1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VIỆC làm THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN bền VỮNG ở HUYỆN KINH môn TỈNH hải DƯƠNG HIỆN NAY

112 982 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 520 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆC LÀM THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAYKinh tế chính trịLUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊMỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNGTHỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀMỞ HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNGPHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở HUYỆN KINH MÔN

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ GƯƠNG

VIỆC LÀM THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Ở HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

Ngành: Kinh tế chính trị

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội - 2014

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc làm là một trong những vấn đề xã hội có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của toàn nhân loại cũng như của bất cứ một quốc gia nào, đặc biệt các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình tiếp cận với nền kinh tế tri thức, hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa với xuất phát điểm là nước nông nghiệp có tới 70% dân số sống ở nông thôn, gần một nửa lao động đang làm việc ở nhóm ngành Nông - Lâm - Thủy sản thì việc ưu tiên hàng đầu cho đầu tư phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm, tạo thu nhập, nâng cao đời sống người lao động cũng chính là nhiệm vụ xuyên suốt trong chương trình phát triển kinh tế

- xã hội Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Giải quyết việc làm

là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh

tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”

Kinh Môn có diện tích: 163 km2 là huyện có diện tích đứng thứ 4 toàn tỉnh, với dân số: 163.256 người, mật độ dân số cao, so với mật độ bình quân của các huyện miền núi cả nước (1.003 người/km2), là nơi đất chật người đông, huyện có 25 đơn vị hành chính: 22 xã và 3 thị trấn Huyện Kinh Môn

có vị trí khá đặc biệt phía Bắc giáp huyện Đông Triều - Quảng Ninh, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Kim Thành - Hải Dương và huyện An Dương

- Hải Phòng, phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Thủy Nguyên - Hải Phòng, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Nam Sách - Hải Dương, phía Tây và Tây Bắc giáp thị xã Chí Linh - Hải Dương Là một huyện của tỉnh Hải Dương thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cách Hà Nội khoảng 80 km giáp 2 cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh nằm ở vị trí có nhiều hướng tác động mang

Trang 3

tính liên vùng Chính vì vậy, Kinh Môn vừa đóng vai trò là một trong những động lực phát triển của tỉnh, trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp,

du lịch thương mại, giải quyết việc làm để giảm áp lực cho các thành phố lớn với định hướng phát triển Kinh Môn phấn đấu trở thành thị xã trước năm

“Việc làm theo hướng phát triển bền vững ở huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương hiện nay”.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Giải quyết việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia đặc biệt ở Việt Nam, vì vậy vấn đề này đã được chú ý nghiên cứu từ nhiều năm nay Trong những năm gần đây, có một số tác giả đã đề cập đến các khía cạnh mà đề tài nghiên cứu quan tâm Trong đó có một số tác giả nghiên cứu vấn đề chủ yếu theo các hướng sau:

Nghiên cứu giải quyết vấn đề việc làm theo hướng giải quyết việc làm trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Các tác giả đã làm rõ thực trạng vấn đề việc làm trong quá trình toàn cầu hóa, đề xuất những chính sách việc làm cụ thể:

- TS Nguyễn Hữu Dũng, TS Trần Hữu Trung (chủ biên): “Về Chính

sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997

Các tác giả đã trình bày tổng quát về phương pháp luận và phương pháp tiếp

Trang 4

cận chính sách việc làm, làm rõ thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay Từ đó kiến nghị, định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong công cuộc CNH, HĐH.

- TS Nguyễn Bá Ngọc, KS Trần Văn Hoan (chủ biên), “Toàn cầu

hoá: cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam”, Nxb Lao động - Xã

hội, Hà Nội 2002

Các tác giả đã trình bày tổng quan tác động của toàn cầu hoá đến lao động và các vấn đề xã hội của Việt Nam, những xu hướng vận động của nguồn nhân lực, lao động và việc làm Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hoá kinh tế; phân tích những cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế Từ đó đề ra các giải pháp đối với lao động Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế

- Các bài viết “Lao động việc làm thời kỳ 1991- 2000 và phương hướng

giai đoạn 2001- 2010” của TS Lê Duy Đồng, Tạp chí Lao động và Xã hội,

số III- 2001; “WTO và vấn đề tạo việc làm cho người lao động” của TS Đinh

Trọng Thịnh, Tạp chí Kinh tế và phát triển, 6/2005

- “Việc làm và thu nhập của nông dân vùng Đông Nam Bộ dưới tác

động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa” (Đề tài cấp Bộ năm 2010

của Học viện Chính trị - Hành chính khu vục II, do TS Hoàng Thị Ngọc Loan làm chủ nhiệm đề tài) Đề tài phân tích, đánh giá những tác động của quá trình CNH, ĐTH tới phát triển KT-XH nói chung và tới việc làm, thu nhập của người nông dân vùng Đông Nam bộ nói riêng; làm rõ vai trò của Nhà nước, các chủ thể tạo việc làm và người lao động trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của vùng Đông Nam bộ; phân tích tác động của một

số chính sách liên quan đến tạo việc làm cho nông dân Từ đó, đề xuất phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm và tăng thu nhập nhằm hạn

Trang 5

chế những khó khăn, nâng cao đời sống kinh tế của người dân nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH, ĐTH và hội nhập kinh tế quốc tế ở vùng này.

Một số tác giả nghiên cứu vấn đề việc làm theo hướng phân theo khu vực, các tác giả đã căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương để nghiên cứu thực trạng việc làm và đưa ra chính sách giải quyết việc làm cụ thể cho các địa phương như:

- “Việc làm và chính sách tạo việc làm ở Hải Dương hiện nay”, Thạc

sỹ Bùi Thanh Thủy (Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội năm 2005)

- “Giải quyết việc làm cho lao động ở ngoại thành Hà Nội” Công trình

nghiên cứu cấp Bộ của Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia, Khu vực 1, 2010

- Giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH ở vùng trọng điểm kinh tế miền Trung (Qua khảo sát ở Quảng Nam và

Đã Nẵng), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 2010

- “Việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh

Hóa” Thạc sỹ Tạ Hữu Quang (Luận văn thực sỹ kinh tế, Học viện Báo chí và

tuyên truyền, Hà Nội năm 2012);

- “Việc làm cho nông dân nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa,

Đô thị hóa ở tỉnh Hà Tĩnh”, Thạc sỹ Phạm Khánh Hòa (Luận văn Thạc sỹ

kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội năm 2012);

Một số tác giả nghiên cứu giải quyết vấn đề việc làm theo hướng căn

cứ vào chất lượng lao động, các tác giả cũng căn cứ vào điều kiện thực tế, thực trạng việc làm của Việt Nam nói chung để phân tích tích hình việc làm

và đưa ra định hướng phát triển việc làm:

- Thạc sỹ Nguyễn Thị Lan Hương: “Thị trường lao động Việt Nam:

Định hướng và phát triển”, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2002 Tác giả đi

từ việc phân tích các luận cứ cơ bản định hướng phát triển thị trường lao động Việt Nam, sự hình thành và phát triển của thị trường lao động Việt Nam Từ

Trang 6

đó đề xuất các giải pháp định hướng phát triển thị trường lao động Việt Nam giai đoạn 2001- 2010.

- “Một số vấn đề lao động, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay”, Thạc sỹ Đinh Đặng Định (chủ biên), Nxb Lao động, Hà Nội, 2004

- “Vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay” GS.TS Phạm Đức Thành, PGS.TS Phạm Quý Thọ, ThS Thang Mạnh Hợp (Tạp chí Lao động và công đoàn, số 298 - 12/2003)

- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt

Nam”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Lê Thị Ngân.

Trong đó các tác giả đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề như: Kết quả giải quyết việc làm, những mặt yếu kém và bất cập, phương hướng giải quyết việc làm, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Tuy nhiên, cho đến nay dưới góc độ khoa học Kinh tế chính trị chưa có

đề tài dưới dạng luận văn khoa học nào đi sâu nghiên cứu vấn đề việc làm theo hướng bền vững, đặc biệt ở Kinh Môn để tìm ra những giải pháp đồng

bộ, hữu hiệu Việc nghiên cứu đề tài “ Giải quyết việc làm theo hướng bền vững ở huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương hiện nay” dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị là cần thiết, có ý nghĩa khoa học cả về lý luận và thực tiễn do Kinh Môn là huyện bán sơn địa nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Hải Dương, một huyện tương đối đặc biệt so với các huyện khác của tỉnh vốn được mệnh danh là huyện nông nghiệp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

+ Mục đích:

Luận văn phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm ở huyện Kinh Môn, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm theo hướng bền vững ở huyện Kinh Môn trong thời gian tới

+ Nhiệm vụ:

Trang 7

- Hệ thống một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan tới vấn đề việc làm

và giải quyết việc làm theo hướng bền vững

- Phân tích kinh nghiệm giải quyết việc làm tại một số địa phương điển hình tại Việt Nam

- Đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm theo hướng bền vững tại Kinh Môn thời gian qua

- Đề xuất một số giải pháp tăng cường giải quyết việc làm theo hướng bền vững ở huyện Kinh Môn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu:

- Giải quyết việc làm theo hướng phát triển bền vững tại huyện Kinh Môn - Hải Dương

+ Phạm vi nghiên cứu:

- Luận văn đề cập tới vấn đề tạo việc làm cho toàn bộ lực lượng lao động nói chung do Trung ương, Tỉnh cũng như do Huyện quản lý đang sinh sống và làm việc trên địa bàn huyện Kinh Môn Tuy nhiên, có chú trọng bàn đến nhiều hơn vấn đề tạo việc làm cho lao động do Huyện trực tiếp quản lý

- Thực tiễn chính mà luận văn khai thác là huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương thời kỳ đổi mới, cụ thể là từ 2005 đến năm 2013

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn trình bày dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam; những chủ trương, chính sách của Nhà nước về việc làm được thể hiện qua các Văn kiện Đại Hội Đảng và Hội Nghị Ban chấp hành TW Đảng khóa VI, VII, X, XI có liên quan đến vấn đề Việc làm và giải quyết việc làm Đồng

Trang 8

thời, luận văn có sử dụng kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học

đã được công bố có liên quan đến đề tài

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp truyền thống: sử dụng phương pháp của của nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đó là phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu, phương pháp kết hợp logic với lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp thống

kê, so sánh, điều tra xã hội học trên cơ sở lập phiếu điều tra về vấn đề cơ cấu lao động chia theo thành phần kinh tế, số liệu điều tra lao động việc làm ở một số địa phương trong huyện với mỗi nội dung có số lượng khoảng 180 mẫu trong khoảng thời gian 1 tháng, đối tượng là lao động tại các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ở mộ số xã như Hiệp Sơn, Thị trấn Minh Tân,

TT Phú Thứ, TT Kinh Môn, Quang Trung, Thất Hùng

Nguồn số liệu: Chi cục thống kê cung cấp các số liệu liên quan tới vấn

đề việc làm, UBND huyện cung cấp báo cáo về tình hình kinh tế xã hội của huyện, Phòng Lao động - Thương binh xã hội cung cấp các số liệu về việc làm, các văn bản về các chính sách, chương trình giải quyết việc làm

6 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn tổng hợp một số vấn đề lý luận chung về việc làm và giải quyết việc làm theo hướng phát triển bền vững

- Phân tích, đánh giá đúng thực tiễn giải quyết việc làm ở huyện Kinh Môn, trên cơ sở đó đánh giá kết quả đạt được và những tồn tại

- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm tạo việc làm, thu hút lao động theo hướng phát triển bền vững ở Kinh Môn hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về lý luận: Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc làm và giải quyết việc làm theo hướng bền vững

Trang 9

- Về thực tiễn: đề xuất giải pháp giải quyết việc làm tại Kinh Môn, từ

đó có chính sách tổng thể của tỉnh Hải Dương cũng như địa phương giải quyết việc làm theo hướng bền vững

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc làm và giải quyết việc làm theo hướng phát triển bền vững

Chương 2: Thực tiễn việc làm và giải quyết việc làm ở huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương

Chương 3: Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm theo hướng phát triển bền vững ở huyện Kinh Môn

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM

VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM THEO HƯỚNG

- Lao động: Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người

nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người Do đó

nó là hoạt động cơ bản nhất của con người, là tiêu thức để phân biệt hoạt động của con người với hoạt động theo bản năng của con vật Lao động không những tạo ra của cải mà còn cải tạo bản thân con người, phát triển con người cả về mặt thể lực và trí lực Các Mác khẳng định: Lao động trước hết là quá trình diễn ra

sự tác động giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng sự hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên Trong khi tác động vào

tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó [1, tr 230]

Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội

và nhân khẩu, là một trong những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống

xã hội Khái niệm việc làm và khái niệm lao động không giống nhau, nhưng

có liên quan chặt chẽ với nhau Việc làm thể hiện mối quan hệ của con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã hội cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời nó là điều kiện cần thiết để thoả mãn nhu cầu xã hội

về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người Về góc độ kinh tế,

Trang 11

việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất.

Việc Làm: Đối với mỗi cá nhân, gia đình và mỗi chính phủ trong từng

quốc gia, việc làm là vấn đề quan trọng được quan tâm hàng đầu Quan niệm

về việc làm không cố định mà nó được xét trên nền tảng của một chế độ chính trị, gắn với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại Khi trình độ phát triển mọi mặt, đặc biệt là định hướng chính trị của một quốc gia thay đổi, quan niệm việc làm cũng biến đổi John Maynad Keynes (1883 - 1946) nhà kinh tế học nổi tiếng của nước Anh - đã viết: “Một nền kinh tế tiền tệ, như chúng ta sẽ thấy về thực chất là nền kinh tế trong đó những quan điểm luôn thay đổi về tương lai, có khả năng ảnh hưởng tới số lượng việc làm chứ không chỉ định hướng việc làm mà thôi”

Theo Ghi- Hân- Tơ nhà kinh tế thuộc Viện Hải quan Luân Đôn thì: Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của con người, kể cả quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế

Theo quan niệm này, tất cả các hoạt động, hành vi mang lại nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống cho mọi người đều gọi là việc làm Như vậy đã đồng nhất việc làm hợp pháp và bất hợp pháp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay không thể chấp nhận được quan niệm này, bởi khi các quan

hệ thị trường ngày càng phát sinh cả những mặt tích cực và tiêu cực, nhiều nguồn thu nhập không chính đáng đang làm gia tăng các tệ nạn xã hội, kìm hãm sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế đất nước

Tiến sỹ Sônhin và phó tiến sỹ Grin- xốp người Nga quan niệm: Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội

có ích trong công việc nội trợ, hay trong kinh tế phụ của các nông trang viên

Trang 12

Quan niệm này cho rằng tất cả những người có công việc ổn định trong guồng máy hoạt động kinh tế - xã hội, kể cả những người làm công việc nội trợ, làm kinh tế phụ của nông trang viên, người đi học đều gọi là có việc làm Quan niệm này có ưu điểm là xác định lao động của người nội trợ và người làm kinh tế phụ đều là việc làm, vì nó góp phần tạo ra thu nhập để trực tiếp hoặc gián tiếp nuôi sống bản thân Nhưng quan niệm này chưa chính xác khi cho rằng những người đi học là có việc làm Bởi vì những người đi học, ngay

cả học sinh, sinh viên các trường chuyên nghiệp đều chưa có khả năng tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân, các khoản chi tiêu của họ đều phụ thuộc vào thu nhập của người khác, của xã hội Đa số những người đi học trong độ tuổi lao động nhưng không thuộc lực lượng lao động (học sinh phổ thông trung học, học sinh các trường chuyên nghiệp) Sở dĩ có quan niệm như trên vì trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung của mô hình CNXH trước đây, học sinh, sinh viên, các trường chuyên nghiệp đều được coi là người có việc làm vì sau khi ra trường họ đều được phân công công tác, không có thất nghiệp

Giăng - Mu - Li, Phó cố vấn kinh tế của văn phòng lao động quốc tế lại cho rằng: Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực có tính chất

cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất

Quan niệm này phát triển hơn, khái quát hơn hai quan niệm trên Tuy nhiên, nếu chỉ có những hoạt động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật mới được coi là việc làm thì chưa thoả đáng Những người nằm trong lực lượng lao động nhưng làm công việc nội trợ, bản thân họ không nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hay hiện vật từ xã hội, từ người sử dụng lao động

mà chỉ nhận được sự phân phối lại trực tiếp thu nhập từ các thành viên trong gia đình Họ không trực tiếp mà gián tiếp tạo ra thu nhập trực tiếp, họ nhận được thu nhập gián tiếp thông qua điều tiết thu nhập từ các thành viên trong

Trang 13

gia đình có việc làm hưởng tiền lương trong xã hội Vậy, họ là những người

có việc làm, đảm nhận một chức năng trong guồng máy chỉ đạo xã hội - nghề nội trợ

Trong thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội, có việc làm được coi là hợp pháp, chính đáng song cũng có việc làm tạo ra thu nhập nhưng lại được coi là bất chính Sự phân biệt này dựa trên cơ sở luật pháp và ý thức hệ của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ, giai đoạn của trình độ phát triển Quan niệm

về việc làm hợp pháp phải là việc làm mang lại thu nhập chính đáng cho con người - nghề hợp pháp - tương ứng với pháp luật của mỗi nước cho phép

Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm như sau: “Người có việc làm

là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” [39, Tr.47] Đây là một khái niệm mềm dẻo phù hợp với nền kinh tế thị trường, phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần Do

đó, khái niệm này đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới

Trước đây, trong cơ chế cũ việc làm của người lao động thường do nhà nước giải quyết với chế độ “biên chế” suốt đời Người lao động có việc làm được xã hội tôn trọng và thừa nhận là những người làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp của nhà nước, các đơn vị kinh tế quốc doanh, với quan niệm Nhà nước bố trí việc làm cho người lao động Chính vì vậy, xã hội không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm hay việc làm không đầy đủ Quan điểm đó tạo ra tâm lý ỷ lại vào nhà nước ở người lao động khi

họ cần việc làm

Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, quan niệm trên

về việc làm đã thay đổi Quan điểm mới về việc làm được thể hiện ở Luật lao

Trang 14

động của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2002 Điều 13,

chương 2 (việc làm) của Luật qui định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu

nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm ” [4, Tr.163]

Như vậy, khái niệm việc làm được mở rộng về nội hàm đã xoá bỏ được quan niệm cứng nhắc trước đây là chỉ những người “trong biên chế nhà nước”mới là người có việc làm Việc làm không chỉ trong biên chế, mà tất cả những ai đang làm việc trong các thành phần kinh tế, trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, xí nghiệp, trường học hoặc tại gia đình (kể cả nội trợ) đều được coi là có việc làm

Từ định nghĩa trên tác giả có thể đưa ra khái niệm về việc làm: Việc làm là

những hoạt động lao động sản xuất trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm.

Quan niệm trên về việc làm hoàn toàn phù hợp với điều kiện KT - XH

ở Việt Nam hiện nay nó đã mở ra một hướng mới cho vấn đề giải quyết việc làm, mở ra một thị trường việc làm phong phú và đa dạng, thực hiện mục tiêu giải phóng triệt để sức lao động và tiềm năng toàn xã hội

Nghiên cứu việc làm cho người lao động trong một quốc gia, địa phương và trong một thời kỳ nhất định người ta còn quan tâm đến các vấn đề việc làm đầy đủ và thiếu việc làm…

- Một số khái niệm có liên quan

+ Dân số trong độ tuổi lao động: Là những người ở độ tuổi lao động theo quy định của luật pháp Ở Việt Nam hiện nay, theo Bộ luật Lao động quy định độ tuổi lao động là những người đủ 15 tuổi đến 60 tuổi (với nam) và đủ 15 tuổi đến 55 tuổi (với nữ)

+ Người có việc làm: là người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người có việc làm là làm việc ít nhất 16 giờ trong một tuần

Trang 15

+ Thất nghiệp:

Đối lập với việc làm, thất nghiệp là một tình trạng có tính quy luật của các nền kinh tế thị trường Có nhiều khái niệm khác nhau về thất nghiệp Theo quan niệm của ILO: “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm được việc làm

ở mức tiền công đang thịnh hành” Giải quyết thất nghiệp là một trong những vấn đề bức xúc trong chính sách việc làm của mỗi quốc gia

+ Thiếu việc làm: Thiếu việc làm vô hình là sự phân bổ không hợp lý giữa sức lao động và các yếu tố khác của sản xuất Công việc chưa phát huy hết khả năng của người lao động Trong trường hợp này, người lao động vẫn

có việc làm nhưng anh ta phải làm những việc ở những nơi mà năng suất lao động thấp hơn mức trung bình, thu nhập từ việc làm mang lại thấp hơn mức trung bình

Thiếu việc làm hữu hình là tình trạng người lao động không có đủ khối lượng việc làm trong ngày công lao động và phải đi tìm việc khác hay nhận việc làm bổ sung Tình trạng này diễn ra phổ biến ở nông thôn nhất là trong những ngày tháng nông nhàn

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì người thiếu việc làm là người trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm

Ở Việt Nam hiện nay, mức chuẩn về thời gian làm việc cho người thiếu việc làm là làm việc dưới 40 giờ (5 công) trong tuần lễ tham khảo hoặc trong tuần lễ tham khảo không làm việc vì lý do bất khả kháng, nhưng 4 tuần trước

đó làm việc dưới 160 giờ (20 công) và có nhu cầu làm thêm

Mục tiêu của giải quyết việc làm không chỉ dừng lại ở tạo công việc đầy đủ cho mọi người lao động mà phải không ngừng nâng cao chất lượng việc làm, tạo ra những công việc có giá trị cao, việc làm được tự do lựa chọn

Trang 16

và việc làm mang tính nhân văn để lao động không chỉ là phương tiện để sinh sống mà còn là nhu cầu đầu tiên trong hoàn thiện nhân cách của mỗi người.

- Quan niệm giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm cho người lao động gắn với sự phát triển của thị trường lao động, có tác động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn góp phần giải quyết một vấn đề cấp thiết và cơ bản là chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu trong quá trình đổi mới Ở nước ta, quá trình CNH, ĐTH đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức xúc liên quan đến việc làm và chính sách giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình và xã hội

Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của người lao động, nhằm đạt được việc làm phù hợp và có hiệu quả Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trong đó có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình

Giải quyết việc làm có thể được hiểu ở một số khía cạnh sau đây:

Một là, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất Cả số lượng và

chất lượng tư liệu sản xuất đều phụ thuộc vào vốn đầu tư, tiến bộ khoa học,

kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng hiệu quả các tư liệu sản xuất đó

Hai là, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động Số lượng sức lao

động phụ thuộc vào quy mô, tốc độ gia tăng dân số, các qui định về độ tuổi lao động, sự di chuyển lao động; chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục, y tế, thể dục thể thao và chất lượng chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

Trang 17

Ba là, thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc làm, từ

việc duy trì sự ổn định, đạt hiệu quả cao của việc làm, đến các giải pháp về quản lý thị trường Giải quyết việc làm cần phải được xem xét cả ở phía người lao động, người sử dụng lao động và cả vai trò của nhà nước

Vì vậy, giải quyết việc làm là đưa ra, thực hiện triệt để tổng thể các biện pháp, chính sách KT - XH từ vi mô đến vĩ mô để người lao động có thể

có việc làm

1.1.1.2 Các tiêu chí về việc làm

Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện:

Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động

và cho các thành viên trong gia đình

Hai là, hoạt động đó phải đúng luật; không bị pháp luật cấm.

Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, và là điều kiện cần và

đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm Nếu một hoạt động chỉ tạo

ra thu nhập nhưng vi phạm luật pháp như: trộm cắp, buôn bán hêrôin, mại dâm, Không thể được công nhận là việc làm Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm - chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chính gia đình mình: đi chợ, nấu cơm, giặt giũ quần áo, Nhưng nếu người phụ nữ

đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác thì hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công

1.1.1.3 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tạo việc làm

Thứ nhất là, điều kiện tự nhiên.

Những yếu tố về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái… có ảnh hướng rất lớn đến quá trình sinh sống, hoạt động và phát triển của con người

Trang 18

Điều kiện tự nhiên góp phần thu hút đầu tư sản xuất kinh doanh Thực tiễn cho thấy nơi nào có điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ thu hút được vốn đầu

tư và tạo việc làm cho người lao động Quá trình phát triển KT - XH phải gắn với việc tăng trưởng và phát triển bền vững của đất nước

Thứ hai là dân số và cơ cấu dân số.

Số lượng, tốc độ gia tăng và cơ cấu dân số có ảnh hướng lớn tới nguồn lao động và giải quyết việc làm của mỗi quốc gia Dân số, lao động và việc làm là những vẫn đề có liên quan mật thiết lẫn nhau Dân số tăng nhanh cũng

là một sức ép lớn trong quá trình tạo việc làm cho người lao động

Dân số tăng nhanh dẫn tới việc phân bố dân cư không hợp lý, không gắn kết được lao động với các nguồn lực khác Đồng thời sẽ làm giảm ngân sách cho đầu tư phát triển KT - XH, làm tăng chi tiêu cho tiêu dùng Vì vậy, đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm sẽ gặp nhiều khó khăn Đây là bài toán khó nhưng bắt buộc các địa phương phải cùng tìm ra hướng giải quyết hiệu quả để đưa đất nước phát triển vững mạnh

Thứ ba là trình độ tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ.

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang làm thay đổi tính chất và nội dung nghề nghiệp của người lao động Cách mạng công nghệ

đã dẫn đến việc sử dụng công cụ, phương tiện hiện đại, phức tạp nên lao động trí óc dần dần đã thay thế lao động chân tay Nếu trình độ học vấn, mặt bằng dân trí được nâng cao thì năng lực làm việc của con người sẽ được mở rộng Tuy nhiên, theo C.Mác thì khi ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại thường dẫn đến tăng kết cấu hữu cơ tư bản và tăng năng xuất lao động, mà: “Sự tăng năng xuất lao động thể hiện ra ở việc giảm bớt khối lượng lao động so với khối lượng tư liệu sản xuất mà lao động đó làm cho hoạt động, hay là thể hiện ra ở sự giảm bớt đại lượng của nhân tố chủ quan của quá trình lao động so với nhân tố khách quan của quá trình đó” [2, tr.877]

Trang 19

Ở nước ta hiện nay, trình độ công nghệ sử dụng trong các ngành kinh tế lạc hậu so với trình độ trung bình tiên tiến trên thế giới từ 2 đến 3 thế hệ kỹ thuật (không kể một số lĩnh vực mới như: dầu khí, viễn thông) Một số ngành công nghiệp then chốt như cơ khí, chế tạo động cơ có trình độ công nghệ lạc hậu 30-50 năm so với các nước phát triển trung bình Vì vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế mở và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm rút ngắn khoảng cách lạc hậu về trình độ công nghệ so với các nước là con đường tất yếu để phát triển nhanh nền kinh tế nước ta.

Nhưng hiện nay, việc đổi mới công nghệ lại mâu thuẫn với tiềm năng nguồn lực về vốn ít và lực lượng lao động dồi dào Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đặt ra một vấn đề: lựa chọn công nghệ cần đổi mới trong từng thời kỳ, từng giai đoạn như thế nào cho phù hợp Ngành nào, khâu nào, lĩnh vực nào cần lựa chọn trình độ công nghệ ra sao để vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá sản xuất, vừa tận dụng được tiềm năng lao động để tăng việc làm trong điều kiện nguồn vốn hạn hẹp đang là bài toán đặt ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ tư là cơ cấu kinh tế

Quan điểm phát triển kinh tế hàng hóa cùng với việc thực hiện phân công lao động và hợp tác quốc tế tất yếu đặt ra yêu cầu khách quan phải xây dựng một cơ cấu kinh tế mới

Sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo cơ chế thị trường làm cho mâu thuẫn giữa lao động và việc làm ngày càng gay gắt Việc tổ chức lại lao động trên phạm vi toàn xã hội, điều chỉnh cơ cấu lao động xã hội cho phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tất sẽ dẫn đến

dư thừa lao động Theo V.I Lênin, thì sự phát triển kinh tế hàng hóa khiến một bộ phậm ngày càng đông trong dân cư tách khỏi nông nghiệp, tức là nhân khẩu công nghiệp tăng lên làm cho nhân khẩu nông nghiệp giảm xuống,

Trang 20

V.I.Lênin nhắc lại luận điểm của C.Mác: “Do bản chất của nó phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không ngừng giảm bớt nhân khẩu nông nghiệp so

với nhân khẩu phi nông nghiệp, bởi vì trong công nghiệp (theo nghĩa hẹp của

danh từ này) việc tư bản bất biến tăng lên làm giảm tư bản khả biến thường

liên quan với sự tăng thêm tuyệt đối (dù là giảm bớt tương đối) của tư bản

khả biến, còn trong nông nghiệp thì ngược lại, tư bản khả biến cần thiết để kinh doanh một khoảnh đất nhất định lại giảm bớt một cách tuyệt đối; do đó

tư bản khả biến chỉ có thể tăng thêm khi có những đất mới được canh tác, mà điều này lại đòi hỏi rằng nhân khẩu phi nông nghiệp phải tăng lên nhiều hơn nữa” [43, tr 25]

Tạo việc làm cho người lao động phải lấy mục tiêu của sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế để xác định hướng phát triển Để có một đội ngũ lao động đáp ứng những việc làm đa dạng phù hợp với cơ cấu kinh tế mới, ngay từ khâu đào tạo, bồi dưỡng, hướng nghiệp đến tổ chức nơi làm việc, cần phải nắm bắt các cơ hội, đi tắt, đón đầu, hình thành những ngành kỹ thuật mũi nhọn, phát triển theo trình độ khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới Tạo việc làm tập trung vào những khâu cần thiết và có thể thực hiện có hiệu quả các công nghệ tiên tiến, đồng thời cải tiến công nghệ truyền thống nhằm tạo đà cho nền kinh

tế phát triển nhanh chóng ở những thập kỷ sau

Thứ năm là thị trường sức lao động (gọi tắt là thị trường lao động)

Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ bản nhất như thuê mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao động ) ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động [18, tr.112]

Giải quyết việc làm trong cơ chế thị trường về thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu về lao động trên thị trường lao động Cung về

Trang 21

lao động biểu hiện khối lượng lao động (số lượng, chất lượng và cơ cấu của lực lượng lao động) tham gia vào thị trường lao động trong một thời gian nhất định Cầu về lao động là khả năng thuê lao động trên thị trường lao động Trên thị trường lao động, mức cung - cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp tới mức tiền lương và ngược lại, sự thay đổi mức tiền lương cũng làm thay đổi cung - cầu lao động, điều chỉnh quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường.

Khi cung lớn hơn cầu sẽ dẫn đến dư thừa lao động, làm gia tăng số người không có việc làm và ngược lại Trên thị trường lao động, cung cầu lao động thường xuyên biến động và chịu sự tác động của nhiều yếu tố, tạo ra mâu thuẫn giữa cung và cầu Đối với nước ta hiện nay, trình độ phát triển kinh tế còn thấp, khả năng mở rộng sản xuất có hạn trong khi nguồn lao động dồi dào,

tỷ lệ tăng cung lao động cao, cung lao động luôn lớn hơn cầu, dẫn đến sức ép rất lớn về việc làm, đòi hỏi Chính phủ phải có những biện pháp nhằm giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

Thứ sáu là các chính sách vĩ mô của Nhà nước.

Các chính sách vĩ mô của Nhà nước có vai trò to lớn trong việc tạo việc làm, đồng thời điều chỉnh việc làm phù hợp với mục tiêu, trình độ phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động

Khi các chính sách vĩ mô của Nhà nước đúng đắn và thích hợp sẽ tạo ra nhân tố, môi trường, động lực khuyến khích các chủ doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động mở rộng đầu tư nhằm thu lợi nhuận, tạo việc làm, khai thác tối

ưu mọi nguồn lực vào mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh và ngược lại

Vì vậy, số lượng, chất lượng việc làm, khả năng tạo việc làm chính là một trong những thước đo quan trọng biểu hiện trình độ hoạch định và tính khả thi của hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước trong quản lý, điều hành kinh tế - xã hội

Trang 22

Ở nước ta, phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm cho người lao động

là chính sách xã hội cơ bản, là hướng ưu tiên trong toàn bộ các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta, vấn đề giải quyết việc làm được đặt biệt nhấn mạnh:

Phương hướng quan trọng nhất là Nhà nước cùng toàn thể nhân dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế - xã hội Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh - quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động Giảm đáng kể tỷ

lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn [5, tr.114 - 115]

Với quan điểm nhất quán về giải quyết việc làm, trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định: “Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản”, với các phương hướng: Bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là trong nông nghiệp và nông thôn Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, phòng chống thiên tai và bệnh nghề nghiệp cho người lao động Khôi phục và phát triển các làng nghề Tổ chức quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu lao động và bảo vệ quyền lợi của người lao động ở nước ngoài Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội, xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp [6, tr 104 - 105]

Từ quan điểm và định hướng trên đây, Nhà nước ta đã có các chính sách kinh tế xã hội chủ yếu tác động tới phát triển nguồn nhân lực và giải

Trang 23

quyết việc làm như: Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; chính sách khuyến khích sản xuất hàng hóa xuất khẩu; chính sách tín dụng ưu đãi để các doanh nghiệp đầu tư chiều sâu

1.1.1.5 Vai trò của giải quyết việc làm đối với nền kinh tế

Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển KT - XH Khi nghiên cứu vai trò của sản xuất xã hội và các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, C.Mác và Ph.Ăngen đã khẳng định: sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người

Thực tiễn lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, muốn tiến hành các hoạt động khác, trước tiên con người phải có của cải vật chất để nuôi sống bản thân mỗi người Vì vậy, đảm bảo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và ổn định việc làm, phát huy nhân tố con người là một nhu cầu thiết yếu trong quá trình CNH, ĐTH đất nước

Giải quyết việc làm là cơ sở để phát triển KT - XH, góp phần thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, ĐTH Vì vậy, giải quyết việc làm trách nhiệm của các cơ quan ban ngành, các tổ chức, doanh nghiệp và bản thân người lao động Điều đó có vai trò và ý nghĩa to lớn

Một là, nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sống cho người lao động Hiện nay ở nước ta vẫn còn nhiều hộ nghèo đói, khó khăn, có thu nhập thấp

do thiếu việc làm, trình độ sản xuất kém Do đó phải không ngừng tạo việc làm, đưa khoa học công nghệ vào trong sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, cải thiện cuộc sống cho người lao động Giải quyết việc làm một cách triệt để cho người lao động sẽ không những ổn định đời sống cho người nông dân mà còn góp phần ổn định trật tự xã hội

Trang 24

Hai là, giải quyết việc làm giúp đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đảng ta xác định, để thực hiện thành công quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải tạo ra sự thay đổi về nhu cầu cơ cấu ngành nghề ở nông thôn và miền núi, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỉ trọng nghành nông - lâm nghiệp, tăng tỉ trọng ở các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ Bởi lẽ, công nghiệp và xây dựng tăng nhanh sẽ tạo đà cho việc chuyển dịch lao động ở ngành nông - lâm nghiệp sang các ngành khác ở địa phương.

Ba là, góp phần xây dựng nông thôn mới Theo 19 tiêu chỉ để xây dựng

mô hình nông thôn mới được Chính phủ ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg, vấn đề giải quyết việc làm, đảm bảo ổn định đời sống cho người dân là một trong những nội dung hết sức quan trọng Nông thôn kiểu mới là nơi có nhiều việc làm, có những điều kiện về kết cấu hạ tầng vật chất

và hạ tầng xã hội ngày càng đảm bảo Giải quyết việc làm còn là điều kiện để phát triển nâng cao trình độ văn hóa, góp phần bảo tồn những ngành nghề truyền thống

Bốn là, đảm bảo vững chắc an ninh quốc phòng Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động như hiện nay, các thế lực thù địch, phản động có những âm mưu chiến lược tinh vi nhằm thực hiện “Diễn biến hòa bình”, việc xây dựng, tham gia bảo vệ tổ quốc là một nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ tổ quốc thì việc giải quyết việc làm, phát huy nguồn nhân lực sẽ góp phần to lớn vào sự phát triển kinh

tế xã hội

1.1.2 Tổng quan về phát triển bền vững

Trên bình diện toàn thế giới hay tại mỗi khu vực và ở mỗi quốc gia xuất hiện biết bao vấn đề bức xúc lại mang tính phổ biến Kinh tế càng tăng trưởng thì tình trạng khan hiếm các loại nguyên liệu, năng lượng do sự cạn

Trang 25

kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo được ngày càng tăng thêm, môi trường thiên nhiên càng bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, dẫn tới sự trả thù của thiên nhiên gây ra những thiên tai vô cùng thảm khốc.

Đó là sự tăng trưởng kinh tế không cùng nhịp với tiến bộ và phát triển

xã hội, đôi khi ngược chiều với phát triển xã hội Cụ thể là, có tăng trưởng kinh tế nhưng không có tiến bộ và công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa, dẫn tới làm méo mó nông thôn; tăng trưởng kinh tế nhưng thu nhập của người lao động không tăng; tăng trưởng kinh tế nhưng văn hóa, đạo đức bị suy đồi; tăng trưởng kinh tế lại làm dãn cách hơn sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội, dẫn tới sự bất ổn trong xã hội

và điều này đã trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng ở nhiều quốc gia Vậy nên, quá trình phát triển có sự điều tiết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm bình ổn xã hội và bảo vệ môi trường đang trở thành yêu cầu bức thiết đối với toàn thế giới

1.1.2.1 Khái niệm Phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vần đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, chính trị, văn hóa…riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

Quan niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất yếu Tư duy về phát triển bền vững manh nha trong

cả quá trình sản xuất xã hội và bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất

ổn trong xã hội Chính vì thế, từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước khi tăng trưởng kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã đạt được tốc độ khá cao, người ta đã bắt đầu có những lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tặ trưởng

Trang 26

nhanh đó đến tương lai con người và vấn đề phát triển bễn vững được đặt ra năm 1987 vấn đề phát triển bễn vững được ngân hàng thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên, theo đó phát triển bễn vững là là “…sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai” từ đó nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống của con người trong quá trình phát triển của con người chưa thấy được vấn đề xã hội được đề cập đến năm

1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế

kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai” Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức Johannesbug (Công hòa Nam Phi) đã xác

định “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ , hợp

lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: tăng trưởng kinh tế về mặt kinh

tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sống” Theo đó, ba trụ cột

phát triển bền vững được xác định là: Thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững là phát triển nhanh và an toàn, chất lượng; Thứ hai,

bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức

hưởng thụ về văn hóa, văn minh; Thứ ba, bền vững về sinh thái môi trường là

khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống

Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có được sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở thành mục tiêu thiên niên kỷ

Trang 27

Ở Việt Nam, chủ đề phát triển bền vững cũng đã được chú ý nhiều trong giới nghiên cứu cũng như những nhà hoạch định đường lối, chính sách Quan niệm về phát triển bền vững thường được tiếp cận theo hai khía

cạnh: Một là, phát triển bền vững là phát triển trong mối quan hệ duy trì

những giá trị môi trường sống, coi giá trị môi trường sinh thái là một trong những yếu tố cấu thành những giá trị cao nhất cần đạt tới của sự phát

triển Hai là, phát triển bền vững là sự phát triển dài hạn, cho hôm nay và cho

mai sau; phát triển hôm nay không làm ảnh hưởng tới mai sau

Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững được định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh

tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Đây là định nghĩa có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam

Từ định nghĩa trên tác giả có thể đưa ra khái niệm phát triển bễn vững:

Phát triển bễn vững là sự kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với đảm bảo tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.

1.1.2.2 Các tiêu chí hướng tới phát triển bền vững

Cũng như tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững có thước đo riêng và rất đặc trưng, tuy nhiên hệ thống thước đo này rất phức tạp và nhiều thước đo rất khó xác định vì chúng phải đánh giá trên cả 3 phương diện Kinh tế - xã hội

- môi trường Từ nội hàm khái niệm phát triển bền vững, rõ ràng là, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững cần giải quyết hàng loạt các vấn đề thuộc

ba lĩnh vực là kinh tế, xã hội và môi trường

Trang 28

Thứ nhất, bền vững kinh tế Mỗi nền kinh tế được coi là bền vững cần

đạt được những yêu cầu sau:

- Có tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt mức cao Nước phát triển

có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu nhập thấp càng phải tăng trưởng mức độ cao Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem có biểu hiện phát triển bền vững về kinh tế

- Trường hợp có tăng trưởng GDP cao nhưng mức GDP bình quân đầu người thấp thì vẫn coi là chưa đạt yêu cầu phát triển bền vững

- Cơ cấu GDP cũng là vấn đề cần xem xét Chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững

- Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá

Thứ hai, bền vững về xã hội Tính bền vững về phát triển xã hội ở mỗi

quốc gia được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp sự phát triển của con người vì vậy muốn phát triển bền vững thì yêu càu đặt ra đối với chỉ tiêu này là phái tăng trưởng và đạ đến mức trung bình, hệ số bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng là một trong số các chỉ tiêu quan trọng trong phát triển bễn vững vì bất bình đẳng là nguyên nhân gây ra những xung đột, bất ổn trong xã hội, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không cao quá và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn

Thứ ba, bền vững về môi trường Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn

Trang 29

mới, đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên Bền vững về môi trường là các chỉ tiêu đánh giá như: mức độ ô nhiễm (không khí, nước…), mức độ che phủ rừng…là những chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá tính bền vững của môi trường Môi trường bền vững là môi trường luôn làm thay đổi nhưng vẫn làm tròn 3 chức năng: là không gian sinh tồn; là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; là nơi chứa đựng, xử lý chất thải Nghĩa là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.

1.1.3 Việc làm theo hướng phát triển bễn vững

1.1.3.1 Bối cảnh chung

Thế giới ngày nay là thế giới của khoa học công nghệ, của kinh tế thị trường, của liên kết kinh tế, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới do vậy đòi hỏi chất lượng lao động cao Lượng lao động đông đảo không còn là lợi thế trong điều kiện ngày nay Do vậy, người lao động muốn có công ăn việc làm, thu nhập cao cần phải có tay nghề cao, trình độ chuyên môn giỏi, có ý thức tác phong công nghiệp hóa

Ở nhiều nước, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển, dân số tăng rất chậm chạp, thậm chí không tăng mà còn có xu hướng giảm đi, do vậy có nhu cầu nhập khẩu lao động với số lượng lớn, tuy nhiên họ đòi hỏi ở người lao động phải có tay nghề ở những mức độ nhất định (đã qua đào tạo) Hiện nay có nhiều quốc gia tham gia xuất khẩu lao động, đã làm cho tính cạnh tranh trong lĩnh vực này ngày càng cao Muốn xuất khẩu được lao động, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của công tác đưa người lao động ra nước ngoài làm việc, phải đáp ứng được yêu cầu của các thị trường

Trang 30

Cơ cấu nền kinh tế thế giới đang có những thay đổi rất lớn Ngành dịch vụ lên ngôi, công nghiệp phát triển mạnh mẽ đã tạo sức hút rất lớn lao động xã hội, tạo cơ hội nhiều hơn cho người lao động có việc làm và nâng cao thu nhập.

Có thể thấy trên bình diện chung của cả nước, tình hình lao động - việc làm nói chung của người lao động Việt Nam có một số nét đáng chú ý sau:

Việt Nam có một đội ngũ người lao động đông đảo nhưng chất lượng lao động thấp, phân bố không đồng đều (không đều giữa các vùng, không đều giữa các ngành), lao động tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng và 2 thành phố lớn (Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), lao động tập trung chủ yếu vào ngành nông nghiệp

Nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây đã có những bước tiến vượt bậc, luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, hàng năm tạo ra được 1 đến 1.5 triệu chỗ làm mới cho người lao động, song nói chung, phân công lao động chưa phát triển mạnh mẽ nền kinh tế chưa thu hút hết được lao động dư thừa Tình trạng lao động thiếu việc làm và không có việc làm vẫn chiếm tỷ trọng cao, có xu hướng gia tăng (đặc biệt là đối với lực lượng lao động ở nông nghiệp, khi mà tốc độ đô thị hóa gia tăng)

1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá giải quyết việc làm theo hướng phát triển bễn vững

Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu phát triển hàng đầu của mỗi quốc gia, trong quá trình đó xảy ra tình trạng tài nguyên bị sử dụng lãng phí, môi trường sống bị ô nhiễm và không được đảm bảo, bất bình đẳng diễn ra ngày càng sâu sắc do nhóm người yếu thế trong xã hội không được tiếp cận đầy đủ với các nhu cầu tối thiểu cho sự phát triển Mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế chính là phục vụ và cải thiện chất lượng cuộc sống của con người ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn để mọi người đều có cơ hội phát triển đầy

đủ khả năng của mình trong một xã hội công bằng và văn minh Vì vậy Phát triển bền vững là một tất yếu khách quan trong tiến trình lịch sử phát

Trang 31

trieenrcuar loài người, cẫn được vận dụng tốt và phù hợp với hoàn cảnh riêng của từng địa phương.

Thứ nhất: Phải dựa vào mức độ phát triển kinh tế của toàn huyện Thê hiện qua giá trị tổng sản phẩm GDP hàng năm, sự đóng góp của các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế

Thứ hai, Phải dựa vào sự tiến bộ và công bằng xã hội: hằng năm tăng trưởng kinh tế đã giải quyết việc làm cho bao nhiêu lao động nông thôn, đã tạo được bao nhiêu việc làm cho lao động, giảm thất nghiệp hay không, thực hiện chương trình giảm nghèo kết quả hàng năm như thế nào, chất lượng cuộc sống( thu nhập bình quân đầu người, số trẻ em đến trường hàng năm, số người được chăm sóc sức khỏe ban đầu), số hộ gia đình đạt gia đình văn hóa hàng năm

Thứ ba là dựa vào mức độ khai thác, hiệu quả sử dụng các tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái Nguồn tài nguyên đất, nước, không khí và các tài nguyên khác có đảm bảo khai thác hiệu quả, tiết kiệm đảm bảo tính kế thừa không?, mức độ ô nhiễm không khí, nguồn nước có ở mức cho phép không, Số hộ tham gia thu gom rác thải tập trung hàng năm…

1.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở một số quốc gia trên thế giới

Trang 32

xí nghiệp Hương trấn Xí nghiệp Hương trấn là loại hình xí nghiệp kinh tế do nông dân tự nguyện thành lập ngay trên quê hương mình trên cơ sở những lợi thế về nguồn tài nguyên, lao động và các nguồn lực kinh tế khác dưới sự quản

lý của chính quyền các cấp, sự lãnh đạo của Đảng và quan tâm giúp đỡ của nhà nước Hệ thống xí nghiệp Hương trấn chủ yếu sản xuất các hàng hoá tiêu dùng nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân Việc phát triển xí nghiệp hương trấn có ý nghĩa rất to lớn

Xí nghiệp Hương trấn đã thu hút 120 triệu lao động (chiếm 26,9% lực lượng lao động cả nước) với mức thu nhập 2500 NDT/lao động/ tháng Đây là thành quả to lớn mà xí nghiệp Hương trấn mang lại, vì vậy cần nghiên cứu để có thể

áp dụng một cách phù hợp với điều kiện nước ta

1.2.2 Đài Loan

Đài Loan là một nước có điều kiện tự nhên không thuận lợi, diện tích tự nhiên là 35981km2 với dân số hơn 20 triệu người, là nước có mật độ dân số rất cao, diện tích canh tác bình quân đầu người vào loại thấp nhất thế giới

Kinh nghiệm của Đài Loan có hai điểm đáng chú ý:

Thứ nhất là thực hiện cải cách ruộng đất và phát triển mạnh các trang trại nông nghiệp, đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hoá nông thôn

Thứ hai là phát triển các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trong nông thôn.Cuộc cải cách ruộng đất thời kỳ 1949 - 1953 đã tạo điều kiện cho các trang trại phát triển mạnh mẽ, giải phóng sức lao động trong nông thôn Năm 1953 Đài Loan có 679.000 trang trại, quy mô mỗi trang trại bình quân là 1,29 ha Năm 1991 có 823.256 trang trại với quy mô bình quân 1.08 ha Nông nghiệp Đài Loan phát triển mạnh mẽ ở mức 5,2% suốt

từ 1953 đến 1968 Nông nghiệp Đài Loan đã phát triển theo hướng đa dạng hoá và có hiệu quả cao Đặc biệt các trang trại ở Đài Loan đã đẩy mạnh phát triển các ngành phi nông nghiệp Đến năm 1994 số trang trại

Trang 33

sản xuất thuần nông chỉ còn chiếm 9% tổng số trang trại cả nước Từ 1953 đến 1970 đã có 800.000 lao đông chuyển từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp Điều đó có ý nghĩa to lớn đối với giải quyêt việc làm cho lao động nông thôn Đài Loan.

- Một vấn đề hết sức quan trọng đối với giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn Đài Loan là xây dựng các xí nghiệp vừa và nhỏ mang tính gia tộc Đài Loan đã phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn phần nhiều là sự kết hợp giữa các thành viên trong gia đình và gia tộc,

vì vậy có tính hỗ trợ rất cao Điều đó ảnh hưởng to lớn đến việc làm và thu nhập của lao động nông thôn Đài Loan

1.2.3.Thái Lan

Kinh nghiệm quan trọng trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Thái Lan là sự liên kết theo mô hình tam giác giữa nhà nước, công ty và hộ gia đình Trong đó công ty giao nguyên liệu cho hộ gia đình gia công những công đoạn phù hợp Nhà nước hỗ trợ vốn và kỹ thuật, bồi dưỡng tay nghề cho nông dân cũng như tạo quan hệ hợp đồng gia công giữa các hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ với các doanh nghiệp lớn Do vây, các ngành nghề truyền thống, các ngành phi nông nghiệp đều phát triển mạnh, góp phần to lớn vào giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn

1.2.4 Malaysia

Liên bang Malaysia có diện tích tự nhiên là 329,8 nghìn km2 với dân

số là 22,2 triệu người (năm 1998), mật độ dân số là gần 70 người/km2 Như vậy, mật độ dân số thấp hơn nhiều nước ta Trong khi đó, hiện nay Malaysia

có nền kinh tế phát triển khá cao ở khu vực Đông Nam Á, lao động được thu hút mạnh vào các ngành phi nông nghiệp Vì vậy, hiện nay Malaysia là nước thiếu lao động và phải nhập lao động từ bên ngoài Tuy nhiên, thời kỳ đầu

Trang 34

công nghiệp hoá, Malaysia cũng dư thừa lao động ở nông thôn và đã giải quyết vấn đề này rất thành công Malaysia đã thực hiện rất thành công chuyển dịch cơ cấu lao động trong nền kinh tế quốc dân Năm 1996 lao động trong ngành nông lâm nghiệp chỉ còn chiếm 16,84% tổng lao động đang làm việc trong nền kinh tế.

Để đạt được kết quả như vậy, Malaysia đã thực hiện một số biện pháp

cụ thể như sau:

Thứ nhất, ngay thời kỳ đầu công nghiệp hoá, Malaysia đã đặc biệt chú trọng phát triển nông nghiệp, phát triển các loại cây công nghiệp phù hợp với điều kiện về đất đai, khí hậu của mỗi vùng Cùng với phát triển nông nghiệp, Malaysia cũng chú trọng phát triển công nghiệp chế biến nông sản, điều đó rất

có hiệu quả trong việc tìm đầu ra cho sản xuất nông nghiệp và giải quyết việc làm cho nông dân Từ thập kỷ 1960 Malaysia đã quan tâm áp dụng khoa học vào sản xuất nông nghiệp và phát triển công nghiệp cơ khí phục vụ cơ giới hoá nông nghiệp

Thứ hai là, đẩy mạnh khai hoang phát triển sản xuất nông nghiệp, giải quyết lao động dư thừa trong nông thôn Đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông thôn cũng như đầu tư vào các cơ sở phúc lợi xã hội khác

Thứ ba là, thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản, điều đó góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho các ngành hàng nông sản và chuyển dịch nhanh lao động

từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ

Thứ tư là, thực hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ sở đào tạo, các tổ chức công nghiệp chế biến với các hộ nông dân nhằm đẩy nhanh tiến bộ khoa học vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng với công nghiệp chế biến, xây dựng nông thôn phát triển toàn diện

Trang 35

1.2.5 Đánh giá chung

Qua nghiên cứu kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động của một

số nước trên thế giới, kết hợp với tình hình thực tiễn nước ta học viên thấy có

2 điểm nổi bật sau:

Một là Trung Quốc và Đài Loan đặc biệt quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng trong nông thôn và phát triển nền nông nghiệp có trình độ thâm canh cao Đặc biệt họ quan tâm phát triển CN và TTCN cùng các ngành phi nông nghiệp khác trong nông thôn Đây là những vấn đề chúng ta cần nghiên cứu

và áp dụng một cách có hiệu quả vào điều kiện thực tiễn ở nước ta

Nước ta là nước đông dân vì vậy, muốn giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thì nhất thiết phải phát triển mạnh công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn, xây dựng nền nông nghiệp toàn diện dựa trên

cơ sở trình độ khoa học kỹ thuật cao, muốn vậy, cần phải tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông thôn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá trong nông thôn Đặc biệt, diện tích canh tác bình quân đầu người của nước ta vào loại thấp nhất thế giới, nên điều quan trọng là phải phát triển nền nông nghiệp thâm canh trình độ cao, nhằm nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích Chỉ tiêu này ở nước ta hiện nay còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực

Hai là kinh nghiệm đáng chú ý của Thái Lan là mối quan hệ hợp tác giữa Nhà nước - Công ty và hộ gia đình Đây là mô hình rất hay mà chúng ta

có thể nghiên cứu và thực hiện trong điều kiện thực tiễn ở nước ta Bước đầu chúng ta có thể áp dụng ở vùng có mật độ dân số cao, lao động dồi dào và có trình độ văn hoá cũng như tay nghề cao như vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng Đông Nam bộ và các vùng nông thôn ven đô thị…ở đó hộ nông dân có thể hợp đồng với các công ty nhận sản xuất và gia công một số bộ phận của sản phẩm, xong giao nộp cho công ty Điều này có ý nghĩa rất lớn trong tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

Ở HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG 2.1 Giới thiệu chung về huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương

2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên.

Kinh Môn là một huyện của tỉnh Hải Dương, giáp với Hải Phòng và Quảng Ninh, một huyện tương đối đặc biệt so với các huyện khác của tỉnh vốn được mệnh danh là tỉnh nông nghiệp Một dãy núi đất trong hệ thống núi vòng cung Đông Triều làm xương sống của cả huyện Về núi non, Kinh Môn cảnh trí tương đối giống Chí Linh, nhưng Kinh Môn còn đặc biệt là có những núi đá xanh rải rác, sông bao bọc, cánh đồng rộng lớn

+ Vị trí địa lý

Huyện Kinh Môn nằm ở phần lãnh thổ phía đông của tỉnh Hải Dương, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp thành phố Hải Phòng, phía tây nam giáp huyện Kim Thành, phía tây bắc giáp huyện Nam Sách và Chí Linh của Tỉnh Hải Dương Huyện nằm kề bên 2 tuyến đường quốc lộ 5A và 18 là 2 tuyến giao thông quan trọng của quốc gia và vùng trọng điểm kinh tế phía bắc Huyện được bao bọc và chia cắt bởi 4 sông lớn (sông Kinh Môn, sông Kinh thầy, sông Đá vách, sông Hàn mấu).Vị trí địa lý của huyện khá thuận lợi cách Hà nội khoảng 80 km, nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm phía bắc, lại nằm kế bên 2 trung tâm kinh tế lớn là Quảng Ninh và Hải Phòng, giao thông thuỷ bộ tương đối thuận lợi nên có điều kiện giao lưu kinh tế với bên ngoài và đón nhận các cơ hội đầu tư

+ Địa hình: Huyện có địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng, nhiều sông ngòi

chia cắt nên nơi cao, nơi thấp Hiện còn khoảng 300 ha đất canh tác ven đồi thuộc địa hình cao và 700 ha đất ruộng trũng thường bị ngập úng vào mùa mưa

Trang 37

Địa hình như vậy cho phép huyện phát triển một nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá đa dạng, toàn diện.

+ Khí hậu - thuỷ văn: Kinh Môn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió

mùa, nóng ẩm Hàng năm được chia làm 4 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm 23oc, thuận lợi cho cây trong sinh trưởng phát triển, lượng mưa trung bình hàng năm 1500 - 1700mm, phân bố không đều, tập trung vào khoảng tháng 6, 7, 8 dễ gây úng lụt, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và dân sinh, độ ẩm không khí trung bình cao từ 78 - 87% Với khí hậu - thuỷ văn

ôn hòa đã tạo cho Kinh Môn có tập đoàn cây trồng phong phú cả cây nhiệt đới, ôn đới thuận lợi cho phát triển hệ sinh thái động, thực vật cũng như các hoạt động sản xuất, dịch vụ và du lịch Đặc biệt, điều kiện khí hậu vào mùa đông rất thuận lợi cho việc phát triển cây rau màu thực phẩm đặc biệt là hành, tỏi…

+ Các loại tài nguyên:

Kinh Môn là huyện miền núi với lịch sử phát triển lâu đời đã mang lại

nhiều loại tài nguyên phong phú như tài nguyên đất, rừng, khoáng sản, tài nguyên nhân văn…

Tài nguyên đất: Kinh Môn có diện tích tự nhiên 16.326,31 ha trong đó đất nông nghiệp 8900 ha (chiếm 55%) có 7300 ha đất trồng cây hàng năm còn lại là đất trồng cây ăn quả lâu năm và nuôi trồng thuỷ sản

Tài nguyên nước: Huyện có 4 sông lớn chảy qua lên nguồn nước mặt phong phú đủ đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân Đồng thời cũng là những tuyến giao thông thủy, tạo điều kiện cho việc giao lưu hàng hóa trong huyện cũng như trong tỉnh và với các tỉnh khác trong vùng Nhưng bên cạnh đó một số nơi có nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn, hàm lượng sắt cao không sử dụng được

Trang 38

Tài nguyên rừng: Kinh Môn có 1812 ha rừng trồng trên các đồi núi đất trong đó có khoảng 300 ha ven các đồi trồng cây ăn quả (nhãn, vải, na) và hơn 15.000 ha rừng đặc dụng đã bắt đầu khép tán.

Tài nguyên khoáng sản: Huyện Kinh Môn với tiềm năng khoáng sản khá phong phú đặc biệt là vật liệu xây dựng là ưu thế lớn của huyện làm tiền cho để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng nhất là sản xuất vật liệu xây dựng (ví dụ như: Đá vôi Trữ lượng khoảng 300 - 400 triệu tấn trong đó khoảng 200 triệu tấn chất lượng tốt (hàm lượng caco3 đạt 90 - 97%)

có thể khai thác làm xi măng, số còn lại làm vôi và đá xây dựng; Cao lanh trữ lượng khoảng 40.000 tấn, bô xít 20 vạn tấn Đất sét và đá phiến sét trữ lượng hàng chục triệu tấn khai thác phục vụ cho sản xuất xi măng, ngoài ra còn hàng triệu m2 cát ở các dòng sông

Tài nguyên nhân văn: Kinh Môn thuộc vùng núi đá vôi với nhiều hang động kỳ thú, nơi còn lưu lại di tích của người thời đại đồ đá mới, có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử được xếp hạng quốc gia như đền An Phụ với đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu (Thân phụ anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo) trên đỉnh và tượng đài người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo ở chân núi, Động Kính Chủ, Động Hàm Long, Tâm Long, Đình Huề Trì, Đình Ngư Uyên, chùa Nhẫm Dương Hàng năm thu hút hàng chục vạn du khách thập phương thăm viếng

Với vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên của Kinh Môn rất thuận lợi cho phát triển kinh tế toàn diện, bền vững

Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục gặp khó khăn, kinh

tế trong nước phục hồi chậm; thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp ảnh hưởng bất lợi đến tình hình kinh tế- xã hội của huyện nhà Trong bối cảnh

đó, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân trong huyện đã chủ động khắc phục khó khăn, thực hiện cơ bản đạt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra Năm 2013 tổng giá trị sản xuất 3.343 tỷ đồng, đạt 100,3% kế hoạch, tăng 11,3% so với năm

Trang 39

2012; giá trị sản xuất nông-lâm-thuỷ sản 457 tỷ 700 triệu đồng, đạt 98,3%

kế hoạch, tăng 1,2% so với năm 2012; giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng 2.247 tỷ đồng, đạt 100,8% kế hoạch, tăng 11,7% so với năm 2012; giá trị sản xuất dịch vụ 638 tỷ 300 triệu đồng, đạt 102% kế hoạch, tăng 18,6% so với năm 2012 Lĩnh vực văn hoá - xã hội chuyển biến tích cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cơ bản ổn định, công tác quân sự, quốc phòng địa phương được tăng cường

+ Nông nghiệp và nông thôn

Ở Kinh Môn hiện nay, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính đóng góp vào phát triển kinh tế và ổn định đời sống nhân dân Kinh tế nông nghiệp

và nông thôn có bước chuyển biến khá mạnh nhờ chú trọng các biện pháp thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mùa vụ, tổ chức sản xuất theo mô hình kinh tế tiên tiến, hình thành các vùng sản xuất tập trung

Tổng diện tích gieo trồng năm 2013 là 17.348 ha, đạt 100% kế hoạch, tăng 0,01% so với năm 2012 Trong đó: Diện tích lúa 12.437 ha, giảm 1,2%; năng suất cả năm 117,2 tạ/ha, giảm 3,3% so với năm 2012; sản lượng đạt 72.904 tấn Diện tích cây hàng năm khác 4.911 ha, tăng 3,32% so với năm 2012 (vụ đông 3.945 ha, tăng 2,5% ) Giá trị sản phẩm/1ha đất canh tác đạt 158 triệu đồng

Chăn nuôi tập trung tiếp tục phát triển thay thế dần hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ trong dân cư Tổng đàn trâu 254 con, giảm 6,3%; đàn bò 1.785 con, giảm 6% Đàn lợn 71.500 con, tăng 0,2%; đàn gia cầm 912.000 con, tăng 5,1% Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 12.719 tấn, tăng 6,1% Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 573 ha, sản lượng 3.700 tấn, tăng 0,5%

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, Kinh Môn có nhiều ngành nghề truyền thống, có giá trị kinh tế văn hóa, có thể tạo ra những sản phẩm

Trang 40

mang thương hiệu đặc sản của vùng miền như: nghề trồng lúa nếp đặc sản nếp cái hoa vàng (Duy Tân, An Phụ, Phạm Mệnh), trạm khắc đá (Phạm Mệnh)…

Các loại hình dịch vụ nông nghiệp cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, làm đất, tưới tiêu, tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, phòng, trừ sâu, bệnh, dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng

Công tác quản lý, kiểm tra, xử lý vi phạm đê điều được quan tâm thường xuyên; hoàn thành việc tu bổ đê điều, bảo dưỡng các cống dưới đê và

xử lý ẩn hoạ trong đê đúng tiến độ đáp ứng yêu cầu của công tác phòng chống lụt, bão Làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng,

Chương trình xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo thực hiện Tổng nguồn vốn triển khai xây dựng nông thôn mới năm 2013 đạt 215

tỷ đồng Trong đó ngân sách tỉnh 8,7 tỷ, ngân sách huyện 6,6 tỷ, ngân sách xã 29,3 tỷ, vốn doanh nghiệp 49 tỷ, vốn dân đóng góp 25,8 tỷ đồng, các nguồn vốn khác 95,6 tỷ đồng Đến nay có 02 xã đạt 13 đến 16 tiêu chí (Thượng Quận, Duy Tân); 09 xã đạt từ 10 đến 12 tiêu chí và 11 xã đạt từ 7 đến 9 tiêu chí 100% các xã đã hoàn thành quy hoạch nông thôn mới, 10/22 xã đã hoàn thành đề án xây dựng nông thôn mới, đạt 45,5 %kế hoạch

+ Công nghiệp, xây dựng:

Những năm gần đây, công nghiệp đã trở thành ngành sản xuất chính đóng góp lớn vào phát triển kinh tế của huyện GDP ngành công nghiệp - xây dựng duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, bình quân giai đoạn

2011 - 2013 đạt 299 tỷ/năm trong đó tăng trưởng mạnh nhất là ngành sản xuất sản phẩm vật liệu xây dựng Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2013

so với năm 2012: Đá xây dựng tăng 16,9%; Xi măng tăng 1,4%; Giấy các loại tăng 10,2%; Than coke tăng 6%; Thép xây dựng tăng 13,2%; Vôi giảm 23,9%; Gạch đất nung giảm 23,1%

Ngày đăng: 08/03/2015, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác (1984), Bộ tư bản, Tập thứ nhất, quyển I, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tư bản, Tập thứ nhất
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1984
2. C.Mác và Ph.Ăng ghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
3. Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trình chính sách kinh tế-xã hội, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chính sách kinh tế-xã hội
Tác giả: Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2000
4. Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (1999), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật lao động Việt Nam
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1999
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Đặng Tú Lan (2001), Giải quyết việc làm ở Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm ở Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đặng Tú Lan
Năm: 2001
8. Hà Quý Tình (2004), Hoàn thiện các chính sách vĩ mô của Nhà nước để tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các chính sách vĩ mô của Nhà nước để tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Hà Quý Tình
Năm: 2004
10.Học viện Hành chính Quốc gia, Quản lý nguồn nhân lực xã hội, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn nhân lực xã hội
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
11.Hội đồng Lý luận Trung ương (1999), Giáo trình kinh tế học chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế học chính trị Mác- Lê nin
Tác giả: Hội đồng Lý luận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
17.Lưu Ngọc Trịnh (1996), Chiến lược con người trong "thần kỳ" kinh tế Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: thần kỳ
Tác giả: Lưu Ngọc Trịnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
18.Nguyễn Bá Ngọc - Trần Văn Hoan (2002), Toàn cầu hoá: Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá: Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bá Ngọc - Trần Văn Hoan
Nhà XB: Nxb Lao động-xã hội
Năm: 2002
19.Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung (1997), Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
20.Nguyễn Thị Lan Hương (2002), Thị trường lao động Việt Nam - định hướng và phát triển, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động Việt Nam - định hướng và phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb Lao động-xã hội
Năm: 2002
21.Nguyễn Thị Mai Lan (2000), Thất nghiệp ở nước ta hiện nay: Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thất nghiệp ở nước ta hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Lan
Năm: 2000
22.Nguyễn Thị Mỹ Hương (2004), Thị trường lao động ở Nghệ An - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động ở Nghệ An - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Hương
Năm: 2004
23.Nông Đức Vinh (2004), Việc làm ở Lạng Sơn: Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm ở Lạng Sơn: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nông Đức Vinh
Năm: 2004
24.Phạm Khánh Hòa (2012), “Việc làm cho nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Hà Tĩnh”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Việc làm cho nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Hà Tĩnh”
Tác giả: Phạm Khánh Hòa
Năm: 2012
25.Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
30.Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2005), Những tác động tới việc làm, đời sống của người lao động và các giải pháp hoạt động công đoàn khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Những tác động tới việc làm, đời sống của người lao động và các giải pháp hoạt động công đoàn khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Tác giả: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w