VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÊN ĐỂ TÀI: NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GIÂM HOM VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRỒNG RỪNG NĂNG SUẤT CAO CHO 3 DÒNG BẠCH ĐÀN ĐÃ
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
TÊN ĐỂ TÀI:
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GIÂM HOM VÀ XÂY DỰNG
MÔ HÌNH TRỒNG RỪNG NĂNG SUẤT CAO
CHO 3 DÒNG BẠCH ĐÀN ĐÃ ĐƯỢC CHỌN LỌC
PNCTIV, PNCT3 và PNCT4
Chủ nhiệm đề tài: KS Triệu Hoàng Sơn Người chủ trì thực hiện chuyên đề: KS Triệu Hoàng Sơn
Thuộc cơ quan: Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
Những người phối hợp thực hiện:
1 ThS Hà Ngọc Anh
2 ThS Trần Hữu Chiến
9764
PHÚ THỌ - NĂM 2012
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Danh mục các từ viết tắt iv
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
2.2 Nội dung nghiên cứu 7
2.4 Phương pháp nghiên cứu 8
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN
3.1 Theo dõi, đánh giá sinh trưởng, tình hình sâu bệnh các dòng đã được chọn lọc trồng mô hình tại vùng nguyên liệu giấy Trung Tâm 11
3.2 Theo dõi, đánh giá sinh trưởng, tình hình sâu bệnh các dòng đã được chọn lọc trồng mô hình tại vùng Đông Bắc Bộ 16
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Quyết định thành lập HĐNT cấp cơ sở, phiếu nhận xét đánh giá của Phản biện 1 và 2,
BBNT của HĐKH cấp cơ sở Quyết định thành lập HĐNT cấp Bộ, phiếu nhận xét
đánh giá của Phản biện 1 và 2, BBNT của HĐKH cấp Bộ
Báo cáo chuyên đề 1: Theo dõi, đánh giá sinh trưởng, tình hình sâu bệnh các dòng đã
được chọn lọc trồng mô hình tại vùng nguyên liệu giấy Trung Tâm
Báo cáo chuyên đề 2: Theo dõi, đánh giá sinh trưởng, tình hình sâu bệnh các dòng
đã được chọn lọc trồng mô hình tại vùng Đông Bắc Bộ
HỒ SƠ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÈ TÀI : Quyết định giao nhiệm vụ; Hợp đồng
NCKH&PTCN năm 2012; Thuyết minh đề tài
Trang 3BIỂU THÔNG TIN
1 Tên đề tài: Nghiên cứu kỹ thuật giâm hom và xây
dựng mô hình trồng rừng năng suất cao cho 3 dòng
4 Kinh phí : 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng chẵn)
5 Họ và tên chủ nhiệm đề tài : TRIỆU HOÀNG SƠN
Học vị : Kỹ sư
Chức danh : Nghiên cứu viên
Điện thoại : 0912.935199; Fax :
Email : trieuhoangsonfrc@gmail.com
Địa chỉ cơ quan : xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
6 Cơ quan chủ trì : Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
Điện thoại : 0210.3829241 ; Fax : 0210.38829384
Email : nlgiay_pnpt@vnn.vn
Địa chỉ cơ quan: xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
7 Danh sách những người thực hiện chính
TT Họ và tên Học vị, học hàm chuyên môn Cơ quan
1 Triệu Hoàng Sơn Kỹ sư Lâm nghiệp Viện NC Cây NLG
2 Vũ Thị Lan Kỹ sư Lâm nghiệp Viện NC Cây NLG
3 Hà Ngọc Anh Thạc sĩ Lâm nghiệp Viện NC Cây NLG
4 Trần Hữu Chiến Thạc sĩ Lâm nghiệp Viện NC Cây NLG
7 Mục tiêu của đề tài
Trang 4Mục tiêu cụ thể năm 2012
- Theo dõi, đánh giá sinh trưởng của các giống bạch đàn chọn lọc PNCTIV, PNCT3 và PNCT4 đã được trồng mô hình năm 2010 tại Bảo Thanh-Phú Thọ
và năm 2011 tại Yên Thế-Bắc Giang
8 Nội dung nghiên cứu chính
- Theo dõi, đánh giá sinh trưởng, tình hình sâu bệnh các dòng đã được chon lọc trồng mô hình tại vùng nguyên liệu giấy Trung Tâm (Xã Bảo Thanh - Phù Ninh - Phú Thọ)
- Theo dõi, đánh giá sinh trưởng, tình hình sâu bệnh các dòng đã được chon lọc trồng mô hình tại vùng Đông Bắc bộ (Xã Tiến Thắng - Yên Thế - Bắc Giang)
DANH MỤC ĐĂNG KÝ SẢN PHẨM CỦA ĐỀ TÀI
TT Nội dung công việc Dự kiến kết quả đạt được Kết quả đạt được
1 Theo dõi, đánh giá
sinh trưởng, tình hình
sâu bệnh các dòng đã
được chon lọc trồng
mô hình tại vùng
nguyên liệu giấy
Trung Tâm (Xã Bảo
Thanh - Phù Ninh -
Phú Thọ)
Chăm sóc, bảo vệ tốt diện tích 3,0 ha mô hình rừng trồng các dòng chọn lọc
Đánh giá được tỷ lệ sống, tình hình sinh trưởng, năng suất, chất lường, tình hình sâu bệnh hại các dòng chọn lọc
Chăm sóc, bảo vệ tốt diện tích 3,0 ha mô hình rừng trồng các dòng chọn lọc Đánh giá được tỷ lệ sống, tình hình sinh trưởng, năng suất, chất lường, tình hình sâu bệnh hại các dòng chọn lọc tại thời điểm 30 tháng tuổi
2 Theo dõi, đánh giá
Đánh giá được tỷ lệ sống, tình hình sinh trưởng, năng suất, chất lường, tình hình sâu bệnh hại các dòng chọn lọc
Chăm sóc, bảo vệ tốt diện tích 3,0 ha mô hình rừng trồng các dòng chọn lọc Đánh giá được tỷ lệ sống, tình hình sinh trưởng, năng suất, chất lường, tình hình sâu bệnh hại các dòng chọn lọc tại thời điểm 18 tháng tuổi
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FRC: Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
NPK: Phân vô cơ hỗn hợp đạm, lân, kali
PNCTIV, PNCT3, PNCT4 Các dòng bạch đàn có triển vọng được chọn lọc
∆ Hvn Lượng tăng trưởng bình quân chung về Hvn
∆ D1.3 Lượng tăng trưởng bình quân chung về D 1.3
ABT: Chế phẩm ra rễ của Trung Quốc
Trang 6DANH MỤC BẢNG Bảng 1 Tỷ lệ sống các dòng bạch dàn 30 tháng tuổi tại Bảo Thanh - Phú Thọ
Bảng 2 Sinh trưởng các dòng bạch đàn 30 tháng tuổi tại Bảo Thanh - Phú Thọ
Bảng 3 Thể tích thân cây trung bình và năng suất rừng trồng các dòng bạch đàn 30 tháng tuổi ở Bảo Thanh-Phú Thọ
Bảng 4 Chất lượng rừng trồng và độ thẳng thân cây giữa các dòng bạch đàn
30 tháng tuổi ở Bảo Thanh - Phù Ninh
Bảng 5 Tỷ lệ sống rừng trồng các dòng bạch đàn 18 tháng tuổi ở Yên Thế
Bảng 6 Sinh trưởng các dòng bạch đàn 18 tháng tuổi tại Yên Thế - BG
Bảng 7 Thể tích thân cây trung bình và năng suất rừng trồng các dòng bạch đàn 18 tháng tuổi ở Yên Thế - Bắc Giang
Bảng 8 Chất lượng rừng trồng và độ thẳng thân cây giữa các dòng bạch đàn
18 tháng tuổi ở Yên Thế – Bắc Giang
DANH MỤC HÌNH
Hình 01 Sinh trưởng các dòng bạch đàn 18 tháng tuổi tại BT-PT
Hình 02 Sinh trưởng các dòng bạch đàn 7 tháng tuổi ở YT- BG
Hình 03 Hình ảnh các dòng bạch đàn trồng mô hình tại BT – PT
Hình 04 Hình ảnh các dòng bạch đàn trồng mô hình tại YT – BG
MỞ ĐẦU
Trang 7Trong nhiều năm qua, bạch đàn là một trong những loài cây trồng rừng chính để cung cấp nguyên liệu sản xuất giấy Để đáp ứng nguồn nguyên liệu cho chiến lược của ngành giấy phấn đấu đạt 4,4 triệu tấn giấy vào năm 2015, đồng thời làm giảm giá thành sản xuất giấy, tăng khả năng cạnh tranh của giấy sản xuất trong nước với giấy nhập khẩu Việc đưa các giống cây nguyên liệu giấy năng suất cao vào sản xuất đại trà là việc làm cần thiết và thường xuyên, nhằm ngày càng đưa năng suất rừng trồng cây nguyên liệu giấy lên cao hơn
Công tác chọn, dẫn giống tạo ra các dòng vô tính đạt năng suất bằng hoặc cao hơn giống đang sản xuất đại trà là việc làm có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng cao cả về số lượng và chất lượng rừng trồng Thực tế sản xuất hiện nay cho thấy, diện tích rừng trồng các dòng vô tính ngày càng được mở rộng, tuy nhiên do số lượng dòng còn ít, trồng rừng sản xuất đại trà chủ yếu là 2 dòng PN14 và U6, qua kết quả điều tra cho thấy, diện tích rừng trồng các dòng này ở một vài nơi đã có dấu hiệu nguy cơ sâu bệnh hại, thoái hóa giống, năng suất rừng thấp Trong khi đó các dòng: PNCTIV, PNCT3, PNCT4 được Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy trồng khảo nghiệm đã cho thấy các dòng này rất có triển vọng, năng suất vượt so với giống đại trà (PN14, PN3d
và U6) từ 1,5 đến 2 lần Do vậy, để góp phần bổ xung cho tập đoàn giống trồng rừng nguyên liệu giấy ở vùng Trung tâm Bắc Bộ, tăng thêm tính đa dạng sinh học và độ an toàn cao cho trồng rừng, giảm thiểu rủi ro về sâu bệnh hại, nâng cao hiệu quả rừng trồng, phát triển các giống có năng suất cao hơn giống đang sản xuất đại trà, phục vụ trồng rừng với số lượng lớn Đề tài
″Nghiên cứu kỹ thuật giâm hom và xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao cho 3 dòng bạch đàn đã được chọn lọc PNCTIV, PNCT3 và PNCT4″
được Bộ công thương phê duyệt cho Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy thực hiện là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn
Trang 81
TÓM TẮT BÁO CÁO
Từ tháng 1 năm 2010, đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu kỹ thuật giâm hom và xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao cho 3 dòng bạch đàn đã được chọn lọc PNCTIV, PNCT3 và PNCT4” được (FRC) triển khai
nhằm tìm ra giải pháp kỹ thuật nhân nhanh các dòng bạch đàn có triển vọng bằng phương pháp giâm hom chồi non; đồng thời trên cơ sở nguồn cây giống nhân được đề tài tiến hành thiết lập mô hình rừng trồng các dòng này làm cơ
sở khuyến cáo cho rừng trồng giống mới vào sản xuất ở vùng nguyên liệu giấy Trung tâm Các nghiên cứu thử nghiệm giâm hom đã được triển khai tại vườn ươm của (FRC) Kết quả năm 2010, đã xây dựng được bản hướng dẫn kỹ thuật giâm hom chồi non cho cả 3 dòng bạch đàn PNCTIV, PNCT3, PNCT4, trên cơ sở rút ra được các giải pháp kỹ thuật cơ bản thông qua thử nghiệm về: Loại chất kích thích ra rễ và nồng độ chất kích thích ra rễ phù hợp, độ cao cây cấp hom và mùa vụ giâm hom thích hợp Mô hình rừng trồng 3,0 ha cho các dòng chọn lọcđã được thiết lập tháng 4 năm 2010 tại xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Sinh trưởng của mô hình rừng trồng sau 7 tháng tuổi cho thấy tỷ lệ sống đạt trên 97% Sinh trưởng chiều cao của cả 3 dòng chọn lọc đều vượt hơn đối chứng từ 18 - 45%
Năm 2011, để đạt được mục tiêu, (FRC) tiếp tục triển khai thực hiện:
Sản xuất được 5.000 cây giống từ các dòng chọn lọc cho trồng rừng mô hình;
Thiết lập được 3,0 ha mô hình rừng tại vùng Đông Bắc Bộ (Yên Thế - Bắc Giang); Phân tích lý, hóa tính của đất đai nơi trồng rừng, xác định được loại đất nơi trồng rừng là phù hợp với các dòng bạch đàn Đánh giá sinh trưởng các dòng chọn lọc trồng mô hình, trong đó: Tại địa điểm BT - PT, sau 18 tháng tuổi các dòng chọn lọc cho sinh trưởng vượt trội xo với dòng đối chứng, đứng đầu về Vcây là dòng PNCT3 đạt 22,92dm3, dòng PNCT4 đạt 22,73 dm3, dòng PNCTIV đạt 20,45 dm3, trong khi đó dòng đối chứng PN14 chỉ đạt 13,58 dm3 Tại địa điểm YT - BG, sau 7 tháng tuổi độ vượt về chỉ số thể tích (Iv) đứng đầu là dòng PNCT3 đạt 173%; dòng PNCT4 đạt 121%; dòng PNCTIV đạt 115%; xo với dòng đối chứng PN14 là 100%
Năm 2012, đề tài tiếp tục theo dõi đánh giá sinh trưởng các dòng chọn lọc trồng mô hình, trong đó: Tại địa điểm BT - PT ở thời điểm 30 tháng tuổi,
tỷ lệ sống đạt trên 92%, các dòng chọn lọc sinh trưởng tốt và vượt trội so với dòng đối chứng, về Vcây, đứng đầu là dòng PNCT3 đạt 44,2 dm3, dòng PNCTIV đạt 39,4 dm3, dòng PNCT4 đạt 39,0 dm3, trong khi đó dòng đối chứng PN14 chỉ đạt 30,6 dm3 Tại địa điểm YT - BG, ở thời điểm 18 tháng tuổi, tỷ lệ sống đạt trên 89%, về Vcây, đứng đầu là dòng PNCT3 đạt 20,8 dm3, dòng PNCTIV đạt 17,9 dm3, dòng PNCT4 đạt 17,6 dm3, trong khi đó dòng đối chứng PN14 chỉ đạt 11,9 dm3 Cả hai địa điểm các dòng chọn lọc sinh trưởng tốt, đồng đều, không sâu bệnh
Trang 92
Chương 1 Tổng quan tài liệu
1.1 Cơ sở pháp lý của đề tài
Đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ năm 2012 “Nghiên cứu giâm hom
và xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao cho 3 dòng bạch đàn đã được chọn lọc PNCTIV, PNCT3 và PNCT4” được thực hiện dựa trên các cơ sở pháp lý như sau:
- Căn cứ quyết định số 6968/QĐ-BCT, ngày 29 tháng 12 năm 2011 của
Bộ trưởng Bộ Công thương về việc đặt hàng thực hiện các nhiệm vụ khoa học
và công nghệ năm 2012 cho Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy;
- Căn cứ hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số: 137.12.RD/HĐ-KHCN ngày
29 tháng 3 năm 2012 giữa Bộ Công thương và Viện nghiên cứu cây nguyên
liệu giấy;
- Căn cứ quyết định số 17/VNC-QĐ.KHTH ngày 28 tháng 02 năm 2012 của Viện trưởng Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy về việc giao nhiệm vụ
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ năm 2012
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1 Trên thế giới
Bạch đàn được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới để cung cấp nguyên liệu gỗ cho các ngành công nghiệp và xuất khẩu Công tác cải thiện giống đối với loài này đã đạt được hiệu quả rất cao ở một số nước như Brazin, Cộng hoà Nam Phi, Công Gô, Ấn Độ, Trung Quốc
Brazin là một trong những nước đứng đầu thế giới về diện tích và năng suất rừng trồng bạch đàn Đến nay, Brazin đã có trên 5 triệu ha rừng trồng bạch đàn, trong đó 2 triệu ha rừng công nghiệp để sản xuất than chì Nhờ có các biện pháp quản lý phù hợp mà rừng trồng bạch đàn đã được duy trì và phát triển ổn định Từ những 1980, các chương trình cải thiện giống ở Brazin
đã chọn lọc và phát huy ưu thế lai của tổ hợp lai giữa các loài và tạo ra những giống bạch đàn lai năng suất rất cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh cao
như giống lai giữa E.urophylla x E.grandis, E.urophylla x E.camaldulensis
Với những giống bạch đàn lai này các công ty trồng rừng ở Brazin như Aracrus, Jarsel seluloza đã khai thác và đạt được năng suất từ 45 đến 75
m3/ha/năm, một số diện tích trồng thử nghiệm đạt 100 m3/ha/năm
Ở Công Gô, từ năm 1972 đã thực hiện nhân hom và trồng các dòng bạch đàn ưu việt được chọn lọc từ những cây lai tự nhiên và nhân tạo Từ năm
1978, nước này đã tiến hành trồng rừng công nghiệp bằng cây bạch đàn hom, tăng trưởng bình quân của rừng trồng bằng một số dòng vô tính được chọn là
Trang 103
35 m3/ha/năm, trong khi đó của rừng trồng bằng hạt là từ 12 đến 25
m3/ha/năm Tiêu chuẩn để lựa chọn các dòng vô tính bạch đàn ở đây là hình dạng thân cây, năng suất rừng, khả năng ra rễ của hom và chất lượng gỗ để làm bột giấy Tại khu vực điểm đen (Pointe noir) sử dụng giống lai giữa dòng
12 ABL với E.saligna và giống bạch đàn lai giữa E.chlorophylla với E.alba
trồng trên đất cát kết hợp với làm đất cơ giới và bón phân đã đạt năng suất từ
50 - 75m3/ha/năm với luân kỳ 6 năm
Ở Ấn Độ từ những năm 1990 đã thực hiện cải thiện giống đối với cây bạch đàn, những năm đầu là chọn cây trội và nhân giống bằng hom thì tăng trưởng bình quân của rừng tại tuổi 3 đạt 16 m3/ha/năm, vượt 50 % năng suất
so với trồng bằng hạt được chọn lọc Ở Trung Quốc từ giữa những năm 1970
đã thiết lập một số diện tích rừng trồng bạch đàn sinh trưởng nhanh, năng suất cao để cung cấp gỗ xây dựng Đến nay Trung Quốc là một trong những quốc gia đứng đầu về diện tích và sản lượng rừng trồng bạch đàn, gỗ khai thác từ rừng trồng bạch đàn chủ yếu để làm gỗ dán, bột giấy
Tại Thái Lan, diện tích rừng trồng không ngừng tăng lên trong 10 năm gần đây, đến nay nước này đã có gần 0,5 triệu ha rừng trồng bạch đàn Ở Thái Lan gỗ bạch đàn từ rừng trồng được dùng cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy, muốn có rừng trồng năng suất cao không chỉ có giống tốt, mà giống đó cần được nhân nhanh đáp ứng nhu cầu trồng rừng sản xuất Để có cây giống chất lượng tốt phục vụ trồng rừng, các nước tập trung vào việc sản xuất cây con theo phương pháp nhân giống mô – hom (nuôi cấy mô tế bào và giâm hom) Những khu rừng trồng bằng cây con từ mô - hom đã đạt được độ đồng đều rất cao, duy trì được những đặc tính ưu trội của cây mẹ (sinh trưởng nhanh, năng suất và chất lượng cao) Một số nước như Cộng hoà Nam Phi, Brazin, Trung Quốc đã xây dựng những vườn ươm sản xuất hàng chục triệu cây hom/năm và toàn bộ công việc này được thực hiện trên một dây truyền công nghiệp
1.2.2 Ở Việt Nam
Trong sản xuất Lâm nghiệp, giống và biện pháp kỹ thuật tiên tiến là 2 vấn đề then chốt quyết định đến năng suất và chất lượng rừng Bên cạnh đó kết hợp với việc lựa chọn loài cây phù hợp "Đất nào, cây ấy" sẽ đáp ứng được mục tiêu trong kinh doanh rừng trồng Giống tốt là những giống cho năng suất giá trị cao, ổn định, có khả năng thích ứng cũng như khả năng chống chịu với mọi điều kiện bất lợi của môi trường, biên độ sinh thái rộng, khả năng di truyền và hệ số nhân giống cao Theo các chuyên gia đã khẳng định: Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh, không có
Trang 11Nhờ nghiên cứu theo hướng chọn lọc cây trội, nhân giống và khảo nghiệm giống mà trong thời gian qua nhiều giống keo và bạch đàn năng suất cao đã được công nhận và trồng ở nhiều vùng sinh thái của nước ta Trong đó phải kể đến thành tựu to lớn của các nhà nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng - Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam và Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh – Phú Thọ, họ đã đóng góp cho ngành lâm nghiệp những giống tiến bộ kỹ thuật, giống Quốc gia chất lượng cao, năng suất cao gấp 2 - 3 lần các giống sản xuất đại trà trước đây
Để chọn giống bạch đàn trồng làm nguyên liệu giấy, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh đã thực hiện nghiên cứu các đề tài: Khảo nghiệm loài và xuất xứ bạch đàn (Nguyễn Bửu Kiêm, 1979, nguyễn Quang
Đức, 1985 ); Khảo nghiệm xuất xứ bạch đàn E urophylla (Nguyễn Dương Tài, 1986, 1988, 1989, 1990); Khảo nghiệm xuất xứ bạch đàn E Camaldulensis (Cấn văn Thơ, 1989); Khảo nghiệm dòng dõi bạch đàn
(Huỳnh Đức Nhân, 1989); Khảo nghiệm loài và xuất xứ bạch đàn ở Gia Lai năm (Mai Đình Hồng, 1993); Chọn cây trội và khảo nghiệm dòng vô tính
bạch đàn E urophylla (Huỳnh Đức Nhân, Nguyễn Thái Ngọc, Nguyễn Sỹ
Huống, 1995); Khảo nghiệm loài và xuất xứ bạch đàn tại Đồng Nai (Nguyễn Thái Ngọc, Nguyễn Quang Đức, 1998 ); Xây dựng mô hình rừng trồng một số dòng bạch đàn ưu trội (Nguyễn Thái Ngọc, 2000, Nguyễn Quang Đức, 2001)
Kết quả, qua những khảo nghiệm loài, xuất xứ, chọn lọc cây trội, trồng thâm canh và hoàn thiện công nghệ nhân giống mô, hom cho một số dòng
bạch đàn E urophylla, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh đã
được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận cho một số dòng vô tính như: Dòng PN47, PN21, PN24, PN54, PN108, GU8, PN3d, PN116, PN10 (giống Tiến bộ kỹ thuật) và hai dòng PN2, PN14 (giống Quốc gia), cho phép trồng trên diện rộng ở vùng trung tâm Bắc bộ và những nơi có điều kiện sinh thái tương tự Qua số liệu điều tra của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy: Năng suất bình quân hàng năm của các dòng này đạt từ 17 – 20
m3/ha/năm, có những lô đạt 25 m3/ha/năm, vượt hơn gấp đôi so với những năm 1990 trở về trước (năng suất chỉ từ 8 - 10 m3/ha/năm) (Hoàng Ngọc Hải, Cấn Văn Thơ, 2002)
Trang 125
Từ năm 1979 trở lại đây, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã tiến hành hàng loạt các nghiên cứu tuyển chọn cải thiện giống Nhân giống bạch đàn bằng hom đã được đưa vào chương trình nghiên cứu cải tạo giống, nhiều thí nghiệm đã được thực hiện trong những năm qua nhằm giải quyết một số
khâu cơ bản trong kỹ thuật nhân giống hom Bạch đàn E.urophylla như: việc
nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ, nền giâm, chồi và kiểu hom cũng như việc tìm hiểu khả năng giâm cắm hom vào các thời vụ khác nhau Với những nghiên cứu như vậy, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã thành công trong sản xuất nhân giống bằng phương pháp giâm hom cho các giống bạch đàn, nhất là giống bạch đàn PN14, PN2, PN3d, U6 , đã giải quyết được vấn đề cây giống chất lượng cao phục vụ trồng rừng, góp phần đẩy nhanh diện tích trồng rừng với số lượng lớn bằng cây mô, hom, đưa năng suất rừng vùng trung tâm đạt bình quân 15-20m3/ha/năm, cá biệt có nơi đạt 30m3/ha/năm
Tuy vậy, để có nhiều nguồn giống năng suất, chất lượng cao Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy vẫn liên tiếp thực hiện quá trình nghiên cứu cải thiện và chọn lọc, tạo thêm các giống mới tốt hơn, ưu việt hơn nhằm thỏa mãn nhu cầu giống phục vụ trồng rừng
Các dòng bạch đàn PNCTIV, PNCT3, PNCT4 đã được chọn lọc và đưa vào khảo nghiệm tại Tam Đảo (Vĩnh Phúc) năm 2002, tại Tiên Kiên (Phú Thọ) năm 2005, tại Gia Thanh (Phú Thọ) năm 2006 Kết quả nghiên cứu đã cho thấy các dòng này rất có triển vọng, năng suất sau 36 tháng tuổi đạt từ 25- 35m3/ha/năm vượt so với đối chứng PN14, PN3d và U6) từ 1,5 đến 2 lần (Báo cáo đề tài Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây nguyên liệu giấy: Đoàn Thị Thanh Nga và Trần Duy Hưng năm 2007 - 2008)
Vì vậy, việc “Nghiên cứu kỹ thuật giâm hom và xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao cho 3 dòng bạch đàn đã được chọn lọc: PNCTIV, PNCT3 và PNCT4” là việc làm hết sức cần thiết, góp phần đáp ứng nhu cầu về giống cho
trồng rừng, ổn định và nâng cao năng suất rừng trồng, khuyến cáo cho các đơn
vị và hộ gia đình trồng rừng nhanh chóng áp dụng giống mới vào sản xuất
Thông tin về điều kiện tự nhiên địa điểm thiết lập mô hình rừng trồng các dòng bạch đàn chọn lọc:
Địa điểm 1, tại xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
- Bảo Thanh là xã miền núi của huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, có vị trí địa lý nằm ở vĩ tuyến 21027’ và kinh tuyến 105014’
- Nhiệt độ bình quân năm là 23,10C Lượng mưa trung bình là 1.850 mm/năm, lượng mưa phân bố không đều trong năm, mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 với lượng mưa là 382,5 mm, mưa ít
Trang 13- Đất đai: tổng diện tích đất tự nhiên là 646,64 ha, diện tích đất Lâm nghiệp là 175,0 ha Đất chủ yếu là feralite màu vàng nhạt, không còn tính chất đất rừng, Độ dày tầng đất mỏng, đất hơi ẩm có mầu vàng nhạt, kết cấu chặt, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, không có đá lẫn và đá lộ đầu Đất chua, hàm lượng mùn trung bình (2,48%), hàm lượng các chất dễ tiêu rất thấp Diện tích đất trồng mô hình trước đây đã trồng bạch đàn qua nhiều luân kỳ Nhìn chung điều kiện đất đai, khí hậu nơi đây thích hợp với
loài bạch đàn Eucalytus urophylla và khá điển hình cho toàn vùng
- Thực bì: thực bì hầu như không có, ở dưới chân đồi còn lác đác một vài
cây bụi như sầm xì, sim mua, tế guột và bạch đàn tái sinh chồi
Địa điểm 2, tại xã Tiến Thắng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Vị trí địa lý nằm ở Vĩ tuyến 21007’ và Kinh tuyến 105053’ Tiến Thắng
là xã miền núi nằm trọn trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc Việt Nam, có 2 mùa rõ rệt Nhiệt độ bình quân năm là 23,50C Lượng mưa trung bình là 1.600 mm/năm, phân bố không đều trong năm, mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, độ ẩm không khí bình quân năm là 82%
- Địa hình: bao gồm dải đồi cao có độ dốc lớn từ 20 - 300, có độ cao trung bình so với mặt nước biển 45 - 60 m
- Đất đai: tổng diện tích đất tự nhiên là 2.123,6 ha, diện tích đất Lâm nghiệp 1584,2 ha chiếm 74,6% Loại đất chủ yếu là feralite màu vàng nhạt, độ dày tầng đất mỏng, đất hơi ẩm, kết cấu chặt, thành phần cơ giới từ thịt pha cát đến thịt nặng, tỷ lệ đá lẫn 10 – 15%, đá lộ đầu là 5% Đất chua, hàm lượng mùn nghèo (1,83%), hàm lượng đạm trung bình, hàm lượng các chất dễ tiêu nhiều hơn so với đất ở Bảo Thanh
- Thực bì: thực bì sau khai thác rừng trồng, tế guột, sim mua, cỏ phát triển mạnh
Như vậy, qua việc phân tích thông tin chung về điều kiện tự nhiên các địa điểm trồng rừng mô hình, phần lớn là loại đất phổ biến đại diện cho vùng trong trồng rừng bạch đàn: đất chua, tầng A mỏng, đất khô, nghèo dinh dưỡng vv Do đó, kết quả sự sinh trưởng của các dòng chọn lọc tại đây sẽ là
cơ sở quan trọng trong việc mở rộng rừng trồng sản xuất với các giống có triển vọng ở những vùng đất như vậy sau này
Trang 147
Chương 2 Thực nghiệm 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Theo dõi, đánh giá sinh trưởng, tình hình sâu bệnh các dòng đã được
chon lọc trồng mô hình tại vùng nguyên liệu giấy Trung Tâm (Xã Bảo Thanh - Phù Ninh - Phú Thọ)
2.2.2 Theo dõi, đánh giá sinh trưởng, tình hình sâu bệnh các dòng đã được
chon lọc trồng mô hình tại vùng Đông Bắc bộ (Xã Tiến Thắng - Yên Thế - Bắc Giang)
2.3 Địa điểm, đối tượng, vật liệu nghiên cứu
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm 1, tại xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (mô hình rừng trồng được thiết lập tháng 4 năm 2010, diện tích 3,0ha)
- Địa điểm 2, tại xã Tiến Thắng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (mô hình rừng trồng được thiết lập tháng 4 năm 2011, diện tích 3,0ha)
2.3.2 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
- Là các dòng bạch đàn có triển vọng được Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy chọn và nhân giống Các dòng cây chọn lần lượt được ký hiệu là: PNCTIV, PNCT3, PNCT4
- Vật liệu nghiên cứu gồm các dòng chọn lọc là: PNCTIV, PNCT3, PNCT4 và giống đối chứng là PN14 (giống Quốc gia) Các dòng này được dẫn từ rừng trồng bảo tồn và lưu giữ nguồn Gen cây nguyên liệu giấy của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy được sản xuất bằng phương pháp nhân giống vô tính
Trang 15về lập địa là tương đối đồng nhất, diện tích đủ lớn để trồng các dòng chọn lọc
và dòng đối chứng Trong khối (lặp) được chia thành 4ô, 4 dòng bạch đàn
được bố trí trồng riêng rẽ theo 4ô (xem sơ đồ phụ lục 03 và 04)
- Trong mỗi ô bố trí các ô tiêu chuẩn cố định để theo dõi lâu dài Ô tiêu chuẩn hình chữ nhật, có diện tích 270m2 gồm 36 cây (6 hàng x 6 cây) Mỗi
dòng thiết lập 4 ô tiêu chuẩn để thu thập số liệu
- Kỹ thuật trồng rừng:
+ Mật độ rừng trồng là 1.333 cây/ha Cự li trồng hàng cách hàng = 3 mét, cây cách cây = 2,5m Kích thước hố trồng 40 x 40 x 40 cm
+ Phân bón dùng cho trồng rừng là phân tổng hợp NPK (10:5:5) và phân chuồng hoai, cụ thể như sau: bón lót 3,0 kg phân chuồng hoai + 0,2 kg phân NPK/cây, năm thứ 2 có bón thúc 0,2 kg phân NPK/cây
+ Kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trồng theo Quy trình trồng rừng thâm canh thủ công của Tổng công ty Giấy Việt Nam ban hành
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Trong ô tiêu chuẩn, các chỉ tiêu thu thập để đánh giá là: Tỷ lệ sống, đường kính thân cây (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán (Dt), độ thẳng thân cây, cấp sinh trưởng, tình hình sâu, bệnh hại
- Tỷ lệ sống: đếm các cây còn sống trong ô tiêu chuẩn
- Đường kính thân cây (D1.3): đo tại vị trí cách mặt đất 1,3m, đo bằng thước kẹp kính (độ chính xác đến mm)
- Chiều cao vút ngọn (Hvn): đo từ sát mặt đất tới đỉnh ngọn sinh trưởng,
đo bằng thước Sào (sào bằng tre, nứa: có khắc các giá trị đo) (độ chính xác đến cm)
- Đường kính tán (Dt): đo chiều rộng tán bằng thước mét, đo chiều rộng tán ở hai hướng Đông – Tây và Nam – Bắc sau đó lấy trị số trung bình cộng của hai chiều tán để đánh giá
- Đánh giá theo cấp sinh trưởng của cây: Được chia làm 3 cấp như sau: Cấp I : Cây sinh trưởng tốt, sức sống tốt, không sâu, bệnh
Cấp II: Cây sinh trưởng bình thường
Trang 169
Cấp III: Cây sinh trưởng chậm, sức sống kém, bị sâu hoặc bệnh
làm ảnh hưởng đến sức sinh trưởng
- Đánh giá độ thẳng thân cây: Được phân làm 3 cấp như sau:
Cấp I : Thân cây thẳng
Cấp II: Thân cây có một vài chỗ hơi cong, nhưng đường trục thẳng
từ ngọn tới gốc chưa vượt ra ngoài giới hạn thân cây
Cấp III: Thân cây rất cong, đường trục thẳng từ gốc đã vượt ra
ngoài giới hạn thân cây
- Đánh giá và phân cấp sâu, bệnh hại: Được xác định theo tỷ lệ bị bệnh
cho các giống (tỷ lệ bị bệnh: là tỷ số % số cây bị sâu, bệnh trên tổng số
cây điều tra) được phân theo 5 cấp sau:
- Số liệu được thu thập định kỳ một năm một lần vào cuối mùa sinh
Hệ số biến động là chỉ tiêu biểu thị mức độ biến động bình quân của
dãy trị số quan sát, chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức độ đồng đều của cây
Trang 173 ,
1 H f m D
V c = Π
V c : Thể tích trung bình của cây
2 3 , 1
D : Đường kính trung bình của cây
H : Chiều cao trung bình của cây
- Lượng tăng trưởng bình quân năm: ∆M = M/A (m3/ha/năm)
Trong đó: ∆M: lượng tăng trưởng bình quân hàng năm
M : là trữ lượng cây đứng trên một ha
A : là tuổi của cây trồng
- Số liệu sau khi thu thập được xử lý và phân tích theo phương pháp
thống kê trong lâm nghiệp; (Phân tích phương sai Anova: - Kiểm tra
sinh trưởng của các dòng bạch đàn tại các địa điểm thí nghiệm)
Trang 1811
Chương 3 Kết quả và bình luận 3.1 Theo dõi, đánh giá sinh trưởng, tình hình sâu bệnh các dòng đã
được chon lọc trồng mô hình tại vùng nguyên liệu giấy Trung Tâm (Xã Bảo Thanh - Phù Ninh - Phú Thọ)
3.1.1 Tỷ lệ sống
Các dòng bạch đàn ở giai đoạn 7 tháng tuổi (năm 2010) đạt tỷ lệ sống
rất cao trung bình trên 98,6%, đến thời điểm 18 tháng tuổi (năm 2011) tỷ lệ sống giảm đi đáng kể và ở thời điểm 30 tháng tuổi (năm 2012) tỷ lệ sống chỉ còn giảm ở dòng PNCTIV và PN14
Bảng 1: Tỷ lệ sống các dòng bạch dàn 30 tháng tuổi tại Bảo Thanh-Phú Thọ
STT Dòng
TLS năm
2010 (7 tháng tuổi) (%)
TLS năm
2011 ( 18 tháng tuổi) (%)
TLS năm
2012 ( 30 tháng tuổi) (%)
TLS năm
2011 giảm
so với ở 7 tháng tuổi (%)
TLS năm
2012 giảm
so với ở 18 tháng tuổi (%)
Nguyên nhân làm tỷ lệ sống của các dòng giảm đi chủ yếu là do ảnh hưởng của thiên tai (bão, lốc) vào thời điểm tháng 8/2011 đã gây đổ gãy và lướt cây Trong khi đó dòng Bạch đàn PN14 tỷ lệ sống giảm 6,9% được xác định nguyên nhân chủ yếu là do bị chết bởi loại bệnh héo do vi khuẩn hoặc bệnh héo ngọn bạch đàn gây nên
Tuy nhiên, tỷ lệ sống hiện tại thời điểm 30 tháng tuổi của khu rừng trồng các dòng đều đạt trên 86%, đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ thành rừng theo quy định
Trang 1912
3.1.2 Sinh trưởng
Ở thời điểm 18 tháng tuổi (năm 2011), sinh trưởng đường kính và chiều cao ở 3 dòng bạch đàn chọn là có sự sai khác rõ rệt xo với dòng đối chứng PN14, trong đó dòng PNCT3 có sinh trưởng: đường kính 7,95cm, chiều cao vút ngọn 9,16m Dòng PNCT4 có sinh trưởng: đường kính 7,73cm, chiều cao vút ngọn 9,60m Dòng PNCTIV có sinh trưởng: đường kính 7,58cm, chiều cao 9,0m Dòng PN14 có sinh trưởng thấp nhất về cả đường kính và chiều cao vút ngọn với đường kính đạt 6,98cm và chiều cao vút ngọn đạt 6,86m
Hình 01 Sinh trưởng các dòng bạch đàn 18 tháng tuổi tại BT-PT
Kết quả bảng 2 cho thấy, ở thời điểm 30 tháng tuổi sinh trưởng về đường kính thân cây tại vị trí 1.3m (D1.3) và chiều cao vút ngọn (Hvn) giữa các dòng bạch đàn là có khác nhau Tuy nhiên, để kiểm tra sự sai khác có ý nghĩa hay không, sử dụng tiêu chuẩn Anova – phân tích phương sai một nhân tố và
phân nhóm về đường kính và chiều cao theo tiêu chuẩn Ducan ( phụ lục 1.4
và 1.5 ) cho thấy, sinh trưởng đường kính và chiều cao ở 3 dòng chọn lọc là
có sự sai khác rõ rệt so với dòng đối chứng, trong đó:
Dòng PNCT3 có sinh trưởng về đường kính và chiều cao lớn nhất, sinh trưởng đường kính (D1.3) đạt 9,24cm, sinh trưởng về chiều cao vút ngọn (Hvn) đạt 13,2m
Dòng PNCT4 có sinh trưởng về đường kính lớn thứ 3 đạt 8,81cm, sinh trưởng về chiều cao vút ngọn đứng thứ hai đạt 12,8m
Trang 2013
Dòng PNCTIV có sinh trưởng về đường kính đứng thứ hai đạt 8,96 cm
và chiều cao đạt 12,5m đứng thứ ba
Dòng PN14 vẫn có sinh trưởng thấp nhất về cả đường kính và chiều cao vút ngọn với đường kính đạt 8,42cm và chiều cao vút ngọn đạt 11,0 m
Bảng 2: Sinh trưởng các dòng bạch đàn 30 tháng tuổi (năm 2012)
tại Bảo Thanh - Phú Thọ
Đánh giá về hệ số biến động cho thấy dòng bạch đàn dòng PN14 có hệ
số biến động lớn nhất về cả đường kính và chiều cao (hệ số biến động tương ứng lần lượt là 13,53% và 13,19%) Các dòng bạch đàn PNCT3, PNCT4 và PNCTIV có hệ số biến động tương đối thấp, hệ số biến động về đường kính ở
ba dòng bạch đàn này lần lượt là PNCT3 (8,25%), PNCT4 (9,38%) và PNCTIV (9,48%) Biến động về chiều cao của 3 dòng bạch đàn chọn lọc có
sự phân hóa nhỏ, dòng PNCT3 có hệ số biến động về chiều cao thấp nhất (3,76%), PNCT4 (5,28%) dòng PNCTIV (6,68%) Như vậy, xét về mức độ đồng đều của rừng trồng các dòng bạch đàn cho thấy: rừng trồng 3 dòng bạch đàn chọn lọc có độ đồng đều cao hơn rừng trồng dòng bạch đàn PN14
3.1.3 Đánh giá về thể tích thân cây và năng suất rừng trồng mô hình
Tại thời điểm 18 tháng tuổi (năm 2011), kết quả đánh giá về thể tích thân cây và năng suất rừng, dòng PN14 (đối chứng) có thể tích thân cây và năng suất rừng trồng thấp nhất với thể tích thân cây trung bình đạt 13,58 dm3
và năng suất rừng trồng đạt 11,38 m3/ha/năm Các dòng chọn lọc PNCTIV, PNCT3 và PNCT4 đều có thể tích thân cây cũng như năng suất rừng trồng vượt trội hơn so với dòng đối chứng Hai dòng PNCTIV và PNCT3 có độ vượt về năng suất so với dòng PN14 là tương đương nhau, lần lượt đạt 156%
và 155% (tương đương với năng suất lần lượt là 17,79 m3/ha/năm và 17,67
Trang 2114
m3/ha/năm) Dòng PNCT4 đạt năng suất 19,48 m3/ha/năm, độ vượt so với dòng đối chứng là 171%
Bảng 3: Thể tích thân cây trung bình và năng suất rừng trồng các dòng bạch
đàn 30 tháng tuổi (năm 2012) ở Bảo Thanh - Phú Thọ
STT Dòng
Mật độ cây sống/ha (cây)
Vcây (dm 3 )
và năng suất rừng trồng đạt 15,1 m3/ha/năm
Dòng Bạch đàn PNCT3 có thể tích thân cây 44,2 dm3, năng suất rừng trồng đạt 20,5 m3/ha/năm, có độ vượt so với dòng đối chứng về thể tích thân cây là 45%
Dòng Bạch đàn PNCIV có thể tích thân cây 39,4 dm3, năng suất rừng trồng đạt 19,8 m3/ha/năm, có độ vượt so với dòng đối chứng về thể tích thân cây là 29%
Dòng Bạch đàn PNCT4 có thể tích thân cây 39,0 dm3, năng suất rừng trồng đạt 20,1 m3/ha/năm, có độ vượt so với dòng đối chứng về thể tích thân cây là 27%
Như vậy xét về thể tích thân cây tại thời điểm 30 tháng tuổi các dòng chọn lọc cho năng suất vượt trội so với dòng đối chứng là 134%
Trang 2215
3.1.4 Đánh giá chất lượng rừng trồng
Bảng 4: Chất lượng rừng trồng và độ thẳng thân cây giữa các dòng bạch đàn
30 tháng tuổi (năm 2012) ở Bảo Thanh - Phú Thọ
Cấp sinh trưởng (%) Độ thẳng thân cây (%) STT Dòng TLS (%)
Cấp 1 (tốt)
Cấp 2 (trung bình)
Cấp 3 (xấu)
Cấp 1 (thẳng)
Cấp 2 (hơi cong)
Cấp 3 (cong)
Chất lượng rừng trồng và các chỉ tiêu về sinh trưởng đạt được như đã bình luận ở trên sẽ là tiền đề cho cây trồng tăng trưởng trong những năm tiếp theo đạt năng suất như mục tiêu mong muốn
3.1.5 Đánh giá tình hình sâu, bệnh hại
Các dòng bạch đàn: PNCTIV, PNCT3 và PNCT4 trồng tại Bảo Thanh
ở giai đoạn 30 tháng tuổi chưa thấy sâu, bệnh xuất hiện Riêng dòng Bạch đàn PN14 không thấy xuất hiện sâu hại, nhưng đã bị bệnh hại Một số cây đã bị chết hoặc đã bị hại ở cành, ngọn đang khô héo Đây là một loại bệnh hại đã được xác định với dòng Bạch đàn PN14, đó là bệnh: bệnh hại thân cành có tên bệnh héo do vi khuẩn (Bộ NN & PTNT 2006) hoặc bệnh héo ngọn bạch
đàn (Phạm Quang Thu 2006) Tác nhân gây bệnh: do vi khuẩn Ralstonia Solanacearum (Yabuuchi et al 1995)Smit gây nên Tuy nhiên mức độ bị hại
rất nhỏ (Tỷ lệ sống giảm 2% trên toàn diện tích trồng dòng Bạch đàn PN14), những cây bị bệnh đã được xử lý chặt bỏ và mang đốt
Trang 2316
3.2 Theo dõi, đánh giá sinh trưởng, tình hình sâu bệnh các dòng đã
được chon lọc trồng mô hình tại vùng Đông Bắc bộ (Xã Tiến Thắng
- Yên Thế - Bắc Giang)
3.2.1 Tỷ lệ sống
Tại thời điểm 7 tháng tuổi (năm 2011), tỷ lệ sống của rừng trồng các dòng bạch đàn đều đạt rất cao Ba dòng PN14, PNCTIV và PNCT4 đều đạt 94,44%, dòng PNCT3 đạt 93,06% Điều đó cho thấy, giai đoạn đầu cả 4 dòng bạch đàn trồng thí nghiệm đều thích nghi và phù hợp với điều kiện lập địa, khí hậu nơi trồng rừng
Bảng 5: Tỷ lệ sống rừng trồng các dòng bạch đàn 18 tháng tuổi (năm 2012)
ở Yên Thế - Bắc Giang ơ
STT Dòng
TLS năm 2011 (7 tháng tuổi) (%)
TLS năm 2012 (18 tháng tuổi) (%)
TLS năm 2012 giảm so với ở 7 tháng tuổi (%)
Kết quả ở bảng 5 cho thấy tỷ lệ sống của rừng trồng các dòng bạch đàn
ở thời điểm 18 tháng tuổi đã có sự biến động so với ở thời điểm 7 tháng tuổi Dòng có tỷ lệ sống giảm mạnh nhất là dòng PNCT3 (9,8%), tiếp đó là dòng PNCT4 (7,4%), dòng PNCTIV và PN14 có tỷ lệ sống giảm thấp chỉ (0,9%)
Nguyên nhân làm tỷ lệ sống của các dòng giảm đi chủ yếu là do ảnh hưởng của thiên tai (bão, lốc) đã gây đổ gãy và lướt cây không thể khắc phục được Tuy vậy, tỷ lệ sống hiện tại thời điểm 18 tháng tuổi của khu rừng trồng đạt trên 89%, đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ thành rừng theo quy định
3.2.2 Sinh trưởng
Năm 2011, ở thời điểm sau trồng 7 tháng tuổi, kết quả đánh giá sinh trưởng về đường kính và chiều cao vút ngọn rừng trồng các dòng bạch đàn ở Yên Thế - Bắc Giang, trong đó: Sinh trưởng đường kính D1.3 đứng đầu là dòng PNCT3 (3,43cm), tiếp đó là dòng PNCTIV (3,20cm), dòng PNCT4 (2,89cm) và dòng PN14 (2,42cm) Sinh trưởng chiều cao Hvn đứng đầu là
Trang 2417
dòng PNCT4 (4,64m), PNCT3 (4,31m), PNCTIV (4,26m) sau cùng là dòng PN14 (3,67m)
Hình 02 Sinh trưởng các dòng bạch đàn 7 tháng tuổi ở YT- BG
Kết quả đánh giá sinh trưởng về đường kính thân cây tại vị trí 1.3m (D1.3) và chiều cao vút ngọn (Hvn) rừng trồng các dòng bạch đàn ở Yên Thế
- Bắc Giang thời điểm 18 tháng tuổi được thể hiện trong bảng 6 cho thấy:
Dòng PN14 có sinh trưởng đường kính (D1.3) trung bình 6,44cm và chiều cao vút ngọn 7,3m
Dòng PNCTIV có sinh trưởng đường kính (D1.3) trung bình 6,97cm và chiều cao vút ngọn 9,4m
Dòng PNCT3 có sinh trưởng đường kính (D1.3) trung bình 7,54cm và chiều cao vút ngọn 9,3m
Dòng PNCT4 có sinh trưởng đường kính (D1.3) trung bình 6,91cm và chiều cao vút ngọn 9,4m
Kiểm tra sự sai khác về đường kính và chiều cao của các dòng bạch đàn , tiến hành sử dụng phần mềm phân tích thống kê SPSS16.0, kết quả phân tích
đã cho thấy: sinh trưởng của đường kính và chiều cao ở 4 dòng bạch đàn là
có sự sai khác rõ rệt (xác xuất F của cả đường kính gốc và chiều cao nhỏ hơn 0.05) Kết quả phân nhóm về đường kính và chiều cao theo tiêu chuẩn Ducan
được thể hiện trong (phụ lục 2.4 và 2.5) Kết quả phân nhóm về đường kính
gốc, dòng PNCT3 có đường kính lớn nhất thuộc nhóm 3, dòng PNCTIV, PNCT4 thuộc nhóm 2, dong PN14 có đường kính nhỏ nhất thuộc nhóm 1 Kết quả phân nhóm về chiều cao vút ngọn cho thấy, 3 dòng chọn lọc có chiều cao
Trang 2518
vút ngọn tương đương nhau thuộc nhóm 2, dòng PN14 có chiều cao vút ngọn thấp hơn thuộc nhóm 1
Bảng 6: Sinh trưởng các dòng bạch đàn 18 tháng tuổi (năm 2012)
tại Yên Thế – Bắc Giang
về chiều cao có hệ số biến động giữa các dòng là 8,19% Như vậy, xét về mức
độ đồng đều thì sinh trưởng về chiều cao có sự đồng đều hơn sinh trưởng về đường kính, trong đó sinh trưởng đồng đều nhất là dòng PNCTIV, sau đó là dòng PNCT3, PNCT4 và PN14
3.2.3 Đánh giá về thể tích thân cây và năng suất rừng trồng mô hình
Theo Lê Đình Khả việc tính thể tích thân cây từ tuổi 1 đến tuổi 3 chưa
rõ ràng khi chưa xác định chính xác hình số của nó ta có thể dùng chỉ số sinh trưởng (Iv = D2*H) để so sánh thân cây trong thí nghiệm Tại thời điểm 7 tháng tuổi (năm 2011), chỉ số Iv của các dòng bạch đàn biểu hiện sự chênh khá rõ ràng, đứng đầu về chỉ số Iv là dòng PNCT3 (116,5), kế tiếp là dòng PNCT4 (81,97) sau đó là dòng PNCTIV (77,56), dòng PN14 (67,47) Độ vượt
so với dòng đối chứng PN14 đứng đầu là dòng PNCT3(73%),sau đó là dòng dòng PNCT4 (21%) và dòng PNCTIV (15%) Trung bình về Iv các dòng chọn lọc vượt đối chứng 36%
Trang 26Vcây (dm 3 )
M/ha (m3)
∆M (m 3 /ha/năm)
Độ vượt
về Vcây (%)
Dòng Bạch đàn PNCT3 có thể tích thân cây 20,8 dm3, năng suất rừng trồng đạt 15,4 m3/ha/năm, có độ vượt so với dòng đối chứng về thể tích thân cây là 75%
Dòng Bạch đàn PNCIV có thể tích thân cây 17,9 dm3, năng suất rừng trồng đạt 14,9 m3/ha/năm, có độ vượt so với dòng đối chứng về thể tích thân cây là 51%
Dòng Bạch đàn PNCT4 có thể tích thân cây 17,6 dm3, năng suất rừng trồng đạt 13,6 m3/ha/năm, có độ vượt so với dòng đối chứng về thể tích thân cây là 48%
Như vậy xét về thể tích thân cây tại thời điểm 18 tháng tuổi các dòng chọn lọc cho năng suất vượt trội so với dòng đối chứng 58 %.
Trang 2720
3.2.4 Đánh giá chất lượng rừng trồng
Bảng 8: Chất lượng rừng trồng và độ thẳng thân cây giữa các dòng bạch đàn
18 tháng tuổi (năm 2012) ở Yên Thế – Bắc Giang
Cấp sinh trưởng (%) Độ thẳng thân cây (%) STT Dòng TLS (%)
Cấp 1 (tốt) (trung bình)Cấp 2 Cấp 3(xấu) (thẳng) Cấp 1 (hơi cong) Cấp 2 (cong)Cấp 3
3.2.5 Đánh giá tình hình sâu, bệnh hại
Các dòng bạch đàn: PNCTIV, PNCT3, PNCT4 và PN14 trồng tại xã
Tiến Thắng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, ở giai đoạn mới trồng thấy xuất hiện sâu cuốn lá trên toàn diện tích xong mật độ rất thấp, tỷ lệ gây hại không đáng kể và chỉ trong thời gian ngắn Tại thời điểm 18 tháng tuổi, tình hình rừng sinh trưởng và phát triển tốt và không có sâu bệnh hại
Trang 2821
Chương 4 Kết luận và kiến nghị 4.1 Kết luận
Năm 2012, đề tài đã thực hiện đầy đủ các nội dung công việc như trong đề cương nghiên cứu Kết quả đã đạt được như sau:
1 Chăm sóc, bón phân và bảo vệ được 6,0 ha rừng trồng mô hình các
dòng chọn lọc
2 Mô hình rừng trồng các dòng chọn lọc tại Bảo Thanh - Phú Thọ, ở thời
điểm 30 tháng tuổi (năm 2012):
- Tỷ lệ sống đạt trên 85%, sinh trưởng tốt, diện tích rừng trồng 3,0 ha có
chất lượng rừng đồng đều
- Các dòng chọn lọc sinh trưởng tốt và vượt trội về năng suất, chất lượng
rừng trồng so với dòng đối chứng (PN14), cụ thể như sau:
Dòng PNCT3: Sinh trưởng chiều cao vút ngọn đạt 13,2m, đường kính (D1.3) 9,24cm, thể tích thân cây 44,2dm3, năng suất rừng trồng 20,5m3/ha/năm, độ vượt về thể tích thân cây so với đối chứng 45%
Dòng PNCTIV: Sinh trưởng chiều cao vút ngọn đạt 12,5m, đường kính (D1.3) 8,96cm, thể tích thân cây 39,4dm3, năng suất rừng trồng 19,8m3/ha/năm, độ vượt về thể tích thân cây so với đối chứng 29%
Dòng PNCT4: Sinh trưởng chiều cao vút ngọn đạt 12,8m, đường kính (D1.3) 8,81cm, thể tích thân cây 39,0dm3, năng suất rừng trồng 20,1m3/ha/năm, độ vượt về thể tích thân cây so với đối chứng 27%
3 Mô hình rừng trồng các dòng chọn lọc tại Yên Thế - Bắc Giang, ở thời
điểm 18 tháng tuổi (năm 2012):
- Tỷ lệ sống đạt trên 85% Sinh trưởng tốt, diện tích rừng trồng 3,0 ha có chất lượng rừng đồng đều, không bị sâu bệnh hại
- Các dòng chọn lọc sinh trưởng vượt trội hơn so với dòng đối chứng (PN14):
Dòng PNCT3: Sinh trưởng chiều cao vút ngọn đạt 9,3m, đường kính (D1.3) 7,54cm, thể tích thân cây 20,8dm3, năng suất rừng trồng 15,4m3/ha/năm, độ vượt về thể tích thân cây so với đối chứng 75%
Dòng PNCTIV: Sinh trưởng chiều cao vút ngọn đạt 9,4m, đường kính (D1.3) 6,97cm, thể tích thân cây 17,9dm3, năng suất rừng trồng 14,9m3/ha/năm, độ vượt về thể tích thân cây so với đối chứng 51%
Dòng PNCT4: Sinh trưởng chiều cao vút ngọn đạt 9,4m, đường kính (D1.3) 6,91cm, thể tích thân cây 17,6dm3, năng suất rừng trồng 13,6m3/ha/năm, độ vượt về thể tích thân cây so với đối chứng 48%
Trang 3023
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 FRC: Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ giai đoạn 2000 – 2005, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, 2006
2 Nguyễn Quang Đức: Khảo nghiệm các dòng bạch đàn vô tính trên diện rộng làm cơ sở mở rộng nguồn giống cung cấp giống gốc cho các đơn
5 Lê Đình Khả: Nghiên cứu sử dụng giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng
và keo lá chàm ở Việt Nam Viện KHLN, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, 1999
6 Huỳnh Đức Nhân: Chương trình cảitạo giống các loài cây trồng rừng nguyên liệu giấy FRC - 2002
7 Huỳnh Đức Nhân, Nguyễn Sỹ Huống, Nguyễn Thái Ngọc: Chọn và khảo nghiệm dòng vô tính cho một số loài cây nguyên liệu giấy FRC -
10 Phạm Văn Tuấn: Nhân giống cây rừng bằng hom thành tựu và khả năng
áp dụng ở Việt Nam, (Hà Nội 1997, 30 trang)
11 Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình: Khai thác và sử dụng SPSS để
xử lý số liệu nghiên cứu trong lâm nghiệp 2005
12 Lưu Đức Thống: Nghiên cứu diễn biến sâu, bệnh hại rừng trồng bạch đàn, keo tai tượng tại vùng nguyên liệu giấy Vĩnh Phú FRC - 1998
Trang 31BỘ CÔNG THƯƠNG TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: KS TRIỆU HOÀNG SƠN
PHÚ THỌ, NĂM 2012
Trang 32BỘ CÔNG THƯƠNG TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GIÂM HOM VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRỒNG RỪNG NĂNG SUẤT CAO CHO 3 DÒNG
BẠCH ĐÀN ĐÃ ĐƯỢC CHỌN LỌC PNCTIV, PNCT3 và PNCT4
(Thực hiện theo hợp đồng số: 137.12.RD HĐ-KHCN ngày 29 tháng 3 năm 2012 giữa Bộ Công Thương với Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy)
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI KS TRIỆU HOÀNG SƠN
CỘNG TÁC VIÊN KS VŨ THỊ LAN
Th S HÀ NGỌC ANH
Th S TRẦN HỮU CHIẾN
PHÚ THỌ, NĂM 2012
Trang 33PHỤ LỤC:
Phụ lục 1 Kết quả phân tích thống kê đánh giá sự sai khác về các chỉ tiêu sinh
trưởng rừng trồng mô hình các dòng bạch đàn 30 tháng tuổi ở Bảo Thanh – Phú Thọ
Phụ lục 1.1: Bảng thống kê mô tả
Descriptives cây Số Trung bình
Sai tiêu chuẩn
Sai tiêu chuẩn mẫu
Giới hạn dưới
Giới hạn trên
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
Std
Deviat ion
Std
Error Lower Bound Bound Upper mum Mini Maximum PNCTIV 137 89.61 8.50 0.73 88.2 91.0 65.0 111.0 PNCT3 125 92.42 7.62 0.67 91.1 93.8 70.0 110.0 PNCT4 139 88.12 8.26 0.70 86.7 89.5 68.0 106.0 PN14 133 84.24 11.40 0.99 82.3 86.2 46.0 110.0
Trang 34Phụ lục 1.2: Kiểm tra phương sai các công thức thí nghiệm
Test of Homogeneity of Variances