ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư thanh quản (UTTQ) là bệnh tương đối phổ biến ở các nước Âu Mỹ. Theo ước tính của Hội ung thư học lâm sàng Mỹ (ASCO) cho UTTQ và UTHH ở Mỹ vào năm 2010 có 12.720 trường hợp UTTQ mới mắc; 3.600 trường hợp tử vong vì UTTQ và mỗi năm có 2.850 trường hợp mới mắc UTHH. Tại Việt Nam, loại ung thư này cũng đứng hàng thứ hai trong các ung thư vùng đầu - cổ (UTĐC) , chỉ sau ung thư vòm mũi họng [1], [10]. Bệnh thường gặp nhiều ở nam giới, lứa tuổi từ 55 đến 65. Liên quan chặt chẽ với tình trạng hút thuốc và tiêu thụ quá nhiều rượu. Các tình trạng này tạo nên những thay đổi của lớp niêm mạc biểu mô phủ bề mặt thanh quản và hạ họng [3]. Cho đến nay, mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán nhưng do các triệu chứng bệnh thường mơ hồ, tổn thương nằm sâu, khó phát hiện, dễ bỏ sót do khi khám Tai - Mũi - Họng thông thường nên khi được phát hiện bệnh thường đã ở giai đoạn (GĐ) muộn. Có đến trên 80% bệnh nhân (BN) đến ở GĐ III-IV [6]. Theo kinh điển, phẫu thuật là phương pháp điều trị được lựa chọn cho 2 loại ung thư này, những trường hợp ở GĐ muộn thường phải cắt bỏ toàn bộ thanh hầu, làm mất chức năng cơ quan, mang lỗ thở suốt đời ảnh hưởng đến chất lượng sống thêm. Đặc biệt khi bệnh ở giai đoạn quá muộn không còn khả năng phẫu thuật được, tiên lượng thường rất xấu. Điều trị GĐ này phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng toàn thân của BN. Nếu trước đây chỉ xạ trị mang tính chất giảm nhẹ triệu chứng cho BN thì ngày nay, suốt 30 năm thử nghiệm lâm sàng (TNLS) thêm hóa trị kết hợp xạ trị trên những BN thể trạng còn tốt, các chỉ số huyết học, gan, thận bình thường thu được các hiệu quả về kiểm soát bệnh tại chỗ-vùng, tăng thời gian sống thêm, nhưng kèm theo là tăng tác dụng không mong muốn của điều trị. Hóa xạ trị đồng thời (với thuốc cơ bản là cisplatin) đã được coi như điều trị chuẩn thay thế cho xạ trị đơn thuần trong những ung thư đầu cổ (UTĐC) GĐ không còn mổ được. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa được thống nhất, các tác giả đều có khuyến cáo, cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra phác đồ phù hợp [4], [6]. Ở Việt Nam, từ năm 2005, Bệnh viện K đã áp dụng phương pháp hóa-xạ đồng thời để điều trị cho các bệnh nhân ung thư hạ họng-thanh quản (HHTQ) giai đoạn muộn không mổ được [10]. Đã có nhiều đề tài y học nghiên cứu vể đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị hóa xạ trị ung thư hạ họng-thanh quản, nhưng rất ít đề tài nghiên cứu về chăm sóc điều dưỡng. Do vậy, để góp phần chăm sóc, theo dõi tốt hơn những bệnh nhân này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát công tác chăm sóc bệnh nhân sau hóa, xạ đồng thời ung thư hạ họng thanh quản tại Trung tâm Ung bướu BVTW Huế” nhằm mục tiêu - Đánh giá công tác chăm sóc bệnh nhân ung thư HHTQ được điều trị bằng hóa xạ đồng thời tại Trung tâm Ung bướu bệnh viện Trung ương Huế.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thanh quản (UTTQ) là bệnh tương đối phổ biến ở các nước Âu Mỹ Theo ước tính của Hội ung thư học lâm sàng Mỹ (ASCO) cho UTTQ và UTHH ở Mỹ vào năm 2010 có 12.720 trường hợp UTTQ mới mắc; 3.600 trường hợp tử vong vì UTTQ và mỗi năm có 2.850 trường hợp mới mắc UTHH Tại Việt Nam, loại ung thư này cũng đứng hàng thứ hai trong các ung thư vùng đầu - cổ (UTĐC) , chỉ sau ung thư vòm mũi họng [1], [10]
Bệnh thường gặp nhiều ở nam giới, lứa tuổi từ 55 đến 65 Liên quan chặt chẽ với tình trạng hút thuốc và tiêu thụ quá nhiều rượu Các tình trạng này tạo nên những thay đổi của lớp niêm mạc biểu mô phủ bề mặt thanh quản và hạ họng [3]
Cho đến nay, mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán nhưng do các triệu chứng bệnh thường mơ hồ, tổn thương nằm sâu, khó phát hiện, dễ bỏ sót do khi khám Tai - Mũi - Họng thông thường nên khi được phát hiện bệnh thường đã ở giai đoạn (GĐ) muộn Có đến trên 80% bệnh nhân (BN) đến ở GĐ III-IV [6]
Theo kinh điển, phẫu thuật là phương pháp điều trị được lựa chọn cho 2 loại ung thư này, những trường hợp ở GĐ muộn thường phải cắt bỏ toàn bộ thanh hầu, làm mất chức năng cơ quan, mang lỗ thở suốt đời ảnh hưởng đến chất lượng sống thêm Đặc biệt khi bệnh ở giai đoạn quá muộn không còn khả năng phẫu thuật được, tiên lượng thường rất xấu Điều trị GĐ này phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng toàn thân của
BN Nếu trước đây chỉ xạ trị mang tính chất giảm nhẹ triệu chứng cho BN thì ngày nay, suốt 30 năm thử nghiệm lâm sàng (TNLS) thêm hóa trị kết hợp xạ trị trên những
BN thể trạng còn tốt, các chỉ số huyết học, gan, thận bình thường thu được các hiệu quả về kiểm soát bệnh tại chỗ-vùng, tăng thời gian sống thêm, nhưng kèm theo là tăng tác dụng không mong muốn của điều trị Hóa xạ trị đồng thời (với thuốc cơ bản là cisplatin) đã được coi như điều trị chuẩn thay thế cho xạ trị đơn thuần trong những ung thư đầu cổ (UTĐC) GĐ không còn mổ được Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa được thống nhất, các tác giả đều có khuyến cáo, cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra phác đồ phù hợp [4], [6]
Trang 2Ở Việt Nam, từ năm 2005, Bệnh viện K đã áp dụng phương pháp hóa-xạ đồng thời để điều trị cho các bệnh nhân ung thư hạ họng-thanh quản (HHTQ) giai đoạn muộn không mổ được [10]
Đã có nhiều đề tài y học nghiên cứu vể đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị hóa
xạ trị ung thư hạ họng-thanh quản, nhưng rất ít đề tài nghiên cứu về chăm sóc điều dưỡng Do vậy, để góp phần chăm sóc, theo dõi tốt hơn những bệnh nhân này, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát công tác chăm sóc bệnh nhân sau hóa, xạ đồng thời ung thư hạ họng thanh quản tại Trung tâm Ung bướu BVTW Huế” nhằm mục tiêu
- Đánh giá công tác chăm sóc bệnh nhân ung thư HHTQ được điều trị bằng hóa
xạ đồng thời tại Trung tâm Ung bướu bệnh viện Trung ương Huế
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Ung thư thanh quản và ung thư hạ họng là những loại ung thư rất phổ biến trong TMH, bệnh không những ảnh hưởng trầm trọng đến các chức năng thở, nuốt và nói mà còn có thể nguy hại đến tính mạng Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời
Hình 1.1 Giải phẫu họng
Cấu tạo của hạ họng từ trong ra ngoài, gồm 4 lớp:
- Lớp niêm mạc và lớp dưới niêm mạc ở trong cùng, có chứa một số lượng lớn tuyến nhầy và nang lympho
- Lớp cân hầu trong
- Lớp cơ khít hầu
- Lớp cân hầu ngoài ở ngoài cùng
Trang 41.1.2 Thanh quản
Có các chức năng thở, phát âm và bảo vệ Thanh quản là một phần của đường
hô hấp và là bộ phận chủ yếu của sự phát âm
Thanh quản nằm ở giữa và phía trước của vùng cổ, dưới xương móng, trên khí quản ở người lớn, bờ dưới thanh quản tương ứng với bờ dưới đốt sống cổ thứ 6
Cấu tạo của thanh quản gồm có:
Riêng ung thư thanh quản chiếm 4% trong các loại ung thư Tuổi hay gặp nhất
từ 45 – 65 tuổi Nam gặp nhiều hơn nữ với tỉ suất là 5/1 Nghề nghiệp làm ruộng bị mắc bệnh cao, chiếm tỉ lệ đến 95% Nông thôn gặp nhiều hơn ở thành thị
1.3 CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
Ngoài các giả thuyết chung về ung thư, K thanh quản và hạ họng có các yếu tố nguy cơ sau:
Các dấu hiệu chung giúp phát hiện ung thư thanh quản, hạ họng tùy thuộc vào
vị trí và sự lan tràn của khối u, bao gồm:
Trang 5- Đối với ung thư thanh quản: Khàn tiếng kéo dài là dấu hiệu quan trọng nhất
Khó thở khi khối u đã to Nếu khối u lan vào hạ họng sẽ có thêm các triệu chứng của ung thư hạ họng và được gọi là ung thư thanh quản – hạ họng
- Đối với ung thư hạ họng: nuốt khó, nuốt đau, đau tai phản xạ Nếu khối u lan
vào thanh quản sẽ có thêm các triệu chứng của ung thư thanh quản và được gọi là ung thư hạ họng – thanh quản
- Chung cho 2 loại ung thư: hạch cổ, thể trạng gầy sút
Nhất là khi các dấu hiệu trên xuất hiện ở người lớn tuổi (nhất là nam giới), nghiện thuốc lá-rượu, không đáp ứng với các điều trị thông thường
Hình 1.2 Mức hạch cổ thực hành trên lâm sàng
Thanh quản, nhất là tầng thanh môn, có mạng lưới bạch huyết nghèo nàn Do
đó, trong ung thư thanh quản, hạch cổ thường bị di căn muộn, tiên lượng khá hơn
Hạ họng có mạng lưới bạch huyết phong phú Khi ung thư, hạch cổ thường bị di căn sớm nên tiên lượng xấu
Trang 6Chú ý:
+ Một hạch > 3 cm luôn luôn vỡ bao về mặt mô học
+ Cần khám tuyến giáp khi khám cổ
* Khám họng-thanh quản
- Soi thanh quản-hạ họng gián tiếp
- Một số trường hợp đặc biệt, cần dùng đến ống soi mềm đặt qua mũi
Khi soi cần quan sát kỹ mọi bất thường của niêm mạc để phát hiện khối u, sự di động của đáy lưỡi, sự di động của dây thanh và sụn phễu
- Chú ý khám ngăn giáp-móng-thanh thiệt và đánh giá tình trạng răng miệng
1.4.3 Khám cận lâm sàng
* Nội soi toàn bộ
Dùng ống soi cứng với gây mê để nội soi toàn bộ gồm: hạ họng, thanh quản, thực quản, phế quản, vòm mũi họng; qua đó tiến hành sinh thiết u
Chú ý phát hiện khối ung thư thứ hai, nhất là ở thực quản và phế quản
- Chụp phim phổi để phát hiện di căn phổi
- Chụp phim răng toàn cảnh để đánh giá tình trạng răng
- Phim X quang vùng cổ ít có giá trị
1.4.4 Chấn đoán phân biệt
Cần phân biệt ung thư thanh quản với u nhú, lao hoặc giang mai ở thanh quản
và hạ họng
Trang 71.5 NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Có sự phối hợp của 4 phương pháp điều trị: phẫu thuật, tia xạ, hóa chất và miễn dịch
1.5.1 Phẫu thuật
- Đối với khối u: Ưu tiên hàng đầu là cắt bỏ rộng khối u cả khối, tôn trọng ranh
giới an toàn, kế đến là bảo tồn hoặc phục hồi tái tạo chức năng của vùng họng-thanh quản
Trường hợp đặc biệt: ung thư 1/3 giữa ở một dây thanh còn di động tốt, không
có hạch cổ Điều trị: Cắt dây thanh đơn thuần hoặc xạ trị với 70 Gy, kết quả khoảng 90% sống trên 5 năm
- Đối với hạch cổ: Phẫu thuật nạo vét hạch cổ cùng một thì với cắt bỏ khối u
1.5.2 Tia xạ
Tia xạ Co60 hoặc gia tốc qua da vào vùng họng-thanh quản và hạch cổ 2 bên: Trường chiếu vào u vùng họng-thanh quản theo:
+ Giới hạn trên đi qua bờ dưới ống tai ngoài
+ Giới hạn trước là vùng da trước cổ (vùng khí quản được che chì)
+ Giới hạn dưới là miệng thực quản
+ Giới hạn sau là bờ xương chũm
Trường chiếu vào hạch cổ cả 2 bên:
Liều tia thông thường từ 65-70Gy nếu hạch chưa bị thâm nhiễm thì liều tia có thể chỉ dùng từ 40-30Gy
Trang 81.6 PHÒNG BỆNH VÀ TIÊN LƯỢNG
Ngoài các biện pháp dự phòng nói chung như đối với ung thư vòm, cần chú ý đối với những người trên 40 tuổi bị khàn tiếng, nuốt vướng và nuốt đau kéo dài trên 3 tuần, không có triệu chứng viêm nhiễm hoặc đã điều trị 1 đợt kháng sinh không đỡ thì phải cảnh giác một ung thư thanh quản hoặc ung thư hạ họng Ngoài ra, cần hạn chế thuốc lá và rượu
Nếu ung thư còn khu trú thì tiên lượng tốt Ung thư thanh quản có tỉ lệ sống > 5 năm từ 60-85% Ung thư hạ họng có tiên lượng xấu hơn ung thư thanh quản 3-4 lần
1.7 CÔNG TÁC CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG BỆNH NHÂN UNG THƯ HẠ HỌNG-THANH QUẢN
1.7.1 Nhận định về các vấn đề cần chăm sóc
- Chăm sóc tinh thần
- Chăm sóc vệ sinh ăn uống, ngủ
- Theo dõi chăm sóc khi có biến chứng do hóa xạ
1.7.2 Lập kế hoạch chăm sóc bao gồm:
Tùy theo tình trạng người bệnh, lựa chọn vấn đề ưu tiên chăm sóc:
- Trao đổi về người bệnh về những vấn đề cần làm trong quá trình chăm sóc người bệnh để người bệnh yên tâm và cảm thấy thoải mái
- Theo dõi tình trạng : ít nhất 1 lần / ngày
- Theo dõi các dấu hiệu cơ năng để đánh giá tiến triển của người bệnh : ít nhất
6 giờ / lần
- Theo dõi đại tiểu tiện
- Động viên người bệnh và người nhà của người bệnh để người bệnh bớt lo âu
- Hỗ trợ người bệnh trong các vấn đề: ăn uống, vận động, vệ sinh
Những thực phẩm chứa nhiều protein như sữa bò, trứng gà, các loại cá, các loại thịt gia câm, các sản phẩm từ đậu; các thức ăn chứa nhiều chất xơ như gan động vật,
củ cải, cà chua, chanh, hoa quả… đặc biệt là các loại thực phẩm có tác dụng chống lại ung thư như củ cải, nấm hương, mộc nhĩ, các loại đỗ, măng tây, hạt cựa…
- Thực hiện y lệnh của bác sĩ về chế độ thuốc, thủ thuật
Trang 9-Theo dõi và phát hiện sớm những tác dụng phụ hoặc tai biến của thuốc để báo cáo với bác sĩ kịp thời
- Giải thích và hướng dẫn người bệnh xử trí các tác dụng phụ của thuốc, đặc biệt trong những trường hợp dùng hóa chất trị liệu
- Hỗ trợ người bệnh trong quá trình thực hiện các xét nghiệm
1.7.3 Thực hiện kế hoạch chăm sóc
Thực hiện theo kế hoạch chăm sóc đã lập
Trang 10Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Người bệnh đang điều trị ung thư hạ họng-thanh quản (HHTQ) bằng hóa, xạ tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện trung ương Huế
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng
- Người bệnh đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu
- Người đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người có khiếm khuyết khả năng nghe nói
- Người không đồng ý tham gia phỏng vấn
- Người quá mệt không thể trả lời phỏng vấn
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ ngày 22/4/2014 đến ngày 6/5/2014 tại Trung tâm Ung bướu bệnh viện Trung ương Huế
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn ngẫu nhiên 34 bệnh nhân ung thư HHTQ đang điều trị hóa xạ tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện trung ương Huế tiến hành phỏng vấn theo phiếu điều tra thiết kế sẵn
2.2.3 Tiến độ nghiên cứu
- 25/4/2014 đến 28/4/2014: phỏng vấn
- 29/4/2013 đến 30/4/2014: xử lí số liệu
- 1/5/2014 đến 6/5/2014: viết báo cáo
Trang 112.2.4 Phương pháp điều tra số liệu
- Dùng phiếu điều tra gồm 17 câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với mọi trình
độ và nhận thức đối tượng nghiên cứu
- Phỏng vấn trực tiếp 34 bệnh nhân ung thư HHTQ để thu thập thông tin về tình hình chăm sóc bệnh nhân sau hóa xạ trị tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện trung ương Huế
2.2.5 Biến số nghiên cứu
-Tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp của các bà mẹ
- Các biến số của 17 câu hỏi ở phiếu điều tra
2.2.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
+ Đánh giá công tác chăm sóc bệnh nhân sau hóa xạ trị ung thư HHTQ
2.3 XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê thông thường với Excel 2007
- Số liệu được trình bày dưới dạng số và tỷ lệ %
Trang 12Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua phỏng vấn điều tra 34 bệnh nhân UT HHTQ về công tác chăm sóc bệnh nhân sau hóa, xạ trị tại Trung tâm ung bướu BVTW Huế, chúng tôi có kết quả như sau:
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
Trang 143.2 CÔNG TÁC CHĂM SÓC BỆNH NHÂN UNG THƯ HHTQ SAU HÓA XẠ
100% bệnh nhân đều biết mình bị ung thư HHTQ
3.2.1 Được giải thích các yếu tố nguy cơ bệnh UT HHTQ
Bảng 3.4 Tỷ lệ biết khi nghe giải thích yếu tố nguy cơ bệnh UT HHTQ
Yếu tố nguy cơ bệnh UT HHTQ n Tỷ lệ %
100% bệnh nhân vào điều trị đều sụt cân
3.2.3 Được giải thích về nguyên nhân ung thư HHTQ
Bảng 3.6 Tỷ lệ biết khi được giải thích nguyên nhân UT hạ họng, thanh quản
Nhận xét:
91,2% bệnh nhân do nghiện thuốc lá mạn tính, 85,3% do nghiện rượu
Trang 153.2.4 Lo lắng khi bị ung thư HHTQ
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ lo lắng của bệnh nhân UT HHTQ
- 85,3% bệnh nhân rất lo lắng khi bị UT HHTQ, chỉ có 5,9% bệnh nhân bi quan, và 8,8% không lo lắng
3.2.5 Giải thích phương pháp điều trị
Bảng 3.7 Tỷ lệ biết khi nghe NVYT giải thích phương pháp điều trị
Bệnh nhân có nghe NVYT giải thích là 100% được hóa xạ đồng thời
3.2.6 Được giải thích về tác dụng phụ và biến chứng UT HHTQ
Bảng 3.8 Tỷ lệ hiểu biết tác dụng phụ và biến chứng UT HHTQ
Trang 163.2.7 Thái độ của nhân viên y tế khi chăm sóc
Bảng 3.9 Thái độ của nhân viên y tế khi chăm sóc
Thái độ của nhân viên y tế khi chăm sóc n Tỷ lệ %
Tổng 34 100
Nhận xét: 88,2% nhân viên y tế tận tình và có trách nhiệm
3.2.8 Giải thích và chia sẽ, động viên sự băn khoăn, lo lắng
Bảng 3.10 Giải thích và chia sẽ, động viên sự băn khoăn, lo lắng
Chia sẽ, động viên sự băn khoăn, lo lắng n Tỷ lệ %
Nhận xét:
94,1% nhân viên y tế đã chia sẽ, động viên sự băn khoăn, lo lắng
3.2.9 Theo dõi dấu hiệu sống hằng ngày
Bảng 3.11 Theo dõi dấu hiệu sống hằng ngày
Theo dõi dấu hiệu sống hằng ngày n Tỷ lệ %
Theo dõi thường xuyên 45 100
Nhận xét:
100% nhân viên y tế theo dõi dấu hiệu sống hằng ngày
Trang 173.2.10 Hướng dẫn chế độ dinh dưỡng khi đang điều trị
Bảng 3.12 Hướng dẫn chế độ dinh dưỡng khi đang điều trị
Hướng dẫn chế độ dinh dưỡng
khi đang điều trị
Hướng dẫn rõ ràng 29 85,3 Hướng dẫn sơ sài 5 14,7
Nhận xét:
- 85,3% bệnh nhân được NVYT hướng dẫn chế độ dinh dưỡng rõ ràng
3.2.11 Hướng dẫn chăm sóc chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi phù hợp
Bảng 3.13 Hướng dẫn chăm sóc chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi phù hợp
Hướng dẫn chăm sóc chế độ sinh hoạt,
Trang 183.2.13 Biện pháp giảm đau
Bảng 3.15 Biện pháp giảm đau
Dùng thuốc theo chỉ định của bác sỹ 34 100,0
Nhận xét:
100% bệnh nhân được giảm đau bằng dùng thuốc theo chỉ định của bác sỹ
3.2.14 Hướng dẫn chăm sóc và phát hiện các biến chứng
Bảng 3.16 Hướng dẫn chăm sóc và phát hiện các biến chứng
Hướng dẫn chăm sóc và phát hiện các
Có 91,2% nhân viên y tế hướng dẫn chăm sóc và phát hiện các biến chứng
3.2.15 Hướng dẫn vệ sinh cá nhân, giáo dục sức khỏe, an toàn thực phẩm
Bảng 3.17 Hướng dẫn vệ sinh cá nhân , giáo dục sức khỏe, tái khám định kỳ
Trang 19Chương 4 BÀN LUẬN
Qua phỏng vấn điều tra 34 bệnh nhân UT HHTQ về chăm sóc điều dưỡng bệnh nhân sau hóa, xạ trị tại Trung tâm ung bướu BVTW Huế chúng tôi có nhận xét và bàn luận như sau:
4.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
Kết quả của chúng tôi qua biểu đồ 3.1.cho thấy nhóm > 45 tuổi bệnh nhân ung thư HHTQ chiếm tỷ lệ cao (85,3%), trong đó nhóm 41-50 tuổi có 19 trường hợp chiếm 55,9% Chỉ có 14,7% bệnh nhân ung thư HHTQ ở nhóm < 45 tuổi Kết quả nghiên cứu trên 60 bênh nhân, Ngô Thanh Tùng (2011) ghi nhận nhóm 40-60 tuổi chiếm 76,7% [2]
Bệnh thường gặp nhiều ở nam giới, lứa tuổi từ 55 đến 65 Liên quan chặt chẽ với tình trạng hút thuốc và tiêu thụ quá nhiều rượu Các tình trạng này tạo nên những thay đổi của lớp niêm mạc biểu mô phủ bề mặt thanh quản và hạ họng [3]
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nam bệnh nhân UT HHTQ chiếm 94,1% cao gấp nhiều lần nữ (5,9%%)
Qua bảng 3.2 cho thấy phần lớn bệnh nhân làm ruộng chiếm 35,3%, tiếp đến già và hưu trí chiếm 29,4% CNV chiếm 23,5%
Đa số các bệnh nhân ung thư HHTQ có học vấn THCS chiếm 41,2% ( Biểu đồ 3.3)
Lý do vào viện chủ yếu qua các triệu chứng Nuốt khó, nuốt đau (88,2%),
khàn tiếng (82,4%), hạch cổ (61,8%) ( bảng 3.23),
Trong các nghiên cứu về UTTQ, lý do làm bệnh nhân khó chịu phải đi khám bệnh chủ yếu là khàn tiếng Đối với bệnh UT HHTQ cần phải phát hiện sớm để có thể điều trị lành bệnh sớm hơn là phát hiện muộn
4.2 CÔNG TÁC CHĂM SÓC BỆNH NHÂN UNG THƯ HHTQ SAU HÓA TRỊ
Tâm lý khi mới phát hiện bệnh ung thư, người nhà, y bác sỹ thường dấu bệnh nhân đang mắc bệnh K Để tránh sốc do khủng hoảng tâm lý Tuy nhiên, khi bệnh nhân đã năm điều trị tại Trung tâm Ung bướu thì không thể không biết mình đang mắc