Họ và tên mssvNguyễn Thị Huyền 20104714 Nghiêm Đình Long 20106195 Phần 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH A/ Tình hìnhkinh tế của tỉnh Bắc Ninh 1/ Tổng quan bắc ninh 1.1Vị trí địa
Trang 1Họ và tên mssv
Nguyễn Thị Huyền 20104714
Nghiêm Đình Long 20106195
Phần 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH
A/ Tình hìnhkinh tế của tỉnh Bắc Ninh
1/ Tổng quan bắc ninh
1.1)Vị trí địa lí
Bắc Ninh là một cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu
đời Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam
giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ có các hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như quốc lộ 1A nối Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn; Đường cao tốc 18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng; Trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc; Mạng đường thủy sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình rất thuận lợi nối Bắc Ninh với
hệ thống cảng sông và cảng biển của vùng tạo cho Bắc Ninh là địa bàn mở gắn với phát triển của thủ đô Hà Nội, theo định hướng xây dựng các thành phố vệ tinh và sự phân bố công nghiệp của Hà Nội Đây là những yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế
- xã hội và giao lưu của Bắc Ninh với bên ngoài
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng và là một trong 8 tỉnh thuộc vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh
tế mạnh của cả nước, tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Là cửa ngõ phía Đông Bắc và là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung du miền núiphía Bắc và trên hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long và có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng
Thành phố Bắc Ninh chỉ cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 30 km, cách sân bay Quốc
tế Nội Bài 45 km, cách Hải Phòng 110 km Vị trí địa kinh tế liền kề với thủ đô Hà Nội, trung tâm kinh tế lớn, một thị trường rộng lớn hàng thứ hai trong cả nước, có sức cuốn hút toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, giá trị lịch sử văn hoá, đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất
Trang 2nước Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh về nông - lâm - thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ Bắc Ninh cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh, là mạng lưới gia công cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá.Với vị trí địa kinh tế thuận lợi sẽ là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong những tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xãhội và thúc đẩy quá trình đô thị hoá của tỉnh Bắc Ninh Xét trên khía cạnh cấu trúc hệ thống đô thị và các điểm dân cư của tỉnh thì các đô thị Bắc Ninh sẽ dễ trở thành một hệ thống hoà nhập trong vùng ảnh hưởng của thủ đô Hà Nội và có vị trí tương tác nhất định với hệ thống đô thị chung toàn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Huyện Tiên Du: 1 thị trấn và 13 xã
Huyện Yên Phong: 1 thị trấn và 13 xã
Tổng cộng Bắc Ninh có 126 xã, phường và thị trấn
1.3) Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và dân số
1.3.1.Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
- Về khí hậu Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và
không khác biệt nhiều so với các tỉnh lân cận của đồng bằng sông Hồng Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các vùng rau, hoa quả, chăn nuôi, tạo ra giá trị lớn trên một đơn vị diện tích
- Về địa hình - địa chất Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ
yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ
Trang 3về sông Đuống và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7 m, địa hình trung du đồi núi có độ cao phổ biến 300 - 400 m Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở 2 huyện Quế Võ và Tiên Du Ngoài ra còn một số khu vực thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ, Yên Phong Đặc điểm địa chất mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất thuộc vùng trũng sông Hồng, bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của cấu trúc mỏng.
Với đặc điểm này địa chất của tỉnh Bắc Ninh có tính ổn định hơn so với Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng Bắc Bộ khác trong việc xây dựng công trình Bên cạnh đó cómột số vùng trũng nếu biết khai thác có thể tạo ra cảnh quan sinh thái đầm nước vào mùa mưa để phục vụ cho các hoạt động văn hoá và du lịch
- Về đặc điểm thuỷ văn Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ
lưới sông khá cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km2, có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình
Sông Đuống: Có chiều dài 42 km nằm trên đất Bắc Ninh, tổng lượng nước bình quân 31,6 tỷ m3 Mực nước cao nhất tại bến Hồ tháng 8/1945 là 9,64m, cao hơn so với mặt ruộng là 3 - 4 m Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao, vào mùa mưa trung bình
cứ 1 m3 nước có 2,8 kg phù sa
Sông Cầu: Tổng chiều dài sông Cầu là 290 km với đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 70 km, lưu lượng nước hàng năm khoảng 5 tỷ m3 Sông Cầu có mực nước trong mùa lũ cao từ 3 - 6 m, cao nhất là 8 m, trên mặt ruộng 1 - 2 m, trong mùa cạn mức nước sông lại xuống quá thấp ( 0,5 - 0,8 m )
Sông Thái Bình: thuộc vào loại sông lớn của miền Bắc có chiều dài 385 km, đoạn chảyqua tỉnh Bắc Ninh dài 17 km Do phần lớn lưu vực sông bắt nguồn từ các vùng đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị sói mòn nhiều nên nước sông rất đục, hàm lượng phù sa lớn Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy nông nên sông Thái Bình là một trong những sông bị bồi lấp nhiều nhất Theo tài liệu thực đo thì mức nước lũ lụt lịch sử sông Thái Bình đo được tại Phả Lại năm 1971 đạt tới 7,21 m với lưu lượng lớn nhất tại Cát Khê là 5000 m3/s
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình
Với hệ thống sông này nếu biết khai thác trị thuỷ và điều tiết nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tiêu thoát nước của tỉnh Trong khi đó tổng lưu lượng nước mặt của Bắc Ninh ước khoảng 177,5 tỷ m3, trong đó lượng nước chủ yếu chứa trong các sông là 176 tỷ m3; được đánh giá là khá dồi dào Cùng với kết quả thăm dò
Trang 4địa chất cho thấy trữ lượng nước ngầm cũng khá lớn, trung bình 400.000 m3/ngày, tầngchứa nước cách mặt đất trung bình 3-5 m và có bề dày khoảng 40 m, chất lượng nước tốt Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục vụ chung cho cả sản xuất và sinh hoạt trong toàn tỉnh, trong đó có các hoạt động của đô thị.
- Tài nguyên rừng: Tài nguyên rừng của Bắc Ninh không lớn, chủ yếu là rừng
trồng Tổng diện tích đất rừng khoảng 619,8 ha, phân bố tập trung ở Tiên Du, thành phố Bắc Ninh và Quế Võ
- Tài nguyên khoáng sản: Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, ít về
chủng loại, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở Quế Võ và Tiên Du, đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh, đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh, đá sa thạch ở
Vũ Ninh - Bắc Ninh có trữ lượng khoảng 300.000 m3 Ngoài ra còn có than bùn ở Yên
Phong với trữ lượng 60.000 - 200.000 tấn - Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất
tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 822,71 km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm 53,12%, đất nuôi trồng thủy sản chiếm 6,16%, đất lâm nghiệp chiếm 0,75%, đất chuyên dùng và đất
ở chiếm 39,2%, đất chưa sử dụng còn 0,77%
- Tài nguyên nhân văn, du lịch
Bắc Ninh có tiềm năng văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Miền đất Kinh Bắcxưa là vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương của Kinh Dương Vương, Lý Bát Đế, nơi hội tụ của kho tàng văn hóa nghệ thuật đặc sắc với những làn điệu Quan họ trữ tình đằm thắm đã được UNESCO công nhân là Di sản phi vật thể đại diện của Nhân loại, dòng nghệ thuật tạo hình, tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng Con người Bắc Ninh mangtrong mình truyền thống văn hóa Kinh Bắc, mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghềnhư tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, vẽ tranh dân gian cộng với nhiều cảnh quan đẹp là tiềm năng lớn để phát triển du lịch văn hóa, lễ hội, du lịch sinh thái, dulịch thắng cảnh, du lịch làng nghề, du lịch làng Việt cổ
Các di tích lịch sử văn hoá Bắc Ninh có rất nhiều các di tích lịch sử, văn hoá, mật độ
phân bố các di tích chỉ đứng sau Thủ đô Hà Nội Tính đến 31/12/2010, toàn tỉnh có 408
di tích lịch sử, văn hoá được cấp bằng công nhận di tích cấp Quốc gia và cấp địa
phương Các địa phương tập trung nhiều di tích lịch sử xếp hạng quốc gia là Từ Sơn, Yên Phong, thành phố Bắc Ninh, Tiên Du
Bắc Ninh có nhiều di tích có giá trị lịch sử văn hoá quan trọng không chỉ trong phạm vi tỉnh mà có ý nghĩa quốc gia, quốc tế như: Đền Đô, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích, chùa Dạm, Văn Miếu
Trang 5Lễ hội truyền thống Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý
trong năm được duy trì Trong đó có những lễ hội có ý nghĩa đặc biệt và có tầm ảnh hưởng lớn như: Hội chùa Dâu, hội Lim, hội đền Đô, hội đền Bà Chúa Kho
Tất cả các lễ hội mang đậm nét đặc trưng cho lễ hội cổ truyền của vùng Kinh Bắc độc đáo, đặc sắc mang nhiều bí ẩn tín ngưỡng về những đấng thần linh, anh hùng dân tộc Mỗi lễ hội giống như một viện bảo tàng sống về văn hóa, truyền thống, mang đậm
bản sắc dân tộc với những lễ nghi tôn giáo và những trò chơi dân gian.
Tài nguyên du lịch nhân văn của Bắc Ninh khá đa dạng và phong phú với nhiều loại hình khác nhau, nhưng nổi bật nhất và được nhiều người biết đến là các di tích lịch sử, văn hoá, tiêu biểu là đình, chùa và dân ca Quan Họ Bắc Ninh
Ca múa nhạc Dân ca Quan họ là một đặc trưng nổi bật và đặc sắc của Bắc Ninh, sự
nổi tiếng của dân ca Quan họ đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia
Các làng nghề Bắc Ninh Nhờ có vị trí liền kề với thủ đô Hà Nội qua nhiều thế kỷ
- Bắc Ninh xưa và nay vốn là vùng có nhiều nghề thủ công nổi tiếng như: làng tranh dân gian Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, làng đúc đồng Đại Bái, làng rèn Đa Hội, làng dệt Lũng Giang, Hồi Quan, sơn mài Đình Bảng, chạm khắc Đồng Kỵ, làng nghề Tre trúcXuân Lai Ngày nay nhiều làng nghề đã bị mai một, việc khôi phục và phát triển các làng nghề vừa để phát triển kinh tế địa phương vừa để phát triển du lịch được tỉnh quantâm với việc quy hoạch, xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề tập trung Do vậy đến đây du khách không chỉ được xem nghệ nhân làm nghề, mua sản phẩm mà còn
có thể trực tiếp tham dự các hoạt động xã hội
Tài nguyên du lịch sinh thái Địa hình Bắc Ninh có xen lẫn đồi núi sót với độ cao từ 20
đến 120m so với mặt biển, đồi núi sót lại thường gần các con sông và các thung lũng
có thể tạo thành hồ nước rộng hàng chục ha với những di tích lịch sử, văn hoá như đền, chùa, miếu mạo tạo nên khung cảnh sơn thuỷ hữu tình Đó là điều kiện rất thuận lợi để tạo ra môi trường sinh thái quan trọng cho các điểm Du lịch
Bắc Ninh nằm trong vùng văn minh châu thổ sông Hồng, có 3 con sông lớn chảy qua các làng mạc, thôn xóm và bồi đắp hình thành các bãi bồi ven sông xanh ngắt bãi lúa, nương dâu là điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, làng quê Kinh Bắc
1.3.2 Đặc điểm dân số, nguồn nhân lực.
1.3.2.1 Đặc điểm dân số.
Trang 6Năm 2010, dân số trung bình của Bắc Ninh là 1034,8 ngàn người, cơ cấu dân số Bắc Ninh thuộc loại trẻ: nhóm 0-14 tuổi chiếm tới 27,7%; nhóm 15-64 tuổi khoảng 66%
và 6,3% số người trên 65 tuổi Do đó, tỉ lệ nhân khẩu phụ thuộc còn cao (0,59) Dân số
nữ chiếm tới 51,11% tổng dân số của tỉnh, cao hơn so với tỉ lệ tương ứng của cả nước (50,05%) Kết quả này có thể do nguyên nhân kinh tế - xã hội là chủ yếu
Phân bố dân cư Bắc Ninh mang đậm sắc thái nông nghiệp, nông thôn với tỉ lệ 72,8%, dân số sống ở khu vực thành thị chỉ chiếm 27,2%, thấp hơn so tỉ lệ dân đô thị của cả nước (29,6%) Mật độ dân số trung bình năm 2010 của tỉnh là 1257 người/km2 Dân số phân bố không đều giữa các huyện/thành phố Mật độ dân số của Quế Võ và Gia Bình chỉ bằng khoảng 1/3 của Từ Sơn và 1/3 của thành phố Bắc Ninh
xã hội của tỉnh; mặt khác, cũng tạo sức ép lên hệ thống giáo dục-đào tạo và giải quyết việc làm
Chất lượng của nguồn nhân lực được thể hiện chủ yếu qua trình độ học vấn và đặc biệt là trình độ chuyên môn kĩ thuật Trình độ học vấn của nguồn nhân lực (NNL) Bắc Ninh cao hơn so với mức trung bình cả nước nhưng thấp hơn so với mức trung bình của ĐB Sông Hồng và vùng KTTĐ Bắc Bộ Tuy chỉ còn 0,39% NNL mù chữ, 5,79% chưa tốt nghiệp tiểu học, 66,61% tốt nghiệp tiểu học và THCS nhưng số tốt nghiệp THPT chỉ 27,2%
Năm 2010, tỉ lệ LĐ qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của Bắc Ninh là 45,01%, trong đó
số có bằng từ công nhân kỹ thuật trở lên chiếm 18,84% Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực Bắc Ninh cao hơn mức trung bình cả nước (30,0% & 12,4%)
Trang 7- Quy mô nền kinh tế tăng nhanh, năm 2010 GDP đạt 9.697 tỷ đồng, gấp 2 lần so với 2005.
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng CNH-HĐH Đến 2010, tỷ trọng CN-XD đạt 66,2%, dịch vụ đạt 23,6%, nông nghiệp chỉ còn 10,2%
- GDP bình quân đầu người đạt 1.800 USD, vượt 38% so kế hoạch và tăng 3,4 lần so với 2005
- Giá trị sản xuất công nghiệp 32,2 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách 5000 tỷ đồng; kim ngạch xuất, nhập khẩu 4,3 tỷ USD
- Giải quyết việc làm 111 nghìn lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo 45%
- Tỷ lệ hộ nghèo còn 4,5%
- 100% trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia
- Giảm tỷ lệ sinh 0,2-0.3%o
2.2.2) Kết quả từng lĩnh vực
(+) Lĩnh vực kinh tế:
# Nông nghiệp phát triển ổn định, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, hiệu quả được nâng cao.
- Năm 2010 giá trị sản xuất đạt 2.546 tỷ đồng, tăng bình quân 3,2%, góp phần đảm bảo
an ninh lương thực và ổn định xã hội ở khu vực nông thôn
- Năng suất, sản lượng cây trồng tăng cao: năng suất lúa đạt 60 tạ/ha tăng 5,2 tạ/ha so với năm 2005; giá trị trồng trọt trên 1 ha đạt 73,9 triệu đồng
- 5 năm, đã chuyển đổi 2.800 ha ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản 2010 ước đạt 25,4 nghìn tấn, tăng 1,6 lần so với 2005
Thực hiện chuyển giao, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nhất là tăng tỷ lệ lúa lai, lúa hàng hoá, đẩy mạnh sản xuất cây vụ đông với các cây có giá trị kinh tế cao Đẩy mạnh công tác “dồn điền, đổi thửa” gắn với quy hoạch hạ tầng và vùng sản xuất tập
trung
# Công nghiệp tăng trưởng cao, công nghệ ngày càng hiện đại:
Trang 8
- Giá trị sản xuất công nghiệp 2010 ước đạt 32,2 nghìn tỷ đồng (giá 1994) vượt 60,4%
KH, tăng bình quân 36,9%/năm; đưa qui mô về giá trị sản xuất công nghiệp Bắc Ninh từ
vị trí thứ 19 năm 2004 lên vị trí thứ 9 năm 2010 so với toàn quốc
- Khu vực làng nghề tăng trưởng mạnh với việc phát triển các cụm công nghiệp,duy trì nghề truyền thống, nhân cấy nghề mới
- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng cao, chiếm trên 57,5% tổng GTSXCN
Công nghiệp hỗ trợ được tiến hành trên cơ sở thu hút đầu tư các tập đoàn kinh
tế đa quốc gia: Samsung, Canon,
- Du lịch bước đầu có chuyển biến tiến bộ, doanh thu tăng 17,7%/năm
- Lĩnh vực vận tải, hệ thống đường giao thông tiếp tục được nâng cấp và mở rộng, các tuyến xe buýt nội tỉnh và liên tỉnh được đưa vào hoạt động tạo thuận lợi cho
đi lại của nhân dân, thúc đẩy thông thương phát triển
- Mạng lưới Ngân hàng phát triển nhanh, đã có 23 chi nhánh cấp 1, với tổng dư
nợ tín dụng năm 2010 ước đạt 22 nghìn tỷ đồng, tăng 4,4 lần so năm 2005
# Đầu tư được đẩy mạnh góp phần tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng mạnh, trong 5 năm ước đạt 64 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 33,6%/năm, hàng năm đều đạt trên 50% GDP, vượt kế hoạch; trong đó vốn Nhà nước giảm dần, chủ yếu tăng cường cho xây dựng kết cấu hạ tầng và an sinh xã hội
- Năm 2010, toàn tỉnh có 4.300 DN với vốn đăng ký 22,6 nghìn tỷ đồng; 5 năm đã thu hút 265 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 3,4 tỷ USD, đứng thứ 7 toàn quốc, thứ 2 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
- Hạ tầng giao thông được tăng cường với kinh phí đầu tư khoảng 1.000 tỷ đồng
- 5 năm đã đầu tư 1.500 tỷ đồng xây dựng 9 trạm 110 KV tại các khu, cụm CN; cải tạo
hệ thống lưới điện nông thôn Sản lượng điện thương phẩm 2010 đạt 1,8 tỷ Kw/h, gấp 2,7 lần năm 2005
Trang 9- Công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, thu hút đầu tư được đẩy mạnh Đã quy hoạch
15 Khu CN tập trung với diện tích 7.525 ha, trong đó 10 khu đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy trên diện tích quy hoạch đạt 42%, diện tích thu hồi đạt 61%; thu hút 262 dự án thứ cấp với tổng vốn 2,7 tỷ USD, đã có gần 200 dự án đi vào hoạt động
- Hệ thống đô thị được quan tâm đầu tư theo hướng hiện đại, 2007 thị xã Bắc Ninh được mở rộng quy mô và nâng cấp, trở thành thành phố; cuối năm 2008 huyện Từ Sơntrở thành thị xã Nhiều công trình phúc lợi xã hội được hình thành, đưa vào sử dụng: Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc, Bảo tàng, Thư viện, nhà thi đấu đa năng
#Thu ngân sách Nhà nước tăng nhanh, chi ngân sách Nhà nước được đảm bảo các nhiệm vụ chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên.
- Năm 2010, thu NSNN đạt 5.000 tỷ đồng, vượt 42,8%KH, tăng bình quân 33,2%/năm, gấp 4,2 lần so năm 2005 Các nguồn thu có tính ổn định, các DN sản xuất kinh doanh ngày càng tăng; thu tiền sử dụng đất giảm dần trong cơ cấu thu ngân sách; đặc biệt đã thu hút được nhiều dự án có số nộp ngân sách lớn như: Bia Việt Hà, Rượu Hà Nội, Rượu quốc tế
- Tổng chi NSNN tăng bình quân 32,5%/năm, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 27,9%/năm, đảm bảo chi thường xuyên, đảm bảo an sinh xã hội và các nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất của tỉnh
(+) Lĩnh vực văn hoá - xã hội:
# Giáo dục đào tạo:
- Quy mô giáo dục đào tạo được giữ vững và từng bước đạt chuẩn hoá; cơ sở vật chất được nâng cao, tỷ lệ các trường đạt kiên cố hoá 95%
- Chất lượng giáo dục được giữ vững, hàng năm tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông đạt trên 94%, học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng đạt 35-40%, nằm trong 10 tỉnh dẫn đầu toàn quốc
- Đào tạo nguồn nhân lực có chuyển biến tích cực, toàn tỉnh có 48 cơ sở dạy nghề, trong đó có 6 trường cao đẳng nghề
# Khoa học và công nghệ:
- Hoạt động nghiên cứu triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ có bước tiến bộ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là ở các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, cải cách hành chính
Trang 10- Công tác thanh tra, kiểm tra về khoa học và công nghệ được tăng cường, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, ngăn chặn tình trạng sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại .
# Công tác y tế, dân số - KHH gia đình và trẻ em:
- Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cán bộ và nhân dân có nhiều tiến bộ, chất lượng khám chữa bệnh có hiệu quả, không để xảy ra dịch bệnh nguy hiểm, đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm
- Cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư, nâng cấp, triển khai xây dựng Bệnh viện đa khoa 1000 giường; nâng cấp, mở rộng các bệnh viện chuyên khoa cấp tỉnh, Bệnh viện
đa khoa tuyến huyện
- Thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, 100% xã, phường, thị trấn có bác sĩ và đạt chuẩn về y tế xã
- Tuổi thọ bình quân trong tỉnh đạt 73 tuổi, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy sinh dưỡng còn 19%
- Hệ thống mạng lưới công tác dân số - KHHGĐ được tổ chức lại và hoạt động có hiệu quả, triển khai toàn diện các hoạt động chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng
# Văn hoá - thông tin - phát thanh - truyền hình và TDTT:
- 5 năm tu bổ 138 di tích với tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trên 620 tỷ đồng
- Biên soạn Địa chí tỉnh Bắc Ninh, Quan họ Bắc Ninh được công nhận là di sản văn hoáphi vật thể của nhân loại; tổ chức thành công Festival Bắc Ninh 2010
- Phát thanh, truyền hình có bước phát triển toàn diện, cải tiến, đổi mới nâng cao chất lượng và nội dung
- TDTT quần chúng tiếp tục phát triển sâu rộng, các môn thể thao mũi nhọn có bước phát triển, đoàn thể thao của tỉnh xếp thứ 24/67 tỉnh, thành và ngành tại Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ 5 (tăng 22 bậc)
# Lao động - việc làm và đời sống xã hội:
- 5 năm, giải quyết việc làm 111 nghìn lao động, tăng bình quân 7,2%/năm, đạt KH, tăng 45,2% so với 5 năm trước
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 31,5%/ năm 2006 lên 45% năm 2010, vượt chỉ tiêu
KH, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn đạt trên 84%, vượt chỉ tiêu KH
Trang 11- Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm từ 4% năm 2005 còn 3,4% năm 2010, đạt chỉ tiêu KH.
- Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 còn 4,5%, vượt chỉ tiêu KH Đặc biệt, đã hoàn thành việc xây nhà cho trên 2.000 hộ nghèo và diện bảo trợ xã hội
- GDP bình quân đầu người tăng bình quân mỗi năm 27,9% đến 2010 đạt 1.800 USD, vượt KH
# Tài nguyên - môi trường:
- Tổ chức điều tra cơ bản về tài nguyên, khoáng sản, địa chất, thuỷ văn trên địa bàn
- Từ 2006 - 2009 đã thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất để giao đất, cho thuêđất với diện tích trên 4300ha; thu hồi 31 dự án với diện tích 73ha do các tổ chức được giao đất đã vi phạm pháp luật về đất đai
# Quốc phòng, quân sự địa phương - An ninh chính trị, trật tự an toàn XH được
giữ vững.
# Xây dựng chính quyền, củng cố bộ máy và cải cách hành chính.
- Tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và cấp huyện theo quy định mới của Chính phủ Số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh giảm từ 22 xuống còn 17 cơ quan
- Tích cực triển khai cải cách các thủ tục hành chính, đổi mới, cải tiến, tạo thuận lợi cho người dân và DN Năm 2009, Bắc Ninh xếp thứ 10 toàn quốc, là 1 trong 3 tỉnh dẫn đầu Miền Bắc về chỉ số năng lực cạnh tranh
2.2/Định hướng giai đoạn 2011-2010
Bắc Ninh là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, là tỉnh tiếp giáp và cách Thủ đô Hà Nội 30km: Cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45km; cách cảng biển Hải Phòng 110km Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm - tam giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; gần các khu, cụm công nghiệp lớn của vùng trọng điểm Bắc bộ Bắc Ninh có các tuyến trục giao thông lớn, quan trọng chạy qua; nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc: đường quốc lộ 1A-1B, quốc lộ 18 (Thành phố Hạ Long - sây bay Quốc tế Nội Bài), quốc lộ 38, đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc Trong tỉnh có nhiều sông lớn nối Bắc Ninh với các tỉnh lân cận và cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân Vị trí địa lý của tỉnh Bắc Ninh là một trong những thuận lợi để giao lưu, trao đổi với bên ngoài, tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội và khai thác các tiềm năng hiện có của tỉnh Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm
Trang 12nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian đặc biệt là những làn điệu dân ca quan họ trữ tình nổi tiếng trong và ngoài nước.
Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 16 trường Đại học, Cao đẳng, Trung học dạy nghề
và nhiều cơ sở giáo dục có quy mô lớn, chất lượng khá Trong tỉnh hiện có hơn
650.000 lao động trong đó đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề pháttriển khá nhanh phù hợp với nền kinh tế mở cửa Đội ngũ lao động trong tỉnh có khả năng tham gia hợp tác lao động quốc tế, đồng thời cũng là cơ hội cho các nhà đầu tư khai thác lao động khi đến Bắc Ninh đầu tư
Tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân 15,1%/năm, trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 18,3%, dịch vụ tăng 19,1%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,2% Đây
là mức tăng trưởng bình quân cao nhất trong các kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm từ khi tái lập tỉnh tới nay Năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 1.800USD vượt 38% mụctiêu Đại hội Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 20,4 triệu đồng, trong
đó nông thôn 16,4 triệu đồng
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng năm 2010 ước đạt 64,8%, dịch vụ 24,2%, nôngnghiệp đạt 11% Đầu tư cho phát triển được đẩy mạnh, góp phần tăng cường kết cấu
hạ tầng kinh tế- xã hội Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm ước thực hiện đạt trên64.000 tỷ đồng, tăng bình quân 33,6%, hàng năm đều đạt trên 50% GDP Công nghiệp Bắc Ninh từ vị trí thứ 19 (2004) vượt lên vị trí thứ 9 trong toàn quốc Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,250 tỷ USD, tăng bình quân 67,2%/năm Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 10 toàn quốc và là một trong ba tỉnh dẫn đầu miền Bắc Hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng, góp phần quảng bá hình ảnh Bắc Ninh, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 trong toàn quốc, thứ 2 trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.Với những kết quả hoàn thành và hoàn thành vượt mức hầu hết các chỉ tiêu, trong 5 năm tới, Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh tiếp tục: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh,phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, Tăng cường quốc phòng, an ninh Tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa Phát triển công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững Xây dựng nông thôn mới; nâng cao chất lượng nguồn lực và an sinh xã hội Phấn đấu đến năm
2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại và thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020
# Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 13-14%; trong đó công nghiệp và xây dựng tăng bình quân 15-16%, dịch vụ tăng 13,5-14,5%, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,7-2% Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản khoảng 6,2%, công nghiệp và
Trang 13xây dựng 69,4%, dịch vụ 24,4% GDP bình quân đầu người đạt 3.500 USD (giá thực tế).
#.Giá trị sản xuất công nghiệp 60.000 tỷ đồng; nông nghiệp 2.800 tỷ đồng; phấn đấu đến năm 2015 số xã đạt tiêu chí nông thôn mới là 50%
# Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm 26,2%, đến năm 2015 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 4 tỷ USD; nhập khẩu tăng bình quân hàng năm 24,9%, đạt 3,5 tỷ USD
# Thu ngân sách trên địa bàn đạt 8.500 tỷ đồng, tăng bình quân 13,6%/năm, trong đó thu nội địa tăng bình quân 19,3%/năm; vốn đầu tư xã hội hàng năm đạt 45-50% GDP
# Giải quyết tốt các vấn đề văn hóa, xã hội, thực hiện giảm nghèo Bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn 3,2%; tỷ trọng lao động phi nông nghiệp đạt 70%; duy trì mức giảm sinh hàng năm 0,2- 0,3%o, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,1%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm còn 10%; tỷ
lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm, phấn đấu đến năm 2015 còn 2,2% (theo tiêu chí mới)
# Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo: 100% các phòng học được kiên cố hóa; phấn đấu 69% trường mầm non, 100% trường tiểu học, 78,3% trường trung học
cơ sở và 69,5% trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia; 100% trạm y tế cấp xãđược kiên cố hóa Đạt 140 thuê bao điện thoại/100 dân, 78 thuê bao Internet/100 dân (đã quy đổi)
# Bảo vệ và giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường; trên 98% dân số được sửdụng nước hợp vệ sinh; thu gom 100% và xử lý 70% rác thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế
# Phát triển nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 60%, trong đó nông thôn 45%; giải quyết việc làm bình quân hàng năm 26-27 nghìn lao động Chăm sóc, nâng cao sức khoẻ và mức sống của nhân dân Thu nhập bình quân đầu người đạt 50 triệu đồng/năm, trong đó khu vực nông thôn là 36 triệu đồng/năm
# Thực hiện tốt công tác quốc phòng, quân sự địa phương Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Đẩy mạnh cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX)
# Tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng Nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng; phấn đấu có 85% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh, không có cơ sở đảng yếu kém, 85% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm
vụ trở lên; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công tác dân vận của Đảng; xây dựng chính quyền vững mạnh, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
Trang 14nhân dân Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm; nâng cao hơn nữa hiệu quả cải cách hành chính, cải thiện quan hệ của cơ quan hành chính với dân.
2.3/Tình hình kinh tế xã hội quý 1 năm 2013
(+) Nông nghiệp
a) Kết quả sản xuất vụ đông: toàn tỉnh gieo trồng được 9.951,6 ha cây rau màu, giảm 4,4% (-455,4 ha) so với cùng vụ năm trước Trong đó, cây ngô do diện tích (đạt 2.002 ha) tăng cao (+720 ha) nên mặc dù năng suất giảm 0,6 tạ/ha nhưng sản lượng đạt 8.627 tấn, tăng 3.021 tấn so cùng vụ năm trước Diện tích cây thực phẩm là 6.470 ha, giảm 281 ha; năng suất đạt 200,5 tạ/ha, tăng 8 tạ/ha và sản lượng đạt 129.645 tấn, giảm 230 tấn Giá trị sản xuất 758,6 tỷ đồng, trong đó cây rau đậu các loại chiếm
83,9%/tổng GTSX.Với kết quả này, đã đưa giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác vụ đông năm nay đạt sấp xỉ 73 triệu đồng, tăng 9 triệu đồng so vụ đông năm trước
b) Sơ bộ ước tính vụ đông xuân 2011-2012: Tổng diện tích gieo trồng vụ đông xuân của toàn tỉnh là 49.084 ha, đạt 96,2% KH và bằng 95,4% so vụ đông xuân năm trước Trong đó, nhóm cây lương thực có hạt là 39.507 ha, vượt 2,9% KH và bằng 99,8% (riêng lúa xuân là 35.707, đạt 99,2% và bằng 97%)
c) Chăn nuôi và công tác thú y: Thời tiết rét đậm, rét hại kèm theo mưa phùn kéo dài, không khí ẩm thấp đã tạo điều kiện cho nhiều mầm bệnh trên đàn vật nuôi phát triển mạnh Đến ngày 14/3, dịch cúm gia cầm đã xuất hiện ở 8 hộ gia đình của 6 thôn, 6 xã thuộc 4 huyện, thành phố; công tác chống dịch được triển khai tích cực và có hiệu quả
(+)Công nghiệp
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quý I đã gặp không ít khó khăn, đó là: giá điện, giá nhiên liệu tăng, lãi suất vay vốn vẫn giữ ở mức cao, Bên cạnh đó, một số sản phẩm tiêu thụ chậm, lượng tồn đọng lớn nên sản xuất có phần giảm sút hơn Tuy nhiên, do hầu hết các DN có vốn đầu tư nước ngoài vẫn duy trì sản xuất ổn định, đạt công suất thiết kế, số lượng lao động tiếp tục tăng, cho thấy sản xuất công nghiệp trongquý I vẫn phát triển trong xu thế vững chắc Tháng 3, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 1,2% so tháng trước và tăng 39% so cùng tháng năm trước Tính chung quý I, chỉ số phát triển công nghiệp tăng 35,9% so cùng kỳ năm trước
Theo giá cố định 1994, GTSX đạt 19.084 tỷ đồng tăng 33,8% so quý I/2011, trong đó các DN FDI chiếm 78,6% và tăng 39,5% Theo giá so sánh 2010, GTSX đạt 55.529,2 tỷđồng, tăng 38,5%