1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình tái bảo hiểm thiết bị điện tử tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện, giai đoạn 2005 đến 2010

84 328 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước sang thế kỉ 21, thế kỉ của nền khoa học kĩ thuật đang phát triển với tốc độ nhanh chóng. Đất nước ta ngày càng hoà nhập hơn vào xu thế tiến bộ đó của thế giới, với những bước đi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã trang bị cho cơ sở vật chất cho đất nước ta ngày càng tiên tiến và hiện đại hơn. Nhờ có chính sách đổi mới đúng đắn ấy của nhà nước về công nghệ thông tin và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài mà hiện nay chúng ta đã có một số thiết bị điện tử được sử dụng ngày càng nhiều vào các ngành như: Phát thanh truyền hình, Bưu chính viễn thông, các viện nghiên cứu, các bệnh viện lớn, các nhà máy xí nghiệp... Chúng ta đang thừa hưởng những công nghệ hiện đại vào cuộc sống và công việc hàng ngày thì cũng tồn tại song song với chính nó là các rủi ro có thể xảy ra đối với các công nghệ đó. Chẳng hạn nếu giả sử hệ thống bưu chính viễn thông sử dụng các thiết bị điện tử mà gặp sự cố như sét đánh hoặc điều khiển sai kĩ thuật thì thiệt hại rất là to lớn vì các thiết bị này thường phải nhập ngoại và có giá trị rất cao so với thu nhập của chúng ta. Để khắc phục những rủi ro có thể xảy ra thì bảo hiểm thiết bị điện tử ra đời như một nhu cầu tất yếu giúp các tổ chức, cơ quan, xí nghiệp... yên tâm, tin tưởng để sử dụng các thiết bị điện tử cho công việc của mình. Bên cạnh sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử thì tái bảo hiểm thiết bị điện tử cũng sớm ra đời như một giải pháp ổn định tài chính, cũng như là một tấm lá chắn bảo vệ cho doanh nghiệp bảo hiểm gốc trước các nguy cơ tổn thất đối với các máy móc, thiết bị điện tử có giá trị rất lớn. Ở Việt Nam, có thể coi bảo hiểm thiết bị điện tử và tái bảo hiểm thiết bị điện tử là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ mới nhất và là một nghiệp vụ khá phức tạp đòi hỏi kĩ thuật cao trong các công đoạn và trong cách tính phí. Do vậy nghiên cứu nghiệp vụ này là rất cần thiết đối với những người làm công tác bảo hiểm. Xuất phát từ cơ sở thực tiễn đó, nên trong quá trình thực tập tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện em đã chọn đề tài: “Tình hình tái bảo hiểm thiết bị điện tử tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện, giai đoạn 2005 – 2010”

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU Bảng:

Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh chung toàn công ty giai đoạn 2005 – 2010 35

Bảng 2.2: Doanh thu phí bảo hiểm gốc tại PTI giai đoạn 2005 – 2010 36

Bảng 2.3: Tình hình chi bồi thường bảo hiểm gốc tại PTI 38

giai đoạn 2005 – 2010 38

Bảng 2.4: Tổng quỹ dự phòng nghiệp vụ của PTI giai đoạn 2005 – 2010 40

Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc của PTI 40

giai đoạn 2005 – 2010 40

Bảng 2.6: Tình hình nhượng TBH tại PTI giai đoạn 2005 – 2010 42

Bảng 2.7: Tình hình nhận TBH tại PTI giai đoạn 2005 – 2010 43

Bảng 2.8: Tình hình kinh doanh BH gốc thiết bị điện tử tại PTI 46

giai đoạn 2005 – 2010 46

Bảng 2.9: Mức giữ lại của nghiệp vụ BH TBĐT tại PTI giai đoạn 2005 - 2010 48

Bảng 2.10: Kết quả hoạt động nhượng TBH TBĐT tại PTI giai đoạn 2005 – 2010 55

Bảng 2.11: Kết quả kinh doanh nhận TBH theo hợp đồng số thành: 59

Bảng 2.12: Kết quả kinh doanh nhận TBH theo hợp đồng mức dôi 60

Bảng 2.13: Kết quả kinh doanh nhận TBH theo hợp đồng tạm thời: 60

Bảng 2.14: Tình hình kết quả và hiệu quả hoạt động TBH TBĐT tại PTI giai đoạn 2005 - 2010 62

Biểu đồ: Biểu đồ 2.1: Thị phần các doanh nghiệp bảo hiểm năm 2010 theo doanh thu phí 36

Biểu đồ 2.2: Doanh thu phí BH gốc tại PTI giai đoạn 2005 – 2010 36

Biểu đồ 2.3: Số tiền chi bồi thường BH gốc tại PTI giai đoạn 2005 – 2010 39

Biểu đồ 2.4: Lợi nhuận hoạt động kinh doanh BH gốc của PTI giai đoạn 2005 – 2010 41

Biểu đồ 2.5: Bồi thường BH gốc và phí BH gốc BH thiết bị điện tử tại PTI 46

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHBTCNTTDNBHĐVRRHĐLĐKLĐ.PTBHPTI

STBHSTBTTGĐTN.NVTBHTBĐTVMBT

::::::::::::::::

Bảo hiểmBồi thườngCông nghệ thông tinDoanh nghiệp bảo hiểmĐơn vị rủi ro

Hợp đồngLãnh đạo khốiLãnh đạo phòng Tái bảo hiểmTổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện

Số tiền bảo hiểm

Số tiền bồi thườngTổng Giám đốcTrưởng nhóm nghiệp vụTái bảo hiểm

Thiết bị điện tử

Vượt mức bồi thường

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Bước sang thế kỉ 21, thế kỉ của nền khoa học kĩ thuật đang phát triển với tốc

độ nhanh chóng Đất nước ta ngày càng hoà nhập hơn vào xu thế tiến bộ đó của thếgiới, với những bước đi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã trang bị cho cơ sở vật chấtcho đất nước ta ngày càng tiên tiến và hiện đại hơn Nhờ có chính sách đổi mớiđúng đắn ấy của nhà nước về công nghệ thông tin và thu hút vốn đầu tư của nướcngoài mà hiện nay chúng ta đã có một số thiết bị điện tử được sử dụng ngày càngnhiều vào các ngành như: Phát thanh truyền hình, Bưu chính viễn thông, các việnnghiên cứu, các bệnh viện lớn, các nhà máy xí nghiệp Chúng ta đang thừa hưởngnhững công nghệ hiện đại vào cuộc sống và công việc hàng ngày thì cũng tồn tạisong song với chính nó là các rủi ro có thể xảy ra đối với các công nghệ đó Chẳnghạn nếu giả sử hệ thống bưu chính viễn thông sử dụng các thiết bị điện tử mà gặp sự

cố như sét đánh hoặc điều khiển sai kĩ thuật thì thiệt hại rất là to lớn vì các thiết bịnày thường phải nhập ngoại và có giá trị rất cao so với thu nhập của chúng ta Đểkhắc phục những rủi ro có thể xảy ra thì bảo hiểm thiết bị điện tử ra đời như mộtnhu cầu tất yếu giúp các tổ chức, cơ quan, xí nghiệp yên tâm, tin tưởng để sử dụngcác thiết bị điện tử cho công việc của mình Bên cạnh sự ra đời và phát triển củanghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử thì tái bảo hiểm thiết bị điện tử cũng sớm ra đờinhư một giải pháp ổn định tài chính, cũng như là một tấm lá chắn bảo vệ cho doanhnghiệp bảo hiểm gốc trước các nguy cơ tổn thất đối với các máy móc, thiết bị điệntử có giá trị rất lớn

Ở Việt Nam, có thể coi bảo hiểm thiết bị điện tử và tái bảo hiểm thiết bị điệntử là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ mới nhất và là một nghiệp

vụ khá phức tạp đòi hỏi kĩ thuật cao trong các công đoạn và trong cách tính phí Dovậy nghiên cứu nghiệp vụ này là rất cần thiết đối với những người làm công tác bảohiểm Xuất phát từ cơ sở thực tiễn đó, nên trong quá trình thực tập tại Tổng công ty

cổ phần bảo hiểm bưu điện em đã chọn đề tài: “Tình hình tái bảo hiểm thiết bị điện tử tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện, giai đoạn 2005 – 2010”

Chuyên đề gồm ba chương:

Chương 1: Lý luận chung về tái bảo hiểm

Chương 2: Thực trạng tái bảo hiểm thiết bị điện tử tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) giai đoạn 2005 – 2010

Chương 3: Một số đề xuất nhằm phát triển hoạt động tái bảo hiểm TBĐT tại PTI trong thời gian tới.

Trang 5

Trong thời gian làm chuyên đề, do kiến thức và thời gian có hạn nên bài của

em không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong các thầy cô và các bạn đọc bổsung và hoàn thiện cho bài được tốt hơn Em xin chân thành cảm ơn quý công tycùng các anh chị chuyên viên trong Ban Tái bảo hiểm đã tạo điều kiện cho em đượcthực tập và hoàn thành chuyên đề Đồng thời em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắcđến Thạc sĩ Bùi Quỳnh Anh đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÁI BẢO HIỂM

1.1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA TÁI BẢO HIỂM

1.1.1 Sự cần thiết khách quan của tái bảo hiểm

Trong cuộc sống và hoạt động sản xuất kinh doanh thường gặp những rủi robất ngờ xảy ra Bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường gây thiệt hại vềkinh tế, ảnh hưởng đến đời sống, đến hoạt động sản xuất kinh doanh – chưa kể đếnnhững tổn thất về người Để đối phó với hậu quả của rủi ro, người ta sử dụng nhiềubiện pháp, nhưng hiệu quả nhất là bảo hiểm Sau khi chấp nhận rủi ro từ khách hàngchuyển giao, đến lượt mình các công ty bảo hiểm cũng có thể gặp phải rủi ro dẫnđến khó khăn về mặt tài chính, thậm chí là phá sản

Trong rất nhiều trường hợp, khả năng tài chính của các công ty bảo hiểm làhữu hạn Tuy nhiên, có rất nhiều đối tượng bảo hiểm có giá trị bảo hiểm hoặc sốtiền bảo hiểm lớn Khi nhận được rủi ro vượt quá khả năng tài chính của mình, công

ty bảo hiểm gốc (còn gọi là công ty nhượng tái bảo hiểm) muốn thực hiện đượctrách nhiệm với khách hàng và giúp họ có được giải pháp an toàn về tài chính thì họ

sẽ phải chuyển một phần rủi ro đó cho công ty tái bảo hiểm Nhờ có sự hỗ trợ củacác công ty tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm mới có thể cấp đơn bảo hiểm với

số tiền bảo hiểm (hoặc giới hạn bảo hiểm) đầy đủ cho khách hàng

Đôi khi nhà bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm ở địa bàn cách xa nhau, nhà bảohiểm không đủ khả năng kiểm soát và quản lý rủi ro, hoặc cũng có trường hợp tổnthất lớn xảy ra liên tục trong một thời gian ngắn, khiến công ty bảo hiểm không đủkhả năng đảm bảo tài chính cho những rủi ro đó Vấn đề đặt ra cho các công ty bảohiểm gốc là làm sao vừa có thể BH được cho những rủi ro đó, vừa có thể quản lýtốt nhất các rủi ro đó mà vẫn đảm bảo được an toàn tài chính, tránh được nguy cơđưa DNBH đến bờ vực phá sản?

Đặc biệt, ở các thị trường bảo hiểm non trẻ, thiếu kinh nghiệm, việc xác địnhphí bảo hiểm không được chính xác khiến cho việc thu không đủ bù chi, hoặc ở cáclĩnh vực bảo hiểm mới triển khai, nhà bảo hiểm chưa đủ kinh nghiệm và trình độ đểđánh giá rủi ro hoặc do quy luật số đông bù số ít chưa được đảm bảo Điều này khiếncác công ty bảo hiểm gốc có xu hướng tìm kiếm sự hỗ trợ về kỹ thuật từ các công ty táibảo hiểm

Trang 7

Trong thực tế thì các công ty bảo hiểm chuyển giao hoặc phân tán rủi ro chonhững nhà bảo hiểm thông qua 2 hình thức là đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm Đồngbảo hiểm là việc nhiều công ty bảo hiểm cùng lúc nhận bảo hiểm cho một đốitượng tham gia Đồng bảo hiểm ra đời từ rất sớm Với việc nhận bảo hiểm đơn giản,

dễ hiểu, đặc biệt với những công ty bảo hiểm mới thành lập chưa có kinh nghiệm thìviệc phân tán rủi ro diễn ra nhanh chóng, thuận tiện và làm cho khách hàng yên tâm,tin tưởng hơn Tuy vậy nhưng để thoả thuận được một hợp đồng đồng BH giữa cáccông ty BH thường mất rất nhiều thời gian do đó dễ làm mất thời cơ trong kinhdoanh Ngoài ra, khi tổn thất xảy ra với đối tượng BH, việc bồi thường của các công

ty cho khách hàng thường rất khó tập trung trong cùng một lúc và ảnh hưởng trựctiếp đến việc khôi phục lại tài sản cho khách hàng Do những hạn chế của đồng bảohiểm mà tái bảo hiểm ra đời nhằm khắc phục những nhược điểm của nó và được cáccông ty bảo hiểm sử dụng cho tới ngày nay

Từ thực tế diễn ra nêu trên đã chứng minh tái bảo hiểm ra đời là một tất yếukhách quan và thực sự cần thiết đối với mỗi công ty bảo hiểm

1.1.2 Bản chất của TBH

Tái bảo hiểm là sự bảo hiểm cho những rủi ro mà nhà BH này gánh chịu chonhững nhà BH khác, hay tái bảo hiểm là sự bảo hiểm lại Bản chất của phương phápnày là san sẻ rủi ro, san sẻ tài chính giữa các nhà TBH với nhau nhằm góp phần làmcho ngành BH phát triển nhanh chóng, mọi lúc mọi nơi

Nhiệm vụ chủ yếu của tái bảo hiểm là phân chia các rủi ro đã được bảo hiểmcủa các công ty bảo hiểm gốc cho tập thể những công ty tái bảo hiểm và thông qua

đó sẽ tận dụng được một cách tối ưu các quy luật thống kê Với nhiệm vụ trên táibảo hiểm ổn định kinh doanh cho các công ty bảo hiểm gốc và tạo điều kiện cho cáccông ty này có thể nhận bảo hiểm cho những rủi ro vượt quá khả năng tài chính củamình Ví dụ sau sẽ minh họa cho điều đó:`

Công ty bảo hiểm PTI chỉ có thể thanh toán tiền bồi thường tối đa là 1 triệuUSD, muốn bảo hiểm cho một chiếc tàu chở một khối lượng hàng hóa lớn trị giá 10triệu USD Nếu giả sử không có tái bảo hiểm thì PTI không thể ký hợp đồng bảohiểm với chủ tàu đó được, vì khi không may có tổn thất toàn bộ xảy ra thì PTI sẽ bịphá sản Nhưng do có hình thức tái bảo hiểm nên PTI vẫn kí được hợp đồng bảohiểm với chủ tàu bảo hiểm cho con tàu trị giá 10 triệu USD đó Sau khi kí hợp đồng,PTI dùng phương pháp tái bảo hiểm phân tán bớt mức trách nhiệm mà mình phảigánh chịu Trong trường hợp này, PTI chỉ giữ lại 10%, còn 90% của 10 triệu USD

Trang 8

PTI chuyển cho các công ty tái bảo hiểm khác, ví dụ như 50% cho Bảo Việt và 40%cho PVI

Thông qua ví dụ trên ta có thể thấy được tác dụng của TBH trong việc nâng cao khảnăng khai thác BH của công ty BH gốc Từ đó sẽ nâng cao uy tín cho công ty BH gốc Ởđây cần phải phân biệt sự khác nhau giữa đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm Mặc dù có điểmgiống nhau cơ bản giữa đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm là cùng có nhiều công ty bảo hiểmtham gia bảo hiểm cho cùng một đơn vị rủi ro, nhưng giữa chúng có nhiều điểm khác nhau

ký tên vào giấy chứng nhận bảo hiểm

- Khi tổn thất xảy ra các công ty tham gia đồng bảo hiểm có trách nhiệm trả tiền bồi thường trực tiếp cho người được bảo hiểm theo

tỷ lệ mình tham gia

- Công ty bảo hiểm gốc đứng ra ký hợp đồng với người tham gia và sau đó phân chia trách nhiệm cho các công ty tái bảo hiểm theo sự thỏa thuận giữa họ và các công ty tái bảo hiểm

- Khi tổn thất xảy ra, trước hết công ty bảo hiểm gốc phải đứng ra bồi thường cho người được bảo hiểm, sau đó mới đòilại công ty tái bảo hiểm phần thuộc trách nhiệm họ đảm nhận Ở đây người được bảo hiểm không có quan hệ trực tiếp với công ty tái bảo hiểm

Do có sự phiền phức trong việc ký kết hợp đồng và trả tiền bồi thường trên vàcùng với sự phát triển của nghiệp vụ tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm đã dần dần mất đi

ý nghĩa của nó Mặc dù vậy, hiện nay trên thị trường bảo hiểm London, đồng bảohiểm trong lĩnh vực hàng hải vẫn còn phổ biến

Tùy theo góc độ quan sát của công ty bảo hiểm gốc hay công ty tái bảo hiểm

mà người ta phân chia tái bảo hiểm thành hai phần riêng biệt Đó là chuyển tái bảohiểm (hay nhượng tái bảo hiểm) và nhận tái bảo hiểm:

- Chuyển tái bảo hiểm hay còn gọi là nhượng tái bảo hiểm: Có nghĩa là mộtcông ty bảo hiểm gốc phân tán rủi ro cho các công ty tái bảo hiểm Trong trườnghợp này, công ty bảo hiểm gốc phải chuyển phí cho các công ty tái bảo hiểm vànhận được từ họ yếu tố đảm bảo và ổn định kinh doanh của mình

Trang 9

- Nhận tái bảo hiểm: Là một công ty bảo hiểm nhận một phần rủi ro đã đượcbảo hiểm từ một công ty bảo hiểm gốc khác Trong trường hợp này, công ty nhậntái bảo hiểm được hưởng số phí từ công ty bảo hiểm gốc nhằm mục đích kinh doanhnghiệp vụ bảo hiểm, đồng thời cũng phải trả hoa hồng tái bảo hiểm cho công ty bảohiểm gốc.

Trong ví dụ trên thì quá trình phân tán rủi ro của công ty bảo hiểm PTI cho cáccông ty tái bảo hiểm Bảo Việt và PVI được gọi là nhượng tái bảo hiểm, nếu đứngtrên góc độ của công ty bảo hiểm PTI, nhưng được gọi là nhận tái bảo hiểm nếuđứng trên góc độ của công ty tái bảo hiểm Bảo Việt và PVI

Ngoài ra, TBH còn bao gồm cả hình thức TBH tiếp hay còn gọi là chuyểnnhượng TBH, nghĩa là một công ty tái bảo hiểm phân chia tiếp phần trách nhiệm màmình đã nhận được từ một công ty bảo hiểm gốc cho các công ty tái bảo hiểm khác

1.1.3 Chức năng của tái bảo hiểm:

Đứng trên các góc độ khác nhau, chức năng của TBH cũng có sự khác nhau:

Đối với công ty nhượng tái bảo hiểm:

Chức năng của nhượng tái bảo hiểm chủ yếu ở chỗ nhằm đảm bảo sự kinhdoanh cho công ty bảo hiểm gốc Sự đảm bảo này phụ thuộc vào các dạnh hợp đồngtái bảo hiểm và được thể hiện ở các mức độ khác nhau:

- Có thể giảm một cách tuyệt đối sự chênh lệch của kết quả kinh doanh, tronglúc tỷ lệ phí và chi bồi thường vẫn giữ nguyên

- Có thể loại trừ được những tổn thất lớn xảy ra cho nền kinh tế trong nước

- Cân bằng được các tổn thất trong từng nghiệp vụ cũng như trong tất cả cácnghiệp vụ mà công ty triển khai

Nhượng tái bảo hiểm là một nghiệp vụ tốn kém vì trong phí tái bảo hiểm có cảphần chi quản lý và lợi nhuận cho công ty tái bảo hiểm Do đó một điều cần phảichú ý là công ty nhượng luôn phải tìm được phương án tối ưu để vừa tiết kiệm đượctài chính (ở các nước đồng tiền không chuyển đổi được thì điều này càng quan trọng

vì đó là ngoại tệ), đồng thời ổn định được hoạt động kinh doanh của mình Có nghĩa

là chỉ phân tán bớt rủi ro khi thật sự cần thiết

Đối với công ty nhận tái bảo hiểm:

Nhận tái bảo hiểm có chức năng hoàn toàn khác với nhượng tái bảo hiểm Ởđây công ty bảo hiểm xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm nhằm ổn định kinh doanh cho các

Trang 10

công ty bảo hiểm khác Vì vậy, chức năng của nhận tái bảo hiểm giống với chức năngcủa bảo hiểm đối ngoại là kinh doanh dịch vụ bảo hiểm nhằm tăng thu ngoại tệ đồngthời nhận tái bảo hiểm còn giúp các công ty nhận tái tăng cường quan hệ với các đốitác trong nước cũng như quốc tế, làm gia tăng doanh thu cho công ty mình.

Đối với Nhà nước:

- Đảm bảo ổn định và sự chắc chắn cho các đơn vị kinh tế của quốc gia

- Đảm bảo ổn định ngân sách nhà nước

- Tăng thu nhập cho các DNBH, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước

Thông qua nhiệm vụ và chức năng trên ta thấy bảo hiểm có một ý nghĩa quantrọng đối việc phát triển kinh tế của một đất nước Đảm bảo kinh doanh cho công tybảo hiểm nghĩa là đảm bảo được sự kinh doanh và sản xuất của các đơn vị kinh tế,

từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho họ phát triển kinh doanh Đảm bảo tính ổn địnhcủa ngân sách nhà nước nghĩa là đảm bảo được kế hoạch chi tiêu ngoại tệ nhằmphát triển sản xuất một cách đồng bộ Tăng thêm thu nhập quốc dân tức là mở rộngđược kinh doanh sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân

1.2 CÁC HÌNH THỨC TÁI BẢO HIỂM

1.2.1 Tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn

Đây là hình thức tái bảo hiểm cơ bản và cổ điển nhất mà các nhà tái bảo hiểm

và bảo hiểm Châu Âu đã bắt đầu thực hiện từ giữa thế kỷ XIX Danh từ “tùy ý lựachọn” (Facultative) có liên quan đến ý niệm là trong loại bảo hiểm này, công tynhượng (Ceding company) có toàn quyền lựa chọn rủi ro cần phải tái bảo hiểm vàngược lại, nhà tái bảo hiểm (Reinsurer) có quyền nhận hay từ chối rủi ro đó Mỗidịch vụ đem nhượng theo cơ sở tùy ý lựa chọn là hợp đồng tái bảo hiểm tách biệtbao gồm toàn bộ hay một phần rủi ro mà công ty nhượng muốn nhượng cho thịtrường tái bảo hiểm

Vào thời vào thỏa thuận đó thường quan tâm đến việc qui định thật chính xáccác chi tiết cần thỏa thuận của lần tiếp theo, các mục đích, nghĩa vụ của các bên đốivới nhau và đạt ra các điều kiện cần thiết để ràng buộc những nghĩa vụ và quyền lợi

ấy Như vậy chỉ có hình thức tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn là phù hợp nhất, vì nó cóthể cho phép nhà tái bảo hiểm có được một ý niệm đúng về những rủi ro mà mìnhphải gánh chịu trước khi tham gia hợp đồng

Trang 11

Thủ tục tiến hành:

- Công ty nhượng sẽ thông báo bằng văn bản cho nhà tái bảo hiểm biết về mộtdịch vụ bảo hiểm cần tái Trong bảng thông báo này thường bao gồm các thông tin:tên, địa chỉ của khách hàng, tính chất của rủi ro, ngày bắt đầu và kết thúc hợp đồng,thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, phần giữ lại của công ty bảohiểm, tỷ lệ hoa hồng…

- Nhà tái bảo hiểm sau khi nhận được bản thông báo này sẽ nghiên cứu, xemxét xem có chấp nhận được không hay phải từ chối Nếu chấp nhận, họ thường kí tắtvào bản thông báo này và gửi trả lại cho công ty nhượng Rất nhiều trường hợp, họmuốn có thêm thông tin hoặc trao đổi với công ty bảo hiểm gốc về một vấn đề nào đó

Sự trao đổi và thỏa thuận ngày nay thường diễn ra trên điện thoại hoặc máy fax Thỏathuận xong họ sẽ ký tắt vào bản thông báo và gửi trả Nếu từ chối, các nhà tái bảo hiểmthường yêu cầu công ty bảo hiểm gốc xác minh, xem xét lại cách thức đánh giá rủi ro,tính toán phí bảo hiểm, phương án quản lý rủi ro của công ty bảo hiểm gốc có phù hợpkhông…thông qua những việc làm này để họ tìm cách từ chối khéo

- Sau khi nhận được thông báo trả lại của công ty nhận, rằng họ chấp nhậntham gia, hai bên thỏa thuận lần cuối cùng trước khi đi đến ký kết và lựa chọn hợpđồng ký kết Như vậy dịch vụ tái bảo hiểm đã hoàn tất

Ưu, nhược điểm của hình thức này:

+ Ưu điểm:

- Giúp công ty nhượng, nhất là các công ty BH non trẻ, có ít kinh nghiệm củacác quốc gia đang phát triển, có thể hoàn thành việc nhận bảo hiểm cho những đơnvị rủi ro ở địa phương mà có giá trị bảo hiểm lớn, vượt quá khả năng tài chính thôngthường của mình bằng việc sử dụng chuyên môn và khả năng của thị trường TBHquốc tế

- Công ty nhượng có điều kiện lựa chọn để duy trì kim ngạch bảo hiểm đượccân đối, loại bỏ được những rủi ro đặc biệt lớn hoặc nguy hiểm mà một khi tổn thấtthuộc đơn vị rủi ro này xảy ra có thể làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh củacông ty trong năm kế hoạch ở một nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt nào đó

- Công ty nhượng có quyền chủ động trong việc chấp nhận bảo hiểm phục vụnhu cầu của người được bảo hiểm về những loại rủi ro mà có thể không được chấpnhận trong các hợp đồng bắt buộc truyền thống của mình như rủi ro về động đất,ngập lụt, bạo loạn, chiến tranh…

Trang 12

- Tạo điều kiện cho công ty nhượng có thể nhờ vào hình thức TBH tùy ý lựachọn trước khi tận dụng khả năng các hợp đồng TBH bắt buộc của họ, tức là có điềukiện để cải thiện sự thăng bằng của các hình thức TBH bắt buộc, cải thiện vận mayrủi trong việc đạt được những lợi ích tối đa theo các điều kiện quy định trong cáchợp đồng TBH đó của họ

+ Nhược điểm:

- Công ty nhượng tái phải thông báo đầy đủ chi tiết nghiệp vụ bảo hiểm gốc,nghĩa là khi áp dụng hình thức này nhiều lần thì nhà TBH thường xuyên phải tiếpxúc và biết được ý đồ bên trong của các hợp đồng bảo hiểm gốc và kim ngạch bảohiểm của công ty nhượng, dẫn đến có thể bị tiết lộ những thông tin có lợi cho sựcạnh tranh trong thị trường bảo hiểm gốc

- Không đảm bảo thời gian tính trong việc phân tán rủi ro TBH, tức là công tynhượng không có sự đảm bảo chắc chắn của thị trường TBH khi họ nhận bảo hiểmmột rủi ro nào đó Công ty nhượng sẽ mất cơ hội tranh thủ bảo hiểm nếu như ở thịtrường đó có công ty bảo hiểm khác có khả năng phục vụ tốt hơn, hoặc không cókhả năng để nhận bảo hiểm cho rủi ro có giá trị lớn, hay ít nhất cũng làm cho công

ty nhượng mất uy tín vì sự chậm trễ trả lời người được bảo hiểm

- Chi phí hành chính, thủ tục giấy tờ tốn kém làm giảm thu nhập kinh doanh

- Thường xuyên phải đàm phán tái lập hợp đồng TBH trước khi kí kết bảohiểm gốc với khách hàng mà trong nhiều trường hợp đáng lẽ không cần thiết phảithay đổi hay hủy bỏ hợp đồng đã kí đó

- Trong trường hợp khi khả năng tiếp nhận rủi ro của thị trường TBH quốc tế

đã gần đạt tới mức tối đa, hoặc khi phí bảo hiểm gốc quá thấp so với phí trung bìnhcủa thị trường thì hình thức TBH tùy ý lựa chọn chỉ có thể thực hiện được với mộtmức phí cao hơn so với mức phí gốc hoặc buộc phải giảm bớt mức thủ tục phí TBH.Trong trường hợp này, sai biệt đó sẽ do công ty nhượng tự gánh chịu, hoặc nếukhông muốn vậy, công ty nhượng buộc phải giảm bớt phần trách nhiệm mà mìnhcam kết trong bảo hiểm gốc

1.2.2 Tái bảo hiểm bắt buộc (Obligatory)

Hình thức tái bảo hiểm bắt buộc là sự thỏa thuận gữa công ty nhượng và nhàtái bảo hiểm mà trong đó, công ty nhượng tự bắt buộc mình phải nhượng cho nhà táibảo hiểm tất cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc mà hai bên đã quy định trong hợpđồng cho tới một hạn mức trách nhiệm ngang với số tiền hạn mức tối đa đã được

Trang 13

thỏa thuận từ trước Ngược lại, nhà tái bảo hiểm cũng tự bắt buộc mình phải chấpnhận toàn bộ các rủi ro đó Theo hình thức này, công ty nhượng có toàn quyền tự dochấp nhận và định giá phí bảo hiểm cho những đơn vị rủi ro mà khách hàng yêu cầubảo hiểm mà không cần phải tham khảo ý kiến của các nhà tái bảo hiểm trước.Mặt khác, công ty nhượng cũng đơn phương thanh toán các vụ tổn thất liênquan đến những rủi ro được bảo hiểm đó với mục đích bảo vệ quyền lợi chung giữacông ty nhượng và nhà tái bảo hiểm Nghĩa là, trong mọi quyết định của mình, công

ty nhượng đều phải quan tâm đến quyền lợi của cả nhà tái bảo hiểm và quyền lợicủa mình Trong hình thức này, nhà tái bảo hiểm sẽ hoàn toàn chia sẻ những vậnmay rủi với công ty nhượng và sẽ chấp nhận thanh toán cho những tổn thất thuộcphạm vi hợp đồng tái bảo hiểm đã thỏa thuận mà công ty nhượng đã thay mặt họgiải quyết Tuy vậy, nhà tái bảo hiểm sẽ không bị ràng buộc bởi những hành động

sơ xuất của công ty nhượng mà đi ngược lại với lợi ích của họ

Như vậy, hình thức tái bảo hiểm bắt buộc là thỏa ước ràng buộc các bên với nhaumột cách chặt chẽ hơn là dịch vụ bảo hiểm nhượng theo hình thức tái bảo hiểm lựa chọn

- Vận may rủi ro được chia đều cho các bên

- Đối với những công ty nhỏ, mới thành lập ít kinh nghiệm, nếu đem chào táicho các công ty lớn ở nước ngoài thì họ rất dễ chấp nhận Do vậy việc kí kết càngdiễn ra nhanh chóng

- Với hình thức này, nhà tái bảo hiểm có điều kiện thu được phí lớn nhất, phùhợp với nguyên tắc “số đông bù số ít” giúp cho nhà tái bảo hiểm thực hiện được tốtvai trò kinh tế quốc dân về đẩy mạnh những tiến bộ kỹ thuật của ngành bảo hiểmbằng việc chấp nhận rủi ro và các dạng bảo hiểm mới

Trang 14

+ Nhược điểm:

- Nếu xét toàn cục, thì tái bảo hiểm theo hình thức này, nhà tái bảo hiểm sẽ bịbất lợi hơn so với các công ty nhượng, cho dù công ty nhượng có toàn quyền địnhphí, đánh giá rủi ro

- Trong quá trình thỏa thuận, đàm phán để đi đến ký kết hợp đồng, nếu mọikhía cạnh trong hợp đồng còn những vấn đề gì chưa rõ, chưa chặt chẽ, thông thườngcông ty nhượng cũng bị bất lợi

1.2.3 Tái bảo hiểm lựa chọn – bắt buộc (Fac – Obli)

Sau chiến tranh thế giới thứ II, một loạt các công ty bảo hiểm mới ở tất cả cácchâu lục ra đời và phần lớn trong số này nhận thức được rõ ưu nhược điểm của haihình thức nêu trên nên họ đã đưa ra hình thức tái bảo hiểm lựa chọn bắt buộc

Tái bảo hiểm lựa chọn bắt buộc hay còn gọi là đảm bảo để ngỏ (open cover),

là một hình thức tái bảo hiểm mà công ty nhượng thường cố gắng thu xếp mỗi khinhững rủi ro cần tái đi trong một ngành kinh tế lên tới một mức độ nào đó

Trong hình thức tái bảo hiểm này, công ty nhượng không bắt buộc phải nhượng tất

cả những dịch vụ mà mình nhận bảo hiểm, nhưng ngược lại nhà tái bảo hiểm buộc phảichấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượng đưa vào thỏa thuận này với điều kiện nhữngdịch vụ đó phải phù hợp với nội dung và điều khoản đã quy ước trước của hợp đồng táibảo hiểm Như vậy so với hình thức tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn, nhà tái bảo hiểm bất lợihơn vì không có quyền được từ chối những rủi ro mà một khi họ không muốn

Để bù đắp thiệt hại nói trên, trong hình thức này, nhà tái bảo hiểm có điều kiệnthu nhập nguồn phí tái bảo hiểm lớn hơn và có phần thăng bằng hơn so với hìnhthức tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn Tuy nhiên, trong hình thức này, tỷ lệ thủ tục phítái bảo hiểm thường cao hơn so với hình thức tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn Tronghình thức tái bảo hiểm lựa chọn bắt buộc vẫn có điều kiện đặt ra là nội dung củahình thức tái bảo hiểm này không có nghĩa chỉ có những rủi ro có khả năng dễ xảy

ra tổn thất nhất thì đưa vào hợp đồng

Nói cách khác, công ty nhượng không được lợi dụng hình thức tái bảo hiểmnày để lựa chọn rủi ro nhằm mục đích đẩy phần bất lợi cho nhà tái bảo hiểm Đểphòng ngừa trường hợp này có thể xảy ra, nhà tái bảo hiểm phải nắm rõ ý đồ củacông ty nhượng, xem xét kỹ các rủi ro mà họ đem tái bảo hiểm và thường xuyênphải canh chừng diễn biến của thỏa ước mình đã ký kết

Trang 15

Sử dụng hình thức tái bảo hiểm này, công ty nhượng có điều kiện để đem chàotái từng phần trách nhiệm thặng dư của khả năng tự giữ lại của mình cho một nhàtái bảo hiểm duy nhất hay cho một số ít các nhà tái bảo hiểm mà họ lựa chọn, thaycho việc phải đem phân chia tất cả các phần thặng dư của khả năng tự giữ lại củamình cho các nhà tái bảo hiểm nếu như đem tái đi theo hình thức bắt buộc Tuynhiên cách tái như thế thường chỉ có thể thực hiện được bằng cách chào cho các nhàtái bảo hiểm có tiềm lực thật lớn, vì họ là những nhà tái bảo hiểm có khả năng nhậncác rủi ro có giá trị bảo hiểm cao và như vậy sẽ không đòi hỏi phải phân tán chonhiều nhà bảo hiểm, đỡ tốn kém chi phí.

Trang 16

- Chi phí hành chính rườm rà, tốn kém ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh củacông ty.

- Có thể thường xuyên phải đàm phán lại mới ký kết được hợp đồng TBH vìthế công ty nhượng sẽ ít có cơ hội tiếp cận thị trường để mở rộng hoạt động kinhdoanh, thậm chí phải hủy bỏ các hợp đồng bảo hiểm gốc, nếu các nhà TBH chèn épcác dịch vụ mà công ty nhượng đưa vào thỏa thuận, với điều kiện các dịch vụ đóphải phù hợp nội dung, điều khoản hai bên đã quy ước từ trước

1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÁI BẢO HIỂM

1.3.1 Tái bảo hiểm theo tỷ lệ (Proportional Reinsuarance)

a, Khái niệm:

Tái bảo hiểm theo tỷ lệ là một phương pháp tái bảo hiểm mà trong đó tráchnhiệm của công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm đối với mỗi đơn vị rủi ro được bảohiểm phân bổ theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên trên cơ sở số tiền bảo hiểm

b, Đặc điểm:

Tái bảo hiểm theo tỷ lệ có đặc tính sau:

- Trách nhiệm của công ty nhượng và công ty nhận TBH được tính theo tỷ

lệ tương ứng của mỗi bên tham gia

- Phí bảo hiểm sẽ được chia sẻ giữa công ty nhượng và công ty nhận TBH theo

tỷ lệ tham gia của mỗi bên về số tiền bảo hiểm

- Đây là phương pháp tái bảo hiểm rất đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ tính toán

c, Các phương pháp tái bảo hiểm theo tỷ lệ

Tái bảo hiểm số thành

+ Bản chất:

Theo phương pháp này, các công ty nhượng giữ lại cho mình một tỷ lệ % nhấtđịnh tính trên mỗi đơn vị rủi ro, phần còn lại đem tái đi cho các công ty khác Bởivậy, phí bảo hiểm và số tiền bồi thường nếu có cũng được phân bổ theo tỷ lệ mỗibên đảm nhận

Dạng tái bảo hiểm số thành không mang tính chất san bằng đối với các giá trịđược bảo hiểm Nó cung cấp một sự đảm bảo giản đơn và có hiệu quả trong mọitrường hợp, đặc biệt trong trường hợp có sự tích lũy của một số lớn các vụ bồithường tổn thất nhỏ hoặc trung bình mà gây ra bởi cùng một sự cố

Trang 17

+ Đặc điểm:

- Đơn vị rủi ro nào cũng phải đem tái đi

- STBH tối đa trên mỗi đơn vị rủi ro thường khác nhau, vì mức giữ lại của cácbên là số tương đối

- Tái bảo hiểm theo phương pháp này dễ hiểu, dễ áp dụng, đơn giản, dễ tính toán

- Phương pháp này rất phù hợp với những nghiệp vụ bảo hiểm mà STBH trên mỗi đơn vị rủi ro có mức độ biến động không lớn (như xe cơ giới, hànghóa vận chuyển nội địa, hàng hóa xuất nhập khẩu…)

Tái bảo hiểm mức dôi:

+ Bản chất:

Theo phương pháp này, công ty nhượng giữ lại cho mình một STBH nhấtđịnh, phần còn lại đem tái đi cho công ty khác Bởi vậy, phí bảo hiểm và STBH nếu

có cũng được phân bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhận

Tái bảo hiểm mức dôi là dạng tái bảo hiểm cổ xưa và phổ biến nhất Thôngthường dạng này được sử dụng khi khối lượng dịch vụ gồm nhiều rủi ro có những

số tiền bảo hiểm rất chênh lệch Dạng tái bảo hiểm này giúp công ty nhượng cóđược sự bù đắp cần thiết cho những rủi ro mà họ nhận bảo hiểm Với dạng tái bảohiểm này, công ty nhượng đảm bảo được sự cân bằng trong kinh doanh và có thểnhận bảo hiểm cho những rủi ro có giá trị lớn hơn khả năng tài chính của mình.Ngoài ra, áp dụng dạng tái bảo hiểm này, công ty nhượng sẽ có điều kiện giữ lạimột khối lượng kim ngạch bảo hiểm lớn và do đó, có mức phí thu nhập lớn khôngcần phải đem TBH

+ Đặc điểm:

- Không phải rủi ro nào cũng đem tái đi mà chỉ tái đi những đơn vị rủi ro nàovượt quá mức giữ lại

- Vì mức giữ lại trên mỗi đơn vị rủi ro chính là số tuyệt đối nên mức giữ lại tối

đa trên mỗi đơn vị rủi ro thường bằng nhau

- Nếu những đơn vị rủi ro có số tiền bảo hiểm quá lớn, các nhà tái bảo hiểmkhông đảm nhận hết theo như ký kết ban đầu, bản thân công ty nhượng phải xử lýtình huống này Thông thường bằng ba cách sau:

+ Đàm phán lại với các nhà tái bảo hiểm, nếu họ đồng ý sẽ tiếp tục phân bổcho đến hết thì thôi

Trang 18

+ Nếu họ không đồng ý, quay về công ty nhượng phải gánh vác toàn bộ.

+ Công ty nhượng có thể chuẩn bị sẵn một hợp đồng tạm thời ngay từ đầu năm

để đáp ứng tình huống này

Tái bảo hiểm kết hợp giữa TBH số thành và TBH mức dôi

+ Bản chất:

Theo phương pháp này, trước hết người ta phải tiến hành phân bổ cho hợpđồng số thành sau đó mới đến hợp đồng mức dôi Phí bảo hiểm và số tiền bồithường nếu có cũng được phân bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhận

- Công ty nhượng thông thường có toàn quyền ký kết hợp đồng với kháchhàng, từ khâu đánh giá, quản lý rủi ro, xác định phí bảo hiểm…

- Dạng kết hợp này cũng đơn giản, dễ hiểu nhưng tác dụng lớn vì phân tán rủi

ro được tiến hành nhanh hơn và công ty bảo hiểm gốc dễ dàng chào tái bảo hiểm hơn.Điều kiện áp dụng phương pháp kết hợp này thường là những nghiệp vụ bảohiểm có số tiền tương đối lớn qua số liệu thống kê từ những năm trước như bảo hiểmhàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu thủy, tàu sông, tàu cá, các dự án xây dựng cơ sở

hạ tầng nông thôn, các nhà hàng, khách sạn tham gia bảo hiểm hỏa hoạn

d, Hoa hồng tái bảo hiểm

Khái niệm:

Hoa hồng tái bảo hiểm là một khoản tiền nhất định mà nhà tái bảo hiểm phảitrả cho công ty nhượng khi nhà tái bảo hiểm tham gia các hợp đồng nhận tái bảohiểm Số tiền này được xây dựng trên cơ sở phí tái bảo hiểm

Hoa hồng tái bảo hiểm khác hẳn với môi giới phí bảo hiểm Môi giới phí bảohiểm và tái bảo hiểm là khoản tiền mà nhà tái bảo hiểm trả riêng cho công ty môigiới khi dịch vụ này được tái đi gián tiếp qua môi giới (trong tái bảo hiểm) hoặc làmột khoản tiền mà công ty bảo hiểm gốc phải trả cho người môi giới nếu dịch vụnày được thực hiện thông qua môi giới (bảo hiểm gốc) Môi giới tái bảo hiểm tức làđứng về giá các nhà tái bảo hiểm (công ty nhận tái bảo hiểm)

Trang 19

Đặc điểm của hoa hồng tái bảo hiểm:

- Thường chỉ được áp dụng với các dạng tái bảo hiểm theo tỷ lệ

- Hoa hồng tái bảo hiểm có thể được điều chỉnh trong năm nghiệp vụ.Cơ sởđiều chỉnh là tỷ lệ bồi thường, lãi mà các bên thu nhận được

- Hoa hồng tái bảo hiểm đôi khi còn gắn kết với kết quả kinh doanh của cácbên trong năm nghiệp vụ đó

- Hoa hồng tái bảo hiểm cao hay thấp đôi khi còn phụ thuộc vào một loạt cácnhân tố khách quan khác như: điều kiện thực tế của thị trường, mối quan hệ giữacác bên tham gia hợp đồng, vấn đề trao đổi dịch vụ giữa các bên, những qui địnhcủa nhà nước, tình hình cung cầu của thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm trong vàngoài nước

Các loại hoa hồng tái bảo hiểm:

Hoa hồng TBH còn được gọi là thủ tục phí TBH Do đó, việc trả hoa hồngTBH nhằm bù đắp cho công ty nhượng những khoản chi phí có liên quan đếnHĐBH gốc như chi phí khai thác, chi phí duy trì hợp đồng… Với mức hoa hồngTBH hợp lý, các công ty BH cũng có điều kiện tạo ra các mối quan hệ bạn hàng vớicông ty BH và TBH khác trên thị trường Bên cạnh đó, đây cũng là một cách để cácDNBH Việt Nam có thể hội nhập nhanh chóng với thị trường thế giới theo đúngthông lệ quốc tế

Thông thường có các loại hoa hồng TBH sau:

- Hoa hồng cố định: Là một khoản tiển mà nhà tái bảo hiểm phải trả cho công

ty nhượng được biểu thị bằng một tỷ lệ phần trăm cố định so với số phí tái bảohiểm Đây là loại hoa hồng đơn giản nhất, dễ thỏa thuận nhất và nó rất phù hợp vớinhững giao dịch ban đầu khi một công ty nhượng nào đó lần đầu tiên đi tái hoặc lầnđầu tiên đi tái với một công ty mới quen biết, trên một thị trường mới lạ Loại hoahồng này cũng rất phù hợp bới các nghiệp vụ bảo hiểm mà số tiền bảo hiểm trênmỗi đơn vị nhưng cũng không có biến động lớn, nhỏ bé hoặc những nghiệp vụ bảohiểm mà có số tiền bảo hiểm cả hai bên đều có thể ước tính mà khống chế được

- Hoa hồng theo thang lũy tiến: Mục đích áp dụng loại này là hạn chế tối đaảnh hưởng của kết quả bổi thường đối với cả hai bên Cơ sở để xác định loại hoahồng này có thể :

+ Lấy hoa hồng cố định làm chuẩn, sau đó quy định mức tăng, giảm theo

tỷ lệ bồi thường

Trang 20

+ Lấy một thang lũy tiến của một nước nào đó làm chuẩn (nước đó cóquan hệ lâu dài, thường xuyên, liên tục với mình).

+ Lấy một nghiệp vụ bảo hiểm nào đó tương tự trong mỗi loại hình bảohiểm (có thể là một nghiệp vụ mà nhiều sản phẩm bảo hiểm có liên quan hoặc cũng

có thể một loại sản phẩm nào đó mang tính đặc trưng cho một loại hình bảo hiểm)

Sở dĩ gọi là thang lũy tiến là vì nó được khống chế ở mức độ tối đa và tốithiểu, trong hạn mức này có từng mức thang và mỗi một bậc thang là cách đều nhautheo tỷ lệ bồi thường và tỷ lệ hoa hồng Sau đây là một thang lũy tiến mà Việt Namdùng cho loại hình bảo hiểm tài sản:

Tỷ lệ bồi thường (%) Tỷ lệ hoa hồng (%)

75 trở lên737169676563615957

55 trở xuống

2021222324252627282930

- Hoa hồng theo lãi (ít áp dụng): Đây cũng là một phương thức trả hoa hồng

mà thực chất là phụ thêm vào hoa hồng cố định Mục đích áp dụng loại hoa hồngnày là nhằm thu lại một phần lãi cho công ty nhượng nếu kết quả kinh doanh củacác bên tốt hơn dự kiến Cơ sở xác định loại hoa hồng này thường là:

+ Lãi kinh doanh của các bên trong một số năm trước đó nếu như thiết lậpđược mối quan hệ bạn hàng lâu dài

+ Chi phí quản lí của công ty nhượng liên quan đến nghiệp vụ

+ Thời hạn của hợp đồng bảo hiểm gốc liên quan đến hợp đồng TBH

Trang 21

+ Vấn đề chuyển lỗ thành lãi giữa các năm.

Dựa vào 4 cơ sở nói trên, nhà tái bảo hiểm trả cho công ty nhượng một khoảnnhất định được tính bằng tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận thực tế mà anh ta thu được

Tỷ lệ này về cơ bản cũng có hai bên thỏa thuận

1.3.2 Tái bảo hiểm phi tỷ lệ:

a, Khái quát :

+ Khái niệm: Tái bảo hiểm phi tỷ lệ (tái bảo hiểm theo mức bồi thường) làhình thức tái bảo hiểm mà trong đó công ty nhượng ấn định cho mình một giới hạnbồi thường nhất định mà họ phải tự gánh chịu cho tổn thất là hậu quả của mỗi một

sự cố đối với một hay các loại BH mà họ đảm trách, phần vượt quá giới hạn đóđem tái đi

+ Đặc điểm:

- Trách nhiệm của công ty nhượng và các nhà tái bảo hiểm chỉ được phân địnhtheo số tiền bảo hiểm mà không được phân định theo số tiền bảo hiểm hay tỷ lệ phí

Vì vậy, tiêu chuẩn để phân định ở đây chính là số tiền bảo hiểm

- Công ty nhượng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất bằnghoặc dưới mức giữ lại (mức tự bồi thường) Việc phân chia này cũng phân địnhhoàn toàn theo mức may rủi mà các bên phải gánh chịu (tuy nhiên may rủi ở đâycũng dựa trên cơ sở số lớn để xác định mức đảm nhiệm (mức giữ lại) của mỗi bên

- Nhà tái bảo hiểm chỉ bồi thường phần giới hạn mà họ đảm trách, phần này làbất di bất dịch, không có sự thỏa thuận đàm phán lại giữa các bên

Trang 22

được phí đặt cọc này.

+ Đặc điểm:

- Mối quan hệ giữa các bên dựa trên cơ sở STBT chứ không dựa trên STBH

- Dạng TBH này, các nhà tái bảo hiểm thường không phải trả hoa hồng chocác nhà bảo hiểm gốc

- Phương pháp này rất phù hợp với những nghiệp vụ bảo hiểm mà sự biểnđộng rủi ro về tổn thất rất lớn, đặc biệt là những rủi ro mang tính chất thảm họa nhưtrong lĩnh vực nông nghiệp, hàng không, dầu khí, xây dựng lắp đặt

- Phí đặt cọc là vấn đề các bên đặc biệt quan tâm Để xác định phí được chínhxác phải dựa vào nhiều yếu tố có liên quan đến cả trước và sau khi ký hợp đồng

Tái bảo hiểm vượt quá tỷ lệ bồi thường:

Phương pháp này hầu như rất ít được sử dụng Tuy nhiên nó cũng có tác dụngnhất định ở chỗ là có thể ấn định một mức lãi của công ty nhượng ở mức ổn địnhhơn Đối với một số nghiệp vụ BH có tỷ lệ bồi thường cao hoặc không ổn định, cóthể áp dụng phương thức TBH này để phân tán rủi ro cho công ty BH gốc

Trang 23

Mục đích thực hiện các hợp đồng TBH kết hợp là để đáp ứng nhu cầu cạnhtranh của thị trường, tạo ra sự linh hoạt cho công ty nhận hay công ty nhượng TBH.

Có các phương thức kết hợp sau:

Kết hợp giữa TBH số thành và TBH mức dôi

Kết hợp giữa TBH số thành và TBH vượt mức bồi thường

Kết hợp giữa TBH mức dôi và TBH bồi thường theo tỷ lệ

do vậy khi giá trị của hợp đồng bảo hiểm gốc vượt quá giới hạn trách nhiệm củacông ty nhận ở hợp đồng TBH mức dôi thì số tiền bảo hiểm sẽ quay lại với tráchnhiệm của hợp đồng TBH số thành

- Việc phân bổ trách nhiệm bồi thường giữa các công ty TBH và công ty bảohiểm gốc được tính dựa trên trách nhiệm của mỗi bên căn cứ theo hợp HĐBH

b, TBH kết hợp số thành và vượt mức bồi thường

Loại hình tái bảo hiểm kết hợp này để bảo vệ công ty nhượng hoặc công tynhận TBH trong trường hợp số tiền bồi thường có thể vượt quá khả năng tài chínhcủa họ

TBH kết hợp số thành và vượt mức bồi thường có đặc điểm: Trách nhiệm cácbên trước tiên được phân chia trách nhiệm theo hợp đồng số thành, sau đó công tynhượng hoặc công ty nhận của hợp đồng TBH số thành sẽ tìm kiếm hợp đồng TBHvượt mức bồi thường để bảo vệ cho mình

c, TBH kết hợp mức dôi và vượt mức bồi thường

Đối với loại hình TBH kết hợp này, việc phân chia trách nhiệm giữa công tynhận và công ty nhượng được thực hiện theo hợp đồng TBH mức dôi trước, sau đóhợp đồng TBH vượt mức bồi thường được thu xếp để bảo vệ công ty nhượng hoặc

Trang 24

ty nhượng có thể phải gánh chịu trong hợp đồng bảo hiểm của mình.

Việc san sẻ rủi ro và san sẻ tài chính thể hiện ở cả STBH, STBT, phí bảo hiểm

và hoa hồng tái bảo hiểm Đặc biệt, những rủi ro trong HĐ TBH phần lớn là nhữngrủi ro mà hậu quả thiệt hại lớn Bởi vậy, HĐ TBH ngày nay có tính quốc tế rộng.Đặc điểm của hợp đồng tái bảo hiểm:

- Nhà tái bảo hiểm cam kết bồi thường cho công ty nhượng mà bản thân công

ty nhượng là thành viên của hợp đồng (có nghĩa là khách hàng không có quyềntham gia vào loại hợp đồng)

- Tái bảo hiểm có thể cam kết bồi thường toàn bộ hoặc chỉ một phần đối vớitrách nhiệm mà công ty nhượng có thể phải gánh chịu theo HĐBH (rất hiếm khitoàn bộ vì nều toàn bộ thì công ty nhượng trở thành môi giới)

- Hợp đồng tái bảo hiểm là HĐ riêng biệt giữa các nhà TBH với công tynhượng Tuy nhiên nếu kết hợp giữa các phương pháp với nhau thì mỗi HĐ TBHriêng biệt cũng có thể có những điểm chung giống nhau (Ví dụ: giống nhau về đơnvị rủi ro, tỷ lệ hoa hồng…)

- Sự xem xét đã được thông qua

Bên cạnh những yêu cầu đặt ra nói trên, trong mỗi HĐBH thì quyền lợi và tráchnhiệm các bên bao giờ cũng rất được coi trọng và được thực hiện ở những điềukhoản chính trong hợp đồng

Về quyền lợi: Công ty nhượng được giới hạn ở mức độ tổn thất mà họ phải

Trang 25

gánh chịu Điều này phụ thuộc vào STBH hoặc hạn mức bồi thường, tài sản hoặctrách nhiệm được BH, rủi ro được BH Ngoài ra, công ty nhượng còn có một quyềnlợi thứ hai là lựa chọn phương pháp TBH và lựa chọn người bảo vệ cho mình để kýhợp đồng TBH, quyền hồi tố (nghĩa là trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu cácnhà TBH vi phạm trước khi thanh lý hợp đồng nhưng chỉ sau khi hết hạn hợp đồngmới biết thì công ty nhượng có quyền hồi tố).

Về trách nhiệm: Sau khi ký hợp đồng TBH, công ty nhượng có ba trách nhiệmchính Ba trách nhiệm này được thực hiện trong hợp đồng TBH nhưng nó có thể thểhiện ở nhiều điều khoản khác nhau: đó là trong việc đánh giá và kiểm soát rủi ro;phân định rủi ro; đòi bồi thường từ các nhà TBH để có tiền bồi thường cho kháchhàng của mình

Đối với các nhà TBH, tuỳ theo từng hình thức TBH mà họ chấp nhận rủi rođưa ra trong giới hạn hợp đồng như thế nào, đồng thời họ cũng có quyền hay không

có quyền tham gia vào việc đánh giá rủi ro Tuy vậy, về mức phí bên phía công tynhượng đã tính toán cũng như công tác đánh giá rủi ro, các công ty TBH phải tínnhiệm tuyệt đối công ty nhượng Ngoài ra các nhà TBH phải thực hiện bồi thườngđúng trách nhiệm theo hạn mức trách nhiệm của mình cho công ty nhượng Bêncạnh đó, các nhà TBH cũng cần phải tuân thủ luật pháp của nước sở tại (nước củacông ty nhượng tái cho mình)

1.4.3 Thời hạn và trách nhiệm của nhà TBH

Nguyên tắc bồi thường áp dụng trong các HĐ TBH thường không quy định rõthời hạn và mức độ bồi thường cụ thể của nhà TBH vì những lí do sau:

- Đây là một HĐ bồi thường liên quan trực tiếp đến công ty nhượng phải bồithường cho khách hàng Do vậy, nhà TBH có thể không phải bồi thường ngay chocông ty nhượng, chừng nào công ty nhượng không tính toán được mức bồi thườngcho khách hàng

- Hợp đồng TBH cũng là HĐ bồi thường theo trách nhiệm pháp lý qui địnhcủa nhà nước sở tại Do đó, có một số trường hợp có sự khiếu kiện giữa khách hàngvới công ty nhượng đòi hỏi phải đưa ra tòa án, vậy nên khi nào tòa án giải quyết dứtđiểm thì nhà TBH mới bồi thường cho công ty nhượng

- Hợp đồng TBH cũng là HĐ thanh toán trên cơ sở có sự cố xảy ra thuộc phạm

vi bảo hiểm Bởi vậy, về mặt lý thuyết nhà TBH phải bồi thường cho công tynhượng để công ty nhượng bồi thường cho khách hàng Tuy nhiên, việc giải quyết

Trang 26

những vấn đề liên quan đến bồi thường của công ty nhượng đôi khi không dứt điểmđược do việc thu đòi người thứ ba, đánh giá giá trị thu hồi của tài sản chậm… Do đónhà TBH có quyền yêu cầu công ty nhượng phải xử lý xong những vấn đề liên quanthì nhà TBH mới bồi thường

Chính vì vậy, thời hạn phải bồi thường của nhà TBH cho công ty nhượngthường không rõ ràng

Cho dù trách nhiệm của nhà TBH bao giờ cũng được xác định rõ ràng liênquan đến hạn mức trách nhiệm mà anh ta đảm nhiệm Tuy nhiên, để giữ uy tín vớikhách hàng của mình, bao giờ công ty nhượng cũng đưa ra những phương án có lợinhất cho mình và đôi lúc phải chịu thiệt Muốn hạn chế sự thiệt thòi này, trong mỗi

HĐ TBH công ty nhượng nên đàm phán thêm một điều khoản, đó là điều khoản bồihoàn sau bồi thường của công ty nhượng

1.4.4 Các loại HĐ TBH được áp dụng ở Việt Nam

a, HĐ TBH dôi ra cố định

Loại hợp đồng này quy định công ty nhượng tái bảo hiểm số tiền vượt quámức giữ lại của mình Hợp đồng này thường được ký theo hình thức bắt buộc cho

cả năm nghiệp vụ Theo HĐ loại này:

- Các công ty sẽ chấp nhận những rủi ro mà công ty nhượng đưa ra một cáchbắt buộc

- STBH giữ lại của công ty nhượng được quy định bằng một số tiền cụ thể trênmỗi đơn vị rủi ro Trong năm nghiệp vụ cũng có thể thay đổi nên phải thông báocho nhà TBH biết, nếu đồng ý mới được thay đổi

- Công ty nhượng có quyền tái đi cho các công ty khác phần trách nhiệm ngoài

HĐ dôi ra cố định trên mỗi đơn vị rủi ro, thậm chí bằng cả một hợp đồng tạm thờinhưng mức giữ lại của công ty nhượng và nhà TBH không thay đổi

- Căn cứ để phân bổ trách nhiệm giữa các bên là STBH ghi trên HĐ đã thỏa thuận

b, Hợp đồng tái bảo hiểm vượt mức bồi thường

Từ năm 2002 đến nay, các công ty bảo hiểm gốc của Việt Nam thường lựachọn các nhà TBH nước ngoài để bảo vệ cho mình theo phương pháp vượt mức bồithường Loại này quy định công ty nhận TBH chịu trách nhiệm cho công ty nhượnghoặc công ty nhận phần trách nhiệm mà mình bảo vệ Việc quy định này được thỏathuận từ đầu năm nghiệp vụ Khi tổn thất xảy ra, nhà TBH vượt mức bồi thường

Trang 27

phải chịu trách nhiệm đối với mọi tổn thất được xem là một vụ tổn thất.

Đặc điểm:

- Trách nhiệm của nhà TBH VMBT bắt đầu từ thời điểm tổn thất xảy ra

- Thời hạn hợp đồng là thời hạn tính cho tổn thất xảy ra

- Trước mỗi vụ tổn thất, nhà TBH VMBT chịu trách nhiệm tổn thất đối vớimỗi và mọi tổn thất cho cùng một sự cố Mỗi sự cố gây ra một vụ tổn thất để phânchia trách nhiệm bồi thường

1.5 TÁI BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ

1.5.1 Vai trò và đặc điểm của TBH thiết bị điện tử

Bảo hiểm thiết bị điện tử là bộ phận của bảo hiểm kỹ thuật Sự ra đời và pháttriển của bảo hiểm thiết bị điện tử cũng như bảo hiểm kỹ thuật gắn liền với sự pháttriển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật

Đối với xã hội, đất nước và nền kinh tế, tái bảo hiểm đóng vai trò quan trọngtrong ổn định sản xuất kinh doanh, giúp mở rộng quan hệ kinh tế giữa các doanhnghiệp trong và ngoài nước, đóng góp vào sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh

để bảo vệ cho doanh nghiệp bảo hiểm gốc

Thứ hai, đối với các nhà nhượng tái thì tái bảo hiểm thiết bị điện tử còn phần

Trang 28

nào làm tăng thêm doanh thu cho họ từ hoa hồng tái bảo hiểm Đây cũng là mộtkhoản tiền có giá trị đóng góp vào việc tăng doanh thu của mỗi doanh nghiệp.

Tái bảo hiểm thiết bị điện tử giữ một vai trò quan trọng đối với từng doanhnghiệp bảo hiểm Đặc biệt đối với nhu cầu phát triển và ứng dụng các thành tựu củakhoa học công nghệ trong các ngành như bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin…thì bảo hiểm cũng như tái bảo hiểm thiết bị điện tử là không thể thiếu đối với mỗikhách hàng tham gia bảo hiểm nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế xã hội từngquốc gia nói chung

Đặc điểm của tái bảo hiểm thiết bị điện tử:

Về cơ bản tái bảo hiểm thiết bị điện tử hay bất kỳ nghiệp vụ tái bảo hiểm nàocũng được chia theo các hình thức tái bảo hiểm số thành và mức dôi Ngoài ra, táibảo hiểm thiết bị điện tử còn có một số đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, do đối tượng BH trong đơn BH thiết bị điện tử gốc được phân chiathành nhiều loại với các đặc tính kỹ thuật nhỏ gọn như: hệ thống và thiết bị xử lý dữliệu điện tử; các thiết bị thu thanh, truyền hình, điện ảnh, thiết bị thu phát âm; thiếtbị chiếu sáng và thiết bị hàng hải; thiết bị nghiên cứu và thử vật liệu; thiết bị viễnthông; thiết bị y tế bằng điện tử; các bộ truyền dẫn tín hiệu… Vì vậy trong một đơnvị diện tích nhỏ có thể tập trung nhiều thiết bị điện tử có giá trị lớn Do đó sẽ thiếu

sự phân tán rủi ro

Thứ hai, do thiết bị điện tử có độ nhạy cảm cao cả về tần số cũng như tínhkhốc liệt nên TBH thiết bị điện tử thường phải chịu rủi ro trên mức trung bình.Ngoài ra đơn BH có phạm vi rất rộng, thường là loại đơn BH “mọi rủi ro”

Thứ ba, trong nghiệp vụ BH và TBH thiết bị điện tử thì yếu tố kỹ thuật cần đượcnắm vững và chú ý để có thể đánh giá, thực hiện nghiệp vụ được chính xác hơn

Xuất phát từ những đặc điểm trên mà khi thực hiện nghiệp vụ này, các công tythường rất coi trọng việc chia tách các đơn vị rủi ro sao cho hợp lý Đối với loạihình BH thiết bị điện tử, các thiết bị điện tử thì thường được chia thành nhiều đơn vịrủi ro để việc đánh giá và quản lý rủi ro được tốt hơn, đồng thời việc xác định phícũng dễ dàng hơn Ngoài ra đây còn là một nghiệp vụ khá mới nên thường áp dụngphương pháp tái bảo hiểm theo tỷ lệ

1.5.2 Quy trình TBH thiết bị điện tử

Trang 29

Giống như các nghiệp vụ TBH khác, TBH TBĐT cũng phải tuân thủ theo mộtquy trình TBH nhất định Dưới đây là các quy trình nhận và nhượng TBH chungnhất mà bất cứ DNBH nào cũng phải tuân thủ:

Cuối cùng, sau khi mọi việc đã hoàn tất, cán bộ TBH có trách nhiệm thống kê,lưu trữ hồ sơ dữ liệu vào bản thống kê nhượng TBH để làm căn cứ hoạt động chonhững năm tiếp theo

Thu thập, xử lý thông

tin

Thu xếp TBH

Thực hiện hợp đồng, thanh toán hợp đồng

Thống kê, đánh giá hợp

đồng

Lưu hồ sơ, dữ liệu

Trang 30

b, Quy trình nhận TBH

Bước đầu, khi nhận được bản chào tái từ các công ty khác, công ty nhận cũngphải thu thập và đánh giá các thông tin liên quan tới bản chào tái đó, xem xét có nêntham gia vào hợp đồng nhận tái đó không Sau khi trình phương án nhận lên lãnhđạo, nếu từ chối phải thông báo ngay cho bên công ty nhượng ngay Nếu đồng ýtham gia vào hợp đồng TBH, công ty sẽ xác nhận và tiến hành thực hiện hợp đồng,thực hiện thanh toán theo các điều khoản đã thoả thuận

Khâu cuối cùng trong quy trình nhận cũng giống với quy trình nhượng TBH,

đó là công ty cũng cần thống kê và đánh giá lại hợp đồng, sau đó đưa vào hồ sơ lưutrữ chung để tiện cho việc quản lý hợp đồng

1.5.3 Kinh nghiệm triển khai TBH thiết bị điện tử ở một số quốc gia trên thế giới

Bảo hiểm và tái bảo hiểm thiết bị điện tử được xem là nghiệp vụ bảo hiểm phinhân thọ xuất hiện muộn nhất và cho đến nay vẫn là nghiệp vụ khá mới mẻ Sự xuấthiện của hợp đồng bảo hiểm thiết bị điện tử đầu tiên trên thế giới là vào khoảngnhững năm 20 của thế kỷ XX và được coi là phần bổ sung cho các hợp đồng thuêmướn và bảo dưỡng thiết bị Đến năm 1921, thế giới chứng kiến sự ra đời của công

ty chuyên bảo hiểm thiết bị điện tử đầu tiên

Thu thập, xử lý thông tin

Lên phương án nhận TBH

Đồng ý nhận HĐ TBH

Thực hiện HĐ TBH, thực

hiện thanh toán

Thống kê, đánh giá, lưu

hồ sơ, dữ liệu

Từ chối nhận TBH

Trang 31

Những năm 1920, loại hình bảo hiểm chuyên biệt cho thiết bị điện tử đã hìnhthành ở Đức với tên gọi “bảo hiểm điện áp thấp” với mục đích bảo vệ các công tycho thuê bao điện thoại đối phó với những áp lực tài chính do những tổn thất đối vớithiết bị điện thoại gây ra Sang những năm 30, người ta đã mở rộng phạm vi cácthiết bị được bảo hiểm bao gồm cả hệ thống tín hiệu ánh sáng, hệ thống loa chuyêndùng và hệ thống báo cháy, các thiết bị viễn thông rồi đến các máy tính điện tử.Trong những năm 1941, khi công nghệ máy tính hiện đại đã phát triển và hoànchỉnh ở Đức thì tại Mỹ cũng đã hình thành chuỗi máy tính điều khiển tự động, tiếpđến là việc sử dụng các bóng đèn điện tử cho việc tính toán Máy tính lớn nhấtENIAC là một hệ thống khổng lồ với hơn 18 000 đèn điện tử, 1500 thiết bị ngoại vikhác với mức tiêu thụ 150 KW, liên tiếp sau đó là sự ra đời của các phát minh khoahọc về thiết bị điện tử Đến những năm 1950, diot và trandiot được thay thế bởi cácthiết bị bán dẫn trong các ống điện tử Năm 1960, hàng loạt các sáng kiến về vimạch điện tử đã mở đường cho cuộc “cách mạng công nghiệp” lần thứ III.

Khi khoa học công nghệ phát triển không ngừng cũng đã làm xuất hiện nhiềunguy cơ rủi ro tiềm ẩn Để đối phó với những nguy cơ đó, bảo hiểm cho các thiết bịđiện tử ra đời như một tấm lá chắn bảo vệ cho các công ty, xí nghiệp… Do vậy, nhucầu bảo hiểm thiết bị điện tử ngày càng lớn Hợp đồng bảo hiểm thiết bị điện tử trởthành hợp đồng bảo hiểm được yêu cầu nhiều nhất vào những năm 80 của thế kỷ XX.Riêng tại Đức, doanh thu từ bảo hiểm thiết bị điện tử đã đạt 450 tỷ USD, chiếm khoảng33% tổng doanh thu phí bảo hiểm kỹ thuật Có thể nói, Đức là nước đầu tiên trên thếgiới triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cũng như tái bảo hiểm thiết bị điện tử

Tại Việt Nam, nghiệp vụ bảo hiểm và tái bảo hiểm thiết bị điện tử lần đầu tiênđược Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) nghiên cứu và triển khai cuối năm

1996 Vào thời gian đó, thị phần lớn nhất của loại hình nghiệp vụ này là Bảo Việt, BảoMinh, PJICO Tuy nhiên đến năm 1998, PTI ra đời với cổ đông lớn nhất là Tập đoànBưu chính viễn thông Việt Nam đã vươn lên vị trí số một về nghiệp vụ này

Thế kỷ XXI đã và đang chứng kiến sự bùng nổ công nghệ thông tin Các thiếtbị điện tử được sử dụng ngày càng rộng rãi ở tất cả các lĩnh vực Do đó thị trườngbảo hiểm và tái bảo hiểm thiết bị điện tử được coi là đầy tiềm năng Hiện tại, cáccông ty bảo hiểm của Việt Nam đang triển khai nghiệp vụ này rất ít, khoảng trêndưới 10 công ty Hầu hết các công ty này mới chỉ đảm nhận vai trò là công tynhượng TBH thiết bị điện tử Vị trí nhận tái chủ yếu thuộc về các công ty nướcngoài dày dạn kinh nghiệm cũng như có năng lực tài chính lớn mạnh

Trang 32

1.5.4 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động TBH

a, Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả của hoạt động tái bảo hiểm thiết bị điện tử:

Kết quả kinh doanh nghiệp vụ tái bảo hiểm được thể hiện ở hai chỉ tiêu chủyếu là doanh thu và lợi nhuận Các chỉ tiêu này được tính theo các khoản khác nhaugiữa hoạt động nhượng tái và nhận TBH

+ Đối với hoạt động nhượng TBH:

Doanh thu nhượng tái bảo hiểm TBĐT trong kỳ là số tiền mà doanh nghiệpbảo hiểm thu được từ hoạt động nhượng tái bảo hiểm, bao gồm các khoản: Hoahồng nhượng TBH, bồi thường thuộc trách nhiệm các công ty nhận TBH và cáckhoản thu khác từ hoạt động nhượng TBH

Doanh thu nhượng TBH

Hoa hồngnhượng TBHTBĐT

+

Thu bồi thườngnhượng TBHTBĐT

+

Thu khácnhượngTBH TBĐTChi phí nhượng TBH TBĐT là số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải chi racho hoạt động nhượng tái bảo hiểm, bao gồm khoản phí nhượng TBH là chủ yếu

Lợi nhuận hoạt động nhượng

Doanh thu TBH TBĐT -

Chi phí TBH TBĐT+ Đối với hoạt động nhận TBH:

Doanh thu nhận TBH TBĐT trong kỳ là số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm thuđược từ hoạt động nhận tái bảo hiểm, bao gồm khoản phí nhận TBH là chủ yếu vàcác khoản thu khác từ hoạt động nhận TBH

Trang 33

Chi phí nhận

TBH TBĐT =

Hoa hồng nhậnTBH TBĐT +

Bồi thường nhận

Chi khác nhậnTBH TBĐTDựa vào kết quả thu chi trên sẽ tính được lợi nhuận DNBH thu được trongnăm từ hoạt động nhận TBH TBĐT

Lợi nhuận hoạt động nhận

Doanh thu nhận TBH

-Chi phí nhận TBHTBĐT

b, Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả của hoạt động tái bảo hiểm thiết bị điện tử:

Có hai chỉ tiêu cơ bản để đánh giả hiệu quả của hoạt động tái bảo hiểm thiết bịđiện tử đó là hiệu quả theo doanh thu và hiệu quả theo lợi nhuận

Hiệu quả kinh doanh TBH TBĐT tính theo doanh thu:

Hiệu quả theo doanh thu = Doanh thu TBH TBĐT

Chi phí TBH TBĐTChỉ tiêu này cho biết, cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ sẽ thu về được baonhiêu đồng doanh thu, tính riêng cho nghiệp vụ TBH TBĐT

Hiệu quả kinh doanh TBH TBĐT tính theo lợi nhuận:

Hiệu quả theo lợi nhuận = Lợi nhuận TBH TBĐT trong kỳ

Chi phí TBH TBĐT trong kỳChỉ tiêu này cho biết: Cứ một đồng chi phí trong kỳ sẽ sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm trong nghiệp vụ TBH TBĐT

Các chỉ tiêu này sẽ được tính chi tiết theo từng hoạt động nhượng TBH và nhận TBH TBĐT

Chương 2: THỰC TRẠNG TÁI BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM

BƯU ĐIỆN (PTI) GIAI ĐOẠN 2005 – 2010

Trang 34

2.1 TỔNG QUAN VỀ PTI

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của PTI

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (tên tiếng Anh: Post andTelecommunication J.S Insurance Company, viết tắt là PTI) được thành lập ngày01/08/1998 với 07 cổ đông sáng lập là các pháp nhân có uy tín, kinh nghiệm đó là:Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng công ty cổ phần Tái Bảohiểm Quốc Gia Việt Nam (VINARE), Tổng công ty cổ phần Bảo Minh, Tổng công tyXây dựng Hà Nội (HACC), Tổng công ty Xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam(Vinaconex), Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB), Công ty cổphần Thương mại Bưu chính Viễn thông (COKYVINA), trong đó, Tập đoàn VNPT là

cổ đông và khách hàng lớn nhất của Tổng công ty

Thành lập vào năm 1998 – thời gian mà thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ViệtNam còn manh mún, có ít công ty bảo hiểm hoạt động trong thời gian này, mặc dùvậy nhưng công ty bảo hiểm Bưu Điện luôn là nhà bảo hiểm hàng đầu trong các loạihình nghiệp vụ, không ngừng vươn lên lớn mạnh, luôn hoàn thành kế hoạch đặt ra.Với đội ngũ cán bộ gần 1000 người, trên 80% cán bộ có trình độ đại học vàtrên đại học, mạng lưới bán hàng tại 25 chi nhánh và 12000 đại lý trong toàn quốc,PTI đã đem đến cho khách hàng những dịch vụ có tính chuyên nghiệp cao, có uy tíntrên thị trường PTI cung cấp trên thị trường gần 100 sản phẩm trong đó các sảnphẩm có thế mạnh là bảo hiểm thiết bị điện tử, bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm xây dựng

- lắp đặt, bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm con người, bảo hiểm xe cơ giới…

Trong hơn 12 năm tham gia thị trường, PTI liên tục đứng ở vị trí thứ 5 về thịphần, có tốc độ tăng doanh thu khá cao, ổn định và kinh doanh hiệu quả Tổngdoanh thu hàng năm tăng trưởng bình quân từ 25 – 30%; riêng năm 2008 tổngdoanh thu của PTI vượt 40% kế hoạch, tăng 61% so với năm 2007 PTI xác địnhchấp nhận cạnh tranh với triết lý kinh doanh lấy khách hàng là trung tâm, liên tụcđổi mới, không ngừng sáng tạo Sản phẩm chất lượng cao phải đi kèm với đội ngũcán bộ chuyên viên giỏi về nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm cao Hàng năm, PTIđều cử một số cán bộ chuyên viên đi đào tạo chuyên sâu tại Singapore, Malaysia,Thuỵ Sỹ, HongKong hoặc tham gia khoá học chuyên ngành bảo hiểm từ xa củaAustralia, New Zealand…Xác định rõ quyền lợi của khách hàng luôn đi liền với sựphát triển của Tổng công ty, PTI rất chú trọng công tác chăm sóc và bồi thường chokhách hàng Khi có sự cố, công tác giám định bồi thường được thực hiện theo tiêu chí

Trang 35

kịp thời, chính xác và hợp pháp PTI có sự hợp tác với các công ty giám định độc lập,

uy tín trong và ngoài nước như Cunningham Linshey, McLauren… để giải quyếtnhững vụ tổn thất lớn, phức tạp Tỷ lệ bồi thường trung bình hàng năm của PTI dưới40% trên doanh thu bảo hiểm Đây là chỉ số tốt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam vàquốc tế, thể hiện tính chuyên nghiệp trong khai thác bảo hiểm, mang lại hiệu quả caotrong hoạt động kinh doanh của PTI

Để đảm bảo an toàn tài chính của Tổng công ty, khả năng bồi thường cho kháchhàng và năng lực nhận bảo hiểm cho các dự án đầu tư lớn, PTI có quan hệ hợp tác lâudài, tốt đẹp và đã ký kết những hợp đồng tái bảo hiểm cố định với các công ty, tậpđoàn tái bảo hiểm có uy tín trên thị trường quốc tế như: Swiss Re, Munich Re, CCR,Mitsui Sumitomo, Tokio Marine, Hannover Re, Vinare… và các công ty môi giớihàng đầu như: Marsh, Aon, Willis, Arthur J Gallagher… Nhờ vậy, PTI có khả năngnhận và thu xếp tái bảo hiểm ra thị trường quốc tế các dịch vụ bảo hiểm có giá trị tớihàng trăm triệu USD, đặc biệt là các dự án xây dựng quy mô lớn như: thuỷ điện, ximăng, cầu, đường…

Với những nỗ lực được ghi nhận, tháng 12/2008, PTI được Bộ Công Thương

và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trao tặng danh hiệu “Doanh nghiệpphát triển bền vững”, được Thời báo kinh tế Việt Nam bình chọn và trao tặng danhhiệu “Thương hiệu mạnh” năm 2008, 2009 Giải thưởng nhằm khuyến khích vànâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm doanh nghiệp Việt Nam, để doanhnghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng tiếp tục đónggóp tích cực vào sự phát triển về kinh tế, tạo lập bản sắc và thương hiệu riêng Đángnói hơn cả, công ty là một trong hai doanh nghiệp bảo hiểm cung ứng dịch vụ bảo hiểm

vệ tinh cho dự án phóng vệ tinh viễn thông Việt Nam VINASAT – 1 của Tập đoànBưu chính biễn thông Việt Nam VNPT Hợp đồng có giá trị lớn thứ hai trong tổng sốtám gói thầu liên quan đến dự án với tổng giá trị bảo hiểm lên tới 177 triệu USD

Năm 2009 là một năm khá thành công của PTI Đây là năm PTI bắt đầu ápdụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 để tạo dựng một hệthống quản lý tốt, có chất lượng trong toàn đơn vị, qua đó cải tiến chất lượng các sảnphẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Đây là năm PTI có kế hoạch tăng Vốn điều lệ từ

300 tỷ đồng lên 450 tỷ đồng để nâng cao năng lực tài chính của Tổng công ty Đâycũng là năm PTI đặc biệt chú trọng phát triển kênh bán lẻ thông qua mạng lưới bưucục của VNPost trong toàn quốc, đồng thời cho ra mắt một số sản phẩm được thiết kếđặc biệt có tính cạnh tranh cao như "Phúc Lưu Hành" dành cho người sử dụng xemôtô, "Phúc Vạn Dặm" dành cho xe ô tô, " Phúc Học Đường" dành cho đối tượng là

Trang 36

học sinh các cấp và sinh viên Đặc biệt, sự đổi mới hệ thống nhận diện thương hiệucủa PTI được công bố vào đầu tháng 11/2009 đã đưa PTI với tầm nhìn mới: trở thànhdoanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu trong lĩnh vực bán lẻ, thực sự trở thành

"Công ty bảo hiểm của Cộng đồng"

Bước vào năm 2010, trên tinh thần quyết tâm giữ vững vị trí thứ 5 và rút dầnkhoảng cách so với đơn vị thứ 4 trên thị trường Bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam,PTI đã xây dựng và thực hiện được nhiều chỉ tiêu quan trọng định hướng cho sựphát triển của Công ty trong thời gian tới, đưa ra mục tiêu, biện pháp và chươngtrình hành động cụ thể của từng đơn vị Mục tiêu kinh doanh năm 2010 của PTI vớitổng doanh thu đã đạt từ 745 - 815 tỷ đồng (tăng trưởng từ 29 - 41% so với 2009),trong đó doanh thu qua đại lý VNPost đạt tối thiểu 95 tỷ đồng; lợi nhuận kế toán đạt

từ 84-81 tỷ đồng (tăng trưởng từ 27 - 39%); cổ tức trả cổ đông dự kiến thấp nhất12%/năm; hoàn thành thủ tục tăng vốn điều lệ lên 450 tỷ đồng, đưa cổ phiếu củaPTI lên sàn giao dịch chứng khoán vào năm 2010 Để đạt được mục tiêu đã định,PTI đã đề ra 6 nhóm giải pháp cơ bản: Tăng trưởng doanh thu; Nâng cao hiệu quảkinh doanh; Tập trung phát triển kênh khai thác qua VNPost; Tăng cường năng lựcquản trị doanh nghiệp; Tin học hóa công tác quản lý; Đẩy mạnh công tác phát triểnthương hiệu

Giai đoạn 2010 2015, với định hướng kinh doanh: “Tăng trưởng Hiệu quả Phát triển bền vững”, trở thành doanh nghiệp bảo hiểm có kênh phân phối dịch vụlớn nhất thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, tập trung khả năng sinh lời và tối ưu hoá

-cổ tức, đảm bảo quyền lợi của -cổ đông, thực hiện nhiệm vụ một doanh nghiệp bảohiểm có trách nhiệm cộng đồng, trên cơ sở tạo ra sự khác biệt với đối thủ cạnh tranhbằng chất lượng phục vụ khách hàng, PTI phấn đấu trở thành doanh nghiệp bán lẻ sảnphẩm bảo hiểm phi nhân thọ với hệ thống phân phối lớn nhất thị trường, duy trì vị trítop 3 các DNBH Việt Nam có tỷ suất lợi nhuận /vốn cao nhất thị trường bảo hiểm Phinhân thọ

Trang 37

Cơ cấu tổ chức của công ty:

Trang 38

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty giai đoạn 2005 – 2010

Là một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, cũng như các doanh nghiệp bảohiểm khác kinh doanh trên thị trường, PTI vừa thực hiện hoạt động kinh doanh bảohiểm, vừa thực hiện hoạt động đầu tư tài chính và các hoạt động khác Ta có thểtổng hợp kết quả kinh doanh chung của toàn công ty như sau:

Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh chung toàn công ty giai đoạn 2005 – 2010

Tổng doanhthu (tỷ)

Tổng chiphí (tỷ)

Lợi nhuận(tỷ)

Nguồn: Báo cáo tài chính tổng hợp PTI

Trong giai đoạn 2005 – 2010, lợi nhuận chung toàn công ty đều được gia tăng.Đáng kể nhất là năm 2008 và năm 2010 Lợi nhuận chung tăng cao là do lợi nhuận

từ hoạt động kinh doanh BH tăng nhiều do doanh thu đem lại từ hợp đồng BH cho

vệ tinh Vinasat – 1 trong năm 2008 và trong năm 2010, mạng lưới bán lẻ qua hệthống bưu cục trên toàn quốc của công ty đã hoạt động hiệu quả, đóng góp phần lớnvào doanh thu phí BH Bên cạnh đó, năm 2010 cũng là năm công ty hoàn thành việctăng vốn điều lệ, nâng mức trách nhiệm của mình trong các hợp đồng TBH Do vậy,hoạt động kinh doanh BH của công ty ngày càng đem lại hiệu quả cao

Kết quả kinh doanh của từng mảng hoạt động của PTI được chi tiết như sau:

2.1.2.1 Kết quả kinh doanh bảo hiểm gốc

Đến nay trên thị trường bảo hiểm đã có 28 doanh nghiệp bảo hiểm trong nước,công ty liên doanh, cổ phần, 100% vốn nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực bảohiểm phi nhân thọ Lĩnh vực này vẫn giữ tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ và có sự cạnhtranh khốc liệt về chất lượng dịch vụ và uy tín thương hiệu Mặc dù vậy nhưngTổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện vẫn giữ vững vị trí thứ 5 về doanh thu phí

Chỉ

tiêu

Năm

Trang 39

bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường trong nhiều năm, và càng ngày công ty càngrút ngắn được khoảng cách với doanh nghiệp bảo hiểm ở vị trí thứ 4:

DN khác

Biểu đồ 2.1: Thị phần các doanh nghiệp bảo hiểm năm 2010 theo doanh thu phí

Bảng 2.2: Doanh thu phí bảo hiểm gốc tại PTI giai đoạn 2005 – 2010

Doanh thu phí (tỷ) 265.58 281.19 292.26 442.41 459.04 678.85Lượng tăng liên hoàn (tỷ) - 15.61 11.07 150.15 16.63 219.81Tốc độ tăng liên hoàn (%) - 5.88 3.94 51.38 3.76 47.88

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh, PTI

Trang 40

Biểu đồ 2.2: Doanh thu phí BH gốc tại PTI giai đoạn 2005 – 2010

Nhìn trên bảng và biểu đồ trên có thể thấy, tốc độ tăng của doanh thu có sựbiến động khá lớn Trước năm 2006, tốc độ tăng liên hoàn liên tục là trên dưới 30%.Tuy nhiên đến năm 2006, con số này giảm xuống còn 5.88% và còn 3.94% vào năm

2007 Lý do là năm 2006 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam vốn là kháchhàng lớn của PTI đã tiến hành đấu thầu các gói thầu bảo hiểm thay vì chỉ định thầunhư trước đã dẫn đến doanh thu phí bảo hiểm từ khách hàng này giảm sút như trên.Bên cạnh đó, việc cổ phần hóa một số công ty trực thuộc Tập đoàn VNPT khiến cáccông ty này phải thắt chặt hơn về chi phí đã buộc PTI phải cạnh tranh như cácdoanh nghiệp bảo hiểm khác trên thị trường Ngoài ra cũng do nguyên nhân kháchquan là sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các DNBH và xu hướng suy giảmchung của toàn thị trường Tuy vậy đến năm 2008, PTI đã có sự khởi sắc trở lạitrong doanh thu phí với sự gia tăng 51.38%, tương ứng tăng thêm hơn 150 tỷ VND

Tỷ

Năm

Ngày đăng: 09/03/2015, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm – NXB Đại học Kinh tế quốc dân – PGS.TS Nguyễn Văn Định chủ biên Khác
2. Bài giảng Tái bảo hiểm – Giảng viên Nguyễn Văn Định Khác
3. Bảo hiểm Việt Nam 2009 – Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, Báo Công thương Khác
4. Số liệu thị trường Bảo hiểm Việt Nam các năm 2009, 2010 – Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam Khác
5. Đơn bảo hiểm thiết bị điện tử - PTI Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức tái bảo hiểm bắt buộc là sự thỏa thuận gữa công ty nhượng và nhà  tái bảo hiểm mà trong đó, công ty nhượng tự bắt buộc mình phải nhượng cho nhà  tái bảo hiểm tất cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc mà hai bên đã quy định trong hợp  đồng cho tới mộ - Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình tái bảo hiểm thiết bị điện tử tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện, giai đoạn 2005 đến 2010
Hình th ức tái bảo hiểm bắt buộc là sự thỏa thuận gữa công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm mà trong đó, công ty nhượng tự bắt buộc mình phải nhượng cho nhà tái bảo hiểm tất cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc mà hai bên đã quy định trong hợp đồng cho tới mộ (Trang 20)
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh chung toàn công ty giai đoạn 2005 – 2010 - Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình tái bảo hiểm thiết bị điện tử tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện, giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh chung toàn công ty giai đoạn 2005 – 2010 (Trang 46)
Bảng 2.4: Tổng quỹ dự phòng nghiệp vụ của PTI giai đoạn 2005 – 2010 - Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình tái bảo hiểm thiết bị điện tử tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện, giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 2.4 Tổng quỹ dự phòng nghiệp vụ của PTI giai đoạn 2005 – 2010 (Trang 52)
Bảng 2.7: Tình hình nhận TBH tại PTI giai đoạn 2005 – 2010 - Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình tái bảo hiểm thiết bị điện tử tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện, giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 2.7 Tình hình nhận TBH tại PTI giai đoạn 2005 – 2010 (Trang 55)
Sơ đồ 2.3: Quy trình thu đòi bồi thường tái bảo hiểm - Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình tái bảo hiểm thiết bị điện tử tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện, giai đoạn 2005 đến 2010
Sơ đồ 2.3 Quy trình thu đòi bồi thường tái bảo hiểm (Trang 65)
Bảng kê thu đòi bồi thường tổn thất hợp đồng TBH cố định, chứng từ thanh toán  TBH hợp đồng cố định (Tổn thất). - Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình tái bảo hiểm thiết bị điện tử tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện, giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng k ê thu đòi bồi thường tổn thất hợp đồng TBH cố định, chứng từ thanh toán TBH hợp đồng cố định (Tổn thất) (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w