Từ đó, có thể hiểu TTHC là những công việc cụ thể phát sinh trong quá trình giải quyết các công việc của Nhà nước và các kiến nghị, yêu cầu thích đáng của tổ chức, cá nhân nhằm thi hành
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
_
BÁO CÁO KHOA HỌC ĐỀ TÀI CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CẢI CÁCH, KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI BỘ CÔNG THƯƠNG
Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG
Cơ quan chủ trì: VĂN PHÒNG BỘ Chủ nhiệm đề tài: ĐỖ VĂN CÔI
9786
HÀ NỘI - 2012
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
V Nội dung và kết cấu của báo cáo khoa học 4
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT THỦ
TỤC HÀNH CHÍNH
6
I Một số vấn đề lý luận chung về kiểm soát thủ tục hành chính 6
1 Khái niệm thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính 6
2 Nội dung, đặc điểm của thủ tục hành chính, kiểm soát TTHC 7
II Tổng quan về cải cách hành chính, kiểm soát TTHC 9
III Định hướng cải cách thủ tục hành chính tại Việt Nam 12
1 Quan điểm và chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Đảng 12
2 Quá trình cải cách thủ tục hành chính và kiểm soát thủ tục hành
3 Những tồn tại, hạn chế trong quá trình quy định và thực hiện
TTHC trước khi triển khai thực hiện Đề án Đơn giản hóa TTHC và
Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2010 của Chính
phủ
17
5 Lợi ích của Đề án đơn giản hóa TTHC và Công tác Kiểm soát
Trang 32 Kinh nghiệm của Hungary 22
Chương 2 RÀ SOÁT, PHÂN TÍCH MỘT SỐ THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH DO BỘ CÔNG THƯƠNG TRỰC TIẾP THỰC
IV Thủ tục cấp giấy chứng nhận quy trình Kimberly đối với
kim cương thô
44
V Thủ tục Cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) ưu đãi
mẫu A cho mặt hàng giầy dép xuất khẩu sang EU
VII Thủ tục đăng ký danh mục hàng nhập khẩu, tạm nhập tái
xuất của nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam 57
C THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC QUẢN LÝ
CẠNH TRANH
59
VIII Thủ tục Thông báo tập trung kinh tế 59
IX Thủ tục đề nghị hưởng miễn trừ đối với thoả thuận hạn chế 62
Trang 4cạnh tranh
D THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC ĐIỆN 65
X Thủ tục Cấp giấy phép hoạt động phát điện 65
XI Thủ tục Cấp giấy phép hoạt động bán buôn, bán lẻ điện 69 XII Thủ tục Cấp phép hoạt động tư vấn chuyên ngành điện 72
XV Thủ tục cấp giấy phép bán buôn (hoặc đại lý bán buôn)
thuốc lá trong phạm vi 2 tỉnh trở lên
87
Chương III TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY
MẠNH CÔNG TÁC CẢI CÁCH TTHC, KIỂM SOÁT TTHC
VÀ TIẾP NHẬN, XỬ LÝ PHẢN ÁNH, KIẾN NGHỊ CỦA CÁC
TỔ CHỨC, CÁ NHÂN VỀ QUY ĐỊNH HÀNH CHÍNH
92
I TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG
TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ KIỂM SOÁT
III THỰC HIỆN NGHIÊM TÚC VIỆC LẤY Ý KIẾN ĐỐI
VỚI DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CÓ
QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
96
Trang 5CHỨC LÀM CÔNG TÁC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH
V ĐẨY MẠNH VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG
TIN TRONG CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH VÀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
99
VI ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG HỖ TRỢ
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ KIỂM SOÁT THỦ
TỤC HÀNH CHÍNH
99
VII TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC THANH TRA VÀ KIỂM
TRA ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
VỚI CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG, ĐỀ BẠT, BỔ
NHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH NHIỆM
Trang 6BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CẢI CÁCH, KIỂM SOÁT THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH TẠI BỘ CÔNG THƯƠNG
Chủ nhiệm đề tài: Đỗ Văn Côi Phó Văn phòng Bộ Công Thương Nghiệm thu năm 2012
MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cải cách hành chính từ lâu đã không còn là vấn đề xa lạ với bất cứ ai trong chúng ta Ngày nay, đó là vấn đề mang tính toàn cầu Cả các nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Trải qua nhiều năm với những bước đi và lộ trình khác nhau công cuộc cải cách hành chính cũng đã thu được những thành tựu đáng kể, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, do chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên việc cải cách hành chính ở nước ta gặp rất nhiều khó khăn, vì thế mà đến nay CCHC vẫn đang là một bài toán lớn đối với Chính phủ cũng như các cơ quan hành chính Nhà nước
Trong những năm vừa qua, một loạt các biện pháp cải cách thủ tục hành chính (TTHC) đã được thực hiện; trong đó, có việc thực hiện cơ chế
“một cửa” và rà soát, sửa đổi, bãi bỏ TTHC theo hướng công khai, minh bạch, đơn giản hoá Nhờ đó, mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp được cải thiện một bước đáng kể Đề án đơn giản hóa TTHC trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 – 2010 (gọi tắt
là Đề án 30) ra đời với mục tiêu nhằm đơn giản hóa TTHC trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch các TTHC; tạo sự thuận lợi cho tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện TTHC; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần phòng, chống tham nhũng và lãng phí đã phần nào đáp ứng được mong đợi của tổ chức, cá nhân Có thể nói, cải cách TTHC đã thực sự đóng vai trò là khâu đột phá trong quá trình cải cách hành chính của nước ta, góp phần xóa bỏ được khá nhiều rào cản trên con đường đi đến một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả
Trang 7Khi thực hiện cải cách thể chế, một phần công việc quan trọng cần thực hiện đó là cải cách các TTHC Kinh nghiệm cải cách hành chính thế giới cho thấy, cải cách TTHC phải được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong chương trình hiện đại hoá hành chính của Chính phủ các nước phát triển
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, TTHC vẫn còn tồn tại xu hướng cơ quan hành chính giành thuận lợi cho mình, đẩy khó khăn cho cá nhân, tổ chức; vẫn còn tư tưởng bao cấp, cục bộ của các bộ, ngành khi xây dựng văn bản ban hành TTHC; thiếu trách nhiệm trong kiểm tra việc tổ chức thực hiện
Sự phiền hà trong TTHC vẫn tồn tại ở nhiều nơi, nhiều lúc, dưới nhiều hình thức khác nhau, gây khó khăn cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp, làm lỡ
cơ hội đầu tư và cản trở sức sản xuất của các thành phần kinh tế trong xã hội Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và xuất phát từ yêu cầu thực
tế, triển khai thực hiện cải cách hành chính, Văn phòng Bộ Công Thương lựa
chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất
lượng cải cách, kiểm soát TTHC” mang ý nghĩa thực tế cao, đáp ứng yêu cầu
cấp bách hiện nay và trong những năm tới
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của Đề tài là nghiên cứu những nền tảng lý luận cơ bản, quan điểm chỉ đạo của Đảng và nội dung chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về kiểm soát TTHC; đánh giá, phân tích hiện trạng của quá trình thực hiện, giải quyết TTHC, bao gồm cả cơ sở pháp lý cơ sở thực tiễn của TTHC do Bộ Công Thương trực tiếp thực hiện; Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết TTHC và tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính Trên cơ sở đó, Đề tài đưa ra những kiến nghị,
đề xuất cụ thể để tiếp tục hoàn thiện các TTHC của Bộ Công Thương theo hướng đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp
và triển khai tốt hơn công tác kiểm soát TTHC, tiếp nhận xử lý các phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính trong lĩnh vực công thương
Để đạt được mục tiêu trên, Đề tài sẽ tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hoá các văn bản quy phạm pháp luật
(QPPL) có quy định TTHC và một số vấn đề lý luận cơ bản, nghiên cứu đánh giá thực tiễn chung trong quá trình thực thi pháp luật để hiểu rõ các TTHC và những nhiệm vụ đặt ra đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, trong đó có Bộ
Công Thương
- Về mặt thực tiễn: Rà soát và phân tích một số TTHC do cơ quan Bộ
Công Thương trực tiếp thực hiện Tập trung phân tích và có kiến nghị cụ thể đối với một số thủ tục để đưa vào áp dụng Dịch vụ công trực tuyến phục vụ tốt hơn nhu cầu của tổ chức, cá nhân, phù hợp với Chương trình cải cách hành chính chung của Chính phủ sớm áp dụng Chính phủ điện tử
Trang 8Kết quả nghiên cứu sẽ được báo cáo Lãnh đạo Bộ phê duyệt nhằm sớm triển khai trong thực tế Nếu khả thi, các giải pháp sẽ được tập trung thực hiện ngay trong năm 2013, phấn đấu hoàn thành vào cuối năm 2013 và đầu năm
2014
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Hiện tại, Bộ Công Thương đã thống kê 233 TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ (Xem danh mục tại Phụ lục Đề tài) Trong phạm vi của
Đề tài, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung vào các nhóm TTHC có liên quan nhiều đến tổ chức, cá nhân và các TTHC còn chứa đựng các nội dung mang tính rào cản trong quá trình thực hiện Việc kiểm soát các TTHC ngay từ giai đoạn xây dựng và ban hành văn bản QPPL, đồng thời thường xuyên rà soát các TTHC (quy trình thực hiện, cơ sở pháp lý, khả năng phù hợp với yêu cầu thực tiễn ) sẽ được thực hiện đối với các nhóm TTHC này nhằm minh họa rõ hơn cho vấn đề và cách thức thực hiện TTHC của Bộ Công Thương
Tuy nhiên, trong phạm vi của một Đề tài cấp Bộ, Đề tài này chưa có điều kiện đi sâu phân tích đối với toàn bộ các TTHC mà chỉ tập trung rà soát, phân tích một số thủ tục đại diện theo ngành, lĩnh vực mà Bộ Công Thương đang trực tiếp thực hiện Mặt khác, các thủ tục không được lựa chọn phân tích chi tiết cũng là những thủ tục chưa đặt ra những vấn đề cấp bách cần thực hiện ngay Hơn nữa, các thủ tục này cũng cần có thêm thời gian để kiểm nghiệm trong thực tế, việc phân tích chi tiết đối với các thủ tục này vào thời điểm hiện nay là chưa thực sự cần thiết
Cụ thể, các nhóm TTHC được tập trung phân tích sâu trong phạm vi Đề tài này bao gồm:
1 Nhóm TTHC thuộc lĩnh vực Xuất khẩu, nhập khẩu;
2 Nhóm TTHC thuộc lĩnh vực Dịch vụ thương mại và Thương mại quốc tế;
3 Nhóm TTHC thuộc lĩnh vực Quản lý cạnh tranh;
4 Nhóm TTHC thuộc lĩnh vực Điện;
5 Nhóm TTHC thuộc lĩnh vực Vật liệu nổ công nghiệp;
6 Nhóm TTHC thuộc lĩnh vực Lưu thông hàng hóa trong nước;
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở sử dụng tổ hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích hệ thống, thống kê khoa học về tổ chức, mô hình hoá, điều tra xã hội học, phương pháp chuyên gia…Trên cơ sở tiếp thu kết quả các công trình nghiên cứu trước đây, có cập nhật thông tin để việc đánh giá và đề xuất sát thực hơn; sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, mô hình hoá có so sánh đối chiếu thực tiễn, đảm bảo
Trang 9tính toàn diện, đồng bộ, thống nhất, khả thi và minh bạch của hệ thống các giải pháp đề xuất
Về cách thức triển khai, đề tài được tổng hợp trên cơ sở xây dựng hệ thống các nội dung nghiên cứu chính và các chuyên đề chuyên sâu; khảo sát thực tiễn, khai thác, xử lý thông tin để phục vụ cho việc hình thành báo cáo tổng kết khoa học của đề tài Trước hết, quy trình thực hiện toàn bộ các TTHC do Bộ Công Thương thực hiện được rà soát, trên cơ sở đó, lựa chọn một số TTHC đặt ra những vấn đề lớn trong thực tế để phân tích chi tiết và có những kiến nghị cụ thể
Việc kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp được sử dụng để phân tích, xác định các vướng mắc, bất cập, trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị, đề
xuất cụ thể và có tính khả thi cao, được áp dụng nhanh chóng trong thực tế
V NỘI DUNG VÀ KẾT CẤU CỦA BÁO CÁO KHOA HỌC
Báo cáo gồm 3 chương (không kể phần mở đầu và kết luận), cụ thể như sau:
Chương I - Những vấn đề cơ bản về kiểm soát TTHC Chương này đề
cập tới những vấn đề chung có tính lý luận về cải cách hành chính và kiểm soát TTHC, quan điểm của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ về cải cách hành chính, kiểm soát TTHC và kinh nghiệm của một số nước về cải cách TTHC
Chương II – Đánh giá thực trạng công tác kiểm soát TTHC tại Bộ Công Thương Chương này tập trung rà soát, phân tích cụ thể một số TTHC do Bộ
Công Thương đang trực tiếp thực hiện để đề xuất danh mục TTHC đưa vào triển khai áp dụng dịch vụ công trực tuyến và đánh giá thực trạng công tác kiểm soát TTHC và công tác tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức,
cá nhân về quy định hành chính của Bộ Công Thương
Chương III – Những tồn tại, hạn chế và một số giải pháp thực hiện tốt công tác kiểm soát TTHC và tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính Chương này đưa ra những tồn tại, hạn
chế trong công tác thực hiện và kiến nghị đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt hơn công tác kiểm soát TTHC và tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính trong lĩnh vực công thương
để hoàn thiện các TTHC do Bộ Công Thương trực tiếp thực hiện theo hướng đơn giản hóa và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp
KẾT LUẬN Kèm theo là phụ lục Danh mục các TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Công Thương và Danh mục các TTHC sử dụng dịch vụ công trực tuyến do Bộ Công Thương trực tiếp thực hiện
Trang 10Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT TTHC
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH, KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
1 Khái niệm TTHC, kiểm soát TTHC
Theo Từ điển tiếng Việt, "thủ tục" được hiểu là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chính thức Khái niệm này là tương đối rõ ràng và được hiểu thống nhất
Khác với sự thống nhất trong cách hiểu về khái niệm "thủ tục", khái niệm "hành chính" được hiểu theo nhiều nghĩa Theo Từ điển tiếng Việt, hành chính được hiểu là thuật ngữ thuộc phạm vi chỉ đạo, quản lý việc chấp hành luật pháp, chính sách của Nhà nước; thuộc về những công việc sự vụ như văn thư, tổ chức, kế toán v.v ; có tính chất giấy tờ, mệnh lệnh, khác với giáo dục, thuyết phục
Còn theo các quan niệm khác, thì hành chính là một lĩnh vực hoạt động
gắn với việc tổ chức, quản lý và điều hành các công việc trên cơ sở những quy tắc có tính bắt buộc do Nhà nước hoặc các chủ thể khác quy định hoặc thừa
nhận; hành chính có nghĩa là quản lý, là sử dụng quyền lực nhà nước thực
hiện sự quản lý đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội Hành chính là sự tổ chức, điều hành toàn bộ công việc hàng ngày của hệ thống hành pháp nhà nước trên tất cả các lĩnh vực Đó là sự thực thi pháp luật bằng các văn bản pháp quy, các thiết chế, các quy trình và TTHC một cách khoa học, hợp lý và
có hiệu quả; là sự quản lý cụ thể mọi nguồn tài lực to lớn thể hiện qua nguồn ngân sách nhà nước để phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội; là một hệ thống quản lý bảo đảm cho xã hội phát triển có kỷ cương, có nề nếp, bảo đảm cho quyền và nghĩa vụ của công dân được thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật
Tuy tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau như trên, nhưng trong giới khoa học pháp lý hành chính và trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, cũng như trong các văn bản quy phạm pháp luật của hệ thống pháp luật Việt Nam
thì thuật ngữ hành chính đang được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là để chỉ hoạt
động của một loại cơ quan trong bộ máy nhà nước, có chức năng chấp hành
và điều hành Đó là cơ quan hành pháp (hay cơ quan hành chính nhà nước) chứ không phải cơ quan lập pháp và tư pháp
Chính vì vậy, TTHC được phát sinh trong việc giải quyết các công việc của Nhà nước và các kiến nghị, yêu cầu thích đáng của công dân hoặc tổ chức nhằm thi hành nghĩa vụ hành chính, bảo đảm công vụ nhà nước và phục vụ nhân dân TTHC gắn liền với tính mệnh lệnh, bắt buộc, đơn phương và được thực hiện bằng quyền lực nhà nước
Trang 11Từ đó, có thể hiểu TTHC là những công việc cụ thể phát sinh trong quá
trình giải quyết các công việc của Nhà nước và các kiến nghị, yêu cầu thích đáng của tổ chức, cá nhân nhằm thi hành nghĩa vụ hành chính, bảo đảm công
vụ nhà nước và phục vụ nhân dân, theo quy định của pháp luật các công việc
đó phải được thực hiện theo một trật tự, trình tự nhất định Trình tự thực hiện các công việc này cũng như thẩm quyền giải quyết của các cơ quan trong bộ máy nhà nước được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong việc giải quyết các công việc thuộc nội bộ nhà nước, các công việc liên quan đến cá nhân và tổ chức
Tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về trình tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết nhiệm vụ của nhà nước tạo thành một hệ thống quy phạm thủ tục Các quy phạm thủ tục này là những quy tắc bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như cán bộ công chức nhà nước phải tuân theo trong quá trình giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của mình
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về TTHC như vậy nhưng trong khuôn khổ của Đề tài này tập trung nghiên cứu, rà soát và phân tích các vấn đề theo khái niệm đã được quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010, theo đó, khái niệm TTHC và kiểm soát TTHC được hiểu như sau:
“TTHC là trình tự thực hiện, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”
“Kiểm soát TTHC là việc xem xét, đánh giá theo dõi nhằm đảm bảo tính khả thi của quy định về TTHC, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức, thực hiện TTHC”
2 Nội dung, đặc điểm của TTHC, kiểm soát TTHC
Nội dung của TTHC là quyền, nghĩa vụ của chủ thể phát sinh trong quá trình thực hiện TTHC Quyền, nghĩa vụ này gắn liền với việc thực thi và chấp hành các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục luật định khi tiến hành một quan hệ TTHC cụ thể Chính vì vậy, tương ứng với từng quan hệ hành chính thì có TTHC khác nhau và kéo theo là sự khác nhau về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể
Dưới góc độ pháp luật thì quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện TTHC là quan hệ pháp luật, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật về TTHC và trong quá trình đó làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan Toàn bộ các quy phạm pháp luật về TTHC tạo thành chế định quan trọng của hệ thống luật hành chính
TTHC được phân biệt với thủ tục tố tụng của Toà án và phần lớn nằm ngoài thẩm quyền của Toà án Chỉ các hoạt động quản lý hành chính nhà nước được quy phạm TTHC điều chỉnh mới là TTHC Hiện nay, các quy phạm pháp luật quy định về TTHC ngày càng được quy định cụ thể, chặt chẽ,
Trang 12rõ ràng theo hướng cải cách TTHC, đảm bảo xây dựng nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Nội dung của Kiểm soát TTHC: Theo các quy định pháp luật, hệ thống các cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Kiểm soát và nâng cao chất lượng các quy định về TTHC thông qua việc hỗ trợ các đơn vị chức năng thuộc bộ, ngành, địa phương thực hiện đánh giá tác động các quy định về TTHC trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo 04 tiêu chí: sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp và tính hiệu quả; nghiên cứu để rà soát, đánh giá độc lập các quy định về TTHC đã được ban hành để đề xuất phương án đơn giản hóa;
- Bảo đảm công khai, minh bạch các thông tin về TTHC; duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC nhằm tạo điều kiện cho cá nhân và tổ chức tiếp cận, thực hiện và giám sát việc thực hiện TTHC;
- Thực hiện việc tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức
về các quy định hành chính để xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan chức năng xử lý, đồng thời giúp cơ quan hành chính các cấp kịp thời phát hiện và chấn chỉnh hành vi vi phạm của cán bộ công chức trong quá trình giải quyết TTHC, đánh giá và sửa đổi những quy định hành chính không còn phù hợp đang gây khó khăn, cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân
Nói tóm lại, kiểm soát TTHC là một quy trình bắt đầu từ việc đánh giá tác động các quy định về TTHC trong quá trình dự thảo do các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thực hiện; gửi lấy ý kiến của cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC; công khai, minh bạch TTHC sau khi ban hành; kiểm soát việc thực thi TTHC trong thực tiễn; và tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính nhằm phát hiện và giải quyết những bất cập của các quy định hành chính, cũng như giám sát việc thực thi TTHC của đội ngũ cán bộ, công chức
Việc đánh giá tác động các quy định về TTHC có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường “trách nhiệm giải trình” trước nhân dân của các Ban soạn thảo về sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp và tính hiệu quả của quy định về TTHC dự kiến ban hành
Nếu các thành viên trong Ban soạn thảo, Tổ biên tập không trả lời được các câu hỏi nêu trong các biểu mẫu đánh giá tác động mà vẫn cứ trình ban hành thủ tục này thì các đối tượng chịu sự tác động sẽ khó khăn trong việc thực hiện TTHC Vì vậy, làm tốt công tác kiểm soát ngay từ giai đoạn soạn thảo, xây dựng văn bản QPPL sẽ giúp nâng cao chất lượng các TTHC dự kiến được ban hành và cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh của nước ta
Trang 13Tuy nhiên, đây là một công việc mới và khó vì làm thay đổi thói quen
và cách làm cũ, việc này mang tính khoa học và khách quan nên đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức cần phải đầu tư đủ thời gian, công sức, trí tuệ cho công việc Do đó, bước đầu thực hiện đã gặp phải những lực cản ngay từ chính những người phải thực thi quy định này
II TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Cải cách hành chính là một vấn đề khó, khó ngay từ bản thân khái niệm của thuật ngữ “cải cách hành chính” Đây là một cụm từ có thể nói rất đa dạng
trong cách hiểu Bản thân thuật ngữ “hành chính” đang và tiếp tục là chủ đề
tranh luận sôi nổi của các diễn đàn
Tuy nhiên, khái niệm cải cách hành chính chủ yếu mang tính chất học thuật, còn trong thực tế, dù với bất kỳ giới hạn nào, có thể khẳng định công tác cải cách hành chính đã và đang được triển khai mạnh mẽ tại Việt Nam và mang lại những hiệu quả rõ rệt, không chỉ riêng cho các cơ quan quản lý nhà nước mà thực chất là đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội Trong thời gian tới, việc đẩy mạnh các hoạt động này để hoàn thành nhiệm vụ đến năm 2020 lại càng có ý nghĩa quan trọng và được Đảng và Chính phủ hết sức coi trọng
Về mặt lịch sử, công cuộc cải cách hành chính nhà nước có lịch sử khá dài và được khởi đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm
1986 Thông qua thảo luận xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, Đại hội VI đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước
Đến Đại hội VII, Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước và khẳng định bước tiến về lý luận, nhận thức về nền hành chính nhà nước Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 do Đại hội VII
thông qua đã xác định trọng tâm cải cách “nhằm vào hệ thống hành chính với
nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành chính và quản lý hành chính nhà nước thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu quả”
Tiếp tục khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện thể chế Nhà nước trong những năm trước mắt, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) nhấn mạnh yêu cầu tiến hành cải cách hành chính đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996-2000 Nghị quyết Đại hội VIII nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với cơ chế mới; cải tiến quy trình xây dựng và ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cải cách TTHC, và sắp xếp lại bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương
Trang 14Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) họp tháng 6 năm 1997 ra Nghị quyết về phát huy quyền làm chủ của nhân dân Một trong những chủ trương và giải pháp lớn về cải cách hành chính được nhấn mạnh trong Nghị quyết quan trọng này là bảo đảm thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị của xã hội, giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ nhà nước, trong giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và hoạt động của cán bộ, công chức Từ đó, Chính phủ ban hành các quy chế thực hiện dân chủ
ở cơ sở
Từ việc kiểm điểm tình hình và rút kinh nghiệm thực tiễn, Đảng đã đi đến khẳng định, không thể cải cách hành chính một cách biệt lập mà không đồng thời đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp Từ nhận thức đó, Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII) đề ra chủ trương tiến hành sắp xếp lại tổ chức bộ máy Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liền với cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Đồng thời, với việc kiên quyết sắp xếp một bước
bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách chính sách tiền lương
Đại hội IX đã đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc Bộ quản lý đa ngành,
đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách
rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách TTHC; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng…
Có thể nói, tính từ thời điểm khởi đầu vào năm 1986 và kể cả cho đến thời điểm hiện nay, cải cách hành chính luôn là công việc mới mẻ, diễn ra trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý hành chính nhà nước trong thời kỳ mới, có nhiều vấn đề phải vừa làm, vừa tìm tòi rút kinh nghiệm Vì vậy, việc hình thành quan niệm và những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách hành chính cũng như việc đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạo không ngừng, là một quá trình nhận thức liên tục, thống nhất trong tiến trình đổi mới
Tuy nhiên, cùng với quá trình triển khai trong thực tiễn, các nội dung cải cách hành chính ngày càng được xác định một cách cụ thể hơn và các Nghị quyết Trung ương của Đảng đều biểu thị một quyết tâm chính trị rất lớn
về việc tiếp tục tiến hành cải cách hành chính, đặt cải cách hành chính trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị
Căn cứ Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ký
Trang 15hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 Với Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, lần đầu tiên trong quá trình cải cách, Chính phủ có một chương trình có tính chiến lược, dài hạn, xác định
rõ 4 lĩnh vực cải cách là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính,
xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công
Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 là: xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Đến năm 2010,
hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tiếp theo, ngày 08 tháng 11 năm 2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30c/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020
Các Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước nêu trên là công cụ quan trọng để Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đẩy mạnh cải cách hành chính, định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách và xác định các giải pháp thực hiện nhằm bảo đảm thắng lợi công cuộc cải cách Cải cách hành chính được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
và đổi mới từng bước hệ thống chính trị
Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước càng thể hiện rõ quan điểm của Đảng, về công tác này, coi đây là một khâu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới để phát triển đất nước trong thời điểm hiện nay
Trên cơ sở nhận thức rõ và phân tích các nguyên nhân dẫn tới sự tồn tại của các hạn chế, yếu kém của nền hành chính nhà nước; các bất cập, vướng mắc trong hệ thống thể chế, pháp luật, đặc biệt là các quy định về TTHC; sự
mơ hồ, trùng lặp trong chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước; sự cồng kềnh, kém hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước; tình trạng quan liêu, kém chất lượng của một bộ phần đội ngũ cán
bộ, Nghị quyết đã xác định mục tiêu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay như sau:
“Đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ, công chức
có đủ phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
Trang 16chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh
và bền vững của đất nước”
Đây là một mục tiêu rất rõ ràng, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện công tác cải cách hành chính một cách toàn diện, bao hàm các mảng công tác triển khai một cách đồng bộ: Cải cách thể chế, trong đó đặc biệt là cải cách TTHC; cải cách tổ chức bộ máy hành chính, trong đó có hiện đại hóa công sở; cải cách và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; và cải cách tài chính công
Cần lưu ý là đối tượng mà Chương trình cải cách hành chính hướng đến không phải chỉ là các cơ quan quản lý nhà nước mà chính là người dân và doanh nghiệp và đem lại lợi ích chung cho đất nước Cải cách hành chính gắn liền với nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, thiết lập cơ chế quản lý nhà nước khoa học, minh bạch, hiệu quả, tăng niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với chính sách của nhà nước
III ĐỊNH HƯỚNG KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM
1 Quan điểm và chủ trương kiểm soát TTHC của Đảng
Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của cải cách hành chính ở nước ta đã được đề cập trong các văn kiện Hội nghị Trung ương 8 khoá VII, Hội nghị Trung ương 3 và 7 khoá VIII, trong các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, X và XI Cải cách hành chính từ khi có Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII đến nay được triển khai trên tất cả các cấp hành chính theo hướng đơn giản hóa, tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho sự phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm lợi ích chính đáng và quyền làm chủ của nhân dân Tập trung rà soát, loại bỏ những quy định, những thủ tục không phù hợp, không cần thiết, gây phiền hà, sách nhiễu, khó khăn cho người dân và doanh nghiệp Đồng thời sửa đổi, bổ sung những quy định và cơ chế chính sách, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của Doanh - Dân, cải thiện môi trường đầu
tư, xây dựng, cấp các loại giấy phép, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản, giải quyết nhanh và có kết quả các yêu cầu chính đáng của người dân, qua đó cải thiện mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhân dân, lấy lại niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước Hội nghị Trung ương 8 khoá VII xác định cải cách nền hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước đã đề ra mục tiêu: xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực, hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội
Nền hành chính trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước có chức năng trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, luật
Trang 17luật đúng chưa đủ, cần phải có nền hành chính mạnh, có hiệu lực thì chính sách và luật pháp mới đi vào cuộc sống Hơn nữa, trong quá trình tổ chức thực hiện nền hành chính còn góp phần tích cực vào việc bổ sung, phát triển chính sách, pháp luật Các cơ quan hành chính là các cơ quan trực tiếp xử lý công việc hằng ngày của nhà nước, thường xuyên tiếp xúc với dân giải quyết các yêu cầu của dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với dân, nhân dân đánh giá chế độ, đánh giá Đảng trước hết là thông qua hoạt động của bộ máy hành chính
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ sự cần thiết phải tiến hành cải cách hành chính, coi đây là một giải pháp quan trọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Chúng ta đã tiến hành cải cách hành chính từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ Cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nội dung: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công, hiện đại hóa nền hành chính, trong đó cải cách TTHC là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách TTHC không chỉ liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, một cấp chính quyền, mà còn đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay ở các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào
về cơ bản đều phải thông qua TTHC do các cơ quan, các cấp chính quyền nhà nước quy định và trực tiếp giải quyết
Nghị quyết Trung ương 5 Khoá X về tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã nêu rõ:
“Tập trung đẩy mạnh cải cách TTHC, xem đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho mọi hoạt động của người dân và doanh nghiệp, phải tiến hành rà soát các TTHC trên tất cả các lĩnh vực, chỉ rõ những thủ tục, những quy định sai trái, không phù hợp và nguyên nhân cụ thể
để kiên quyết sửa đổi Đây là khâu cản trở sự phát triển và gây nhiều bức xúc trong nhân dân, phải tập trung chỉ đạo tạo sự chuyển biến nhanh trong lĩnh vực này” Các Bộ, ngành và địa phương đã tích cực rà soát, sửa đổi một số
TTHC liên quan nhiều đến người dân, doanh nghiệp, những vấn đề bức xúc
đã được sửa đổi theo hướng đơn giản hoá, thuận tiện Đặc biệt, TTHC trên những lĩnh vực trọng tâm , liên quan trực tiếp tới người dân và doanh nghiệp như đất đai, xây dựng, hộ tịch, hộ khẩu, đầu tư, đăng ký doanh nghiệp, hải quan, thuế, kho bạc, xuất nhập khẩu v.v đã được rà soát nhiều lần, loại bỏ những TTHC phức tạp, gây phiền hà, bước đầu tạo lập lại niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào hoạt động phục vụ của các cơ quan công quyền
Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa TTHC sẽ góp phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam nói chung và các bộ, ngành, địa phương nói riêng trước cộng đồng trong nước và quốc tế, nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam về tính minh bạch, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh Đây là những giá
Trang 18trị vô hình nhưng có tác động to lớn đến việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cụ thể là có ảnh hưởng tích cực đến việc đầu tư trong và ngoài nước, xuất nhập khẩu, việc làm, an sinh xã hội,… Theo báo cáo môi trường kinh doanh năm 2011 của Ngân hàng thế giới công bố ngày 04 tháng 11 năm 2010, thông qua hoạt động cải cách theo Đề án 30 đã đưa Việt Nam vào nhóm 10 nền kinh tế có nhiều sự cải thiện môi trường kinh doanh nhất và tăng 10 bậc trong bảng xếp hạng các nền kinh tế (đứng thứ 78 trong số 183 nền kinh tế)
Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) cho rằng Đề án 30 của Việt Nam như một điểm sáng về cải cách trong khu vực và mở ra cơ hội hợp tác giữa OECD và các nước ASEAN trong lĩnh vực cải cách thể chế
Công tác cải cách TTHC là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác cải cách hành chính Kinh nghiệm cải cách hành chính thế giới cũng khẳng định: đơn giản hoá TTHC phải được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong chương trình hiện đại hoá hành chính của Chính phủ các nước phát triển Việc xác định đúng đắn quan điểm cải cách TTHC có ý nghĩa hết sức quan trọng
TTHC là vô cùng phức tạp và đa dạng, đặt ra với hầu hết các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội Trong TTHC lại thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, liên quan trực tiếp tới quyền, lợi ích của nhân dân Tuy nhiên, dưới cả góc độ quản lý nhà nước và góc độ lợi ích xã hội thì không thể không có TTHC Dưới góc độ quản lý nhà nước, TTHC là công cụ đắc lực và hiệu quả để Nhà nước thực thi hoạt động quản lý nhà nước
Thông qua việc các chủ thể trong TTHC thực hiện các nghĩa vụ của mình, Nhà nước có được các thông tin, tài liệu cần thiết làm cơ sở cho hoạt động quản lý nhà nước Nhưng dưới góc độ xã hội thì chính việc Nhà nước đặt ra TTHC lại làm phát sinh ra các quyền và nghĩa vụ của người dân khi tham gia quan hệ hành chính Trên thực tế thì nghĩa vụ là chủ yếu và khi thực hiện các nghĩa vụ này, người dân sẽ phải mất thời gian, công sức và tiền bạc Nếu không thực hiện tốt sẽ ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người dân
Tuy nhiên, nếu thông qua việc thực hiện TTHC thì các quyền, nghĩa vụ của người dân sẽ được thực hiện theo một trật tự luật định Điều này sẽ là cách thức tốt để quyền, lợi ích hợp pháp của người dân được thực hiện nhanh hơn; bảo đảm tính công bằng, thống nhất và đồng bộ trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân trong toàn xã hội khi tham gia cùng một TTHC; qua đó quyền và lợi ích hợp pháp của người dân sẽ được bảo vệ trước Nhà nước và các chủ thể khác, kết hợp hài hòa giữa lợi ích Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định một trong
ba khâu đột phá chiến lược từ nay đến năm 2020 là "hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường
Trang 19Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020, Việt Nam thể hiện rõ quyết tâm trong cải cách, hoàn thiện nền hành chính Đó là tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, đảm bảo quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, xây dựng và chỉ đạo thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 trên tất cả các khâu: thể chế, tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính quốc gia, đúng với vị trí là một trong những nội dung của đột phá chiến lược
Tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ về ban hành tổng thể chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ
2 Quá trình kiểm soát TTHC của Chính phủ
Trong suốt thời gian vừa qua, quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ đã chú trọng cải cách TTHC thông qua công tác rà soát, sửa đổi và bãi bỏ những TTHC không phù hợp, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của nhân dân
Thủ tướng Chính phủ đã xác định phải đẩy mạnh cải cách TTHC với mục tiêu cơ bản là: Tiếp tục cải cách TTHC nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính Loại
bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân Mở rộng cải cách TTHC trên tất cả các lĩnh vực, xóa bỏ kịp thời những quy định không cần thiết về cấp phép và thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm định, giám định Trên tinh thần đó, những năm qua công tác cải cách TTHC trở thành nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong chương trình công tác của Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương
Từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày
10 tháng 01 năm 2007 phê duyệt Đề án Đơn giản hoá Thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (sau đây gọi tắt là Đề
án 30) và Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 04 tháng 01 năm 2008 ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án 30, đưa ra một hệ thống giải pháp tổng thể, công khai, minh bạch nhằm thống kê, rà soát, đơn giản hoá TTHC
Chính phủ chọn cải cách TTHC là khâu đột phá vì những lý do sau: Cải cách TTHC là một nội dung của cải cách hành chính, nhưng là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân, doanh nghiệp, cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế; Trong điều kiện nguồn lực còn nhiều khó khăn nên chưa thể cùng một lúc thực hiện được nhiều nội dung cải cách như: cải cách tài chính công, cải cách tiền lương, cải cách tổ chức bộ
Trang 20máy, …; Thông qua cải cách TTHC, chúng ta có thể xác định căn bản các công việc của cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó chúng
ta có thể xây dựng bộ máy phù hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ cán bộ, công chức hợp lý, đáp ứng được yêu cầu công việc
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác cải cách TTHC, ngày 10 tháng 01 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Đơn giản hoá TTHC trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 – 2010 (gọi tắt là Đề án 30)
Mục tiêu của Đề án 30 là “Đơn giản hóa TTHC trên các lĩnh vực quản
lý nhà nước nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch của TTHC; tạo sự thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện TTHC; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần phòng, chống tham nhũng và lãng phí”
Phạm vi của Đề án 30 là rất rộng lớn và tham vọng, nhằm tiến tới việc
Đơn giản hoá toàn bộ các TTHC được thực hiện trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, trong quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước với cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp, giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhau
Mục tiêu và phạm vi nêu trên không thể khác ngoài việc khắc phục những tồn tại, bất cập trong quá trình quy định và thực hiện TTHC hiện nay
và hướng tới các yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn, theo kịp và phục vụ chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền quy định và thực hiện TTHC
Cải cách TTHC có tác động to lớn đối với việc thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội Thông qua việc cải cách TTHC (mà đặc biệt là việc triển khai thực hiện thành công Đề án 30) đã gỡ bỏ được phần lớn những rào cản về TTHC đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân, giúp cắt giảm chi phí và rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện TTHC Thực tế triển khai Đề án 30 cho thấy, sau khi tất cả các giải pháp đơn giản hóa TTHC được thông qua đã cắt giảm tối đa chi phí tuân thủ TTHC mà xã hội phải gánh chịu, hàng chục nghìn tỷ đồng chi phí tiết kiệm được sẽ được tái phân bổ vào các hoạt động phục vụ việc đầu tư, tạo việc làm, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội
Như vậy, có thể coi cải cách TTHC là tiền đề để thực hiện các nội dung cải cách khác như: nâng cao chất lượng thể chế; nâng cao trình độ, thay đổi thói quen, cách làm, nếp nghĩ của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp của bộ máy hành chính; thực hiện chính phủ điện tử, …
Để duy trì kết quả bền vững của Đề án Đơn giản hóa TTHC, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát TTHC Theo đó, hệ thống Kiểm soát TTHC được thành lập từ Chính phủ tới các Bộ, ngành và 63
Trang 21tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để bảo đảm các TTHC được kiểm soát ngay từ khi ban hành văn bản Cùng với việc kiểm soát TTHC, công tác tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính cũng được đẩy mạnh để có sự điều chỉnh kịp thời hợp lý nhất tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện các TTHC Cục Kiểm soát TTHC là
cơ quan kiểm soát TTHC trực thuộc Văn phòng Chính phủ trước đây và nay
là Bộ Tư pháp, có trách nhiệm tổ chức thực hiện kiểm soát TTHC trong phạm
vi cả nước, bao gồm cả việc tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của các cá nhân, tổ chức đối với cơ quan hành chính nhà nước về những vấn đề liên quan đến quy định hành chính, như những vướng mắc trong thực hiện, sự không hợp pháp, không hợp lý, không đồng bộ, không thống nhất với hệ thống pháp luật Cục Kiểm soát TTHC cũng là cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC
Tại Bộ Công Thương, Phòng Kiểm soát TTHC được đổi tên từ Phòng Cải cách hành chính và thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Quyết định số 91/QĐ-VP Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Phòng Kiểm soát TTHC thuộc Văn phòng Bộ Theo đó, Phòng Kiểm soát TTHC có chức năng giúp Chánh Văn phòng Bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC và làm đầu mối tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của các cá nhân,
tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương theo quy định của pháp luật
3 Những tồn tại, hạn chế trong quá trình quy định và thực hiện TTHC trước khi triển khai thực hiện Đề án Đơn giản hóa TTHC và Nghị
định số 63/2010/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ
Bên cạnh những kết quả và chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực quản lý, TTHC của Việt Nam vẫn còn rất nhiều vướng mắc, bất cập Vẫn còn quá nhiều sự phàn nàn của người dân và doanh nghiệp về thủ tục, không phải ngẫu nhiên mà người dân thường nói “hành chính” nghĩa là “hành là chính”
Sự bất cập, tồn tại trong công tác quy định và thực hiện TTHC ở nước ta là điều không phải bàn cãi Do đó, vẫn còn hiện tượng TTHC vẫn còn nhiều phiền hà, phức tạp, gây khó khăn cho cá nhân, tổ chức làm lỡ cơ hội đầu tư và cản trở sức sản xuất của các thành phần kinh tế trong xã hội
Nhìn một cách tổng thể, trong rất nhiều trường hợp, nền hành chính công của chúng ta vẫn còn mang tính chất xin - cho Những biện pháp cải cách trong hàng chục năm qua vẫn chưa thực sự giải quyết triệt để
TTHC trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau chưa bảo đảm được tính nhất quán, đồng bộ, vẫn còn tình trạng rườm rà, chồng chéo, mâu thuẫn, không hợp lý; được ban hành bởi nhiều cấp, nhiều cơ quan, dưới nhiều hình thức văn bản
Nhiều TTHC vẫn còn rất rườm rà, nhiều khâu trung gian không cần thiết Điều này đã gây ra không ít trở ngại cho công việc của các cơ quan Nhà
Trang 22nước và nhân dân, tạo kẽ hở cho các tệ cửa quyền, sách nhiễu và tham nhũng; đặt biệt, các TTHC liên quan lĩnh vực quản lý nhà đất, xây dựng (cấp quyền
sở hữu nhà, cho thuê nhà, mua bán nhà, cấp phép xây mới, sửa chữa nhà, cấp quyền sử dụng, chuyển mục đích sử dụng đất ); về đầu tư nước ngoài; về trước bạ; đăng ký kinh doanh, đang còn những bất hợp lý gây rất nhiều khó khăn, phiền hà cho nhân dân Các tổ chức và công dân khi có yêu cầu phải đi lại nhiều lần, qua nhiều cửa, phải mất nhiều thời gian mới giải quyết xong thủ tục
Điều kiện kinh doanh tiếp tục là những lực cản, trở ngại cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp Có không ít điều kiện kinh doanh được ban hành theo hướng thuận lợi cho cơ quan quản lý, chưa tính tới những khó khăn trong việc thực hiện của người dân và doanh nghiệp;
Hệ thống các mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính trong hồ sơ thủ tục hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành còn thiếu thống nhất, nhiều quy định bất hợp lý gây phiền hà cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp nhưng chậm được chuẩn hoá theo hướng đơn giản, thuận lợi; chưa có
sự kiểm soát chặt chẽ về tính công khai, minh bạch, tính thống nhất, tính hợp
lý về nội dung và hình thức của các mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính Thực trạng này đã gây phiền hà, khó khăn cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp, tạo cơ hội cho nhũng nhiễu, tiêu cực phát sinh, phát triển;
Không chỉ có hạn chế về mặt nội dung các quy định về TTHC, việc tổ chức thực hiện trên thực tế cũng rất yếu kém Nhiều quy định về cơ chế chính sách, TTHC không phù hợp với thực tế nhưng chậm được phát hiện để điều chỉnh, sửa đổi kịp thời Điều này đã được phát hiện từ lâu nhưng chậm được khắc phục trên thực tế
Nhiều cơ quan chức năng thiếu hướng dẫn rõ ràng, cụ thể và công khai cho nhân dân biết Một số công chức có thái độ cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu dân
4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
Tồn tại các bất cập trên là do nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên,
có thể thấy một số nguyên nhân cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nhận thức, tư duy về quản lý nhà nước trong một bộ phận
không nhỏ cán bộ, công chức, kể cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt chậm được đổi mới Biểu hiện của tư duy này là muốn quản lý chặt, ôm đồm, áp đặt vẫn còn khá phổ biến ở các ngành, các cấp TTHC là vấn đề rộng lớn, phức tạp liên quan đến nhiều đối tượng thực thi trong xã hội và gắn liền với thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền Trong không ít trường hợp, thực hiện cải cách TTHC là tự cắt bỏ quyền và lợi ích do TTHC hiện hành mang lại Do đó, gặp phải sự chống đối từ phía một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước
Trang 23Thứ hai, các văn bản pháp luật hiện hành còn trao thẩm quyền ban hành
các TTHC cho quá nhiều cơ quan, với nhiều hình thức văn bản và ở các cấp
khác nhau
Thứ ba, việc ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ các TTHC
cũng chưa được quy định đồng bộ; việc quy định TTHC mới thường xuất phát
từ nhu cầu quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý của cơ quan công quyền mà chưa thật sự đứng trên góc độ người dân - người bị quản lý; Một số nội dung của các TTHC chưa được quy định một cách rõ ràng, cụ thể; đặc biệt trong việc quy định thời gian hoàn tất thủ tục và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể;
Thứ tư, còn thiếu các biện pháp bảo đảm tính công khai, minh bạch
trong việc quy định và thực hiện TTHC; thiếu cơ chế phối hợp, điều hoà giữa các cơ quan hành chính nhà nước và cơ chế kiểm soát trong việc ban hành, sửa đổi TTHC Có nhiều TTHC hiện nay còn được thực hiện cắt khúc, thiếu tính liên thông và phối hợp trong thực hiện TTHC Khi có nhu cầu cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp còn phải đến nhiều cơ quan, nhiều đầu mối để thực hiện TTHC
Thứ năm, chưa có một cơ chế pháp lý đủ mạnh để ràng buộc trách
nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc tiếp nhận, xử lý nhanh chóng, kịp thời các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp
về cơ chế chính sách, thủ tục hành chính không còn phù hợp
Thứ sáu, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến TTHC
chưa thật sự được coi trọng, đặc biệt trong việc giáo dục đạo đức, ý thức của công chức liên quan đến TTHC chưa được quan tâm đúng mức Một số cơ quan trung ương cũng như địa phương chưa kiên quyết, nhất quán tổ chức thực hiện cải cách TTHC theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, chưa thấy được hết ý nghĩa, tầm quan trọng và đòi hỏi cấp bách của việc tháo
gỡ những cản trở, vướng mắc cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp về TTHC
để phát huy mạnh mẽ tiềm năng sức mạnh vật chất, tinh thần của người dân cho mục tiêu phát triển Chính vì vậy mà chưa tập trung chỉ đạo quyết liệt và dành ưu tiên các nguồn lực cho công tác này
5 Lợi ích của Đề án đơn giản hóa TTHC và Công tác Kiểm soát TTHC
Lần đầu tiên tại Việt Nam có Bộ TTHC thống nhất ở 4 cấp chính quyền (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) trên cơ sở dữ liệu quốc gia để tổchức, cá nhân
có thể truy cập; Thông qua 25 nghị quyết về phương án đơn giản hóa TTHC (TTHC) của các bộ, ngành Theo đó gần 5.000 trên tổng số 5.400 TTHC sẽ được đơn giản hóa, trong đó sửa đổi, bổ sung 4.146 thủ tục, bãi bỏ 480 thủ tục, kiến nghị thay thế 192 thủ tục, đạt tỷ lệ 88%
Đây là kết quả bước đầu quan trọng của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương, được Quốc hội, nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận Kết quả
Trang 24này cũng giúp Chính phủ nhận diện được những khiếm khuyết, bất cập của hệ
thống các quy định về TTHC, đặc biệt là vấn đề chất lượng của các quy định
Bên cạnh đó, những yêu cầu của hội nhập, những thách thức của cạnh
tranh trong hội nhập quốc tế và các biến động kinh tế - xã hội trên quy mô
toàn cầu cũng đòi hỏi Việt Nam tiếp tục các nỗ lực cải cách TTHC, nâng cao
chất lượng hệ thống thể chế để giải phóng các nguồn lực xã hội, phát huy tính
sáng tạo, thu hút đầu tư, tạo việc làm và tăng trưởng bền vững
Đây cũng là một trong các nhiệm vụ trọng tâm đã được xác định tại
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI
Kiểm soát TTHC nói riêng và cải cách TTHC nói chung có hiệu quả là
hoạt động mang lại lợi ích trực tiếp cho các cá nhân, tổ chức nhưng đồng thời
không để sơ hở trong công tác quản lý nhà nước Thực tiễn triển khai Đề án
30 cho thấy, các phương án đơn giản hóa TTHC sau khi được hiện thực hóa
thông qua việc sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan đã góp phần cắt
giảm gần 30.000 tỷ đồng/năm chi phí tuân thủ TTHC cho các cá nhân, tổ
chức Thành công của Đề án Đơn giản hóa TTHC đã giúp người dân và cả cơ
quan hành chính nhà nước bớt được cảnh quá tải khi thực hiện các TTHC
Việc cải cách TTHC cũng góp phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam
trên trường quốc tế Mặc dù kết quả cải cách TTHC mới được thực thi một
phần, nhưng theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, thông qua nỗ lực cải cách
TTHC, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã tăng 10 bậc, đứng thứ 78/183
nền kinh tế thế giới
Qua đánh giá chương trình đơn giản hóa TTHC của Việt Nam, Tổ chức Hợp
tác và Phát triển kinh tế OECD cho rằng: “Chính phủ Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu trong việc cải thiện quản trị công, nâng cao chất lượng thể
chế, kích thích năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bình đẳng Rất ít quốc gia
trên thế giới thực hiện được chương trình cải cách có quy mô như Đề án
30.”
IV KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ KIỂM SOÁT THỦ
TỤC HÀNH CHÍNH
1 Kinh nghiệm của Vương quốc Áo
Cải cách hành chính của Áo được coi là mô hình mẫu của các nước
Châu Âu vì đã mang lại thành công trên thực tế Chính phủ Áo rất coi trọng
việc minh bạch thông tin trong cải cách hành chính Đưa công nghệ thông tin áp
dụng vào cải cách hành chính là biện pháp hữu hiệu nhất để minh bạch thông tin
cũng như giảm thiểu thời gian để giải quyết thủ tục hành chính
Chỉ đạo và điều hành về cải cách hành chính tại Áo được đặt tại Văn
phòng Thủ tướng và được Chính phủ Áo coi đó là một trong những công việc
thường xuyên, quan trọng Chính phủ Áo luôn giám sát việc cải cách hành chính
và định kỳ có tổ chức cuộc thi ”Sáng kiến cải cách hành chính”
Trang 25trong cải cách hành chính Áo là quốc gia dẫn đầu EU về Chính phủ điện tử Mọi thông tin đều được đăng lên internet và dễ dàng download về Việc đưa Chính phủ điện tử vào áp dụng vừa thuận lợi cho Chính phủ, gần gũi hơn với người dân, doanh nghiệp vừa tạo điều kiện tốt cho người dân, doanh nghiệp
Tại Áo, việc cải cách hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử được tiến hành đồng thời Chính phủ điện tử tạo nên một nấc thang mới cho cải cách hành chính, tạo điều kiện cho quá trình thực thi công việc hiệu quả, nhanh chóng và thuận tiện hơn, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, đảm bảo tính minh bạch Đó là nhân tố cốt yếu trong nỗ lực cải cách hành chính sao cho hướng đến quyền lợi của người dân nói riêng và nâng cao chất lượng cải cách hành chính một cách tổng quan nói chung
Những nội dung nổi bật về áp dụng Chính phủ điện tử tại Áo:
1/ HELP.gov.at
“HELP” là một hệ thống toàn diện trên mọi lĩnh vực hay trung tâm dịch
vụ cung cấp thông tin trên kênh điện tử chính thức của quốc gia Áo áp dụng cho công dân khi sống và làm việc tại đây Từ 2001, trang web đã được đưa vào hoạt động và trợ giúp công dân thực thi các thủ tục trực tuyến
2/ CITIZEN CARD: Thẻ công dân
Thẻ công dân Áo kết hợp với Thẻ chứng minh và là phương tiện xác nhận chữ ký điện tử của công dân khi thực thi các thủ tục hành chính trực tuyến
- Thẻ công dân cho phép công dân được thực hiện các thủ tục hành chính và các công việc có liên quan đến giấy tờ trực tuyến một cách bảo mật Thay vì người sử dụng phải ký vào bản giấy khi thực hiện xong các thủ tục hành chính, nhưng với Thẻ công dân thì có thể sử dụng chữ ký điện tử ký để thực hiện thao tác này
Các dịch vụ sử dụng Thẻ công dân ở Áo như: Lĩnh vực chăm sóc xã hội (sao kê tài khoản bảo hiểm, bảo hiểm sức khỏe cơ bản, sao kê tài khoản lương); lĩnh vực ngân hàng điện tử, quy định hành chính, dịch vụ của FinanzOnline, đăng ký kinh doanh, trợ cấp cho trẻ em, hồ sơ phạm tội, xác nhận cư trú
- Thẻ Chứng minh nhân dân “eDA” là loại thẻ đa chức năng nó không chỉ có chức năng như Thẻ Công dân mà còn được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác
3/ FINANZONLINE: Là hệ thống trao đổi dữ liệu trực tuyến của cơ quan hành chính thuế của Áo, sử dụng công nghệ thông tin cho các công việc
Trang 265/ ELECTRONIC LAW-MAKING: Soạn thảo văn bản Luật trực tuyến Chính phủ Áo đã đưa ra đề án điện tử công khai “E-Recht” năm 2001 qua đó tạo điều kiện cho qúa trình xây dựng văn bản luật trực tuyến hai chiều bắt đầu từ các bản dự thảo ban đầu và các tranh luận của Nghị viện về văn bản luật công báo qua phương tiện thông tin trực tuyến
Cơ chế một cửa cũng được Áo áp dụng từ lâu, đây cũng là một bước đột phá trong cải cách hành chính tại Áo, tạo thuận lợi lớn cho người dân, doanh nghiệp Một cửa được đặt ngay tại Văn phòng Thủ tướng, khi người dân thực hiện thủ tục hành chính thì họ sẽ gửi yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính lên trang web của Chính phủ (bộ phận một cửa) và người phụ trách một cửa của Văn phòng Thủ tướng sẽ xem xét thủ tục hành chính thuộc chức năng quản lý của Bộ, ngành hoặc Bang nào thì sẽ chuyển xuống nơi đó để giải quyết
Mọi thông tin về thủ tục hành chính tại Áo hiện nay không còn quy định trên giấy nữa mà đưa lên trang web dưới dạng file điện tử Việc làm này vừa tiết kiệm chi phí giấy mực lại rất thuận lợi cho người dân khi tham khảo thông tin
Các văn bản pháp luật cũng đều được đưa lên trang web Chính phủ, trên trang web này có đầy đủ những văn bản pháp luật cũ và mới ban hành, người dân có thể xem và download tài liệu về miễn phí
Tại Áo, cứ 5 năm một lần Chính phủ lại đưa ra chương trình cải cách hành chính và Thủ tướng Chính phủ là người quyết định vấn đề này Tại Văn phòng Thủ tướng có 50 cán bộ chuyên trách về cải cách hành chính Hàng năm, các Bộ đưa ra những đề xuất cải cách hành chính và Văn phòng Thủ tướng sẽ tổng hợp những đề xuất đó để báo cáo lên Thủ tướng
2 Kinh nghiệm của Hungary:
Tại Hungary nhiệm vụ cải cách hành chính được giao toàn bộ cho Bộ Tư pháp và Hành chính công làm đầu mối, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Hành chính công do Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm nhiệm Chương trình cải cách hành chính được thực hiện theo nhiệm kỳ của Chính phủ do Bộ Tư pháp và Hành chính công điều phối Nguồn kinh phí phục vụ cho công tác cải cách hành chính do EU tài trợ Trong Bộ Tư pháp và Hành chính công có Hệ thống kiểm soát tự động tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính (2 tuần kiểm tra
1 lần) Chương trình cải cách hành chính được áp dụng liên tục cho 4 năm Vận hành hệ thống này là đội ngũ công chức gồm khoảng 70.000 người ăn lương nhà nước, trong đó có cả lực lượng vũ trang
1.1 Về cải cách tổ chức:
Cơ cấu tổ chức cán bộ và ngân sách do Bộ Tư pháp và Hành chính công đề xuất, điều phối Mục tiêu cải cách tổ chức là xóa bỏ các đầu mối không cần thiết để giảm gánh nặng về ngân sách và đơn giản các đơn vị hành chính đang tồn tại, chồng chéo nhau và từ đó, thành lập những đơn vị mới để phối hợp nhịp nhàng và tăng cường sức mạnh của cơ quan nhà nước
Trang 27Cơ quan cấp Bộ: từ 13 Bộ trước đây, được giảm xuống còn 8 Bộ; đồng thời, tiến hành cải tổ bộ máy cấp khu vực (cấp dưới Bộ) Thành lập ra 20 đơn
vị trên toàn quốc ở cấp Chính phủ bên cạnh cơ quan cấp tỉnh trực thuộc Trung ương Từ tháng 6/2011, thành lập các cơ quan cấp tỉnh trực thuộc (trừ ngành Thuế và Công an) Văn phòng đại diện của tỉnh có quyền cho phép thực hiện các TTHC, người đại diện ở mỗi tỉnh do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, người đại diện Chính phủ ở tỉnh ra quyết định bổ nhiệm cho cấp huyện (những công việc như: Thủy lợi, khai thác mỏ, thuế, công an do cơ quan cấp trên điều phối) Sự điều phối thống nhất này giúp tiết kiệm kinh phí, nhưng
mô hình này vẫn đang còn nhiều tranh cãi
Ngoài ra, việc cải tổ cơ cấu cấp quận, huyện cũng được tiến hành thông qua việc thành lập ra 23 đơn vị cấp quận, huyện nằm tại Budapest để bảo đảm thực hiện đồng bộ và nhanh nhất các yêu cầu của tổ chức, cá nhân Hợp lý hóa các quỹ của nhà nước, tinh giảm từ 60 quỹ xuống còn 20 quỹ; đồng thời, cải tiến những tổ chức lao động ở tầm trung giữa Chính phủ và các đơn vị cấp dưới
1.2 Cải cách thể chế và hiện đại hóa nền hành chính
Nội dung cải cách này được thể hiện thông qua việc xóa bỏ những điều luật không hợp lý; điều tiết những điều luật đã ban hành; sửa đổi 3 điều luật cần điều tiết để thực hiện hài hòa tránh chồng chéo về Luật kéo theo chi phí
về ngân sách lớn; xóa bỏ những các quy định bất hợp lý trước đây và bổ sung những quy định cần thiết
Áp dụng nền hành chính điện tử trong Chính phủ như: áp dụng Hệ thống thẻ điện tử quốc gia, tất cả các dữ liệu được lấy trong thẻ Nhóm đầu tiên được thí điểm thực hiện là cấp thẻ học sinh, thực hiện các quyền lợi và nhiệm vụ của nhà nước thông qua thẻ có chip Thẻ điện tử hiện nay áp dụng cho 1,5 triệu học sinh và trong vòng 2 năm tới dự kiến sẽ áp dụng cho toàn bộ công chức
có hơn 1.000 giao dịch Hình thức Chính phủ một cửa đến cuối năm 2013 mới
áp dụng thực hiện trên diện rộng Mục tiêu cần đạt được trong giai đoạn
2010-2014 là hình thành Hệ thống cơ quan tự quản và Hệ thống giải quyết sự vụ một cửa để bảo đảm thực hiện thủ tục hành chính một cách công khai, minh bạch
Tổ chức thăm dò ý kiến của nhân dân thông qua việc lập ra website: Diễn đàn nhà nước hoàn thiện để công dân có thể thấy được toàn bộ các thủ tục hành chính liên quan
Trang 281.4 Công tác cán bộ
Chiến lược cán bộ được định hướng từ khi tiếp nhận, tuyển chọn cho đến khi về hưu; thực hiện việc cải thiện trình độ ngoại ngữ, chuyên môn cho cán bộ trẻ và tiến hành công tác đánh giá cán bộ, công chức hàng năm
Thực hiện nguyên tắc thủ tục hành chính càng đơn giản càng tốt và cần
có cơ quan làm nhiệm vụ giám sát với đội ngũ kỹ sư có kỹ năng và năng lực
về CCHC Mỗi công chức được nhận lương xứng đáng, khuyến khích sáng tạo trong công tác cán bộ như tặng thưởng tăng lương, phụ cấp
Bộ Tư pháp và Hành chính công chịu trách nhiệm quản lý cả dữ liệu ngân hàng và các vấn đề liên quan đến công dân; đồng thời, thay mặt Thủ tướng điều phối các vấn đề liên quan đến các nước; soạn thảo chương trình họp Chính phủ, tổ chức các cuộc họp báo để thông tin các quyết định của Thủ tướng Chính phủ
3 Kinh nghiệm của Hà Lan
Tại Hà Lan có hai cơ quan lớn góp phần thúc đẩy cải cách TTHC của Hà
Lan là: Cơ quan tư vấn quốc gia Hà Lan về giảm thiểu gánh nặng thủ tục
hành chính (Dutch Advisory Board on Administrative Burden) và Cơ quan hỗ trợ và tạo thuận lợi hoá của Hà Lan đối với các hoạt động của doanh nghiệp
và người dân (Holland Gateway)
- Cơ quan tư vấn quốc gia của Hà Lan về giảm thiểu gánh nặng thủ tục hành chính (Actal) là một cơ quan độc lập, thực hiện vai trò tham vấn cho các
cơ quan xây dựng pháp luật và các qui định hành chính của Hà Lan Mục tiêu cuối cùng của Actal là nhằm giảm bớt những gánh nặng về thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp, người dân, tổ chức và kể cả cho các cơ quan quản lý nhà nước Actal cũng đóng vai trò như một “cơ quan gác cửa” cho Chính phủ
và được Chính phủ hỗ trợ mạnh mẽ để bảo đảm hiện thực hoá được mục tiêu giảm bớt khoảng 25% gánh nặng hành chính của Hà Lan vào năm 2011
- Cơ chế tham vấn và “gác cửa” của Actal được thực hiện thông qua 2 bước: (i) Tham gia ý kiến tư vấn từ quá trình chuẩn bị xây dựng các văn bản pháp luật và qui định hành chính của Hà Lan, Đối với các cơ quan giúp Chính phủvà Quốc hội xây dựng các văn bản pháp luật, qui định hành chính, trong giai đoạn chuẩn bị và triển khai xây dựng nội dung các qui định này, Actal sẽ
tư vấn, tham gia ý kiến một cách không chính thức và được giữ bí mật Trong giai đoạn này, các cơ quan chủ trì xây dựng các văn bản này có thể tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến của Actal; (ii) Tham gia ý kiến tư vấn chính thức với Chính phủ và Quốc hội trong quá trình xem xét và phê duyệt các văn bản pháp luật và qui định hành chính Trong giai đoạn này, khi dự thảo các văn bản trình lên Hội đồng Bộ trưởng hoặc Quốc hội xem xét, Actal sẽ chính thức
và công khai có ý kiến tham vấn với Hội đồng Bộ trưởng và Quốc hội để xem xét trước khi quyết định ban hành hoặc yêu cầu cơ quan đệ trình văn bản đó tiếp tục có nhứng điều chỉnh, bổ sung và trình lại
Trang 29Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Actal được xây dựng gọn nhẹ và chất lượng Tổng số cán bộ biên chế của Actal gồm 16 người, trong đó tập hợp những chuyên gia có uy tín đại diện cho các lĩnh vực về quản lý nhà nước, các vấn đề về an sinh xã hội và các vấn đề mang tính kỹ thuật, công nghệ Nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt động của Actal về cơ bản được bố trí
từ nguồn ngân sách Nhà nước
- Phương hướng và chiến lược hoạt động của Actal được xác định theo hướng: Trong giai đoạn đầu, chỉ tập trung vào một số lĩnh vực trọng tâm hẹp
và tập trung vào hỗ trợ cho các vấn đề có liên quan tới doanh nghiệp, sau đó mới tiếp tục từng bước mở rộng dần ra các lĩnh vực khác và hỗ trợ cho các nhóm đối tượng rộng hơn như người dân, tổ chức nghề nghiệp xã hội Tinh thần chung để xây dựng và phát triển Actal là thông qua tri thức, trình độ và
sự sâu sát, thân thiện giữa Actal và các nhóm đối tượng có liên quan,
- Thông qua cơ chế tham vấn và “gác cửa” như nêu trên, tính cảnh báo
và chủ động của Actal là rất cao trong việc sàng lọc và loại bỏ các qui định, thủ tục hành chính chưa phù hợp ngay từ trước khi chúng được xem xét để ban hành
- Cơ quan hỗ trợ và tạo thuận lợi hoá của Hà Lan đối với các hoạt động của doanh nghiệp và người dân (Holland Gateway) là một cơ quan đặc biệt được Chính phủ Hà Lan thành lập nhằm mục tiêu chủ yếu là tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và người dân thông qua việc cung cấp thông tin và kết nối giữa các nhóm đối tượng có liên quan ở trong và ngoài Hà Lan (các doanh nghiệp - người dân – các cơ quan công quyền ở trung ương – chính quỳên các địa phương – các tổ chức khoa học, xã hội, nghề nghiệp - cộng đồng quốc tế)
- Holland Gateway đóng vai trò như một thư viện và một diễn đàn mở
để các doanh nghiệp, người dân, các nhà nghiên cứu tra cứu các thông tin được thu thập, sắp xếp, tổ chức một cách khoa học; giúp các đối tượng này trao đổi một cách trực tuyến hoặc không trực tuyến về quá trình thực thi những qui định hành chính của nhà nước Holland Gateway chỉ đóng vai trò
là nhà quản trị và người điều phối của thư viện của diễn đàn này
- Cơ chế huy động sự tham gia để đóng góp thông tin và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm của Holland Gateway rất linh hoạt và hiệu quả: Thông qua những cơ quan cộng tác thường xuyên, gồm: Hiệp hội các trường đại học của
Hà Lan – VSNU, các Bộ ngành ở Trung ương (đặc biệt là Bộ Kinh tế, Bộ Tư pháp, Bộ về các vấn đề xã hội và việc làm, Phòng Thương mại Hà Lan và tập đoàn Schiphol); và thông qua một mạng lưới kết nối các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức đại diện cho khu vực công và khu vực tư ở Hà Lan
- Ngoài việc tạo ra môi trường để huy động sự tham gia của các nhóm đối tượng (như nêu trên) vào hệ thống của mình, Holland Gateway cúng được Chính phủ trao một số quyền nhất định để bảo đảm sự tham gia bắt buộc của các cơ quan thuộc Chính phủ trong việc cung cấp thông tin và tiếp nhận, trả lời các câu hỏi, đề nghị của doanh nghiệp và người dân
Trang 30- Thông tin báo cáo, phản hồi của Holland Gateway lên Chính phủ được coi là một kênh quan trọng trong quá trình Chính phủ xây dựng, ban hành hoặc điều chỉnh, bổ sung các qui định hành chính của Hà Lan
- Bộ máy tổ chức của Holland Gateway được tổ chức gọn nhẹ nhưng có chất lượng cao (gồm 6 cán bộ am hiểu ở một số lĩnh vực quản lý vĩ mô, thông thạo nhiều ngôn ngữ khác nhau) và được cung cấp nguồn tài chính hoạt động một phần từ ngân sách nhà nước, một phần từ Phòng Thương mại Hà Lan và tài trợ của Tập đoàn Schiphol
4 Kinh nghiệm của Cộng hòa Đức
Tại Đức đang giảm thiểu các thủ tục rườm rà, chồng chéo giữa các cơ quan vì việc thông tin giữa các cơ quan đôi lúc chưa thông suốt gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Đức do các cơ quan chuyên ngành đưa ra kế hoạch soạn thảo, sửa đổi và Ban soạn thảo Luật (là những người có chuyên môn cao) thực hiện, trong quá trình soạn thảo có tham khảo ý kiến về chuyên môn của các cơ quan, ban ngành khác Nước Đức là quốc gia áp dụng mô hình đánh giá chất lượng và chi phí tuân thủ từ nhiều năm, vì vậy, Luật của họ khi ban hành ra được quy định rất cụ thể, chi tiết Do đó, khi văn bản Luật được ban hành sẽ được thực hiện ngay mà không cần các văn bản dưới Luật hướng dẫn Đây cũng được coi là thành tựu trong cải cách thể chế tại Đức
Về phương thức thực hiện các thủ tục hành chính, mặc dù không có những qui định bắt buộc cụ thể nhưng xu hướng chung tại Đức là đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công trực tuyến thông qua mạng internet để tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp Ví dụ: Thủ tục về kê khai thuế người dân, doanh nghiệp không phải lên Sở thuế kê khai mà có thể kê khai thuế qua mạng Việc làm này được người dân, doanh nghiệp Đức ủng hộ vì việc kê khai thuế là công việc bắt buộc đối với mọi công dân, doanh nghiệp Đức và trước đây họ mất nhiều thời gian, chi phí khi thực hiện thủ tục này Từ khi áp dụng tin học hóa vào thủ tục hành chính nhà nước thì thủ tục kê khai thuế đã được đơn giản hóa rất nhiều
5 Kinh nghiệm của Ucraina
Chính phủ Ucraina đang hoàn thiện hệ thống luật pháp để tối ưu hóa hệ thống hành pháp của các cơ quan Trung ương Mục tiêu chính của cải cách hành chính là thực hiện “ Kế hoạch hiện đại hóa quản lý Nhà nước” được dự thảo dựa trên kết quả nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Trung ương, có sự tham gia của các tổ chức thuộc Liên minh Châu Âu và do Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì
Ngày 28 tháng 10 năm 2010, Ủy ban Châu Âu trong khuôn khổ các cuộc đàm phán song phương đã đồng ý tài trợ cho cải cách hành chính ở
Trang 31Ucraina khoảng 70 triệu euro để thực hiện dự án cải cách hành chính giai đoạn 2011-2013
Hiện nay, Ucraina có 111 tổ chức các cấp chính quyền, trong đó có 20
Bộ, 18 cơ quan ngang Bộ, 7 cơ quan truyền thông dịch vụ, 20 ủy ban nhân dân, 8 cơ quan hành chính, 12 sở, 12 cơ quan thanh tra, 5 ủy ban, 3 quỹ và 6
cơ quan quyền lực khác Nhiệm vụ của cải cách hành chính là hiện đại hóa, tinh giảm bộ máy hành chính, tránh chồng chéo, đảm bảo theo chuẩn mực của Châu Âu
Ucraina đã thông qua một loạt các chương trình cải cách hành chính, hạn chế sự quan liêu tại các cấp; Tối đa hóa công nghệ Internet để giảm thiểu tiếp xúc của cá nhân với quan chức trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính và trong trường hợp này sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ tham nhũng Ucraina đang khuyến khích cơ chế đăng ký điện tử của pháp nhân và cá nhân cũng như trong việc trao đổi thông tin qua mạng giữa các cơ quan nhà nước
để hướng tới Chính phủ điện tử Chính phủ sẽ tạo ra một trang Web duy nhất
để cung cấp các dịch vụ hành chính, thông qua đó người dân và doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể nhận được dịch vụ trực tuyến
Ucraina có hệ thống Giấy phép đăng ký rắc rối, phức tạp; đang đứng thứ thứ 146 - gần cuối cùng trong Bảng xếp hạng (trong khi đó Việt Nam đứng thứ 96)
Tuy nhiên, các loại Giấy phép khác nhau ở nước này hiện nay gần như
đã được giảm một nửa: từ hơn 200 loại Giấy phép, xuống còn khoảng 134 loại Ví dụ: đã đơn giản hóa và tăng tốc thủ tục cấp phép trong xây dựng (trước đây quá trình đó có thể kéo dài trong một năm rưỡi, hiện nay mất tối đa
là hai tháng) Số thủ tục cấp phép và phê duyệt giảm gần bốn lần (từ 93 xuống còn 23)
6 Cộng hòa Ba Lan và Séc
Ba Lan và Séc là những nước có nền kinh tế thị trường cạnh tranh và đang có mức độ tăng trưởng khá hơn so với một số nước khác thuộc phe xã hội chủ nghĩa trước đây ở Đông Âu Cùng với việc phát triển kinh tế Ba Lan cũng như Hungary luôn quan tâm đầu tư, giải quyết các vấn đề về phúc lợi công cộng Chính sách xã hội hóa việc cung ứng dịch vụ công đã được thực
hiện trong nhiều năm và đạt được những kết quả nhất định
Bộ Phát triển Vùng Ba Lan có chức năng, nhiệm vụ chính là nhằm thúc đẩy, phát triển nền kinh tế và tăng việc làm cho nhân dân, tạo cơ hội cho các địa phương phát triển, tạo điều kiện cạnh tranh cho cá nhân, tổ chức
Thành tựu trong phát triển kinh tế Ba Lan: Trong thời gian 20 năm, Ba Lan có tốc độ phát triển kinh tế tăng trưởng gấp đôi Trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay nhưng tốc độ phát triển kinh tế của Ba Lan vẫn đang đạt mức 3.8%/năm
Trang 32Thành tựu đạt được trong cải cách hành chính của Ba Lan: trước năm
2008 có 400 văn bản quy định về thủ tục hành chính, đến năm 2008 giảm còn hơn 200 văn bản quy định về thủ tục hành chính
Các quy trình đề ra những chính sách phát triển trung và dài hạn của đất nước sẽ được các Bộ, ngành gửi tới Bộ Phát triển Vùng để thẩm định, kiểm soát,
Bộ trưởng Bộ Phát triển vùng đưa ra phân tích, đánh giá và trình lên Chính phủ Khi đưa ra một chương trình phát triển cụ thể sẽ được đánh giá trên những tiêu chí:
- Tài chính để thực hiện chương trình đó;
- Kế hoạch giám sát thực hiện chương trình;
- Trong quá trình thực hiện chương trình sẽ tiếp tục đánh giá
Hiện nay, Ba Lan có khoảng 600 nghìn công chức/38 triệu dân Công chức Ba Lan đều được đào tạo về quy trình ban hành văn bản
Chiến lược phát triển vùng của Ba Lan: Mỗi khu vực (Ví dụ: Khu vực phía Đông Ba Lan, hoặc mỗi một tỉnh trong 16 tỉnh của Ba Lan đều có một chính sách phát triển độc lập dựa trên đặc thù tự nhiên, kinh tế mỗi vùng, tỉnh) Mục đích phát triển vùng nhằm tăng mức sống ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa tạo điều kiện về giao thông cho người dân nơi đây
Năm 2004, Ba Lan tham gia vào khối kinh tế châu Âu (EU) nên sau khi đưa ra kế hoạch phát triển vùng sẽ phải gửi lên EU để EU xem xét có phù hợp với chính sách phát triển chung của EU hay không rồi mới áp dụng vào nền kinh
tế
Chiến lược phát triển vùng do Ủy ban Điều phối chính sách phát triển thực hiện, thành viên là Thứ trưởng các Bộ, Ủy ban Điều phối đưa ra những chính sách, cơ chế, công cụ quan trọng nhất để phát triển đất nước
Chiến lược phát triển trung hạn nền kinh tế Ba Lan tập trung vào những nhiệm vụ cơ bản sau: Đảm bảo an ninh, an toàn xã hội là nhiệm vụ quan trọng nhất; đưa ra những chính sách cụ thể để phát triển nền kinh tế trung hạn; mục tiêu phát triển hài hòa nền kinh tế giữa các vùng
Các giai đoạn thực hiện cải cách hành chính tại Ba Lan:
- Năm 2004 - 2006: Thực hiện cải cách hành chính theo quy hoạch chung của EU Áp dụng khoa học kỹ thuật để cải cách hành chính, tổ chức các đoàn khảo sát đi học hỏi kinh nghiệm về cải cách hành chính Giai đoạn này Ba Lan được EU tài trợ 12,8 tỉ euro để đẩy mạnh các chính sách phát triển trong đó có cải cách hành chính
- Năm 2007 – 2013: Số tiền tài trợ được nâng lên 67,3 tỉ euro Như vậy,
Ba Lan là quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất từ chính sách phát triển vùng của
EU
Trang 33Ba Lan không có cơ quan chuyên trách về cải cách hành chính như tại Việt Nam Mỗi Bộ, ngành đều có chức năng, nhiệm vụ cải cách hành chính trong lĩnh vực mình quản lý Bộ trưởng, Tỉnh trưởng mỗi tỉnh sẽ xem xét những cải cách có phù hợp với bộ, tỉnh mình không sau đó sẽ lựa chọn áp dụng chương trình cải cách phù hợp nhất với đặc thù tự nhiên, kinh tế, xã hội của mình
Ba Lan mới bắt đầu áp dụng cơ chế một cửa nhưng chưa thực sự hiệu quả Trong thực hiện thủ tục hành chính, chủ yếu chính phủ Ba Lan để người dân làm giấy cam kết và họ phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết của mình Để kiểm tra tính xác thực của những cam kết này, chính phủ Ba Lan
có những cuộc kiểm tra đột xuất
Séc có Luật kinh doanh trong đó chia ra các nhà kinh doanh cá nhân và tổ chức Trong vòng 20 năm cải cách, đổi mới, Luật Doanh nghiệp của Séc thay đổi 120 lần, trong đó có 10 lần sửa cơ bản Thay đổi mạnh mẽ và quan trọng nhất là đưa lên internet mọi thông tin để người dân dễ dàng nắm bắt đồng thời để
cơ quan nhà nước nhanh chóng giải quyết công việc cho người dân Vì vậy, khi người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính sẽ không cần phải khai báo về thông tin cá nhân nữa Qua đó, cơ quan nhà nước dễ dàng nắm được cá nhân, doanh nghiệp đó đã từng vi phạm pháp luật gì chưa (đã từng trốn thuế, khai báo gian dối ) Những thông tin này giúp sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa cơ quan nhà nước với nhau Bên cạnh đó, cá nhân, doanh nghiệp có thể ngồi một chỗ để khai báo mà không mất thời gian, chi phí để đến trụ sở cơ quan nhà nước khai báo như trước
Séc hiện nay có khoảng 976 nghìn doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ (dưới 250 lao động) chiếm 65% GDP Hiện nay, Séc đang khuyến khích chuyển đổi mô hình công ty nhà nước sang tư nhân hóa Những doanh nghiệp kinh doanh về đường sắt, bưu điện, dầu khí là những doanh nghiệp lớn thuộc về nhà nước nhưng cũng đang lên kế hoạch chuyển đổi sang tư nhân hóa
Nó sẽ là những doanh nghiệp cuối cùng chuyển đổi sang mô hình tư nhân hóa sau khi đã tư nhân hóa các doanh nghiệp thuộc những lĩnh vực khác Khai thác
mỏ cũng đã được Séc tư nhân hóa một phần Sản xuất điện cũng đã được cổ phần hóa nhưng nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối đối với những doanh nghiệp sản xuất điện lớn Những ngành năng lượng cơ bản thì nhà nước vẫn quản lý
Mô hình tư nhân hóa doanh nghiệp phát triển mạnh tại Séc là hoàn toàn
do các doanh nghiệp lựa chọn Nhà nước không bao giờ bắt ép họ đi theo một quy hoạch cứng nhắc mà chỉ đưa ra định hướng chung cho họ lựa chọn Ví dụ: Nếu muốn khuyến khích doanh nghiệp đi theo lĩnh vực cụ thể nào thì nhà nước
sẽ đăng tải lên internet những chế độ ưu đãi khi doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực đó để doanh nghiệp tự lựa chọn
7 Một số nhận xét
Qua tham khảo kinh nghiệm của các nước, cải cách hành chính được xác định là một nhiệm vụ quan trọng, không chỉ là vấn đề của mỗi quốc gia
Trang 34mà đã trở thành vấn đề của toàn cầu, nhiệm vụ thường xuyên của các Chính phủ
Những biến đổi trên bình diện quốc tế do quá trình hợp tác và hội nhập tạo ra cũng như những thay đổi bên trong của mỗi quốc gia và sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là nguyên nhân sâu xa, tất yếu dẫn đến đòi hỏi và thách thức cải cách
Quá trình tìm hiểu và đánh giá cải cách mô hình giải quyết TTHC ở các nước có một số nhận xét khái quát như sau:
(i) Tuy trình độ phát triển và đặc điểm lịch sử kinh tế - xã hội của các nước khác nhau nhưng cải cách hành chính đang là mối quan tâm lớn của chính phủ mỗi nước
Cách nhìn về cơ hội và thách thức cải cách của các nước khá giống nhau:
- Cải cách hành chính là để thích ứng với tình hình mới về phát triển khi đất nước và Chính phủ phải đối mặt với hàng loạt vấn đề mới về kinh tế xã hội trong cuộc cạnh tranh quốc tế
- Nhanh chóng khắc phục sự bất cập của bộ máy hành chính, xoá bỏ tình trạng quan liêu, tham nhũng của công chức nhà nước
(ii) Có sự tương đồng về nội dung cải cách Cụ thể, 3 lĩnh vực cải cách được ưu tiên là a) cải cách thể chế (bao gồm cả TTHC), b) điều chỉnh chức năng và cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính và c) nâng cao chất lượng dịch vụ công Trên tất cả các lĩnh vực này, mọi nỗ lực cải cách đều hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế, tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp; cải cách
cơ cấu tổ chức gắn với điều chỉnh chức năng của bộ máy hành chính, giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp và cấm đoán, thay bằng sự khuyến khích và hỗ trợ (iii) Phân quyền cho địa phương và mở rộng sự tham gia của dân vào việc cung cấp dịch vụ công thông qua qua việc đẩy mạnh xã hội hoá là những giải pháp quan trọng, có hiệu quả được Chính phủ các nước chú trọng áp dụng
(iv) Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức được xác định là giải pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy hành chính nhà nước Chính phủ các nước đều đặc biệt quan tâm đầu tư về mặt tài chính, coi đó là nguồn kinh phí ưu tiên cho phát triển Kết hợp đào tạo dài hạn với bồi dưỡng ngắn hạn theo chức danh, vị trí công tác; kết hợp học tập trung tại trường với đào tạo bồi dưỡng tại chức
(v) Cùng với việc thực thi các biện pháp hạn chế tình trạng quan liêu, Chính phủ các nước rất quan tâm đến chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy Theo kinh nghiệm của các nước thì các giải pháp có hiệu quả là: chế độ trách nhiệm thật rõ và được quy chế hoá; tăng cường công khai minh bạch trong hoạt động của cơ quan hành chính; loại bỏ các quy trình, thủ tục phiền
hà, gây ra sự sách nhiễu dân Việc áp dụng công nghệ thông tin nhất là sử
Trang 35dụng dịch vụ công trực tuyến để giải quyết các công việc của dân và doanh nghiệp như cách làm của chính quyền Áo là kinh nghiệm đáng chú ý và cần học hỏi và áp dụng
(vi) Hiện đại hoá Chính phủ là một trong những mục tiêu trọng tâm trong Chương trình cải cách của cả 3 nước Giải pháp chính là áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để đổi mới phương thức hoạt động của bộ máy hành chính
Áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001-2008 vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước và ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc của Chính phủ Thách thức lớn nhất để xây dựng chính phủ điện tử là đào tạo con người, sau đó mới
là đầu tư xây dựng cơ sở kỹ thuật
Mặc dù quy mô, cách làm và kết quả đạt được khác nhau nhưng khi đề cập tới kinh nghiệm tiến hành cải cách hành chính thì những vấn đề sau được nhấn mạnh:
Một là, phải chủ động và có tầm nhìn chiến lược, có quyết tâm chính trị
cao;
Hai là, trong quá trình cải cách, phải lựa chọn tạo ra những bước đột
phá vào những khâu, những lĩnh vực then chốt được cả xã hội quan tâm;
Ba là, phải có lộ trình và bước đi phù hợp, gắn với việc tạo đồng thuận
xã hội đối với các mục tiêu và nội dung cải cách;
Bốn là, phải có đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ mạnh để đề xuất và tổ
chức thực hiện các sáng kiến cải cách hành chính
Về nội dung cải cách hành chính, mục đích cải cách TTHC là giảm gánh nặng hành chính cho người dân và doanh nghiệp, giảm quan liêu và chi tiêu công, phi tập trung hoá, đẩy mạnh hành chính điện tử Mục tiêu là xây dựng nền hành chính hướng tới phục vụ cộng đồng
Vấn đề xây dựng và phát triển nền hành chính điện tử được xác định là trọng tâm ưu tiên, trong đó đặc biệt chú trọng tới việc tổ chức thực hiện Về cách làm của bạn là có trọng tâm, có lộ trình và bước đi thích hợp; chú trọng tới việc nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công và giảm TTHC cho người dân và doanh nghiệp trong mối quan hệ với các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức cung cấp dịch vụ công
Trang 36Chương II
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT TTHC TẠI BỘ
CÔNG THƯƠNG Phần I
RÀ SOÁT, PHÂN TÍCH NHÓM TTHC DO BỘ CÔNG THƯƠNG
TRỰC TIẾP THỰC HIỆN
Qua việc rà soát, phân tích một số nhóm TTHC do Bộ Công Thương trực tiếp thực hiện nhằm đánh giá thực trạng công tác kiểm soát TTHC Từ đó, đề xuất danh mục TTHC đưa vào triển khai áp dụng dịch vụ công trực tuyến, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát TTHC và công tác tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính của Bộ
Công Thương
Đề án Đơn giản hóa TTHC đã đặt ra những nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan quản lý Nhà nước, trong đó có Bộ Công Thương về đơn giản hóa
TTHC Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là “Hệ thống, đánh giá tổng thể
thực trạng các TTHC hiện hành, phát hiện các bất cập trên cơ sở đó đưa ra các phương án giải quyết, hoàn thiện hệ thống TTHC theo hướng đơn giản, thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp”
Đây cũng chính là mục tiêu căn bản mà đề tài này hướng tới phục vụ
Do tính chất đặc thù của Đề tài và xuất phát từ yêu cầu thực tế, nhằm có được những kiến nghị cụ thể đối với từng TTHC, Đề tài này xác định yêu cầu rà soát đối đối với từng nhóm TTHC sẽ được thực hiện đầy đủ theo 4 tiêu chí như sau: (i) Cơ sở pháp lý; (ii) Cơ sở thực tiễn; (iii) Điều kiện giải quyết TTHC; (iv) Hồ sơ, trình tự giải quyết TTHC Với mỗi tiêu chí, việc rà soát thực hiện đầy đủ 3 bước như sau: Nêu rõ hiện trạng; Phân tích, đánh giá và đề xuất, kiến nghị
Như đã giới thiệu tại phần mở đầu, việc phân tích, đánh giá và kiến nghị đối với TTHC của Đề tài này sẽ giới hạn trong các TTHC như sau:
(1) Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo
(2) Cấp phép nhập khẩu tự động đối với một số sản phẩm thép
(3) Cấp phép nhập khẩu các chất làm suy giảm tầng ô-dôn
(4) Cấp Giấy chứng nhận quy trình Kimberly đối với kim cương thô (5) Cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa C/O mẫu A cho mặt hàng giày dép xuất khẩu sang thị trường EU
(6) Cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O) ưu đãi Mẫu AK
(7) Đăng ký danh mục hàng nhập khẩu, tạm nhập tái xuất của nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam
(8) Thủ tục thông báo tập trung kinh tế
Trang 37(9) Thủ tục đề nghị hưởng miễn trừ đối với thoả thuận hạn chế cạnh tranh
(10) Thủ tục cấp Giấy phép hoạt động phát điện
(11) Thủ tục cấp giấy phép hoạt động bán buôn, bán lẻ điện
(12) Thủ tục cấp giấy phép hoạt động tư vấn chuyên ngành điện
(13) Cấp Giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp
(14) Cấp Giấy phép bán buôn (hoặc đại lý bán buôn) rượu trong phạm
vi 2 tỉnh
(15) Cấp Giấy phép bán buôn (hoặc đại lý bán buôn) thuốc lá trên phạm
vi 2 tỉnh trở lên
A THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC XUẤT NHẬP KHẨU
I Thủ tục Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo
1 Căn cứ pháp lý
a) Hiện trạng
Danh mục các văn bản làm cơ sở pháp lý
- Luật Thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005;
- Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005
- Nghị định số 109/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2010 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo;
- Thông tư số 44/2010/TT-BCT ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Bộ Công Thương quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 109/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2010 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo;
- Quyết định số 560/BNN-CB ngày 24 tháng 3 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy định tạm thời về yêu cầu kỹ thuật kho chứa thóc chuyên dùng và cơ sở xay, xát thóc gạo phục vụ xuất khẩu;
Trang 38hình sản xuất - kinh doanh lúa gạo gây ra khó khăn cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính này Đề xuất sửa đổi, một số quy định về điều kiện để được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo trong Quyết định số 560/BNN-CB ngày 24 tháng 3 năm 2011
2 Cơ sở thực tiễn
a) Hiện trạng
Việc thiết lập và duy trì thủ tục này nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo Việc thực hiện thủ tục hành chính này là cần thiết, đảm bảo hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo lợi ích người tiêu dùng; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm
b) Phân tích và đề xuất
Gạo là một trong những mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam, hơn nữa gạo cũng là nguồn lương thực quan trọng và chủ yếu của nước ta, vì thế cần thiết phải có sự quản lý của cơ quan Nhà nước đối với mặt hàng này Mục đích đặt ra thủ tục hành chính này do xác định ngay từ đầu, lúa gạo là ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhằm đảm bảo xuất khẩu gạo có giá, vừa đảm bảo an ninh lương thực Điều này cũng xuất phát từ thực tế, sau khi mở cửa xuất khẩu có quá nhiều đơn vị tham gia Theo một thành viên của VFA, năm 2010 cả nước có đến trên 250 đơn vị tham gia xuất khẩu gạo, 6 tháng đầu năm 2011 có đến 211 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo, trong đó đại bộ phận xuất khẩu với lượng nhỏ, thậm chí có đơn vị chỉ xuất khẩu vài trăm kg gạo; chỉ có khoảng 50 doanh nghiệp có lượng xuất khẩu trên 10.000 tấn Chính vì có quá nhiều đơn vị tham gia xuất khẩu gạo đã xảy ra ra chuyện cạnh tranh không lành mạnh, chỉ hơn nhau 1-2USD/tấn đã tranh nhau bán
Thậm chí có doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo, nhưng không trực tiếp trong ngành gạo, mà làm đa ngành nghề, nhận thấy kinh doanh xuất khẩu gạo có lãi là tiến hành kinh doanh, không quan tâm đến chất lượng thực sự
Do vậy, việc thiết lập thủ tục hành chính này buộc doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải đầu tư sâu vào ngành nghề để gắn bó lâu dài, nâng cao chất lượng hạt gạo
Mặt khác, việc áp dụng thủ tục hành chính này tạo ra hiệu quả cao trong việc quản lý xuất khẩu gạo, đảm bảo lợi ích của cộng đồng, đồng thời góp phần tăng thu ngân sách nhà nước Vì thế cần thiết phải có sự quản lý chặt chẽ từ phía cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động này Do vậy thủ tục hành chính này là cần thiết, phù hợp, hiệu quả và cần được thực thi bởi cơ quan Bộ, không phân cấp cho địa phương vì không đảm bảo việc thực hiện
3 Các điều kiện giải quyết thủ tục hành chính
a) Hiện trạng
Trang 39Điều kiện để Thương nhân được xem xét, giải quyết thủ tục hành chính
là khi đáp ứng được các quy định Nhà nước hiện hành và các quy định tại các văn bản là cơ sở pháp lý, đồng thời tuân thủ các yêu cầu về hồ sơ, thủ tục mà
Bộ đề ra Tuy nhiên, các điều kiện qui định về kinh doanh xuất khẩu gạo tại Quyết định số 560/BNN-CB ngày 24 tháng 3 năm 2011 lại đòi hỏi hơi cao với
các doanh nghiệp và không sát với thực tế
b) Phân tích và đề xuất
Trên thực tế, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo trên địa bàn tỉnh làm thủ tục xin giấy phép xuất khẩu gạo đợt đầu đều bị Bộ Công Thương trả hồ sơ do chưa đảm bảm một số điều kiện, nhất là những điều kiện được quy định tại Quyết định số 560 của Bộ NN&PTNT (qui dịnh chi tiết Nghị định 109) qui định về kỹ thuật kho chứa lúa, cơ sở xay xát lúa gạo Theo Quyết định 560, đối với kho chứa phải kèm theo các trang thiết bị như: Thiết
bị sơ chế, bốc dỡ, vận chuyển, thiết bị xử lý những sự cố bất lợi trong quá trình bảo quản; đối với cơ sở xay xát lúa gạo phải có bộ phận phân tích, máy sấy công nghiệp, hệ thống máy xay xát đánh bóng, phân loại, phối trộn và đóng gói, có các thiết bị phân tích thử nghiệm chuyên dùng đối với các chỉ tiêu về độ ẩm, tạp chất, hạt trong nguyên Quyết định 560 bắt buộc doanh nghiệp phải có nhà máy xay xát công suất 10 tấn/giờ và kho lúa 5.000 tấn, nhưng cả vùng đồng bằng sông Cửu Long không có nhà máy xay xát nào có kho chứa lúa như thế Bởi, thực tế có khoảng 95% ông chủ nhà máy xay xát không mua lúa về trữ mà chủ yếu là gia công cho hàng xáo cũng không có diện tích để chứa gạo hoặc chứa lúa, mà chỉ chủ yếu là xây nhà máy rất lớn, chạy rất chất lượng và bốc hàng ngay sau khi chà xong chứ không trữ lại Quyết định 560 còn qui định nhà máy xay xát phải có lò sấy và phòng thí nghiệm, nhưng những trang thiết bị này này hiện đang nằm trong các cơ sở chế biến gạo
- Đề xuất: Cụ thể, về kho chứa chuyên dùng, các thiết bị lò sấy, máy sấy công nghiệp, thiết bị xông hơi, khử trùng, thiết bị phân tích thử nghiệm thì không qui định bắt buộc mà chỉ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, trang
bị tùy theo khả năng và nhu cầu kinh doanh, xuất khẩu của doanh nghiệp hoặc nếu bắt buộc thì phài có lộ trình ít nhất đến năm 2013 Về cơ sở xay xát lúa gạo phục vụ xuất khẩu, để giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, cho phép Sở Công Thương chỉ cần xác nhận về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo đối với doanh nghiệp gồm: Sức chứa của kho lúa (hoặc gạo), kết cấu cơ bản của kho và công suất thiết kế của nhà máy xay xát làm
cơ sở cho Bộ Công thương xét cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo
4 Thủ tục, trình tự giải quyết thủ tục hành chính
a) Hiện trạng
+) Hồ sơ thủ tục hành chính:
Trang 40- Đơn đề nghị (theo mẫu quy định tại Phụ lục I kèm theo Nghị định số 109/2010/NĐ-CP);
- Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đầu tư;
- Bản chính bản kê kho chứa, bản chính bản kê cơ sở xay, xát (theo mẫu quy định tại Phụ lục IV, phụ lục V kèm theo Nghị định số 109/2010/NĐ-CP) đã được Sở Công Thương tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác nhận
+) Trình tự thực hiện
- Thương nhân nộp hồ sơ đến Bộ Công Thương – 54 Hai Bà Trưng, Hà Nội;
- Bộ Công Thương kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ;
- Trường hợp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Bộ Công Thương tiến hành thẩm tra nội dung hồ sơ Nếu hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện, Bộ Công Thương cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo cho thương nhân theo mẫu quy định tại Nghị định số 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ Trường hợp không cấp Giấy chứng nhận, Bộ Công Thương trả lời bằng văn bản và nêu rõ
lý do cho thương nhân
b) Phân tích và đề xuất
- Quy định về hồ sơ đã được rõ ràng mình bạch
- Căn cứ để cấp phép đã được thể hiện rõ trong các quy định tại các văn bản là cơ sở pháp lý và các yêu cầu về thủ tục hành chính mà thương nhân phải đáp ứng
- Quy trình thủ tục đã được niêm yết công khai Hiện nay, Bộ Công Thương đã thực hiện việc cập nhật thủ tục hành chính này bao gồm các loại giấy tờ, hướng dẫn, mẫu đơn mẫu tờ khai đính kèm thủ tục lên trang thông tin cải cách hành chính của Bộ Công Thương tại địa chỉ: kstthc.moit.gov.vn để người dân các doanh nghiệp thuận lợi trong việc tra cứu tham khảo, tạo điều kiện thực hiện thủ tục được dễ dàng, thuận tiện
- Đối với các quy định về điều kiện yêu cầu để được cấp giấy chứng nhận xuất khẩu gạo cần có quy định lộ trình cụ thể để thực hiện thủ tục, tạo điều kiện để doanh nghiệp thực hiện thủ tục
II Thủ tục cấp phép nhập khẩu tự động đối với một số sản phẩm thép
1 Căn cứ pháp lý
a) Hiện trạng
Danh mục các văn bản làm cơ sở pháp lý: