Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”4.Mặc dù ngay từ rất sớm, Đảng CSVN đã xác định một c
Trang 1NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 1985
PGS, TS Nguyễn Thị Mai Hoa
1 Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước năm 1960
Lựa chọn con đường cứu nước và giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị về mọi phương diện cho sự ra đời cho chính đảng cộng sản ở Việt Nam Đầu năm 1930, ĐCSVN ra đời đã có
ngay Cương lĩnh chính trị đầu tiên Cương lĩnh xác định phương hướng chiến
lược của cách mạng Việt Nam: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Với phương hướng chiến lược này, cách mạng Việt Nam phải trải qua các giai đoạn: 1) Hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc và giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân; 2) Đi tới xã hội cộng sản Như vậy, ngay từ rất sớm, Đảng CSVN đã xác định CNXH trở thành mục tiêu của cách mạng Việt Nam; muốn đi tới CNXH, thì trước tiên phải hoàn thành mục tiêu trực tiếp là thực hiện độc lập dân tộc, còn CNXH là phương
hướng tiến lên cho tương lai Tiếp đó, Luận cương 10/1930 1 của Đảng Cộng sản Đông Dương khẳng định tính chất của cách mạng Đông Dương là “cách mạng
tư sản dân quyền có tính chất thổ địa và phản đế”2 và “tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”3 Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”4.Mặc dù ngay từ rất sớm, Đảng CSVN đã xác định một cách rõ ràng phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là tiến lên CNXH bỏ qua thời kỳ TBCN, nhưng Đảng CSVN cũng chưa đưa ra được những hình dung cụ thể về xã hội XHCN, về những đặc trưng cơ bản của CNXH, về cách thức, bước đi lên CNXH bỏ qua thời kỳ TBCN
Trong những năm đấu tranh giành chính quyền (1930-1945) và trong những năm đầu tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1950), Đảng CSVN cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về đường lối CMXHCN Năm 1951, trải qua 6 năm kháng chiến, cuộc kháng chiến đã có những thắng lợi quan trọng, Nhà nước VNDCCH ngày càng vững mạnh trên mọi phương diện và thực hiện sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc một cách hiệu quả Cuộc kháng chiến có thế và lực mới, giành quyền chủ động tiến công chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ Trên thế giới, CNXH không chỉ giới hạn trong phạm vi một nước, mà nhanh chóng phát triển, trở thành hệ thống Thế giới chia
1
Tại Hội nghị, Đảng CSVN đổi tên thành ĐCSĐD, nhưng để tiện theo dõi, trong chuyên luận nhất quán gọi là Đảng CSVN
2
Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.92
3
Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, sđd, tr.92
4
Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, sđd, tr.93-94
Trang 2thành hai hệ thống, trong đó hệ thống XHCN được mở rộng, củng cố, lớn mạnh, tạo chỗ dựa cho phong trào cách mạng trên thế giới, tạo thế đối trọng với Mỹ và các nước tư bản phương Tây
Trong hoàn cảnh quốc tế, trong nước có nhiều biến động theo chiều hướng có lợi cho cách mạng Việt Nam, Đại hội lần thứ II của Đảng (2 - 1951) được triệu tập với yêu cầu khách quan là bổ sung đường lối chính trị phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước và thế giới Đường lối này vừa phải đáp ứng được nhu cầu của cách mạng Việt Nam, vừa phán ánh được mối quan hệ giữa đất nước với quốc tế, dân tộc và thời đại
Tại Đại hội, Trường Chinh trình bày báo cáo “Hoàn thành giải phóng dân
tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội”, khẳng định cách
mạng Việt Nam “không thể có một con đường nào khác” là tiến lên CNXH Đó là con đường phát triển từ “xã hội có tính chất thuộc địa, nửa phong kiến, qua dân chủ nhân dân, tiến đến xã hội xã hội chủ nghĩa”1Con đường đó phải trải qua ba giai đoạn:
a) Giai đoạn tiêu diệt đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân
b) Giai đoạn xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, triệt
để thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân
c) Giai đoạn làm xong nhiệm vụ dân chủ nhân dân, gây đầy đủ điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội2
Lý luận cách mạng ba giai đoạn của Trường Chinh và cũng là quan điểm của Đại hội II được hiểu như sau:
- Con đường tiến lên CNXH của nước ta sẽ quanh co và lâu dài, gồm nhiều giai đoạn (đại thể ít nhất là ba giai đoạn)
- Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau, mà mật thiết liên hệ và xen lẫn với nhau; giữa ba giai đoạn “không có bức tường rào ngăn cách”, nhưng mỗi giai đoạn có nhiệm vụ trung tâm, chính yếu Điều quan trọng là phải nhìn nhận việc giải quyết các nhiệm vụ một cách linh hoạt, mềm dẻo và biện chứng
Tư tưởng về CNXH của Đảng CSVN thể hiện chủ yếu qua nhận thức về giai đoạn thứ ba – giai đoạn được xác định là “xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, chuẩn bị điều kiện để tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”3, “song giai đoạn thứ ba không phải hoàn toàn là một giai đoạn của cách mạng xã hội chủ nghĩa,
mà chính là một quá trình, trong đó cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam hoàn thành và biến chuyển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa”4 Báo cáo lý
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.87
2
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.87-88
3
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.88
4
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.88
Trang 3giải nguyên nhân chính khiến cách mạng Việt Nam phải trải qua ba giai đoạn mới đạt tới CNXH là bởi “nước ta là một nước nông nghiệp, kỹ nghệ không phát triển”1 Đây là một tư duy hợp lý, không nóng vội, dựa trên việc phân tích khách quan tình hình thực tiễn của đất nước
Với xuất phát điểm thấp, nên trong giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ trung tâm là
“đẩy mạnh kỹ nghệ hóa, phát triển kỹ nghệ nặng, phát triển thật rộng bộ phận kinh tế nhà nước, tập thể hóa nông nghiệp dần dần, thực hiện những kế hoạch dài hạn để gây thêm và củng cố cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, đặng tiến lên chủ nghĩa xã hội”2 Để thực hiện tốt nhiệm vụ trung tâm, “muốn mau phát triển kỹ nghệ, xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, thế tất phải khuyến khích tư sản dân tộc kinh doanh và giúp đỡ tư bản tư nhân phát triển trong một thời gian khá lâu”3 Đây là những bước đi đúng đắn, mang định hướng XHCN Nhưng điểm mấu chốt làm nên sự sáng tạo của đường lối nằm ở chỗ: Để gây cơ sở cho CNXH, phát triển công nghiệp, xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, cần
sử dụng sử dụng các lực lượng kinh tế, các thành phần kinh tế khác nhau (tư bản tư nhân) với sự “kiểm soát và tiết chế”, “đưa họ vào con đường phát triển theo lối tư bản nhà nước Không thể nói đến cải tạo xã hội, xóa bỏ mọi hình thức bóc lột ngay”4 và “những bước cụ thể của giai đoạn này phải tùy theo điều kiện
cụ thể của tình hình trong nước và ngoài nước khi đó mà quyết định”5 Đặc biệt,
Báo cáo còn nhấn mạnh rằng, trên cơ sở của “một nước nông nghiệp lâu năm bị
đế quốc thống trị, tàn phá”6, thì thời gian chuẩn bị cho CNXH “so với các nước dân chủ nhân dân khác, nhất định sẽ lâu hơn”7 Sự lâu dài đó nhất định phải nhận thức và chấp nhận, CNXH chưa thể thực hiện được chừng nào “chưa chuẩn bị cơ sở kinh tế đầy đủ và chưa làm cho số đông quần chúng nhân dân nhận rõ chủ nghĩa xã hội là cần thiết”8 Với xuất phát điểm như Việt Nam, tất yếu yếu quá trình đó là khó khăn, phức tạp, không phải một sớm, một chiều mà thực hiện ngay được
Với những phân tích, luận giải trên, Báo cáo cũng phê phán những quan
điểm nóng vội, cho rằng chỉ cần một hoặc hai giai đoạn cách mạng cũng đạt tới CNXH Những tư tưởng vội vàng, phi thực tiễn như vậy, chẳng những không giúp cho cách mạng tiến nhanh như mong muốn, mà ngược lại, chỉ làm tổn hại
đến cách mạng mà thôi Chánh cương Đảng Lao động Việt Nam do Đại hội II
thông qua khẳng định: “Cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.88
2
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.89
3
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.90
4
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.91
5
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.89
6
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.89
7
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.89
8
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.89
Trang 4nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, cho nên con đường tất yếu của nó là tiến lên chủ nghĩa xã hội”1
Nói một cách tổng quát, với nhiệm vụ tổng kết lý luận cách mạng Việt Nam, xác định đường lối tiến hành CMDTDCND tiến lên CNXH, Đại hội II thể hiện nhận thức của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH với những nội dung cốt lõi:
- CMDTDCND Việt Nam nhất định tiến lên CMXHCN
- Từ CMDTDCND tiến lên CMXHCN, Việt Nam phải tiến hành qua nhiều giai đoạn khác nhau
- Trong những giai đoạn cách mạng đó, có một giai đoạn quan trọng – giai
đoạn chuyển tiếp, chuẩn bị điều kiện cho CNXH
- Ở giai đoạn chuyển tiếp này, nhất định không được quan niệm giản đơn
về cải tạo xã hội, về xóa bỏ các hình thức bóc lột Giai đoạn này có nhiều nhiệm
vụ khó khăn, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và cần phải sử dụng các thành phần kinh tế khác nhau cho mục tiêu gây cơ sở cho CNXH
- Giai đoạn chuyển tiếp này sẽ lâu dài, quanh co, thậm chí rất phức tạp Như vậy, hình dung về giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng CSVN tương đối rõ nét, mà nội dung chính của nó là xây dựng nền kinh tế dân chủ mới với nhiều thành phần kinh tế Những nhận thức này của Đảng CSVN cho thấy sự không chủ quan, không nóng vội, không đốt cháy giai đoạn, nhận thức đúng quy luật khách quan, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo Tiếc rằng khi nửa nước có hoà bình, tiến lên CNXH, thì những nhận thức đúng đắn của Đại hội II, do những lý do khách quan, chủ quan, lại bị lãng quên, không được áp dụng vào quá trình xây dựng CNXH trên miền Bắc
2 Đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1960 đến năm 1975
Hiệp định Gioneve 1954 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với hai chế
độ chính trị khác nhau Miền Bắc có hòa bình và Đảng quyết định đưa miền Bắc quá độ lên CNXH Suốt trong những năm 1954 - 1960, các HNTƯ liên tiếp được
tổ chức (HNTƯ 8 – 8/1955); HNTƯ 12 – 3/1957; HNTƯ 13 - 12/1957; HNTƯ 14 -11/1958); HNTƯ 16 - 4/1959), xác định những nội dung cơ bản :
- Miền Bắc hiện đang ở vào thời kỳ quá độ tiến lên CNXH
- Nhiệm vụ chủ yếu của miền Bắc lúc này là :
+ Về chính trị, củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân
+ Về kinh tế, thay đổi tính chất nền kinh tế cũ, cải tiến từng bước QHSX
cũ, xây dựng từng bước QHSX mới, củng cố, phát triển khu vực kinh tế XHCN,
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, sđd, tr.435
Trang 5điều chỉnh và cải tạo từng bước kinh tế tư doanh, kinh tế cá thể ; khuyến khích phát triển sản xuất; thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động
Những nhận thức này của Đảng CSVN là cơ sở để hình thành nên đường lối CMXHCN của Đại hội III (9 - 1960)
Đại hội III của Đảng CSVN diễn ra trong một bối cảnh quốc tế và trong nước hết sức phức tạp Trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và hệ thống XHCN xuất hiện những bất đồng ngày càng nghiêm trọng và những sai lầm về tư tưởng chính trị Biến động lớn nhất của các nước XHCN là sự chia rẽ
và xung đột giữa Liên Xô và Trung Quốc về quan điểm chính trị, về vị thế và ảnh hưởng quốc tế, về lợi ích dân tộc Điều đó đã dẫn tới sự phân hoá trong phe XHCN, trong phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, trong phong trào giải phóng dân tộc Chủ nghĩa xét lại, cơ hội xuất hiện ở nhiều nước XHCN và trong phong trào Cộng sản quốc tế Tại Trung Quốc diễn ra phong trào “Đại nhảy vọt”, tiếp đó là cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản” Trong khi đó, Mỹ thay đổi chiến lược toàn cầu, từ đối đầu chuyển sang hoà hoãn với Liên Xô, Trung Quốc và lợi dụng mâu thuẫn giữa hai nước đó để chống phá phong trào giải phóng dân tộc Trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, Việt Nam trở thành đối tượng xâm lược trọng điểm Trong tình hình ấy, Đại hội lần thứ III của Đảng CSVN (9 – 1960) được nhóm họp, kịp thời đưa ra đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước, mỗi miền thực hiện một nhiệm vụ chiến lược cách mạng, song cùng hướng vào mục tiêu chung là đấu tranh thống nhất Tổ quốc Trên miền Bắc, tiến hành CMXHCN, xây dựng miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng cả nước, hậu thuẫn và chi viện đắc lực cho cách mạng miền Nam Cuộc CMXHCN
ở miền Bắc được xác định là giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà
Đạ hội xác định mô hình CNXH:
- Về kinh tế: Công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, dựa trên hai hình thức sở hữu: Toàn dân và tập thể
- Về chính trị: Chính quyền dân chủ nhân dân
- Về văn hóa – xã hội: Văn hóa và khoa học tiên tiến, đời sống nhân dân
ấm no, hạnh phúc, có sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn
Xác định con đường xây dựng CNXH:
- Nguyên tắc chung: Đồng thời cải tạo XHCN và xây dựng CNXH là hai mặt của cuộc CMXHCN, tác động qua lại và thúc đẩy nhau cùng phát triển, trong
đó cải tạo XHCN cần phải đi trước một bước để mở đường
- Biện pháp và con đường thực hiện:
+ Sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để tổ chức và thực hiện CMXHCN
+ Thực hiện cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh và đồng thời phát triển
Trang 6thành phần kinh tế quốc doanh
+ CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá độ
+ Đẩy mạnh CMXHCN về tư tưởng, văn hoá và kỹ thuật
Ý thức được tầm quan trọng của CNH XHCN trong việc chuyển đổi căn bản nền kinh tế lạc hậu Việt Nam sang nền sản xuất lớn XHCN, Đại hội III rất chú trọng bản về CNH Vấn đề CNH XHCN được Đại hội III xác định: “Thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”1
Để thúc đẩy quá trình CNH, cần “tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng trong
đó cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt nhằm đưa miền Bắc tiến lên công nghiệp hiện đại”2 Tháng 2 - 1962, Hội nghị lần thứ 7 BCHTW (khóa III) có Nghị quyết chuyên bàn về CNH, bổ sung cho đường lối CNH của Đại hội III
Như vậy, nội dung cơ bản của đường lối xây dựng CNXH ở miền Bắc đã chỉ ra những định hướng và nguyên tắc cho con đường đi lên CNXH ở Việt Nam
Về cơ bản, đường lối đã định hướng con đường phát triển của miền Bắc với tư cách là hậu phương lớn XHCN cho tuyền tuyến lớn miền Nam Bên cạnh đó, đường lối còn chung chung, chưa phân kỳ, phân chặng đường với những mục tiêu cụ thể Đại hội III cũng chưa kế thừa được những tư duy đúng đắn của Đại hội II về giai đoạn chuyển tiếp, về thời kỳ quá độ lên CNXH
Thực hiện đường lối do Đại hội III đề ra, trong những năm 1960 - 1970, miền Bắc tập trung cho công cuộc xây dựng CNXH, biến miền Bắc thành hậu phương vững chắc, căn cứ địa cho cách mạng cả nước Sau hai cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, miền Bắc chuyển sang giai đoạn khôi phục kinh tế Trong tình hình đó, HNTƯ 19 (3 - 1971) tiếp tục bổ sung cho đường lối CMXHCN của Đại hội III, làm sáng tỏ hơn một số vấn đề về con đường, biện pháp tiến hành CMXHCN:
- Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân
- Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng về QHSX, cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng kỹ thuật là then chốt
- Kết hợp chặt chẽ việc phát triển LLSX với củng cố QHSX XHCN, củng cố chế độ công hữu
- CNH được tiến hành bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ [19, tr 203]
Quan điểm CNH của HNTƯ 19 về căn bản đã kế thừa quan điểm CNH XHCN đã được khẳng định từ Đại hội III (1960), nhưng đã có một số thay đổi
Từ quan điểm “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý đồng thời
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 21, sđd, tr.923
2
Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 21, sđd, tr.923
Trang 7phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ” sang quan điểm “ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ” Quan điểm này cũng là cơ sở để xác định nội dung CNH tại Đại hội lần thứ IV (12- 1976)
Những nội dung trên đây là những nét mới trong đường lối CMXHCN của Đảng, bổ sung chủ yếu về biện pháp xây dựng CNXH, giải quyết mối quan hệ trong cơ cấu kinh tế, giữa LLSX và QHSX, giữa chuyên chính vô sản và quyền làm chủ của nhân dân…Về cơ bản, mô hình CNXH và con đường xây dựng CNXH có từ Đại hội III hầu như không thay đổi Rất nhiều vấn đề về đặc trưng của xã hội XHCN, về thời kỳ quá độ, về cải tạo XHCN… trong quá trình xây dựng CNXH những năm 1960 – 1975 vẫn chưa được luận giải Đường lối CMXHCN của Đảng CSVN mới chỉ được hình thành trên những nét lớn Điều cần nhấn mạnh là CNXH, con đường đi lên CNXH ở miền Bắc thời kỳ này được
Đảng CSVN tiếp cận chủ yếu dưới góc độ xây dựng hậu phương lớn miền Bắc
XHCN, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước, hướng vào mục tiêu chung thống nhất nước nhà Vì thế, còn rất nhiều vấn đề về các chặng đường của thời kỳ quá độ, về cơ chế kinh tế, cơ cấu kinh
tế, về các quy luật kinh tế chi phối sự vận hành của nền kinh tế… vẫn chưa có thời gian và cơ hội giải quyết thấu đáo Những vấn đề này được tiếp tục đặt ra, đòi hỏi Đảng CSVN giải quyết trong thời kỳ đất nước có hoà bình, thống nhất thực sự, quá độ lên CNXH ở chặng đường tiếp theo
3 Đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985
Đại thắng Mùa Xuân 1975 đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc – kỷ nguyên của độc lập, tự do, thống nhất đất nước Với niềm tin tưởng vào tương lai, cả dân tộc có tâm trạng phấn chấn cùng tiến về phía trước trong cuộc trường chinh xây dựng CNXH Trong bối cảnh mang tính lịch sử đó, sau khi tiến hành thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, Đảng tiến hành Đại hội lần thứ IV (12 - 1976), xác định đường lối CMXHCN, mô hình và con đường xây dựng CNXH, quyết định đưa cả nước quá độ lên CNXH
Về mô hình CNXH
Mô hình bốn mục tiêu:
- Xây dựng chế độ làm chủ XHCN (mục tiêu bao trùm)
- Xây dựng nền sản xuất lớn XHCN (cơ sở kinh tế của chế độ làm chủ tập
thể)
- Xây dựng con người mới XHCN
- Xây dựng nền văn hoá mới XHCN
Về con đường xây dựng CNXH
- Trong lĩnh vực kinh tế: Xây dựng nền sản xuất lớn XHCN Đẩy mạnh CNH
XHCN bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở
Trang 8phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Kết hợp phát triển LLSX với xác lập và hoàn thiện QHSX, xác lập chế độ công hữu về TLSX Đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN trong vòng 20 năm
- Trong lĩnh vực chính trị: Xây dựng nền chuyên chính vô sản và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân lao động là công cụ của quá trình thực thi ba cuộc cách mạng (QHSX; khoa học - kỹ thuật (then chốt); văn hoá, tư tưởng)
- Trong lĩnh vực văn hóa: Xây dựng nền văn hoá mới và con người mới
XHCN (con người làm chủ tập thể), nhằm tạo ra kiến trúc thượng tầng tiến bộ (văn hoá, tư tưởng, đạo đức…) trên nền tảng kinh tế XHCN
- Trong lĩnh vực đối ngoại: Thực hiện chính sách đối ngoại chủ yếu với các
nước XHCN, dựa trên nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế XHCN
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976), một trong những vấn đề được chú trọng là CNH XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH Quan điểm về CNH của Đại hội nhất quán với quan điểm của HNTƯ 19 (3 - 1971): “Ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp
và công nghiệp nhẹ” CNH được dự kiến tiến hành trong khoảng 20 năm và tới lúc đó, Việt Nam sẽ có nền sản xuất lớn XHCN với công – nông nghiệp hiện đại Như vậy, nhận thức của Đảng về CNH ở thời điểm này mới chỉ dừng lại ở mức quan tâm hơn đến nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, mà chưa ý thức hoàn toàn rằng, trong điều kiện của một nước nông nghiệp lạc hậu, để thực hiện CNH, cần phải chú trọng và đặt trọng tâm vào nông nghiệp - một vấn đề có tính quy luật của hầu hết các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển tiến hành CNH
Nói một cách khái quát, Đảng đã đưa ra đường lối xây dựng đất nước, phát triển kinh tế gần giống như tại Đại hội lần thứ III và tạo nên một mô hình phát triển xã hội giống như mô hình chung của các nước XHCN, mà không nhận
ra rằng, từ Đại hội III đến Đại hội IV là khoảng thời gian 16 năm – một khoảng thời gian không hề ngắn, đã diễn ra những đổi thay lớn lao trên thế giới, cần phải cập nhật và có những tư duy mới để bắt nhịp với sự phát triển chung Hơn thế nữa, Đảng CSVN cũng chưa nhìn ra sự trì trệ và dấu hiệu khủng hoảng đang lộ
rõ trong mô hình phát triển của các nước XHCN, rập khuôn một cách cứng nhắc, máy móc mô hình Đường lối đã có điểm phát triển mới khi nhấn mạnh phát huy tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân lao động, với mong muốn bảo đảm cho dân thật sự là chủ và làm chủ đất nước Tuy nhiên, do chưa tính hết các điều kiện thực tế, đã nhấn mạnh quá mức và đưa ra một số chủ trương chưa phù hợp Đồng thời, khi đề ra đường lối chung “tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt tiến hành CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá độ” tuy phù hợp với đặc điểm và đòi hỏi của một nước từ sản xuất nhỏ, kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, bỏ qua chế
độ tư bản đi lên CNXH, nhưng Đại hội đã quá nóng vội, không đánh giá đúng tình hình trong nước và quốc tế, xác định việc hoàn thành về cơ bản quá trình
Trang 9đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, kết thúc thời kỳ quá độ trong vòng 15 - 20 năm Từ đó, dẫn đến chủ trương bỏ qua "bước đi ban đầu"; bố trí cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư không hợp lý, vượt quá nguồn lực
có sẵn; tiến hành cải tạo XHCN các thành phần kinh tế cá thể và tư bản tư doanh ở miền Nam một cách vội vã, ồ ạt; tổ chức lại sản xuất theo quy mô lớn trong nông nghiệp, kéo theo mở rộng quy mô hợp tác xã, quy mô xã, huyện, tỉnh;
mở rộng và duy trì quá lâu cơ chế quản lý thời chiến đã làm mất động lực phát triển khi chuyển sang lấy xây dựng kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm
Có thể nói rằng, nhận thức về CNXH, về con đường đi lên CNXH của Đảng CSVN ở Đại hội IV còn chủ quan, duy ý chí, không tuân thủ quy luật khách quan, đốt cháy giai đoạn, muốn tiến nhanh lên CNXH Những khuyết điểm, sai lầm này là nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm 1976
- 1981
Đặc biệt, trong vấn đề xây dựng chế độ làm chủ XHCN (vấn đề làm chủ tập thể, chế độ làm chủ tập thể, cơ chế làm chủ tập thể), Đại hội còn thiếu thực
tế, khi đặt chế độ làm chủ XHCN vào mức lý tưởng Đại hội không tính đến các yếu tố chế định nó, đặc biệt là khi tách rời quyền sở hữu với quyền sử dụng Đại hội cũng không nhìn thấy rằng, bản thân cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp với công cụ kế hoạch hóa tuyệt đối và bình quân chủ nghĩa kéo dài, thì tạo dựng chế độ làm chủ XHCN là có phần ảo tưởng
Kế hoạch 5 năm (1976 - 1981) được triển khai, song đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng Sản lượng lương thực không đạt chỉ tiêu do Đại hội IV đề ra, bình quân lương thực giảm (nông nghiệp phải nhập 1.274.000 tấn lương thực (năm 1980) mà vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu) Sản xuất công nghiệp không đạt chỉ tiêu do Đại hội IV đề ra Lưu thông, phân phối trở nên rối ren, cán cân thương mại chênh lệch, nhập gấp 4 - 5 lần xuất Giá cả tăng vọt Trong lúc đó, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá Việt Nam từ bên ngoài và trên nhiều phương diện Biên giới phía Bắc tiếp tục căng thẳng, tình hình ở Campuchia vẫn còn rất phức tạp, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải tiếp tục nỗ lực giải quyết Tình thế bắt buộc chúng ta phải có những đổi mới tư duy, xây dựng
và củng cố vững chắc đất nước Đại hội V của Đảng CSVN (3 - 1982) được tiến
hành trong bối cảnh như thế và đã đưa ra ra một số phương hướng mới xây
dựng CNXH
Đại hội V của Đảng CSVN đã có một thử nghiệm, tìm tòi quan trọng về con đường đi lên CNXH, bổ sung cho những nội dung căn bản về con đường đi lên CNXH của Đại hội IV Những tư duy mới của Đại hội V có thể coi như phần tổng kết đầu tiên những kết quả đổi mới cục bộ mà Đảng, Nhà nước đã tiến hành trong những năm 1978 - 1981 Dù chưa có đột phá trong tư duy, nhưng những phương hướng mới về xây dựng CNXH mà Đại hội V đưa ra được coi như một “cứu cánh” quan trọng cho nỗ lực thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã
Trang 10hội ngày đang trầm trọng thêm Đóng góp của Đại hội V thể hiện qua những nội dung:
1) Đưa ra khái niệm “chặng đường đầu tiên” của thời kỳ quá độ, phân kỳ
con đường đi lên CNXH ở Việt Nam với những nhiệm vụ và biện pháp phù hợp
“Chặng đường đầu tiên” có vai trò tạo tiền đề cho CNH XHCN
2) Thừa nhận trong thời gian nhất định, vẫn còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế (ở miền Bắc là 3 thành phần kinh tế, ở miền Nam là 5 thành phần kinh tế
- quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, cá thể và tư bản tư doanh)
3) Tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn XHCN, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng thành một cơ cấu công – nông nghiệp hợp lý1
Nội dung thứ ba thể hiện nội dung, cách thức CNH trong chặng đường đầu tiên và là một trong những nhận thức mới của Đại hội V Xem nông nghiệp
là mặt trận hàng đầu, chú trọng công nghiệp nhẹ, còn công nghiệp nặng không được “ưu tiên” như tinh thần của Đại hội III, IV, mà chỉ tập trung phát triển những ngành có tác dụng thúc đẩy nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
và đáp ứng nhu cầu phát triển dài hạn của đất nước Việc điều chỉnh nội dung, cách thức CNH là nhằm mục tiêu tạo ra LLSX mới trong chặng đường đầu tiên, chuẩn bị những tiền đề căn bản và lực lượng cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH
ở thời kỳ tiếp theo
Tổng quát lại, có thể nhận thấy rằng, Đại hội lần thứ V của Đảng CSVN đã
có những bước tiến trong đổi mới tư duy trong việc tìm tòi con đường đi lên CNXH: Về nội dung, cách thức CNH trong chặng đường đầu tiên; về việc cần phải cụ thể hoá đường lối xây dựng CNXH thành những chặng đường với những biện pháp và nhiệm vụ phù hợp; bước đầu đưa ra chủ trương đổi mới cơ chế quản lý… Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Đại hội V là tư duy mới về CNH Nhận thức về CNH của Đảng CSVN từ Đại hội III đến Đại hội V có thể phác họa thành giản đồ sau:
“Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ” - > “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ” -> “Tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng; tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp thành cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý” Phân tích giản đồ trên, điểm khác biệt và cũng là bước chuyển căn bản trong nhận thức về CNH của Đại hội V thể hiện rất rõ nét, trở về với đúng với hướng CNH cần thiết phải đi
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 1, Nxb Sự thật, Hà
Nội, tr.63