1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của luật sư trong việc giải quyết các vụ án có người chưa thành niên phạm tội

24 632 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 147 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trongHiến Pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi bổ sungmột số điều của bộ luật hình sự năm 2009 sau đ

Trang 1

Vai trò của luật sư trong việc giải quyết các vụ án

có người chưa thành niên phạm tội

Lời mở đầu

Trong những năm gần đây thực tiễn xét xử cho thấy rằng tỷ lệ các vụ

án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội được các toà án đưa

ra xét xử chiếm tỷ lệ đáng kể Vấn đề này thật đáng báo động, là mối quantâm của toàn xã hội nói chung và của các ngành lập pháp, tư pháp nói riêng

Theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan chức năng thì ngườichưa thành niên phạm tội là những người từ đủ 14 đến chưa đủ 18 tuổi Dotâm sinh lý còn chưa hoàn chỉnh, việc trang bị những kiến thức cần thiết vềcác lĩnh vực tự nhiên và xã hội còn nhiều khiếm khuyết, và nhất là các kiếnthức về pháp luật Vì vậy, năng lực hành vi tố tụng có phần hạn chế, các đốitượng này được hưởng chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước từgóc độ hình sự cũng như tố tụng hình sự, được bảo hộ đặc biệt của Nhànước cũng như xã hội về các quyền và lợi ích hợp pháp Xuất phát từ đặcđiểm mang tính đặc trưng như vậy nên bộ luật tố tụng hình sự nước ta dànhhẳn một chương riêng (Chương 32) quy định thủ tục về những vụ án mà bịcan, bị cáo là người chưa thành niên

Là luật sư trong tương lai, tôi chọn đề tài “ Vai trò của luật sư trong việc giảiquyết các vụ án có người chưa thành niên phạm tội” nhằm mục đích gópmột phần làm rõ các các chính sách của Nhà nước đối với người chưa thànhniên để có thể bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người chưathành niên khi phạm tội Luật sư vận dụng chính sách nhân đạo thông quacác quy định của pháp luật, giúp cho người chưa thành niên phạm tội có cơhội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho

xã hội

****

Trang 2

NỘI DUNG CƠ BẢN : VAI TRÒ LUẬT SƯ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN CÓ

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI.

I/ Khái niệm và các quy định của pháp luật về người chưa thành niên :

1 Khái niệm người chưa thành niên :

Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ vềnhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân Phápluật ở mỗi quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên

Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốcthông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em cónghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em

có quy định tuổi thành niên sớm hơn”

Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trongHiến Pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi bổ sungmột số điều của bộ luật hình sự năm 2009 (sau đây gọi chung là Bộ Luậthình sự) ,ộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân

sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm phápluật khác Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưathành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đốivới người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể

Khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em Theo Điều 1Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dânViệt Nam dưới 16 tuổi”

Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự pháttriển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằnggiới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia Theo đó,người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thànhniên

Trang 3

Như vậy, có thể khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi,chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ cácquyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.

Tham khảo thêm các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người chưathành niên gồm: Công ước về Quyền trẻ em (United Nations Convention onthe Rights of the Child) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày20-11-1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụngpháp luật với người chưa thành niên (United Nations Standard MinimumRules for the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules) ngày 29-11-1985; Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở ngườichưa thành niên (United Nations Guidelines for the Prevention of Juveniledelinquency/ Riyadh Guidelines) ngày 14-12-1990 Theo quan niệm quốc tếthì trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) làngười từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi,người trẻ tuổi (Young persons) bao gồm trẻ em, người chưa thành niên vàthanh niên

Ở Việt Nam, tuổi kết nạp Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh là từ 10đến 15 tuổi, tuổi kết nạp Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là từ 15đến 30 tuổi Trong tuổi Đoàn gọi là thanh niên, trong tuổi Đội là thiếu niên,dưới tuổi Đội gọi là nhi đồng Ở mỗi lứa tuổi, người chưa thành niên đượcNhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục để phát triển tốtnhất về thể chất và nhân cách, trở thành người khỏe mạnh, có ích cho xã hội

2 Khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra

Điều 12 Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyđịnh tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tộiphạm

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệmhình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêmtrọng”

Như vậy, người chưa thành niên phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự

có thể là:

Trang 4

-Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý,phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

- Nguời từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm một tội được quy định trong Bộluật Hình sự

Đối với người chưa thành niên, việc xác định một trường hợp cụ thể người

có hành vi phạm tội có trở thành tội phạm hay không còn căn cứ vào nguyêntắc được quy định tại Điều 69 Bộ luật Hình sự:

“1 Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp

đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có íchcho xã hội

Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của ngườichưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khảnăng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạmtội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm

2 Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự,nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại khônglớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhậngiám sát, giáo dục

3 Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và ápdụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết vàphải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhânthân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm

4 Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với ngườichưa thành niên phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tưpháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.” …

Như vậy, tội phạm do người chưa thành niên gây ra chỉ xuất hiện (phát sinh)khi có đầy đủ 3 điều kiện sau đây:

Một là, có hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện

Hai là, người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sựtương ứng với loại tội phạm và lỗi gây ra tội phạm

Trang 5

Ba là, người đó thực tế phải chịu trách nhiệm hình sự sau khi các cơ quan cóthẩm quyền cân nhắc tính cần thiết phải xử lý bằng hình sự mà không thể ápdụng các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp khác để quản lý, giáo dục vàphòng ngừa tội phạm.

Những điều kiện trên cũng cho thấy tầm quan trọng trong việc xác định tộiphạm do người chưa thành niên gây ra Tội phạm do người chưa thành niêngây ra bao giờ cũng gắn liền với một người chưa thành niên có hành viphạm tội cụ thể nhưng không phải mọi trường hợp một người chưa thànhniên thực hiện hành vi phạm tội đều trở thành tội phạm

Tội phạm do người chưa thành niên gây ra có những đặc điểm riêng so vớitội phạm do người đã thành niên gây ra Tội phạm do người đã thành niêngây ra là những hành vi nguy hiểm cho xã hội có đủ dấu hiệu tội phạm và đủyếu tố cấu thành tội phạm Tội phạm do người chưa thành niên gây ra ngoàinhững dấu hiệu và yếu tố pháp lý còn được xác định bằng sự nhận định, cânnhắc cụ thể của cơ quan có thẩm quyền khi quyết định truy cứu trách nhiệmhình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Theo một số nghiên cứu khoa học, việc truy cứu trách nhiệm hình sự và ápdụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được xem là “cầnthiết” khi hội đủ 3 điều kiện sau đây ( 1 ) :

- Người chưa thành niên phạm tội có nhân thân xấu

- Tội phạm đã được thực hiện có tính chất nghiêm trọng

- Những biện pháp giáo dục, phòng ngừa như giáo dục tại xã, phường, đưavào trường giáo dưỡng không có hiệu quả để cải tạo người chưa thành niênphạm tội mà cần áp dụng hình phạt đối với họ

Từ những phân tích trên có thể khái niệm: Tội phạm do người chưa thànhniên gây ra là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bởi người dưới

18 tuổi và người đó phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi vàlỗi của mình theo phán xét của cơ quan tiến hành tố tụng

Khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra không đồng nhất vớikhái niệm người chưa thành niên phạm tội nhưng hai khái niệm đó có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau Khái niệm người chưa thành niên phạm tội là kháiniệm dùng để chỉ một dạng chủ thể đặc biệt (người chưa thành niên) thựchiện hành vi phạm tội, còn khái niệm tội phạm do người chưa thành niên

Trang 6

gây ra là khái niệm dùng để chỉ tội phạm đã được thực hiện bởi một dạngchủ thể đặc biệt (người chưa thành niên).

3 Một số vấn đề rút ra trong công tác phòng ngừa, điều tra tội phạm và

xử lý người chưa thành niên phạm tội

Người chưa thành niên do chưa phát triển hoàn thiện về mặt thể chất vànhân cách nên việc bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên; việc phòngngừa và điều tra tội phạm, xử lý người chưa thành niên phạm tội là vấn đềvừa mang tính pháp lý vừa mang tính nhân văn

Khi tiến hành phòng ngừa và điều tra tội phạm, xử lý người chưa thành niênphạm tội chúng ta cần chú ý:

- Xác định đối tượng tác động trong phòng ngừa tội phạm: Trong các kếhoạch phòng ngừa tội phạm phải xác định đối tượng là trẻ em hay ngườichưa thành niên hay thanh, thiếu niên Mỗi đối tượng đó rõ ràng khác nhau

về độ tuổi, do vậy khác nhau về đặc điểm tâm lý cho nên phương pháp tácđộng của chúng ta cũng phải khác nhau

- Tính thân thiện trong điều tra tội phạm: Cán bộ Cảnh sát nhân dân trongkhi tiến hành điều tra tội phạm do người chưa thành niên gây ra ngoài việcvận dụng đúng các quy định pháp luật, sử dụng linh hoạt nghiệp vụ, cần phải

là người có kiến thức sâu sắc về tâm lý, đặc biệt là tâm lý thân thiện vớingười chưa thành niên Thái độ của cán bộ công an, lời nói và biện phápđược sử dụng, môi trường và các điều kiện vật chất để tiến hành điều traluôn luôn gắn với tính từ “thân thiện” Trong giai đoạn điều tra, cán bộ điềutra phải thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người chưathành niên như việc bắt, tạm giữ, tạm giam; việc giám sát đối với ngườichưa thành niên phạm tội; việc bào chữa; việc tham gia tố tụng của gia đình,nhà trường, tổ chức Cũng có nghĩa là, thái độ hà khắc, gây gắt, vô cảm vànhững biện pháp cứng nhắc, vi phạm tố tụng là điều “cấm kị” đối với cán bộCảnh sát nhân dân trong hoạt động điều tra tội phạm do người chưa thànhniên gây ra

- Tính cụ thể, nhân văn trong xử lý người chưa thành niên phạm tội: Khôngphải tất cả những người chưa thành niên phạm tội đều phải xử lý bằng hình

sự Trong công tác điều tra, cán bộ Cảnh sát nhân dân cần thu thập thông tin,chứng cứ để không chỉ làm rõ tất cả những vấn đề phải chứng minh trong vụ

Trang 7

án hình sự mà còn nhằm xác định rõ những vấn đề khác theo quy định tạiĐiều 302 Bộ luật Tố tụng hình sự Phải vận dụng một cách có căn cứ nhữngnguyên tắc quy định tại Điều 69 Bộ luật Hình sự Chúng ta thấu hiểu vàđồng tình với quan niệm “Nhà tù là lựa chọn cuối cùng để xử lý người chưathành niên phạm tội” Và đương nhiên, khi không phải lựa chọn một biệnpháp nào để xử lý người chưa thành niên phạm tội mới là điều tốt lànhkhông chỉ là lý tưởng mà còn là những hành động chiến lược lâu dài và rất

cụ thể của tất cả chúng ta./

- Quyết định hình phạt với người chưa thành niên phạm tội là trường hợpđặc biệt Tính chất đặc biệt của trường hợp này là ở chổ hình phạt được quyđịnh nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội có các tình tiết kháctương đương và mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức tuổi của người phạm tội

Sở dĩ người chưa thành niên được hưởng chính sách giảm trách nhiệm Hình

sự của Nhà nước khi có hành vi phạm tội vì họ có những đặc điểm đặc biệt

về nhân thân

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh

lí, chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi màmình thực hiện Nhận thức của họ thường non nớt, thiếu chính chắn và đặcbiệt họ dễ bị kích động, lôi kéo bởi những người xung quanh, nếu ở môitrường xấu và không được chăm sóc giáo dục chu đáo, người chưa thànhniên dễ bị ảnh hưởng thói hư tật xấu dẫn đến phạm pháp Bên cạnh đó, sovới người đã thành niên ý thức phạm tội của người chưa thành niên nóichung chưâ sâu sắc, họ dể tiếp thu sự giáo dục của xã hội, nhà trường cũngnhư gia đình để từ bỏ con đường phạm tội Do vậy, không thẻ coi ngườichưa thành niên phải chịu trách nhiệm Hình sự giống như người đã thànhniên Chính vì thế, hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tộiphải nhẹ hơn so với người đã thành niên

Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, trước hếttòa án phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Việc xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáodục, giúp đỡ họ sữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân cóích cho xã hội

Người chưa thành niên có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nếungười đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây thiệt hại

Trang 8

không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình cơ quan tổ chứcnhận giám sát giáo dục.

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và ápdụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết vàphải căn cứ tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm của nhânthân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm Nếu thấy không cần thiếtphải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì tòa án ápdụng một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấnhoặc đưa vào trường giáo dưỡng

Đối với người chưa thành niên phạm tội thì không phạt tù trung thân hoặc tửhình, không áp dụng các hình phạt bổ sung, không áp dụng hình phạt tiềnđối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuỏi từ 14 đến dưới 16 tuổi.Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội đượchưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên đã phạmtội tương ứng

Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổikhông được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm

Theo Bộ luật hình sự 1999 và Luật sửa đổi bổ sung luật hình sự năm 2009,việc quyết định hình phạt được tiến hành như sau:

+ Đối với phạt tiền: Nếu như BLHS năm 1985 trước khia chưa quy định ápdụng phạt tiền đối với người chưâ thành niên phạm tội thì BLHS năm 1999

đã quy định phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưathành niên phạm tội nếu họ ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và họ có thunhập hoặc có tài sản riêng Quy định mới này nhằm hạn chế việc áp dụnghình phạt tù đối với người chưa thành niên đồng thời việc áp dụng phạt tiềnđối với người chưa thành niên phạm tội trong trường hợp này vẫn đảm bảođược mục đích của hình phạt

Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không vượt qúa 1/2 mức phạt tiền mà điều luật quy định

+ Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ: BLHS năm 1999 quy định giớihạn hình phạt áp dụng cho người thành niên phạm tội không vượt quá 1/2 thời hạn và điều luật quy định Đồng thời, do người chưa thành niên hầu nhưchưa có thu nhập hoặc tài sản riêng nên BLHS năm 1999 đã không khấu trừthu nhập của họ khi bị kết án

Trang 9

+ Đối với hình phạt tù có thời hạn: BLHS năm 1999 đã phân hóa người chưathành niên ra làm hai đối tượng là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vàngười từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi với đường lối xử lí khác nhau Người

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì được xử lí nhẹ hơn người từ đủ 16 tuổi đến

18 tuổi Trong từng đối tượng cụ thể nói trên, nhà làm luật tách thành haitrường hợp ( trường hợp quy định hình phạt tù chung thân, tử hình và trườnghợp điều luật quy định hình phạt tù có thời hạn ) tương ứng với mức hìnhphạt khác nhau phù hợp với độ tuổi của người thành niên cũng như yêu cầuđấu tranh phòng chống tội phạm Quy định này thể hiện sự tiến bộ về chấtcủa BLHS năm 1999 khi quy định về quyết định hình phạt đối với ngườichưa thành niên phạm tội Cụ thể, Điều 74 quy định như sau:

1.” Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù và chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không vượt quá 18 năm tù; nếu là tù có thờ hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 3/4 mức phạt

tù có thời hạn.

2 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được

áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù: nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy định”

Đối với trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội, có tội thực hiệntrước khi đủ 18 tuổi, có tội thực hiện sau khi đủ 18 tuổi thì việc tổng hợphình phạt được áp dụng như sau:

Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạtkhông được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 74 Bộ luậtnày ( Khoản 1 Điều 75)

Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi thì hình phạtchung ấp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội ( Khoản 2 Điều75)

Thực tiễn vận dụng điều 75 Bộ Luật hình sự cho thấy nảy sinh vấn đề cầngiải quyết, đó là việc xác định tội nặng nhất Thực tiễn xét xử đã xác định tộinặng nhất là tội có mức hình phạt tối đa của khung hình phạt cao nhất caohơn Trong trường hợp có mức hình phạt tối đa bằng nhau thì thì tội nặng

Trang 10

hơn là tội có mức hình phạt khởi điểm khung hình phạt cao nhất cao hơn.Cách xác định này một lần nữa được khẳng định tại Thông tư số 01/98TANDTC – VKSNDTC – BNV ngày 02/1/1998 Tuy nhiên, có nhữngtrường hợp không thể xác định được tội nặng nhất nếu hình phạt tối đa củakhung hình phạt cao nhất của hai tội ngang bằng nhau và cao nhất cũngngang bằng nhau Trong khoa học luật Hình sự hiện nay có nhiều ý kiếnkhác nhau

Ý kiến thứ nhất cho rằng: “Cơ sở để xác định tội nặng nhất trong các tội mà

người chưa thành niên đã phạm là căn cứ và hình phạt cụ thể mà tòa án đã tuyên cho từng tội Tội nào có hình phạt cao nhất thì đó là tội nặng nhất trong các tội mà người chưa thành niên đã phạm”

Ý kiến thứ hai cho rằng “ Trường hợp không thể xác định được tội nặng

nhất nếu hình phạt tối đa của khung hình phạt cao nhất là hai tội bằng nhau

và hình phạt khởi điểm của khung có hình phạt cao nhất cũng bằng nhau thì trường hợp này tội nặng hơn là tội có hình phạt tối đa của khung hình phạt nhẹ nhất cao hơn Nếu hình phạt tối đa của khung hình phạt nhẹ nhất bằng nhau thì tội nặng hơn là tội có hình phạt khởi điểm của khung hình phạt nhẹ nhất cao hơn.”

Tôi cho rằng ý kiến thứ nhất tuy có ưu điểm là đơn giản hóa việc vận dụngkhái niệm tội nặng hơn trong thực tế nhưng không hợp lí vì không thể coi tộitrộm cắp tài sản nặng hơn tội giết người nếu ở trường hợp cụ thể, ngườiphạm tội trộm cắp tài sản bị phạt 10 năm tù, còn ở tội giết người, bị cáo chỉ

bị phạt có 7 năm tù Theo chúng tôi, ý kiến thứ hai hợp lí hơn nhưng chưa

đủ để giải quyết những vướng mắc còn lại Cụ thể là nếu hình phạt tối đa vàhình phạt tối thiểu của khung hình phạt có hình phạt nhẹ nhất bằng nhau thìviệc xác định tội nặng hơn sẽ như thế nào? Theo chúng tôi, nếu tội nào cóquy định hình phạt bổ sung thì tội đó nặng hơn Tuy nhiên, nếu cả hai tộiđều quy định hình phạt bổ sung thì tội nặng hơn sẽ là tội có khác thể quantrong hơn

Quá trình vận dụng Điều 74 Bộ Luật hình sự vào thực tiễn còn gặp nhiềuvướng mắc khác Đó là do hạn chế về kỷ thuật lập pháp Cụ thể là Điều 74

quy định : “ …nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt tù chung

thân hoặc tử hình” hoặc “ … không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy”

hoặc… “ không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy định” Bởi vì, điều

luật quy định về tội phạm cụ thể có thể có một hoặc nhiều khung hình phạttrong khi đó Điều 74 chỉ dùng từ chung chung là “ điều luật” mà không chỉ

Trang 11

rõ khung hình phạt bị áp dụng Mặt khác, cần hiểu rằng nhà làm luật quyđịnh giảm nhẹ hình phạt cho người thành niên phạm tội so với trong cùngmột khung hình phạt ( trong điều kiện các tình tiết khác tương đương ) Do

đó, quy định chung chung như trên dễ gây hiểu nhầm và vận dụng khôngthống nhất Ví dụ: Bị cáo E phạm tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 133BLHS năm 1999, khi phạm tội bị cáo tròn 15 tuổi Với quy định chưa rõ nhưtrên của Điều 74, bởi vì, tội cướp tài sản có quy định hình phạt tù chungthân, tử hình Nếu vận dụng khoản 2 đoạn 1 Điều 74 thì mức hình phạt caonhất được áp dụng cho bị cáo không quá 12 năm tù trong khi đó mức caonhất của khoản 1 Điều 133 chỉ là 10 năm tù ( thấp hơn mức 12 năm tù ) vảmặc dù đã áp dụng Điều 74 nhưng hình phạt tuyên cho bị cáo tuyên cho bịcáo có thể còn cao hơn cả trong trường hợp chưa giảm nhẹ hình phạt cho bịcáo Trong trường hợp nếu hiểu đúng tinh thần của Điều 74 thì phải vậndụng đoạn 2 khoản 2 Điều 74 thì mới đúng vì bị cáo E phạm tội theo Điều

133 khoản 1 và điều 133 khoản 1 quy định hình phạt áp dụng cho bị cáo là

tù có thời hạn Trường hợp này mức hình phạt cao nhất mà tòa án tuyên cho

bị cáo không quá 5 năm tù – không quá 1/2 mức cao nhất của khoản 1 Điều

133 Như vậy, nếu áp dụng đoạn 2 khoản 2 Điều 74 thì hình phạt áp dụngcho bị cáo rõ ràng được giảm nhẹ hơn hẳn so với người đã thành niên phạmtội

Mặt khác, cách diễn đạt “ mức hình phạt cao nhất không quá 18 năm tù” hoặc “ không quá 3/4 mức phạt tù”… của Điều 74 là còn chưa rõ nên có thể

gây ra nhiều cách hiểu khác nhau

Cách hiểu thứ nhất cách hiểu phổ biến hiện nay là Bộ Luật hình sự (BLHS)

đã khống chế mức tối đa của khung hình phạt được phép áp dụng đối vớingười chưa thành niên phạm tội trong sự so sánh với người đã thành niênphạm tội và BLHS đã không khống chế mức tối thiểu Mức hình phạt caonhất mà người chưa thành niên chấp hành phải thấp hơn mức hình phạt caonhất áp dụng cho người đã thành niên

Các hiểu thứ hai cho rằng mặc dù Điều 74 quy định như trên nhưng thựcchất điều luật này vẫn còn khống chế mức hình phạt tối đa và mức tối thiểuquy định cho người đã thành niên

Tôi cho rằng để các quy định về quyết định hình phạt đối với người chưathành niên phạm tội được áp dụng có hiệu quả trong thực tế, Điều 74 BLHShiện hành cần khắc phục kịp thời những hạn chế đã phân tích ở trên để các

Trang 12

quy định này thực sự là công cụ hữu hiệu của Nhà Nước trong cuộc đấutranh phòng chống tội phạm./.

4 Một số vụ án người chưa thành niên phạm tội - Ý kiến của Luật sư và những người liên quan :

+ Ngày 10-8, TAND TPHCM lại đưa ra xét xử vụ “phá hủy công trình,phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” Trong 4 bị cáo, hết 3 ngườichưa thành niên (tuổi từ 15 đến 17) và thuộc thành phần lao động nghèo.Lần lượt hỏi từng bị cáo lý do đi cắt trộm dây điện, HĐXX đều nhận đượccâu trả lời: “Cắt để bán ve chai lấy tiền chơi game” Hỏi : “Có biết cắt trộmdây điện đang vận hành là phạm tội phá hủy công trình an ninh quốc gia, cóthể lãnh án chung thân hoặc tử hình không?”, cả ba run sợ nói: “Dạ không

Bị cáo nghĩ là cắt đây điện để lấy dây đồng bán ” HĐXX mời cha mẹ bịcáo lên, họ cùng cho rằng: “Ở nhà nó ngoan lắm Suốt ngày lo đi làm phụgiúp gia đình” Tuy nhiên, khi được hỏi có biết con kết bạn với ai, làm gìsau giờ đi làm không, họ đều mù mờ: “Dạ, thì nó đi uống cà phê hay chơigame với bạn một chút, khuya về ngủ ”

Theo luật sư Nguyễn Phi Điệp (Đoàn Luật sư TPHCM), cái gốc vẫn là giađình Không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh và cái nghèo, bỏ mặc con cái muốnlàm gì thì làm, đi đâu thì đi, chơi với ai cũng được, rồi khi con hư lại đẩytrách nhiệm về phía xã hội Như thế là vô trách nhiệm Chỉ cần để ý đến conmột chút, quản lý con chặt chẽ hơn sẽ hạn chế được phần nào hành vi phạmtội của đứa trẻ Ví dụ thấy con đem chiếc xe lạ về nhà, hỏi xem con lấy xe ởđâu, của ai , nó cũng e dè hơn Không hỏi han gì cũng là một kiểu dungtúng cho con làm bậy Hoặc như 11 - 12 giờ đêm mà trẻ vẫn lang thang cùngbạn bè ngoài đường là điều không thể dễ dàng thỏa hiệp, chấp nhận

Luật sư Lê Nguyễn Quỳnh Thy (Đoàn Luật sư TPHCM) phân tích: “Thực

ra, ở lứa tuổi 13 - 17, trẻ thường liên hệ và chịu sự tác động của bạn bènhiều hơn gia đình Nếu được tiếp tục đến trường, nguy cơ phạm tội đượchạn chế phần nào Tuy nhiên, chương trình học hiện nay quá nặng, nhất làđối với những học sinh học lực trung bình, yếu lại không có khả năng đi họcthêm Không theo kịp bạn bè, chúng dễ nản rồi đòi nghỉ học Trong khi đó,gia đình lại thiếu động viên, đôi khi cũng do không trang trải nổi chi phí họchành, họ buông xuôi Nghỉ học trong khi những công việc dành cho lứa tuổinày không nhiều, thời gian rảnh, các em bắt đầu kết bè, kết bạn “Gần mựcthì đen” Thêm vào đó, xã hội ngày càng phát triển, bên cạnh những mặttích cực cũng kéo theo nhiều hệ lụy Nếu không được trang bị kiến thức văn

Ngày đăng: 08/03/2015, 20:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w