• Từ những năm đầu của thập niên 90, vấn đề nghèo và giảm nghèo được quan tâm cả trên phương diện nghiên cứu lý luận, nhận thức và triển khai hành động trong thực tiễn.Những cuộc hội thả
Trang 1I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu luôn tồn tại trong xã hội Nghèo đói làm cho nền kinh tế chậm phát triển, giải quyết vấn đề nghèo đói là động lực để phát triển kinh tế - xã hội Ngay cả những nước phát triển cao cũng cótình trạng nghèo đói Toàn thế giới vẫn có hơn một tỷ người sống trong nghèo đói
Đó là một thách thức lớn cho sự phát triển của toàn thế giới
Trên thế giới hiện nay vấn đề đói nghèo vẫn là một trong những vấn đề cần được quan tâm giải quyết mang tính cấp thiết Theo số liệu mới nhất từ Cục thống
kê dân số tại Mỹ thì 1/6 dân số Mỹ đang trong tình trạng đói nghèo Tại quốc gia này, một gia đình 4 người có thu nhạp dưới 22.811 USD/năm được coi là đói nghèo Hơn nữa, trong thời đại ngày nay khi nhân loại đang hướng tới một nền văn minh tin học, thì bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận dân cư đang sống trong tình trạng nghèo đói
Việt Nam là một trong những nước nghèo trên thế giới, với gần 70% dân cưsống ở khu vực nông thôn, lực lượng lao động làm nông nghiệp là rất lớn Tình hình nghèo đói ở Việt Nam diễn ra rất phổ biến và phức tạp đặc biệt khu vực miền núi và nông thôn chiếm tỷ lệ rất cao, có sự chênh lệch giàu - nghèo rất lớn giữa thành thị và nông thôn Theo chuẩn nghèo mới được Chính Phủ ban hành trong Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005, cả nước có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ toàn quốc Vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là vùng Tây Bắc (42%), Tây nguyên (38%), thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (9%)
Do sự phát triển chậm của lực lượng sản xuất, sự lạc hậu về kinh tế và trình độ phân công lao động xã hội kém.Nghèo đói làm cho trình độ dân trí không thể
nâng cao, đời sống xã hội không thể phát triển được, dẫn tới năng suất lao động
xã hội và mức tăng trưởng xã hội thấp
Trang 2Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài người bởi "đói nghèo đã trở thành một vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫntới bạo động và chiến tranh" không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới Bởi, những bất công và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gaygắt trong quan hệ quốc tế, và nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa đáng bằng con đường hòa bình thì tất yếu sẽ nổ ra chiến tranh.Vấn đề XĐGN đã trở thành một trong những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị - xãhội hàng đầu mà Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Chính vì vậy mà cần tuyêntruyền, phổ biến cho mọi người dân hiểu và nắm được vấn đề nghèo đói đang là vấn đề gây trở ngại cho sự phát triển đất nước để từ đó đưa ra những hành động góp phần XĐGN ở nước ta hiện nay
Vấn đề nghèo đói cũng đang là vấn đề mà giới truyền thông hết sức quan tâm
Ở Việt Nam, truyền thông luôn đóng vai trò rất quan trọng phục vụ phát triển kinh tế xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo Đặc biệt là trong gần ba thập kỷ đổi mới vừa qua, truyền thông đã góp những thành tích không nhỏ làm giảm tỷ lệ đói nghèo Toàn quốc có trên 600 tờ báo, tạp chí, Đài tiếng nói Việt Nam và Đài truyền hình Trung ương với nhiều kênh phát liên tục trong ngày Trong những năm gần đây, đóng góp vào công cuộc đó còn có truyền thông đa phương tiện và đặc biệt là truyền thông báo chí Đây là lực lượng truyền thông đông đảo, có đónggóp lớn cho phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo của đất nước Truyền thông đã mang đến nhiều cách nhìn khác nhau về nghèo đói, từ đó đưa ra những đóng góp nhằm hoàn thiện chương trình xóa đói giảm nghèo trong thời gian tới Truyền thông luôn góp phần nâng cao nhận thức cho người dân về mọi mặt
và trong công cuộc xoá đói giảm nghèo nó cũng đóng vai trò quan trọng đặc biệt Báo chí, truyền thông càng ngày càng đưa đến cho người dân được nhiều thông tin hơn Mục đích của truyền thông là nhằm mang lại nhiều lợi ích hơn cho người
Trang 3nghèo Và khi được thông tin nhiều hơn, người nghèo có cơ hội tham gia vào việcxây dựng nền dân chủ có lợi cho mình và cho mọi người Mọi người cùng đóng góp tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, thực hiện chính sách và hưởng lợi từ chính sách Khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” do Đảng cộng sản Việt Nam đưa ra nhờ sự đóng góp của công tác truyền thông được thực thi tốt hơn.
Tuy nhiên, công tác truyền thông trong xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định Ở Việt Nam nói riêng và Thế giới nói chung báo chí mới chỉ dừng lại ở mức độ nhìn nhận những vấn đề đang xảy ra trước mắt, những biểu hiện nhãn tiền mà không thấy hiểm họa tương lai.Vấn đề cốt lõi là cầnnâng cao nhận thức cho người dân về XĐGN còn chưa được quan tâm tuyên truyền nhất là trên những phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt là báo chí Người dân chưa thực sự hiểu biết hết được thực trạng nghèo đói và công cuộc XĐGN để từ đó nâng cao nhận thức cũng như hành động để cùng chung tay XĐGN
Chính vì thế, thông điệp về thực trạng nghèo đói và XĐGN của báo chí hiệnnay là vô cùng quan trọng Tìm hiểu được mức độ xuất bản của các thông cáo báochí có ảnh hưởng thế nào đến nhận thức thay đổi hành vi người dân là vấn đềhàng đầu
Vì vậy Với hi vọng là nâng cao nhận thức của người dân về nghèo đói để từ
đó đưa ra những hành động giúp XĐGN, chúng tôi hi vọng rằng cuộc điều tra này
có thể giúp báo in-một trong những phương tiện tuyền thông gần gũi với cuộcsống Mọi người có một cái nhìn toàn diện về thực trạng nghèo đói đang diễn ra
và thực hiện công cuộc XĐGN một cách hiệu quả nhất nhằm thực hiện mục tiêuxây dựng, phát triển đất nước
Để làm rõ thêm về vấn đề này nhóm sẽ tập trung phân tích trên 2 báo là báo Nhân Dân và báo Hà Nội mới
Trang 4II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Các công trình nghiên cứu
Nghèo đói phân hóa giàu nghèo, xóa đói giảm nghèo… là chủ đề được Đảng, Nhà nước Việt Nam, nhiều cơ quan trong nước, tổ chức quốc tế, cán bộ nghiên cứu quan tâm và rất nhiều công trình nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau Đáng chú ý là một số công trình sau:
• Hằng năm Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới….thường công bố các nghiên cứu
về tình trạng đói nghèo trên thế giới trong đó có Việt Nam Năm 2000, WB chính
thức công bố “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới- tấn công nghèo đói” ở tầm
vĩ mô Ngoài thông tin về số lượng người nghèo trên thế giới, báo cáo thể hiện những luận điểm, cách tiếp cận, đánh giá trên nhiều phương diện của đói nghèo, nâng vấn đề đói nghèo trở thành vấn đề cấp thiết của nhân loại
• Từ những năm đầu của thập niên 90, vấn đề nghèo và giảm nghèo được quan tâm
cả trên phương diện nghiên cứu lý luận, nhận thức và triển khai hành động trong thực tiễn.Những cuộc hội thảo khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Bộ lao động
- Thương binh và xã hội (Bộ LĐTBXH), các tổ chức quốc tế ở Việt nam đã dần
phác họa bức tranh toàn cảnh về nghèo đói ở Việt nam.”Việt Nam đánh giá đói
nghèo và chiến lược” của WB vào tháng 1/1995 đã xem xét tình trạng nghèo đói
của nước ta trong bối cảnh kinh tế-xã hội khi vừa kết thúc chiến tranh và tiến hành đổi mới Đánh giá tổng quan và diễn biến đói nghèo của nước ta thể hiện rõ thông qua hội nghị nhằm tư vấn các nhà tài trợ cho VN “ Báo cáo Phát triển năm
2000 - tấn công đói nghèo” những nghiên cứu cho thấy rõ, đói nghèo là vấn đề nhức nhối trong xã hội Báo cáo đặc biệt hữu ích khi đưa cách tiếp cận để giải quyết nghèo khổ bền vững với 3 trụ cột, tạo cơ hội, đảm bảo sự bình đẳng, giảm
Trang 5bớt nguy cơ bị tổn thương Tài liệu này cung cấp nguồn tư liệu phong phú lien quan đến giảm nghèo rất hữu ích cho người nghiên cứu.
• Trong nghiên cứu “ Giảm nghèo và rừng ở Việt Nam” năm 2004, tác giả William
D Sunderlin và Huỳnh Thu Ba đã đưa ra những lời giải đáp cho một số câu hỏi
cơ bản có liên quan đến khả năng và mức độ tài nguyên rừng đã và sẽ đóng góp cho mục đích giảm nghèo ở Việt Nam “Chúng tôi cũng tìm hiểu mức độ liên quan giữa các kế hoạch lớn của chính phủ về khôi phục rừng với các chương trìnhgiảm nghèo ở Việt Nam” Những tác động tích cực của rừng đến giảm nghèo là không thể phủ nhận, tuy nghiên cứu chưa đánh giá cụ thể tác động của rừng đến giảm nghèo ở mức độ nào Nghiên cứu là tài liệu mở để người tìm hiểu có cái nhìn đa chiều về giảm nghèo và rừng ở Việt Nam
• Trong khuôn khổ dự án hợp tác Việt Nam - Canada “ Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiếu số Việt Nam” năm 2003 Tác giả Bùi Minh Đạo phân tích khá chi tiết, hiện trạng đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số vẫn còn tồn tại với những con số khá lớn Đồng thời tác giả đề cập đến những quan điểm nghèo đối với các vùng dân tộc thiểu số Cuốn sách sẽ giúp ích cho nhiều người nghiên cứu và cán
bộ giảm nghèo với những kinh nghiệm nghiên cứu đói nghèo và giải pháp giảm nghèo hiệu quả ở vùng dân tộc
• Năm 2010, nước Cộng hòa XHCNVN công bố “ Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 2010- Việt Nam 2/3 chặng đường thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, hướng tới năm 2015” Báo cáo đã đánh giá những thành tựu Việt Nam đã đạt được trong mục tiêu xóa đói giảm nghèo cùng cực, thiếu đói và đã đạt được những thành tựu đáng kể như: người nghèo giảm đáng kể, chất lượng cuộc sống người nghèo được cải thiện Đồng thời báo cáo cũng chỉ ra thách thức trong công cuộc xóa đói giảm nghèo thời gian tới.
• Hai tác giả Lê Du Phong và Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), Kinh tế thị trường
và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Các tác giả đã đánh giá những thành
Trang 6tựu về kinh tế - xã hội qua hơn 10 năm đổi mới và tiềm năng ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta.
• Hai tác giả Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Hân trong cuốn sách Phụ nữ
nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường (1996) Cuốn sách
đã nêu lên các quan niệm về phân hóa giàu nghèo và tình trạng đói
nghèo ở nước ta và trên thế giới; đánh giá thực trạng đời sống, các khó khăn và yêu cầu của phụ nữ nghèo nông thôn; đưa ra các khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách xóa đói, giảm
nghèo, giúp phụ nữ nghèo nông thôn vươn lên
Qua các nghiên cứu về đói nghèo trên đây ta thấy được thực trạng đói
nghèo hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng và thấy được cácyếu tố tác động đến tình trạng nghèo của người dân hiện nay Đồng thời một sốnghiên cứu cũng đề cập đến giải pháp xóa đói giảm nghèo đã đạt được những
thành tựu nhất định như: tỷ lệ hộ nghèo giảm, chất lượng cuộc sống người dân được cải thiện, cơ hội tiếp cận các dịch vụ được đẩy mạnh…góp phần vào
công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nước
2. Các sản phẩm truyền thông
- Các cuộc khảo sát gần đấy cho thấy rằng “ Truyền thông về giảm nghèo đang rất…… nghèo” Truyền thông cho người nghèo ( đa số mù chữ, thất học….) là một việc làm khó, thậm chí rất khó Nhưng nếu làm tốt thì giảm nghèo thiếu minh bạch dẫn đến mất kênh giám sát từ người hưởng lợi Nghèo truyền thông trong xóa đói giảm nghèo (gọi tắt là giảm nghèo) xuất phát từ ba nguyên nhân chính: (1) sự quá tải về chương trình, dự án; (2) thiếu công cụ giám sát, đánh giá và (3) hiểu không đầy đủ về truyền thông.
- Báo cáo chiến lược truyền thông trong chương trình 135 giai đoạn 2 của các tác giả Đặng Kim Sơn, Phạm quang Diệu, Phạm Hoàng Ngân, Trịnh Văn Tiến Trong các hoạt động đánh giá kết quả triển khai Chương trình 135 giai đoạn 1,
Uỷ Ban Dân Tộc (UBDT) và các nhà tài trợ quốc tế xác định một hạn chế không
Trang 7nhỏ đến việc hoàn thành mục tiêu của Chương trình khi triển khai chương trình 135 giai đoạn 1 là chưa có một kế hoạch hay chiến lược truyền thông Ngày 10 tháng 1 năm 2006 Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số 07/2006/QD-TTg phê duyệt Chương trình 135 cho giai đoạn 2006-2010 UBDT
và các nhà tài trợ cho rằng việc phát triển và triển khai một chiến lược truyền thông là điều kiện tiên quyết và đóng vai trò quan trọng để triển khai chương trình 135 giai đoạn 2 đạt hiệu quả Thực tế cho thấy Chương trình 135 cùng với Chương trình Xoá đói Giảm nghèo Quốc gia đã vận dụng một hệ thống các chính sách để cải thiện và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng khó khăn.
- Chiến lược truyền thông về nghèo đói và môi trường giai đoạn 2009) Chiến lược được xây dựng và triển khai tại hầu hết các các nhóm đốitượng có liên quan đến nghèo đói- môi trường trong dự án hoạch định chínhscahs thuộc các cơ quan chính phủ ở cấp trung ương và cấp tỉnh; các nhà tài trợ
(2006-và các tổ chức quốc tế; các cơ quan thông tin đại chúng.Vì vậy, một hoạt độngtruyền thông, một chương trình hành động được xây dựng dựa trên một chiếnlược với tầm nhìn dài hạn nhằm tăng cường khả năng cung cấp thông tin cho cácbên tham gia về mối liên hệ giữa nghèo đói và môi trường là hết sức cần thiết
trong giai đoạn triển khai của Dự án Hài hòa các mục tiêu giảm nghèo và Môi
trường trong chính sách và Lập kế hoạch hướng tới Phát triển Bền vững ( gọi tắt
là Dự án Nghèo đói và Môi trường từ 2006-2009)
- Chú trọng công tác truyền thông Chương trình giảm nghèo, tăng hộkhá năm 2011, góp phần thực hiện các chính sách đảm bảo an sinh
xã hội, hỗ trợ, chăm lo cho người nghèo, hộ nghèo ổn định cuộcsống vươn lên vượt chuẩn nghèo giai đoạn 3 một cách bền vững.Ngày 14/10/2011, Ban chỉ đạo chương trình giảm nghèo, tăng hộ kháthành phố đã xây dựng Thông qua các hoạt động truyền thông như:
Trang 8Phối hợp với Ban Nông thôn Đài tiếng nói nhân dân thành phố thựchiện chuyên mục “Cùng nhau vượt nghèo”, giới thiệu các gươngđiển hình, các mô hình giảm nghèo tiêu biểu, những tấm gương hỗtrợ giúp nhau cùng vượt nghèo…; Phối hợp với Ban chuyên đề Đàitruyền hình thành phố thực hiện mục chuyên đề thời sự thông quaviệc ghi hình, phỏng vấn, phóng sự các gương điển hình, các môhình giảm nghèo tiêu biểu…
- Bên cạnh đó, phát hành các tờ rơi, băng rôn, áp phích, tập huấn truyềnthông tại 06 phường xã điểm các nội dung về hoạt động của Chươngtrình giảm nghèo, tăng hộ khá đến người nghèo-hộ nghèo và hộ cậnnghèo của thành phố…
Trên đây là toàn bộ tổng quan nghiên cứu của các nhà khoa học, các ban nghành có liên quan cũng như thực trạng đăng tải các bài báo về nghèo đói trên phương tiện truyền thông nói chung và báo chí nói riêng qua đó đã giúp chúng ta
có cách nhìn nhận rõ hơn về nghèo đói Đồng thời có những ý kiến đóng góp trong đề ra các phương hướng giải pháp trong xóa đói giảm nghèo
III MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Trang 91.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm các mục đích sau:
- Tìm hiểu thực trạng đăng tải các bài viết về nghèo đói trên hai báo Nhân Dân và báo Hà Nội mới
- Đề xuất khuyến nghị đối với tòa soạn, biên tập viên, các phóng viên…nhằm nâng cao chất lượng các bài viết về nghèo đói trên hai báo trên
2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận, những khái niệm chủ chốt có liên quan trong đề tài nghiên cứu
- Chỉ ra thực trạng đăng tải các bài viết về nghèo đói trên hai báo Nhân Dân và báo
Trang 10- Phương pháp luận chung : Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp luận chuyên biệt: Đề tài vận dụng các lý thuyết xã hội học và lý thuyết xã hội học về truyền thông làm kim chỉ nam trong suốt quá trình nghiên cứu Hai phương pháp này được sử dung song song, kết hợp hỗ trợ nhau trong bàinghiên cứu
- Lý thuyết truyền thong: Mô hình truyền thông của Harold Laswell ( Mỹ ), đã chorằng muồn nghiên cứu về truyền thông, đặc biệt là phân tích báo chí cần tập trungphân tích các yếu tố trong công thức 5W :
- Hiệu quả như thế nào ? Why (effect ) hiệu quả
Mô hình truyền thông là một mô hình lý tưởng cho việc khai thác các thực trạng của vấn đề NĐ trên báo in, gợi ý cho đề tài những biến số về đặc điểm của các tin bài viết cụ thể ở đề tài này
2. Phương pháp thu thập thông tin.
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nội dung (phân tích định lượng) để mãhóa các thông tin liên quan
3. Phương pháp chọn mẫu.
- Chọn các bài báo của báo Nhân Dân và Hà Nội Mới từ ngày 30/9/2012 trở vềtrước Kết quả chọn ra 100 bài viết về nghèo đói trên báo Nhân Dân từ tháng 10năm 2011 đến tháng 9 năm 2012, các bài báo trong 12 tháng của 2 năm Và chọn
ra 100 bài viết về nghèo đói trên báo Hà Nội mới từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 9năm 2012, các bài báo ra trong 18 tháng của 2 năm.
Tất cả các bài được đọc và viết ra những thông tin về Nghèo đói nằm trong tinmục của bài, các bài báo có nội dung trực tiếp liên quan đến Nghèo đói được
Trang 11chọn, một số tin khác không có nội dung đề cập trực tiếp đến vấn đề nhưng vẫn liên quan đến những ảnh hưởng hay tác động của nghèo đói đến kinh tế-văn hóa-
xã hội, thực trạng các yếu tồ dẫn đến nghèo đói các thông tin liên quan tới cá nhân vượt nghèo hay người tốt giúp đỡ người nghèo đã được chọn trong nghiên cứu
4. Phương pháp xử lý thông tin.
- Sử dụng phần mền xử lý SPSS để nhập và xử lý thông tin
V THAO TÁC HÓA KHÁI NIỆM
Hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP
tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9/1993)
- Nghèo: nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn
các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa
Trang 12nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương
+ Nghèo tuyệt đối: là việc không thõa mãn nhu cầu tối thiểu để nhằm duy
trì cuộc sống của con người
+ Nghèo tương đối: là tình trạng không đạt tới mức sống tối thiểu tại một
thời điểm nào đó
- Hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần
nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
- Đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu
và thu nhập không đủ đảm bảo cho nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống Đó lànhững hộ dân cư hằng năm thiếu ăn, thiếu mặc thường phải vay nợ của cộngđồng và thiếu khả năng chi trả cộng đồng, tùy thuộc vào khả năng đảm bảo nhucầu lương thực, thực phẩm…
- Hộ đói: Hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu không đủ
đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả
năng trả nợ (Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)).
- Chuẩn nghèo của Việt Nam hiện nay là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ
nghèo của các hộ dân tại Việt Nam Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quântrên thế giới Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ Việt Nam 175/CT-TTg
ký ngày 21 tháng 09 năm 2010 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giaiđoạn 2011 – 2015
1. Khu vực nông thôn: những hộ có thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo Những hộ có mức thu nhập bình quân
từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo
Trang 132. Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân 500.000đồng/người/tháng Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến650.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo
- Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin Truyền thông là một
kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi
và người nhận Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những giừ người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ
- Báo in là thể loại báo chí xuất hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiện trên giấy, có
hình ảnh minh họa
VI ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.Đối tượng nghiên cứu:
- Thực trạng đăng tải các bài viết về vần đề nghèo đói trên hai báo Nhân Dân và báo
Hà Nội mới
2.Khách thể nghiên cứu: báo Nhân Dân và báo Hà Nội mới.
Trang 14- Báo Nhân Dân là đơn vị sự nghiệp Trung ương của Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo
trực tiếp và thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, có chức năng là cơ quanngôn luận của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ngọn cờ chính trị - tưtưởng của Đảng trên mặt trận báo chí nước ta ; cầu nối giữa Đảng, Nhà nước vớinhân dân
Về tổ chức bộ máy, báo Nhân Dân là cơ quan sự nghiệp cố thủ, được tổ chứcthành Bộ Biên tập, với cơ quan lãnh đạo, quản lý tờ báo gồm Tổng Biên tập, cácphó Tổng Biên Tập, các ủy viên Cơ cấu tổ chức của báo Nhân Dân gồm 25 đầumối và các ban biên tập chuyên môn, các vụ và đơn vị trực thuộc
- Báo Hà Nội mới là tiếng nói của cơ quan Thành ủy đảng cộng sản Việt Nam TP
Hà Nội Đây là tờ nhật báo tổ chức Đảng ở Thủ đô phát hành hàng ngày, chủ yếutại Hà Nội Tờ báo này thể hiện đặc trưng phong cách làm báo địa phương khuvực phía Bắc với cơ chế còn mang đậm tính chất “thời bao cấp”
Báo Hà Nội mới hàng ngày phát hành từ thứ 2 đến Chủ nhật, Qua thống kêcác tác phẩm báo chí đã đăng từ tháng 1/2008 đến tháng 6/2009 có: Tin: 34.625.Trong đó, có 7.459 tin vắn, tin không ít (chiếm 21.5%) Bài: 10.206 Trong đó,có: 72 tác phẩm thuộc thể loại phóng sự (chiếm 0,7%); 1.080 tác phẩm thuộc thểloại bình luận (chiếm 10,5%)
Vì cả hai báo Nhân Dân và báo Hà Nội mới đều là đơn vị ngôn ngữ hàng đầu cả Đảng và Nhà Nước, phản ánh trực tiếp và sâu sắc đời sống của người dân Chính vì vậy nhóm nghiên cứu chúng tôi quyết khảo sát nghiên cứu vấn đề nghèođói trên hai báo này để thấy được thực trạng đăng tải các bài báo về nghèo đói Qua đó đề suất một số đóng góp giúp xóa đói giảm nghèo để thực hiện mục tiêu phát triển Đất Nước
3. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian trên hai báo Nhân Dân và báo Hà Nội Mới
Trang 15- Thời gian các số báo ra từ tháng 9 năm 2012 trở về trước cho tới khi mỗi báo tìmđược 100 bài viết có nội dung xoay quanh nghèo đói.
VII. Ý NGHĨA CỦA BÁO CÁO
1. Ý nghĩa lý luận.
Về mặt lý luận, đề tài nghiên cứu này sẽ đóng góp vào số lượng đề tài xã hội
học về phân tích thực trạng đăng tải của báo chí Việt Nam về vấn đề Nghèo đói
Từ đó, chúng tôi cũng mong muốn nghiên cứu này sẽ là cơ sở và là nguồn số liệucần thiết cho các nghiên cứu tiếp theo
2.Ý nghĩa thực tế.
Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng bài viết liên quan đến vấn đề đói nghèo, góp phần vào đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta
B BÁO CÁO THỰC TRẠNG ĐĂNG TẢI CÁC BÀI VIẾT VỀ THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ GIẢI PHÁP
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO (KHẢO SÁT TRÊN HAI BÁO NHÂN DÂN VÀ BÁO HÀ NỘI MỚI)
Trang 16I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cho đến hôm nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả loài người Thế giới đã chứng kiến những thảm họa của chiến tranh, thảm họa của thiêntai, dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng Thế nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra cũng vô cùng khủng khiếp Điều đáng sợ hơn nữa là: Nếu như các cuộc chiến tranh
dù khốc liệt vô cùng nhưng rồi trước sau cũng được giải quyết, nếu như những thảm họa do thiên tai, dịch bệnh gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn
Trang 17đề nghèo đói của nhân loại lại là một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp lại như một căn bệnh kinh niên khó bề chạy chữa.
Đói nghèo là nỗi bất hạnh và là một phi lý lớn Trong khi nền văn minh thế giới
đã đạt được những thành tựu hiển nhiên về tiến bộ khoa học - công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thì thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con người lại vẫn là sự nghèo đói Hàng tỷ người, thực tế là một phần ba số dân thế giới vẫn khốn cùng và đói khát Thiệt thòi lớn nhất là trẻ em Hằng ngày có gần 100 triệu trẻ em không có cái ăn, trên 100 triệu trẻ em vô gia cư chỉ sống nhờ của bố thí hoặc sống dựa vào sự lao động quá sức, kể cả bằng các nghề đặc biệt là móc túi, mại dâm; trên 50 triệu trẻ em làm việctrong những ngành có hại; hàng trăm triệu trẻ em tuổi từ 6 - 11 không được cắp sách đến trường
Đói nghèo diễn ra trên tất cả các châu lục với những mức độ khác nhau Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sự đói nghèo của dân cư đang là một vấn đề nhức nhối rất cấp bách phải tháo gỡ nhưng cũng vô cùng khó khăn trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo
Ở Việt Nam cho đến hôm nay, theo số liệu của chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam vào năm 2004 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng 112 trên 177 nước, chỉ số phát triển giới xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổng hợp xếp hạng 41 trên 95 nước Cũng theo số liệu của chương trình pháttriển Liên Hợp Quốc, vào năm 2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩn của quốc gia của Việt Nam là 12,9%, theo chuẩn của Thế giới là 29% và tỷ lệ lương thực(%số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10,87% Vào đầu thập niên 1990, chính phủ Việt Nam đã phát động chương trình xóa đói giảm nghèo cùng lời kêu gọi của ngân hàng thế giới UNDP cho rằng mặc dù Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững
Trang 18và kết quả rất ấn tượng giảm tỷ lệ nghèo, song vẫn còn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng Để đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng nghèo cùng cực.
Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam có khoảng 2 triệu
hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn quốc hội Việt Nam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do lạm phát(khoảng 40% kể từ ban hành chuẩn nghèo đến nay) và là do suy giảm kinh tế Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam hiện nay là gồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000 đồng/người/tháng Mặc dù vậy nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rơi vào cảnh nghèo đói
Đói nghèo đang là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của các quốc gia trên thế giới Vì vậy, đây là vấn đề được các Chính phủ, các nhà lãnh đạo, các tổ chức quốc tế quan tâm để tìm ra giải pháp hạn chế và tiến tới xóa bỏ nạn đói trên phạm
vi toàn cầu
Xóa đói giảm nghèo không chỉ là công việc trước mắt mà còn là nhiệm vụ lâu dài Trước mắt là xóa hộ đói, giảm hộ nghèo; lâu dài là xóa sự nghèo, giảm khoảngcách giàu nghèo, phấn đấu xây dựng một xã hội giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
Xóa đói giảm nghèo không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụđộng mà phải tạo ra động lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động tự vươn lên thoát nghèo Xóa đói giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các đối tượng xã hội có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố
Trang 19quan trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo nên thêm một lực lượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định do giai đoạn “cất cánh”.
Do đó, xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu tăng trưởng (cả trên góc độ xã hội và kinh tế), đồng thời cũng là một điều kiện (tiền đề) cho tăng trưởngnhanh và bền vững
Xóa đói giảm nghèo là một yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng bền vững, ngược lại chỉ có tăng trưởng cao, bền vững mới có sức mạnh vật chất để hỗ trợ và tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên thoát đói nghèo Do đó, xóa đói giảm nghèo được coi là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội hằng năm của cả nước, các ngành và các địa phương
Hơn nữa, Nghèo là vấn đề quan trọng của Việt Nam trong định hướng Xã hội Chủ nghĩa, nghiên cứu về nghèo đói giúp các nhà làm chính sách có cơ sở để ra các quyết định về phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như XĐGN nói riêng
Do đó, yêu cầu bức thiết là phải có thêm nhiều nghiên cứu nghèo đói ở cấp vùng
và cấp địa phương với nhiều cách tiếp cận khác nhau kể cả định tính và định
lượng Thực hiện nhiều nghiên cứu hơn với những thông tin chi tiết hơn, chính xáchơn sẽ là bước đầu tiên quan trọng trong mọi chiến lược phát triển ở Việt Nam.Chính vì vậy với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào các công trình nghiên cứu về nghèo đói Trong bài tiểu luận này tập trung vào nghiên cứu về thực trạng nghèo đói và một số giải pháp xóa đói giảm nghèo trên hai báo Nhân Dân và báo
Hà Nội mới
II. THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI.
Trước tiên ta thấy được vấn đề nghèo đói được đề cập đến trên cả phạm vi Thế giới và Việt Nam Qua đó ta thấy được mức độ và tầm ảnh hưởng vĩ mô của nó đến sự phát triển đất nước của các quốc gia trên thế giới Chính vì vậy mà vấn đề