số liệu điều tra đầu 2011, cả nước hiện có 349.491 cán bộ y tế, đạt tỷ lệ 40,5
cán bộ y tế/10.000 dân, trong đó số bác sĩ là gần 7 bác sĩ/10.000 dân Riêng khu vực TP
Hồ Chí Minh là 12,4 bác sĩ/10.000 dân
Trang 33Theo tính toán, số cán bộ cần bổ sung đến năm 2015 là hơn 282 nghìn người, trong
đó mỗi năm cần đào tạo thêm 5,800 bác sĩ, 1,572 dược sĩ đại học Cũng theo quy hoạch
đó, đến năm 2020, tổng số nhân viên y tế cần có là 760,361 người, trong đó cần bổ sung 500,778 người, như vậy hàng năm cần đào tạo thêm 35,770 người Riêng tại TP HCM, trong kế hoạch thực hiện chương trình nhánh đào tạo nguồn nhân lực cho ngành y tế của thành phố giai đoạn 2011-2015 đặt mục tiêu đạt tỉ lệ 15 bác sĩ/vạn dân (trong đó 100% trạm y tế xã có ít nhất một bác sĩ); hai dược sĩ/vạn dân; 25 điều dưỡng/vạn dân đến năm
2015 Lĩnh vực y tế dự phòng và tuyến y tế cơ sở đạt 30% cán bộ y tế trên tổng số cán bộ
y tế của ngành Thống kê trên cho thấy đội ngũ nhân viên ngành y không ngừng được tăng lên hàng năm
Với phương châm bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân cùng với việc tăng cường đào tạo đội ngũ lao động ngành y như đã nêu ở trên Rất cần có một chế độ quan tâm đặc biệt đến đời sống, sức khỏe của người thầy thuốc, nhất là môi trường làm việc nhằm giảm thiểu những rủi ro từ việc bị lây nhiễm bệnh qua tiếp xúc với bệnh nhân hàng ngày Một trong những việc cần làm đó là cần trang bị đồng phục bảo hộ kháng khuẩn cho đội ngũ nhân viên ngành y để giúp họ bảo vệ sức khỏe cho mình, bên cạnh đó tạo cho môi trường khám chữa bệnh trong sạch, hạn chế việc nhiễm khuẩn từ bệnh viện
3.1.2 Tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện
Trong những năm gần đây, tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện có xu hướng gia tăng đáng kể và tạo ra một thách thức lớn đối với các bệnh viện, đặc biệt trong thời điểm tình trạng quá tải đang diễn ra phổ biến tại hầu hết các Bệnh viện từ tuyến trung ương đến địa
Trang 34là nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng hô hấp và nhiễm trùng tiêu hóa Theo thống kê của
Bộ Y tế cho thấy, cứ trung bình 20 bệnh nhân sẽ có 1 người bị lây nhiễm chéo tại bệnh viện Vấn đề này là một trong những nguyên nhân làm chậm quá trình hồi phục và tăng chi phí chữa bệnh cho người dân cũng như toàn xã hội
Hiện nay, WHO đang thực hiện chính sách hỗ trợ các nước thành viên nâng cao chất lượng chăm sóc y tế nhằm mang lại an toàn cho người dân Thế nhưng nhìn thực trạng chung ở nước ta, tình trạng bệnh viện quá tải vẫn kéo dài, cơ sở vật chất khám chữa bệnh xuống cấp thì nguy cơ nhiễm khuẫn vẫn rất cao
Tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện do các tác nhân gây bệnh trong môi trường bệnh viện gây nên Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện là
từ đồ vải y tế như: trang phục các nhân viên bệnh viện, bệnh nhân cũng như màn che, chăn, drap, …
Đồ vải được tái sử dụng trong các cơ sở y tế được xem là nguồn chứa và là nguồn lây nhiễm chéo của nhiều loại vi sinh vật khác nhau bao gồm vi khuẩn, siêu vi, và các loại ký sinh trùng Một số nghiên cứu cho thấy đồ vải là nguồn lây của các vi khuẩn như
tụ cầu, Bacillus cereus, các nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở những bệnh nhân đặt sonde tiểu (sonde Foley), các nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh
Đồng thời, theo kết quả một cuộc nghiên cứu được công bố trên tạp chí American Journal of Infection Control vào tháng 9/2011 cho thấy, những chiếc áo blouse và các vật dụng y khoa được mang trên người của các nhân viên bệnh viện, có thể là nơi trú ngụ của các loại vi khuẩn lây bệnh nguy hiểm
Cũng trong một số những nghiên cứu khác về tình trạng nhiễm khuẩn ở nhân viên y
tế làm việc trong bộ phận xử lý đồ vải tại các bệnh viện đã báo cáo các trường hợp sốt Q (do nhiễm vi khuẩn Coxiella burnetii,), nhiễm salmonella, nấm, ghẻ, viêm gan A
Hiện nay, ở Việt Nam một trong những biện pháp để phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện là giám sát chặt chẽ công tác xử lý đồ vải y tế trong bệnh viện, từ thu gom, phân loại, xử lý, lưu trữ và sử dụng Tuy nhiên, khi xử lý đồ vải vẫn còn tồn tại một số
Trang 3532
loại vi khuẩn nguy hiểm với số lượng rất ít, khi đồ vải được sử dụng thì các vi khuẩn này
sẽ phát triển và lây lan rất nhanh Do đó, các bệnh viện cần sử dụng các loại vải kháng khuẩn cho các trang phục bệnh viện Các trang phục sử dụng vải kháng khuẩn sẽ làm hạn chế đáng kể tình trạng nhiễm khuẩn tại các bệnh viện
3.2 Giới thiệu về ngành chế biến thực phẩm tại TPHCM, Việt Nam
3.2.1 Khái quát về ngành chế biến thực phẩm tại TPHCM, Việt Nam
Ngành chế biến thực phẩm chiếm tỷ lệ đáng kể sản lượng đầu ra trong ngành công nghiệp nước ta nói chung và tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đồng thời cũng là khu vực thu hút rất nhiều vốn đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây Gia nhập WTO là cơ hội để các doanh nghiệp ngành này đẩy mạnh xuất khẩu Theo thống kê năm 2010, trên địa bàn TP HCM có khoảng 7450 cơ sở chế biến thực phẩm, trong đó có khoảng 365 doanh nghiệp chế biến lương thực (khoảng 75 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
290 doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước)
Theo dự báo của Tổ chức giám sát doanh nghiệp quốc tế (BMI), đến năm 2013, mức tăng trưởng chung về tiêu thụ thực phẩm của Việt Nam là 12,76 tỷ USD Mức tiêu thụ theo đầu người cũng tăng tương đương, đạt khoảng 135,45USD/người vào năm 2013 Chế biến thực phẩm là ngành Việt Nam đang có nhiều lợi thế và có tiềm năng phát triển tốt Tuy nhiên, sự phát triển của ngành này cũng phụ thuộc và chịu ảnh hưởng rất nhiều vào thị trường xuất khẩu, với những yêu cầu khắt khe về an toàn thực phẩm, chất lượng và sức ép cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới Năm 2011, ngành chế biến mía đường đạt sản lượng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây với 1,14 triệu tấn, tăng 32,3% so với năm 2010 Các ngành chế biến thực phẩm tăng trưởng khá phải kể đến nữa là ngành sản xuất bia (16,4%); ngành sản xuất sản phẩm từ bơ, sữa (15,8%); ngành sản xuất và xay xát bột thô (15,4%); thuỷ hải sản chế biến (12,3%) Tại TP.HCM, Đại hội Đảng bộ lần thứ IX đã định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, bên cạnh phát triển các ngành dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao thì chế biến lương thực thực phẩm là một trong 4 ngành công nghiệp mũi nhọn được thành phố ưu tiên tập trung phát triển (bên cạnh điện tử - công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, hóa chất), thực tế
đã đạt được những thành công nhất định
Tuy nhiên ngành chế biến thực phẩm cũng đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn và thách thức trong việc kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng, tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng phức tạp hơn khi xuất hiện ở tất cả các khâu từ sản xuất, nuôi trồng, vận chuyển đến khâu chế biến
Trang 363.2.2 Thực trạng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm:
An toàn thực phẩm (ATTP) là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, được tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đối với mỗi người dân Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ
và cuộc sống của người dân, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, tăng thêm gánh nặng chi phí chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm ở nước ta còn nhiều khó khăn, thách thức Tình trạng ngộ độc thực phẩm (NĐTP) có xu hướng tăng và ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ cộng đồng Sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở nước ta vẫn còn là nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình nên việc kiểm soát an toàn vệ sinh rất khó khăn Mặc dù Việt Nam đã có những tiến bộ rõ rệt trong bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trong thời gian qua song công tác quản lý an toàn thực phẩm còn nhiều yếu kém, bất cập, hạn chế về nguồn lực và đầu tư kinh phí và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Trong 9 tháng đầu năm 2012, toàn quốc ghi nhận có 142 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.669 người mắc, 3.734 người đi viện và 28 người chết Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm chính chủ yếu là tác nhân vi sinh vật chiếm 48,6% (69 vụ), do độc tố tự nhiên là 23,9% (34 vụ), do hóa chất 6,3% (9 vụ) So với cùng kỳ năm 2011: Tổng số vụ NĐTP tăng 17 vụ (13,6%), số người mắc tăng 747 người (19,0%), số người đi viện tăng 737 người (24,6%) và số tử vong tăng 7 người (33,3%) Tỷ lệ các vụ NĐTP có nguyên nhân
từ vi sinh vật tăng, số vụ NĐTP do hóa chất giảm 35,7% (5 vụ)
Như vậy so với cùng kỳ năm 2011, tình hình NĐTP gia tăng cả số vụ, số mắc, số chết tuy nhiên vẫn trong tầm kiểm soát Trước tình hình số vụ ngộ độc thực phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước với số người mắc và tử vong cùng tăng, Bộ Y tế đã có những chỉ đạo quyết liệt trong việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm: Thường xuyên cập nhật tình hình, phân tích, dự báo phục vụ công tác đánh giá, xây dựng kế hoạch phòng chống ngộ độc thực phẩm năm 2012 Ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm Phối hợp với các cơ quan truyền thông xây dựng và phát sóng thông điệp tháng hành động về trách nhiệm của
Trang 373.3 Phân tích thực trạng quần áo BHLĐ có sử dụng vật liệu chuyên dùng để đảm bảo an toàn sức khỏe cho người lao động
Chiếc áo choàng trắng hay gọi là áo Blu (blouse)
(hình 3.3), bắt đầu được sử dụng từ cuối thế kỷ thứ 18
đầu thế kỷ 19 trong các phòng thí nghiệm, phòng hóa
chất, cơ sở sản xuất dược và trong ngành y, nó được
xem như đồ bảo hộ lao động nhằm mục đích phòng
ngừa sự lây truyền hóa chất, mầm bệnh vào cơ thể
Theo thời gian, nó không ngừng được mọi người, mọi
ngành thay đổi kiểu dáng, phong cách cho phù hợp với
công việc, đồng thời mang tính thẩm mỹ Ngày nay,
chiếc áo blouse cũng không còn là sở hữu của các
ngành nghề nói trên nữa, mà nó đã được sử dụng rộng
rãi trong rất nhiều ngành nghề trong đó có ngành thực
phẩm
Chiếc áo blouse đã xuất hiện ở Việt nam cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 cùng với nhà Bác học lỗi lạc Alexandre Yersin, chiếc áo choàng trắng đi vào chiến trường với bao cuộc chiến tranh của đất nước và trở thành biểu tượng cho lòng nhân ái yêu người, cứu người của ngành y tế Xã hội luôn coi chiếc áo blouse như hình ảnh của sự cao đẹp và trong sáng của nghề y, và mỗi người làm trong nghề y coi như niềm tự hào vào trách nhiệm khi khoác chiếc áo blouse lên trên người Qua quá trình khảo sát tại các đơn vị cũng như tham khảo một số hình ảnh, tư liệu trong ngành y tế và thực phẩm, có thể khái quát toàn cảnh về trang phục bảo hộ trong hai ngành y tế và thực phẩm như sau:
− Về màu sắc: Môi trường làm việc của ngành y lúc nào cũng phải đảm bảo vệ sinh
tuyệt đối Vì vậy, màu trắng vẫn là sự lựa chọn tốt nhất Màu trắng tượng trưng cho sự trong sạch, tinh khiết và được xem là màu của sự hoàn hảo, là màu đại diện cho sự khởi đầu thành công và niềm hy vọng Ý nghĩa của nó hoàn toàn phù hợp với môi trường làm việc trong ngành y và là sự lựa chọn màu sắc chủ đạo trong trang phục ở hầu hết các bệnh viện lớn nhỏ trên khắp thế giới Bên cạnh đó, do đặc thù công việc, trang phục cho
Hình 3.3 – Chiếc áo blouse cổ
Trang 3835
nhân viên ở một số khoa trong bệnh viện không phải là màu trắng mà là màu xanh hoặc xám xanh (khoa phẫu thuật, gây mê…) Và để giảm hội chứng bệnh sợ áo trắng (thấy nhân viên y tế thì huyết áp tăng hoặc cảm giác run run khi tiếp xúc), ở một số ít bệnh viện, phòng khám trang bị cho nhân viên lễ tân, điều dưỡng, hộ lý mặc áo cách điệu màu hồng, màu xanh nhạt…
Trang phục ngành thực phẩm thì đa dạng hơn về màu sắc do đặc thù quy trình công nghệ sản xuất từng loại thực phẩm không giống nhau, và mức độ quan trọng ở các khâu trong quá trình chế biến cũng không bằng nhau Do vậy, thường sẽ có nhiều loại đồng phục với nhiều màu sắc, kiểu dáng khác nhau trong một công ty chế biến thực phẩm Tuy nhiên đây là ngành liên quan đặc biệt đến sức khỏe người tiêu dùng nên ở một số khâu quan trọng cần phải đảm bảo vô khuẩn vẫn phải sử dụng trang phục màu trắng
− Về kiểu dáng: Từ rất lâu, trang phục áo blouse
sử dụng trong y tế và thực phẩm không có nhiều sự
thay đổi đáng kể về kiểu dáng, đa phần các kiểu áo
đang sử dụng là áo bâu đanton, bâu lá sen, bâu
chemise cổ điển hoặc có thay đổi cơ bản nhưng rất ít
(hình 3.4 là một ví dụ minh họa) Một phần do điều
kiện kinh tế còn khó khăn ở các đơn vị, một phần do
quan niệm trang phục bảo hộ hàng ngày không cần
phải thiết kế cầu kỳ theo xu hướng thời trang vì sẽ rất
tốn kém và không nhất thiết phải chú trọng Chính
quan niệm này khiến cho nhân viên trong các ngành
đề cập ở trên nói chung và phái nữ nói riêng cảm thấy
thiệt thòi, mặc cảm khi so sánh trang phục công sở
với các cơ quan khác và đôi khi cảm giác nhàm chán trong công việc cũng xuất phát từ yếu tố này
− Chất liệu vải sử dụng: thường là vải kate, kate fore, với thành phần vải thường
pha trộn giữa cotton và polyester hoặc 100% coton, 100% polyester
Theo ghi nhận của nhóm nghiên cứu, do điều kiện số lượng bộ trang phục trang bị hàng năm ở các đơn vị còn hạn chế (thường phổ biến ở mức 2 bộ/ năm) nên một số nhân viên thường tự trang bị thêm, dẫn đến sự không đồng nhất về kiểu dáng, màu sắc và chất liệu vải trong trang phục bảo hộ Và các loại vải đang sử dụng hoàn toàn không có tính chất kháng khuẩn, do vậy khả năng bảo vệ cơ thể hoặc để hạn chế khả năng nhiễm khuẩn thực phẩm là rất ít
Hình 3.4 – Trang phục đang sử dụng phổ biến tại các bệnh viện
Trang 3936
Thực tế hiện nay cho thấy nhu cầu về quần áo đồng phục, bảo hộ lao động ở nước ta rất lớn Chỉ tính riêng một số tập đoàn, tổng công ty có sử dụng quần áo bảo hộ lao động như dầu khí, điện lực, xây dựng, khai khoáng…, nhu cầu sử dụng đã lên đến trên 7 triệu
bộ bảo hộ lao động/năm Các ngành khác như y tế, giáo dục, ngân hàng, nhu cầu về quần
áo đồng phục cũng rất lớn, tổng cầu trên 30 triệu bộ/năm, nhất là nhu cầu về hàng đồng phục cao cấp ngày càng tăng Các doanh nghiệp ở các lĩnh vực ngày càng coi trọng quần
áo đồng phục, bảo hộ lao động và xem như là một nét văn hóa trong doanh nghiệp của mình Nhiều đơn vị đã đầu tư nghiên cứu, thiết kế nhằm chuẩn hóa trang phục làm việc, trang phục bảo hộ lao động, đồng thời áp dụng hệ thống nhận diện thương hiệu, nhằm xây dựng một hình ảnh thống nhất và quảng bá doanh nghiệp thông qua trang phục đảm bảo an toàn, thuận tiện cho người lao động Chính vì vậy quần áo đồng phục, bảo hộ lao động không đơn thuần là chỉ mặc phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mà còn phục vụ cho việc nhận diện thương hiệu và quảng bá hình ảnh doanh nghiệp
Theo thống kê, với hơn 22 triệu người lao động trong các ngành công nghiệp, khai khoáng, dịch vụ, ngân hàng, y tế, giáo dục và hơn 15 triệu học sinh các cấp từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông Quần áo đồng phục và bảo hộ lao động là một thị trường tiềm năng lớn Mặt khác, trong bối cảnh thị trường dệt may thế giới gặp nhiều khó khăn
và thách thức như hiện nay, việc đầu tư vào sản xuất vải và quần áo đồng phục - bảo hộ lao động mở ra một hướng triển vọng mới cho ngành dệt may Việt Nam Nhận thấy tiềm năng to lớn đó Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã quyết tâm thâm nhập vào lĩnh vực này Tuy nhiên, hiện tại chỉ mới đáp ứng được một phần nhỏ về nhu cầu, số lượng các doanh nghiệp dệt may đầu tư vào lĩnh vực sản xuất bảo hộ lao động còn quá ít, chủ yếu mang tính tự phát Tình trạng quần áo bảo hộ lao động trôi nổi, không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng, người lao động mặc vào bị ngứa do vải bị ô nhiễm về hóa chất, không đảm bảo an toàn, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lao động vẫn được bày bán tràn lan
Việc sản xuất quần áo bảo hộ lao động có đặc tính chuyên dùng như: kháng khuẩn, chống cháy, chống tia cực tím, chống thấm… để sử dụng phù hợp cho các ngành nghề khác nhau ở nước ta hầu như chưa có Một phần do nguồn nguyên liệu chuyên dùng chưa thể sản xuất được trong nước do hạn chế về mặt công nghệ, mặt khác một bộ phận các doanh nghiệp chưa thật sự chú trọng đến an toàn sức khỏe của người lao động và sản phẩm làm ra nên không đặt ra nhu cầu cho nhà sản xuất Chính vì vậy, trang phục bảo hộ lao động có đặc tính chuyên dùng chủ yếu là nhập khẩu theo các đơn đặt hàng của các doanh nghiệp hoặc nhập khẩu với số lượng khiêm tốn, do vậy giá thành thường khá cao, điều này ảnh hưởng đến khả năng tài chính của các doanh nghiệp khó có thể trang bị rộng rãi
Trang 4037
3.4 Khảo sát nhu cầu trang phục BHLĐ chuyên dùng cho ngành y tế và chế biến thực phẩm
3.4.1 Nội dung, đối tượng khảo sát
− Mức độ quan tâm của cán bộ công nhân viên ngành y tế và thực phẩm về vấn đề trang bị trang phục bảo hộ lao động nhằm bảo vệ sức khỏe bản thân trong quá trình làm việc, góp phần hạn chế tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện và đảm bảo thực phẩm sau khi chế biến được an toàn
− Thực trạng công tác trang bị BHLĐ tại các bệnh viện, các cơ sở chế biến thực phẩm và nhu cầu trang bị BHLĐ có tính năng bảo vệ sức khỏe người sử dụng ở các bộ phận tại các đơn vị
− Xu hướng, các tiêu chí lựa chọn trang phục hàng ngày nói chung và bảo hộ lao động nói riêng của đại diện người lao động
− Thăm dò mức độ yêu thích một số mẫu trang phục bảo hộ được nhóm nghiên cứu phác họa và lựa chọn 5 bộ mẫu khảo sát cho ngành y tế, 5 bộ mẫu cho ngành thực phẩm, trên cơ sở đó để lựa chọn mẫu thiết kế phù hợp để sản xuất thử nghiệm (được trình bày ở chương 4)
− Đối tượng: đại diện cho cán bộ, nhân viên ngành y tế và thực phẩm ở các bộ phận đơn vị khảo sát được lựa chọn một cách ngẫu nhiên
3.4.2 Phương pháp khảo sát
− Thu thập dữ liệu đại diện từ các cơ sở y tế như: Bệnh viện 175, Bệnh viện Vạn Hạnh, Bệnh viện quận 6, Bệnh viện quận 12; và một số nhà máy chế biến thực phẩm trên địa bàn TP HCM và lân cận như Công ty cổ phần sữa Vinamilk, Công ty cổ phần bánh kẹo Bibica, Công ty chế biến thủy sản Hùng Cá
− Tham quan, tìm hiểu công tác trang bị bảo hộ lao động và phương pháp xử lý tiệt trùng đồ vải tại các bệnh viện; công tác trang bị bảo hộ lao động tại một số nhà máy chế biến thực phẩm và quy trình giặt ủi trang phục bảo hộ sau giờ làm việc
− Phát phiếu thăm dò cho cán bộ công nhân viên tại các nơi khảo sát về nhu cầu trang bị quần áo bảo hộ lao động có tính kháng khuẩn và thị hiếu của người sử dụng trong việc lựa chọn trang phục bảo hộ lao động (Tham khảo bảng thống
kê kết quả - Phụ lục 4)
− Thống kê số liệu và xử lý kết quả khảo sát bằng cách vẽ biểu đồ và phân tích kết quả