ÐẶT VẤN ÐỀ Tiểu không kiểm soát (TKKS) hay són tiểu là hiện tượng thoát nước tiểu qua miệng sáo không theo ý muốn, dược Tổ chức Y tế Thế giới nhận dịnh là một bệnh lý phổ biến có tính chất toàn cầu nhưng là một trong những linh vực còn ít dược ngành y tế ở nhiều quốc gia quan tâm dến. Ước tính có tới hon 200 triệu người trên toàn thế giới phải chung sống với chứng són tiểu [39]. Bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ với tỉ lệ khoảng 27, 6% (dao dộng từ 4, 8 –58, 4%) [18], [37]. Với phụ nữ ở dộ tuổi lao dộng, TKKS chiếm tỉ lệ 25 - 40% [ 31], [35]. Ở Việt nam, tỷ lệ mắc són tiểu là 25. 4% [4]. Tình trạng thừa cân, thai nghén (dẻ thai to, sinh dẻ nhiều), tuổi tác, mãn kinh và bệnh lý phối hợp (táo bón, viêm dường tiết niệu) là các yếu tố nguy co thường dược nhắc tới [31]. Tuy không nguy hiểm dến tính mạng nhưng tiểu không kiểm soát là một gánh nặng tâm lý làm giảm chất lượng sống. Người phụ nữ mắc chứng TKKS thường cảm thấy buồn bã, kém tự tin, xấu hổ, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, không muốn hoà nhập với xã hội. TKKS cung gây mất khả nang tập trung làm việc, giảm nang suất lao dộng, các quan hệ xã hội, bạn bè bị hạn chế, hạnh phúc gia dình bị de doạ. TKKS còn gây tốn kém cho dịch vụ y tế và cá nhân người bị mắc có cuộc sống giảm chất lượng về nhiều mặt do tâm lý lo lắng, xấu hổ, buồn chán, khó hoà nhập cộng dồng. Không ít phụ nữ bị dau hay bị ra nước tiểu trong khi giao hợp khiến họ mặc cảm, lảng tránh quan hệ tình dục, mất di hạnh phúc gia dình.. Hiện nay có 3 phưong pháp chính dể diều trị TKKS: nội khoa, tập phục hồi chức nang (TPHCN) và phẫu thuật. Tập phục hồi chức nang co dáy chậu bằng bài tập Kegel, kích thích xung diện, phản hồi sinh học có thể cải thiện và diều trị khỏi cho khoảng 70% - 90% các trường hợp TKKS nên vẫn là lựa chọn dầu tiên do tính an toàn, hiệu quả cao và ít tốn kém. Tập sớm trong thời kỳ mang thai và sau sinh có khả nang phòng TKKS và sa sinh dục. Mang thai, sinh dẻ làm tang nguy co són tiểu nhưng dưong nhiên chúng ta không thể khuyên người phụ nữ từ bỏ thiên chức của mình là sinh ra những người con cho xã hội. Làm sao hạn chế những yếu tố nguy co trong sản khoa, áp dụng tập phục hồi chức nang co dáy chậu trước và sau dẻ sẽ là các biện pháp hữu hiệu góp phần phòng ngừa són tiểu. Do vậy chuyên dề này dược thực hiện nhằm mục dích: - Trình bày những kiến thức co bản về tỷ lệ mắc bệnh, nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng của rối loạn chức nang sinh dục - tiết niệu sau sinh. - Trình bày một số biện pháp diều trị và phòng rối loạn chức nang sinh dục - tiết niệu sau sinh.
Trang 1Tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng tiểu không kiểm soát là một gánh nặng tâm lý làm giảm chất lượng sống Người phụ nữ mắc chứng TKKS thường cảm thấy buồn bã, kém tự tin, xấu hổ, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, không muốn hoà nhập với xã hội TKKS cũng gây mất khả năng tập trung làm việc, giảm năng suất lao động, các quan hệ xã hội, bạn bè bị hạn chế, hạnh phúc gia đình bị đe doạ TKKS còn gây tốn kém cho dịch vụ y tế và cá nhân người bị mắc có cuộc sống giảm chất lượng về nhiều mặt do tâm lý lo lắng, xấu hổ, buồn chán, khó hoà nhập cộng đồng Không ít phụ nữ bị đau hay bị ra nước tiểu trong khi giao hợp khiến họ mặc cảm, lảng tránh quan hệ tình dục, mất đi hạnh phúc gia đình
Hiện nay có 3 phương pháp chính để điều trị TKKS: nội khoa, tập phục hồi chức năng (TPHCN) và phẫu thuật Tập phục hồi chức năng cơ đáy chậu bằng bài tập Kegel, kích thích xung điện, phản hồi sinh học có thể cải thiện và điều trị khỏi cho khoảng 70% - 90% các trường hợp TKKS nên vẫn là lựa chọn đầu tiên do tính
an toàn, hiệu quả cao và ít tốn kém Tập sớm trong thời kỳ mang thai và sau sinh có khả năng phòng TKKS và sa sinh dục
Mang thai, sinh đẻ làm tăng nguy cơ són tiểu nhưng đương nhiên chúng ta không thể khuyên người phụ nữ từ bỏ thiên chức của mình là sinh ra những người con cho xã hội Làm sao hạn chế những yếu tố nguy cơ trong sản khoa, áp dụng tập phục hồi chức năng cơ đáy chậu trước và sau đẻ sẽ là các biện pháp hữu hiệu góp
Trang 2Do vậy chuyên đề này đƣợc thực hiện nhằm mục đích:
- Trình bày những kiến thức cơ bản về tỷ lệ mắc bệnh, nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng của rối loạn chức năng sinh dục - tiết niệu sau sinh
- Trình bày một số biện pháp điều trị và phòng rối loạn chức năng sinh dục - tiết niệu sau sinh
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 TỶ LỆ MẮC RỐI LOẠN CHỨC NĂNG SINH DỤC - TIẾT NIỆU
Rối loạn chức năng sinh dục – tiết niệu (SD - TN) sau sinh là bệnh lý có tính chất
phổ biến toàn cầu, chiếm tỷ lệ 25% ở phụ nữ mọi lứa tuổi [31], [35] Các rối loạn
bao gồm: tiểu không kiểm soát (TKKS), són phân, bất thường trong quan hệ tình
dục (giảm hưng phấn, đau, són tiểu khi giao hợp) Tuy không nguy hiểm đến tính
mạng nhưng gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý, công việc, chất lượng sống và hạnh
phúc gia đình của người bị mắc
Biểu đồ 1 1 - Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi
(Theo Norton - 2006 - Lancet) [39]
1 2 SINH LÝ TIỂU TIỆN VÀ SINH LÝ BỆNH CỦA TIỂU KHÔNG
KIỂM SOÁT
1 2 1 Các yếu tố tham gia duy trì sự tự chủ trong tiểu tiện
Sự tự chủ hay kiểm soát tiểu tiện được quyết định bởi một phức hợp bao gồm
nhiều yếu tố: hệ thống thần kinh, bàng quang, niệu đạo, cơ đáy chậu và các tổ chức
liên kết bao quanh Thay đổi của một trong các yếu tố kể trên sẽ dẫn đến sự thoát
nước tiểu không theo ý muốn (són tiểu)
Sự tự chủ bình thường được duy trì khi áp lực của cổ bàng quang và niệu đạo
Trang 4duy trì và điều khiển bởi sự phối hợp phức tạp của hệ thống bàng quang, niệu đạo, cân, dây chằng, cơ đáy chậu và thần kinh Quá trình chứa và lưu giữ nước tiểu được kiểm soát một cách có ý thức và được điều chỉnh thông qua trung tâm tiểu tiện Mối liên quan của bàng quang, niệu đạo với các cơ quan và thành phần trong tiểu khung được thể hiện qua thiết đồ đứng dọc qua tiểu khung (Hình 1 1)
Hình 1 1 - Thiết đồ cắt dọc qua hố chậu [9]
1 2 1 1 Bàng quang
Bàng quang có thể giãn ra theo lượng nước tiểu chứa trong lòng (thể tích lấp đầy sinh lý là khoảng 500 - 600ml) và thay đổi để tăng thể tích mà không tăng áp lực trong lòng bàng quang Cơ chế giãn này không gặp ở bất cứ cơ quan nào khác nhờ chức năng đặc biệt của cơ trơn thành bàng quang và điều chỉnh thần kinh [10]
1 2 1 2 Niệu đạo và các yếu tố tham gia tạo áp lực đóng cổ bàng quang - niệu đạo
Có nhiều yếu tố phối hợp: chiều dài chức năng niệu đạo, niêm mạc phủ, tổ chức liên kết chun giãn, cơ trơn, mạch máu, cơ vân quanh niệu đạo và cơ đáy chậu [5]:
- Chiều dài niệu đạo: Niệu đạo phụ nữ bình thường dài 3 - 4 cm, giữ áp lực đủ
để chống thoát nước tiểu khi áp lực bàng quang tăng lên (ho, hoạt động thể lực)
Cơ thắt ngoài hậu môn moommôn
Âm đạo Miệng sáo
Xương mu
Cổ bàng quang Niệu đạo Đáy chậu
Cơ thắt trong hậu môn
Trực tràng
Tử cung Xương
cùng
Trang 5- Lớp niêm mạc gồm các liên bào phủ giúp duy trì hoạt động chức năng của niệu đạo
- Lớp tổ chức liên kết chun giãn: tập trung nhiều ở vùng cổ bàng quang - niệu đạo, giữ trương lực niệu đạo khi nghỉ
- Lớp cơ trơn: nằm trong lòng bàng quang, vùng tam giác trigone và niệu đạo duy trì lực giữ thụ động Cơ dọc ngoài khi co làm đóng cổ bàng quang Cơ dọc trong khi co làm mở cổ bàng quang Các cơ này chịu ảnh hưởng của nội tiết nên bị thay đổi trong quá trình kinh nguyệt hay mãn kinh
- Lớp mạch máu: chiếm 30% vai trò giữ trương lực thụ động của niệu đạo khi nghỉ
- Lớp cơ vân gồm có 2 phần: phần bao quanh lòng niệu đạo giữ trương lực niệu đạo thụ động khi nghỉ và phần ngoại vi, chống són tiểu khi gắng sức (cơ thắt ngoài)
- Lớp cơ đáy chậu đóng vai trò quan trong trong cơ chế tự chủ Cơ nâng hậu môn khi co sẽ ép âm đạo về phía xương mu, tạo nên sức cản phía sau của dòng tiểu
Sự cản phía sau này chèn vào hai thành niệu đạo, chống lại són tiểu khi gắng sức
1 2 1 3 Vị trí giải phẫu của đoạn bàng quang - niệu đạo
Vị trí của cổ bàng quang và phần niệu đạo trên được duy trì bởi hệ thống nâng
đỡ giống như một chiếc võng nằm ở phía sau cổ bàng quang - niệu đạo Hệ thống này do nhiều cân, cơ, tổ chức liên kết hợp thành, có vai trò ngăn cản sự sa niệu đạo khi gắng sức Rối loạn nâng đỡ của cổ bàng quang và niệu đạo trên là nguyên nhân hay gặp nhất của són tiểu khi gắng sức [20]
Tóm lại, có rất nhiều yếu tố tham gia vào việc kiểm soát tiểu tiện Các yếu tố quan trọng phải kể đến là: sức chứa bàng quang, vị trí giải phẫu cổ bàng quang và niệu đạo trên, áp lực đóng niệu đạo, cơ nâng hậu môn và điều khiển thần kinh
1 2 2 Sinh lý bệnh
1 2 2 1 Định nghĩa tiểu tiện không tự chủ (són tiểu)
Theo Hội quốc tế tự chủ đại tiểu tiện (International Continence Society - ICS)
“Tiểu tiện không tự chủ hay són tiểu là tình trạng thoát nước tiểu ra ngoài miệng sáo không theo ý muốn, là một vấn đề xã hội và vệ sinh có thể xác định một cách khách quan” [8]
Tiểu không tự chủ hay són tiểu có 3 loại biểu hiện khác nhau:
Trang 6- Són tiểu khi gắng sức (STDGS) xảy ra khi có hoạt động gắng sức như ho, hắt hơi, cười to, mang vác vật nặng…
- Són tiểu do mót tiểu khẩn cấp (STDMTKC): cảm giác buồn tiểu đến nhanh
và mạnh, không có báo trước, són tiểu xảy ra trước khi đến được nhà vệ sinh
- Són tiểu phối hợp: bao gồm cả hai loại trên
đẻ làm tổn thương hệ thống nâng đỡ kể trên, khiến cho âm đạo rộng, các tạng trong tiểu khung như bàng quang, tử cung, trực tràng bị sa xuống thấp Bên cạnh đó còn kèm theo sự mất tự chủ về tiểu tiện (són tiểu) và đại tiện (són phân), giảm ham muốn hoặc đau khi quan hệ vợ chồng
Són tiểu là do rối loạn chức năng của bàng quang hoặc niệu đạo
* Són tiểu do gắng sức
Xảy ra khi áp lực trong lòng bàng quang vượt quá áp lực niệu đạo Nguyên nhân do thay đổi giải phẫu (mất sự nâng đỡ phía sau cổ bàng quang, sa bàng quang) hoặc tổn thương thần kinh - cơ của bản thân các cơ thắt Mất sự nâng đỡ biểu hiện bằng tăng di động quá mức cổ bàng quang - niệu đạo Điều trị chủ yếu là cố định cổ bàng quang và tái lập lại sự nâng đỡ này bằng tập phục hồi chức năng hay phẫu thuật [27]
Són tiểu gắng sức phần lớn là do sang chấn cơ, thần kinh, tổ chức liên kết trong quá trình mang thai và đẻ Tổn thương mạch máu do đầu thai đè vào gây ảnh hưởng đến cả thần kinh và cơ, hậu quả là cổ bàng quang và niệu đạo không đóng được kín khi có sự tăng áp lực ổ bụng như ho, hắt hơi, hoạt động thể lực (Hình 1 4)
Trang 7
Hình 1 3 Thay đổi giải phẫu trong đẻ
Hình 1 2 - Thay đổi giải phẫu trong đẻ (Theo Boston Scientific - 2006)
Hình 1 3 - Nguyên nhân són tiểu do gắng sức [9]
Hai cơ chế này có thể xuất hiện độc lập hoặc phối hợp với nhau [9]
* Són tiểu do mót tiểu khẩn cấp (STDMTKC)
Nguyên nhân do bàng quang cường hoạt động (BQCHĐ) hay bàng quang không
ổn định Xuất phát điểm là do 1 cơn co thắt bàng quang tự phát, không bị ức chế, làm tăng đột ngột áp lực trong lòng bàng quang Cơn co này dẫn đến són tiểu nếu hệ thống đóng của cổ bàng quang – niệu đạo thay đổi về giải phẫu hoặc suy yếu
THAY ĐỔI GIẢI PHẪU
Thay đổi trong đẻ Bình thường
Căng giãn dây chằng
Chèn ép BQ Bàngquang
Âm đạo Dây chằng
thần kinh
Trang 8Suy yếu hệ thần kinh trung ương trong kiểm soát quá trình trữ nước tiểu cũng gây són tiểu do mót tiểu khẩn cấp Nhiều bệnh lý như tổn thương tuỷ sống, sang chấn hộp sọ hay vùng tuỷ, đột quỵ cũng gây chứng BQCHĐ [12]
* Các trường hợp phức tạp: nhiều nguyên nhân phối hợp
Giảm lượng Estrogen khi mãn kinh ảnh hưởng đến chức năng của cả bàng quang và niệu đạo gây són tiểu do nhiều nguyên nhân phối hợp ở người cao tuổi
1 3 CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
Nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau đã được kể đến trong các nghiên cứu dịch tễ Những yếu tố được nói đến nhiều nhất là tuổi tác, các yếu tố sản khoa, tiền sử mổ cắt
tử cung…Tuy nhiên có 3 nhóm nguy cơ lớn đối với TKKS là:
1 3 1 Thể trạng
* Tuổi:
Các nghiên cứu đều thống nhất tỷ lệ són tiểu tăng lên theo tuổi [6], [40] Tuổi >
40 có nguy cơ són tiểu cao hơn (RR=2, 16, CI=1, 86 - 2, 57) [40] Chính vì phổ biến
ở người cao tuổi, són tiểu bị coi là sự tiến triển bình thường không thể tránh được của tuổi tác Tuy vậy, không nên coi són tiểu là bình thường ở người có tuổi cho dù sự thay đổi ở bàng quang và tổ chức trong tiểu khung góp phần làm bệnh xuất hiện [7]
* Béo phì:
Nguy cơ són tiểu tăng lên cùng chỉ số cơ thể (BMI) [13], [35] Trong nghiên cứu phân tích đa biến của Song 2005, người có chỉ số BMI > 22 có nguy cơ són tiểu là 1, 8 (CI
= 1, 5 - 2, 2) Theo Doran và Peyrat, mỗi cân nặng thừa sẽ tạo thêm áp lực lên bàng quang
và gây són tiểu, giảm cân nhiều cũng làm giảm rõ rệt són tiểu ở phụ nữ béo phì [40]
1 3 2 Yếu tố sản khoa
- Thai nghén là yếu tố nguy cơ [7]: nguy cơ tương đối bị TKKS ở người có thai
là 2, 22 (CI = 1, 7 - 2, 87) [40], tương tự như kết quả của McKinnie (OR = 2, 46, CI =
1 53 - 3, 95) [34] Són tiểu trong thời kỳ mang thai phổ biến 31% [82], trên 50% [24]
Trang 9- Đẻ đường âm đạo: tăng nguy cơ són tiểu lên 2, 47 - 2, 8 lần [38], [42]
- Mổ đẻ: là yếu tố bảo vệ [42], là yếu tố nguy cơ gây són tiểu [40], [35]
- Tăng cân quá mức thời kỳ mang thai ( trên 14kg), con to trên 3500g, són tiểu sau đẻ được coi là yếu tố nguy cơ [3], [6], [7] Số lần đẻ liên quan đến són tiểu:
OR = 2, 2 (đẻ 1 lần), OR = 3, 9 (2 lần), OR = 4, 5 (sau 3 lần) [38]
1 3 3 Phụ khoa
Tổng hợp các tài liệu đã công bố, Brown (2000) thấy có sự phối hợp giữa tiền
sử mổ cắt tử cung và són tiểu [14] Có thể do tổn thương thần kinh trong phẫu thuật hay phá vỡ hệ thống cân cơ nâng đỡ bàng quang với thành tiểu khung [16]
1 3 4 Các yếu tố khác
* Hút thuốc:
Người hút thuốc có nguy cơ són tiểu tăng do hay ho Hút thuốc gây ho làm thay đổi sự dẫn truyền áp lực vượt quá khả năng co thắt của các van niệu đạo, tác động đến tổ chức liên kết và ảnh hưởng đến chức năng bàng quang, niệu đạo [41]
* Mãn kinh:
Giảm nội tiết nữ sau mãn kinh gây teo tổ chức mỡ, da, cơ, gây són tiểu, khô âm đạo và đau khi giao hợp Điều trị Estrogen thay thế có thể cải thiện được tình trang trên [7]
Trang 10nghiên cứu [33] Tiểu đường không kiểm soát gây tăng lượng nước tiểu, ảnh hưởng đến cơ chế tiểu tiện bình thường [35]
1 4 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
Tuy phương pháp phẫu thuật điều trị TKKS bằng sử dụng vòng đai âm đạo - mu được Giordano áp dụng từ năm 1907 nhưng người có công phát triển chuyên ngành Phụ - Tiết niệu sớm là Howard Kelly Năm 1914, ông công bố kỹ thuật điều trị STDGS bằng phẫu thuật qua đường âm đạo [32] Từ cuối những năm 1970, những phương tiện mới (máy kích thích điện cơ, phản hồi sinh học, nội soi phẫu thuật ) cho phép các thầy thuốc phát triển những kỹ thuật tốt hơn để điều trị bệnh nhân
1 4 1 Các phương pháp điều trị
1 4 1 1 Các phương pháp điều trị không phẫu thuật
*Điều trị són tiểu do mót tiểu khẩn cấp:
- Điều chỉnh lượng nước uống vào là một thay đổi lối sống quan trọng
- Luyện tập cơ đáy chậu: rèn luyện bàng quang, loại bỏ cảm giác mót tiểu khẩn cấp, tăng cường dung tích và sự kiềm chế của bàng quang [21]
- Điều trị thuốc loại bỏ co bóp bàng quang bằng thuốc uống hoặc tiêm vào cơ bàng quang [22]
- Kích thích thần kinh: tăng khả năng ức chế co thắt cơ bàng quang [15]
- Sử dụng thuốc: Duloxetine đang được dùng ở giai đoạn 3 thử nghiệm lâm sàng
*Điều trị són tiểu phối hợp
Sử dụng phương pháp có tác dụng đối với cả hai loại són tiểu như: thay đổi thói quen, điều chỉnh lượng nước, tập phục hồi cơ đáy chậu và dùng thuốc
1 4 1 2 Điều trị phẫu thuật
Chỉ định cho STDGS, STDMTKC thất bại với điều trị bảo tồn [16]
Trang 11- Cố định niệu đạo hoặc cổ bàng quang vào dây chằng Cooper hay vào sau xương mu (kỹ thuật Burch và Marchall - Marchetti - Krantz) [14] (Hình 1 5)
Hình 1 4 - Kỹ thuật cố định sau xương mu
- Vòng đai dưới niệu đạo (suburetral sling): Kỹ thuật nâng đỡ cổ bàng quang - niệu đạo được Giordano mô tả năm 1907 [23] (Hình 1 6)
Hình 1 5 - Vòng đai dưới niệu đạo
Vòng đai tạo thành “võng” nâng đỡ cổ bàng quang và sau đó cố định vào mạc ngang bụng hay dây chằng Cooper Cải tiến mới về dải đai không ép vào niệu đạo giữa (tension - free vaginal tape) Kỹ thuật vòng đai giữa niệu đạo đi qua hố bịt (Trans - Obturator Vaginal tape - TOT) đang được nhiều nhà phẫu thuật thử nghiệm [19]
Nhược điểm của phẫu thuật là đắt tiền và tai biến chảy máu, nhiễm trùng, đau,
bí tiểu sau phẫu thuật chiếm tỷ lệ khoảng 2 - 10% -
- Tiêm các chất làm căng: collagen, silicone và các hạt phủ Cac - bon vào tổ chức xung quanh niệu đạo tại cổ bàng quang Phương pháp này đắt tiền và phải tiêm nhắc lại [28]
Dây chằng Copper Xương mu
Niệu đạo Bàng quang
Vòng đai
Trang 12Tóm tắt
- Những người bị són tiểu bị giảm chất lượng sống về nhiều mặt Họ hay lo lắng, trầm cảm, không hài lòng với cuộc sống Són tiểu làm “huỷ hoại” chất lượng sống không chỉ của người bệnh mà còn gia đình và bạn bè họ [7]
- Các yếu tố nguy cơ:tuổi tác, béo phì, thai nghén, đẻ đường dưới, mổ cắt tử cung Các yếu tố được nói đến ít hơn là chủng tộc, mãn kinh, hoạt động thể lực mạnh, thai to, hút thuốc, táo bón Mổ đẻ có là yếu tố bảo vệ hay không còn có nhiều tranh cãi Một số bệnh lý phối hợp với són tiểu là: tiểu đường, ho kéo dài, viêm đường tiết niệu mạn
- Điều trị bảo tồn (không phẫu thuật) chỉ định cho phần lớn các trường hợp són tiểu, mổ chỉ áp dụng cho một số trường hợp són tiểu do gắng sức không đáp ứng với tập PHCĐC Tập phục hồi chức năng cơ đáy chậu vẫn được khuyến cáo như là biện pháp đầu tiên và trụ cột trong điều trị do tính an toàn, rẻ tiền và hiệu quả điều trị cao
1 5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Nghiên cứu đầu tiên năm 1996 tại Phòng khám Khoa Sản Bệnh viện Bạch Mai thấy tỷ lệ TKKS ở phụ nữ trên 20 tuổi đã từng sinh đẻ là 12, 5% [2] Són tiểu gặp ở
33, 9% phụ nữ trên 50 tuổi và 37, 3% ở những người đã mãn kinh Tỷ lệ TKKS là
25, 4% trong nghiên cứu năm 2007 ở nhân viên nữ bệnh viện Bạch Mai, trong đó 11% có phối hợp với són tiểu khi giao hợp [3] Chưa có thông báo nào về áp dụng tập phục hồi trong điều trị TKKS ở phụ nữ Việt nam Tại lớp tiền sản bắt đầu từ năm 2004 ở Bệnh viện Bạch Mai một số bài tập cơ đáy chậu đã được hướng dẫn cho phụ nữ mang thai thực hành
Gần đây, một vài trung tâm ngoại khoa thông báo bước đầu áp dụng kỹ thuật Burch [2] và kỹ thuật vòng đai dưới niệu đạo không kéo căng (Tension free vaginal tape) qua hố bịt (Trans - obturator - tape - TOT) nhưng chưa có kết quả theo dõi lâu dài [1] Vì các nguyên liệu phải nhập từ nước ngoài nên giá thành cho một cuộc mổ còn khó chấp nhận với mức sống của người Việt nam nói chung (khoảng 1000 $)
Ở Việt nam, hiện tại chưa có một cơ sở Sản - Phụ khoa nào có phòng khám Tiết niệu, TKKS ở phụ nữ cho tới nay chưa thu hút được sự quan tâm của các nhà hoạch định chiến lược chính sách Y tế cũng như các thầy thuốc Niệu khoa và Sản - Phụ khoa
Trang 13CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CHÍNH
Mang thai và sinh đẻ là thiên chức cao quý của người phụ nữ nhưng có thể để lại cho người phụ nữ nhiều phiền toái Để hạn chế và khắc phục được những hậu quả không mong muốn sau sinh thì việc không tăng cân quá mức khi mang thai và tập phục hồi cơ đáy chậu trước và sau sinh là thực sự cần thiết
2 1 TĂNG CÂN TRONG THỜI KỲ MANG THAI
Số cân cần tăng trong thời kỳ mang thai là trong khoảng 7 - 18kg Tăng bao nhiêu phụ thuộc vào cân nặng ( tình trạng dinh dưỡng) của người mẹ trước khi mang thai Tình trạng dinh dưỡng của người mẹ được đánh giá theo chỉ số BMI
(Body Mass Index), được tính như sau:
BMI = Cân năng (kg)/[Chiều cao(m)] 2
Phân loại tình trạng dinh dưỡng của cơ thể theo Hội Đái tháo đương Châu Á: + Thiếu năng lượng trường diễn: BMI < 18, 5
+ Bình thường: 18, 5 ≤ BMI < 23
+ Thừa cân: 23 ≤ BMI < 25
+ Béo phì độ 1: 25 ≤ BMI < 30, béo phì độ 2: 30 ≤ BMI < 35, độ 3: BMI ≥ 35 Mức tăng cân của người mẹ trong suốt thai kỳ như sau:
+ Tình trạng dinh dưỡng tốt (18, 5 ≤ BMI < 23): mức tăng cân nên đạt 20% cân nặng trước khi có thai
+ Tình trạng dinh dưỡng gầy (BMI < 18, 5): mức tăng cân nên đạt 25% cân nặng trước khi có thai
+ Tình trạng dinh dưỡng thừa cân – béo phì (25 ≤ BMI): mức tăng cân nên đạt 15% cân nặng trước khi có thai
Như vậy, mức tăng cân thai kỳ ở mỗi người không giống nhau, với người gầy khác người béo Cần đánh giá tình trạng dinh dưỡng của từng người để tính ra mức tăng cân hợp lý Nếu người phụ nữ cao1, 6m, nặng 45 – 55kg (BMI nằm trong mức bình thường), chỉ nên tăng 9 – 11kg
Trang 14Hình 2 1 - Kiểm soát cân năng trong thời kỳ mang thai
http://www denthan com/thamkhao/c35/576494
Một khuyến nghị của Viện Y dược Hoa Kỳ đưa ra 1990 là: Hãy đạt cân nặng chuẩn trước khi bắt đầu có thai [43] Đây là cách đảm bảo sức khỏe tốt nhất cho thai phụ, hạn chế được tình trạng huyết áp cao hay tiểu đường thai kỳ hay phải sinh mổ Những đứa trẻ sinh ra từ những sản phụ thừa cân sẽ có nguy cơ sinh non, bị thừa cân cũng như mắc tiểu đường sau này
Dưới đây là những khuyến nghị mới: [43]
- Lên cân bình thường trong suốt quá trình mang thai là khi chỉ số BMI nằm trong khoảng 18, 5 - 24, 5 trước thời điểm mang bầu
- Với người có chỉ số BMI từ 25 - 29, 9 (thừa cân), chỉ nên tăng từ 6 - 11kg
- Với người có chỉ số BMI từ 30 trở lên (béo phì), chỉ nên tăng từ 5 - 9kg
- Với người có chỉ số BMI dưới 18, 5 thì cần lên 12, 5 - 18kg
Hướng dẫn mới cũng kêu gọi tăng cường dinh dưỡng, kết hợp tập luyện trong quá trình mang thai Các bác sĩ cần hỗ trợ thai phụ trong việc xây dựng chế độ ăn phù hợp ngay từ đầu để đảm bảo đủ chất mà không gây tăng cân quá nhiều
Theo BS Patrick Catalano, Giám đốc Trung tâm Sản phụ khoa của trường ĐH Case Western Reserve (bang Ohio, Mỹ): khi mang thai, phụ nữ thường cho rằng tăng cân nhanh là an toàn cho bé nhưng thực chất, tăng cân hợp lý mới là tốt nhất cho sự phát triển và sức khỏe của thai nhi