Trong các tranh chấp về thừa kế thì chủ yếu là những tranh chấp về disản thừa kế, tranh chấp giữa tài sản chung của những người thừa kế khi mộttrong hai vợ chồng chết trước…Phần lớn nhữn
Trang 1NỘI DUNG Trang LỜI NÓI ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 2
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích - Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới của luận văn 5
6 Cơ cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 7 1.1 Khái niệm, sự khác biệt giữa di chúc chung vợ chồng và di chúc thông thường 7
1.1.1 Khái niệm di chúc chung của vợ chồng 7
1.1.2 Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng 8
1.1.3 Sự tất yếu hình thành di chúc chung của vợ chồng 10
1.1.4 Đặc thù của di chúc chung của vợ chồng 12
1.2 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng 14
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng trên thế giới 14
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của vợ chồng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 18
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 22 2.1 Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng 22
2.1.1 Điều kiện về chủ thể lập di chúc 22
Trang 22.1.2 Điều kiện về nội dung và mục đích 25
2.1.3 Điều kiện về ý chí tự nguyện thống nhất 29
2.1.4 Điều kiện về hình thức 30
2.1.5 Điều kiện về quản lý di sản khi một người chết trước 33
2.2 Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng 33
2.2.1 Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của di chúc chung 33
2.2.2 Trường hợp vợ chồng thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của di chúc chung 35
2.3 Vấn đề sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc chung của vợ chồng 37
2.4 Mối quan hệ di chúc chung di chúc riêng 39
2.4.1 Trường hợp di chúc chung định đoạt tài sản riêng 40
2.4.2 Trường hợp vừa có di chúc chung vừa có di chúc riêng 42
CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HIỆU LỰC DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 46 3.1 Nhận xét về những bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng 46
3.1.1 Về thời hiệu khởi kiện về thừa kế 46
3.1.2 Về tài sản được quản lý bởi người còn sống 47
3.1.3 Về tài sản chung và tài sản riêng 47
3.1.4 Di chúc định đoạt vợ chồng là người thừa kế của nhau 48
3.2 Các giải pháp, kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Pháp luật công nhận quyền sở hữu tài sản của cá nhân và khẳng định cánhân có quyền định đoạt tài sản theo ý của mình, Điều này đã được ghi nhận vàkhẳng định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật Tính tự định đoạt, thỏathuận là một nét tiêu biểu trong quan hệ pháp luật dân sự Trong quan hệ thừa
kế, người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết Xã hộiphát triển, trình độ dân trí nâng cao, người ta muốn định đoạt tài sản của mìnhngay cả khi chết đi bởi những gì họ đã làm, đã gắng và đang có trong tay LuậtViệt Nam quy định tài sản vợ chồng là thuộc sở hữu chung hợp nhất và vợchồng có quyền ngang nhau trong việc định đoạt tài sản Thực tế cho thấy khôngphải là hiếm những trường hợp vợ chồng lập di chúc chung Và vì pháp luật quyđịnh không rõ ràng về vấn đề này, nên dẫn đến những cách hiểu không giốngnhau của những người lập di chúc và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp phápkhác của những người thừa kế
Thực tiễn giải quyết án về di chúc chung của vợ chồng ở các Tòa án tạicác tỉnh, thành phố hiện nay rất ít, thậm chí là không có Theo thống kê tại Tòa
án nhân dân thành phố Hà Nội cho thấy, trong khoảng 59 vụ án xét xử phúcthẩm về quan hệ pháp luật thừa kế năm 2008 thì chỉ có hơn 10 vụ liên quan đến
di chúc, trong đó hầu như không có vụ án nào về vấn đề di chúc chung của vợchồng1 Trong các tranh chấp về thừa kế thì chủ yếu là những tranh chấp về disản thừa kế, tranh chấp giữa tài sản chung của những người thừa kế khi mộttrong hai vợ chồng chết trước…Phần lớn những tranh chấp nào liên quan đến dichúc thì cũng bị tuyên hủy hoặc không hợp pháp và chia thừa kế theo pháp luật.Chỉ có một vài vụ án liên quan đến di chúc của một trong hai bên vợ chồng còn
1 Theo Sổ kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội năn 2008
Trang 4sống định đoạt phần di sản của người đã chết trong khối tài sản chung là đề cậpchút ít đến đề tài mà luận văn đang nghiên cứu.
Quyền lập di chúc chung của vợ chồng tưởng là vấn đề đơn giản và rấthợp lý vì nó thể hiện đạo đức truyền thống của dân tộc ta Nhưng thực tiễn về dichúc chung của vợ chồng đã cho thấy, đây là một vấn đề khá phức tạp mà luậthiện hành chưa quy định đầy đủ, rõ ràng Các thiếu sót, bất cập của luật, đã dẫntới hậu quả là, làm cho vấn đề này càng trở nên rắc rối, thậm chí còn tạo ranhiều mâu thuẫn so với các quy định khác có liên quan
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, các công trình khoa học, các công trình nghiên cứu về vấn đề dichúc chung của vợ chồng, cũng như tính hiệu lực pháp luật của nó không phổbiến Có thể kể tên một số thầy giáo đã có tâm huyết trong việc nghiên cứu lĩnhvực thừa kế, đặc biệt thừa kế theo di chúc như: Tiến sỹ Vũ Văn Mẫu với nghiên
cứu “Thừa kế theo di chúc trong luật Việt Nam”, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Điện với nghiên cứu “Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật Dân sự Việt Nam”, Tiến sỹ Phạm Văn Tuyết với nghiên cứu “Thừa kế theo quy định của pháp luật và thực
tiễn áp dụng”, Tiến sỹ Phùng Trung Tập với nghiên cứu “Luật Thừa kế Việt Nam”…cùng một số thầy cô giáo khác với các bài bình luận, phân tích trên các
tạp chí nghiên cứu như tạp chí Luật học, tạp chí Tòa án nhân dân, tạp chí Dânchủ và pháp luật…Tuy các thầy cô dù nhiều dù ít đề cập đến vấn đề di chúcchung của vợ chồng nhưng không thầy cô nào nói về giá trị hiệu lực di chúcchung của vợ chồng cùng các biểu hiện cụ thể của nó và các vấn đề pháp lý khácnhau liên quan như điều kiện của di chúc chung của vợ chồng, mối quan hệ giữa
di chúc chung của vợ chồng và di chúc riêng của vợ, di chúc riêng của chồng
Trang 53 Mục đích - Phạm vi nghiên cứu
Mục đích
Bản chất của pháp luật là công cụ để điều chỉnh xã hội, một trong nhữngtính chất của nó là tính phổ biến, tường minh Nhưng không phải quy định nàocủa pháp luật cũng được quy định một cách rõ ràng Người dân rất khó tiếp cậnmột vấn đề nào đó mà mình quan tâm Ngay cả khi người dân biết được phápluật quy định vấn đề đó như thế nào cũng chưa chắc đã hiểu được đúng bản chất,
ý nghĩa của điều luật
Hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng là một vấn đề không hề dễhiểu Dù pháp luật chỉ quy định ở một điều luật duy nhất là Điều 668 Bộ luậtDân sự 2005 (BLDS 2005), nhưng nội hàm của điều luật ấy lại liên quan đếnnhiều điều luật khác trong cùng Bộ luật và cả những điều luật thuộc văn bảnpháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Di chúc chung của vợ chồng là một loại di chúc đặc biệt Tính chất đặcbiệt của nó thể hiện trong các quy định về chủ thể, nội dung, ý nghĩa, hìnhthức…Nhưng những nội dung ấy lại không được pháp luật quy định rõ Do đó,tìm hiểu và làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của
vợ chồng nói chung và hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng nói riêng
sẽ là mục đích đầu tiên của luận văn
Tiếp theo, trên cơ sở phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật hiệnhành, tác giả bài viết sẽ đưa ra những khúc mắc, những mâu thuẫn, sự chồngchéo dẫn tới sự bất hợp lý của các quy định này Những khúc mắc, những mâuthuẫn, sự chồng chéo, bất hợp lý xoay quanh những nội dung chủ yếu của dichúc chung vợ chồng và giá trị pháp lý của di chúc Ví dụ như những quy định
về thời điểm có hiệu lực di chúc chung của vợ chồng, di chúc riêng của vợchồng, những quy định về di chúc thông thường …
Trang 6Và cuối cùng, luận văn sẽ đưa ra những kiến nghị, những đề đạt để nhữngquy định của pháp luật về di chúc hạn chế được tối đa sự bất hợp lý, khắc phụcnhững điểm bất tương đồng; để từng quy định trong vấn đề được hiểu thốngnhất và áp dụng cho đúng Mặt khác, đóng góp một phần cho sự hoàn thiện phápluật về di chúc trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.
Phạm vi:
Hiệu lực pháp luật di chúc là mảng đề tài rộng, bao gồm nhiều vấn đềtrong đó có tính hợp pháp của một bản di chúc như hình thức, điều kiện, nộidung, chủ thể…Nhưng trong giới hạn trình độ chuyên môn của mình, tác giả chỉ
đi vào nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúcchung của vợ chồng
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu về đề tài này, luận văn sử dụng nhiều phương pháp khácnhau Chủ yếu nhất vẫn là dựa trên phương pháp nghiên cứu chủ nghĩa duy vậtbiện chứng của C.Mác-Lênin; nhìn nhận vấn đề trong mối quan hệ tổng thể,giữa cái chung và cái riêng của từng vấn đề, có logic, có qua có lại giữa các vấnđề; và tất cả đều hướng tới trọng tâm chính của đề tài là những giá trị pháp lý dichúc chung của vợ chồng
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp như so sánh, phân tích,chứng minh để làm sáng tỏ, từng vấn đề cụ thể giữa các quy định cũ và mới,giữa những quy định chung và riêng nhằm đưa ra nhận xét, quan điểm của cánhân để làm nổi bật lên vấn đề cần nghiên cứu
5 Đóng góp mới của luận văn
Đóng góp mới của luận văn với đề tài: “Pháp luật Việt Nam hiện hành vềhiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng” có ý nghĩa quan trọng Bởi đây
là một vấn đề mới và đặc biệt hữu ích trong thời kỳ hiện đại Luận văn làm sáng
Trang 7tỏ được một số vấn đề mà pháp luật chưa quy định cụ thể Luận văn đã đưa rađược khái niệm di chúc chung của vợ chồng, sự khác biệt giữa di chúc thôngthường và di chúc chung của vợ chồng Bên cạnh đó, luận văn đưa ra đượcnhững điều kiện để di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực pháp luật, tính tấtyếu của di chúc chung vợ chồng Đồng thời, luận văn so sánh di chúc chung của
vợ chồng theo pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia trên thế giới
để từ đó làm sáng tỏ những điểm đặc thù về di chúc chung của vợ chồng, từ đóđưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam
6 Cơ cấu của luận văn
- Mục lục
- Lời mở đầu
- Chương I: Một số vấn đề lý luận về di chúc chung của vợ chồng
- Chương II: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về di chúc chung của
Trang 81.1.1 Khái niệm di chúc chung của vợ chồng
Nghiên cứu bất kỳ một vấn đề khoa học nói chung và vấn đề pháp lý nàonói riêng trước tiên chúng ta cần phải đi nghiên cứu khái niệm của nó Bởi nộihàm của khái niệm ít hay nhiều cũng phản ánh nhiều yếu tố như bản chất, đặcđiểm của đối tượng nghiên cứu
Điều 646 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) đã quy định “Di chúc là sự
thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Khác với hợp đồng là sự gặp gỡ của hai hay nhiều ý chí tại một thời
điểm, di chúc được hình thành bởi sự bày tỏ ý chí của người lập di chúc mà thôi
Đó chính là giao dịch pháp lý một bên; theo đó, người có tài sản quyết địnhchuyển giao không có đền bù một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho ngườithụ hưởng (có thể là một hoặc nhiều người, có thể là cá nhân hoặc tổ chức) màkhông cần quan tâm người thụ hưởng ấy có ý chí như thế nào về việc chuyểngiao này
Di chúc là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác, đó là sựtôn trọng và bảo đảm của pháp luật đối với quyền tự định đoạt của chủ sở hữu
Trang 9với tài sản của họ Cần phải hiểu rằng, cho đến khi người lập di chúc chết, ngườithụ hưởng di sản theo di chúc không có bất cứ một quyền nào trên bất cứ tài sảnnào của người lập di chúc và người thụ hưởng cũng không thể chắc rằng họđược hưởng những di sản ấy về sau này Điều đó có nghĩa là khi người lập dichúc chưa chết thì thứ nhất, di chúc chưa có hiệu lực pháp luật; thứ hai, di chúc
có thể bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ theo ý chí của ngưòi lập ra nó.Ngoài ra, ngay cả khi người lập di chúc đã chết thì di chúc cũng có thể bị rơi vàomột trong những trường hợp không có hiệu lực
BLDS 2005 chỉ đưa ra một quy định rất chung chung, mang tính tuỳ nghi,
đó là: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung” (Điều
663 BLDS 2005) Có thể thấy, BLDS 2005 không đưa ra một khái niệm cụ thểthế nào là di chúc chung của vợ chồng Tuy nhiên, di chúc chung của vợ chồngcũng có nhiều điểm tương đồng với di chúc của cá nhân Do đó, dựa vào kháiniệm di chúc thông thường, ta có thể đưa ra khái niệm di chúc chung của vợ
chồng như sau: “Di chúc chung của vợ chồng là sự thể hiện ý chí đồng thuận,
thống nhất của vợ và của chồng nhằm chuyển dịch tài sản chung của vợ chồng cho người khác sau khi chết”.
1.1.2 Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng
Là một loại di chúc nên di chúc chung của vợ chồng cũng mang nhữngđặc điểm của di chúc thông thường được nêu như là giao dịch pháp lý đơnphương, di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người lập di chúc chết và dichúc được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ theo ý chí của người lập di chúc.Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc thù của di chúc chung, di chúc chung của
vợ chồng mang những đặc điểm khác biệt cần được lưu ý sau đây
Thứ nhất, về ý chí đơn phương của di chúc: Ngay cả khi vợ chồng cùng
lập di chúc thì tính chất một bên của giao dịch vẫn không mất đi Điều đó cónghĩa là khi vợ chồng đã thỏa thuận, thống nhất định đoạt tài sản chung củamình thì pháp luật hoàn toàn tôn trọng Tài sản ấy có thể định đoạt một phần
Trang 10hoặc toàn bộ Người thụ hưởng có thể là cá nhân hoặc tổ chức bất kỳ mà khôngphụ thuộc vào quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng Vợ chồng lập di chúc chung cóthể gắn nghĩa vụ hoặc không gắn nghĩa vụ đối với người thụ hưởng và cũngkhông cần quan tâm người thụ hưởng ấy có đồng ý, có muốn nhận di sản haykhông Đây là sự chuyển giao không có đền bù và hoàn toàn phụ thuộc ý chí của
vợ chồng lập di chúc chung Tính chất một bên ở đây không phải là khi vợchồng lập di chúc chung thì chỉ có một bên hoặc vợ hoặc chồng thể hiện ý chí
Mà một bên ở đây là sự xác lập giữa một bên lập di chúc để định đoạt tài sản củamình, cụ thể ở đây là cả vợ và chồng với một bên là người thụ hưởng Tính chấtmột bên là xuất phát từ ý chí của người lập di chúc
Tóm lại, không có sự ràng buộc hoặc căn cứ nào bắt buộc vợ chồng phảituân theo khi vợ chồng đồng thuận định đoạt tài sản chung của mình
Thứ hai, khi vợ chồng lập di chúc chung, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế
và hủy bỏ di chúc chỉ có thể được thực hiện khi có sự đồng ý của cả hai ngườinếu cả hai còn sống Trong trường hợp một người chết trước, người còn sống chỉ
có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình trong khốitài sản chung và nhất là không thể thay thế, hoặc hủy bỏ di chúc chung đã lập
Có thể hiểu vấn đề này như sau: vợ chồng thỏa thuận thống nhất ý chí lập dichúc chung thì khi sửa đổi, bổ sung thay thế hủy bỏ di chúc ấy cũng phải có sựthỏa thuận thống nhất ý chí của cả hai người Sự thống nhất ý chí này phải được
cụ thể ở từng vấn đề của di chúc chung ấy Ví dụ nếu người chồng muốn bổsung người thừa kế là con riêng ngoài giá thú của mình trong di chúc chung thìphải có sự đồng ý của người vợ Sự đồng ý của người vợ bao gồm là đồng ý cho
bổ sung thêm người thừa kế, đồng ý với người thừa kế đó là con riêng củachồng, đồng ý với số tài sản sẽ giành cho người con đó, đồng ý với việc có traonghĩa vụ cho người đó hay không…Nếu người vợ chỉ đồng ý cho người chồng
bổ sung thêm người thừa kế mà không biết người đó là ai, người đó được hưởngbao nhiêu…thì sự thay đổi di chúc chung đó của người chồng không được coi là
đã có sự thống nhất ý chí với người vợ Nói cách khác, sự thống nhất ý chí được
Trang 11biểu hiện ra ngoài khi cả vợ và chồng cùng tham gia vào việc thay đổi những nộidung liên quan đến di chúc chung đã lập Khi cả hai còn sống, một người thayđổi di chúc chung mà không có sự đồng ý của người kia thì sự thay đổi ấy không
có giá trị pháp lý Trong trường hợp một người chết trước, người còn sống muốnthay đổi những nội dung liên quan đến di chúc chung của vợ chồng đã lập thì chỉ
có thể sửa đổi, bổ sung di chúc chung liên quan đến phần tài sản của mình trongkhối tài sản chung (vì tài sản định đoạt trong di chúc chung là tài sản chung).Nếu người còn sống thay thế hoặc hủy bỏ di chúc chung; sửa đổi, bổ sung liênquan đến phần tài sản của người đã chết trong di chúc chung thì những sự thayđổi đó sẽ không có giá trị, không được pháp luật công nhận
1.1.3 Sự tất yếu hình thành di chúc chung của vợ chồng
Tại sao pháp luật lại quy định chủ thể có quyền lập di chúc chung để địnhđoạt tài sản của mình sau khi chết chỉ có thể là vợ chồng mà không trao quyềnnày cho những trường hợp khác Điều này có thể được lý giải bởi các lý do sauđây:
Thứ nhất, về mối quan hệ vợ chồng: chồng vợ là khái niệm chỉ hai cá
nhân nam nữ độc lập trong xã hội, gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân hợp
pháp Khi là vợ chồng, vợ chồng phải “chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm
chỉ, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” (Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000) Xuất phát từ bản
chất của hôn nhân là vợ chồng cùng chung tay xây dựng mái ấm, cùng nghĩa vụyêu thương chăm sóc nhau, chăm nom gia đình, giáo dục nuôi dưỡng các con.Trong gia đình ấy, vợ chồng cùng phải nhìn về một phía, vì sự phát triển chung
Thứ hai, về tài sản: Bên cạnh đời sống tình cảm vợ chồng còn phải quan
tâm tới vấn đề vật chất, tài sản của vợ chồng Cuộc sống chung của vợ chồngcùng với tính chất của quan hệ hôn nhân đã xác lập đòi hỏi vợ chồng phải cókhối tài sản chung Và khối tài sản ấy sẽ là cơ sở kinh tế của gia đình, đáp ứngcác nhu cầu thiết yếu của gia đình để từ đó thực hiện tốt các chức năng xã hội
Trang 12Tài sản chung của vợ chồng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng như vậy Điều 27
Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm
tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” Tài sản chung của vợ
chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sảnchung ấy thường được sự nhất trí của vợ chồng
Vậy nên vợ chồng có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung
là vấn đề cần thiết Tuy nhiên sự định đoạt này chỉ được đảm bảo nếu vợ chồngđều tự nguyện, thống nhất và tuân theo các quy định của pháp luật về di chúchợp pháp Di chúc chung của vợ chồng là loại di chúc đặc biệt được xác lập dohai người có tài sản chung hợp nhất, cùng định đoạt chung Bởi vậy, BLDS
2005 đã quy định về loại di chúc đặc biệt và phức tạp này Nếu vợ chồng khôngđồng thuận trong việc lập di chúc chung này thì họ có thể lập di chúc riêng chomình; mỗi người đều có thể lập di chúc riêng để định đoạt một nửa khối tài sảnchung hợp nhất của vợ chồng và những tài sản thuộc sở hữu riêng của người đó
Thứ ba, về mối quan hệ của vợ chồng với những người thừa kế: như ta đã
biết nam nữ sau khi xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp hình thành nên gia đình
– tế bào của xã hội “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau” (Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình
2000) Pháp luật cho phép vợ chồng lập di chúc chung cũng xuất phát từ sự liênkết ràng buộc đó Thông thường, vợ chồng lập di chúc chung để trao quyền thừa
kế cho những người có cùng quan hệ huyết thống (các con đẻ của vợ chồng, cha
mẹ anh chị em ruột của một bên vợ hoặc chồng) hoặc quan hệ nuôi dưỡng nhưcon nuôi…Người thừa kế cũng có thể là cá nhân, tổ chức khác không thuộc cácquan hệ trên nhưng điều đó ít khi xảy ra khi vợ chồng lập di chúc chung Mặtkhác, dù vợ chồng có định đoạt tài sản chung không cho những người trong gia
Trang 13đình (thuộc ba quan hệ: hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng) hưởng thì pháp luậtcũng hạn chế sự định đoạt đó bằng điều luật 669 BLDS 2005.
Thứ tư, về thực tế: từ lâu đời vấn đề di chúc chung của vợ chồng đã có từ
lầu đời và ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống xã hội hiện đại Nó thểhiện truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện đạo lý tình nghĩa vợchồng Và chế định này đã được BLDS 2005 quy định để tôn trọng ý chí của họ
Đó cũng là sự tất yếu hình thành di chúc chung của vợ chồng
Từ sự tất yếu trên, có thể nhận thấy quy định hiệu lực pháp luật di chúc
chung của vợ chồng có ý nghĩa rất quan trọng Thứ nhất, hiệu lực pháp luật di
chúc chung giúp chia thừa kế theo di chúc chung một lần, nhằm tránh chia disản nhiều lần; vì điều luật quy định di chúc chung của vợ chồng chỉ có hiệu lực
từ hai thời điểm xác định là người sau cùng chết hoặc vợ chồng cùng chết Thứ
hai, đảm bảo quyền sở hữu và quyền sử dụng di sản thừa kế của người sống; vì
tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là loại tài sản chung hợpnhất; khi nó được định đoạt bằng một chúc thư chung thì phần nào đó các quyềncủa người thừa kế sẽ được đảm bảo một cách ưu việt hơn so với việc không có
di chúc hoặc di chúc riêng Thứ ba, việc quy định như vậy, phần nào đó ngăn
chặn sự mất ổn định của gia đình; bởi một khi động chạm đến vấn đề lợi ích, tàisản tiền bạc…thì rất dễ xảy ra mâu thuẫn giữa những người trong gia đình vớinhau, đặc biệt khi một người chết trước, người còn sống quản lý di sản chưachia, những người thừa kế theo di chúc chưa thể nhận di sản từ di chúc chungcủa vợ chồng mà người vợ hoặc người chồng còn sống Di sản đang được quản
lý đó cần luôn đảm bảo sự minh bạch rõ ràng
1.1.4 Đặc thù của di chúc chung của vợ chồng
Trên cơ sở khái niệm, đặc điểm di chúc chung của vợ chồng đã nêu ra ởtrên, ta thấy cùng là di chúc, di chúc chung của vợ chồng có những đặc điểmgiống di chúc thông thường Nhưng vì là một loại di chúc đặc biệt, di chúcchung của vợ chồng so với di chúc thông thường có một số điểm đặc thù sau:
Trang 14Vấn đề Di chúc thông thường Di chúc chung của vợ chồng
Người
lập di
chúc
Pháp luật chỉ cho phép một cá
nhân có quyền lập di chúc riêng
để định đoạt tài sản của mình, trừ
trường hợp di chúc chung của vợ
chồng
Pháp luật cho phép vợ chồngđược lập di chúc chung để địnhđoạt tài sản trên cơ sở hôn nhântồn tại
chúc có quyền sở hữu hợp pháp,
bao gồm tài sản riêng và phần tài
sản trong khối tài sản chung với
người khác
Là tài sản chung hợp nhất của vợchồng; không bao gồm tài sảnriêng; nếu vợ hoặc chồng địnhđoạt tài sản riêng trong di chúcchung thì cũng không được xem
là một phần di chúc chung của vợchồng
Hình
thức
Có thể bằng miệng, bằng văn bản
hoặc các hình thức tương đương
Dù điều luật không quy định,nhưng vợ chồng có thể lập dichúc chung bằng văn bản hoặcbằng miệng nếu đáp ứng đủ cácđiều kiện của pháp luật
Trang 15từ thời điểm người sau cùng chếthoặc tại thời điểm vợ chồng cùngchết”.
Quản lý
di sản
Có thể được chỉ định trong di
chúc hoặc được những người
thừa kế thoả thuận cử ra Và
người này chỉ có thể bảo quản,
tránh sự hao hụt của di sản Nếu
di sản phát sinh hoa lợi, lợi tức
thì thuộc di sản thừa kế
Nếu một người chết trước, người
vợ hoặc chồng còn lại quản lý sửdụng và phát triển khối tài sảncủa vợ, chồng Sau thời điểm mộtngười chết, người còn lại pháttriển gia sản và làm ra tài sản mớithì đó là tài sản riêng của người
đó, không nằm trong khối “disản” mà vợ chồng đã định đoạttrong di chúc chung
1.2 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng
Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về di chúc chung của vợchồng là phần nội dung nghiên cứu tiến trình lịch sử được sắp xếp theo thời giancủa chế định di chúc chung của vợ chồng trên thế giới và tại Việt Nam; trong đóchủ yếu tập trung tìm hiểu quá trình đó tại Việt Nam
Đây là phần tìm hiểu giúp chúng ta có cái nhìn mở rộng và toàn diện hơn
Trang 16không ghi nhận quyền này trong hệ thống pháp luật của họ Tiêu biểu đó là Luật
La Mã và pháp luật Cộng hòa Pháp Sở dĩ chọn hai hệ thống pháp luật này vì vịtrí, ý nghĩa và vai trò của nó có tác động lớn tới sự hình thành phát triển hệthống pháp luật của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.Đặc biệt từng là thuộc địa của Pháp, Việt Nam chịu ách thống trị nặng nề cả vềkinh tế, văn hóa Pháp luật của Việt Nam thời kỳ đó cũng bị chi phối, ảnh hưởngrất nhiều của Bộ luật Dân sự Pháp
Thứ nhất, Luật La Mã là một Bộ luật cổ xưa nhất trong văn minh nhân
loại Nó có vai trò và vị trí vô cùng lớn đối với sự phát triển pháp luật của tất cảcác nước trên thế giới từ cổ chí kim Nhiều chế định của Luật La Mã có giá trịnhư một nguồn tri thức chung của nhân loại về cấu trúc lập pháp và trình độ lậppháp Những quy định của Luật La Mã đã đặt nền móng vững chắc có ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hầu hết tất cả luật thành văn của các nước trênthế giới trong quá trình xây dựng luật dân sự hiện đại Đặc biệt có thể thấy cácquy định hết sức mở thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với quyền bình đẳngcủa con người trong các gia đình vợ chồng, con cái, trong các quan hệ hợp đồngnhư mua bán, sở hữu, thừa kế…
Khái niệm luật La Mã, theo Ang-ghen: “Luật La Mã là hình thức pháp
luật hoàn thiện nhất dựa trên cơ sở tư hữu Sự thể hiện pháp lý những điều kiện sống và những xung đột xã hội trong đó thống trị tư hữu mà những nhà làm luật sau đó không thể mang thêm điều gì hoàn thiện hơn…” Luật La Mã là một
nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu pháp luật và các nhàlập pháp trong thời hiện đại
Trong lĩnh vực thừa kế, Luật La Mã quy định hai hình thức cơ bản là thừa
kế theo di chúc (testato) và thừa kế theo luật (intestato), ngoài ra còn có thừa kế
theo lệnh của các quan Tuy nhiên, trong thừa kế theo di chúc lại không hề đềcập đến vấn đề di chúc chung của vợ chồng Cho đến nay các nhà làm luật vẫnkhông lý giải được tại sao pháp luật La Mã lại không quy định vấn đề di chúcchung của vợ chồng trong hệ thống pháp luật của mình
Trang 17Thứ hai, pháp luật Cộng hòa Pháp là một hệ thống được xếp vào hàng
danh giá, có ý nghĩa và ảnh hưởng lớn với các nước trên thế giới, đặc biệt là cácnước châu Âu lục địa Trong hệ thống pháp luật ấy, nổi bật nhất là Bộ Luật Dân
sự Napoleon 1804 Đó là một bộ luật đồ sộ, tồn tại lâu đời, còn nguyên giá trị
cho đến bây giờ Trong lĩnh vực thừa kế, dù pháp luật của Pháp cho phép “Mọi
người đều có thể định đoạt bằng di chúc để lập thừa kế hoặc để di tặng hoặc được gọi bằng bất cứ tên nào khác để thể hiện ý chí của mình” (Điều 967 Bộ
Luật Dân sự Pháp) Tuy nhiên các nhà làm luật Pháp lại không chấp nhận vấn đề
di chúc chung của vợ chồng, điều đó thể hiện tại một điều luật riêng biệt Điều
968 Bộ Luật Dân sự Pháp quy định: “Hai hoặc nhiều người không thể làm
chung một di chúc để lại tài sản cho một người thứ ba hoặc để lại tài sản cho nhau” Điều đó có nghĩa là mặc dù tôn trọng sự tự định đoạt tài sản của chủ sở
hữu nhưng pháp luật Pháp lại hạn chế một số trường hợp định đoạt tài sản này,thể hiện qua việc không cho phép vợ chồng lập di chúc chung mà không phânbiệt vợ chồng đó theo chế độ cộng đồng tài sản hay chế độ phân sản trong hônnhân
Hai hệ thống pháp luật tiêu biểu trên đều là những công trình đồ sộ, nơitập hợp trí tuệ của các luật gia lỗi lạc thời đó Nhưng cả hai hệ thống pháp luật
đó đều không quy định di chúc chung của vợ chồng cũng là một điều đáng phảisuy nghĩ Ta biết việc xây dựng pháp luật của mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều vàotình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, trình độ lập pháp của quốc gia đó.Khó có thể áp dụng nguyên vẹn một hệ thống pháp luật nào vào điều kiện thực
tế của một quốc gia khác Việc quốc gia này quy định một vấn đề nào mà quốcgia khác không quy định là điều dễ hiểu và đương nhiên Vậy nên có nhữngquốc gia vẫn quy định di chúc chung của vợ chồng trong hệ thống pháp luật củamình Chúng ta sẽ đi tìm hiểu hai hệ thống pháp luật tiêu biểu, đó là hệ thốngpháp luật Cộng hòa liên bang Đức và hệ thống pháp luật của Quebec (Canada)
Thứ nhất, pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức cũng như pháp luật
Cộng hòa Pháp đều được hình thành trên cơ sở kết hợp luật tập quán địa phương
Trang 18và Luật La Mã nhưng lại có sự khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật này trongvấn đề di chúc chung của vợ chồng Ở Đức, các đế chế Đức tồn tại thời kỳ giữanăm 962 và năm 1806 tự cho mình là kế thừa của đế chế La Mã Luật La Mãđược nghiên cứu tại các trường đại học của Đức và các nước lục địa châu Âu vàđược coi là nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật pháp thành văn
và tập quán pháp luật của họ chưa có quy định đối với quan hệ xã hội cần thiếtphải điều chỉnh pháp luật
Bộ luật Dân sự Đức năm 1896 được gọi là “professorenrecht”, tức là luật
của các giáo sư bởi sự thành công trong kỹ năng lập pháp cũng như trong cácquan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Pháp luật của Đức quy định vợ chồng có thểlập di chúc chung
Thứ hai, từng là một trong những phần lãnh thổ thuộc Pháp, nhưng
Quebec (hiện nay thuộc Canada) lại quy định theo hướng công nhận di chúcchung của vợ chồng
Với những quốc gia này nếu khi kết hôn vợ chồng lập hôn ước để địnhđoạt tài sản của mình hoặc hôn nhân của họ là chế độ phân sản thì quyền lập dichúc chung cũng không bị hạn chế trừ điều kiện về tài sản vợ chồng định đoạttrong di chúc phải là tài sản chung Tuy nhiên, trường hợp này gặp rất ít trênthực tế; và đa phần di chúc chung của vợ chồng được lập trên cơ sở chế độ cộngđồng tài sản của vợ và chồng
Ngoài ra, với những nước thuộc hệ thống common law, đặc điểm giảiquyết tranh chấp của họ là phụ thuộc phần lớn vào những case (án lệ) Và hầunhư không có vụ tranh chấp, rắc rối nào là không giải quyết được Nếu không cócase thì hướng giải quyết phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người thẩm phángiải quyết vụ án đó Tranh chấp di chúc chung của vợ chồng ở những nước nàynếu có không phải là không có hướng giải quyết
Để tránh sự xung đột pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp giữanhững quốc gia có công nhận hoặc không công nhận di chúc chung của vợchồng, Công ước Whasington 1984, hay còn gọi là Công ước về vấn đề di chúc
Trang 19quốc tế đã quy định: Di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm nó tuân thủ các quyđịnh về hình thức của di chúc quy định trong pháp luật của nước nơi lập di chúchoặc các quy định về hình thức của di chúc của nước mà người lập di chúc cóquốc tịch Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt trong việc giải quyếtcác tranh chấp liên quan đến vấn đề di chúc nói chung và di chúc chung của vợchồng nói riêng có tính chất nước ngoài Đặc biệt nó đã hài hòa được phần nàonhững khác biệt giữa các hệ thống pháp luật trên thế giới.
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của vợ chồng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Đây là phần tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của chế định dichúc chung của vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử trong pháp luật Việt Nam từ cổluật, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ 1954 – 1975, thời kỳ 1975 – nay Có sự phânđịnh như vậy là vì mỗi thời kỳ đó ở Việt Nam gắn với điều kiện chính trị, kinh
tế, xã hội, phong tục tập quán nhất định; mà pháp luật lại là sản phẩm của trí tuệcon người phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể ấy Thời kỳ sau không hoàntoàn giống thời kỳ trước mà nó có sự biến đổi, kế thừa và phát triển cho phù hợpvới tình hình thực tế
* Cổ luật
Hệ thống văn bản pháp luật của nước ta thời kỳ này khá rời rạc Nhữngvấn đề về thừa kế đã không còn được lưu giữ kể từ trước thời kỳ nhà Lê (1428 –1527) Chỉ dưới thời vua Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông mới ban hành một sốđiều luật về thừa kế Quan điểm của các nhà làm luật thời này khá gần với quanđiểm hiện đại về thừa kế
Khi ban hành Bộ Quốc Triều Hình Luật, hay còn gọi là Bộ Luật HồngĐức, các vấn đề về thừa kế theo di chúc được quy định tại các Điều 354, Điều
388 Ở đây, người con gái có quyền thừa kế ngang bằng người con trai và Bộluật đã phân định nguồn gốc tài sản của vợ chồng là tài sản riêng của mỗi người
Trang 20và tài sản chung của vợ chồng Đây là một điểm được đánh giá là rất tiến bộ, tuynhiên bộ luật lại không có quy định về di chúc chung của vợ chồng.
Bộ Hoàng Triều Luật Lệ, tức Luật Gia Long dưới thời nhà Nguyễn so với
Bộ Luật Hồng Đức thì hà khắc hơn rất nhiều; cụ thể những vấn đề về bình đẳngnam nữ không được công nhận; luật không đề cập về quyền thừa kế của con gáivới những tài sản thông thường và mặc dù luật có quy định về thừa kế theo dichúc nhưng vấn đề di chúc chung không được đề cập
Tuy nhiên theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, việc lập di chúc chung của vợchồng lại được thừa nhận từ lâu trong phong tục tập quán, thể hiện quan niệmtruyền thống đạo lý người Việt coi trọng nghĩa tào khê, luôn củng cố tình yêuthương, sự gắn kết trong gia đình và thực tiễn tục lệ của Việt Nam trong các xãhội trước đây cho thấy di chúc chung của vợ chồng là hình thức di chúc thôngdụng và việc vợ chồng cùng lập di chúc chung là hiện tượng phổ biến thời bấy giờ1
* Thời kỳ Pháp thuộc
Thời kỳ này chúng ta có ba Bộ luật tiêu biểu là Bộ Dân luật Giản yếu
1883, Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ 1936; và tất cả chúngđều dựa trên cơ sở những nguyên tắc đại cương của Bộ Dân Luật Pháp 1804nhưng lại có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đời sống, sinh hoạt người Việt
Luật quy định trong gia đình, người vợ không có quyền định đoạt tài sảnchung của vợ chồng Điều 346 Dân luật Bắc kỳ và Điều 341 Dân luật Trung kỳđều quy định: Nếu người chồng chết trước, thì người vợ chỉ được hưởng tài sảnriêng của mình, còn tài sản chung thì không được hưởng Người vợ goá chỉ trởthành sở hữu di sản của người chồng khi không còn thừa kế nào về bên nội, bênngoại của người chồng Trong trường hợp người vợ chết trước, thì Điều 113 DânLuật Bắc kỳ và Điều 111 Dân Luật Trung kỳ đều quy định: Người chồng đươngnhiên trở thành chủ sở hữu duy nhất của tất cả tài sản chung của vợ chồng, trong
đó có cả tài sản riêng của vợ
1 Vũ Văn Mẫu “Thừa kế theo di chúc trong luật Việt Nam”
Trang 21Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý, đó là luật đã ghi nhận quyền lập dichúc chung của vợ chồng Tại Điều 321 Dân luật Bắc kỳ và Điều 313 Dân luật
Trung kỳ quy định: “Người cha được lập chúc thư để xử trí tài sản chung của
gia đình tuỳ theo ý mình, nhưng phải có vợ chính đồng ý… Trừ tài sản của vợ chính ra thì người chồng được làm chúc thư để xử trí tài sản của gia đình tùy theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được”.
* Thời kỳ 1954 - 1975
Dưới chính thể ngụy quyền Sài Gòn, các quy định về thừa kế được quyđịnh tại Bộ Dân luật Sài Gòn 1972, quyển 3 từ Điều 489 - đến Điều 649 Và vấn
đề di chúc chung của vợ chồng cũng được công nhận tại Điều 572: “Chúc thư
chỉ có thể do một người lập ra; hai người không thể cùng chung một chúc thư lợi tha hay lưỡng tương đắc lợi Đặc biệt, trong trường hợp chúc thư do hai vợ chồng cùng làm để sử dụng tài sản chung, chúc thư được thi hành riêng về phần
di sản của người chết trước, người sống vẫn có quyền huỷ bãi hay thay đổi chúc thư về phần mình”.
Còn hai văn bản khác là Luật gia đình 1959 và Sắc luật 64 lại không đềcập đến vấn đề di chúc chung của vợ chồng
* Thời kỳ 1975 – nay
Trước khi có Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990, thì chỉ có Thông tư 81của Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 24-7-1981 đề cập một cách tươngđối toàn diện về chế định thừa kế, trong đó có đề cập đến vấn đề di chúc chungcủa vợ chồng Sau khi Pháp lệnh thừa kế ban hành, chương II của Pháp lệnh đãquy định trình tự thừa kế theo di chúc và dù không trực tiếp quy định về di chúcchung của vợ chồng nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc chung,
và những quy định này đã được pháp điển hoá tại phần thứ tư Bộ luật dân sự 1995
Mặt khác, luật Hôn nhân và gia đình 1986, Luật Hôn nhân và gia đình
2000 hiện hành đều khẳng định “Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
Trang 22trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” và dù pháp luật tôn
trọng sở hữu riêng của mỗi bên vợ và chồng nhưng Điều 27 Luật Hôn nhân và
gia đình 2000 đã quy định: “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung
hợp nhất”.
Điều 635 Bộ luật dân sự 1995 cũng đã quy định về quyền bình đẳng trong
quan hệ thừa kế “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình
cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Điều
đó có nghĩa là phụ nữ hay là nam giới đều bình đẳng với nhau trong việc để lại
di sản thừa kế, hưởng di sản thừa kế, có toàn quyền định đoạt tài sản của mình;Chính vì thế, việc lập di chúc chung của vợ chồng để định đoạt tài sản đã đượcquy định khá rõ trong những điều luật riêng biệt (Điều 667, Điều 671 Bộ luậtDân sự 1995)
Và các quy định này đã có nhiều sửa đổi trong BLDS 2005, cụ thể tại cácĐiều 663, Điều 664 và Điều 668 Nếu Điều 671 Bộ luật Dân sự 1995 quy định
về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng: “Trong trường hợp vợ,
chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật; nếu vơ, chồng có thỏa thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc
là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phaan chia từ thời điểm đó” thì trong BLDS 2005 lại chỉ quy định hiệu
lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng: “Di chúc chung của vợ, chồng có
hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”, mà không quy định cụ thể trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết
trước thì giá trị di chúc chung sẽ như nào
Trang 23CHƯƠNG 2:
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
2.1 Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng
Di chúc chung của vợ chồng cũng giống di chúc thông thường muốn cóhiệu lực trước hết phải được thừa nhận là hợp pháp Và một di chúc hợp pháp thìphải đảm bảo những điều kiện của pháp luật về chủ thể, về ý chí, về hình thức,
về nội dung và một số điều kiện khác Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc biệt,
di chúc chung sẽ phải đảm bảo những điều kiện cụ thể khác nữa mà nếu khôngtuân theo thì di chúc chung ấy cũng không được công nhận
2.1.1 Điều kiện về chủ thể lập di chúc
Di chúc nói chung và di chúc chung của vợ chồng nói riêng là một giaodịch pháp lý đơn phương Nó cũng phải đảm bảo các điều kiện có hiệu lực củagiao dịch dân sự Một trong những điều kiện đầu tiên mà người lập di chúc cần
phải có đó là năng lực hành vi dân sự Khoản 1 Điều 122 quy định: “Người
tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” Đó là khả năng của vợ, chồng
thông qua hành vi của mình để thực hiện các quyền và gánh vác các nghĩa vụ.Theo quy định của pháp luật, một người được coi là có năng lực hành vi dân sựđầy đủ khi người đó đủ mười tám tuổi mà không mắc các bệnh không thể nhậnthức và làm chủ được hành vi của mình Về nguyên tắc chỉ những người đủmười tám tuổi trở lên mới có quyền lập di chúc Tuy nhiên, khoản 2 Điều 647
BLDS 2005 quy định: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý” Điều đó có
nghĩa là, những người này khi họ có tài sản nhất định thì vẫn có quyền lập dichúc để định đoạt tài sản của mình Tuy nhiên, ở độ tuổi này, cá nhân mới chỉ
Trang 24đạt được sự nhận thức nhất định, chưa thể coi là hoàn thiện, chưa thể kiểm soátđược sự định đoạt của mình nên pháp luật quy định chỉ khi có sự cho phép củacha, mẹ hoặc người giám hộ người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười támtuổi mới có quyền lập di chúc Vấn đề không có gì đáng nói và tưởng chừngnhững quy định của pháp luật về vấn đề trên hoàn toàn hợp lý nếu không có sựkhác biệt giữa những quy định ấy với Luật Hôn nhân và Gia đình Ta biết Điều
663 BLDS 2005 cho phép: “Vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài
sản chung” Trong khi điều kiện đầu tiên để nam nữ có thể kết hôn là yêu cầu về
độ tuổi “Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên” (Khoản 1
Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình 2000) Ở đây ta thấy sự mâu thuẫn Điều 18
BLDS 2005 quy định “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên.
Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” Nếu người nữ qua tuổi
mười bảy (tức là chỉ cần một ngày sau sinh nhật của người ấy), bước sang tuổimười tám mà kết hôn thì theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 điều đó hoàntoàn hợp pháp Nhưng nếu sau khi kết hôn, người này cùng chồng thỏa thuậnthống nhất lập di chúc chung thì di chúc ấy có được pháp luật công nhận haykhông Vì trong trường hợp này, người vợ không có đầy đủ năng lực hành vidân sự đề tự mình quyết định việc lập di chúc Người vợ muốn lập di chúc thìphải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ Quy định như vậy có là hợp
lý vì người con gái sau khi “xuất giá” (“làm con nhà người”) muốn định đoạt tàisản, ở đây lại là tài sản chung với người chồng của mình, lại phải xin ý kiến củacha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý hay không đồng ý Nếu cha, mẹ hoặc ngườigiám hộ không đồng ý thì có phải là đã không đảm bảo quyền lập di chúc nàycủa người vợ Nhưng nếu không quy định quyền lập di chúc của người vợ trongtrường hợp này thì cũng không là hợp lý, không đảm bảo yếu tố công bằng sovới những chủ thể khác Vậy nếu người vợ cùng chồng thỏa thuận thống nhấtlập di chúc chung mà người vợ không xin ý kiến của cha, mẹ hoặc người giámhộ; hoặc có xin ý kiến mà cha, mẹ hoặc người giám hộ không đồng ý nhưng
Trang 25người vợ cùng chồng vẫn lập di chúc chung thì di chúc ấy có giá trị pháp lý, cóđược pháp luật công nhận hay không?
Pháp luật không đề cập vấn đề này, phải chăng các nhà làm luật cho rằng:Thứ nhất, những người từ mười tám tuổi đối với nữ mà kết hôn không phải lànhiều, đặc biệt trong xã hội hiện đại; Thứ hai, các nhà làm luật đã loại trừ khảnăng vợ chồng mới cưới có khối tài sản chung nhất định để định đoạt những tàisản ấy trong di chúc chung Sự lý giải như vậy hoàn toàn không hợp lý Khôngphải vì ít xảy ra mà pháp luật lại không quy định Mặt khác, không thể nói vợchồng mới cưới chưa thể có khối tài sản chung nhất định được Vì có khả năng,nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng đã lâu, đợi đến khi đủ tuổi họ mớiđăng ký kết hôn, chính thức trở thành vợ chồng trước pháp luật Khối tài sản mà
họ đã có với nhau có thể được họ thỏa thuận làm tài sản chung Hơn nữa, nhữngtài sản mà hai vợ chồng nhận được trong lễ cưới cũng không hẳn là không có giátrị
Thiết nghĩ, nam nữ khi đến tuổi kết hôn, tức là họ đã đạt được sự pháttriển nhất định về thể xác lẫn trí tuệ Người con gái sau khi đi lấy chồng trởthành người phụ nữ biết lo toan, thu vén mọi chuyện trong gia đình nhà chồng,không còn sống cuộc sống phụ thuộc nhà mẹ đẻ và cũng không thể coi người vợtrong trường hợp này không có đủ sự kiểm soát đối với sự định đoạt của mìnhđược nữa Cho nên, không phải chuyện gì cũng phải có sự tham gia, đồng ý,đóng góp của cha, mẹ hoặc người giám hộ Trong trường hợp lập di chúc chungnày cũng vậy Mặc dù pháp luật quy định người chưa thành niên muốn lập dichúc phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ Nhưng thật phi lý khiđây là di chúc chung mà người vợ muốn lập với người chồng của mình, địnhđoạt những tài sản mà vợ chồng có trong đời sống chung Vậy nên có thể coiđây là trường hợp ngoại lệ của khoản 2 Điều 647 BLDS 2005
Tiếp nữa, đây là một giao dịch pháp lý đơn phương được thực hiện bởihai chủ thể là vợ và chồng cùng thỏa thuận thống nhất lập di chúc chung Điềukiện cần thiết phải có đối với di chúc chung nữa là phải còn tồn tại tình trạng
Trang 26hôn nhân giữa vợ và chồng Tồn tại tình trạng hôn nhân được hiểu là trênphương diện pháp luật họ là vợ chồng của nhau một cách hợp pháp (có đăng kýkết hôn hoặc hôn nhân thực tế do nam nữ sống chung trước ngày 3/1/1987không đăng ký kết hôn và được công nhận là vợ chồng) Ở đây loại trừ khả năngtình trạng hôn nhân chấm dứt do một người chết trước (bao gồm cả chết về mặtsinh học và chết về mặt pháp lý), vì đây là sự chấm dứt tình trạng hôn nhânngoài ý chí vợ chồng Xuất phát từ bản chất di chúc chung được tạo lập giữa vợchồng, thể hiện sự gắn kết hoà hợp, tình thương yêu trong gia đình Hai cá nhânnam nữ đơn lẻ đương nhiên không có quyền lập di chúc chung Pháp luật chỉtrao quyền này cho duy nhất vợ chồng mà thôi Khi nam nữ kết hôn trở thành vợchồng, họ định đoạt tài sản của mình bằng cách lập di chúc chung, pháp luật tôntrọng quyền này của họ Nhưng vì một lý do nào đó, sau khi di chúc chung đãđược lập vợ chồng lại ly dị, tài sản phân chia, đời sống hôn nhân không còn tồntại, thì đương nhiên di chúc chung đã lập cũng không còn giá trị Do vậy, phảiđang là vợ chồng, phải đang trong tình trạng hôn nhân hợp pháp thì di chúcchung đã lập của vợ chồng mới có được pháp luật công nhận.
2.1.2 Điều kiện về nội dung và mục đích
Nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ chồng phải không vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội (khoản 2 Điều 122BLDS 2005) Mục đích của di chúc chung của vợ chồng là sự định đoạt tài sảnchung của vợ chồng cho những người thừa kế, rằng như một sự chắc chắnnhững người mà vợ chồng chỉ định trong di chúc chung sẽ được hưởng nhữngtài sản do vợ chồng định đoạt, trừ trường hợp những người thừa kế đó từ chối.Nội dung di chúc chung của vợ chồng là những vấn đề cụ thể được vợ chồng thểhiện trong bản di chúc chung đó như tên người nhận phần tài sản là ai, được baonhiêu, có trao nghĩa vụ gì không…
Nếu di chúc chung của vợ chồng lập ra không có có tính chất định đoạt tàisản của vợ chồng cho những người thừa kế, mà chỉ là sự căn dặn, sắp đặt mọi
Trang 27chuyện sau khi vợ chồng chết, giống như là ý nguyện cuối cùng, lời trăn trở củangười chết trước đối với họ hàng con cháu thì dù vợ chồng có ghi tên nó là dichúc chung của vợ chồng, bản chất của nó cũng không phải là di chúc thuộc đốitượng điều chỉnh của Luật Dân sự Ở đây không có sự chuyển dịch tài sản chonhững người thừa kế, những người thừa kế được nhắc đến cũng không xác định
cụ thể là cá nhân, tổ chức nào Mục đích di chúc chung của vợ chồng không đạtđược Nên điều kiện tiếp theo để một bản di chúc chung có hiệu lực là vợ chồngphải định đoạt những tài sản chung của mình là giành cho những ai, bao nhiêuphần, phải có sự chắc chắn có sự chuyển dịch tài sản cho những người thừa kế
Những vấn đề cụ thể vợ chồng định đoạt trong di chúc chung được coi lànội dung của bản di chúc ấy Về mặt lý thuyết, khi lập di chúc chung, vợ vàchồng không loại trừ khả năng chỉ định lẫn nhau làm người hưởng di sản củangười chết trước Trong trường hợp đó, di chúc chung trở thành một hợp đồng
mà việc phát sinh hiệu lực của hợp đồng ấy sẽ bị hoãn lại cho đến thời điểm mởthừa kế của một trong hai bên giao kết Việc vợ chồng tự định đoạt tài sản chongười kia có được pháp luật cho phép không? BLDS 2005 không quy định vềvấn đề này Có thể thấy rằng hiệu lực di chúc chung chỉ phát sinh từ thời điểm
cả hai vợ chồng cùng chết Nếu người này là người thừa kế của người kia và đềukhông còn vào thời điểm mở thừa kế thì di chúc chung lúc này không có giá trịpháp lý Số di sản của người chết sẽ được chia theo pháp luật Tuy nhiên, nếu vợchồng chỉ định đoạt một phần tài sản trong khối di sản chung cho người kia, cònnhững phần khác giành cho những người thừa kế khác thì khi cả hai vợ chồngcùng chết thì phần di chúc định đoạt tài sản cho những người thừa kế khác vẫn
có hiệu lực Phần di chúc vợ chồng định đoạt tài sản cho nhau sẽ không có giátrị pháp lý và sẽ được chia theo pháp luật Nếu một người chết trước, người cònsống sửa đổi phần di chúc liên quan đến tài sản của mình trong khối tài sảnchung thì khi đó, phần di chúc của người chết trước có hiệu lực pháp luật Trongphần di chúc có hiệu lực ấy lại có sự định đoạt một phần di sản cho người chồnghoặc người vợ còn sống Như vậy, người chồng hoặc người vợ còn sống là
Trang 28người thừa kế theo di chúc của người chết trước Nếu số di sản mà người chếttrước định đoạt cho người kia ít hơn hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật thìcăn cứ Điều 669 BLDS 2005, người còn sống còn được hưởng ít nhất hai phần
ba suất thừa kế theo pháp luật nữa Như vậy việc vợ chồng định đoạt tài sản chonhau trong di chúc chung luôn là có lợi đối với người chết sau Điều này có thểdẫn đến hành vì lừa dối hoặc những hành vi phạm pháp khác nhằm mục đíchtrục lợi của người còn sống
Từ phân tích ở trên, có thể thấy dù pháp luật không cấm vợ chồng địnhđoạt tài sản cho nhau trong di chúc chung nhưng như vậy cũng đã ảnh hưởng ítnhiều đến quyền lợi của những người thừa kế khác Thiết nghĩ, việc vợ chồngđịnh đoạt tài sản cho nhau trong di chúc chung là không cần thiết Ngoài ra, khiphần di chúc của người chết trước có hiệu lực pháp luật thì người còn sống vẫn
sẽ được hưởng số di sản ít nhất bằng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, vìthuộc đối tượng thừa kế quy định tại Điều 669 BLDS 2005
Về vấn đề tài sản: Điều 663 BLDS 2005 quy định: “Vợ chồng có thể lập
di chúc chung để định đoạt tài sản chung”, với quy định như vậy, pháp luật chỉ
cho phép vợ chồng định đoạt tài sản chung trong di chúc chung ấy Vợ chồng làđồng sở hữu đối với tài sản chung hợp nhất trong thời kỳ hôn nhân Khoản 1
Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ
chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung
và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung…” Vấn đề tài
sản chung cũng là một điều kiện tiên quyết trong hiệu lực pháp luật di chúcchung của vợ chồng Điều đó đồng nghĩa với việc nếu không phải là vợ chồngđịnh đoạt tài sản chung trong di chúc chung ấy, thì sẽ không được coi là di chúcchung; và dĩ nhiên sẽ không phải chịu sự ràng buộc của hiệu lực di chúc chung
ấy Điều này không có nghĩa là pháp luật cấm vợ chồng định đoạt tài sản riêngcủa mình trong di chúc chung, nhưng với những tài sản riêng đó, các quy định