ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh ký sinh trùng Y học nói chung, ký sinh trùng đường ruột nói riêng là bệnh phổ biến trên thế giới, nhất là các nước có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, điều kiện sinh hoạt, ý thức vệ sinh còn yếu kém. Đây là bệnh xã hội, lan truyền nhanh nhưng cũng dễ điều trị và phòng bệnh hiệu quả nếu chúng ta hiểu rõ về chúng. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính trên thế giới có khoảng 2 tỷ người trong diện nguy cơ nhiễm ký sinh trùng, hơn 1 tỷ người thường xuyên bị nhiễm các loại giun sán, trong đó số người nhiễm giun móc là 151 triệu người, tử vong hàng năm là 65.000 người. Số người nhiễm giun tóc là 46.000 người, tử vong hàng năm là 10.000 người. Số người nhiễm giun đũa ước tính 250 triệu người, tử vong hàng năm là 60.000 người. Tỷ lệ nhiễm giun kim là 40-50% dân số [13]. Việt nam là một nước nhiệt đới có nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và các yếu tố thổ nhưỡng phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho giun sán tồn tại và phát triển. Theo nghiên cứu của Nguyễn Vĩnh Niên có đến 95% người dân mang mầm bệnh giun sán, tỷ lệ nhiễm 2-3 loại giun sán lên đến 60-70%. Thường gặp các loại giun đũa, giun móc, giun tóc, giun kim. Tỷ lệ nhiễm giun kim khá cao từ 18-27%, chủ yếu ở trẻ em. [53]. Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá diễn biến có tính âm thầm lặng lẽ, người dân ít để ý nên bệnh lan truyền rộng rãi trong cộng đồng. Ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc, nhưng đối tượng quan trọng nhất vẫn là trẻ em. Bệnh gây nhiều biến chứng như thiếu máu, suy dinh dưỡng… chậm phát triển về thể chất, tinh thần. Trong khi đó việc phòng bệnh còn gặp nhiều khó khăn do nhận thức không đúng về y tế dự phòng, đời sống kinh tế thấp, các phong tục tập quán lạc hậu cũng như thói quen dùng phân tươi để bón hoa mầu còn khá phổ biến, việc phóng uế bừa bãi, hay đi chân đất ở trẻ em ở nông thôn… Vì vậy ngà y nay mặc dù kinh tế có cải thiện, y tế cơ sở được mở rộng đến thôn bản nhưng tỷ lệ nhiễm giun còn khá cao. Vì tính chất phổ biến và những tác hại sức khoẻ do nhiễm giun nói trên, nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm giun tròn ký sinh đường ruột (KSĐR) là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa, nhằm nâng cao kiến thức – thái độ – thực hành cho học sinh, trong công tác phòng chống bệnh giun. Trong những năm qua tại Huyện Đơn Dương chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này. Để góp phần làm giảm tỷ lệ nhiễm giun tròn KSĐR (giun đũa, giun tóc, giun móc, giun kim) trong cộng đồng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình nhiễm giun tròn ký sinh đường ruột và các yếu liên quan ở học sinh mẫu giáo, cấp I, II. Huyện Đơn Dương năm 2008”. Với mục tiêu: 1- Khảo sát tỷ lệ nhiễm giun tròn ký sinh đường ruột và yếu tố liên quan ở học sinh mẫu giáo, cấp I, cấp II, huyện Đơn Dương. 2- Khảo sát kiến thức – thái độ – thực hành của phụ huynh và học sinh về phòng chống bệnh giun tròn ký sinh đường ruột.
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Chủ nhiện đề tài: BSCKI Đỗ Phú Nhựt
Thư ký: CN Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Thành viên tham gia:
Trang 2MỤC LỤC
Trang Tình hình địa lý-kinh tế-văn hóa-xã hội huyện Đơn Dương……… ……….3
Đặt vấn đề……… ………… 5
Mục tiêu ……….….6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU………7
1 Lịch sử nghiên cứu bệnh giun tròn ký sinh đường ruột……… ………7
1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh giun tròn KSĐR trên thế giới… ……… 7
1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh giun tròn KSĐR ở Việt Nam… ………11
1.3.Tình hình nghiên cứu bệnh giun tròn KSĐR ở Lâm Đồng……… …….16
2 Đặc điểm sinh học và dịch tể bệnh giun tròn KSĐR……….…… 17
2.1 Đặc điểm sinh học và dịch tể bệnh giun tròn KSĐR……… …… 17
2.2 Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới mức độ nhiễm giun tròn KSĐR…… 26
2.3 Tác hại của bệnh giun tròn KSĐR đối với con người……… ……….…28
3 Chẩn đoán và điều trị và phòng bệnh giun tròn KSĐR……… ………… 30
3.1 Chẩn đoán……….……….….30
3.3 Phòng bệnh giun tròn KSĐR……… ….32
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 36
1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu……… ….36
2 Thời gian nghiên cứu: 3/2008 – 01/2009……….……….36
3 Đối tượng nghiên cứu……….……….36
4 Phương pháp nghiên cứu……….……… …….36
5 Các kỹ thuật áp dụng……….………….……… 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ……… ……….………42
1 Đặc điểm của mẫu ……….……….……….42
2 Tỷ lệ nhiễm giun tròn KSTĐR ……… ……… … 43
3 Phân tích tình hình nhiễn giun theo thực hành vệ sinh môi trường……….44
4 Phân tích tình hình nhiễn giun theo thói quen vệ sinh……….……… 45
5 Phân tích tình hình nhiễm giun theo hiểu biết của phụ huynh……… ….46
6 Phân tích về kiến thức phòng chống bệnh giun của phụ huynh và HS ……35
Chương 4 BÀN LUẬN……… … 50
Kết luận……… ……… 55
Tài liệu tham khảo
Trang 3TÌNH HÌNH ĐỊA LÝ- KINH TẾ-VĂN HÓA-XÃ HỘI
HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
I/.ĐỊA LÝ:
1 Vị trí địa lý:
Đơn Dương là huyện miền núi nằm ở phía Đông – Nam của tỉnh Lâm Đồng, thuộc cao nguyên Lâm Viên Độ cao trung bình trên 1000 mét so với mực nước biển Vị trí địa lý nằm dọc theo hai bên bờ sông Đa Nhim
2 Đơn vị hành chính:
Gồm 10 đơn vị hành chánh gồm: 02 thị trấn và 8 xã
3 Khí hậu thời tiết:
Đơn Dương ảnh hưởng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á Nhiệt độ trung bình hàng năm là 200C - 240C, lưu lượng mưa trung bình 1800- 3000mm/năm
II/ DÂN CƯ –DÂN SỐ: (số liệu niên giám thống kê tháng 6/2008)
-Dân số: 94.397 Dân tộc thiểu số chiếm khoảng 30%
-Tổng số hộ: 18.822 Phân theo nghề nghiệp:
+Nông: 14.150 hộ
+Công nhân viên chức: 1.534 hộ
+Buôn bán nhỏ và nghề khác: 3.138 hộ
III/ KINH TẾ, VĂN HÓA XÃ HỘI:
-Tăng trưởng GDP 14%, thu nhập đầu người: 12 triệu đồng/người/năm Tỷ lệ hộ nghèo 16,7% (tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc 39,6%) Tỷ lệ suy dinh dưỡng toàn huyện 18,7%
Trang 4-Tổng số trường học mẫu giáo, cấp I, cấp II (Năm học 2007-2008): 41 trường với số học sinh: 17.600 hs Trong đó:
+Mẫu giáo: 11 trường, 161 lớp, 2.882 hs
+Cấp I: 22 trường, 318 lớp, 8.800 hs
+Cấp II: 8 trường, 161 lớp, 5918 hs
IV/ NHẬN XÉT CHUNG:
- Là huyện thuần nông, điều kiện địa lý 1/3 diện tích bị bao phủ bởi rừng núi, sông suối, ao hồ Khí hậu, thời tiết thuận lợi cho một số bệnh nhiễm ký sinh trùng và bệnh gây dịch phát triển như sốt rét, sốt xuất huyết, cúm
- Tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là hộ nghèo là người dân tộc thiểu số Trình độ dân trí nói chung còn thấp và không đồng đều, nhất là vùng đồng bào dân tộc Sự nhận thức của nhân dân vùng đồng bào dân tộc về phòng chống dịch bệnh còn nhiều hạn chế do còn một số tập tục lạc hậu nên còn nhiều trở ngại trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân nói
chung và phòng chống bệnh tật nói riêng
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh ký sinh trùng Y học nói chung, ký sinh trùng đường ruột nói riêng là bệnh phổ biến trên thế giới, nhất là các nước có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, điều kiện sinh hoạt, ý thức vệ sinh còn yếu kém Đây là bệnh xã hội, lan truyền nhanh nhưng cũng dễ điều trị và phòng bệnh hiệu quả nếu chúng ta hiểu rõ về chúng
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính trên thế giới có khoảng 2 tỷ người trong diện nguy cơ nhiễm ký sinh trùng, hơn 1 tỷ người thường xuyên bị nhiễm các loại giun sán, trong đó số người nhiễm giun móc là 151 triệu người, tử vong hàng năm là 65.000 người Số người nhiễm giun tóc là 46.000 người, tử vong hàng năm là 10.000 người Số người nhiễm giun đũa ước tính 250 triệu người, tử vong hàng năm là 60.000 người Tỷ lệ nhiễm giun kim là 40-50% dân số [13]
Việt nam là một nước nhiệt đới có nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và các yếu tố thổ nhưỡng phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho giun sán tồn tại và phát triển Theo nghiên cứu của Nguyễn Vĩnh Niên có đến 95% người dân mang mầm bệnh giun sán, tỷ lệ nhiễm 2-3 loại giun sán lên đến 60-70% Thường gặp các loại giun đũa, giun móc, giun tóc, giun kim Tỷ lệ nhiễm giun kim khá cao từ 18-27%, chủ yếu ở trẻ em [53] Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá diễn biến có tính âm thầm lặng lẽ, người dân ít để ý nên bệnh lan truyền rộng rãi trong cộng đồng Ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc, nhưng đối tượng quan trọng nhất vẫn là trẻ em Bệnh gây nhiều biến chứng như thiếu máu, suy dinh dưỡng… chậm phát triển về thể chất, tinh thần Trong khi đó việc phòng bệnh còn gặp nhiều khó khăn do nhận thức không đúng về y tế dự phòng, đời sống kinh tế thấp, các phong tục tập quán lạc
Trang 6việc phóng uế bừa bãi, hay đi chân đất ở trẻ em ở nông thôn… Vì vậy ngày nay mặc dù kinh tế có cải thiện, y tế cơ sở được mở rộng đến thôn bản nhưng tỷ lệ nhiễm giun còn khá cao
Vì tính chất phổ biến và những tác hại sức khoẻ do nhiễm giun nói trên, nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm giun tròn ký sinh đường ruột (KSĐR) là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa, nhằm nâng cao kiến thức – thái độ – thực hành cho học sinh, trong công tác phòng chống bệnh giun
Trong những năm qua tại Huyện Đơn Dương chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này Để góp phần làm giảm tỷ lệ nhiễm giun tròn KSĐR (giun đũa, giun tóc, giun móc, giun kim) trong cộng đồng, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Đánh giá tình hình nhiễm giun tròn ký sinh đường ruột và các yếu
liên quan ở học sinh mẫu giáo, cấp I, II Huyện Đơn Dương năm 2008” Với mục tiêu:
1- Khảo sát tỷ lệ nhiễm giun tròn ký sinh đường ruột và yếu tố liên quan ở học sinh mẫu giáo, cấp I, cấp II, huyện Đơn Dương
2- Khảo sát kiến thức – thái độ – thực hành của phụ huynh và học sinh về phòng chống bệnh giun tròn ký sinh đường ruột
Trang 7CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Lịch sử nghiên cứu bệnh giun tròn KSĐR:
1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh giun tròn KSĐR trên thế giới:
Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO) 1992 trên thế giới có hơn tỷ người nhiễm bệnh giun sán, không kể các khu vực có nguy cơ lây nhiễm Do tính chất phổ biến và dễ thích nghi với điều kiện ngoại cảnh của ký sinh trùng, sự phong phú của sinh vật môi giới trung gian (như các loại động vật, các sinh vật chân đốt, các loại giáp xác…) Vì vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều nhiễm ký sinh trùng Tuy nhiên tùy thuộc vào yếu tố nhiệt độ, sinh địa cảnh của từng vùng, của từng khu vực mà tỉ lệ bệnh có sự khác nhau Trong đó sự nhận thức về bệnh tật của nhân dân đóng vai trò quan trọng và cần thiết, đó là yếu tố quyết định sự tăng giảm của bệnh
Tại các nước châu Âu do điều kiện khí hậu khô và lạnh làm hạn chế sự phát triển của trứng giun ở môi trường Bên cạnh đó điều kiện kinh tế và mức sống cao, môi trường sạch, phân rác được xử lý đúng quy cách nên tỷ lệ nhiễm giun còn rất thấp (1%) Tại các nước Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh do khí hậu nóng ẩm, môi trường bị ô nhiễm, mức sống thấp nên tỷ lệ còn cao, Châu Mỹ 8%, Châu Phi 12% [63]
Rajeswari và cộng sự nghiên cứu 456 mẫu phân ở trẻ đi học tại Gombak (Malaysia) cho thấy: Tỷ lệ nhiễm giun đũa là 7.9% có liên quan đến tình hình kinh tế, vệ sinh, xử lý phân rác [60]
Bệnh giun móc đã được mô tả từ lâu trong các tài liệu y học cổ và đến thế kỷ thứ 17 các tác giả: Jakob de Bondt (1629), Pison và Margraff (1648) mô tả đầy đủ hơn Triệu chứng lâm sàng của bệnh giun móc đã được mô tả
Trang 8ở Ý, Ả Rập và BraZil từ thời kỳ Ai Cập cổ đại Năm 1838, Dubini phát hiện giun móc trên một tử thi của một bệnh nhân ở Milan Trước đó giun móc đã được mô tả ở động vật và được đặt tên là “hookworm” có nghĩa là loài giun có móc Năm 1843, Dubini đã mô tả ký sinh trùng này kỹ hơn và đặt tên là
Ancylostoma duodenale (A duodenale) Sau đó một số tác giả khác như
Prunez (1847), Bilharz (1852),Criesinger (1854) cũng phát hiện tương tự Năm 1866, Wuchere đã phát hiện giun móc trưởng thành ở tử thi của một bệnh nhân thiếu máu nhiệt đới, là một bệnh rất phổ biến và trầm trọng vào thời đó ở Brazil Năm 1878, Grassi và Parona đã xác minh những cá thể nhiễm giun móc bằng cách tìm trứng trong phân [91], [92], [98]
Từ năm 1877 – 1880, qua các cuộc điều tra cơ bản ở Ý, Grassi, Maggi, Pavesi và anh em Parona đã xác định căn nguyên bệnh và phương pháp chẩn đoán bệnh giun móc (A duodenale) Năm 1880, khi đã xây dựng đường hầm St Gotthard qua Alpes ở Thụy Sỹ, lần đầu tiên người ta thấy
giun móc (A duodenale) gây ra thiếu máu nặng và phổ biến vượt quá mọi sự
nghi ngờ trên một phạm vi rộng Hàng ngàn công nhân đã bị nhiễm bệnh
với tỷ lệ tử vong cao Nhiễm giun móc (A duodenale) được chứng minh là
nguyên nhân gây thiếu máu của công nhân hầm mỏ Họ có tỷ lệ mắc bệnh cao ở nhiều nước châu Âu thời đó [91], [98], [108] Năm 1879 – 1881, Concato, Perroncito, Bozzolo, và Graziadei đã xác định triệu chứng lâm
sàng và biện pháp điều trị bệnh giun móc (A duodenale) [98]
Perroncito (1880) lần đầu tiên đã mô tả quá trình phát triển của ấu
trùng giun móc (A duodenale) có thực quản hình củ (Rhabditiform larva) sống tự do trong đất trở thành ấu trùng giun móc (A duodenale) có thực quản
hình trụ (Filariform larva) Leichtenstern đã chứng minh: ấu trùng giun móc
(A duodenale) có thực quản hình trụ phát triển thành giun móc trưởng thành
ở ruột non [91], [98]
Trang 9Năm 1896 -1897, Looss đã để bàn tay của ông ta tiếp xúc với dịch cấy ấu trùng giun móc do tai biến thí nghiệm Ông ta quan sát và nhận thấy có viêm da phát triển tại điểm tiếp xúc, sau đó tìm thấy trứng giun móc trong
phân của ông và ông đã kết luận: “Người nhiễm ấu trùng giun móc (A
duodenale) là do nó chui qua da”
Bệnh giun móc đã được ghi nhận ở Hoa kỳ vào năm 1845, mãi đến năm 1893 loài giun móc này mới được mô tả, nhưng không phân biệt được
với giun móc (A duodenale, Dubini, 1843) Năm 1902, Stiles đã mô tả và đặt tên cho loài này là necator americanus ( N.americanus), cũng ký sinh ở người và có thể phổ biến hơn A.duodenale ở một số nơi [91], [60], [98]
WHO (1994) [66], đã ước lượng trên thế giới có khoảng 1,2 tỷ người nhiễm giun móc và 98 triệu người bị bệnh giun móc
Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi nhiều theo độ cao, khí hậu, thổ nhưỡng và theo các yếu tố sinh thái học hoặc con người Chính vì vậy, tỷ lệ nhiễm bệnh ở mỗi khu vực, ở mỗi quốc gia trên toàn cầu là cao thấp khác nhau:
*Châu Á:
-Thái Lan: Tỷ lệ nhiễm giun móc ở người dân Thái Lan vào năm
1986, miền Bắc: 35,5%, miền Trung 26,1%, miền Nam 75,9% [103] Năm
1989, tỷ lệ nhiễm ở Chiang Mai và Bangkok là 26,3% [74] Upatham E.S (1989) cho thấy tỷ lệ mới mắc ở vùng ngoại ô miền Nam Thái Lan là 23,1% [119] Pitisuttithum P (1990): tỷ lệ nhiễm ở ngoại ô Bangkok là 25,5% [109]
-Indonesia: Năm 1982, tỷ lệ nhiễm giun móc ở nông thôn miền Bắc Sumatra là 61,1% [118] Tỷ lệ nhiễm giun ở trẻ em: 47,7%; người lớn:
89,4%, trong đo ùN.americanus chiếm tỷ lệ 73,8%, A.duodenale: 4,7%, nhiễm
phối hợp hai loài là 21,5%[102]
Trang 10-Philippin: Năm 1980, tỷ lệ nhiễm giun móc: 73,0%, người lớn cao hơn trẻ em [54] Năm 1987, tỷ lệ nhiễm ở đảo Palawai là 34,8% Năm 1990, tỷ lệ nhiễm ở vùng nông thôn nuôi cừu: 10% [90]
-Malaysia: năm 1983, tỷ lệ nhiễm giun móc ở nông dân: 43,3%, dân
cư ngoại ô thủ đô Kualumpur: 7,1% [94], [104], [105]
-Trung Quốc: Năm 1999, tỷ lệ nhiễm giun móc ở người dân > 15 tuổi huyện Hejiang: 87,0% [96]
-Nhật Bản: Năm 1980, tỷ lệ nhiễm giun móc chung cho cộng đồng là 0,85% [84] Trong khi đó AKao N.(1992), đã tìm thấy tỷ lệ nhiễm ở công nhân đến từ Philippine và Indonesia là 10,6% [89]
*Châu Phi:
-Kenya: Olsen 1998), tìm thấy tỷ lệ nhiễm giun móc chung ở người dân miền Tây là 63,0%, cường độ nhiễm: 45 – 190 trứng/1g phân Booker S và cộng sự (1999) thấy tỷ lệ nhiễm giun móc ở học sinh tiểu học là 28,7%, tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm tăng theo tuổi học sinh [93]
-Nigeria: Năm 1992, tỷ lệ nhiễm giun móc ở người dân sống ven biển: 50,1%, tỷ lệ mới mắc: 25,0 – 35,0%/1 năm [118], [119] Reinthaler (1998), thấy tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ là 19,2% [114]
- Zimbabwe: Chandiwana (1989), tìm thấy tỷ lệ nhiễm giun móc ở nông dân là 61,7% [95]
* Châu Đại Dương:
- Australia: năm 1993, tỷ lệ nhiễm A.duodenale ở trẻ em cộng đồng
thổ dân Kimberley là 1,3% [110]
- Papua New Guinea: Pritchard D.I và cộng sự (1991) thấy tỷ lệ
nhiễm giun móc ở người lớn là 92,0%, N.americanus chiếm tỷ lệ 100%
[125], [126], [112],[113]
Trang 11* Châu Mỹ:
- Hoa Kỳ: năm 1985, tỷ lệ nhiễm giun móc ở trẻ em nông thôn miền Bắc bang Florida là 2,0% [44]; Kappus và cộng sự (1987) thấy tỷ lệ nhiễm giun móc chung là <2,0% [106]
- Guatamela: Năm 1993, tỷ lệ nhiễm giun móc ở người dân vùng nông
thôn: 50,0%, loài giun nhiễm chủ yếu là N.americanus [90]
- Brazil: tỷ lệ nhiễm giun móc ở người dân thành phố Sao Paulo là 0%, nhưng ở nông thôn thì tỷ lệ nhiễm rất cao (76,0%) [99], [121]
*Châu Âu:
Hiện nay, các nước Châu Âu tỷ lệ nhiễm giun móc rất thấp, tuy nhiên
do sự di biến động dân cư, đã xuất hiện thuật ngữ “bệnh nhập khẩu” Ockert G.(1983), thấy tỷ lệ nhiễm ở người ngoại quốc từ Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ định cư tại Đông Đức là 17,9% [86] Năm 1973 – 1981, tỷ lệ nhiễm chung ở người dân Đông Nam Á định cư tại Đông Đức là 21% [121]
-Năm 1758 Linné người đầu tiên nghiên cứu và mô tả giun kim hiện được nhiều tác giả và nhiều sách ghi nhận
-Năm 1889 Cobbod bắt đầu phát hiện chu kỳ sống của giun kim, ông
ta nêu lên rằng thời gian sống của giun kim chỉ kéo dài 2 tuần
-Năm 1899 Stiles, K.Blanchara ở Pari trong công trình nghiên cứu về bệnh giun kim đã cho rằng: Giun kim thường làm ruột thừa tiết chất nhày, làm dày thành ruột thừa
-Năm 1901 – 1904 Moty – Begouid, Hoepff nêu lên mối quan hệ giữa ruột thừa viêm và giun kim, kết luận của các tác giả này: Giun kim là một trong những nguyên nhân gây ra viêm ruột thừa
-Năm 1925 Nlemmikavaston ở Đức điều tra về tình trạng nhiễm giun kim của trẻ em ở Berlin ghi nhận trẻ em nam nhiễm với tỷ lệ 71%, nữ 64%
Trang 12-Năm 1929 Scriabine – Shoulz ở Liên Xô đã đề xuất phương pháp dùng que dẹp cạo rìa hậu môn để xét nghiệm trứng giun kim
-Năm 1935 Standen mô tả giun kim và sắp xếp chúng vào những họ, giống, loài trong hệ thống phân loại giun sán
-Năm 1937 Hall dùng cellophane bọc đầu que thủy tinh ấn vào rìa hậu môn để xét nghiệm giun kim
-Năm 1941 Graham lại đề xuất một phương pháp xét nghiệm mới ứng dụng dễ dàng và rất phổ biến đó là phương pháp dùng băng nhựa dính [31] [46]
-Năm 1956 Brumpt qua các công trình nghiên cứu của mình đã nêu lên những con số mắc bệnh giun kim của người ở Mỹ, sau đó tác giả khác cũng ghi nhận nhiều tỷ lệ nhiễm giun kim khác nhau trên Thế giới
* Tiệp Khắc: Năm 1952 – 1958 trẻ em nhiễm với tỷ lệ 60%
* Ma róc: Năm 1948 – 1950 trẻ em nhiễm với tỷ lệ 70%
* Camarun: năm 1957 trẻ em nhiễm với tỷ lệ 35%
Theo Stoll (1947) ở Châu Aâu có 87 triệu người mắc và trên thế giới khoảng 209 triệu người mắc
1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh giun tròn KSĐR ở Việt Nam:
Việt Nam điều kiện tự nhiên thuận lợi cho mầm bệnh phát triển quanh năm, mặt khác do đời sống kinh tế xã hội, tập quán canh tác, vệ sinh, dân trí, trình độ giáo dục môi trường… nên mầm bệnh giun sán là bệnh phổ biến nhất ở nước ta, một vấn đề lớn sức khoẻ cộng đồng của cả nước, gây nhiều tác hại lâu dài và nghiêm trọng
Theo kết quả nghiên cứu của viện sốt rét ký sinh trùng Trung ương cho thấy tỷ lệ nhiễm giun trung bình của các tỉnh miền bắc từ 5-30% Khu vực có tỷ lệ nhiễn giun cao tập trung tại vùng Trung du, ven biển khu 4 cũ và các miền núi phía bắc ( Thanh Hoá 71,7%, Nghệ An 78,8%, Lai Châu
Trang 137,2%, Lào Cai 72,5%, Điện Biên 77,5%, Hà Giang 93,6%, Yên Bái 98,4%) Các tỉnh miền Nam tỷ lệ giun truyền qua đất rất thấp, từ 7-20% trừ các tỉnh miền Đông Nam bộ là Tây Ninh và Bình Phước (54%) Các tỉnh miền Trung tỷ lệ nhiễm giun trung bình 7-30% Sự phổ biến của bệnh ký sinh trùng trong cộng đồng có liên quan nhiều đến các yếu tố đó là: Sự hiểu biết của người dân Ý thức vệ sinh phòng bệnh Điều kiện sống (tự nhiên và xã hội) Đặc biệt sự quan tâm chăm sóc của y tế cơ sở trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng là việc làm cần thiết và thiết thực nhằm mục
đích quản lý và bảo vệ sức khoẻ toàn diện cho người dân [13]
*Giun đũa là bệnh phổ biến ở nước ta, tình hình nhiễm giun chung là trên 80% Tỷ lệ nhiễm giun ở nông thôn cao hơn thành thị, ở đồng bằng cao hơn miền núi [19] Do điều kiện vệ sinh môi trường còn kém, ý thức của người dân chưa cao nên sự ô nhiễm trứng giun đũa trong môi trường sống còn rất cao: trên 450 mẫu đất có 92.5 – 100% mẫu đất vùng nông nghiệp bị nhiễm trứng giun trung bình với 7.5 – 127/100g đất [42]
Theo Nguyễn Hứa Phục (1986) cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở nông thôn là 68.4%, ở Thành phố là 61.5% không có sự khác biệt có ý nghĩa [56]
Tuổi nhiễm giun đũa của nước ta rất sớm, từ 4 tháng tuổi đã xét nghiệm thấy trứng giun trong phân [57]
Ở hai xã Nhật Tân và Hoàng Tây Huyện Kim Bảng Tỉnh Nam Hà tỷ lệ nhiễm giun đũa chung trong cộng đồng là 86.41% [53]
Nhiễm giun của học sinh Khmer ở một số trường cấp I – II Tỉnh Tiền Giang là 85% trong đó giun đũa là 32% [13]
Riêng tại Huế theo điều tra của bệnh viện Trung ương Huế 1985 –
1995 tỷ lệ là 49.6% [81] Theo Ngô Chân (1994) tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trường mẫu giáo mầm non TP Huế là 47.18% [14] Tại xã Thủy Dương TP
Trang 14Bệnh giun sán nói chung, bệnh giun móc nói riêng đã được biết từ lâu, dưới thời Hải Thượng Lãn Ông và Tuệ Tĩnh bệnh giun móc đã được mô tả các triệu chứng lâm sàng và đưa ra các bài thuốc nam để điều trị [12]
Năm 1936, Đặng Văn Ngữ tiến hành điều tra cơ bản các loài giun sán
y học ở Việt Nam, xác định tình hình nhiễm giun sán nghiêm trọng ở người Nhưng đến năm 1945, những nghiên cứu về bệnh giun sán cũng mới chỉ giới hạn trong phạm vi đô thị lớn, chưa có một điều tra cơ bản nào mở rộng ở khắp mọi tỉnh thành Việt Nam
Sau năm 1945, các nghiên cứu về giun sán y học được đẩy mạnh, đã có những điều tra cơ bản trên diện rộng, nghiên cứu đặc điểm hình thể, sinh học, bệnh học giun móc ở việt Nam [12]
Phạm Tử Dương (1957), thấy tỷ lệ nhiễm ở người lớn là 81,0%, viện sốt rét – Ký sinh trùng & Côn trùng Hà Nội (1960 – 1970), thấy tỷ lệ nhiễm từ 32,1 – 53,3%, Phạm Văn Thân (1972), thấy tỷ lệ nhiễm từ 30,0 – 40,0% [12] Đỗ Đức Tuy, Nguyễn Phan Long (1973), thấy tỷ lệ nhiễm giun ở vùng trồng rau màu là 54,0%, vùng trồng lúa là 16,7% [1]
Năm 1975, Nguyễn Phan Long, Kiều Tùng Lâm: thấy tỷ lệ nhiễm giun móc cao: ở đồng bằng tỷ lệ nhiễm là 57,8%; ven biển: 67,4% và miền
núi là 51,9%, trong đó N.americanus chiếm tỷ lệ 93,9% và 6,1% là do
A.duodenale [21] Tỷ lệ, cường độ nhiễm tương quan tỷ lệ thuận với tuổi, nữ
nhiễm cao và nặng hơn nam [12]
Lê Khánh Thuận và cộng sự (1992), thấy tỷ lệ nhiễm ở vùng núi miền Trung là 40,6% [72]
Cường độ nhiễm giun tại Việt Nam không cao ( < 1.000 trứng/1g phân), tỷ lệ và cường độ nhiễm tăng lên theo tuổi, nữ nhiễm nhiều hơn nam, công nhân mỏ than có tỷ lệ nhiễm (30 - 86%), nông dân nhiễm cao hơn ngư
Trang 15dân (76% so với 35%), nghề trồng rau nhiễm cao hơn nghề trồng lúa (69%
so với 22%) Tỷ lệ tái nhiễm sau 6 tháng điều trị đặc hiệu là 4,4% [41]
Nguyễn Võ Hinh và cộng sự (1991 -1996), thấy tỷ lệ nhiễm giun móc chung ở trẻ em tỉnh Thừa Thiên Huế là 28,3% Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi, tỷ lệ nhiễm giữa nam và nữ tương đương [27]
*Ở nước ta, những công trình nghiên cứu về giun kim đã thực sự được bắt đầu từ thế kỷ này với Seguin và Monzels vào năm 1907, sau đó là những công trình của:
* Mathis – Léger năm 1909 ở Bắc Bộ
* Braun năm 1911 ở Nam Bộ
* Bernard – Koun năm 1913 ở Trung Bộ
* F.Montair 1920 ở Trung Bộ
* Galliard, Đặng Văn Ngữ năm 1937 ở Bắc Bộ
* Phạm Tử Dương 1957 ở Miền Bắc
* Hoàng Nguyên Dực 1958 ở Hà Nội với luận án tốt nghiệp y khoa về đề tài giun kim đầu tiên ở nước ta
Chủ yếu các tác giả này thống kê tỷ lệ nhiễm giun kim trên các cuộc điều tra với phạm vi rộng lớn, đồng thời thử tác dụng tẩy giun với nhiều loại hóa dược đã được đề xuất trong dược điển
Những năm trước đây ở Hà Nội, các tác giả Nguyễn Phan Long, Nguyễn Thị Loan, Trần Thị Nhung [21] và nhiều cộng sự tiếp tục điều tra tình hình nhiễm giun sán nói chung, giun kim nói riêng ở các nhà trẻ Phú Diễn, Mộc Châu, Hà Nội
Ở Miền Nam có Nguyễn Thị Song Hỷ và cộng tác viên điều tra về tỷ lệ nhiễm là 47%
Trang 16Hồ Thị Đức và cộng sự tiến hành điều tra ở trẻ em các nhà trẻ Thị xã Quy Nhơn ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun sán nói chung, trong đó có giun kim là 61,85%
Tỷ lệ trẻ em nông thôn mắc bệnh giun kim cao hơn ở Thành phố, trẻ
em nữ cao hơn trẻ em nam (nam 40,89%, nữ 45,48%) [12]
Mật độ nhiễm giun tăng nhanh ở độ tuổi 1 – 5 và sau đó giảm dần (trẻ
em dưới 1 tuổi: 1,88%, độ tuổi 1 – 5: 51,16%) Trẻ em sống tập thể có tỷ lệ nhiễm cao hơn trẻ em sống tại gia đình Ở người lớn có tỷ lệ nhiễm thấp [12]
Điều tra tại một nhà trẻ thấy 62% móng tay trẻ em có trứng giun, 12% sách vở có trứng Nghiên cứu một chiếc chiếu tìm thấy 257 trứng
1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh giun tròn KSĐR ở Lâm Đồng:
Kết quả khảo sát của chương trình Tây Nguyên II: [13]
Tháng 9/1987 trong cộng đồng Đinh Trang Hoà-Di Linh, tỷ lệ nhiễm giun chung 87,9% (Giun đũa 48,4%, giun móc 33,8%, giun tóc 5,7%, nhiễm phối hợp 11,9%) Lộc Bắc-Bảo Lộc tỷ lệ nhiễm giun chung 90,3% (Giun đũa 33,1%, giun móc 31,7%, giun tóc 25,5%, nhiễm phối hợp 9,7%)
Tháng 3/1990 trong cộng đồng huyện Cát Tiên: tỷ lệ nhiễm giun chung 91,7% (Giun đũa 62%, giun móc 16%, giun tóc 13,7%, nhiễm phối hợp 13,4%)
Tháng 4/1994 trong cộng đồng Bảo Lộc: nữ công nhân chè tỷ lệ nhiễm giun chung 66,9% (Giun đũa 50,1%, giun móc 21,1%, giun tóc 3,4%, nhiễm phối hợp 15,6%)
Tháng 10/1997 trong cộng đồng Đạ Nha- Đạ Teh, tỷ lệ nhiễm giun chung 95,2% (Giun đũa 80,9%, giun móc 26,2%, giun tóc 16,7%, nhiễm phối hợp 40,5%)
Trang 172 Đặc điểm sinh học và dịch tể bệnh giun tròn KSĐR:
2.1 Đặc điểm sinh học và dịch tể bệnh giun tròn KSĐR:
+Giun đũa( Ascaris Lumbricoides): Giun đũa là loại giun tròn có
kích thước lớn (đk: 2 – 6mm), dài 20 – 30 cm [13], được đào thải theo phân nên được biết từ rất lâu Nó được đề cập từ thời Hypocrate, Aristot, Galion nhưng đến năm 1683 mới được Tayson chính thức mô tả và đặt tên Ở nước
ta thời Tuệ Tỉnh, Hải Thượng Lãn Ông đã đề cập đến bệnh giun đũa [43]
Trên đuôi của giun đũa có những dây thần kinh cảm ứng với hóa chất gọi là plasmide, nên nó được xếp vào lớp plasmidia họ Ascaridia Vì vậy tên của nó là Ascaris Lumbricoides Vị trí của giun đũa trong bộ Nematoda
Giun đũa thuộc bộ Ascaroidae, đây là giun sống tự do hay ký sinh Miệng gồm ba môi: một môi lưng, hai môi bụng, trên môi có núm môi, môi lưng có hai núm Hình thể môi là đặc điểm quan trọng để phân loại
ascarcoidae [49]
Hình thể bên ngoài:
Là loại giun tròn, không phân đoạn, được bao bọc một lớp kitin ở bên ngoài Lớp này không thấm nước, có vai trò bảo vệ cho giun đũa tồn tại Khi trưởng thành giun cái dài 20 – 30cm đuôi thẳng, đường kính 2 – 6 mm, giun đực dài 20 – 25cm, có gai giao hợp Giun đũa có màu trắng sữa hoặc hơi hồng khi quan sát thấy [29]:
Đầu: Thon nhỏ có môi xếp cân đối, bao bọc ngoài môi là tầng vỏ cứng trong, dưới tầng đó có một lớp hạ bì cấu tạo thành tủy môi, dựa vào đó để định loài
Thân: Được bọc bởi một lớp vỏ cứng, có chia thành từng ngấn vòng quanh đều từ thân đến đuôi
Trang 18Đuôi: Nhọn gần cuối đuôi sát về phía bụng là lỗ hậu môn, ở con đực lỗ hậu môn là lỗ phóng tinh, ở con cái là lỗ đẻ nằm 1/3 trước của thân, ngang chỗ này giun hay thoắt lại
Các cơ quan bên trong:
Bộ máy tiêu hóa: Gồm có ba môi ở phía đầu là bộ phận định hướng,
hướng dẫn giun đến vùng có thức ăn, ống tiêu hóa thì đơn giản vì thức ăn đã được người tiêu hóa rồi
Bộ phận sinh dục: Giun cái: Gồm hai ống, phần đầu nhỏ có tác dụng
như phòng chứa trứng, phần sau lớn dần có tác dụng như hai vòi trứng Hai vòi trứng này đến lỗ sinh dục cái thì tập trung thành âm đạo và đổ ra lỗ đẻ
Trứng giun đũa: Hình trái xoan, kích thước 45 – 75 x 35 – 50 mm, có 3
lớp vỏ: Ngoài có vỏ Albumine sần sùi, bắt màu vàng nâu với muối mật, vỏ giữa dày màu trong và trong cùng là một lớp mỏng, bền có sức chống đỡ với hóa chất cao Bên trong trứng có chứa nhân xẩm màu, khi trứng thụ tinh thì lớp vỏ Albumine bóc ra
Theo Browen và Cort, trong thân giun cái có thể chứa tới 27 triệu trứng và mỗi ngày đẻ khoảng 200.000 trứng, khối lượng trứng giun đẻ ra trong một năm bằng 1.700 lần khối lượng của nó Giun cái đạt 15cm chiều dài có thể đẻ trứng
Giun đực: Bộ phận sinh dục đực là một ống nhỏ, phần đầu nhỏ hơn có tác dụng như một ống dẫn tinh, đến phần ống phụt tinh và đổ ra phía hậu môn
Ngoài ra có bộ máy thần kinh, tuần hoàn, bài tiết nhưng đơn giản
*Chu kỳ giun đũa:
Được Stéwart phát hiện và mô tả năm 1916, khu vực sống của giun đũa là phần đầu và phần giữa của ruột non, môi trường thích hợp có PH từ 7.5 – 8.2 [49]
Trang 19Chu kỳ giun đũa đơn giản gồm: Người <-> Ngoại cảnh, con trưởng thành sống khoảng 12 – 18 tháng [25] Khi trưởng thành, con cái đẻ trứng khoảng 200.000 trứng/ngày, trứng chưa có phôi lúc sinh ra theo phân ra ngoài, trứng mới sinh ra chưa có khả năng lây nhiễm sẽ phát triển thành trứng có phôi từ 2 – 4 tuần lễ có khả năng lây nhiễm Khi người nuốt phải trứng giun có phôi (trong rau sống hay nước uống) chất dịch tiêu hóa sẽ tác dụng lên vỏ trứng và phóng thích ra ấu trùng, ấu trùng đến ruột non đi vào huyết quản màng ruột đến gan qua hệ thống cửa hay xuyên qua phúc mạc
Ở gan bằng đường tỉnh mạch dưới gan đến tim phải, động mạnh phổi và mao quản phổi vào ngày thứ ba, ấu trùng lột xác hai lần tại đây Vào ngày thứ mười, nó đến thành phế nang, mao quản và theo đường máu đến đường thở Tại đây, nó rời phế nang đi ngược lên cuống phổi nhỏ đến cuống phổi lớn và khí quản đến ngã tư hô hấp tiêu hóa
Sự hiện diện của ấu trùng tại vùng này tạo một phản xạ ho, tạo điều kiện thuận lợi cho phản xạ nuốt làm nó rơi lại xuống ống tiêu hóa Vào dạ dày thực quản, nó lột xác một lần nữa để trở thành con trưởng thành
Chu kỳ từ khi nhiễm giun cho đến khi trưởng thành cần thời gian từ 60 – 75 ngày Vì vậy, việc xổ giun định kỳ cần tiến hành trong vòng 3 – 6 tháng Ngoài ra, theo kỳ Stéwart ngoại cảnh là yếu tố bắt buộc phải có Do đó, việc phòng tránh nhiễm giun cần phải giáo dục vệ sinh môi trường [49] *Khả năng phát triển của trứng giun đũa:
Trứng giun đũa không phát triển ở trong ruột người mà ra ngoài mới phát triển được, nhiệt độ thuận lợi ở môi trường từ 24 – 25 oC Ở nhiệt độ này trong vòng 12 – 15 ngày, trứng đã phát triển thành ấu trùng Tuy nhiên, trứng vẫn phát triển trong giới hạn từ 12 – 36o C, dưới 12 oC trứng không phát triển
Trang 20Nhiệt độ 60o C trong vài giờ mới có khả năng diệt trứng, độ ẩm 80% thì thuận lợi cho sự phát triển của trứng Điều kiện ngoại cảnh, ánh sáng mặt trời có khả năng diệt trứng mạnh Trứng ở trong nước không phát triển được, nếu ở đó quá lâu từ 6 – 10 tháng cũng bị diệt
Đối với hóa chất, trứng giun đũa có sức chịu đựng cao, Formol 16% không có khả năng diệt trứng, các dung dịch, thuốc sát khuẩn thông thường như thuốc tím không có khả năng diệt trứng mạnh
Độ tối có khả năng ngăn cản sự phát trển của trứng giun đũa Đây là một yếu tố hủy diệt trứng giun đũa của hố xí hai ngăn [49]
Do số lượng trứng giun đũa được bài xuất ra theo phân lớn cùng với sức đề kháng của trứng rất cao nên giun đũa là loại phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới
Người mắc bệnh là nguồn lây duy nhất Mầm bệnh: Trứng thụ tinh có
ấu trùng giun đũa lây theo đường phân miệng
+Giun tóc:
*Đặc điểm sinh học;
-Hình thể: Giun tóc trưởng thành là loại giun nhỏ dài 30-50mm, phần đầu nhỏ như sợi tóc, phần đuôi phình to hơn Con cái đuôi thẳng, con đực đuôi cong
- Trứng hình quả cau, vỏ dày KT 50-52mm
-Chu kỳ:
+ chu kỳ của giun tóc:
- Giai đoạn ở người: Giun ký sinh ở đại tràng, người nhiễm giun là do ăn phải trứng của giun tóc có ấu trùng vào tới ruột non, trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng di chuyển xuống đại tràng và phát triển thành giun tóc trưởng
Trang 21thành Giun trưởng thành giao hợp, giun cái đẻ trứng, trứng ra ngoại cảnh mới phát triển được
- Giai đoạn ngoại cảnh: Trứng giun tóc ra ngoại cảnh theo phân, gặp điều kiện thích hợp (TO 25-30O C, độ ẩm 80%, O2 đủ) sau 17 ngày trứng sẽ phát triển thành trứng có ấu trùng, trên 50OC trứng sẽ bị tiêu diệt, nhưng nhiệt độ lạnh thì trứng chịu đựng tốt (nên bệnh có cả ở các nước xứ lạnh) Nhiệt độ > 30O C trứng sống 9 ngày Các chất sát trùng khó tiêu diệt trứng,
vì trứng có vỏ dày Người ăn phải trứng có ấu trùng sẽ bị nhiễm giun Thời gian hoàn thành chu kỳ là 1 tháng Giun sống 5- 6 năm
+Giun móc: Hiện nay đa số các tài liệu sử dụng cách phân loại của
Chitwood (1937) Theo cách phân loại này, giun móc ký sinh và gây bệnh ở
người có hai loài: A.duodenale và N.americanus Hai loài này thuộc lớp
Nematode, lớp phụ Myosiringata,bộ Strongylata, bộ phụ II Strongyloidae, và
thuộc họ Ancylostomidae.Trong họ Ancylostomidae có hai giống:
Ancylostoma và Necator Trong giống Ancylostoma có nhiều loài, trong số đó
có: Ancylostoma braziliens; Ancylostoma ceylanicum; Ancylostoma caninum;
Ancylostoma malayanum; A.duodenale Trong giống Necator có loài N.americanus ký sinh ở người [63], [64], [88], [89]
Việc định loài giữa A.duodenale và N.americanus chủ yếu dựa vào
hình thể giun trưởng thành với ba đặc điểm sau: Bộ phận sắc của bao miệng, hình thể đuôi giun đực, tư thế của thân giun [45], [108]
Trứng N.americanus dài và thon hơn trứng A.duodenale, trứng của hai
loài hình trái xoan, vỏ mỏng, trong suốt không bắt màu, trứng lúc sinh ra đã
có 4 - 8 phôi bào Kích thước trứng N.americanus khoảng chừng 70 micromét, trứng của A.duodenale khoảng 60 micromét [45], [67]
Trang 22Do ấu trùng của A.duodenale và N.americanus có những điểm khác
nhau về hình thể, nên có thể dựa vào đó để định loài theo khóa định loài giun móc/ mỏ của Sasa 1958 [5] Những điểm khác nhau chính như:
N.americanus: Mồm đậm như dấu chấm than, bao đuôi cong
A.duodenale: Mồm mờ, mảnh, bao đuôi thẳng, hoặc dựa vào khóa
định loài ấu trùng giun móc có thực quản hình trụ trong cấy phân người do Pawlowski Z.S.(1991) đề xuất [108]
Theo Đỗ Dương Thái (1972 – 1976) định loài ấu trùng giun móc có thể dựa vào đặc tính miễn dịch khi dùng các huyết thanh kháng giun móc để xác định loài ấu trùng [59]
Gần nay, Romstad A.(1997) [115], Monti J.R (1998), Shetty P.(1998) [116] đã ứng dụng kỹ thuật ELISA (Enzyme Linked Immuno Sorbent
Assay), PCR (Polimerase Chain Reaction) để định loài A.duodenale và
N.americanus, tuy nhiên do giá thành đắt và phức tạp nên ít được sử dụng
rộng rãi trong cộng đồng
*Đặc điểm dịch tể:
Dưới những điều kiện nhiệt đới tự nhiên, những ấu trùng giun móc sống tự do chỉ sống được rất ít ngày Hai giai đoạn tự dưỡng đầu tiên của ấu trùng giai đoạn I, giai đoạn II vẫn còn ở trong phân hoặc trong đất bị nhiễm phân và ít di chuyển Nhiều ấu trùng bị chết trong những ngày đầu ở thời kỳ phát triển thành ấu trùng giai đoạn III có tính nhiễm, còn hầu hết ấu trùng bị các loài giun tròn, bẹt và các động vật không xương sống trong đất tiêu diệt [31], [88]
Trái lại, ấu trùng giai đoạn III, không tự dưỡng có thể lây nhiễm và di chuyển đáng kể theo chiều thẳng đứng (1 mét hoặc hơn), ấu trùng giai đoạn III ít di chuyển theo chiều ngang, nhưng có thể di chuyển đến bề mặt đất hoặc cây rau quả thấp để có thể tiếp xúc với vật chủ người, do vậy nó có thể
Trang 23bị sấy khô bởi ánh sáng mặt trời Đa số ấu trùng này chỉ sống được ít ngày và rất ít ấu trùng sống được trên 1 tháng [108]
Bóng mát, độ ẩm, đất nhiều mùn và cây cối hỗ trợ cho sự phát triển và sống sót của ấu trùng Những vùng đất không có bóng mát, đất nhiễm mặn, đất cát thấm nước nhanh và đất ngập nước là những nơi không thuận lợi cho ấu trùng giun móc Nhìn chung những vùng đất để phóng uế và những cánh đồng được bón phân tươi là những vùng nhiễm bẩn chủ yếu [108]
Mưa lớn có thể làm trôi ấu trùng giun móc từ các hố xí hoặc những vùng nhiễm phân vào các ao hồ, đầm lầy Nhiễm bệnh nặng có thể xảy ra ở những vùng nhiễm bẩn thứ phát này Mật độ của ấu trùng thay đổi tuỳ theo mùa và tuỳ theo tính chất tiếp cận của đất với phân [88] Phạm Hoàng Thế (1969) thấy rằng: “Trong những mùa ít nắng, có mưa, ấu trùng giun móc có nhiều hơn những mùa nắng nhiều hoặc khô ráo”, Kiều Tùng Lâm thấy: “âáu trùng tập trung nhiều quanh hố xí, quanh những nơi ủ phân” [64]
- Các thói quen phóng uế: Do ấu trùng giun móc không di chuyển theo chiều ngang nên nhiễm giun móc nặng thường cần phải có sự tiếp xúc trực tiếp với đất ô nhiễm phân ở những vùng đất phóng uế
+Giun kim: Giun kim thuộc loại Enterobius vermicularis, giống
Entrobius, họ Oxyuridae được Linné mô tả năm 1758 [37]
Aûnh hưởng và tác hại của giun kim rất lớn không những đối với người mà cả đối với gia cầm, gia súc khác Chính vì vậy mà đã có nhiều công trình nghiên cứu về giun kim [35]
Giun kim trưởng thành: Giun kim là loại giun hình ống có kích thước
bé, màu trắng, hai đầu nhọn, miệng gồm 3 môi tiếp liền với thực quản, phần cuối thực quản có một khúc phình ra goiï là u phình thực quản Đây là đặc
Trang 24Giun kim cái có kích thước dài 9 – 12mm, rộng 0,6mm, đuôi thẳng, nhọn Bộ phận sinh dục gồm hai buồng trứng nhỏ, hai ống dẫn trứng rất to, bên trong chứa đầy trứng xếp thành hai hàng trước và sau thân giun Hai ống dẫn trứng này đổ vào ông dẫn trứng nhỏ ngắn để đổ ra lỗ sinh dục cái ở nữa trước của thân
Giun kim đực nhỏ hơn, có kích thước dài 2 – 5mm, rộng 0,2mm, đuôi cong, gấp về phía bụng, cuối đuôi thường có một gai sinh dục lòi ra phía ngoài Bộ phận sinh dục đực gồm hai tinh hoàn hình ống và ống dẫn tinh
Trứng giun kim: Trứng có hình bầu dục, không cân đối, một mặt
phẳng, một mặt lồi, lép một góc Kích thước chiều dài từ 50 – 60 micrômét, chiều rộng từ 30 – 32 micrômét Vỏ mỏng nhẵn Nhân thường có hình ảnh ấu trùng bên trong Do ấu trùng giun kim phát triển nhanh, nên dễ gặp hình thể ấu trùng hoàn chỉnh trong trứng
*Chu kỳ của giun kim:
Chu kỳ phát triển bình thường của giun kim: Giun kim trưởng thành
sống chủ yếu ở manh tràng (phần cuối ruột non và phần đầu ruột già), giai đoạn đầu có thể ở ruột non Dễ gặp giun kim ở ruột thừa
Thức ăn của giun kim là các chất dinh dưỡng có trong lòng ruột nhưng không đáng kể
Giun đực và giun cái có sự giao phối ở ruột, sau đó giun đực chết và bị tống theo phân ra ngoài Giun kim cái sau khi được thụ tinh, tử cung chứa đầy trứng khoảng 200.000 trứng Khi đẻ, giun kim không đẻ ngay trong lòng ruột mà theo đường ruột di chuyển về phía trực tràng tới tận hậu môn và đẻ trứng ở rìa nếp nhăn hậu môn vào buổi đêm Nguyên nhân của việc di chuyển đi đẻ trứng này được giải thích theo một số giả thiết cho rằng giun kim cái cần oxy Khi đẻ trứng, giun kim cái quặn thân lại, bóp mạnh tử cung
Trang 25và dốc toàn bộ trứng ra ngoài Số lượng trứng đẻ thay đổi từ 4.000 đến 16.000 trứng Sau khi đẻ hết trứng, giun cái teo lại và chết
Trứng giun kim được đẻ ra trên nếp nhăn hậu môn, phát tán ra giường chiếu, chăn màn, hoa quả … và có đặc điểm là trứng có mức độ phát triển như nhau Ngay sau khi đẻ nếu gặp nhiệt độ khoảng 300C và độ ẩm thích hợp thì trứng giun kim đã có khả năng lây nhiễm Người ăn phải trứng có ấu trùng qua vật dụng, thức ăn, tay bẩn … vào ruột Ở đây, ấu trùng thay vỏ hai lần và phát triển thành giun trưởng thành ký sinh ở manh tràng trong khoảng thời gian 3 đến 4 tuần
Aáu trùng của giun kim không có giai đoạn chu du trong cơ thể Đời sống của giun kim trong ruột người chỉ trong vòng 1 – 2 tháng Chu kỳ giun kim rất đơn giản, thời gian hoàn thành chu kỳ nhanh Trứng đẻ ra chỉ trong
vòng 6 – 8 giờ sau đã hình thành ấu trùng có khả năng lây nhiễm
Chu kỳ phát triển khác của giun kim:
-Sự tái nhiễm: Giun kim đẻ trứng ở nếp nhăn hậu môn, gây ngứa, trẻ
em dùng tay gải cho bớt ngứa, xong đưa tay nhiễm trứng lên miệng và trực tiếp nuốt trứng vào Sự tái nhiễm thường xảy ra ở trẻ kém vệ sinh Chu kỳ này làm cho bệnh nhân bị tái nhiễm nhanh và kéo dài
-Hiện tượng nhiễm ngược: Trứng ở hậu môn nở thành ấu trùng, ấu trùng trực tiếp chui vào hậu môn, đi ngược theo khung đại tràng đến manh tràng để phát triển thành giun trưởng thành sau 3 – 4 tuần (hiếm gặp)
-Trứng giun kim khi mới đẻ ra thường đã có ấu trùng, chỉ cần ẩm độ thích hợp, nhiệt độ 300C, có oxy sau 4 đến 6 giờ trứng giun kim phát triển thành trứng có ấu trùng cử động được, có khả năng lây bệnh
-Nhiệt độ dưới 200 C và nhiệt độ trên 400 C trứng không phát triển được Ở 600 C vài phút là trứng đã hỏng 150 C sau 1 giờ trứng cũng hỏng
Trang 26-Trong dung dịch phenol 1 – 2%, cresyl 5% trứng giun kim phát triển bình thường, nhưng trong dung dịch phenol 5% và cresyl 10% trứng giun kim
bị chết sau vài giờ Ở điều kiện thuận lợi, trứng giun kim có thể sống được 1 tháng
*Đặc điểm dịch tễ:
Giun kim do có chu kỳ phát triển trực tiếp, không phụ thuộc vào yếu tố địa lý, khí hậu nên giun kim là giun đường ruột phổ biến nhất ở mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là ở trẻ em Bệnh giun kim dễ lây nên có khi gặp cả một tập thể trẻ em nhiễm bệnh Mức độ phân bố bệnh chủ yếu tùy thuộc vào tình hình vệ sinh cá nhân
-Lây trực tiếp: Sự tự nhiễm là cách lây truyền phổ biến và quan trọng Hiện tượng nhiễm ngược dòng
-Lây truyền gián tiếp: Chủ yếu là truyền qua tay bẩn từ người này sang người khác qua thức ăn, nước uống, bụi bặm, dụng cụ nội trợ, đồ chơi của trẻ em …
2.2 Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới mức độ nhiễm giun tròn KSĐR:
+Giun đũa: Dùng phân người để tưới rau, phóng uế bừa bãi, hố xí
không đúng quy cách, để chó lợn gà ăn phân người Ruồi nhiều, không rửa tay trước khi ăn và sau khi đi cầu Aên phải thực phẩm nhiễm bẩn, nguồn nước bị nhiễm trứng giun đũa, nhiệt độ, độ ẩm thích hợp cho sự tồn tại và phát triển của trứng giun đũa Ý thức vệ sinh của người dân chưa cao
+Giun tóc: Môi trường đất có trứng giun tóc Tập quán canh tác lạc
hậu còn dùng phân bắc tươi làm phân bón cho cây trồng Tập quán sinh hoạt, vệ sinh kém: Hố xí thiếu hoặc không hợp vệ sinh, đi ngoài không đúng nơi quy định Thời tiết khí hậu nóng ẩm, các điều kiện kinh tế xã hội, văn hoá, giáo dục, dân trí, kinh tế còn thấp
Trang 27+Giun móc: Do ý thức kín đáo trong lúc đại tiện nên người dân
thường chọn những vùng được che khuất bởi các bụi cây là nơi khá ẩm thấp, râm mát, vì thế đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ấu trùng giun móc Thói quen sử dụng cùng một nơi để đại tiện dẫn đến ô nhiễm phân nặng nề và có nguy cơ tái nhiễm thường xuyên [108]
Các hoạt động nông nghiệp: Nhiễm giun móc thường liên quan với việc canh tác các loại cây trồng như: rau màu, hoa quả, cà phê cao su, dâu tằm, chè… Do các loại cây trồng này tạo ra bóng mát và mọc ở đất nhiều mùn đã tạo điều kiện cho sự lây truyền giun móc Việc tưới nước cho cây trồng tạo điều kiện thuận lợi nhiễm giun móc xảy ra ở những vùng khô cằn
ít mưa Lực lượng lao động đông đảo trên cánh đồng, nông trường trong một thời gian hàng ngày, điều kiện vệ sinh không đầy đủ, thì việc nhiễm phân nặng nề của đất chắc chắn sẽ xảy ra Do đó sự xâm nhập của ấu trùng giun móc qua da gây bệnh cho người sẽ dễ dàng ở những nơi người lao động thường có thói quen làm việc không có phương tiện bảo hộ lao động chân tay [108]
Sử dụng phân người làm phân bón: việc sử dụng phân người tươi hoặc phân ủ không đầy đủ làm phân bón có thể góp phần đáng kể cho việc lây nhiễm giun móc Tuy nhiên, phân ủ đầy đủ hoặc phân trộn lẫn nước tiểu và giữ qua một thời gian lâu dài sẽ không còn nguy cơ lây nhiễm, việc thêm phân hoá học vào cũng sẽ giết chết các trứng và ấu trùng giun móc, đồng thời sẽ cải thiện chất lượng phân bón [63], [108]
+Giun kim: Sự lây nhiễm giun kim có thể do: Hít phải bụi bặm khi quét nhà, quét sân, rủ chăn chiếu Tay bẩn cầm thức ăn Không rửa tay trước khi ăn, sau khi đi cầu Tất cả những yếu tố trên thuận lợi để nhiễm
Trang 28giun kim Vì vậy, chúng ta cần phải biết cách phòng ngừa để tránh lây nhiễm
2.3 Tác hại của bệnh giun tròn KSĐR đối với con người:
+Giun đũa: Khi bị nhiễm giun đũa, nó gây ra tác hại rất lớn đối với
con người, đặc biệt đối với trẻ em thì tác hại này còn lớn hơn
Khi còn ở giai đoạn ấu trùng, nó gây ra chảy máu huyết quản phổi, gây viêm tổ chức hay xung huyết phổi, ho, hen phế quản hay hội chứng loeffler
Ở giai đoạn ký sinh tại đường ruột, nếu số lượng ít thì không gây triệu chứng nhưng số lượng nhiều gây suy dinh dưỡng, rối loạn chuyển hóa, viêm niêm mạc ruột tại vị trí ký sinh
Người ta ước tính lượng giun đũa trung bình 26 con/một trẻ em thì một ngày mất đi 4g protein, 48 con/một trẻ em thì mất 7.2% Nitrogen, 13.4% chất mỡ trong khẩu phần ăn [41] Ngoài ra, sự chiếm vitamin A cũng được xác định [15, 19] Hậu quả cuối cùng dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em Ngoài ra, khi giun ở ruột còn gây ra một số bệnh như lồng ruột, thủng ruột, tắc ruột, viêm ruột thừa, giun chui ống mật …
Trong y văn còn ghi nhận giun đũa gây ra một số bệnh như: Giun đũa chui vào xoan phúc mạc (Blégny – 1679), áp xe gan chảy mủ thành bụng có giun sống ra theo (Kirkland – 1786), 21 trường hợp giun đũa cư trú ở gan (Bofnils – 1858 [39] Ở Việt Nam, giáo sư Tôn Thất Tùng cũng ghi nhận một trường hợp bị hoại tử chi phải cắt cụt do giun đũa làm tắt động mạch ruột [45]
+Giun tóc: Các triệu chứng chỉ rõ khi trong cơ thể người có trên 50
con giun Giun gây viêm đại tràng, rối loạn tiêu hoá, thiếu máu nhẹ
Trang 29- Tại đại tràng: Giun gây viêm đại tràng, rối loạn tiêu hoá Các triệu chứng của bệnh giống bệnh lỵ nên còn gọi là hội chứng giả lỵ
- Toàn thân bệnh nhân có thể bị thiếu máu nhẹ do giun tóc hút máu làm thức ăn
+Giun móc: Tác hại của giun móc và ấu trùng: Giun gây thiếu máu,
viêm tá tràng Aáu trùng gây mẩn ngứa ở da khi xâm nhập
Thể bệnh giun móc thường gặp: là bệnh thiếu máu Người có triệu chứng da xanh, niêm mạc nhợt nhạt, huyết sắc tố (Hb) dưới mức bình thường Fe huyết thanh giảm ( bình thường Hb cùa nữ: 12-15/ 100ml, nam 14-17g/ml, bình thường Fe huyết thanh là 30 gama%)
-Nguyên nhân giun gây thiếu máu là do: Giun hút máu 0,1- 0,3ml/ con/ ngày Giun tiết chất độc làm máu rỉ liên tục ở vết thương và ức chế quá trình tạo máu, có trường hợp thiếu máu nặng, Hb < 6g / 100ml
+Giun kim: Tác hại của giun kim chủ yếu gây kích thích, gây rối
loạn Nếu số lượng giun ít thường không có triệu chứng, nếu số lượng giun nhiều thì có biểu hiện:
-Rối loạn tiêu hóa: Triệu chứng hay gặp nhất là ngứa hậu môn vào buổi tối và lúc đi ngủ Cơn ngứa kéo dài từ 30 phút đến một giờ, đôi lúc cũng xảy ra vào ban ngày Ngứa là do giun kim di chuyển và đẻ trứng Khám rìa của hậu môn thấy xung huyết đỏ, hoặc những vết xước do gãi, có thể gặp giun kim cái ở đó Soi trực tràng có thể thấy những nốt kích thích và xung huyết
-Do giun sống ký sinh ở ruột gây tình trạng viêm ruột kéo dài, ruột bị thương tổn dẫn đến tình trạng: Aên kém ngon, bụng đầy hơi, đau bụng thường
ở góc hồi manh tràng, ỉa chảy
Trang 30-Viêm ruột thừa do giun: Tỷ lệ giun kim gây viêm ruột thừa có thể lên đến 14% (Balland) Khi giun kim ký sinh vào ruột thừa có thể đem theo cả
vi khuẩn gây viêm ruột thừa
-Rối loạn thần kinh: Bệnh nhân ngủ không ngon, nghiến răng Đau đầu, sự chú ý và khả năng làm việc giảm Ở trẻ em ban đêm hay đái dầm Biểu hiện nặng nhất về thần kinh là các cơn động kinh Ở 6% bệnh nhân giun kim có cơn động kinh
-Nhiễm trùng thứ phát ở hậu môn do gãi Biểu hiện triệu chứng ở cơ quan sinh dục Đặc biệt ở các em gái: Viêm âm hộ, âm đạo do giun kim lạc chỗ
3 Chẩn đoán và phòng bệnh giun tròn KSĐR:
3.1 Chẩn đoán:
+Giun đũa: Xét nghiệm tìm trứng giun trong phân là một phương
pháp tốt nhất và rộng rãi nhất để xác định tỷ lệ nhiễm giun và đánh giá hiệu quả tẩy giun của thuốc
*Phương pháp Kato: Đây là phương pháp mới dễ làm, nhanh, chính xác đối với giun sán nhưng không phát hiện được đơn bào
Phương pháp này cần: Giấy bóng kính Cellophane có hóa chất sẵn và dung dịch Kato gồm nước cất 100ml, Glycerine 100ml và Grennmalcide 0,3% 1ml
Cách làm: Dùng ½ hạt gạo phân cho lên lam, dùng giấy bóng kính có ngâm dung dịch Kato lên trên, dùng nút cao su ép đàn tấm lam càng mỏng càng tốt, để trong một giờ sau đó đem ra soi kính hiểm vi
*Phương pháp xét nghiệm phân trực tiếp: Dùng nước muối sinh lý, Lugol 1% dung dịch sát trùng làm loãng phân bằng dung dịch nước mối sinh
Trang 31lý sau đó đem soi tìm trứng giun Phương pháp này dễ làm đơn giản nhưng ít chính xác vì tính tập trung trứng không cao
*Phương pháp Willis: Đây là phương pháp tập trung được trứng bằng cách dùng nước muối bảo hòa 40% Phương pháp này đơn giản, rẻ tiền, ít tốn thời gian, tìm được các loại trứng giun đũa, giun móc, giun tóc … Tuy nhiên, nếu để lâu trứng sẽ rơi xuống đáy khó tìm ra
*Phương pháp Kato – katz: Mục đích của phương pháp này là xác định số lượng trứng trong một gam phân Tuy nhiên, nó ít được áp dụng vì số lượng phân lớn và phức tạp
+Giun tóc: Chủ yếu là xét nghiệm phân để tìm trứng bằng phương
pháp Willis hoặc phương pháp Kato
+Giun móc: Chẩn đoán lâm sàng bệnh giun móc rất khó vì những
triệu chứng rối loạn tiêu hoá, tuần hoàn rất dễ gặp trong nhiều bệnh khác Tuy nhiên ở những vùng dịch tễ nhiễm giun móc nặng, tình hình thiếu máu, rối loạn tiêu hoá có tính chất tập thể có thể giúp cho thầy thuốc dễ nhận định và có hướng xét nghiệm để chẩn đoán xác định [41],[45]
-Chẩn đoán xét nghiệm bệnh giun móc đơn giản, những trường hợp nhiễm nặng chỉ cần xét nghiệm phân soi trực tiếp tìm trứng giun móc trên kính hiển vi [45]
-Những trường hợp nhiễm nhẹ phải tiến hành thêm phương pháp tập trung trứng (thường dùng phương pháp Willis hoặc phương pháp Kato), đối với những trường hợp cần đếm trứng để xác định cường độ nhiễm, trước đây các tác giả ở Việt Nam thường đếm trứng theo phương pháp Stoll, hiện nay
đa số các tác giả sử dụng phương pháp Kato-Katz Nếu muốn xác định loài giun móc hoặc cấy phân theo phương pháp Harada - Mori, sau đó định loài con ấu trùng [45]
Trang 32-Chẩn đoán nhiễm và bệnh giun móc bằng những phản ứng miễn dịch thường dùng cho những điều trị hàng loạt, có độ chính xác tới 90% [45] Tuy nhiên việc xét nghiệm huyết thanh thường đắt, hơn nữa “sự chính xác của việc xét nghiệm bằng kính hiển vi cũng đã đủ đối với chẩn đoán hàng loạt ở cộng đồng
Các điều tra về nhiễm giun móc với các xét nghiệm phân được coi là tiêu chuẩn vàng” [53], [68]
Chú ý là phải đeo găng tay khi làm xét nghiệm để bảo đảm vệ sinh và làm xét nghiệm vào buổi sáng khi bệnh nhân chưa rửa hậu môn thì mới chính xác
3.2 Phòng bệnh giun tròn KSĐR:
*Nguyên tắc phòng bệnh:
-Phải kết hợp giữa phòng bệnh với điều trị để chống tái nhiễm Với các tập thể nhiễm giun cao cần điều trị hàng loạt để chống tái nhiễm Đối với giun kim có tuổi thọ ngắn nên nếu phòng chống nhiễm lại một cách tích cực thì có thể không cần dùng thuốc điều trị bệnh cũng tự khỏi
*Các biện pháp phòng bệnh:
Việt Nam do điều kiện tự nhiên thuận lợi cho mầm bệnh giun phát triển quanh năm, nền kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp kết hợp với thói quen ăn rau sống, uống nước lã, đi chân đất nên đã tạo điều kiện cho
Trang 33bệnh giun KSĐR chủ yếu là bệnh giun khép kín, chu trình khép kín, chu trình phát triển và tồn tại lâu trong cộng đồng Vì vậy nguyên tác phòng chống bệnh phải được tiến hành rộng rãi, có trọng tâm, trọng điểm, cần tập trung vào đối tượng có nguy cơ cao như phụ nữ và trẻ em, đồng thời cần phải tiến hành thường xuyên liên tục trong một thời gian dài
-Đối với yếu tố nghề nghiệp: có liên quan đến bệnh giun tròn KSĐR thường gặp ở những người nông dân, thuyền chài, những người chăn nuôi gia súc, hay những công nhân vệ sinh môi trường, nên cần phải giáo dục vệ sinh lao động và kiểm tra sức khoẻ định kỳ
- Giải quyết vệ sinh môi trường: mọi nhà sử dụng hố xí hợp vệ sinh, phù hợp với từng địa phương, tốt nhất là sử dụng hố xí tự hoại, quản lý phân, không phóng uế bừa bãi nhất là trẻ em Xử lý tốt phân, rác, nước thải, diệt ruồi, gián…
-Vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh ăn uống: Cung cấp thực phẩm không có mầm bệnh giun sán: rau không có trứng giun sán, thịt không có ấu trùng sán, cá tôm không có nang sán, kiểm tra sát sinh chặt chẽ đảm bảo các loại thịt ăn phải qua kiểm tra của thú y
- Cung cấp đầy đủ nước sạch để ăn uống, nhất là nơi công cộng, chống ruồi nhặng, gián, gió bụi làm ô nhiễm thức ăn, nước uống Chú ý đặc biệt với những cơ sở, những người chế biến bảo quản, sản xuất thực phẩm, lưu thông thực phẩm…
-Giáo dục cho bản thân mỗi người, mỗi gia đình biết làm gì để phòng chống bệnh giun tròn ký sinh trùng đường ruột Thông qua sử dụng nhiều kênh truyền thông giáo dục sức khoẻ, giáo dục học đường ở mọi nơi có thể làm được Cán bộ y tế, y tế thôn bản, giáo viên, học sinh, sinh viên… tham gia giáo dục sức khoẻ tại cơ sở
Trang 34-Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe về phòng chống bệnh giun kim Làm cho người dân ý thức được bệnh này phân bố rộng khắp nơi và mức độ nhiễm giun phụ thuộc vào trình độ vệ sinh
-Vệ sinh cá nhân: Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, không nên để trẻ em mặc quần hở đủng hoặc không mặc quần để tránh trẻ gãi hậu môn làm tay bị ô nhiễm trứng Giáo dục cho trẻ bỏ thói quen cắn móng tay, mút móng tay và thường xuyên cắt móng tay Rửa hậu môn cho trẻ nhỏ bằng xà phòng vào buổi sáng để diệt trứng giun kim, không để trẻ lê la ở vùng đất bẩn
-Vệ sinh tập thể: Lau rửa sàn nhà, bàn ghế hàng ngày ở các nhà trẻ mẫu giáo Quần áo, chăn chiếu thường xuyên được giặt và phơi nắng để diệt trứng
-Điều trị hàng loạt cho cả gia đình và tập thể có trẻ nhiễm giun kim 3 tháng một lần
Muốn phòng và điều trị tốt bệnh giun đũa, ta phải nâng cao ý thức của người dân về bệnh giun sán, quản lý phân rác và tăng cường vệ sinh cá nhân Ngoài ra, tại cộng đồng người ta dùng phương pháp xổ giun hàng loạt, định kỳ để điều trị
Do điều kiện kinh tế phát triển, nên xổ giun định kỳ đã được quan tâm và áp dụng cho những năm gần đây Việc chọn thuốc để điều trị trong cộng đồng ngoài hiệu quả còn đảm bảo an toàn, dễ áp dụng và rẻ tiền Do đó Mébendazole và Pyrantel là hai loại thuốc được lựa chọn cho xổ giun định kỳ ở cộng đồng hịện nay
Xổ giun định kỳ nhằm hai mục tiêu: Giảm tỷ lệ nhiễm giun và giảm các biến chứng do giun gây ra Nên việc xổ giun định kỳ cần kết hợp các biện pháp chống tái nhiễm Giun đũa gây biến chứng chủ yếu khi trưởng