Trong 5 năm qua, nhìn trên mặt lượng, bức tranh kinh tế Việt Nam dường như ngày càng sáng sủa, đẹp đẽ hơn, tăng trưởng kinh tế đạt ở mức cao so với các nước trong khu vực, thế nhưng những dấu hiệu yếu kém như tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm vào năm 20072008, thậm chí giảm sút về chất lượng kinh tế ngày càng rõ rệt. Có thể nói tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua chưa đáp ứng được yêu cầu gay gắt của cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế, của mục tiêu đòi hỏi thoát khỏi tình trạng tụt hậu và tăng trưởng bền vững. Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế là mục tiêu lớn chung của Việt Nam trong nhiều năm qua, là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu, công trình khoa học. Nhưng để có thể nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nói chung, thì nhất thiết phải đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế cuả những hạt nhân kinh tế được coi là tế bào đóng góp trực tiếp cho chất lượng tăng trưởng kinh tế, đó chính là nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố trong cả nước. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm tam giác tăng trưởng: Hà Nội Hải Phòng Quảng Ninh; gần các khu, cụm công nghiệp lớn của vùng trọng điểm Bắc bộ. Bắc Ninh có các tuyến trục giao thông lớn, quan trọng chạy qua; nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc: đường quốc lộ 1A1B, quốc lộ 18 (Thành phố Hạ Long sây bay Quốc tế Nội Bài), quốc lộ 38, đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc. Bắc Ninh có nhiều điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội. Là một người sinh ra và lớn lên ở Bắc Ninh, em muốn tìm hiểu sau hơn về sự phát triển của quê hương, vì thế em chọn đề tài: “Phân tích, đánh giá chất lượng tăng trưởng Bắc Ninh giai đoạn 20062010”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong 5 năm qua, nhìn trên mặt lượng, bức tranh kinh tế Việt Nam dường như ngày càng sáng sủa, đẹp đẽ hơn, tăng trưởng kinh tế đạt ở mức cao so với các nước trong khu vực, thế nhưng những dấu hiệu yếu kém như tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm vào năm 2007-2008, thậm chí giảm sút về chất lượng kinh
tế ngày càng rõ rệt Có thể nói tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua chưa đáp ứng được yêu cầu gay gắt của cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế, của mục
tiêu đòi hỏi thoát khỏi tình trạng tụt hậu và tăng trưởng bền vững.
Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế là mục tiêu lớn chung của Việt
Nam trong nhiều năm qua, là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu, công trình khoa học Nhưng để có thể nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nói chung, thì nhất thiết phải đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế cuả những hạt nhân kinh tế được coi là tế bào đóng góp trực tiếp cho chất lượng tăng trưởng kinh tế, đó chính là nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố trong cả nước Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm - tam giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; gần các khu, cụm công nghiệp lớn của vùng trọng điểm Bắc bộ Bắc Ninh
có các tuyến trục giao thông lớn, quan trọng chạy qua; nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc: đường quốc lộ 1A-1B, quốc lộ
18 (Thành phố Hạ Long - sây bay Quốc tế Nội Bài), quốc lộ 38, đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc Bắc Ninh có nhiều điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội Là một người sinh ra và lớn lên ở Bắc Ninh, em muốn tìm
hiểu sau hơn về sự phát triển của quê hương, vì thế em chọn đề tài: “Phân tích, đánh giá chất lượng tăng trưởng Bắc Ninh giai đoạn 2006-2010”
Trang 2CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I.1 Khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế
I.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
a Khái niệm
Tăng trưởng phản ánh sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định (thường là 1 năm) Sự gia tăng phản ánh qua quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng
được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối phản ánh sự gia tăng nhanh hay
chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị
b Nội hàm của tăng trưởng kinh tế
Bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản anh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế, thể hiện qua:
- Quy mô: ∆Yt = Yt- Yt-1 (Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh.)
- Tốc độ: g= dY/Yt× 100(%) (Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước.) trong đó Y là qui mô của nền kinh tế,
và g là tốc độ tăng trưởng Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa
Thu nhập: - Đo bằng hiện vật: lương thực bình quân/đầu người/ năm
- Đo bằng giá trị : ∑ GDP, tốc độ tăng GDP, thu nhập bình quân/đầu người/ năm
Tóm lại : Tăng trưởng là thước đo định lượng
Trang 3I.1.2 Khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế
Chất lượng tăng trưởng phản ánh nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, duy trì trong một thời gian dài, gắn với đó là quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền tự do cho mỗi người
Có thể tiếp cận chất lượng TTKT trên nhiều giác độ khác nhau như: theo nhân tố đầu vào, theo kết quả đầu ra, theo cấu trúc ngành kinh tế, theo năng lực cạnh tranh,…
I.2 Đo lường tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế
I.2.1 Các thước đo tăng trưởng kinh tế
Có rất nhiều các thước đo tăng trưởng kinh tế, có thể đo lường tăng trưởng qua các chỉ tiêu sau:
1.GO: Tổng giá trị sản xuất
2 GDP: Tổng sản phẩm quốc nội ( giá trị gia tăng của nền kinh tế)
3 GNI: Tổng thu nhập quốc dân
4 NI: Thu nhập quốc dân sản xuất
5 DI: Thu nhập quốc dân sử dụng
Trong số các tiêu thức trên đáng tin cậy nhất nhằm đo lường đánh giá kết quả sản xuất và dịch vụ trong nước là GDP
- Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản
sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính)
Trong đó thường dùng hai chỉ số chủ yếu là: phần tăng hoặc giảm quy mô nền kinh tế (tính theo GDP), tốc độ tăng trưởng tính qua các thời kỳ (tính theo GDP)
I.2.2 Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế
Như đã trình bày ở trên có rất nhiều cách tiếp cận đánh giá và đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế và trên thế giới cũng có rất nhiều quan điểm về chất lượng tăng trưởng kinh tế và đúc kết lại chất lượng tăng trưởng kinh tế tập trung ở một số tiêu chuẩn chính sau đây:
Trang 4* Về kinh tế:
I.2.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đánh giá thông qua:
- cơ cấu ngành kinh tế
- cơ cấu vùng kinh tế
- cơ cấu thành phần kinh tế
I.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
- Phản ánh nền kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu, thể hiện là sự đong góp yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp TFP cao và không ngừng gia tăng
I.2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh tăng trưởng
- Đánh giá thông qua chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh PCI
- Đánh giá thông qua lao động, thất nghiệp
- Đánh giá tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo
* Về đảm bảo môi trường:
I.2.2.5 Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế liên quan đến bảo
vệ và cải thiện môi trường
- Hạn chế và xử lý chất thải và ô nhiễm môi trường
- Khai thác và sử dụng tài nguyên môi trường hợ lý có quy hoạch
I.3 Các nhân tố tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế
I.3.1 Các yếu tố nội tại của nền kinh tế
- Nguồn nhân lực: chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có
Trang 5thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt.
- Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước
- Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP
cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững
- Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và
tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất
I.3.2 Phúc lợi và tiến bộ xã hội
Các chỉ số xã hội là thước đo mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế và luôn gắn liền với chất lượng tăng trưởng, được thể hiện trên các khía cạnh: đảm bảo nhu cầu của con người, mức độ nghèo đói và bất bình đẳng kinh tế cũng như
xã hội Các nghiên cứu kinh tế cho thấy đảm bảo phúc lợi và tiến bộ xã hội và tăng trưởng kinh tế không phải lúc nào cũng vận động đồng biến với nhau, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển, chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế và chính sách trong phân phối thu nhập
Trang 6Chất lượng tăng trưởng cần phải gắn chặt với đảm bảo phúc lợi và tiến bộ
xã hội Nâng cao phúc lợi và tiến bộ xã hội là động lực lớn cho tăng trưởng thể hiện:
- Nâng chất nguồn nhân lực cho tăng trưởng cao và bền vững trong dài hạn
- Trong quá trình phát triển, xã hội luôn nảy sinh các mâu thuẫn Khi một lớp mâu thuẫn được giải quyết hoặc dịu đi thì một lớp mâu thuẫn khác xuất hiện, lớp nọ kế tiếp lớp kia đòi hỏi giải quyết Giải quyết mâu thuẫn chính là động lực của sự phát triển và phải đạt mục tiêu hài hòa về lợi ích giữa các nhóm, giai tầng
xã hội chứ không phải triệt tiêu lợi ích của bất cứ nhóm, giai tầng nào
I.3.3 Môi trường với phát triển kinh tế
Thứ nhất, môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng “đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống
Hoạt động sản xuất là một quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sản phẩm hàng hóa Những dạng vật chất trên không phải gì khác, mà chính là các yếu tố môi trường
Như vậy chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên - kể cả sức lao động) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con người Hay nói cách khác: Môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời sống
Ngược lại môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứa đựng, đồng hóa “đầu ra” các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống Quá trình sản xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải (cả khí thải, nước thải, chất thải rắn) Trong các chất thải này có thể có rất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái, hoặc gây ra các sự cố về môi trường Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải Những chất thải này nếu không được xử lý tốt cũng sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để hạn chế được nhiều nhất các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm, tác động tiêu cực đối với môi trường
Trang 7Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển KT-XH Phát triển KT-XH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất
và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của cả loài người trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường
Tác động của con người đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho quá trình cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo
Yêu cầu cấp thiết đặt ra là tăng trưởng kinh tế gắn với bền vững về môi trường để có chất lượng tăng trưởng trong dài hạn, tạo bàn đạp cho tăng trưởng
I.4 Bài học kinh nghiệm nâng cao chất lượng tăng trưởng
Một số bài học kinh nghiệm đã được rút ra như, trước hết phải chủ động trong công tác dự báo, phân tích đánh giá tình hình kinh tế thế giới và trong nước tác động đến sự phát triển của nền kinh tế Kịp thời đưa ra các giải pháp chính sách phù hợp với diễn biến của tình hình; đồng thời tăng cường công tác chỉ đạo điều hành một cách tập trung, quyết liệt, bảo đảm chính sách sớm đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng, nhất là các giải pháp chính sách quan trọng, cấp bách cần triển khai ngay trong thời gian ngắn.Bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn về thu chi NS, tiền tệ, tín dụng, các thanh toán quốc tế…Phải gắn các giải pháp chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế với việc đảm bảo an sinh xã hội
I.5 Sự cần thiết nâng cao chất lượng tăng trưởng
Tăng trưởng kinh tế cao và có khi nền kinh tế được gọi là tăng trưởng
“nóng”, tuy nhiên suy thoái kinh tế toàn cầu và suy giảm kinh tế trong nước là
cơ hội để nhìn lại, thấy rõ hơn nhưng khuyết điểm lớn trong nền kinh tế thiếu độ bền Tăng trưởng nhanh nhưng đi đôi với đó là những bất cập và cản trở lớn cho
sự phát triển bền vững
Trang 8Tăng trưởng kinh tế nước ta trong nhưng năm qua và đặc biệt là trong 10 năm trở lại đây vẫn là tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng Sự gia tăng của yếu
tố năng suất tổng hợp còn quá nhỏ Ðiều đó chứng tỏ chất lượng tăng trưởng chưa cao, chưa tăng trưởng theo chiều sâu Sự gia tăng của chất lượng lao động, chất lượng máy móc, công nghệ, vai trò quản lý và tổ chức sản xuất chưa tương xứng trong mức tăng trưởng kinh tế (GDP) Trình độ công nghệ ở Việt Nam thấp so với nhiều nước trong khu vực Yếu tố đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế là vốn và lao động Tuy vậy chất lượng nguồn lao động thấp và thu hút vốn cho phát triển đang rất nghèo nàn đang là một bức tường ngăn lớn cho tăng trưởng và phát triển Trong suy thoái kinh tế, các yếu kém của nền kinh tế khi không thể dứt ra khỏi vòng xoáy của khủng hoảng toàn cầu Nền kinh tế chủ yếu
là hướng ngoại chưa phát huy được yếu tộ nội tại trong nước dẫn đến rủi ro rất lớn
Không những vậy tăng trưởng nhưng chưa thể hiện tác động lớn đến phúc lợi xã hội và môi trường Dưới góc độ xã hội – môi trường, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét và có chiều hướng gia tăng; chất lượng nguồn nhân lực cũng chưa theo kịp yêu cầu tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế; tỷ lệ thời gian lao động không được sử dụng ở nông thôn vẫn còn cao; tốc độ xoá đói giảm nghèo bắt đầu chững lại; tốc độ suy thoái
và ô nhiễm môi trường diễn ra nhanh chóng Đây là những biểu hiện đáng báo động về chất lượng tăng trưởng kinh tế
Vấn đề đặt ra cấp bách là cần nâng cao chất lượng tăng trưởng, giúp ổn định nền kinh tế non yếu trong tương lai
Trang 9CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ CỦA TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2006-2010
II.1 Tiềm năng kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh
II.1.1 Giới thiệu chung
A Điều kiện địa lý tự nhiên
1 Vị trí địa lý
Bắc Ninh là tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, phía Bắc giáp Bắc Giang, phía Đông và Đông Nam giáp Hải Dương, Tây và Tây Nam giáp Hà Nội và Hưng Yên Bắc Ninh có trục tuyến giao thông lớn, quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc: quốc lộ 1A nối
Hà Nội - Bắc Ninh - Bắc Giang - Lạng Sơn; quốc lộ 18 từ Nội Bài - Bắc Ninh -
Hạ Long – Móng Cái; quốc lộ 38 nối Bắc Ninh với quốc lộ 5 đi Hải Dương - Hải Phòng, đi Hưng Yên, Thái Bình…
Trong tỉnh có nhiều sông lớn như sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình nối liền với Hải Phòng, Quảng Ninh và các tỉnh lân cận
2 Đặc điểm địa hình
Địa hình Bắc Ninh tương đối bằng phẳng Tuy dốc từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông nhưng độ dốc không lớn Vùng đồng bằng chiếm gần hết diện tích tự nhiên toàn tỉnh, có độ cao phổ biến 3 – 7 m so với mặt biển Do được bồi đắp bởi các sông lớn như sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình nên vùng đồng bằng chủ yếu là đất phù sa màu mỡ Vùng gò đồi trung du chỉ chiếm 0,5% diện tích tự nhiên và phần lớn đồi núi thấp, cao nhất là núi Hàm Long 171m
3 Khí hậu
Khí hậu đặc trưng của tỉnh là nhiệt đới gió mùa, mùa hè nắng nóng nhiệt độ trung bình 30 - 36°C, mùa đông lạnh, từ 15 - 20°C Lượng mưa trung bình trong năm 1.800 mm, số giờ nắng khoảng 1.700 giờ/năm, thích hợp cho trồng lúa và các cây công nghiệp, cây thực phẩm khác
Trang 10B Tài nguyên thiên nhiên
1 Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 803,87 km², trong đó đất nông nghiệp chiếm 64,7%, đất lâm nghiệp 0,7%, đất chuyên dùng và đất ở chiếm 23,5%, đất chưa sử dụng còn 11,1% Cả tỉnh còn 12.750 ha đất trũng ngập ở các huyện: Gia Bình, Quế Võ, Lương Tài, Yên Phong, đất mặt nước chưa sử dụng là 3.114,5 ha, diện tích một vụ còn 7.462,5 ha Tiềm năng đất đai của tỉnh còn lớn,
có thể khai thác sử dụng hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế
2 Tài nguyên rừng
Bắc Ninh không có rừng tự nhiên, chủ yếu là rừng trồng với 607 ha phân bổ tập trung ở hai huyện Quế Võ và Tiên Du, có thể phát triển thành rừng cảnh quan sinh thái
3 Tài nguyên khoáng sản
Bắc Ninh là một tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu là nguồn nguyên liệu phục vụ trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch ngói, trữ lượng 4 triệu tấn ở hai huyện Quế Võ, Từ Sơn và thị xã Bắc Ninh, đất cát kết khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu, đá sa thạch ở Vũ Ninh với trữ lượng 3 triệu m³, than bùn ở Yên Phong khoảng 6 – 20 vạn tấn
C Dân cư–lao động: Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2009, Bắc Ninh có
1.026.300 người Trong đó dân cư nông thôn chiếm 82.29%, dân số thành thị chiếm 17,71%
D Cơ sở hạ tầng
1 Giao thông
Bắc Ninh là tỉnh có điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải Mạng lưới giao thông bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy đã được hình thành từ lâu Hơn nữa, đây là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội trong khu vực tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh nên được Chỉnh phủ quan tâm đầu tư cho phát triển các tuyến đường huyết mạch: Quốc lộ 1, quốc lộ 18,
Trang 11quốc lộ 38 và tuyến đường sắt Hà Nội – Bắc Ninh – Lạng Sơn Tính đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 375km đường quốc lộ trải nhựa, 290km đường tỉnh lộ phần lớn được trải nhựa và hơn 3000km đường huyện, đường xã, đường thôn xóm trong đó có gần 2000 km được trải bê tông và lát gạch Song song với việc phát triển mạng lưới giao thông, các hoạt động vận tải cũng liên tục phát triển, hoàn thiện cả về số lượng và chất lượng Nếu như năm 1997, toàn tỉnh chỉ có 1 doanh nghiệp nhà nước trung ương, 1doanh nghiệp nhà nước địa phương, 5 hợp tác xã và 3103 hộ cá thể hoạt động vận tải thì đến năm 2007 đã có thêm 4 hợp tác xã và 1610 hộ cá thể hoạt động trong lĩnh vực này Các phương tiện vận tải chuyển dần từ xe thô sơ sang các phương tiện hiện đại có năng lực vận tải lớn, đồng thời xuất hiện thêm nhiều loại dịch vụ vận tải mới như xe buýt, tắc xi, xe cho thuê Theo đó khối lượng vận chuyển, luân chuyển hàng hóa và hành khách ngày càng tăng, tốc độ phát triển bình quân năm 1997-2007 là: 21,57%/năm khối lượng hàng hóa vận chuyển, 29,45%/năm khối lượng hàng hóa luân chuyển, 11,15%/năm khối lượng hành khách vận chuyển và 14.74%/năm khối lượng hành khách luân chuyển.
2 Thông tin liên lạc
Năm 1997, toàn tỉnh mới có 19 cơ sở bưu điện, 15 tổng đài điện tử các loại với dung lượng 14912 số, tỷ lệ bình quân số cố định đạt trên 100 dân đạt 1,1 máy Đến năm 2007 con số đó đã tăng lên 28 cơ sở bưu điện, 48 tổng đài điện tử với dung lượng 163.168 số tỷ lệ bình quân số điện thoại cố định trên 100 dân đạt 13,9 máy Mạng lưới bưu cục trên toàn tỉnh đã phát triển đều khắp ở 8 huyện/thị, 100% các xã/phường/thị trấn đều có điểm bưu điện văn hóa xã Ngành bưu chính viễn thông đã góp phần nâng cao dân trí, rút ngắn khoảng cách về không gian, thời gian giữa các vùng trong tỉnh, trên toàn quốc và thế giới
II.1.2 Các tiềm năng phát triển
1 Tiềm năng phát triển nông nghiệp
Với địa hình tương đối bằng phẳng, thì tiết khí hậu ôn hoà nguồn nước phong phú, đất đai màu mỡ do được bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng và sông
Trang 12Thái Bình, rất phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển của nhiều loại cây trồng Đây là tiền đề quan trọng, tạo thuận lợi để ngành nông nghiệp Bắc Ninh phát triển toàn diện Về nông nghiệp, phát triển nông nghiệp phục vụ công nghiệp và
đô thị; cung cấp lương thực, thực phẩm rau sạch, chất lượng cao cho các thị trường lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, nhất là rau xanh, hoa tươi, cây cảnh, thuỷ sản, thịt lợn nạc, bò sữa…
2.Tiềm năng phát triển công nghiệp
Dựa vào lợi thế về địa lý, kinh tế, gần thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ, có hệ thống giao thông phát triển, kết cấu hạ tầng đang được hoàn chỉnh, dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và các ngành nghề truyền thống của tỉnh, công nghiệp, nông nghiệp Bắc Ninh đang có lợi thế phát triển mạnh, gồm: cơ khí, kỹ thuật điện, vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản đặc biệt
đồ gỗ cao cấp, chế biến lương thực thực phẩm, dệt may
3 Tiềm năng phát triển thương mại, dịch vụ
Bắc Ninh là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, là tỉnh tiếp giáp và cách Thủ đô
Hà Nội 30km: Cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45km; cách cảng biển Hải Phòng 110km Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm - tam giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; gần các khu, cụm công nghiệp lớn của vùng trọng điểm Bắc bộ Bắc Ninh có các tuyến trục giao thông lớn, quan trọng chạy qua; nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc: đường quốc lộ 1A-1B, quốc lộ 18 (Thành phố Hạ Long - sây bay Quốc tế Nội Bài), quốc lộ 38, đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc Trong tỉnh có nhiều sông lớn nối Bắc Ninh với các tỉnh lân cận và cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân Vị trí địa lý của tỉnh Bắc Ninh là một trong những thuận lợi để giao lưu, trao đổi với bên ngoài, tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội và khai thác các tiềm năng hiện có của tỉnh
4 Tiềm năng phát triển về du lịch
Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng
Trang 13trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian đặc biệt là những làn điệu dân ca quan họ trữ tình nổi tiếng trong và ngoài nước.
Bắc Ninh có tiềm năng du lịch rất lớn Là một tỉnh có bề dày lịch sử, có một nền văn hoá nhân văn đặc sắc với 204 di tích lịch sử - văn hoá đã được Nhà nước công nhận như: Văn Miếu, Đền Đô…, một vùng quê văn hiến Bắc Ninh – Kinh Bắc có nhiều di tích lịch sử văn hoá, lễ hội dân gian, làng nghề truyền thống…là những điểm hấp dẫn thu hút khách, tạo cho du lịch Bắc Ninh những tiềm năng hết sức phong phú
5 Tiềm năng về nguồn nhân lực
Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2007, Bắc Ninh có 1.028.844 người Trong đó dân cư nông thôn chiếm trên 76,5%, dân số thành thị chiếm 23,5%.Thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch theo cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm dân số nông thôn
Dân số Bắc Ninh là dân số trẻ, trên 60% trong độ tuổi lao động Với chất lượng ngày càng được nâng cao, đội ngũ dân số trẻ này là lực lượng lao động hùng hậu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa-xã hội của tỉnh
Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 8 trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề và nhiều cơ sở giáo dục có quy mô lớn, chất lượng khá Trong tỉnh hiện có hơn 600.000 lao động trong đó đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề phát triển khá nhanh phù hợp với nền kinh tế mở cửa Đội ngũ lao động trong tỉnh có khả năng tham gia hợp tác lao động quốc tế, đồng thời cũng
là cơ hội cho các nhà đầu tư khai thác lao động khi đến Bắc Ninh đầu tư
6 Tiềm năng về thu hút vốn đầu tư
Thực hiện Luật ĐTNN tại Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 12/11/1996 và Luật sửa đổi, bổ sung, một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2002/QH10 và nhiệm vụ phát triển kinh tế đối ngoại trong thời gian tới; tỉnh Bắc Ninh đã chuẩn bị các điều kiện về đất đai, lao động, cơ sở
Trang 14hạ tầng kỹ thuật, cải cách các thủ tục hành chính về đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư tại Bắc Ninh.
- Hình thành và phát triển mạnh hai khu công nghiệp tập trung Tiên Sơn và Quế Võ với tổng diện tích 796ha (khu công nghiệp Tiên Sơn 600 ha; Khu công nghiệp Quế Võ 196 ha), đã có 46 dự án đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký là 174,5 triệu USD và 1.264,2 tỷ VNĐ Tỉnh đã quy hoạch 18 cụm công nghiệp làng nghề và đa nghề, trong đó 4 cụm công nghiệp chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề đã được đầu tư hạ tầng kỹ thuật, sẵn sàng mời đón các nhà đầu tư vào thực hiện đầu tư
Tỉnh Bắc Ninh thực hiện cơ chế "Một cửa" trong quản lý nhà nước về đầu
tư nước ngoài theo quy định của Nhà nước Sở Kế hoạch và Đầu tư và Ban Quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh là cơ quan đầu mối giúp UBND tỉnh và
Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Tại các cơ quan đầu mối, các nhà đầu tư sẽ được giúp
đỡ, cung cấp các thông tin, giải quyết công việc có liên quan với thủ tục đơn giản và thời gian nhanh nhất
II.1.3 Các thành tựu về kinh tế - xã hội
+ Tăng trưởng kinh tế: Nhìn lại chặng đường hơn 10 năm xây dựng và
phát triển, mặt dù còn không ít khó khăn thử thách, song nhịp độ tăng trưởng kinh tế luôn giữ ở mức cao Tốc độ tăng trưởng bình quân tổng sản phẩm xã hội của tỉnh giai đoạn năm 1997 – 2007 là 13,68% /năm Trong đó khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,49%; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 21,5%; khu vực dịch vụ tăng 13,4%; kim nghạch xuất khẩu tăng 8,49%, nhập khẩu tăng 9,36%
+ Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế của tỉnh từng bước chuyển dịch theo
hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng cơ bản tăng nhanh từ 23,77% năm 1997 lên 51,01% năm 2007 Tỷ trọng
Trang 15khu vực dịch vụ tăng từ 31,18% năm 1997 lên 30,34% năm 2007 trong khi đó tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 45,05% năm 1997 xuống còn 18,65% năm 2007.
+ Y tế - giáo dục: Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân luôn
được tỉnh đặc biệt chú trọng Thể hiện ở mạng lưới các bệnh viện, phòng khám
đa khoa khu vực rải rác đều khắp các huyện/thị, 100% các xã/phường/thị trấn có trạm y tế Cơ sở vật chất và đội ngũ y sỹ, bác sỹ tăng dần qua các năm Số giường bệnh trên 1 vạn dân không ngừng tăng, năm 1997 là 16,9; năm 2000 là 17,5; năm 2007 là 21 Số y sỹ, bác sỹ trên một vạn dân năm 1997 là 15,1; năm
2000 là 16,5; năm 2007 là 21,2 Công tác tiêm chủng mở rộng cho trẻ em được đặc biệt chú trọng, năm 2007 đã thực hiện tiêm chủng cho 19.986 trẻ em trên toàn tỉnh Bắc Ninh là một trong 3 tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng tuổi đầu tiên trong cả nước vào năm 2000, đến năm 2002 đã hoàn thành phổ cập THCS , và đang tiến hành phổ cập THPT
- Mạng lưới quy mô : Mạng lưới trường lớp của tỉnh Bắc Ninh phát triển
đa dạng và phong phú Đến nay mỗi xã/ phường/ thị trấn của tỉnh đều có từ 1 đến 2 trường mầm non, trường tiểu học và THCS Mỗi huyện/ thị xã đều có 1 trường THCS chất lượng cao và từ 3 đến 5 trường THPT Công tác kiên cố hoá trường lớp đầu năm học 2005-2006 đạt 82,7% Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được thực hiện tốt, đến nay toàn tỉnh đã có 217 trường (tăng 38 trường) ở các ngành học, bậc học được kiểm tra công nhận đạt chuẩn quốc gia, trong đó số trường đạt chuẩn ở bậc học Mầm non và Tiểu học có tỷ lệ bình quân cao nhất trong cả nước
+ Xóa đói – giảm nghèo: Cùng với tăng trưởng kinh tế, mức sống của
người dân ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 15,24% năm 2005 xuống còn 9,6% năm 2007 (theo tiêu chuẩn số 1751/LĐTBXH)
Trang 16II.2 Thực trạng và một số đanh giá tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2006-2010
II.2.1 Thực trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010
2006-II.2.1.1 Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế
Tổng hợp GDP theo giá thực tế Bắc Ninh 2006-2010
Giá trị tuyệt đối
(tỷ đồng) 10504,2 15506,6 22080,0 28030,4 34502,8
Tốc độ tăng (%) 15.05 15.80 15.64 12.54 17.86
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho 5 năm là 15.1%, cao so với cả nước
và đứng thứ 2 trong 11 tỉnh phía Bắc (sau Vĩnh Phúc 16.7%)
II.2.1.2 Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành kinh tế