1 TÓM TẮT BÁO CÁO Đề tài “Nghiên cứu trồng thử nghiệm một số dòng vô tính keo lai KL2, KL20, KLTA3, BV10, BV16, BV32, BV71, BV73, BV75 trên một số loại đất chính ở Hàm Yên, Tuyên Quan
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY
Ở HÀM YÊN, TUYÊN QUANG
(Thực hiện theo hợp đồng số 142.12.RD/HĐ-KHCN, ngày 29 tháng 3 năm 2012
về việc đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ giữa Bộ Công thương và Viện nghiên cứu cây
nguyên liệu giấy)
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : ThS Hoàng Ngọc Hải
Cộng sự: ThS Trần Thị Mai Anh
KS Nguyễn Trung Nghĩa
PHÚ THỌ, THÁNG 12 NĂM 2012
Trang 2i
MỞ ĐẦU
Trên thế giới cũng như ở Việt nam, việc quy hoạch, phân chia nơi trồng rừng, nhằm quản lý và sử dụng đất hiệu quả trên một đơn vị diện tích Phân chia nơi trồng rừng còn có ý nghĩa là chọn loại cây trồng đáp ứng được mục đích kinh doanh, cây trồng tăng trưởng phát triển tốt đồng thời đảm bảo môi trường tăng thái, tác dụng phòng hộ ngày một bền vững [10]
Năm 2006 -2009, phân hạng đất trồng rừng sản xuất một số loài cây chủ yếu ở các vùng trọng điểm như tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ và Vĩnh Phúc [6] cũng đã được Viện Khoa học Việt nam thực hiện Nhưng để áp dụng đúng phân hạng đất trồng rừng thì các đơn vị trồng rừng phải nắm chắc được đơn vị mình có những loại đất nào, độ dày tầng đất ở đó ra sao?, thành phần khoáng chất trong đất thừa thiếu loại gì v.v để từ đó lựa chọn giống cây trồng và bón phân phù hợp
Chủng loại giống cây cho trồng rừng nguyên liệu giấy hiện nay còn hạn chế về số lượng loài, chủ yếu vẫn là Bạch đàn các dòng PN2, PN14, U6; Keo lai các dòng BV10, BV16, BV32 và Keo tai tượng ươm từ hạt Năng suất rừng trồng (sản lượng gỗ) chưa đồng đều (Sản lượng dao động từ 40 m3 - 130 m3/ha/8 năm, tuỳ từng loại đất)
Ngoài vấn đề quản lý bảo vệ rừng phải kể đến một số nguyên nhân dẫn đến chênh lệch năng suất như sau:
Nguyên nhân thứ nhất, do chưa điều tra được từng loại đất trong từng khu vực, tính chất đất, chất lượng đất cho từng lô Nên thực tế sản xuất hiện nay, keo lai và Keo tai tượng vẫn chung một hoàn cảnh tiểu lập địa
Nguyên nhân thứ hai, việc xác định giống keo lai (dòng nào), Keo tai tượng (xuất
xứ nào) phù hợp trên từng loại đất thì chưa có nghiên cứu chi tiết
Dẫn đến năng suất cùng khu vực có lô sản lượng cao, có lô sản lượng thấp
Trong khuôn khổ đề tài với diện tích nghiên cứu nhỏ nhằm quyết phần nào nguyên nhân trên tại Hàm Yên Được sự quan tâm tạo điều kiện của Bộ Công thương, Viện
nghiên cứu cây nguyên liệu giấy được phê duyệt, triển khai đề tài “Nghiên cứu trồng
thử nghiệm một số dòng vô tính Keo lai (KL2, KL20, KLTA3, BV10, BV16, BV32, BV71, BV73, BV75) trên một số loại đất chính ở Hàm Yên, Tuyên Quang”
Trang 3ii
MỤC LỤC
Trang
KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iii
TÓM TẮT BÁO CÁO 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1. Cơ sở pháp lý 2
1.2. Tính cấp thiết của đề tài 2
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.3.1 Phát hiện và nghiên cứu cây keo lai tự nhiên trên thế giới 4
1.3.2 Phát hiện và nghiên cứu cây keo lai tự nhiên ở Việt Nam 5
1.3.3 Phân loại đất và xây dựng bản đồ đất trên thế giới 6
1.3.4 Phân loại và xây dựng bản đồ đất Việt Nam 8
Chương 2: THỰC NGHIỆM 12
2.1 Mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu 12
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 12
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 12
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 12
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH LUẬN 16
3.1 Một số thông tin về đất trồng thí nghiệm tại Hàm Yên, Tuyên Quang 16
3.1.1 Điều tra trong phẫu diện chính 16
3.1.2 Phân tích một số chỉ tiêu hoá tính của đất 17
3.2 Tăng trưởng các dòng keo lai trên đất vàng đỏ (X3) ở Hàm Yên 18
3.2.1 Tỷ lệ sống các dòng keo lai trên đất vàng đỏ (X 3 ) ở Hàm Yên 18
3.2.2 Tăng trưởng các dòng keo lai trên đất vàng đỏ (X 3 ) ở Hàm Yên 19
3.3 Tăng trưởng các dòng keo lai trên đất đỏ vàng (Xf3) ở Hàm Yên 22
3.4 Ảnh hưởng của điều kiện đất khác nhau đến tăng trưởng của keo lai 26
3.4.1 Tăng trưởng chiều cao cây trồng tại hai điểm thí nghiệm 26
3.4.2 Chênh lệch chiều cao cây trồng trên đất vàng đỏ và đỏ vàng 27
3.4.3 Chênh lệch thể tích thân cây trồng trên đất vàng đỏ và đỏ vàng 29
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30
Trang 4iii
4.1 Kết luận 30
4.2 Hạn chế của đề tài 32
4.3 Kiến nghị 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO
KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải
Xf3: Đất xám feralit phát triển trên đá biến chất X3: Đất xám phát triển trên đá biến chất hạt mịn Hvn: Chiều cao vút ngọn cây keo
NLG: Nguyên liệu giấy N/ha: Số cây trên ha
D 1.3 : Đường kính đo tại vị trí cách mặt đất 1,3 m T.B: Trung bình
DANH MỤC BẢNG Bảng Trang
3.1 Các chỉ tiêu của đất trong phẫu diện chính 16
3.3 Tăng trưởng keo lai sau trồng 3 tháng trên đất vàng đỏ (X3) 193.4 Tăng trưởng đường kính sau trồng 6 tháng trên vàng đỏ (X3) 203.5 Tăng trưởng chiều cao sau trồng 6 tháng trên vàng đỏ (X3) 213.6 Tăng trưởng chiều cao sau trồng 3 tháng trên đất đỏ vàng 233.7 Tăng trưởng đường kính sau trồng 6 tháng trên đất đỏ vàng 243.8 Tăng trưởng chiều cao sau trồng 6 tháng trên đất đỏ vàng 253.9 Tăng trưởng chiều cao 3 tháng và 6 tháng tuổi tại hai điểm thí nghiệm 263.10 Chênh lệch chiều cao sau 3 tháng tuổi tại hai điểm thí nghiệm 273.11 Chênh lệch chiều cao, đường kính sau 6 tháng tuổi 28
DANH MỤC HÌNH Hình Trang
3.1 Chênh lệch thể tích thân cây trên đất vàng đỏ và đỏ vàng 29
Trang 51
TÓM TẮT BÁO CÁO
Đề tài “Nghiên cứu trồng thử nghiệm một số dòng vô tính keo lai (KL2, KL20,
KLTA3, BV10, BV16, BV32, BV71, BV73, BV75) trên một số loại đất chính ở Hàm Yên,
Tuyên Quang” đã thực hiện được một số nội dung như:
Năm 2011, đề tài đã hoàn thành việc điều tra đất, phân tích mẫu đất cho các loại
đất chính tại Hàm yên, Tuyên Quang; Chọn ra 2 loại đất là đất Feralit màu vàng đỏ
ký hiệu X3 phát triển trên đá trầm tích hoặc phiến sét và đất Feralit màu đỏ vàng ký hiệu Xf3 phát triển trên đá Phiến thạch Mi ca, Gnai hoặc biến chất để nghiên cứu trồng thử nghiệm cho năm 2012
Năm 2012, đề tài đã tiến hành trồng 4ha thí nghiệm cho 9 dòng keo lai và 1 xuất
xứ Keo tai tượng trồng bằng cây con từ hạt trên 2 loại đất được chọn (mỗi loại đất 2 ha) Kết quả số liệu bước đầu ở năm thứ nhất cho thấy:
- Điều kiện đất đai khác nhau đã ảnh hưởng khác nhau đến tăng trưởng của các dòng keo lai
- Trên đất xám feralit vàng đỏ (X3) thuộc lô 4 – K320 các dòng keo lai có tăng trưởng đường kính, chiều cao và tổng hợp chỉ số thể tích thân cây Iv lớn hơn trên đất xám feralit đỏ vàng (Xf3) thuộc lô 7 – K312
- Trên cả hai loại đất tăng trưởng về chỉ số thể tích thân cây tốt nhất là các dòng BV10, KLTA3, KL20, BV75, BV71 Trung bình là KL2, BV73, Keo tai tượng (Am) Kém hơn gồm các dòng BV32 và dòng BV16
- Giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 11, tốc độ tăng trưởng về đường kính, chiều cao lớn hơn từ tháng 5 đến tháng 8
- Do khác giống, sinh trưởng chậm hơn nên chiều cao vút ngọn của Keo tai tượng (xuất xứ từ hạt rừng giống tại Quang Bình, Hà Giang) thường thấp hơn các dòng keo lai
Chi tiết xin được trình bày trong các nội dung nghiên cứu dưới đây
Trang 62
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở pháp lý
Đề tài “Nghiên cứu trồng thử nghiệm một số dòng vô tính Keo lai (KL2,
KL20, KLTA3, BV10, BV16, BV32, BV71, BV73, BV75) trên một số loại đất chính
ở Hàm Yên, Tuyên Quang” là một trong các đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ
được Bộ Công Thương phê duyệt và giao cho Viện nghiên cứu cây NLG thực hiện
theo "Quyết định về việc giao kế hoạch khoa học và công nghệ năm 2009 số:
1999/QĐ-BCT ngày 03 tháng 12 năm 2007”;
Căn cứ Hợp đồng số 142.12RD/HĐ-KHCN, ngày 29 tháng 3 năm 2012 về việc đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
Căn cứ Quyết định số: 15/VNC-QĐ.KHKH, ngày 28/02/2012 của Viện trưởng Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy v/v giao nhiệm vụ NCKH&PTCN;
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Trong trồng rừng với quy mô lớn chúng ta thường phải lựa chọn được loại đất phù hợp với cây giống để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất Tuy nhiên, hiện nay các cơ sở trồng rừng đất đai đã được quy hoạch ổn định thì thay vào việc lựa chọn đất là phải chọn giống cây phù hợp trên đất đó, nói cách khác là phải mang các giống cây đến nơi đó để thử nghiệm, đánh giá chọn ra giống đạt được mục tiêu mong muốn
Đối với các Công ty lâm nghiệp trồng rừng nguyên liệu giấy thuộc Tổng Công ty giấy Việt Nam hiện nay chủ yếu trồng hai loài cây keo và bạch đàn Năng suất không đồng đều, có đơn vị sản lượng bình quân đạt 70 – 80 - 100 m3/ha/8 năm nhưng cũng có đơn vị chỉ đạt 40 - 60 m3/ha/8 năm Một trong các nguyên nhân làm cho năng suất không cao đó là chưa xác định được trên lô đất này nên trồng giống gì? bạch đàn, keo lai hay keo tai tượng? Cụ thể hơn là nếu trồng keo lai thì dòng
Trang 73
nào ít bị sâu bệnh, dòng nào năng suất cao hơn? Thay vào đó các Công ty cũng đã
tự trồng giống này, giống kia, vào những năm 1992 họ đã ồ ạt trồng keo lai sau vài năm một số nơi cây bị đổ gãy quá nhiều thì lại quy lại trồng Keo tai tượng Cạnh đó
có lô keo lai mặc dù bị đổ gãy nhưng năng suất vẫn hơn Keo tai tượng, vậy là vài
ba năm trở lại đây đa số lại trồng keo lai
Trên đây cho thấy việc nghiên cứu, quy hoạch cụ thể “đất nào cây ấy” chưa
rõ ràng gây ảnh hưởng không nhỏ về kinh tế kéo dài hàng chục năm Chúng ta chủ yếu dựa vào thiên nhiên để canh tác, trong khi các nước phát triển họ nghiên cứu rất kỹ về đất đai thổ nhưỡng, đăc tính tăng lý học và phát triển của cây trước khi trồng rừng nên năng suất rừng họ đạt gấp đôi, gấp ba lần chúng ta
Để phát triển bền vững về đất đai, năng suất ổn định không ngoài khác là chúng ta cần có những nghiên cứu cơ bản cho trồng rừng kinh doanh Trước tiên là xác định rõ các đơn vị trồng rừng có những loại đất gì, ở đâu?, độ dày tầng đất, tính chất lý hoá tính? -> thoái hoá ở mức độ nào, thiếu chất gì? sau đó có các biện pháp lâm tăng, chọn giống phù hợp Tất nhiên nền kinh tế chúng ta còn khó khăn, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản đối với lâm nghiệp là cả một quá trình lâu dài và vốn đầu tư không nhỏ, nhưng đối với kinh doanh nguyên liệu giấy cần có kế hoạch từng bước thực hiện giải quyết từng phần và hoàn thiện trong tương lai thì năng suất rừng của chúng ta sẽ được ổn định, kinh tế phát triển cao hơn
Được sư quan tâm đầu tư vốn nghiên cứu của Bộ Công thương, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã chọn > 700 ha đất tại Trung tâm nghiên cứu & thực nghiệm cây nguyên liệu giấy Hàm Yên, Tuyên Quang đã được quy hoạch làm điểm xuất phát tiến hành nghiên cứu xác định loại đất, phân tích đất, xây dựng sơ đồ đất cho từng lô để kinh doanh, tiếp đó là thiết lập các khảo nghiệm tập hợp các dòng keo lai (giống tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận) và Keo tai tượng từ hạt rừng giống, theo dõi tăng trưởng nhằm chọn ra những giống phù hợp, năng suất cao, kinh doanh ổn định trên đất đó
Trang 84
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Phát hiện và nghiên cứu cây keo lai tự nhiên trên thế giới
Keo lai là tên gọi tắt để chỉ giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia
mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), giống lai này được Messrs
Herburn và Shim phát hiện lần đầu tiên vào năm 1972 trong số những cây Keo tai tượng được trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah của Malaysia Đến tháng 7 năm 1978, sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland (Australia) được gửi đến từ tháng 1 năm 1977 Pedgley đã xác nhận đó
là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm [8]
Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Griffin, 1988), ở Malaysia và Thái Lan (Kijkar, 1992) Ngoài ra, từ năm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo lai từ nuôi cấy mô phân tăng cùng Keo tai tượng và Keo lá tràm (Umbol et al, 1993)
Keo lai còn được tìm thấy ở vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống từ Malaysia) tại Trạm nghiên cứu Jon-Pu của Viện nghiên cứu lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al, 1989) và khu trồng Keo tai tượng tại Quảng Châu- Trung Quốc [8]
Keo lai tự nhiên có thể xuất hiện với tỷ lệ 3 - 4 cây / ha, hoặc với tỷ lệ 1 Keo lai : 500 Keo tai tượng Còn trong vườn ươm Keo lá tràm (trong trường hợp này Keo lá tràm làm mẹ), tỷ lệ keo lai có thể xuất hiện là 6,8 - 10,3 %, cá biệt có thể đến 22,5 % (Gan and Sim Boon Liang, 1991)
Trong giai đoạn vườn ươm cây keo lai hình thành lá giả (phyllode) sớm hơn Keo tai tượng và muộn hơn Keo lá tràm (Rufelds, 1988 ) Phân tích Peroxydase isozym của keo lai và hai loài bố mẹ cho thấy keo lai thể hiện tính trung gian giữa hai loài keo bố mẹ (Kiang Tao et al, 1989) Theo thông báo của Tham (1976) thì cây lai thường cao hơn cả hai loài bố mẹ, song vẫn giữ hình dáng kém của Keo lá tràm
Trang 95
Đánh giá keo lai tại Sabah một cách tổng hợp Pinso và Nasi (1991) thấy cây lai có ưu thế lai và ưu thế lai này có thể chịu sự ảnh hưởng của cả yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa tạo nên Họ cũng thấy tăng trưởng của cây keo lai tự nhiên đời
F1 tốt hơn xuất xứ Sabah của Keo tai tượng, song kém hơn xuất xứ ngoại lai như Oriomo River (Papua New Guinea) hoặc Claudie River (Queesland, Australia), còn tăng trưởng của những cây đời F2 trở đi thì rất không đồng đều với trị số trung bìmh còn kém hơn cả Keo tai tượng, mặc dầu một số cây xuất sắc có khá hơn
Khi đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai Pinso và Nasi (1991) thấy rằng độ thẳng thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân, vv ở cây keo lai đều tốt hơn hai loài keo bố mẹ và cho rằng keo lai rất phù hợp cho trồng rừng thương mại Cây keo lai còn có ưu điểm là có đỉnh ngọn tăng trưởng tốt, thân cây đơn trục và tỉa cành tự nhiên tốt Pinyopusarerk (1990)
Keo lai đã được nghiên cứu nhân giống bằng hom (Griffin, 1988) hoặc nuôi cấy mô phân tăng bằng môi trường cơ bản Murashige và Skooge (MS) có thêm 6 - Benzyl amino purine (BAP) 0,5 mg/l và cho ra rễ trong phòng ở hoặc nền cát sông
100 % với khả năng ra rễ đến 70 % (Darus, 1991) sau một năm cây mô có thể cao 1,09m
1.3.2 Phát hiện và nghiên cứu cây keo lai tự nhiên ở Việt Nam
Các loài keo từ hạt được đưa vào nước ta từ những năm 1960, trong đó có Keo tai tượng xuất xứ Cadwell tỏ ra khá phù hợp ở các tỉnh thuộc Trung tâm Bắc bộ, được người dân gây trồng chủ yếu vào những năm 2002 - 2010 Ở Việt Nam giống
lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm (Acacia mangium x Acacia
auriculiformis) được phát hiện từ năm 1991-1992 Những cây lai này (gọi tắt là
Keo lai) được phát hiện ở các vùng như Tân Tạo, Sông Mây, Trị An, Trảng Bom ở Đông Nam Bộ và Ba Vì (Hà Tây), Phú Thọ, Hoà Bình, Tuyên Quang vv ở Bắc Bộ (Lê Đình Khả, 1999) Nghiên cứu giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm của Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Phạm Văn Tuấn, Trần Cự (1993,1995)
Trang 106
kết quả thấy rằng keo lai là một dạng lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm, có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm Giai đoạn 4 năm tuổi, cây hom của Keo lai đời F1 có thể tích gấp 1,6 -
2 lần Keo tai tượng và 3 - 4 lần Keo lá tràm Tốc độ tăng trưởng của cây hom Keo lai đời F1 nhanh hơn cây hạt và cây hom của những xuất xứ tăng trưởng nhanh nhất trong các loài keo bố mẹ và chúng vẫn được duy trì ở giai đoạn 4 năm tuổi và tiếp tục tăng trưởng nhanh sau một số năm Có sự khác biệt rõ rệt về tốc độ tăng trưởng, chất lượng thân cây và tỷ trọng của gỗ giữa các dòng Keo lai được khảo nghiệm
Từ khảo nghiệm dòng vô tính đã chọn được một số dòng Keo lai có thể tích thân cây cao nhất, chất lượng thân cây tốt nhất và có tỷ trọng của gỗ tương đối cao
Những năm sau, một số dòng keo lai như BV10, BV16, BV32 được Viện khoa học lâm nghiệp chọn và khảo nghiệm, công nhận giống tiến bộ khoa học kỹ thuật từ sau năm 1999, sau hơn 10 năm , Viện khoa học tạo thêm được một số dòng mới, trong đó phải kể đến là các dòng BV71, BV73, BV74 và BV75;
Bên cạnh đó, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy cũng đã chọn tạo, công nhận được dòng keo lai KL2, KL20, KLTA3 là giống tiến bộ kỹ thuật, cho năng suất rất cao
Nhìn chung cây keo tăng trưởng và phát triển nhanh, đồng thời lại có khả năng cải tạo đất cao Với những ưu điểm trên, cây keo đã nhanh chóng trở thành cây trồng rừng chủ lực cho ngành lâm nghiệp, đặc biệt là cho trồng rừng sản xuất nguyên liệu giấy và cho trồng rừng đa mục đích: phòng hộ, cải tạo đất, gỗ trong đóng đồ, xây dựng
1.3.3 Phân loại đất và xây dựng bản đồ đất trên thế giới
Phân loại đất là đặt tên cho đất và xắp xếp thứ tự tên đất theo hệ thống phân vị thành bảng phân loại đất Đối tượng của phân loại đất là đất trong tự nhiên (còn gọi là lớp phủ thổ nhưỡng)
Các phương pháp phân loại đất chính: Từ khi Thổ nhưỡng học ra đời đến
Trang 11- Phân loại đất của Hoa Kỳ - Soil Taxonomy: Cơ sở của phương pháp là dựa vào quá trình hình thành và những tính chất hiện tại của đất Các tính chất đất được định lượng theo hệ thống tiêu chuẩn chặt chẽ đồng thời là căn cứ để phân loại đất, nên phương pháp phân loại đất của Hoa Kỳ là phân loại đất theo định lượng
- Phân loại đất của FAO- UNESCO: Cũng dựa trên cơ sở đánh giá định lượng tính chất đất để tiến hành phân loại đất thống nhất toàn Thế giới
Như vậy phân loại đất đã phát triển liên tục và ngày càng hoàn chỉnh hơn
Để phân loại đất, cần thực hiện các nội dung điều tra nghiên cứu: Điều kiện hình thành đất (yếu tố hình thành đất) và quá trình hình thành, biến đổi diễn ra trong đất Các tính chất: Hình thái, lý tính, hóa tính, tăng tính Đặt tên đất và xây dựng bảng phân loại đất
Phân loại đất trên thế giới gắn liền với sự phát triển của thổ nhưỡng học và ngành khoa học đất Tình trạng khác nhau trong nghiên cứu phân loại đất theo các trường phái khác nhau đã gây nhiều khó khăn cho việc đánh giá nguồn tài nguyên đất thế giới Cùng loại đất nhưng lại có các tên gọi khác nhau do cách phân loại khác nhau vì thế cần có sự thống nhất trên thế giới trong việc nghiên cứu phân loại đất là việc làm rất cần thiết Từ những năm 60 của thế kỷ trước đã thành lập hai trung tâm nghiên cứu phân loại đất
Trung tâm Soil Taxonomy do bộ nông nghiệp Mỹ chủ trì, tại đây các nhà khoa
học đã nghiên cứu phân loại đất dựa trên cơ sở định lượng các tính chất hiện tại của đất, xây dựng hệ thống phân loại Soil Taxonomy với hệ thống thuật ngữ
Trang 128
riêng [10]
Ngoài ra, để bổ sung cho phân loại đất của FAO-UNESCO hội khoa học đất quốc
tế và chương trình môi trường liên hiệp quốc đã hỗ trợ phát triển cơ sở tham chiểu phân loại đất quốc tế (IRB) và sau đó là cơ sở tham chiểu tài nguyên đất thế giới (WRB) Cơ sở tham chiểu tài nguyên đất thế giới (WRB) bổ sung thêm các kiến thức sâu rộng cho bảng sửa đổi 1988 của FAO-UNESCO[10]
1.3.4 Phân loại và xây dựng bản đồ đất Việt Nam
Công tác nghiên cứu phân loại đất Việt Nam cũng gắn liền với sự phát triển thổ nhưỡng học của nước ta Các phương pháp phân loại đất trên thế giới đều được sử dụng ở nước ta nhưng chậm hơn Sau khi giải phóng miền Nam, nước nhà thống nhất, do yêu cầu của sự phát triển đất nước, công tác nghiên cứu phân loại đất và xây dựng bản đồ đất được thực hiện và phát triển sâu rộng Năm 1976, ban biên tập bản đồ đất Việt Nam đã công bố bảng phân loại đất của nước Việt Nam thống nhất dùng cho bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000
Theo bảng phân loại của Hội Khoa học Đất Việt Nam thì đá mẹ được kí hiệu là các chữ : a ( macma a xít), k (macma bazo và trung tính ; q( đá cát và biến chất hạt thô); s (đá phiến thạch sét); j ( đá biến chất hạt mịn); p (trên phù sa cổ) Theo chú thích bản đồ đất Việt Nam tỉ lệ 1/1.000.000 thì: ký hiệu số 1( đá macma bazo và trung tính); 2 ( đá vôi); 3 (đá biến chất); 4 (đá a xít); 5 (đá cát); 6 (phù sa cổ)
Đất xám, kí hiệu X, Acrisols (Ac): Diện tích : 19.970.642 ha Phân bố rộng
khắp trung du và vùng núi phía Bắc Có tầng B tích sét, dung tích hấp thu : 24 me/100g sét, độ no bazo 50%, tối thiểu là một phần của tầng B trong lớp đất 0 –
120 cm, không có tầng E, nằm đột ngột ngay trên tầng có tính thấm chậm Trên bản
đồ đất 1/1 triệu được chia thành các đơn vị:
+ Đất xám bạc màu : (X), Haplic Acrisols (ACh)
+ Đất xám có tầng loang lổ (Xl), Plinthite Ac (ACp)
Trang 139
+ Đất xám glây ( Xg), Gleyic Ac (ACg)
+ Đất xám ferralite (Xf), Ferralic Ac (ACf)
+ Đất xàm mùn trên núi ( Xh), Humic Ac (ACu)
• Đất xám bạc màu ( không có trong khu vực Hàm Yên) : Chủ yếu phát triển trên phù sa cổ, đá macma a xit và đá cát, tập trung ở Đông Nam bộ, Tây nguyên và Trung du Bắc bộ TPCG nhẹ, dung trọng 1,3 – 1,5, tỷ trọng 2,65 – 2,70, độ xốp 43 – 45%, độ ẩm đồng ruộng 27 – 31%, độ ẩm cây héo 5 – 7%, nước hữu hiệu 22 – 24%, độ thấm lớp đất mặt 68 mm/giờ, lớp dưới 25 mm/giờ Phản ứng đất chua đến rất chua ( pHKCl 3 – 4,5); nghèo cation kiềm trao đổi (Ca+Mg < 2me/100 g đất ); độ nao bazo và dung tích hấp phụ thấp; hàm lượng mùn tầng đất mặt nghèo đến rất nghèo (0,5 – 1,5%); C/N<10; các chất dễ tiêu nghèo.; thường bị khô hạn và xói mòn mạnh; địa hình thường thoải, thoát nước, TPCG nhẹ, dễ canh tác
• Đất xám có tầng loang lổ (chưa phát hiện, nếu có thì rất ít): diện tích : 221.360 ha, phân bố ơ trung du Bắc bộ, độ dốc thường < 150 ; chủ yếu là thạch anh; TPCG nhẹ đến trung bình , dung ttrọng 1,4 – 1,6; độ xốp < 40%; đôk ẩm bão hòa
28 – 31%; độ ẩm cây héo 11 – 13%; thường có tầng kết von đá ong ở độ sâu 50 cm
pHKCl 3 – 4,5; mùn nghèo (<1%); độ no bazo và dung tích hấp phụ thấp, nghèo chất
dễ tiêu
• Đất xám feralite (Xf) (rất phổ biến) : diện tích 14.789.505 ha, có 5 đơn vị phụ:
• Đất xám feralit trên phiến thạch sét (Xfs) 6.876.430 ha
• Đất xám feralit trên macma a xit (Xfa) 4.646.474 ha
• Đất xám feralit trên đá cát và biến chất hạt thô (Xfq) 2.651.337 ha
• Đất xám feralit trên phù sa cổ (Xfp) 455.402 ha
Bảng phân loại đất này được thực hiện theo phương pháp phân loại phát tăng là căn cứ để xây dựng các bản đồ đất tỷ lệ trung bình và lớn cho các địa phương trong
cả nước
Trang 1410
Như vậy, công tác nghiên cứu phân loại đất và xây dựng bản đồ đất của Việt Nam liên tục phát triển Các nhà khoa học đất Việt Nam đã rất linh hoạt và sáng tạo trong việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu phân loại đất của thế giới vào điều kiện cụ thể Việt Nam Phân loại đất Việt Nam, xây dựng bản đồ đất quốc gia và các địa phương góp phần quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta
Trong lâm nghiệp còn xây dựng biểu cấp đất cho một số rừng trồng như rừng Bồ đề, Thông ba lá, Thông mã vĩ v.v Bản chất của cấp đất cũng thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố lập địa với tăng trưởng rừng trồng thông qua chỉ số chiều cao của lâm phần (H bình quân, hoặc H cây trội: H dominant) ứng với cấp tuổi nhất định Dựa vào sự biến động chiều cao lâm phần hoặc chiều cao các cây trội ở các cấp tuổi trong các điều kiện hoàn cảnh khác nhau mà phân chia thành các cấp đất khác nhau Thông thường một biểu cấp đất gồm từ 5 tới 8 cấp Dựa vào biểu cấp đất ta có thể xác định một lâm phần nào đó ở một cấp tuổi nhất định sẽ thuộc cấp đất nào trên cơ sở xác định các nhân tố về chiều cao của lâm phần hoặc chiều cao cây trội (thường đo 10% số cây lớn nhất lâm phần) Điều đó phản ánh lâm phần xem xét tăng trưởng trong điều kiện lập địa tốt hay xấu
Vũ Đình Phương là người đầu tiên xây dựng biểu cấp đất cho rừng trồng Bồ đề (Styrax tonkinensis) dựa trên mối quan hệ Hd với tuổi lâm phần (1972) Nguyễn Ngọc Lung (1987) đã xây dựng biểu cấp đất cho rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng với
5 cấp đất
Phân hạng đất, lập bản đồ GIS phân cấp mức độ thích hợp cấp vĩ mô cho việc trồng rừng Keo tai tượng ở vùng Trung tâm tỷ lệ 1:250.000 cũng đã được Nguyễn Văn Thắng, Ngô Đình Quế (Trung tâm Nghiên cứu Tăng thái và Môi trường rừng-Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) thực hiện từ năm 2006-2009
Đề tài đã chỉ ra: “Các yếu tố chính ảnh hưởng đến tăng trưởng của Keo tai tượng ở cấp độ vi mô là độ dày tầng đất, dung trọng, pHKCl, mùn và P dễ tiêu, trong đó 3
Trang 1511
yếu tố quan trọng nhất có thể coi đây là những yếu tố giới hạn với năng suất của rừng Bảng phân hạng đất cấp vi mô mà đề tài đưa ra được tổng hợp dựa trên những kết quả đánh giá thực tế tại các cơ sở trồng rừng và tổng hợp, xử lý, phân tích bằng chương trình thống kê SPSS nên có cơ sở khoa học, đáng tin cậy và có thể sử dụng trong quy hoạch, chọn đất trồng rừng Keo tai tượng cho các cơ sở sản xuất ở vùng Trung Tâm như: Lâm trường, xã, thôn ”[6]
Nhưng để áp dụng cụ thể cho từng lô ở cấp vi mô của từng đơn vị trồng rừng còn là vấn đề nan giải, bởi các đơn vị hầu như chưa xác định được tên đất, đá mẹ,
mô tả phẫu diện, phân tích thành phần lý hoá tính của đất mình quản lý thì không thể áp dụng được bảng phân hạng đất Vấn đề tiếp theo là đối với trồng rừng keo lai hiện nay chưa được nghiên cứu cho các hạng đất của khu vực
Xuất phát từ nhận biết đặc tính tăng vật học của loài keo, với mục tiêu trồng
rừng cụ thể “Đất nào - cây ấy” nhằm kinh doanh rừng hiệu quả, ổn định, đúng
hướng, và ngày một nâng cao năng suất rừng trồng nguyên liệu giấy trên từng loại đất cụ thể Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã đề xuất và được Bộ Công
thương phê duyệt cho triển khai đề tài: Nghiên cứu trồng thử nghiệm một số dòng
vô tính Keo lai (KL2, KL20, KLTA3, BV10, BV16, BV32, BV71, BV73, BV75) trên một số loại đất chính ở Hàm Yên, Tuyên Quang
Trang 1612
Chương 2 THỰC NGHIỆM 2.1 Mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá khả năng tăng trưởng của 9 dòng keo lai, Keo tai tượng trên hai loại đất chính đã xác định năm 2011 ở Hàm Yên, Tuyên Quang Lựa chọn giống keo cho tăng trưởng nhanh, năng suất cao, phù hợp trên từng loại đất ở Hàm Yên, Tuyên Quang
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
Trên 2 điểm trồng 4 ha thí nghiệm với 2 loại đất khác nhau, mỗi loại 2 ha:
− Đánh giá tăng trưởng các dòng vô tính keo lai, Keo tai tượng trên đất xám feralit vàng đỏ (X3) ở Hàm Yên, Tuyên Quang
− Đánh giá tăng trưởng các dòng vô tính keo lai, Keo tai tượng trên đất xám feralit đỏ vàng (Xf3) ở Hàm Yên, Tuyên Quang
− Ảnh hưởng của điều kiện đất đai khác nhau đến tăng trưởng của các dòng keo lai
- Báo cáo kết quả thực hiện năm 2012
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng quát:
Từ kết quả xác định 2 loại đất chính (năm 2011), mỗi loại đất đề tài bố trí đầy đủ thí nghiệm 9 dòng keo lai và đối chứng Keo tai tượng (năm 2012) nhằm theo dõi, đánh giá tăng trưởng, năng suất, lựa chọn một số dòng phù hợp trên loại đất cụ thể để khuyến cáo cho kinh doanh rừng trồng nguyên liệu giấy ở Hàm Yên, Tuyên Quang
Phương pháp cụ thể:
a) Thiết lập thí nghiệm:
- Địa điểm 1: trên đất vàng đỏ (X3), thuộc lô 4 – K320, diện tích 2,0 ha Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ cho 9 dòng vô tính keo lai và đối
Trang 17- Dòng BV10, BV16, BV32, BV71, BV73, BV75 (từ cây hom): Giống tiến bộ
kỹ thuật do Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam chọn tạo
- Dòng KL20, KL2, KLTA3 (từ cây hom): Giống tiến bộ kỹ thuật do Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh chọn tạo
- Keo tai tượng gieo từ hạt rừng giống Hà Giang, mã nguồn giống SC.08.01 Giống do Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh chuyển hoá năm 2008
c) Theo dõi, thu thập, xử lý số liệu hàng năm:
Các chỉ tiêu tăng trưởng cần theo dõi đo đếm như: Tình hình tăng trưởng rừng
trồng được đánh giá thông qua việc thu thập các chỉ tiêu của tất cả các cây trong ô thí nghiệm, thực hiện vào cuối mùa tăng trưởng (tháng 11 - 12) cụ thể như sau:
Trang 18+ Cấp 1 (Tốt): Cây tăng trưởng tốt, sức sống tốt, không sâu, bệnh
+ Cấp 2 (Trung bình): Cây tăng trưởng bình thường
+ Cấp 3 (Xấu): Cây tăng trưởng chậm, sức sống kém, bị sâu hoặc bệnh làm ảnh hưởng đến sức tăng trưởng
- Đánh giá mức độ sâu, bệnh hại được thực hiện ở thời điểm thu thập số liệu và dựa vào phân cấp hại của Nguyễn Thế Nhã và cộng sự (2001) như sau:
+ Đối với sâu bệnh hại lá:
Cấp 0 (không bị hại): 0 % diện tích lá bị hại Cấp I (hại nhẹ): < 25 % diện tích lá bị hại Cấp II (hại vừa): 25 - 50 % diện tích lá bị hại Cấp III (hại nặng): 51 - 75 % diện tích lá bị hại Cấp IV (hại rất nặng): > 75 % diện tích lá bị hại + Đối với sâu bệnh hại thân, cành, ngọn:
Cấp 0 (không bị hại): 0 % số thân, cành, ngọn bị hại
Cấp I (hại nhẹ): < 10 % số thân, cành, ngọn bị hại
Cấp II (hại vừa): 10 - 25 % số thân, cành, ngọn bị hại
Cấp III (hại nặng): 26 - 50 % số thân, cành, ngọn bị hại
Cấp IV (hại rất nặng): > 50 % số thân, cành, ngọn bị hại
Tính toán, xử lý số liệu:
Số liệu sau khi thu thập, được xử lí và phân tích theo các quy trình ứng dụng SPSS ( Statistical Products for social Services), một phương pháp xử lý số liệu
Trang 1915
đang được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu lâm nghiệp Quy trình các bước thực hiện như sau:
¾ Bước 1: Tạo biểu đồ hộp để thăm dò dữ liệu về luật phân bố: Analyze/
Descriptive Statistics / Explo…/Ok
¾ Bước 2: Kiểm định tiêu chuẩn Levene về tính đồng nhất phương sai và phân tích phương sai ANOVA:
Analyze/Compare…/ One-Way Anova: Khai các biến Hvn, Doo vào biến phụ thuộc và Công thức vào biến ảnh hưởng.Vào Option / Homogeneity of Variance
¾ Bước 3: Tìm công thức ảnh hưởng trội nhất:
Analyze/Compare…/ One-Way Anova / Post hoc / BonFerroni / Tukys – b/ Contune / Ok
Ngoài ra, hệ số biến động, tỷ lệ sống, thể tích thân cây, tăng trưởng được tính như sau:
(2) Trong đó, Nht: số cây hiện tại; Nbđ: số cây ban đầu
- Thể tích trung bình thân cây (V c ) được tính theo công thức:
f H D m
V c 3 = 12, 3 × vn×
4
14 , 3 )
Trong đó, f là hình số tự nhiên và được giả định là 0,5
- Tăng trưởng bình quân chung (∆) được tính:
Trong đó: ta: chỉ tiêu tăng trưởng tại năm thứ a (tuổi của rừng)
Trang 2016
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH LUẬN
3.1 Một số thông tin về đất trồng thí nghiệm tại Hàm Yên, Tuyên Quang
Sau khi điều tra đất tại Hàm Yên năm 2011, đề tài chọn hai loại đất chính là đất xám feralit đỏ vàng (Xf3) và là đất xám feralit vàng đỏ (X3) trong 3 loại đất hiện có ở Hàm Yên, Tuyên Quang để trồng thí nghiệm Thông tin đất nơi trồng thí nghiệm như sau:
3.1.1 Điều tra trong phẫu diện chính
Biểu 3.1: Thông tin cơ bản trong phẫu diện chính
Tên đất/ đá
mẹ Ký hiệu lô – khoảnh
Độ sâu tầng A/B (cm)
Tế, hu đay, tăng trưởng
Cỏ vừng tăng trưởng
Nứa,sẹ, Dxỉ Đom đóm
Bảng 3.1 và điều tra cho thấy: Loại đất xám feralit (X3) có mầu vàng đỏ đến vàng nhạt phát triển trên đá trầm tích hoặc phiến sét có tần A mỏng (0-14 cm), thịt nặng Tầng B nhiều đá tảng màu trắng, khi mới đào có thể dùng móng tay viết được trên đá,
ra ngoài không khí lâu đá bị cứng lại Đặc biệt khi trời mưa, dòng nước xói mòn chảy trên đồi xuống có màu trắng đục Thực bì chủ yếu là Hu đay, tế guột tăng trưởng trung bình
Trang 2117
Loại đất xám feralit (Xf3) có mầu đỏ vàng đến đỏ tím phát triển trên đá Gnai, biến chất hoặc phiến thạch Mi ca có tần A dày (0-43 cm), thịt nặng Tầng B cũng rất dày ít
đá lẫn (5%) Thực bì chủ yếu Nứa, sẹ, Dương xỉ, Đom đóm tăng trưởng tốt
3.1.2 Phân tích một số chỉ tiêu hoá tính của đất
Bảng 3.2a: Kêt quả phân tích hoá tính của đất
Tên đất/ đá
mẹ Tên lô – khoảnh Độ sâu pH KCL
Mùn M%
Đạm tổng số N%
Bảng 3.2b: Kêt quả phân tích lý, hoá tính của đất
Thanh phần cơ giới(% FAO)
Các chất
dễ tiêu
(mgđl/100g đất)
Độ chua trao đổi (mgđl/100g
cm P2O5 K2O H + Al 3+ Ca 2+ Mg 2+
2-0,02
mm
0,02 0,002
-mm
< 0,002
mm
0-20 0,39 10,36 0,41 4,35 3,21 3,01 64,78 25,38 9,84 X3/trầm tích,
phiến sét L6+8- K320 20-40 0,26 7,75 0,31 5,06 4,34 1,34 35,41 40,82 23,77
0-20 1,31 10,42 0,21 4,38 5,32 2,19 25,99 32,32 41,70 X5/Sa thạch K327 L19-
20-40 0,39 7,78 0,19 4,17 3,22 4,36 27,86 43,08 29,06 0-20 1,29 7,76 0,23 4,33 4,45 1,35 28,05 52,28 19,67
Xf 3 / Gnai, biến
chất, PT Mi ca
K312 20-40 0,77 5,15 0,21 4,12 4,63 1,54 35,67 21,62 42,72 Bảng 3.2a cho thấy: Hầu như đất ở khu vực Hàm Yên về hoá tính xác định
L7-là loại đất chua, độ chua pH không chênh nhau nhiều (pHkcl từ 4,3-4,8) Hàm lượng mùn M% tuỳ theo độ sâu, loại đất, nhìn chung đất ở Hàm Yên có lượng mùn khá cao ở tầng A (Từ 1,3 đến 3,54%) Đạm tổng số thì nghèo, ở những loại đất vàng đỏ, vàng nhạt và đất xám đen, N% chỉ từ 0,07 đến 0,23%; Nhưng ở đất đỏ tươi, đỏ tím thậm màu hơn thì N% lại rất khá từ 0,21 đến 0,23%
Trang 2218
Bảng 3.2b cho thấy: Đất ở Hàm Yên nghèo lân, trong 14 mẫu phân tích chỉ
có 3 mẫu có hàm lượng lân dễ tiêu P2O5 lớn hơn 1,29 (mgđl/100g đất), còn lại đa
số < 0,5 (mgđl/100g đất) Kali dễ tiêu K2O thì rất giầu, đa số từ 5,15 đến > 10 (mgđl/100g đất), ngoại trừ đất có màu vàng sáng, vàng đỏ thì kém hơn chỉ từ 2,64 đến > 5,25 (mgđl/100g đất)
Độ chua trao đổi H+ đa số ở ngưỡng 0,19 – 0,31(mgđl/100g đất) Còn Nhuôm Al3+ khá cao: Từ 2,26 đến 5,06 (mgđl/100g đất), Nhưng kém nhất là đất vàng sáng chỉ từ 2,26 đến 2,63 (mgđl/100g đất)
Các cation trao đổi như Ca2+ và Mg3+ rất giầu: Ca2+ từ 3,05 – 5,32 (mgđl/100g đất); Mg3+ rất giầu từ 1,34 – 4,36 (mgđl/100g đất)
Thành phần cơ giới: đa số các mẫu thu được cho thấy đất tích sét ở tỷ lệ < 0,002 cộng với 0,002 – 0,02 chiếm tỷ lệ > 70% tổng số
Thí nghiệm được bố trí với diện tích 4,0 ha trên hai lô: Lô 4-K320 (đất feralit vàng đỏ) trồng ngày 24/5/2012 và lô 7-K312 (đất feralit đỏ vàng) trồng ngày 06/6/2012
3.2 Đánh giá tăng trưởng các dòng keo lai, Keo tai tượng trên đất xám feralit vàng đỏ (X 3 ) ở Hàm Yên, Tuyên Quang
3.2.1 Tỷ lệ sống các dòng keo lai, Keo tai tượng sau trồng 6 tháng tuổi trên đất xám feralit vàng đỏ (X 3 ) ở Hàm Yên, Tuyên Quang
Dòng N
(cây)
Tỷ lệ sống (%)
Trang 233.2.2 Tăng trưởng các dòng keo lai, Keo tai tượng trồng trên đất xám
feralit vàng đỏ (X 3 ) ở Hàm Yên, Tuyên Quang
- Chiều cao tại thời điểm 3 tháng tuổi:
Bảng 3.3: Tăng trưởng chiều cao sau trồng 3 tháng trên đất vàng đỏ (X3)
Means for groups in homogeneous subsets are displayed
a Uses Harmonic Mean Sample Size = 60.622
b The group sizes are unequal The harmonic mean of the group sizes is used Type I error levels are
not guaranteed.
Bước đầu nhận thấy tăng trưởng chiều cao giữa các dòng keo lai có sự khác
nhau rõ rệt (trung bình mẫu của các dòng được chia thành 3 tập con) Chiều cao
thấp nhất thuộc nhóm 1 là Keo tai tượng trồng cây con từ hạt, BV71, BV32,
KLTA3, KL2, KL20 (Từ 61,5 – 69,7 cm); Chiều cao trội hơn theo thứ tự là BV73,
BV16, BV75 và BV10 (Từ 72,5 – 77,9 cm)
Trang 2420
- Đường kính, chiều cao tại thời điểm 6 tháng tuổi:
+ Bảng 3.4 cho thấy tăng trưởng đường kính gốc giữa các dòng keo lai có sự khác
nhau rõ rệt (trung bình mẫu của các dòng được chia thành 5 tập con) Đường kính D00
thấp nhất là BV16, BV32, KL2 và BV73 chỉ từ 20,9 – 22,8 mm; Đường kính trội hơn là
Means for groups in homogeneous subsets are displayed
a Uses Harmonic Mean Sample Size = 58.692
b The group sizes are unequal The harmonic mean of the group sizes is used Type I error levels are
not guaranteed.
+ Bảng 3.5 cho thấy: Tăng trưởng chiều cao giữa các dòng keo lai có sự khác nhau
rõ rệt (trung bình mẫu của các dòng được chia thành 5 tập con) Chiều cao thấpnhất là
Keo tai tượng trồng cây con từ hạt (179,7 cm); Trung bình là BV32, KL20, KL2,
KLTA3, BV71, BV73, BV16, BV75 (Từ 208,1 – 226,3 cm); Chiều cao trội hơn cả là
dòng BV10 (238,8 cm)
Trang 25Means for groups in homogeneous subsets are displayed
a Uses Harmonic Mean Sample Size = 58.692
b The group sizes are unequal The harmonic mean of the group sizes is used Type I error levels are
not guaranteed.
+ Chỉ số thể tích thân cây (Iv) tại lô 4 – K320 (đất vàng đỏ)
Bảng 3.5b: Chỉ số thể tích thân cây sau trồng 6 tháng trên vàng đỏ (X3)
Phân tích thống kê bằng tiêu chuẩn Duncan(a,b)
Means for groups in homogeneous subsets are displayed
a Uses Harmonic Mean Sample Size = 58.896
b The group sizes are unequal The harmonic mean of the group sizes is used Type I error levels are
not guaranteed.
Trang 2622
Bảng 3.5 b cho thấy: Chỉ số thể tích thân cây (Iv = D^2 * H) trung bình giữa các công thức khác nhau rõ rệt Thấp nhất gồm các dòng nhóm 1 là BV16, BV32, KL2,
Am trồng từ hạt (Chỉ số Iv từ 10,5 đến 11,9) Cao nhất gồm các dòng nhóm 4 là BV73, KL20, BV75, BV71, BV10 và KLTA3 (Chỉ số Iv từ 12,7 đến 15,4)
3.3 Đánh giá tăng trưởng các dòng vô tính keo lai, Keo tai tượng trên đất xám feralit đỏ vàng (Xf 3 ) ở Hàm Yên, Tuyên Quang
3.3.1 Tỷ lệ sống các dòng keo lai, Keo tai tượng sau trồng 6 tháng tuổi
trên đất xám feralit đỏ vàng (Xf 3 ) ở Hàm Yên, Tuyên Quang
Mặc dù khoảng cách địa lý hai điểm thí nghiệm không cách xa nhau (khoảng
5 km theo đường chim bay) nhưng loại đất khác nhau, hoặc trồng cách nhau 10 ngày đã ảnh hưởng đến tỷ lệ sống khác nhau giữa các dòng
Ví dụ: trên đất vàng đỏ (X3), tỷ lệ sống cây trồng trong ô thí nghiệm trung bình đạt 85,6% Dòng BV32, KL20, KL2 có tỷ lệ sống thấp nhất (60,4 – 83,3%)
Tỷ lệ sống cao nhất lại gồm các dòng BV16, BV71 (>90%) Như vậy so với phân tích trên, mặc dù cùng dòng nhưng đất vàng đỏ (X3) có tỷ lệ sống khác so với đỏ vàng (Xf3)
Trang 2723
Kinh nghiệm sản xuất cho thấy: tuỳ từng năm, khí hậu, lượng mưa, trồng
sớm hay muộn sẽ bị mối dế phá hoại nhiều hay ít nên ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của
cây trồng Điều này nói lên các dòng keo lai ở thí nghiệm thích nghi trên đất rừng
tại Hàm Yên, Tuyên Quang Sự thích hợp cho tăng trưởng, năng suất ở mức độ bao
nhiêu đối với từng dòng ta sẽ xét tăng trưởng theo giai đoạn phần dưới đây
3.3.2 Tăng trưởng các dòng keo lai, Keo tai tượng trồng trên đất xám
feralit đỏ vàng (Xf 3 ) ở Hàm Yên, Tuyên Quang
- Chiều cao tại thời điểm 3 tháng tuổi:
Sau trồng 3 tháng cho thấy tăng trưởng chiều cao giữa các dòng keo lai có sự
khác nhau rõ rệt (trung bình chiều cao của các dòng được chia thành 3 nhóm)
Chiều cao thấp nhất là BV71, KL2, BV32, BV16 (Hvn từ 47,5 – 51,3 cm) Keo tai
tượng trồng cây con từ hạt ở mức trung bình (Hvn = 59,5 cm); Chiều cao trội hơn
Means for groups in homogeneous subsets are displayed
c Uses Harmonic Mean Sample Size = 97.280
d The group sizes are unequal The harmonic mean of the group sizes is used Type I error levels are
not guaranteed.
Trang 2824
- Đường kính, chiều cao và thể tích thân cây tại thời điểm 6 tháng tuổi:
Bảng 3.7 cho thấy tăng trưởng đường kính gốc giữa các dòng keo lai có sự
khác nhau rõ rệt (trung bình mẫu của các dòng được chia thành 5 tập con) Tăng
Means for groups in homogeneous subsets are displayed
a Uses Harmonic Mean Sample Size = 94.983
b The group sizes are unequal The harmonic mean of the group sizes is used Type I error levels are
not guaranteed.
- Tăng trưởng chiều cao sau trồng 6 tháng tuổi:
Bảng 3.8 cho thấy tăng trưởng chiều cao giữa các dòng keo lai có sự khác
nhau rõ rệt (trung bình mẫu của các dòng được chia thành 5 tập con) Chiều cao
thấp nhất theo thứ tự là BV16, Keo tai tượng trồng cây con từ hạt, KL2, BV32
(Chiều cao Hvn từ 149,5 – 158,2 cm); Trung bình là BV71, BV10, BV73 (Chiều
cao Hvn từ 164,2 – 177,3cm); Chiều cao trội hơn theo thứ tự là KLTA3, BV75 và
KL20 (Chiều cao Hvn từ 181,1 – 189,7 cm)
Trang 29Means for groups in homogeneous subsets are displayed
a Uses Harmonic Mean Sample Size = 94.983
b The group sizes are unequal The harmonic mean of the group sizes is used Type I error levels are
not guaranteed.
+ Chỉ số thể tích thân cây tại lô 7 – K312 (đất đỏ vàng)
Bảng 3.8b: Chỉ số thể tích thân cây sau trồng 6 tháng trên đất đỏ vàng
Dùng tiêu chuẩn Duncan(a,b) trong thống kê SPSS cho bảng số liệu sau
Means for groups in homogeneous subsets are displayed
a Uses Harmonic Mean Sample Size = 95.176
b The group sizes are unequal The harmonic mean of the group sizes is used Type I error levels are
not guaranteed.
Trang 303.4.1 Tăng trưởng chiều cao cây trồng tại hai điểm thí nghiệm
Bảng 3.9: Tăng trưởng chiều cao 3 tháng và 6 tháng tuổi tại hai điểm thí nghiệm
ĐVT: Cm
Lô 4-K320 (Đất vàng đỏ) Lô 7-K312 (Đất đỏ vàng)
tháng tuổi
Hvn 6 tháng tuổi
Tăng trưởng
Hvn 3 tháng tuổi
Hvn 6 tháng tuổi
Tăng trưởng
- Tại lô 4 (đất vàng đỏ), sau trồng 3 tháng bình quân chiều cao tăng được 23
cm/tháng (70,2/3), cá biệt dòng BV10 tăng được 26 cm/tháng (77,9/3) Cũng tại lô
này, sau trồng 6 tháng bình quân chiều cao tăng được 36 cm/tháng (218/6), cá biệt
dòng BV10 tăng được ≅ 40 cm/tháng (238,8/6) Lượng tăng trưởng chiều cao sau
Trang 3127
trồng từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 6 (đo tháng 8 và đo tháng 11/2012) mạnh hơn từ
tháng thứ nhất đến tháng thứ 3 (trồng tháng 5 đo tháng 8/2012), bình quân đạt 49,4
cm/tháng (148.3/3), mạnh nhất là dòng BV10 tới 53,6 cm/tháng (160,9/3)
- Tại lô 7 (đất đỏ vàng), sau trồng 3 tháng bình quân chiều cao tăng được 19,5
cm/tháng (58,5/3), cá biệt dòng BV75 tăng được 22 cm/tháng (66,7/3) Cũng tại lô
này, sau trồng 6 tháng bình quân chiều cao tăng được 28 cm/tháng (169,7/6), cá
biệt dòng KL20 tăng được ≅ 32 cm/tháng (189,7/6) Lượng tăng trưởng chiều cao
sau trồng từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 6 (từ tháng 8 đến tháng 11/2012) cũng rất
mạnh, bình quân đạt 37 cm/tháng (111,2/3), mạnh nhất là dòng KL20 tới 42
cm/tháng (127/3)
Trên cả hai loại đất đều cho thấy lượng tăng trưởng chiều cao sau trồng từ tháng
thứ 3 đến tháng thứ 6 (từ tháng 8 đến tháng 11/2012) cho tăng trưởng mạnh hơn 3
tháng đầu
3.4.2 Chênh lệch chiều cao cây trồng trên đất vàng đỏ và đỏ vàng
Bảng 3.10: Chênh lệch chiều cao sau 3 tháng tuổi tại hai điểm thí nghiệm
đất vàng đỏ
Hvn trên đất đỏ vàng δh (cm)
BV16 76,0 51,3 24,7 BV32 63,4 49,6 13,8 BV71 63,3 47,5 15,8
Trang 3228
Bảng 3.10 cho thấy:
+ Cùng ở giai đoạn 3 tháng tuổi, lập địa khác nhau cây trồng tăng trưởng khác nhau (chiều cao trung bình 70,0 - 57,6 =12,4 cm) Ngoại trừ Keo tai tượng, chiều cao
ở các dòng tăng trưởng cũng chênh nhau đáng kể (δh từ 5,7 đến 24,7 cm)
Bảng 3.11: Chênh lệch chiều cao, đường kính sau 6 tháng tuổi tại hai điểm thí nghiệm
Chiều cao Hvn Đường kính gốc Doo
Dòng
đất vàng đỏ đất đỏ vàng δh
(cm) đất vàng đỏ đất đỏ vàng
δd (mm)
BV16 223,1 149,5 73,6 20,9 12,7 8,2 BV32 208,1 158,2 49,9 21,8 15,7 6,1 BV71 219,5 164,2 55,3 24,4 16,8 7,6 BV73 219,6 177,3 42,3 22,8 17,0 5,8 BV75 226,3 181,4 44,9 23,7 19,9 3,8
+ Đường kính gốc cũng tương tự, ở giai đoạn 6 tháng tuổi, lập địa khác nhau tăng trưởng đường kính gốc cây trồng khác nhau (đường kính trung bình 23,4 – 17,8 = 5,7 mm) Lượng tăng trưởng đường kính ở các dòng cũng chênh nhau đáng
kể (δd từ 2,4 đến 8,2 mm)
Trang 3329
3.4.3 Chênh lệch thể tích thân cây trồng trên đất vàng đỏ và đỏ vàng
Để thay cho việc tính thể tích thân cây, chỉ số thể tích thân cây được tính tổng hợp cho cả đường kính, chiều cao từ công thức Iv = D2*H khi cây còn non
Hình 3.1: Chênh lệch thể tích thân cây trên đất vàng đỏ và đỏ vàng
Biểu đồ hình 3.1 cho thấy: Sau trồng 6 tháng, trên đất vàng đỏ, tăng trưởng về chỉ
số thể tích thân cây tốt nhất là 2 dòng BV75, KL20, có Iv > 15; Trung bình là BV73, Keo tai tượng (Am), BV10, KLTA3 có Iv từ 12 - 14; Kém hơn gồm các dòng BV71, KL2, BV32 và dòng BV16, có Iv <12
Chênh lệch chỉ số Iv bình quân giữa hai lô = 6,6 Tại lô 4 - K320 (đất đỏ vàng) tăng trưởng về chỉ số thể tích thân cây tốt nhất là 2 dòng BV75, KL20, có Iv 8,5 – 9,5; Trung bình là BV73, Keo tai tượng (Am), BV10, KLTA3 có Iv từ 6,3 – 7,6; Kém hơn gồm các dòng BV71, KL2, BV32 và dòng BV16, có Iv từ 2,9 – 5,4
Trang 3430
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 Kết luận
Đề tài đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu theo đúng tiến độ đề cương được phê duyệt Qua kết quả số liệu năm 2012, bước đầu đề tài có một số nhận định sau:
1 Thiết lập mô hình nghiên cứu:
Đề tài đã thiết lập được 4,0 ha (mỗi điểm 2,0 ha) Trồng đầy đủ 9 dòng vô tính keo lai (KL2, KL20, KLT3, BV10, BV16, BV32, BV71, BV73, BV75), lặp lại 3 – 4 lần
trên từng loại đất xám feralit vàng đỏ (X3) và đỏ vàng (Xf3) tại Hàm Yên, Tuyên
Tỷ lệ sống cao nhất gồm các dòng BV16, BV71 và Am Trồng từ hạt (>90%)
+ Tăng trưởng đường kính D00 thấp nhất là BV16, BV32, KL2 và BV73 chỉ từ 20,9 – 22,8 mm; Đường kính trội hơn là các dòng BV75, Kl20, BV71, BV10, Am và KLTA3 có Doo từ 23,7 – 25,5 mm
+ Tăng trưởng chiều cao thấp nhất là Keo tai tượng ươm trồng từ hạt 179,6
cm Trung bình gồm các dòng: KL20; KL2; KLTA3; BV71; BV73; BV16; BV75
có chiều cao từ 208,1 đến 226,3 cm Trội nhất là dòng BV10 đạt 238,8 cm
+ Tăng trưởng về chỉ số thể tích thân cây (Iv = D^2 * H) trung bình giữa các công thức cũng khác nhau rõ rệt Thấp nhất gồm các dòng nhóm 1 là BV16, BV32,
Trang 3531
KL2, Am trồng từ hạt (Chỉ số Iv từ 10,5 đến 11,9) Cao nhất gồm các dòng nhóm 4 là BV73, KL20, BV75, BV71, BV10 và KLTA3 (Chỉ số Iv từ 12,7 đến 15,4)
2 Tăng trưởng các dòng vô tính keo lai, Keo tai tượng trên đất xám feralit
đỏ vàng (Xf 3 ) thuộc lô 7 – K312 tại Hàm yên, Tuyên Quang sau trồng 6 tháng:
+ Tỷ lệ sống cây trồng trong ô thí nghiệm trên đất đỏ vàng (Xf3) bình quân đạt 77,2% Dòng BV71, BV16 có tỷ lệ sống thấp nhất (56,7 – 66,7%) Trung bình
là dòng BV32, tỷ lệ sống đạt 73,3% Tỷ lệ sống cao nhất gồm các dòng KL2,
BV73, BV10, KLTA3, KL20 và BV75 (73 – 85,8%) và Am trồng từ hạt đạt 91,7%
+ Tăng trưởng đường kính gốc giữa các dòng keo lai có sự khác nhau rõ rệt Đường kính D00 thấp nhất là các dòng BV16, BV32; KL2, BV71, BV73 (12,7 – 17,0 mm); Đường kính trội hơn là các dòng BV10, KLTA3, BV75, Am và KL20
(18.7 – 21.5 mm)
+ Tăng trưởng chiều cao giữa các dòng keo lai cũng có sự khác nhau rõ rệt Chiều cao thấp nhất là các dòng BV16; Am trồng cây con từ hạt; KL2; BV32 (149,5 – 158,2 cm) Trung bình gồm các dòng: BV71; BV10; BV73 (164,2 – 177,3
cm) Trội nhất là dòng KLTA3; BV75; KL20 (Hvn từ 181,1 – 189,7 cm)
+ Cũng như đường kính, chiều cao, chỉ số thể tích thân cây (D^2 * H) trung bình giữa các công thức cũng khác nhau rõ rệt Thấp nhất gồm các dòng nhóm 1 – nhóm 3 là BV16, BV32, KL2, BV71 (Chỉ số Iv từ 29,8 đến 53,9) Trung bình gồm các dòng nhóm 3, nhóm 4 là BV73, Am trồng từ hạt, BV10, và KLTA3 (Chỉ số Iv từ 63,3 đến 75,7) Cao nhất gồm các dòng nhóm 5, nhóm 6 là BV75, KL20 (Chỉ số Iv từ
Trang 3632
+ Tại lô 7 (đất đỏ vàng), sau trồng 3 tháng bình quân chiều cao tăng được 19,5 cm/tháng (58,5/3) Từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6 tăng được bình quân 37 cm/tháng (111,2/3), mạnh nhất là dòng KL20 tới 42 cm/tháng (127/3)
+ Hai loại đất khác nhau, các dòng khác nhau tăng trưởng khác nhau, tăng trưởng đường kính, chiều cao chênh lệch nhau đáng kể,
+ Trên cả hai loại đất tăng trưởng về chỉ số thể tích thân cây tốt nhất là các dòng BV10, KLTA3, KL20, BV75, BV71 Trung bình là KL2, BV73, Keo tai tượng (Am) Kém hơn cả gồm các dòng BV32 và dòng BV16
- Tuy nhiên, đây mới là số liệu mới thu thập 6 tháng sau trồng chưa thể đánh giá cho cả quá trình sinh trưởng, phát triển của các dòng keo lai sau này Do vậy cần theo dõi tiếp các năm sau sẽ cho kết quả chính xác hơn
4.2 Hạn chế của đề tài
Do tham vọng đưa thêm giống Keo tai tượng vào cùng khảo nghiệm để đánh giá mức độ phù hợp giữa keo lai và Keo tai tượng trên từng loại đất nên việc đánh giá khi tính toán thống kê với nhau là chưa phù hợp Việc này đề tài sẽ rút kinh nghiệm và tính toán riêng vào năm thứ hai trở đi
4.3 Kiến nghị
Do cây trồng thí nghiệm mới theo dõi năm thứ 2 Đề nghị Bộ Công thương tạo điều kiện cấp kinh phí cho đề tài được tiếp tục theo dõi, bảo vệ ở các năm tiếp theo