Có thể nói, nền kinh tế nước ta hiện nay đang chuyển mình và có những bước phát triển một cách nhanh chóng. Năm 2006, GDP đạt 425.088 tỷ đồng theo giá so sánh năm 1994 và đạt tốc độ tăng trưởng 8%. Năm 2007 nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2006 và đạt 8,44%. Trong sự phát triển đó có sự đóng góp không nhỏ của ngành bảo hiểm thể hiện qua doanh thu phí bảo hiểm đóng góp vào GDP qua các năm. Từ 0,37% năm 1993 tăng lên 2,13% vào cuối năm 2006. Qua đó có thể thấy sự phát triển nhanh chóng của bản thân ngành bảo hiểm một ngành được coi là khá mới mẻ ở Việt Nam.Cùng với nhịp độ tăng trưởng chung của ngành bảo hiểm, Công ty Bảo Minh Hà Nội nói riêng và Tổng công ty cổ phần Bảo Minh không ngừng lớn mạnh, phát triển các nghiệp vụ bảo hiểm chủ lực để có chỗ đứng vững vàng trên thị trường bảo hiểm. Trong đó, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm được Bảo Minh Hà Nội chú trọng và ưu tiên hàng đầu. Ngay từ những năm đầu khi mới thành lập, công ty đã triển khai nghiệp vụ này khi nhìn thấy tiềm năng rất lớn ở thị trường thủ đô. Tuy nhiên do sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình và rất dễ bắt chước, lại cộng với sự cạnh tranh giảm giá gay gắt trên thị trường trong những năm gần đây khiến cho doanh thu nghiệp vụ không tương xứng với tiềm năng của thị trường. Chiến lược giá và những thay đổi trong thiết kế sản phẩm tỏ ra kém hiệu quả đối với không chỉ Bảo Minh Hà Nội mà còn đối với tất cả các công ty bảo hiểm. Chính vì vậy, hiện nay các công ty bảo hiểm muốn có chỗ đứng thật vững trên thị trường thì phải xuất phát từ cái gốc là làm sao thoả mãn được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Điều đó có thể có dễ dàng nhất là thông qua quá trình giám định và bồi thường. Chính khâu giám định và bồi thường tổn thất sẽ quyết định phần lớn chất lượng và sự hài lòng của khách hàng. Từ đó ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu của công ty. Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “ Công tác giám định và bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội”
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, sơ đồ, hình vẽ
Lời mở đầu
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT
XE CƠ GIỚI VÀ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH VÀ BỒI THƯỜNG TRONG
NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI 1
1.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ TÁC DỤNG CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI 1
1.1.1 Sự cần thiết của bảo hiểm vật chất xe cơ giới 1
1.1.1.1 Đặc điểm của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ 1
1.1.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm vật chất xe cơ giới 3
1.1.2 Tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới 3
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI 6
1.2.1 Đối tượng bảo hiểm 6
1.2.2 Phạm vi bảo hiểm 8
1.2.3.Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm 11
1.2.4 Phí bảo hiểm 12
1.2.5 Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới 14
1.2.5.1 Nội dung của hợp đồng 14
Trang 21.2.5.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong hợp đồng bảo
hiểm vật chất xe cơ giới 17
1.3 CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH VÀ BỒI THƯỜNG TRONG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI 19
1.3.1 Vai trò của công tác giám định và bồi thường 19
1.3.2 Công tác giám định tổn thất vật chất xe cơ giới 21
1.3.2.1 Yêu cầu của công tác giám định tổn thất 21
1.3.2.2 Nguyên tắc giám định tổn thất vật chất xe cơ giới 21
1.3.2.3 Giám định viên 22
1.3.2.4 Quy trình giám định tổn thất vật chất xe cơ giới 23
1.3.3 Công tác bồi thường bảo hiểm vật chất xe cơ giới 27
1.3.3.1 Yêu cầu của công tác giám định 27
1.3.3.2 Nguyên tắc bồi thường 27
1.3.3.3 Quy trình bồi thường 28
1.3.4 Đánh giá kết quả và hiệu quả công tác giám định và bồi thường 31
1.3.5 Trục lợi bảo hiểm trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới 31
1.3.5.1 Các hình thức trục lợi bảo hiểm 32
1.3.5.2 Nguyên nhân và hậu quả của trục lợi bảo hiểm 34
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH VÀ BỒI THƯỜNG TỔN THẤT TRONG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI BẢO MINH HÀ NỘI 36
2.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO MINH HÀ NỘI 36
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 36
Trang 32.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy của Bảo Minh Hà Nội 37
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây 38
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH VÀ BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI BẢO MINH HÀ NỘI 42
2.2.1 Vai trò của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội 42
2.2.2 Kết quả khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội 43
2.2.3 Quy trình giám định và bồi thường bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội 52
2.2.3.1 Quy trình giám định 52
2.2.3.2 Quy trình bồi thường 57
2.2.4 Kết quả và hiệu quả công tác giám định và bồi thường tổn thất bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội 63
2.2.4.1 Công tác giám định 63
2.2.4.2 Công tác bồi thường 73
2.2.5 Tình hình trục lợi bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội 79
2.2.6 Những tồn tại và nguyên nhân 81
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH VÀ BỒI THƯỜNG TỔN THẤT BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI BẢO MINH HÀ NỘI 83
3.1 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI BẢO MINH HÀ NỘI 83
Trang 43.1.1 Những thuận lợi 83
3.1.2 Những khó khăn 84
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH VÀ BỒI THƯỜNG TỔN THẤT BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI BẢO MINH HÀ NỘI 85
3.2.1 Đối với khâu khai thác 85
3.2.2 Đối với khâu đề phòng và hạn chế tổn thất 86
3.2.3 Về công tác giám định và bồi thường 87
3.2.4 Đối với công tác chống trục lợi bảo hiểm 89
3.2.5 Một số kiến nghị 90
3.2.5.1 Kiến nghị đối với Tổng Công ty Bảo Minh 90
3.2.5.2 Kiến nghị đối với Nhà nước và Bộ Tài chính 90
Trang 5DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm theo nghiệp vụ tại Bảo Minh Hà Nội
giai đoạn 2003 – 2007 38
Bảng 2.2 Tình hình khai thác Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội
giai đoạn 2003 -2007 44
Bảng 2.3 Số đại lý tham gia chào bán sản phẩm Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại
Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2003 – 2007 47
Bảng 2.4 Tình hình chi đề phòng và hạn chế tổn thất trong nghiệp vụ Bảo hiểm
vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2003 –
2007 4 8
Bảng 2.5 Chỉ số thời vụ trong khâu khai thác Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại
Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2003 – 2007 50
Bảng 2.6 Tình hình giám định nghiệp vụ Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo
Minh Hà Nội giai đoạn 2003 – 2007 64
Bảng 2.7 Số vụ giám định hộ nghiệp vụ Bảo hiểm vật chất xe cơ giới của Bảo
Minh Hà Nội giai đoạn 2003 – 2007 67
Bảng 2.8 Chỉ số thời vụ trong khâu giám định Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại
Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2003 – 2007 68
Bảng 2.9 Hiệu quả công tác giám định Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo
Minh Hà Nội giai đoạn 2003 – 2007 72 Bảng 2.10.Tình hình bồi thường nghiệp vụ Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo
Minh Hà Nội giai đoạn 2003 – 2007 73
Bảng 2 11 Tình hình về số tiền bồi thường nghiệp vụ Bảo hiểm vật chất xe cơ
giới tại Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2003 – 2007 75
Trang 6Bảng 2.12 Thời gian giải quyết bồi thường trung bình của nghiệp vụ Bảo hiểm
vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2003 – 2007 78 Bảng 2.13 Tình hình trục lợi bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội
giai đoạn 2003 – 2007 80
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Bảo Minh Hà Nội 37
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ quy trình giám định 53
Sơ đồ 2.3 Sơ đồ quy trình bồi thường 58
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1 Tính thời vụ trong khâu khai thác Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo
Minh Hà Nội trong các năm 2006 và 2007 51
Hình 2.2 Tính thời vụ trong khâu giám định nghiệp vụ Bảo hiểm vật chất xe cơ
giới tại Bảo Minh Hà Nội trong năm 2006 và 2007 69
Hình 2.3 Doanh thu phí và số tiền bồi thường nghiệp vụ Bảo hiểm vật chất xe cơ
giới tại Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2003 – 2007 76
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8Cùng với nhịp độ tăng trưởng chung của ngành bảo hiểm, Công ty Bảo Minh HàNội nói riêng và Tổng công ty cổ phần Bảo Minh không ngừng lớn mạnh, phát triển cácnghiệp vụ bảo hiểm chủ lực để có chỗ đứng vững vàng trên thị trường bảo hiểm Trong đó,nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm được Bảo Minh HàNội chú trọng và ưu tiên hàng đầu Ngay từ những năm đầu khi mới thành lập, công ty đãtriển khai nghiệp vụ này khi nhìn thấy tiềm năng rất lớn ở thị trường thủ đô Tuy nhiên dosản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình và rất dễ bắt chước, lại cộng với sự cạnh tranhgiảm giá gay gắt trên thị trường trong những năm gần đây khiến cho doanh thu nghiệp vụkhông tương xứng với tiềm năng của thị trường Chiến lược giá và những thay đổi trongthiết kế sản phẩm tỏ ra kém hiệu quả đối với không chỉ Bảo Minh Hà Nội mà còn đối vớitất cả các công ty bảo hiểm Chính vì vậy, hiện nay các công ty bảo hiểm muốn có chỗđứng thật vững trên thị trường thì phải xuất phát từ cái gốc là làm sao thoả mãn được nhucầu ngày càng cao của khách hàng Điều đó có thể có dễ dàng nhất là thông qua quá trìnhgiám định và bồi thường Chính khâu giám định và bồi thường tổn thất sẽ quyết định phầnlớn chất lượng và sự hài lòng của khách hàng Từ đó ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệucủa công ty Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “ Công tác giám định và bồi thườngnghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Bảo Minh Hà Nội”
Trang 9CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI VÀ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH - BỒI THƯỜNG TRONG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI
1.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ TÁC DỤNG CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI
1.1.1 Sự cần thiết của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.1.1.1 Đặc điểm của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ:
Ở nước ta hiện nay hình thức vận chuyển và chuyên chở bằng xe cơ giới làchủ yếu và ngày càng trở nên phổ biến Với địa hình và khí hậu phức tạp, việclựa chọn xe cơ giới làm phương tiện vận chuyển chính là rất phù hợp và hiệu quả
Vì xe cơ giới có tính cơ động cao, tính việt dã tốt, có thể di chuyển trên mọi địahình, kể cả địa hình đồi núi phức tạp Không những thế loại hình vận tải này vẫnđạt được tốc độ tương đối cao, tần suất lớn mà chi phí thấp hơn nhiều so với cácloại hình vận tải khác như: hàng không, đường sắt và đường thuỷ Ngoài ra loạihình vận tải này cũng rất phù hợp với điều kiện bến bãi có quy mô nhỏ và điềukiện chất lượng đường xá còn thấp như ở Việt Nam Mặt khác, chi phí mua sắm
và chi phí sửa chữa cũng rất thấp với sự sẵn có của các loại phụ tùng thay thếcùng với mạng lưới các gara và xưởng sửa chữa được trải rộng trên toàn quốc
Hiện tại lượng xe đang lưu hành và đăng ký mới cũng tăng lên với mứcchóng mặt, điển hình: Cả năm 2007, lượng ôtô nguyên chiếc nhập về thị trườngtrong nước là hơn 30 ngàn xe, tăng gấp 1,7 lần so với năm 2006 Trong đó, riêngdòng xe dưới 12 chỗ ngồi đã chiếm gần một nửa, tăng gấp 6 lần so với năm 2006.Trong năm 2007 này, ôtô nguyên chiếc nhập khẩu là mặt hàng dẫn đầu về tốc độtăng trưởng nhập khẩu, cao gấp hai lần so với kế hoạch năm
Trang 10Bước sang năm 2008, thị trường ôtô cả sản xuất trong nước và xe nhậpkhẩu nóng lên ngay từ những ngày đầu năm Chỉ trong vòng quý I/2008, lượngôtô bán ra trên cả nước đã đạt 34 ngàn xe, nâng số lượng xe bình quân cả nướcđạt 8 đầu xe/1.000 người dân
Ngoài ra, chính sách giảm thuế nhập khẩu đối với xe ô tô (cả xe mới và xecũ) đã khiến lượng xe nhập tăng vọt Chỉ riêng năm 2007, đã có 28.000 chiếc xeđược nhập vào Việt Nam, tăng 245% so với năm 2006 Đó là chưa kể lượng xelắp ráp tại nội địa tăng gấp đôi, đạt 80.390 chiếc
Nhưng cũng chính do sự gia tăng số lượng xe cơ giới và sự xuống cấp của
số lượng xe cũ cộng với tình hình điều kiện đường xá phát triển không đều đãkhiến cho tình hình tai nạn giao thông trong những năm gần đây tăng nhanhchóng Hơn nữa ý thức tham gia giao thông của người dân chưa được tốt cũnggóp phần làm tăng thêm mức độ nghiêm trọng của tình trạng này
Tình hình tai nạn giao thông đường bộ hiện nay là mối hiểm hoạ đối vớiđời sống con người Từ năm 2001 đến hết năm 2006, ở nước ta xảy ra 118.609 vụtai nạn giao thông đường bộ, làm chết 68.695 người, làm bị thương 120.376người Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, năm 2007 cả nước đã xảy ra 21,170 vụtai nạn giao thông đường bộ Tính trung bình mỗi ngày xảy ra 54 vụ tai nạn giaothông đường bộ, làm chết 31 người và làm bị thương 54 người Riêng thiệt hại vềtài sản, vật chất (cả hữu hình và vô hình) là rất lớn, khó mà tính ra con số chínhxác được Hệ lụy của vụ tai nạn giao thông đường bộ là một gánh nặng của xãhội Phần lớn tổn thất về người (tính mạng, sức khoẻ) của loại tai nạn này nhằmvào những người có sức khoẻ, năng động và là lao động chính của nhiều gia đình
Trang 111.1.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật đã khiến các phươngtiện sử dụng trong ngành giao thông vận tải cũng được cải tiến và ngày một hoànthiện Tuy nhiên, với sự cố gắng của bản thân con người cũng như sự trợ giúp củakhoa học kỹ thuật, chúng ta vẫn chưa thể loại bỏ được tai nạn giao thông xảy ra.thậm chí tai nạn giao thông xảy ra ngày một tăng và mức độ tổn thất ngày cànglớn Trong đó, phần lớn tai nạn giao thông xảy ra là tai nạn của xe cơ giới Khinhững rủi ro bất ngờ xảy ra với phương tiện vận tải, chủ phương tiện phải chịutổn thất vật chất do xe bị hư hỏng, và có thể còn gây thiệt hại về người và của chongười thứ ba khác
Xe cơ giới không những chịu đe doạ của tai nạn giao thông gắn liền vớihoạt động của chủ xe, lái xe như đâm va, lật đổ mà còn chịu ảnh hưởng của cácrủi ro khách quan có nguồn gốc tự nhiên như bão, lũ lụt, sét đánh , các rủi ro “xãhội” như mất cắp, đập phá
Khi tổn thất xảy ra đối với chiếc xe thì hậu quả mà chủ xe, lái xe phải chịutrước hết đó là thiệt hại về tài chính, họ phải bỏ chi phí để sửa chữa chiếc xe đó,
và đồng thời họ cũng không thể tiếp tục tiến hành hoạt động kinh doanh hay sinhhoạt như bình thường được Do đó bảo hiểm vật chất xe cơ giới là cần thiết vì nókhông những giúp cho chủ phương tiện, lái xe nhanh chóng ổn định sinh hoạt vàsản xuất kinh doanh khi gặp rủi ro bất ngờ mà còn giúp họ giảm bớt nỗi lo, luôncảm thấy an tâm, tin tưởng
1.1.2 Tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Có thể nói, sự ra đời và tồn tại của bảo hiểm gắn liền với sự tồn tại của rủi
ro cùng hậu quả của nó Hậu quả của rủi ro gây ra cho con người có thể là về
Trang 12người, tài sản, hay gây ngưng trệ sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác Bảohiểm vật chất xe cơ giới ra đời nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất cho chủphương tiện khi xe của họ gặp rủi ro bất ngờ Nhờ đó giúp chủ phương tiệnnhanh chóng ổn định về tài chính và hoạt động bình thường trở lại Tóm lại, tácdụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới được thể hiện trong mấy điểm lớn sau:
Thứ nhất: Khắc phục hậu quả của rủi ro, đảm bảo ổn định đời sống và
hoạt động sản xuât kinh doanh cho các cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm
Khi tham gia giao thông tất nhiên không ai mong rủi ro xảy ra với mình đểgây thiệt hại về người và của Tuy nhiên, rủi ro không loại trừ ai, nhiều khi chỉ là
do sơ suất, bất cẩn khiến chủ phương tiện rơi vào tình thế bị động Khó khăn này
sẽ được khắc phục nếu như chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới Sau khiđóng một khoản phí nhất định cho CTBH, khi rủi ro xảy đến, CTBH sẽ bồithường cho những thiệt hại đó Tuy nhiên không phải mọi rủi ro và tất cả tổn thấtđều được bồi thường mà chỉ có các rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ Số tiền bồi thườngcũng được CTBH giới hạn ở một mức nhất định Như vậy, tham gia bảo hiểm xe
cơ giới tạo tâm lý yên tâm, thoải mái, tư tin khi điều khiển các phương tiện thamgia giao thông; Số tiền bồi thường cũng góp phần ổn định tình hình tài chính vàtránh những xáo trộn lớn cho chủ phương tiện, giúp họ nhanh chóng thoát khỏitình trạng khó khăn Ngay từ năm 2004, ngành bảo hiểm Việt Nam đã giải quyếtbồi thường cho 120.000 vụ tai nạn giao thông với số tổng số tiền bồi thường lêntới 749 tỷ đồng và lập quỹ dự phòng bồi thường trên 500 tỷ đồng cho những tổnthất phát sinh đang làm thủ tục giải quyết
Thứ hai: Tăng khả năng tự chủ về mặt tài chính cho người tham gia bảo
hiểm
Trang 13Hiện nay, Nhà nước không ngừng khuyến khích mọi thành phần kinh tếnhất là thành phần kinh tế tư nhân tham gia vào nền kinh tế nhằm mục đích tậndụng tối đa nguồn tài chính nhàn rỗi nằm trong dân cư Đối với một doanhnghiệp thì nguồn vốn quyết định sức mạnh, vị thế của doanh nghiệp Vì thế màtrong quá trình kinh doanh nếu doanh nghiệp luôn phải dự trữ một khoản tiềntương đối lớn để đề phòng khi rủi ro xảy ra bất ngờ thì quả là sự lãng phí lớn.Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, số lượng đầu xe nhiều thìquỹ dự trữ này sẽ chiếm một tỷ lệ lớn.
Các khăn này sẽ được giải quyết thông qua các hợp đồng bảo hiểm vật chất
xe cơ giới Các CTBH sẽ thu một khoản phí đối với mỗi xe tham gia bảo hiểm vàlập thành một quỹ riêng hoạt động theo nguyên tắc “số đông bù số ít” Như vậythay vì phải tự thành lập riêng một quỹ cho doanh nghiệp thì các chủ phương tiện
có thể yên tâm hoạt động nhờ một quỹ lớn hơn rất nhiều do các thành viên kháccùng đóng góp
Thứ ba: Góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất:
Với số phí thu được từ các chủ xe tham gia bảo hiểm, ngoài mục đíchchính là để bồi thường cho các xe không may gặp rủi ro, CTBH còn sử dụngkhoản phí này cho mục đích đề phòng và hạn chế tổn thất Các nguy cơ gây ra tainạn do chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng kém đều được các DNBH chú ý và thựchiện các biện pháp nhằm hạn chế tai nạn Chẳng hạn như tại đèo Cù Mông, đèoHải Vân các CTBH đã hỗ trợ đầu tư hàng tỷ đồng để xây đường lánh nạn,đường phụ, hốc cứu nạn, lắp đặt gương lồi trên các đường quanh co, các biển báo
và cảnh báo tai nạn
Bên cạnh đó, các CTBH cũng khuyến khích các chủ xe, lái xe tự thực hiệncác biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất, nâng cao ý thức thông qua công tác
Trang 14tuyên truyền luật lệ an toàn giao thông CTBH còn thực hiện giảm phí cho các xe
mà không gặp rủi ro trong một thời gian nhất định
Như vậy, rõ ràng việc tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới có tác dụng đềphòng và hạn chế tổn thất Đối với doanh nghiệp bảo công tác này không nhữngđáp ứng mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp mà còn mang lại lợi ích cho cả cộngđồng, góp phần làm cho cuộc sống trở nên an toàn và trật tự hơn
Thứ tư: Góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước .
Khi trình độ dân trí tăng và mức sống tăng lên thì nhu cầu tự bảo vệ cho tàisản sẽ tăng lên Do đó tiềm năng của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là rất lớn, nó
sẽ góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước thông qua hình thức nộp thuế củacác CTBH
Ngoài ra, khi tổn thất xảy ra đối với chiếc xe tham gia bảo hiểm, nhà bảohiểm sẽ bồi thường cho người tham gia để họ nhanh chóng ổn định cuộc sống vàsản xuất Do đó Nhà nước sẽ không cần hỗ trợ cho những người không may này
và như vậy hàng năm bảo hiểm đã giúp cho ngân sách Nhà nước không phải chi
ra một khoản hỗ trợ rất lớn
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE
CƠ GIỚI
1.2.1 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm vật chất xe cơ giới là xe cơ giới Xe cơgiới là tất cả các loại xe tham gia giao thông trên đường bộ bằng động cơ củachính nó, bao gồm ôtô, môtô, xe máy Vì thế xe đạp điện không được coi là xe cơgiới Các cá nhân, tổ chức có quyền sở hữu xe hay bất cứ người nào được phép
Trang 15sử dụng xe cơ giới, kinh doanh vận chuyển hành khách bằng xe cơ giới đều cóthể tham gia một số loại hình bảo hiểm sau để đối phó với rủi ro tai nạn bất ngờ:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hàng hóa chởtrên xe
- Bảo hiểm tai nạn hành khách trên xe
- Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe
- Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe
- Bảo hiểm vật chất xe
Loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
và đối với hành khách trên xe là loại hình bảo hiểm bắt buộc do pháp luật quyđịnh Còn các loại hình bảo hiểm còn lại là loại bảo hiểm tham gia với hình thưc
tự nguyện trong đó có bảo hiểm vật chất xe cơ giới Ngoài ra các chủ xe còn cóthể tham gia các điều kiện bổ sung Ví dụ tại công ty Bảo Minh Hà Nội có cácđiều kiện bổ sung sau:
- Bảo hiểm mới thay cũ (Mã số BS01/ BM-XCG)
- Bảo hiểm lựa chọn cơ sở sửa chữa (Mã số BS02/BM-XCG)
- Bảo hiểm thuê xe trong thời gian sửa chữa (Mã số BS03/BM-XCG)
- Bảo hiểm vật chất xe đối với xe tạm nhập, tái xuất (Mã số XCG)
BS04/BM Bảo hiểm ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam (Mã số BS05/BMBS04/BM XCG)
- Bảo hiểm thiệt hại động cơ do hiện tượng thủy kích (Mã số XCG)
BS06/BM Bảo hiểm trách nhiệm xe cùng chủ (Mã số BS07/BMBS06/BM XCG)
Trang 16Các xe khi tham gia các điều kiện bổ sung này phải đáp ứng được một sốđiều kiện nhất định và phải đóng thêm một khoản phụ phí Tỷ lệ phụ phí tùythuộc vào từng loại xe, số năm đã sử dụng, phạm vi xe hoạt động…Các điều kiện
bổ sung này cũng thường áp dụng mức miễn thường
Xe cơ giới muốn tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới và được bồi thườngkhi có rủi ro xảy ra thì nó phải còn giá trị và được phép lưu hành trên lãnh thổquốc gia, lái xe phải được cấp giấy phép Chính vì vậy mà xe tham gia bảo hiểmvật chất xe cơ giới phải có giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định an toàn
kỹ thuật và bảo vệ môi trường và giấy kiểm định đặc biệt khác nếu cần
Đối với môtô, xe máy thường các chủ xe tham gia toàn bộ vật chất thân xe.Tuy nhiên, loại hình bảo hiểm này ở nước ta hiện nay đang còn triển khai rấtchậm
Đối với xe ôtô, các chủ xe có thể tham gia toàn bộ hoặc cũng có thể thamgia từng bộ phận của xe theo một trong các tổng thành sau: tổng thành thân vỏ;tổng thành động cơ; tổng thành hệ thống lái; tổng thành hộp số; tổng thành trụctrước; tổng thành trục sau; tổng thành lốp Hiện nay ở Việt Nam trong bảo hiểm
bộ phận xe, các DNBH chỉ nhận bảo hiểm thân vỏ xe, không nhận bảo hiểm riêngcác bộ phận khác của xe
1.2.2 Phạm vi bảo hiểm
Trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới, những thiệt hại vật chất xe xảy ra donhững tai nạn bất ngờ, ngoài sự kiểm soát của chủ xe, lái xe sẽ được CTBH bồithường gồm:
- Những rủi ro thông thường gắn liền với hoạt động của chủ xe, lái xe như:tai nạn do đâm va, lật đổ;
Trang 17- Những rủi ro bất thường dễ phát sinh khác: Cháy nổ, hỏa hoạn;
- Những tai họa bất khả kháng do thiên nhiên: bão, lũ lụt, sụt lở, sét đánh,động đất, mưa đá;
- Vật thể từ bên ngoài tác động lên xe cơ giới;
- Mất cắp, mất cướp toàn bộ xe;
- Tai nạn rủi ro bất ngờ khác ngoài những điểm loại trừ sẽ nêu sau đây.Ngoài ra, các CTBH còn thanh toán cho chủ xe những chi phí cần thiết vàhợp lý phát sinh trong tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm nhằm:
- Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do cácrủi ro được bảo hiểm;
- Chi phí bảo vệ và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;
- Giám định tổn thất
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng STBH của CTBH là không vượt quáSTBH đã ghi trên đơn hay Giấy chứng nhận bảo hiểm đối với một sự kiện bảohiểm
Đồng thời, CTBH sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hạivật chất của xe gây ra bởi:
- Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tậthoặc hư hỏng thêm do sửa chữa Hao mòn tự nhiên được tính dưới hìnhthức khấu hao và thường được tính theo tháng
- Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp hư hỏng màkhông do tai nạn gây ra;
- Mất cắp bộ phận của xe
- Những vụ tổn thất nhỏ dưới mức miễn thường ̣(mà hiện nay các CTBHthường áp dụng mức chung là 200.000 đồng /vụ)
Trang 18Ngoài ra, DNBH còn có thể từ chối một phần hoặc toàn bộ số tiền bồithường cho chủ xe trong cá trường hợp chủ xe:
- Cung cấp không đầy đủ, không trung thực các thông tin ban đầu vềđốitượng bảo hiểm trong Giấy yêu cầu bảo hiểm;
- Khi xảy ra tai nạn, không kịp thời thông báo ngay cho DNBH, không ápdung các biện pháp kịp thời để ngăn ngừa và hạn chế tổn thất gia tăng, tự ýtháo dỡ, sửa chữa xe mà chưa có sự đồng ý hoặc giám sát của DNBH hayđại diện của họ;
Để tránh những “nguy cơ đạo đức” lợi dụng bảo hiểm, những hành vi viphạm pháp luật, hay một số rủi ro đặc biệt khác, những thiệt hại, tổn thất xảy ratrong trường hợp sau cũng sẽ không được CTBH bồi thường:
- Hành động cố ý của chủ xe, lái xe
- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành theo quyđịnh của Luật an toàn giao thông đường bộ
- Chủ xe (lái xe) vi phạm nghiêm trọng Luật an toàn giao thông đường bộ:+ Xe không có giấy phép lưu hành;
+ Lái xe không có bằng lái, hoặc có nhưng không hợp lệ;
+ Lái xe bị ảnh hưởng của rượu bia, ma túy hoặc các chất kích thích tương
tự khác khi điều khiển xe;
+ Xe chở chất cháy, chất nổ trái phép;
+ Xe chở quá trọng tải hoặc số hành khách quy định;
+ Xe đi vào đường cấm;
+ Xe đi đêm không đèn;
- Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, chạy thử sau khi sửa chữa;
Trang 19- Những thiệt hại gián tiếp như: Giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sảnxuất kinh doanh;
- Thiệt hại do chiến tranh
Cần lưu ý rằng trong thời hạn bảo hiểm, nếu chủ xe chuyển quyền sở hữu
xe cho chủ xe khác thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có hiệu lực với chủ xe mới Tuynhiên, nếu chủ xe cũ không chuyển quyền lợi bảo hiểm cho chủ xe mới thì CTBH
sẽ hoàn lại phí cho họ và làm thủ tục bảo hiểm cho chủ xe mới nếu họ có yêu cầu
1.2 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm được hiểu là giá trị của đối tượng được bảo hiểm và chỉ sửdụng trong bảo hiểm tài sản GTBH được lấy làm căn cứ để xác định số tiền bảohiểm và phí bảo hiểm Như vậy, GTBH của xe cơ giới là giá trị thực tế trên thịtrường của xe tại thời điểm người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm Việc xácđịnh đúng giá trị của xe tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm là rất quan trọng vì đây
là cơ sở để bồi thường Trong thực tế, các CTBH thường dựa trên các nhân tố sau
để xác định giá trị xe:
- Loại xe
- Năm sản xuất
- Mức độ mới, cũ của xe
- Thể tích làm việc của xilanh…
Một phương pháp xác định GTBH mà các CTBH hay áp dụng đó là căn cứvào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao Cụ thể:
GTBH = Giá trị ban đầu – Khấu hao (nếu có)
STBH là khoản tiền được xác định trong hợp đồng bảo hiểm thể hiện giớihạn trách nhiệm của CTBH Trên cơ sở GTBH, chủ xe có thể tham gia bảo hiểm
Trang 20với STBH nhỏ hơn, hoặc bằng, hoặc lớn hơn giá trị thực tế của xe Tuy nhiên,việc quyết định tham gia bảo hiểm với số tiền là bao nhiêu sẽ là cơ sở để xác định
số tiền bồi thường khi có tổn thất xảy ra
1.2.4 Phí bảo hiêm
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà chủ phương tiện khi tham gia bảo hiểm vậtchất xe cơ giới phải đóng cho CTBH Biểu phí đối với xe tham gia bảo hiểmđược Bộ Tài Chính quy định trong một khung nhất định
Mức phí bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới được xácđịnh bằng tỷ lệ phí nhân với STBH
P = Gb x RTrong đó: Gb - STBH
R - Tỷ lệ phí bảo hiểmThông thường xe tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới đều tham gia vớithời hạn là một năm Tuy nhiên có cả phí ngắn hạn chỉ vài tháng, và phí dài hạn
từ một năm trở lên Khi chủ phương tiện tham gia bảo hiểm cho chiếc xe củamình trong vài năm liền thì DNBH có thể sẽ giảm phí cho chiếc xe đó
Căn cứ vào Biểu phí của Bộ Tài Chính kết hợp với các nhân tố sau đây,các CTBH sẽ xác định phí bảo hiểm cụ thể cho từng đối tượng tham gia bảohiểm:
- Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có mức độ rủi
ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho từng loại xe.Thông thường, các CTBH đưa ra những biểu xác định phí bảo hiểm phù hợp chohầu hết các xe thông dụng thông qua việc phân loại xe thành các nhóm Việcphân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc, chi phí và mức độ
Trang 21khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng Đối với các xe hoạt độngkhông thông dụng như xe kéo rơ moóc, xe chở hàng nặng…do có mức độ rủi rocao nên phí bảo hiểm thường được cộng thêm một tỷ lệ nhất định dựa trên mứcphí cơ bản.
- Mục đích sử dụng xe: Đây là nhân tố rất quan trọng khi xác định phí bảo hiểm,chính xác hơn là xác định tỷ lệ phí bảo hiểm Mục đích sử dụng xe quyết địnhmức độ rủi ro có thể xảy ra Xe sử dụng vào mục đích kinh doanh bao giờ cũnggặp nhiều rủi ro hơn xe chỉ sử dụng để đi lại đơn thuần Vì thế tỷ lệ phí bảo hiểmbao giờ cũng cao hơn
- Thời gian đã sử dụng: thời gian sử dụng xe càng lâu thì phí bảo hiểm càng cao
- Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những ngườithường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm: Số liệu thống kê cho thấy rằngcác lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi
Trong thực tế, các CTBH thường áp dụng giảm phí bảo hiểm cho các lái
xe có nhiều kinh nghiệm Tuy nhiên, với những người lái xe quá lớn tuổi (tử 65tuổi trở lên) thường phải xuất trình giấy chứng nhận sức khỏe phù hợp để có thểlái xe thì CTBH mới nhận bảo hiểm Ngoài ra, để hạn chế tai nạn, các công tythường áp dụng mức miễn thường Đối với những lái xe trẻ tuổi mức miễnthường này thường cao hơn so với những lái xe có tuổi lớn hơn
- Khu vực giữ xe và để xe: Nhân tố này chỉ có một số CTBH dựa theo còn trênthực tế thì các CTBH cũng ít quan tâm đến nhân tố này
Giảm phí bảo hiểm: Để khuyến khích các chủ xe có số lượng lớn tham giabảo hiểm tại công ty mình, các CTBH thường áp dụng mức giảm phí chung theo
số lượng tham gia bảo hiểm Ngoài ra, hầu hết các CTBH còn áp dụng cơ chế
Trang 22giảm giá cho những người tham gia bảo hiểm không có khiếu nại và gia tăng tỷ lệgiảm giá này cho một số năm không có khiếu nại gia tăng.
Những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ tức chỉ hoạt động một số ngàynhất định trong năm, thì chủ xe chỉ phải đóng phí cho những ngày hoạt động đótheo công thức:
Số ngày sử dụngPhí bảo hiểm = Mức phí cả năm x
365 ngàyNếu chủ xe đã đóng phí cả năm, nhưng trong năm xe không hoạt động mộtthời gian vì một lý do nào đó thì nhà bảo hiểm sẽ hoàn lại phí cho chủ phươngtiện cho thời gian đó nhưng chủ xe phải thông báo trước cho DNBH Số phí hoànlại được tính như sau:
Số tháng không hoạt độngPhí hoàn lại = Phí cả năm x x Tỷ lệ hoàn lại
12Tuỳ từng công ty khác nhau mà tỷ lệ hoàn phí là khác nhau Nhưng thôngthường tỷ lệ này là 80%
1.2.5 Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.2.5.1 Nội dung của hợp dồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và DNBH,theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp phải trả tiềnbảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khixảy ra sự kiện bảo hiểm
Trang 23Trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới,Giấy chứng nhận bảo hiểm cấp theoyêu cầu bảo hiểm của chủ xe là bằng chứng ký kết hợp đồng bảo hiểm Các yêucầu sửa đổi bổ sung của chủ xe được CTBH chấp thuận bằng văn bản là một bộphận của hợp đồng bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Một hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới nói riêng và bất kỳ một hợpđồng bảo hiểm nào nói chung khi được thiết lập phải dựa trên các nguyên tắc cơbản sau
- Nguyên tắc công bằng đôi bên cùng có lợi: khi thiết lập hợp đồng cả haibên trong hợp đồng phải tôn trọng lợi ích của nhau, mỗi bên đều được hưởng một
số quyền lợi và phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định
- Nguyên tắc bàn bạc thống nhất: trước khi ký kết hợp đồng, nhà bảo hiểm
và chủ phương tiện phải có sự bàn bạc thống nhất để đảm bảo mối quan hệ lâudài và hạn chế việc huỷ bỏ hợp đồng trước thời hạn
- Nguyên tắc tự nguyện: Nguyên tắc này đòi hỏi cả DNBH và người thamgia bảo hiểm không được dùng ưu thế của mình để áp đặt cho bên kia và bất cứ
cá nhân, tổ chức nào khác đều không được can thiệp một cách bất hợp pháp vàoviệc thiết lập hợp đồng này
- Nguyên tắc không làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội: Khi ký kếthợp đồng, hai bên cần có sự bàn bạc thống nhất để vừa đạt được lợi ích của mìnhvừa bảo vệ các lợi ích cộng đồng một cách hài hoà
Trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới, một hợp đồng bảo hiểm thường baogồm các nội dung sau:
- Thông tin về người tham gia bảo hiểm và DNBH: Ghi rõ tên DNBH, địa chỉdoanh nghiệp; họ tên, địa chỉ, chức vụ, số tài khoản của người tham gia bảohiểm
Trang 24- Đối tượng bảo hiểm: Biềm kiểm soát, số khung, số máy, loại xe, hiệu xe, trọngtải (số chỗ ngồi).
-STBH và GTBH: giá trị thực tế của xe và STBH mà xe tham gia
- Trách nhiệm bảo hiểm (rủi ro bảo hiểm) : Đối với nghiệp vụ bảo hiểm vật chất
xe cơ giới tại công ty Bảo Minh Hà Nội, rủi ro bảo hiểm được Bảo Minh quyđịnh trong nguyên tắc bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới đính kèm và là bộ phậnkhông tách rời của hợp đồng bảo hiểm xe
- Rủi ro loại trừ: tại Bảo Minh Hà Nội, các rủi ro loại trừ của bảo hiểm vật chất
xe cơ giới cũng quy định trong Quy tắc bảo hiêm tự nguyện xe cơ giới
- Phí bảo hiểm
- Thời hạn bảo hiểm: Đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới, hiệu lực bảo hiểm bắtđầu và kết thúc được ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểmđược tính theo giờ rất chặt chẽ đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên người tham giabảo hiểm và DNBH
- Thời hạn, phương thức trả tiền: Trường hợp chủ xe không đóng phí bảo hiểmđúng kỳ hạn thì hiệu lực bảo hiểm mặc nhiên mất hiệu lực thi hành cho đến khichủ xe đóng phí bảo hiểm
- Quy định về giải quyết bối thường như chủ xe (lái xe) phải giữ nguyên hiệntrường vụ tai nạn và thông báo ngay cho CTBH và cảnh sát giao thông Ngoài racòn các cam kết về thời gian bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Riêng đốivới Bảo Minh Hà Nội, công ty cam kết sẽ giải quyết bồi thường chậm nhất 5ngày kể từ khi bảo hiểm nhận đầy đủ hồ sơ bồi thường hợp lệ
Trang 251.2.5.2 Quyền và nghĩa vụ các bên
Quyền và nghĩa vụ bên tham gia bảo hiểm
- Bên tham gia bảo hiểm có quyền:
+ Yêu cầu DNBH giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, cấpđơn hoặc Giấy chứng nhận bảo hiểm
+ Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng theo luật định nếu DNBH
cố ý cung cấp thông tin sai sự thật, không giảm phí nếu rủi ro được bảohiểm thay đổi theo chiều hướng có lợi cho doanh nghiệp mà bên thamgia đã yêu cầu giảm phí
+ Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, bên tham gia bảo hiểm có quyền yêucầu DNBH bồi thường thiệt hại
+ Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồnghoặc theo quy định của pháp luật
+ Các quyền khác theo quy định của pháp luật
- Bên tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ:
+ Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết liên quan đến hợp đồng bảohiểm
+ Đóng phí đầy đủ theo thời gian và phương thức đã thỏa thuận
+ Trường hợp rủi ro được bảo hiểm có sự thay đổi, người tham gia bảohiểm phải thông báo cho DNBH để điều chỉnh phí bảo hiểm
+ Khi tai nạn xảy ra, người tham gia bảo hiểm phải:
• Thông báo cho DNBH về việc xảy ra tai nạn theo như thoả thuậntrong hợp đồng bảo hiểm Tại Bảo Minh, trong vòng năm ngày chủ
xe phải thông báo cho công ty Bảo Minh Hà Nội trừ khi có lý dochính đáng
Trang 26• Thực hiện các biện pháp cứu chữa, hạn chế thiệt hại về người và tàisản, bảo vệ hiện trường tai nạn
• Không tự ý di chuyển, tháo dỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ýkiến của DNBH, trừ trường hợp là cần thiết hoặc theo yêu cầu của
cơ quan có thẩm quyền
• Bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường choDNBH
+ Chủ xe phải trung thực trong việc thu thập, cung cấp tài liệu, chứng
từ trong hồ sơ yêu cầu bồi thường và tạo điều kiện thuận lợi cho DNBHtrong quá trình xác minh tính chân thực của các tài liệu, chứng từ đó
Quyền và nghĩa vụ của DNBH:
- DNBH có quyền:
+ Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hơp đồng
+ Yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin đầy đủ, trung thực
+ Đơn phương đình chỉ hợp đồng nếu bên tham gia bảo hiểm cố ý cung cấpthông tin sai sự thật hoặc không đóng phí đúng thời hạn
+ Từ chối bồi thường trong trường hợp không thuộc phạm vi bảo hiểm
+ Yêu cầu khách hàng thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất,yêu cầu người thứ ba bồi hoàn và yêu cầu người tham gia phải cung cấp kịpthời thông tin, tài liệu, chứng từ cần thiết để đòi người thứ ba
- DNBH có nghĩa vụ:
+ Giải thích cho khách hàng về các điều khoản trong hợp đồng
+ Cấp đơn bảo hiểm hoặc Giấy chứng nhận bảo hiểm cho bên tham gia bảohiểm
Trang 27+ Bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho bên tham gia bảo hiểm khi sự kiệnbảo hiểm xảy ra trong thời hạn bảo hiểm.
+ Nếu từ chối bồi thường thì phải giải thích rõ bằng văn bản lý do từ chối bồithường
1.3 CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH VÀ BỒI THƯỜNG TRONG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI
1.3.1 Vai trò của công tác giám định và bồi thường
Quá trình triển khai một sản phẩm bảo hiểm trải qua bốn giai đoạn:
Bước 4: Giám định, bồi thường
Đây là khâu cuối cùng của quá trình triển khai sản phẩm bảo hiểm Khi sựkiện bảo hiểm xảy ra, CTBH phải nhanh chóng xác định trách nhiệm bồi thườngcủa mình và bồi thường cho khách hàng
Trang 28Như vậy, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có “chu trình kinh doanh đảongược” và mang tính vô hình nên chất lượng phục vụ thực sự của sản phẩm bảohiểm chỉ được khách hàng biết đến khi sự kiện bảo hiểm xảy ra và CTBH tiếnhành giám định, bồi thường cho khách hàng Bồi thường cho người tham gia bảohiểm chính là lúc DNBH thực hiện lời hứa của mình Chính vì vậy, công tác giámđịnh, bồi thường có vai trò quyết định chất lượng dich vụ bảo hiểm và làm tăng
uy tín cho DNBH, làm tăng tính hấp dẫn của sản phẩm bảo hiểm Từ đó ảnhhưởng lớn đến quyết định tái tục của khách hàng và thu hút các khách hàng tiềmnăng
Sản phẩm bảo hiểm cũng là sản phẩm dễ bắt chước, lại không được bảo hộbản quyền nên trong tình hình cạnh tranh khốc liệt trên thị trường bảo hiểm nhưhiện nay thì các DNBH khó có thể cạnh tranh bằng chiến lược giá mà chỉ có thểdùng bằng chất lượng sản phẩm thì mới hiệu quả
Cũng thông qua quá trình giám định và bồi thường, DNBH mới phát hiện
ra các vụ trục lợi bảo hiểm của khách hàng Từ đó thống kê, đúc rút kinh nghiệm
để phục vụ cho công tác chống trục lợi bảo hiểm, đồng thời quay trở lại bổ sungcho các điều khoản trong hợp đồng giúp hoàn thiện sản phẩm bảo hiểm
Đối với tất cả các DNBH, khoản chi bồi thường hay chi trả bảo hiểm baogiờ cũng là khoản chi lớn nhất Công tác giám định và bồi thường có ảnh hưởngtrực tiếp đến chi phí của CTBH Giám định và bồi thường đúng cho khách hàngkhông những giảm chi bồi thường mà còn mang lại uy tín cho DNBH Việc tránhbồi thường sai sót và tiết kiệm chi phí cho công tác giám định - bồi thường cũng
sẽ làm giảm đáng kể chi phí cho DNBH, do đó sẽ làm tăng lợi nhuận của DNBH
Trang 291.3.2 Công tác giám định tổn thất vật chất xe cơ giới
1.3.2.1 Yêu cầu của công tác giám định tổn thất
- Phải đảm bảo xác định chính xác nguyên nhân gây ra tai nạn
- Yêu cầu xác định đúng tổn thất thực tế và tổn thất thuộc trách nhiệm củaCTBH
- Việc giám định phải nhanh chóng, giám định viên phải kịp thời có mặt tạihiện trường để tiến hành giám định đảm bảo xác định đúng tổn thất của đối tượngbảo hiểm và tránh hiện tượng trục lợi bảo hiểm
- Việc ghi nhận thiệt hại phải khách quan, trung thực, vì lợi ích của cả haibên người tham gia bảo hiểm và DNBH
- Đề xuất các biện pháp bảo quản và phòng ngừa thiệt hại, phải kịp thời vàđúng quyền hạn
1.3.2.2 Nguyên tắc giám định tổn thất vật chất xe cơ giới
- Phải được tiến hành càng nhanh càng tốt Ví dụ tại Bảo Minh Hà Nội quyđịnh trong vòng năm ngày kể từ khi tai nạn xảy ra chủ xe, lái xe phải có tráchnh(nếu quá thời hạn đó thì phải giải thích rõ lý do)
- Tất cả các thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm về vật chất xe, về tài sảnđều phải giám định
- Trong trường hợp chủ xe không thống nhất với kết quả giám định củaCTBH về nguyên nhân và mức độ tổn thất thì có thể trưng cầu giám định viênđộc lập Khi đó, chủ xe phải trả tiền thuê giám định độc lập nếu kết quả giámđịnh giống kết quả giám định của CTBH, nếu khác thì CTBH phải chịu chi phí
đó
Trang 30- Phải có sự có mặt và ký xác nhận của chủ xe, lái xe hoặc người đại diệnhợp pháp.
- Trong trường hợp nếu CTBH không thực hiện việc lập biên bản giámđịnh thì có thể căn cứ vào biên bản của các cơ quan có thẩm quyền, căn cứ ảnhchụp, hiện vật thu được, khai báo của chủ xe, kết quả điều tra, thẩm tra củaCTBH
- Đối với những tổn thất ước tính nhỏ mà giám định viên không có điềukiện thực hiện giám định trực tiếp hoặc không có biên bản tai nạn của công an thìchủ xe phải cung cấp đầy đủ thông tin chi tiết về nguyên nhân, diễn biến vụ tainạn, mức độ thiệt hại cùng các chứng từ làm căn cứ xác định bồi thường
1.3.2.3 Giám định viên
Giám định viên chính là người ghi nhận thiệt hại thực tế của xe một cáchchính xác để làm cơ sở giải quyết bồi thường cho khách hàng Chính vì vậy, giámđịnh viên không những phải là người am hiểu về nghiệp vụ bảo hiểm mà còn phải
là người có chuyên môn kỹ thuật về xe, có khả năng chụp ảnh sao cho phản ánhtổn thất một cách chính xác, khách quan nhất Ngoài ra, giám định viên còn phải
là người có đạo đức nghề nghiệp tốt để ghi nhận thiệt hại một cách trung thực
Trong quá trình giám định, giám định viên còn là người có vai trò đề xuấtcác biện pháp bảo quản và đề phòng hạn chế tổn thất Nếu là giám định viên độclập, giám định viên sẽ thông tin cho các nhà bảo hiểm làm cơ sở để bồi thường
Nếu có cảnh sát đến giám định thì giám định viên có nhiệm vụ phối hợpvới cơ quan điều tra và chủ xe để thu thập tài liệu Nếu không có cảnh sát thìgiám định viên có nhiệm vụ lập biên bản giám định Biên bản giám định phảiphản ánh đầy đủ, trung thực, khách quan các tổn thất
Trang 31Khi tai nạn xảy ra, giám định viên với tư cách là người đại diện CTBH đếngiải quyết bồi thường sẽ tạo cảm giác an tâm cho khách hàng Giám định viên sẽhướng dẫn chủ xe, lái xe cách khắc phục hậu quả và nhanh chóng thu thập hồ sơbồi thường.
1.3.2.4 Quy trình giám định tổn thất vật chất xe cơ giới
Bước 1: Tiếp nhận và xử lý thông tin.
Khi tai nạn xảy ra, chủ xe (lái xe) phải báo ngay cho CTBH biết đồng thờimột mặt phải tìm mọi cách cứu chữa, hạn chế tổn thất Chủ xe không được tự ýtháo dỡ, di chuyển khi chưa có ý kiến của CTBH trừ trường hợp phải thi hànhtheo chỉ thị của cơ quan có thẩm quyền
Trong bước này CTBH phải nắm được các thông tin sơ bộ về:
- Tình hình tai nạn: Biển số xe, chủ xe, lái xe, ngày tai nạn, địa điểm,nguyên nhân và thiệt hại sơ bộ
- Kiểm tra xem xe tham gia loại hình bảo hiểm nào, còn hiện lực haykhông, các khiếu nại có thuộc loại hình bảo hiểm đã tham gia không Nếu khôngthuộc trách nhiệm bảo hiểm thì phải thông báo sớm để chủ xe biết và có hướng
xử lý
- Giải quyết bước đầu của chủ xe với các cơ quan chức năng sau khi đãtiếp nhận thông tin, yêu cầu của chủ xe thực hiện các biện pháp hạn chế tổn thất,bảo vệ hiện trường
Bước 2: Giám định tổn thất.
Thông thường trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới việc giám định tổn thấtđược CTBH tiến hành với sự có mặt của chủ xe hoặc lái xe để xác định tổn thất
Trang 32Tiến hành giám định:
* Kiểm tra tính hợp lệ của giấy tờ bao gồm:
- Giấy chứng nhận bảo hiểm
- Những vụ tai nạn có dấu hiệu có nguyên nhân kỹ thuật hoặc các nguyênnhân loại trừ bảo hiểm cần chụp hình chi tiết để chứng minh được nguyên nhâncủa tai nạn
- Đưa ảnh vào hồ sơ phải có ngày chụp, tên người chụp, chú thích và dấuxác nhận
Trường hợp xe tham gia bảo hiểm vật chất có thiệt hại nhỏ, và hư hỏngmột số trang thiết bị như kính, gương, đèn, thân xe bị cào xước chủ xe có thểđến khai báo và giám định tại CTBH mà không cần giám định tại hiện trường
* Lập biên bản giám định
- Cán bộ giám định có trách nhiệm ghi rõ từng chi tiết bị thiệt hại, mức độtổn thất, phương án phục hồi và kèm theo ảnh minh họa tổn thất
Trang 33- Bên cạnh việc giám định tình trạng hư hỏng, giám định viên được giaotrách nhiệm mời các đơn vị sửa chữa có năng lực phù hợp tham gia giám định đểđánh giá tổn thất và lập bảng dự toán sửa chữa Đối với đơn vị là cấp dưới thìphải xin ý kiến lãnh đạo cấp trên để xem xét việc tổ chức đấu thầu hay chỉ địnhthầu
- Cán bộ giám định phải lập hồ sơ hiện trường, kèm theo ảnh chụp hiệntrường và giám định tổn thất trong vụ tai nạn Đồng thời lấy lời khai của lái xe vàcác bên liên quan trong các vụ tai nạn Trong trường hợp khai báo tai nạn muộngiám định viên không đến được hiện trường khi xảy ra tai nạn thì giám định viêncần lấy lời khai của các nhân chứng nơi xảy ra tai nạn
Yêu cầu của biên bản giám định phải khách quan, tỉ mỉ, thể hiện đầy đủ chitiết những thiệt hại do tai nạn đồng thời đề xuất các phương án khắc phục thiệthại một cách hợp lý và kinh tế nhất
Biên bản giám định gồm các nội dung:
- Ngày, giờ, địa điểm giám định thiệt hại
- Họ tên, chức vụ, cơ quan của người tham gia giám định
- Biển số, số khung, số máy, nhãn hiệu, loại xe, trọng tải của chiếc xe bị tainạn
- Tên chủ xe: Tên chủ xe có thể là cá nhân cũng có thể là một tổ chức,doanh nghiệp
- Địa điểm xảy ra tai nạn
- Nguyên nhân xảy ra tai nạn, nội dung của giám định phải ghi đầy đủ cụthể những bộ phận bị thiệt hại, mức độ, kích thước, ảnh chụp minh hoạ
Trang 34Bước 3: Thỏa thuận với chủ xe phương án khắc phục hậu quả
Sau khi đã xác định một cách chính xác thiệt hại xảy ra thì hai bên thỏathuận phương án sửa chữa, xác định rõ bộ phận nào thay thế hoặc sửa chữa
Bước 4: Hướng dẫn chủ xe hoặc lái xe làm hồ sơ bồi thường
Cán bộ giám định phải hướng dẫn chủ xe thu thập đầy đủ những giấy tờ,chứng từ cần thiết để khiếu nại bồi thường trong quá trình giám định Hồ sơ baogồm:
- Thông báo tai nạn
- Giấy yêu cầu bồi thường
- Bản sao các giấy tờ
+ Giấy chứng nhận bảo hiểm
+ Giấy đăng ký xe
+ Giấy phép lái xe
+ Giấy kiểm định kỹ thuật và môi trường
+ Giấy phép kinh doanh vận tải hành khách hoặc hàng hóa (nếu có)
- Hồ sơ tai nạn: Biên bản giám định hiện trường, biên bản khám nghiệm xeliên quan đến tai nạn, biên bản hòa giải dân sự
- Bản án hoặc quyết định của tòa án trong trường hợp có tranh chấp tại Tòaán
- Các biên bản, tài liệu xác định trách nhiệm của người thứ ba
- Các chứng từ có liên quan đến xác nhận thiệt hại: các hóa đơn chứng từkhi sửa chữa, thay thế các phụ tùng xe
Trang 351.3.3 Công tác bồi thường bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.3.3.1 Yêu cầu của công tác giám định tổn thất vật chất xe cơ giới
- Trả đúng đối tượng bảo hiểm: đúng biển số, đối với những thiệt hại lớnphải kiểm tra cả số khung, số máy
- Rủi ro gây ra thiệt hại phải thuộc phạm vi bảo hiểm và ngày tai nạn phảixảy ra trong thời hạn hiệu lực bảo hiểm và xe phải đáp ứng được các yêu cầu vềđảm bảo an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, lái xe điều khiển gây tai nạn phải
có bằng lái hợp lệ
- Phải có đầy đủ các bằng chứng tổn thất và phí liên quan như:
+ Hóa đơn sửa chữa, biên bản nghiệm thu, phí cẩu kéo
+ Các giấy tờ chứng minh phí đúng và hợp lý mà chủ xe đã chi ra để giảmthiểu tổn thất
- Phải có hồ sơ pháp lý: Tùy theo mức độ tổn thất và tùy trường hợp mà hồ
sơ pháp lý đòi hỏi các giấy tờ khác nhau Chẳng hạn như Bảo Minh Hà Nội đốivới những thiệt hại lớn ngoài ảnh thiệt hại biên bản hiện trường thường yêu cầuphải có thêm xác nhận của cơ quan công an, chính quyền, hay hồ sơ công an Nếukhông có đủ hồ sơ pháp lý thì CTBH sẽ áp chế tài đối với tổn thất xảy ra
1.3.3.2 Nguyên tắc bồi thường
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là một loại hình bảo hiểm tài sản do đó khitiến hành bồi thường phải thực hiện theo các nguyên tắc:
* Nguyên tắc bồi thường tổn thất:
Có nghĩa là số tiền bồi thường mà người tham gia bảo hiểm nhận được trong mọitrường hợp bao giờ cũng nhỏ hơn hoặc bằng thiệt hại thực tế trong một sự kiệnbảo hiểm Trừ trường hợp, nếu chủ phương tiện tham gia bảo hiểm theo điều
Trang 36khoản mới thay cũ (New for old) Tuy nhiên, để tham gia điều kiện này thì đốitượng bảo hiểm phải đáp ứng được một số yêu cầu và người tham gia bảo hiểmphải đóng thêm một phần phụ phí.
Như vậy, để đảm bảo thực hiện nguyên tắc bồi thường thì trong quá trìnhbồi thường các CTBH phải thực hiện hai nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc đóng góp:
Bảo hiểm trùng là trường hợp cùng một đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm bởinhiều đơn bảo hiểm khác nhau (từ hai đơn trở lên) trong cùng một thời hạn bảohiểm, cùng một phạm vị bảo hiểm, có tổng STBH từ các đơn vượt quá giá trị tàisản Trong trường hợp này, nếu có tổn thất xảy ra tổng STBH từ các đơn bảohiểm sẽ không được vượt quá giá trị thiệt hại thực tế và được phân bổ theonguyên tắc đóng góp dựa trên STBH của từng đơn bảo hiểm
- Nguyên tắc thế quyền:
Trong trường hợp xảy ra với tài sản có lỗi của bên thứ ba gây nên trongtrường hợp này bảo hiểm vẫn bồi thường cho thiệt hại của tài sản rồi sau đó thếquyền của người mua bảo hiểm đòi bên thứ 3 theo phần lỗi của họ
1.3.3.3 Quy trình bồi thường
Để có thể xác định được số tiền bồi thường cho chủ xe thì DNBH phải tínhtoán theo các bước sau:
Bước 1: Kiểm tra hồ sơ yêu cầu bồi thường:
Hồ sơ bồi thường bao gồm các giấy tờ sau:
- Giấy yêu cầu bảo hiểm
- Bản sao các giấy tờ:
+ Giấy chứng nhận bảo hiểm
Trang 37+ Giấy đăng ký xe và giấy phép lái xe+ Giấy đăng ký an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường+ Giấy đăng ký kinh doanh đối với các xe kinh doanh chở hànhkhách và chở hàng hóa.
- Kết luận điều tra tai nạn của công an
- Quyết định của tòa án (nếu có)
- Giấy tờ liên quan đến người thứ ba
- Giấy tờ chứng minh thiệt hại vật chất xe
+ Biên bản giám định thiệt hại+ Hóa đơn, chứng từ liên quan đến việc sửa chữa phương tiện
Bước 2:
Cơ sở để tính toán số tiền bồi thướng căn cứ vào:
- Thiệt hại thực tế và chi phí sữa chữa hợp lý mà các bên đã thỏa thuậntrong khi giám định chi tiết để thống nhất điều kiện sửa chữa cho xe bị tai nạn
- Chi phí khác được chấp nhận bồi thường để hạn chế tổn thất hoặc để kéo
xe từ nơi bị nạn về nơi sửa chữa
- Cách thức tham gia bảo hiểm
- Các khoản thu từ người thứ 3
Bước 3: Trình tự và cách tính số tiền bồi thường
- Xác định giá trị thiệt hại thực tết thuộc trách nhiệm của hợp đồng bảohiểm
Chi phí không thuộc trách nhiệm bảo hiểm
Chi phí sửa chữa đã thống nhất
Trang 38- Tính toán số tiền bồi thường:
* Trường hợp xe tham gia bảo hiểm bằng hoặc dưới giá trị:
STBH
Số tiền bồi thường = Giá trị thiệt hại thực tế *
GTBH
* Trường hợp xe tham gia bảo hiểm trên giá trị:
Để tránh việc “lợi dụng” bảo hiểm CTBH chỉ chấp nhận STBH nhỏ hơnhoặc bằng GTBH Nếu người tham gia bảo hiểm cố tình tham gia với STBH lớnhơn GTBH nhằm trục lợi bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm sẽ không còn hiệulực Tuy nhiên, nếu là vô tình tham gia bảo hiểm trên giá trị thì CTBH sẽ vẫn bồithường nhưng STBH chỉ bằng thiệt hại thực tế của xe và luôn nhỏ hơn hoặc bằngGTBH trừ trường hợp chủ xe tham gia điều kiện bảo hiểm mới thay cũ
* Trường hợp tổn thất bộ phận:
Các CTBH thường giới hạn mức bồi thường đối với tổn thất bộ phận bằng
tỉ lệ giá trị tổng thành xe đã được quy định trước Và khi thay thế bộ phận mới thìchỉ được bồi thường giá trị đã được tính khấu hao hoặc chỉ được tính giá trị tươngđương với giá trị ngay trước khi tai nạn
Bước 4: Tiến hành bồi thường
Các cách thức bồi thường:
- Bồi thường trên cơ sở chi phí thiệt hại: Đây là phương án được các công
ty áp dụng phổ biến nhất, cũng là cách khắc phục kinh tế nhất và sát với thiệt hạithực tế nhất
- Chủ xe tự đi sửa chữa: Áp dụng với những thiệt hại nhỏ và nguyên nhânđơn giản Để quản lý các CTBH sẽ kiểm soát giá bằng cách yêu cầu chủ xe phảibáo giá hoặc có thỏa thuận với công ty trước khi sửa chữa
Trang 391.3.4 Đánh giá kết quả và hiệu quả công tác giám định và bồi thường
Giám định bổi thường tổn thất là khâu cuối cùng của quá trình triển khaisản phẩm bảo hiểm và là khâu quan trọng nhất quyết định chất lượng sản phẩm,
uy tín và hiện quả kinh doanh của DNBH Chính vì vậy, “nhanh chóng, kịp thời,chính xác, hợp pháp” là tiêu chuẩn mà DNBH nào cũng mong muốn Đánh giákết quả và hiệu quả giám định bồi thường thường xuyên sẽ giúp DNBH điềuchỉnh hoạt động giám định bồi thường kịp thời sao cho đáp ứng được yêu cầungày càng cao của khách hàng
Thông thường khi phân tích và đánh giá kết quả và hiệu quả công tác giámđịnh bồi thường người ta thường dựa trên các chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ giải quyết bồi thường = (Số vụ khiếu nại đã được giải quyết bồithường trong kỳ / Số vụ khiếu nại đòi giải quyết bồi thường) * 100
- Tỷ lệ tồn đọng = (Số vụ khiếu nại còn tồn đọng chưa giải quyết bồithường trong kỳ / Số vụ khiếu nại đòi giải quyết bồi thường trong kỳ)*100
- Số tiền bình quân mỗi vụ khiếu nại = Tổng số tiền phải bồi thường chocác vụ khiếu nại đã được giải quyết trong kỳ / Tổng vụ khiếu nại đã được giảiquyết bồi thường trong kỳ
- Tỷ lệ bồi thường trong kỳ = (Tổng số tiền chi bồi thường trong kỳ / Tổngdoanh thu phí bảo hiểm trong kỳ) *100
- Thời gian giải quyết bồi thường: từ khi doanh nghiệp nhận được thôngbáo tổn thất đến khi khách hàng nhận được thông báo bồi thường hoặc từ chốibồi thường của DNBH
Trang 401.3.5 Trục lợi bảo hiểm trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Trục lợi bảo hiểm là hành vi cố tình gian dối, lừa đảo có thể có chủ ý ngay
từ khi tham gia bảo hiểm hoặc phát sinh sau khi đã xảy ra rủi ro cho đối tượngbảo hiểm nhằm chiếm đoạt một số tiền từ DNBH mà đáng lý ra họ không đượchưởng
Trục lợi bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay đang là vấn đề nhức nhối với tất cảcác DNBH Trục lợi bảo hiểm xuất hiện trong tất cả các loại hình bảo hiểm phinhân thọ và bảo hiểm nhân thọ với nhiều hình thức khác nhau Vì vậy, công tácgiám định bồi thường hiện nay còn có vai trò quan trọng trong việc chống trục lợibảo hiểm Cũng chính vì thế mà công tác giám định bồi thường đòi hỏi phải ngàycàng được hoàn thiện, cán bộ giám định bồi thường phải có chuyên môn nghiệp
vụ tốt để có thể phát hiện các vụ trục lợi bảo hiểm ngày càng quy mô và tinh vinhư hiện nay
1.3.5.1 Các hình thức trục lợi bảo hiểm
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình bảo hiểm tài sản nên thường xảy
ra các hình thức trục lợi bảo hiểm sau:
- Hợp lý hóa ngày tai nạn và hiệu lực bảo hiểm
Để hợp lý hóa ngày tai nạn, chủ xe (lái xe) khi khai báo sẽ khai lùi hoặctăng ngày tai nạn thực tế để ngày tai nạn khai báo nằm trong hiệu lực bảo hiểm.Hình thức trục lợi này xảy ra rất phổ biến đối với những vụ bảo hiểm vật chất xe
cơ giới vì không phải bất kỳ một vụ tai nạn nào CTBH cũng cử giám định viênđến tận hiện trường tai nạn giám định mà đối với những tổn thất nhỏ chủ xe (láixe) có thể đưa xe đến công ty để giám định trong vòng 05 ngày kể từ ngày xảy ra