ĐẶT VẤN ĐỀ Acid folic hay folate thực sự đóng vai trò trong thành phần dinh dưỡng của thức ăn. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu vai trò của acid folic vẫn chưa được chú trọng hơn so với các sinh tố khác. Trong những thập niên gần đây, vai trò của sinh tố này mới bắt đầu được đánh giá một cách đúng mức, vì hiện nay chế độ dinh dưỡng thiếu rau tươi tại các quốc gia công nghệ tiên tiến đang dẫn đến tình trạng thiếu hụt acid folic và vì ảnh hưởng quan trọng của sinh tố này trên thai kỳ và trẻ sơ sinh. Trong khoảng thời gian ngay trước và ngay sau khi thụ thai cần ăn đủ acid folic để bào thai được phát triển khỏe mạnh, tránh được các biến cố bào thai hay bệnh tật bẩm sinh nguy hiểm cho thai nhi [22]. Và theo các điều tra ở Hoa Kỳ thì đa số mọi người không ăn đủ acid folic hàng ngày [11],[20]. Đời sống kinh tế xã hội ngày càng phát triển, cùng với sự hiểu biết ngày càng cao về vai trò dinh dưỡng đối với bà mẹ và thai nhi nói riêng và đời sống sức khoẻ nói chung. Đòi hỏi các cơ quan chức năng, các Viện nghiên cứu, cần đưa ra những số liệu về dinh dưỡng vi chất nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân. Ảnh hưởng của sắt và folic đối với phụ nữ trước và trong quá trình mang thai đã có nhiều công trình được nghiên cứu và công bố. Hậu quả của việc thiếu hụt folic đối với bà mẹ và thai nhi thì đã rõ ràng, nhưng các nghiên cứu về acid folic trong khẩu phần ăn của phụ nữ tuổi sinh đẻ hiện nay thì vẫn còn rất ít. Các nghiên cứu về thực phẩm, về các nguyên tố vi lượng, trong đó có acid folic và folic với phụ nữ tuổi sinh đẻ là một đòi hỏi cấp bách. Nó có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong lĩnh vực khoa học thực phẩm mà còn làm cơ sở cho các nghiên cứu về khoa học dự phòng, dinh dưỡng cộng đồng, dinh dưỡng lâm sàng và xây dựng các lời khuyên dinh dưỡng hợp lý và các can thiệp phù hợp nhằm đảm bảo mức đáp ứng folic với nhu cầu hàng ngày của phụ nữ tuổi sinh đẻ. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá kiến thức về vai trò của acid folic và hàm lượng acid folic trong khẩu phần của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở một huyện ngoại thành Hà Nội năm 2012.”, nhằm các mục tiêu sau: 1.Khảo sát kiến thức về acid folic của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở phường Yên Thịnh và xã Đường Lâm, Sơn Tây, ngoại thành Hà Nội năm 2012. 2.Đánh giá hàm lượng acid folic trong khẩu phần của phụ nữ sinh đẻ ở phường Yên Thịnh và xã Đường Lâm, ngoại thành Hà Nội năm 2012.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
…… ***……
ĐỖ THÚY LÊ
§¸NH GI¸ kiÕn thøc VÒ VAI TRß CñA ACID FOLIC
Vµ HµM L¦îNG ACID FOLIC TRONG KHÈU PHÇN CñA PHô N÷ TUæI SINH §Î ë MéT HUYÖN
NGO¹I THµNH Hµ NéI N¡M 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2009- 2013
HÀ NỘI – 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
…… ***……
ĐỖ THÚY LÊ
§¸NH GI¸ kiÕn thøc VÒ VAI TRß CñA ACID FOLIC
Vµ HµM L¦îNG ACID FOLIC TRONG KHÈU PHÇN CñA PHô N÷ TUæI SINH §Î ë MéT HUYÖN
Trang 3và Y tế công cộng đã đào tạo nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ và tạo điều
kiện cho em học tập và rèn luyện tại trường
Với tất cả tấm lòng kính trọng em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Lê Danh Tuyên – người đã trực tiếp, tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập cũng như hoàn
thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn Viện dinh dưỡng, Khoa thực phẩm- VSATTP- VDD, Trạm y tế xã Đường Lâm- Sơn Tây- Hà Nội và các thầy cô tại Khoa thực phẩm- VSATTP đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình
học tập cũng như hoàn thành luận văn này
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn tới các bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này; đặc biệt xin bày tỏ lòng
biết ơn tới gia đình, nơi đã cho tôi thêm sức mạnh trong quá trình học tập
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Lê Danh Tuyên; không trùng lặp với bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào khác Các số liệu, kết quả nghiên cứu là trung
thực và chưa được công bố.Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Đỗ Thúy Lê
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAD: Cơ quan quản lý An toàn thực phẩm Hoa Kỳ HPLC: Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao NCKN: Nhu cầu khuyến nghị
NIESH: Viện khoa học Sức khỏe và Môi trường NTD: Khiếm khuyết ống thần kinh
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ ACID FOLIC 3
1.1.1 Tính chất lý hóa 4
1.1.2 Vai trò sinh học 4
1.1.3 Vai trò dinh dưỡng 5
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 6
1.2.1 Thiếu acid folic gây thiếu máu hồng cầu to 6
1.2.2 Acid folic đặc biệt cần thiết cho phụ nữ mang thai 6
1.2.3 Acid folic phòng tránh dị tật thai nhi, giúp ngừa sứt môi và hở hàm ếch 7
1.2.4 Acid folic giúp giảm nguy cơ bị khuyết tật ống thần kinh ở thai nhi 8
1.2.5 Vitamin B và acid folic giúp ngăn ngừa bệnh tim 8
1.2.6 Axit folic giúp giảm chứng mất trí 9
1.2.7 Acid folic giúp ngăn ngừa bệnh ung thư dạ dày, ung thư máu và ung thư vú 10
1.2.8 Không mang thai cũng cần bổ sung acid folic 11
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 12
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 19
2.1.1 Đối tượng 19
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19
2.2.2 Cỡ mẫu, cách chọn mẫu 20
2.3 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 21
2.4 CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 22
2.4.1 Phỏng vấn đối tượng, điều tra khẩu phần tiêu thụ trong 24h 22
Trang 72.4.2 Phương pháp xử lý mẫu và thu thập mẫu: 22
2.5 SAI SỐ VÀ CÁCH KHỐNG CHẾ SAI SỐ 24
2.5.1 Sai số 24
2.5.2 Khống chế sai số 24
2.6 XỬ LÝ SỐ LIỆU, ĐÁNH GIÁ, NHẬN ĐỊNH KẾT QUẢ 24
2.6.1 Xử lý số liệu 24
2.6.2 Đánh giá, nhận định kết quả 24
2.7 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 25
2.8 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 KIẾN THỨC VỀ ACID FOLIC CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ 26
3.1.1 Độ tuổi 26
3.1.2 Quê quán 26
3.1.3 Trình độ học vấn 27
3.1.4 Nghề nghiệp hiện tại 27
3.1.5 Phân loại kinh tế 28
3.1.6 Tình trạng hôn nhân 28
3.1.7 Kế hoạch sinh đẻ 29
3.1.8 Kiến thức về thực phẩm và dinh dưỡng 29
3.1.9 Phương tiện tìm hiểu về thực phẩm và dinh dưỡng 30
3.1.10 Kiến thức acid folic trong thực phẩm và dinh dưỡng 30
3.1.11 Phương tiện tìm hiểu về acid folic trong thực phẩm và dinh dưỡng 31
3.1.12 Sử dụng thực phẩm bổ sung chứa acid folic 32
3.1.13 Kiến thức về tác dụng của acid folic đối với phụ nữ độ tuổi sinh đẻ 32
3.1.14 Giai đoạn cần bổ sung acid folic 34
3.1.15 Kiến thức về các loại thực phẩm 34
3.1.16 Liên quan giữa trình độ học vấn (HV) và kiến thức về acid folic trong thực phẩm và dinh dưỡng (HB) 35
Trang 83.1.17 Liên quan giữa phân loại kinh tế (KT) và sử dụng thực phẩm bổ sung
chứa acid folic (SD) 36
3.1.18 Liên quan giữa kế hoạch sinh đẻ (KH) và kiến về acid folic (HB) trong thực phẩm và dinh dưỡng 36
3.2 HÀM LƯỢNG ACID FOLIC TRONG KHẨU PHẦN ĂN CỦA PHỤ NỮ TUỔI SINH ĐẺ 37
3.2.1 Mức tiêu thụ acid folic trung bình/24h qua 37
3.2.2 Hàm lượng acid folic trong khẩu phần ăn 24h 37
3.2.3 Khả năng đáp ứng về acid folic trong khẩu phần ăn 24h 38
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 39
4.1 KIẾN THỨC VỀ ACID FOLIC TRONG KHẨU PHẦN CỦA PHỤ NỮ ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ 39
4.1.1 Kiến thức về thực phẩm và dinh dưỡng 39
4.1.2 Kiến thức về acid folic trong thực phẩm và dinh dưỡng 39
4.1.3 Các tác dụng của acid folic 40
4.1.4 Các giai đoạn cần bổ sung acid folic 41
4.1.5 Các loại thực phẩm chứa nhiều acid folic 42
4.1.6 Liên quan giữa trình độ học vấn và sự hiểu biết về acid folic trong thực phẩm và dinh dưỡng 44
4.1.7 Liên giữa phân loại kinh tế và mức độ sử dụng thực phẩm bổ sung acid folic 44
4.1.8 Liên quan giữa kế hoạch sinh đẻ và mức độ hiểu biết về acid folic trong thực phẩm và dinh dưỡng 45
4.2 HÀM LƯỢNG ACID FOLIC TRONG KHẨU PHẦN ĂN 24 46
4.2.1 Hàm lượng acid folic trong khẩu phần ăn 24h 46
4.2.2 Khả năng đáp ứng về acid folic trong khẩu phần ăn 24h 47
KẾT LUẬN 48
KHUYẾN NGHỊ 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Phân bố dân cư 26
Bảng 3.2 Tình trạng hôn nhân 28
Bảng 3.3 Kế hoạch sinh đẻ 29
Bảng 3.4 Kiến thức về thực phẩm và dinh dưỡng 29
Bảng 3.5 Kiến thức về acid folic trong thực phẩm 30
Bảng 3.6 Liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức về acid folic trong thực phẩm và dinh dưỡng 35
Bảng 3.7 Liên quan giữa phân loại kinh tế và sử dụng thực phẩm bổ sung chứa acid folic 36
Bảng 3.8 Mối tương quan giữa kế hoạch sinh đẻ và kiến thức về acid folic trong thực phẩm và dinh dưỡng 36
Bảng 3.9: Mức tiêu thụ acid folic trung bình/ 24h qua 37
Bảng 3.10 Hàm lượng acid folic trong khẩu phần 24h 37
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố độ tuổi 26
Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn 27
Biểu đồ 3.3 Phân bố nghề nghiệp 27
Biểu đồ 3.4 Phân loại kinh tế 28
Biểu đồ 3.5 Phương tiện tìm hiểu về thực phẩm và dinh dưỡng 30
Biểu đồ 3.6 Phương tiện tìm hiểu về acid folic trong thực phầm và dinh dưỡng 31
Biểu đồ 3.7 Sử dụng thực phẩm bổ sung chứa acid folic 32
Biểu đồ 3.8 Tác dụng của acid folic 33
Biểu đồ 3.9 Giai đoạn bổ sung acid folic 34
Biểu đồ 3.10 Kiến thức về thực phẩm giàu acid folic 34
Biểu đồ 3.11 Khả năng đáp ứng về acid folic trong khẩu phần 24h 38
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Acid folic hay folate thực sự đóng vai trò trong thành phần dinh dưỡng của thức ăn Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu vai trò của acid folic vẫn chưa được chú trọng hơn so với các sinh tố khác Trong những thập niên gần đây, vai trò của sinh tố này mới bắt đầu được đánh giá một cách đúng mức, vì hiện nay chế độ dinh dưỡng thiếu rau tươi tại các quốc gia công nghệ tiên tiến đang dẫn đến tình trạng thiếu hụt acid folic và vì ảnh hưởng quan trọng của sinh tố này trên thai kỳ và trẻ sơ sinh Trong khoảng thời gian ngay trước và ngay sau khi thụ thai cần ăn đủ acid folic để bào thai được phát triển khỏe mạnh, tránh được các biến cố bào thai hay bệnh tật bẩm sinh nguy hiểm cho thai nhi [22] Và theo các điều tra ở Hoa Kỳ thì đa số mọi người không ăn đủ
acid folic hàng ngày [11],[20]
Đời sống kinh tế xã hội ngày càng phát triển, cùng với sự hiểu biết ngày càng cao về vai trò dinh dưỡng đối với bà mẹ và thai nhi nói riêng và đời sống sức khoẻ nói chung Đòi hỏi các cơ quan chức năng, các Viện nghiên cứu, cần đưa ra những số liệu về dinh dưỡng vi chất nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân Ảnh hưởng của sắt và folic đối với phụ nữ trước và trong quá trình mang thai đã có nhiều công trình được nghiên cứu và công bố Hậu quả của việc thiếu hụt folic đối với bà mẹ và thai nhi thì đã rõ ràng, nhưng các nghiên cứu về acid folic trong khẩu phần ăn của phụ nữ tuổi sinh
đẻ hiện nay thì vẫn còn rất ít
Các nghiên cứu về thực phẩm, về các nguyên tố vi lượng, trong đó có acid folic và folic với phụ nữ tuổi sinh đẻ là một đòi hỏi cấp bách Nó có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong lĩnh vực khoa học thực phẩm mà còn làm
cơ sở cho các nghiên cứu về khoa học dự phòng, dinh dưỡng cộng đồng, dinh dưỡng lâm sàng và xây dựng các lời khuyên dinh dưỡng hợp lý và các can
Trang 12thiệp phù hợp nhằm đảm bảo mức đáp ứng folic với nhu cầu hàng ngày của phụ nữ tuổi sinh đẻ
Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá kiến thức về
vai trò của acid folic và hàm lượng acid folic trong khẩu phần của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở một huyện ngoại thành Hà Nội năm 2012.”, nhằm các mục tiêu sau:
Thịnh và xã Đường Lâm, Sơn Tây, ngoại thành Hà Nội năm 2012
phường Yên Thịnh và xã Đường Lâm, ngoại thành Hà Nội năm 2012
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ ACID FOLIC
Acid folic hay Vitamin B9 (folate) lần đầu tiên được phát hiện bởi nhà sinh vật học William khi ông nghiên cứu về sự sinh trưởng của vi sinh vật năm 1941 Do tính chất phổ biến của hợp chất này trong lá (folium) nên nó được đặt tên là acid folic Folate là dạng tồn tại trong tự nhiên của vitamin
B9, còn acid folic là dạng tổng hợp
Dạng công thức hóa học của acid folic:
Cấu trúc phân tử của Acid folic:
Trang 14Acid folic có vai trò sinh học trong việc tạo ra tế bào mới và duy trì chúng [15] Nó đặc biệt quan trọng trong giai đoạn phân chia và lớn lên của tế bào ở trẻ sơ sinh và phụ nữ mang thai Chất này cần thiết trong việc nhân đôi
ADN và giúp tránh đột biến ADN, là một yếu tố có khả năng gây ung thư
Trang 15Việc thiếu acid folic làm chậm quá trình tổng hợp ADN và phân chia tế bào, ảnh hưởng tới các khu vực có sự tái tạo tế bào nhanh như ở tủy xương
Sự thiếu hụt acid folic làm chậm sự tổng hợp ADN, trong khi đó không ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp protein, khiến tạo ra nhiều tế bào hồng cầu lớn trong máu gọi là nguyên hồng cầu to, gây ra sự thiếu hồng cầu bình thường và
chứng bệnh thiếu máu nguyên hồng cầu to [12],[27]
1.1.3 Vai trò dinh dưỡng
Theo các điều tra ở Hoa Kỳ (năm 1988-91, 1994-96) đa số mọi người không ăn đủ acid folic hằng ngày [11],[20] Tại Hoa Kỳ có chiến dịch tăng cường acid folic trong khẩu phần ăn, trong ngũ cốc và thức ăn sống bằng ngũ cốc và bước đầu đó cho kết quả khả quan [16] Tuy nhiên cũng chương trình tương tự ở Châu Âu có ít hiệu quả hơn [20] Bác sỹ David A S Schwartz giám
đốc của NIEHS cho biết: “Chế độ dinh dưỡng của bà mẹ trong suốt thời kỳ là
một nhân tố bên ngoài có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bào thai”
Con nhẹ cân vì mẹ thiếu acid folic, người mẹ mang thai bị thiếu vi chất này trong máu rất dễ sinh con nhẹ cân Acid folic là một dạng tổng hợp của folate, đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của tế bào thai và hoạt động của gene, giúp sản sinh và duy trì tế bào mới Phụ nữ thường được khuyến cáo bổ xung acid folic, trước khi thụ thai và trong những tháng đầu của thai
kỳ Mục tiêu là giảm nguy cơ khuyết tật bẩm sinh Các nhà khoa học của đại học Newcatstle (Anh) đã kiểm tra hàm lượng folate trong các tế bào huyết ở gần 1000 thai phụ và phân tích dữ liệu về lối sống của họ Kết quả cho thấy hàm lượng folate cao có liên quan đến sự gia tăng trọng lượng của trẻ Tăng cân là dấu hiệu cho thấy thai nhi có sức khỏe tốt Ít folate trong những tuần thai đầu có thể khiến cho trọng lượng thai nhi thấp Những bà mẹ thiếu folate
thường sinh con nhẹ cân Trưởng nhóm Caroline Relton kết luận: Trẻ nhẹ cân
(dưới 2,5 kg) dễ có chỉ số thông minh thấp và gặp nhiều sự cố về sức khoẻ sau
Trang 16này Phụ nữ hút thuốc lá thường bị thiếu folate và đây chính là nguyên nhân
vì sao họ hay sinh ra những đứa trẻ nhẹ cân Nghiên cứu của Relton [11] đã cho thấy tầm quan trọng của các loại thực phẩm bổ xung vi chất như bánh mì, ngũ cốc có acid folic Mỹ là nước tiên phong đưa acid folic vào bột mì vài năm trước sau khi phát hiện ra vai trò của vi chất này đối với rối loạn ống thần kinh, thường xảy ra trong thời kỳ đầu phát triển của bào thai [16]
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Thiếu acid folic gây thiếu máu hồng cầu to
Sự tổng hợp nên globin trong huyết cầu tố cần phải có protein, vitamin B12 và acid folic Acid folic, nằm trong 13 vitamin cần được cung cấp hằng ngày (gồm 4 vitamin tan trong dầu A, D, E, K, vitamin C và 8 vitamin nhóm
B tan trong nước, axit folic thuộc nhóm B tan trong nước)
Acid folic là chất cần thiết góp phần tạo hồng cầu bình thường và có ảnh hưởng đến sự tổng hợp ADN và ARN, liên quan mật thiết đến quá trình phân chia tế bào Dấu hiệu bệnh lý do thiếu sinh tố acid folic biểu lộ với triệu chứng thiếu máu, thiếu máu hồng cầu khổng lồ (megaloblastic anemia) [27]
1.2.2 Acid folic đặc biệt cần thiết cho phụ nữ mang thai
Nghiên cứu thực hiện trên 24.000 thai phụ Trung Quốc do các nhà khoa
học Mỹ và Trung Quốc (2004) cho thấy: “Acid folic không làm tăng nguy cơ
sảy thai như một số nghiên cứu đã đưa mà ngược lại nó còn rất tốt cho việc bảo vệ thai nhi khỏi bị khuyết tật cột sống” Trong khoảng thời gian ngay
trước và ngay sau khi thụ thai, cần ăn đủ acid folic, để bào thai được phát triển khỏe mạnh, tránh được các biến cố bào thai hay bệnh tật bẩm sinh nguy hiểm cho thai nhi Một trong các nguy cơ cho bào thai nếu thiếu acid folic là bệnh khuyết tật ống thần kinh [18],[11], bệnh này có thể gây ra hở xương sống, hở hộp sọ thậm chí vỡ não Nguy cơ này có thể giảm nếu uống thêm
Trang 17acid folic ngoài chế độ dinh dưỡng có acid folic bình thường [18],[11] Nhu cầu hằng ngày về acid folic là 200 mcg Thai phụ cần gấp đôi hàm lượng bình thường, người đang cho con bú cần thêm 50% hàm lượng acid folic Theo một số nghiên cứu cho rằng phụ nữ mang thai uống thêm khoảng 400 mcg acid folic hàng ngày cùng với bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ giúp cho nhu
cầu dinh dưỡng về acid folic của phụ nữ có thai đạt 600 microgam/ngày
Hơn thế nữa, acid folic còn có khả năng làm giảm nguy cơ sinh non, sinh thiếu tháng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra nếu trước khi có ý định mang thai, người phụ nữ nên bổ sung acid folic trước một năm thì sẽ giảm được
50% nguy cơ sẩy thai, suy dinh dưỡng bào thai, chửa ngoài dạ con
1.2.3 Acid folic phòng tránh dị tật thai nhi, giúp ngừa sứt môi và hở hàm ếch
Các nhà nghiên cứu của Viện Khoa học Sức khoẻ và Môi trường (NIEHS), thuộc Viện y tế Quốc gia, phát hiện rằng thai phụ dùng 0,4 mg acid folic mỗi ngày sẽ làm giảm 1/3 nguy cơ sinh con bị tật sứt môi Bác sỹ Allen
J Wilcox, người đứng đầu cuộc nghiên cứu của Viện khoa học Sức khỏe và Môi trường (NIEHS), cho biết kết quả nghiên cứu này phát hiện rằng acid folic giúp ngăn ngừa tật miệng rộng, là một trong những tật bẩm sinh Ở Hoa
Kỳ, cứ 750 trẻ ra đời thì có khoảng 1 trẻ sứt môi và hoặc hở hàm ếch [20] Tiến sĩ Wilcox cho biết thiếu hụt acid folic làm cho các động vật thí nghiệm
bị tật rộng miệng Cuộc nghiên cứu này được tiến hành trên cơ sở là người dân Na Uy, một trong những nước có tỉ lệ bị tật rộng miệng cao nhất châu Âu,
và là nước không cho phép bổ xung acid folic vào thực phẩm [20],[16] Các nhà nghiên cứu đã liên lạc với tất cả các gia đình có trẻ sơ sinh bị tật rộng miệng có hay không có hở hàm ếch ra đời trong khoảng thời gian 1996-2001
Có 377 trẻ được gửi câu hỏi phỏng vấn đến các bà mẹ về chế độ ăn uống dinh dưỡng, dùng thuốc vitamin, acid folic Các nhà nghiên cứu đã ước tính rằng
có thể ngăn ngừa được 22% trường hợp bị sứt môi ở Na Uy nếu tất cả phụ nữ
Trang 18mang thai dùng 400 mcg acid folic mỗi ngày [20],[16]
1.2.4 Acid folic giúp giảm nguy cơ bị khuyết tật ống thần kinh ở thai nhi
Khuyết tật ống thần kinh là một nhóm các bất thường bẩm sinh gây ra
do ống thần kinh không đóng lại được Điều này gây ra những rối loại tâm thần và thể chất nghiêm trọng Trẻ có thể bị thoát vị màng não tủy (màng não lồi ra qua khe cột sống), thoát vị dây cột sống – màng tủy (dây cột sống và các dễ thần kinh lộ ra, thường dính vào lớp màng mỏng bao quanh) gây liệt các chi và không kìm chế được tiểu tiện Đứa trẻ chào đời sẽ mang tật ở não
bộ hoặc tủy sống, những tật này gọi chung là khuyết tật của ống thần kinh Tật này liên quan tới lượng acid folic trong cơ thể người mẹ Nếu phòng ngừa bằng cách cho phụ nữ trong tuổi sinh đẻ được uống acid folic đầy đủ, khuyết tật này có thể giảm đáng kể Từ khi Mỹ bắt đầu chương trình bổ sung acid folic, số trẻ sơ sinh bị nứt đốt sống và dị tật thiếu một phần não đó giảm hẳn Sau Mỹ là các nước như Canada, Australia, Mexico và Chile thực hiện chiến dịch này Như vậy, có thể tăng lượng folate cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ bằng cách bổ sung acid folic vào thực phẩm, chúng giúp giảm tỷ lệ khuyết tật ống thần kinh ở thai nhi [17],[18]
1.2.5 Vitamin B và acid folic giúp ngăn ngừa bệnh tim
Một nghiên cứu của đại học Caliornia (Mỹ) cho biết, việc bổ xung vitamin B và acid folic vào thức ăn của những người bệnh tim và người có nguy cơ mắc bệnh sẽ làm giảm lượng homocystein (một acid amin gây bệnh tim) trong máu dẫn tới giảm đáng kể những cơn đau tim cũng như những bệnh về tim khác.Vai trò của homocystein, một dẫn xuất của chuyển hóa acid amin methionin đối với bệnh tim mạch được quan tâm rất nhiều trong những năm gần đây Protein bị phân hoá sẽ giải phóng methionin, từ methionin chuyển tới cystein sẽ tạo thành hemocystein có tính độc với nội mô mạch máu làm tăng kết dính tiểu cầu và biến đổi nhiều yếu tố đông máu Ở người khỏe
Trang 19mạnh bình thường vùng chuyển hóa methionin- homocystein xảy ra bình thường, lượng homocystein nếu có thừa sẽ được bài xuất Trong chuyển hóa homocystein cần có sự tham gia của bộ ba vitamin nhóm B: B6, B12, và acid folic nhưng trong số đó acid folic tỏ ra có hiệu lực nhất để giảm mức homocystein trong máu khi cho bổ sung riêng biệt [12],[27]
Gần đây, nhiều công trình nghiên cứu chứng minh sự tăng nồng độ homoncystein trong máu có thể gây nhiều bệnh lý tim mạch như: Xơ vữa động mạch, huyết khối trong động mạch, thiếu máu cơ tim và bổ sung acid folic kết hợp với một số vitamin nhóm B khác có thể làm giảm homocystein trong máu xuống giúp ngăn ngừa các bệnh lý tim mạch Trong nhiều nghiên cứu cho thấy nồng độ homocystein trong máu cao đi kèm với nguy cơ cao bị bệnh mạch vành [25] Tiêu thụ không đủ acid folic làm tăng nồng độ homocystein, làm tăng bệnh tim mạch Nồng độ folate trong máu cao, sẽ giảm
nguy cơ mắc bệnh mạch vành
1.2.6 Axit folic giúp giảm chứng mất trí
Các chuyên gia của Viện quốc gia Mỹ về lão hóa, đã nghiên cứu các chế độ ăn uống trong hơn 7 năm, họ phát hiện những người cao tuổi ăn acid folic, một dạng vitamin B bổ dưỡng hàng ngày theo hướng dẫn, giúp giảm được nguy cơ mắc bệnh tật Nghiên cứu ở Anh mới đây cho biết acid folic còn có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer Nó làm giảm nồng độ homocysteine trong máu mà các nghiên cứu trước đây cho thấy nồng độ homocysteinetăng cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer Gần đây nhất ở
Mỹ, các bác sĩ đã phân tích các dữ liệu về chế độ ăn uống của 579 người từ 60 tuổi trở lên để tìm hiểu về mối quan hệ giữa chế độ ăn uống và nguy cơ mắc bệnh Alzheimer (những người này không có dấu hiệu cho thấy có các vấn đề
về trí nhớ khi bắt đầu nghiên cứu) Kết thúc nghiên cứu các nhà khoa học nhận thấy những người ăn ít nhất 400 mcg acid folic mỗi ngàygiảm đến 55%
Trang 20nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer so với những người không thực hiện chế
độ ăn này Bác sĩ Susanne Sorensen, người đứng đầu Hội bệnh Alzheimer tại
Anh nói: “Nghiên cứu này cho thấy bằng chứng thuyết phục rằng acid folic
giúp giảm nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer” Trong khi đó, các loại vitamin
khác hiện vẫn chưa cho thấy làm giảm nguy cơ phát triển bệnh này
1.2.7 Acid folic giúp ngăn ngừa bệnh ung thư dạ dày, ung thư máu và ung thư vú
Nguy cơ bị ung thư dạ dày sẽ được giảm đáng kể nếu tiêu thụ một lượng lớn acid folic mỗi ngày Các nhà khoa học Trung Quốc đã đưa ra kết luận sau khi thí nghiệm thành công trên động vật Người ta đưa chất gây ung thư vào 16 con thú săn trong vòng 8 tháng Một nửa trong số này được nhận một lượng acid folic (20mg) mỗi ngày Qua 15 tháng theo dõi, các tác giả nhận thấy tất cả những con chỉ nhận hóa chất gây ung thư đều bị ung thư dạ dày, trong khi chỉ 3 con trong số nhận acid folic bị bệnh Người ta hy vọng
acid folic cũng có kết quả tương tự đối với con người
Các nhà khoa học Tây Australia thì kết luận: “Việc phụ nữ có thai dùng
acid folic và bổ xung sắt giúp giảm 60% nguy cơ phát bệnh ung thư máu ở con cái họ sau này” Điều tra được thực hiện trên 83 trẻ bị bệnh bạch cầu cấp
thể nguyên bào lympho và 166 trẻ bình thường [11] Lượng tiêu thụ acid folic càng cao thì càng ít nguy cơ mắc ung thư kết tràng [13] và ung thư vú [21]
Ngày nay người ta khuyên nên bổ xung acid folic thêm vào thực phẩm Theo FDA Hoa Kỳ từ tháng 1/1998 đã cho phép các sản phẩm hạt ngũ cốc đều được tăng cường thêm acid folic dưới dạng tổng hợp hoặc dạng sinh học
ở mức 140 mcg axit folic/100g Đối với người trung niên và người già cho bổ sung 400 mcg/ ngày là có lợi Theo khuyến cáo của WHO, lượng acid folic cần thiết hàng ngày được tóm tắt ở bảng sau:
Trang 21Nam giới Nữ giới
Trên 19 tuổi Trên 19 tuổi Mang thai Cho con bú
1mcg thức ăn chứa acid folic = 0,6 g acid folic trong thuốc bổ trợ
Các nhà Y tế công cộng Hoa Kỳ (PHSCC) cho rằng nếu người phụ nữ
đó từng có con bị vỡ não (anencephaly), hay hở cột sống (spina bifida) để phòng tái phát, một tháng trước khi có bầu nên tăng liều sử dụng acid folic lên
đến 400 mcg mỗi ngày và giữ liều này cho đến cuối tháng thứ ba của thai kỳ
Ở Mỹ, Canada luật pháp qui định các nhà sản xuất thực phẩm phải cho acid folic thêm vào các thực phẩm ngũ cốc chế biến như bột gạo, bột mỳ, bột bắp, Để tự nhiên các thực phẩm tại đây chỉ cung cấp chừng 50% nhu cầu cần thiết về acid folic, tức là 100 mcg Mục đích là tăng thêm 100 mcg acid folic trong khẩu
phần trung bình mỗi ngày, cho đủ mức khuyến cáo là 200 mcg [26],[19]
Việc tăng cường lượng folate trong thực phẩm cũng khó có thể thực hiện ở những nước đang phát triển do giá cả, sự phân phối không đồng nhất
và thiếu hệ thống sản xuất thực phẩm theo cách công nghiệp Vì vậy tăng cường folate trong các thực phẩm có nguồn gốc thực vật được xem như là một chiến lược thay thế hiệu quả nhằm gia tăng sự hấp thụ lượng folate tự nhiên ở những nước giàu cũng như những nước nghèo Acid folic có nhiều trong rau củ có màu xanh thẫm, quả chua (cam, chanh, bưởi), đậu, ngũ cốc
còn nguyên cám, gan lợn, thịt gà
1.2.8 Không mang thai cũng cần bổ sung acid folic
Thiếu acid folic, phụ nữ từ 16 - 45 tuổi rất dễ gặp tình trạng nứt đốt sống cũng như các bệnh tật không đáng có khác Tất cả phụ nữ đến tuổi có thể sinh con đều được khuyến cáo bổ sung acid folic sau khi các chuyên gia nhận thấy tình trạng nứt đốt sống (gây ốm yếu tàn tật nghiêm trọng) đang tăng nhanh
Trang 22Hiệp hội tình trạng nứt đốt sống Scottish (SSBA) đã đưa ra lời cảnh báo này sau khi khám phá ra số trẻ sơ sinh sinh ra cùng bệnh tật tăng gấp đôi trong năm này Trưởng Hiệp hội SSBA, Margo Whiteford cho hay, “Chúng tôi đã làm nghiên cứu với những người phụ nữ trong nửa đầu năm nay và nhận thấy hầu như các chị em đều không bổ sung đủ acid folic đúng thời điểm Những người phụ nữ biết acid folic có khả năng ngăn chặn hiện tượng nứt đốt sống, nhưng lại vẫn thờ ơ bàng quan” [26] Nghiên cứu cũng cho thấy acid folic giúp cơ thể người ngăn chặn được những bệnh tật không đáng có Những phụ nữ có kế hoạch mang thai nên bổ sung acid folic trong 3 tháng trước khi thụ thai và trong suốt những tháng đầu của thời kỳ thai nghén Tuy nhiên, những chuyên gia sức khoẻ cũng cho biết thêm, kể cả những phụ nữ không có kế hoạch sinh con vẫn cần bổ sung acid folic trước khi quá muộn Một phát ngôn viên của
SSBA phát biểu, “Bất kỳ người phụ nữ nào có quan hệ tình dục và đến tuổi có
thể sinh con nên bổ sung lượng acid folic”.Việc mang thai đôi khi ngoài dự
tính cuả bạn, nên việc bổ sung acid folic sẽ rất quan trọng đối với những phụ
nữ đang trong độ tuổi sinh đẻ Hiện nay tổ chức y tế thế giới khuyến cáo mọi phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ nên bổ sung 400 mcg acid folic mỗi ngày nhằm giảm
thiểu nguy cơ dị tật ống thần kinh trong khi mang thai
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Thiếu acid folic rất phổ biến ở các phụ nữ có thai và có thể gây thiếu máu, mặc dù cơ thể người phụ nữ thiếu acid folic nhưng vẫn ưu tiên chuyển acid folic cho bào thai, trong những trường hợp nặng quá, đứa trẻ vẫn bị thiếu máu như mẹ nó Cũng như ở Việt Nam, nếu chúng ta quan tâm vấn đề này và cung cấp đủ acid folic cho phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, sẽ cải thiện sức khỏe của người mẹ mà cả sức khỏe của bào thai và trẻ sơ sinh, kể cả vấn đề khuyết tật
ống thần kinh
Trang 23Ngày nay, phụ nữ bị thiếu acid folic là rất phổ biến và chế độ dinh dưỡng chưa hợp lý là một trong những nguyên nhân dẫn tới vấn đề này Ở nước ngoài, người dân thường ăn rau tươi, tuy nhiên tại Việt Nam thì mọi người thường có thói quen làm chín rau rồi mới ăn Rất nhiều những điều tra
đã chứng minh được rằng rau khi nấu chín sẽ bị mất khoảng 80% hàm lượng
acid folic ở trong [7]
Theo Hồ Văn Hiền (2005) nghiên cứu về “Phụ nữ tuổi có thể mang thai
và acid folic ngừa khuyết tật ống thần kinh”cho biết cứ 1000 đứa trẻ chào đời
sẽ có một đứa trẻ mang tật ở não hoặc tuỷ sống, những tật này gọi chung là khuyết tật của ống thần kinh Tật này liên quan tới lượng acid folic trong cơ thể người mẹ [4] Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ sinh ra bị dị tật ống thần kinh là 2,5/1.000 Lượng acid folic trong cơ thể thai phụ thấp, bào thai dễ bị chứng này hơn Nếu phòng ngừa bằng cách cho phụ nữ trong tuổi sinh đẻ uống acid folic đầy đủ, khuyết tật này có thể giảm đến 50-70% trong những trẻ chào đời (theo số liệu thống kê của Bệnh viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh Hà Nội -
giai đoạn 1995-1998)
Nước ta, mặc dù chưa có nhiều số liệu nghiên cứu về acid folic, nhưng vai trò của nó đối với thai phụ và thai nhi cũng được xác nhận Một chương trình điều tra và bổ xung sắt- acid folic cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con
bú trên diện rộng đã được triển khai Thiếu máu dinh dưỡng là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng ở Việt Nam, chương trình phòng chống thiếu máu dinh dưỡng đã được sự hỗ trợ của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF)
Bổ xung sắt /acid folic cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú: Bổ sung đại trà sắt/acid folic cho tất cả phụ nữ có thai, liều mỗi tuần 60mg sắt nguyên tố
và 0,4 mg folat Bắt đầu từ khi có thai cho tới một tháng sau khi sinh Bổ xung cho thiếu nữ và phụ nữ không có thai mỗi tuần uống 60mg sắt và
400mcg folat, tối thiểu được bổ xung 16 tuần/năm [10]
Trang 24Bà mẹ thiếu sắt, acid folic có thể dẫn đến thiếu máu và có nguy cơ sinh con nhẹ cân Lê Bạch Mai và Cộng Sự –Viện Dinh Dưỡng (2006) qua nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng, nồng độ hemoglubin và một số yếu tố liên quan
ở trẻ sơ sinh tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên” cho thấy: “Bà mẹ bị thiếu
máu có nguy cơ sinh con nhẹ cân cao gấp 16,5 lần so với bà mẹ không bị
thiếu máu trong thời kỳ mang thai” [5]
Theo Hoàng Kim Thanh - Viện dinh dưỡng (2003) cho biết: Những thành phần dinh dưỡng dễ bị thiếu hụt trong đó có acid folic, phân bố không đều trong thực phẩm và tỉ lệ hấp thu thấp, sử dụng trong cơ thể rất khác nhau Trong thời kỳ có thai, nhu cầu acid folic (hay folate) tǎng lên rõ rệt Nếu khẩu phần ǎn của người mẹ trong giai đoạn mang thai bị thiếu folate sẽ ảnh hưởng đến quá trình tạo máu và phát triển thai nhi bao gồm cân nặng sơ sinh thấp, dẫn
đến nhiều bệnh lý của cơ thể như bại liệt, não úng thủy, thai chết lưu
Trong những năm gần đây vai trò của acid folic đã được biết đến và đã được sự quan tâm không chỉ của các nhà khoa học dinh dưỡng mà là của cả
xã hội Tháng 8/2005 Bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Công ty New Zealand Milk và Báo Gia đình – Xã hội tổ chức Hội thảo
Khoa học về chuyên đề “Acid folic và phụ nữ ở lứa tuổi sinh sản”
Theo Lương Lễ Hoàng – Trong Tạp chí sức khỏe (2010) đã nêu “Khỏe
vì sinh tố, mạnh nhờ khoáng tố” Nguồn thực phẩm chứa folat rất đa dạng: các loại rau xanh, đậu quả, nước quả gan, các hạt nảy mầm (mầm lúa mỳ, mầm lúa, giá đỗ ) Folat trong thực phẩm dễ bị phân hủy bởi nhiệt độ, ánh
sáng mặt trời Trong quá trình chế biến tỷ lệ folate bị mất từ 50-90%
Để có đủ folate trong khẩu phần ǎn hàng ngày, các bà mẹ cần ǎn phối hợp nhiều loại thực phẩm, tǎng cường ǎn rau quả tươi, thực phẩm mua về cần chế biến ngay và thực hiện ǎn ngay sau khi nấu Riêng với acid folic nhu cầu
Trang 25người mẹ mang thai cao hơn nhiều so với bình thường (thường cao gấp đôi),
do vậy một chế độ ǎn uống bình thường sẽ không cấp đủ các thành phần dinh dưỡng và dễ dẫn đến thiếu hụt, và dẫn đến thiếu máu cho người mẹ mang thai Qua số liệu điều tra của Viện Dinh Dưỡng có khoảng 60% bà mẹ bị thiếu
máu trong thời kỳ thai nghén [24]
Tại Việt Nam cũng cũng ít điều tra nói lên mức độ thiếu acid folic, nhưng vấn đề thiếu hụt acid folic nhất là phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh là hoàn toàn có thể Trong khi thực phẩm chức năng và thức ăn có bổ sung đủ dinh dưỡng còn quá sa xỉ đối với nhiều người thì nguồn cung cấp vitamin trong rau quả là phương thức hữu hiệu nhất, bổ sung cho những thiếu hụt này
Theo Nguyễn Thị Lâm (Báo Tiền Phong ngày 31/12/2006), cho biết: Nếu thường xuyên có tâm trạng mệt mỏi bồn chồn, khó tập trung vào công việc hay có vấn đề về trí nhớ thì nên nghĩ ngay đến chế độ ăn thiếu chất Hoạt động của não sẽ bị hủy hoại một cách nghiêm trọng nếu trong khẩu phần ăn thường xuyên thiếu vitamin C, nhóm B, đặc biệt là B1, B12 và acid folic Acid folic có nhiều trong bột xay thô, trong hoa lơ, đậu nành, hành lá, nấm
Ngoài ra trong gan, pho mát, trứng cũng có hàm lượng lớn vitamin này
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia Việt Nam kết hợp với Đại học Otago (New Zealand) tiến hành nghiên cứu tại Hà Nội và Hải Dương (2011) công bố tại hội thảo “Tăng cường folate cho thai nhi phát triển trọn vẹn” diễn ra tại TPHCM, 63% trong số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
có hàm lượng folate trong máu thấp hơn ngưỡng tối thiểu cần thiết là 905 nmol/l Điều này cho thấy nguy cơ mắc phải dị tật ống thần kinh (NTD) sẽ vào khoảng 14,7 trẻ/10.000 trẻ được sinh ra Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do ăn uống thiếu chất dinh dưỡng Việc bổ sung folate thông qua chế độ dinh dưỡng cho thai phụ tại Việt Nam hiện chưa được chú trọng đúng
Trang 26mức PGS.TS Lê Bạch Mai khuyến nghị các bà mẹ cần chuẩn bị tình trạng dinh dưỡng của mình 24 tuần trước mang thai chứ không phải 16 tuần như trước đây Các bà mẹ cần chú ý việc dự phòng thiếu folate bằng việc bổ sung các thực phẩm giàu folate ở thức ăn động vật có màu đỏ, gan, lòng đỏ trứng
gà, trứng vịt hay ở các rau có màu xanh đậm như ra muống, rau bó xôi, súp
lơ, bông cải xanh… các loại vừng, lạc, các loại đậu (đậu đũa, đậu xanh, đậu tương, đậu Hà Lan…) Tuy nhiên, các bà mẹ cũng cần lưu ý folate cũng dễ mất đi trong quá trình chế biến và nấu nướng thức ăn, đặc biệt là trong điều
kiện nấu ở nhiệt độ cao, thời gian lâu và tiếp xúc với không khí
Khảo sát tình trạng acid folic (Folate) và vitamin B12 của phụ nữ ở độ tuổi sinh sản tại VN cho thấy, phụ nữ có mức Folate thấp sẽ làm tăng nguy cơ khiếm khuyết ống thần kinh (NTD), ảnh hưởng đến sự phát triển não và tủy của thai nhi Đánh giá kết quả thu được, nhóm nghiên cứu dự đoán cứ 10.000 trẻ sơ sinh VN thì có 15 trẻ mắc chứng NTD, cao gấp 5 lần so với khu vực Bắc Mỹ [4]
Folate và acid folic là hai dạng khác nhau của cùng một loại vitamin B,
có thể dùng thay thế cho nhau Tuy nhiên có một vài điểm khác nhau giữa chúng Folate là dạng vitamin B tìm thấy ở tự nhiên trong thức ăn Acid folic thì không có trong các nguồn thức ăn tự nhiên Acid folic là dạng vitamin B tổng hợp dùng trong việc bổ sung vitamin và được thêm vào trong một số loại thực phẩm bổ sung vitamin Acid folic tổng hợp dễ hấp thụ hơn folate trong
thức ăn tự nhiên
Xác định hàm lượng folate trong thực phẩm để có những lời khuyên dinh dưỡng, xây dựng khẩu phần ăn hợp lý Đã có những quy trình phân tích, định lượng folate trong các labo, phòng thí nghiệm Định lượng folate trong thực phẩm là quá trình sử lý nhiệt để tách folate ra khỏi phức hợp protein,
dạng enzym chuyển polyglytamyl folate thành monoglutamyl folate
Trang 27Để xác định hàm lượng folate trong thực phẩm rất cần thiết phải lựa chọn một phương pháp phù hợp trong điều kiện kiểm tra nhanh, chính xác đối với từng cơ sở, labo Một số phương pháp định lượng chính mà đã áp dụng là:
- Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) Ưu điểm của
phương pháp này là có thể xác định được thành phần coenzyme folate, một thành phần có hoạt tính sinh học cao, nhưng nhược điểm của phương pháp này là chỉ áp dụng định lượng cho từng loại folate riêng biệt mà không định
lượng được folate toàn phần
- Phương pháp Vi sinh (Microbiological method) là phương pháp dựa
trên nguyên tắc đo độ đục của canh khuẩn Lactobacilus với sự có mặt của folate [14] Phương pháp đó rất thông dụng từ những năm 60-70 của thế kỷ trước [23] Tuy nhiên gần đây phương pháp này it được chú ý vì những hạn chế của nó Phải mất nhiều ngày nuôi cấy vi khuẩn và chuẩn bị mẫu, hơn nữa hàm lượng folate được xác định bằng đường cong liều đáp ứng (mật độ quang của dung dịch nuôi cấy) Mật độ quang của dung dịch nuôi cấy phản ánh số lượng tế bào vi khuẩn, trong đó có cả tế bào sống và tế bào chết Nếu không xác định được số lượng vi khuấn sống và vi khuẩn chết thì kết quả sẽ phản ánh thiếu chính xác, dễ dao động So với phương pháp HPLC thì phương pháp Vi sinh định lượng folate trong thực phẩm thường có hàm lượng cao hơn từ 20-52% (tùy từng nghiên cứu) [23] Vì vậy nên phương pháp này khó
xây dựng thành thường quy chung của các phòng kiểm nghiệm [24]
- Phương pháp ELISA (Enzyme- Linked Immunosorbent Assay), là một
trong những tiến bộ kỹ thuật của vài thập niên qua Sự phát triển của những
kỹ thuật tự động cho phép đơn giản hóa các thao tác thực hiện Nguyên tắc của phương pháp miễn dịch này là phản ứng kết hợp giữa một tế bào (kháng nguyên) với một kháng thể đặc hiệu Tín hiệu của phản ứng miễn dịch có thể
Trang 28nhận biết thông qua sự ngưng tủa hay kết dính của kháng nguyên – kháng thể, hoặc bằng cách sử dụng những kháng thể đó được đánh dấu(chất nhuộm phát quang, hay enzym) ELISA được quan tâm nhiều do tính đơn giản và hiệu quả cao Phương pháp này có thể sử dụng cho hầu hết các loại kháng nguyên với
độ nhạy và độ đặc hiệu cao Nguyên tắc kỹ thuật ELISA là sử dụng kháng thể đơn dòng phủ bên ngoài những đĩa giếng (microplate) Nếu có mặt của kháng nguyên mục tiêu trong mẫu, kháng nguyên này sẽ được giữ lại trên bề mặt giếng Các kháng nguyên này sẽ được phát hiện bằng cách sử dụng kháng thể thứ cấp có gắn với enzym Khi bổ xung một cơ chất đặc hiệu của enzym vào giếng, enzym xúc tác phản ứng thủy phân cơ chất để tạo ra các sản phẩm có màu hay phát sáng Bằng cách theo dõi sự thay đổi màu, có thể phát hiện sự
hiện diện và định lượng kháng nguyên [8]
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng
- Phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 16- 45 tuổi
Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Người có dị tật về hình thể
+ Đối tượng mắc bệnh cấp tính tại thời điểm điều tra
+ Đối tượng điếc, có sức khỏe yếu
- Khẩu phần ăn 24h
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Tại một xã và một phường thuộc Sơn Tây- Hà Nội Cụ thể là: Tại
phường Yên Thịnh và xã Đường Lâm- Sơn Tây ngoại thành Hà Nội
Phường Yên Thịnh đại diện cho khu vực phường thuộc trung tâm thị xã Sơn Tây ngoại thành Hà Nội, là nơi có dân cư sinh sống đông đúc và phát triển mạnh mẽ trong hơn chục năm trở lại đây Đối tượng dân cư có điều kiện
tiếp xúc nhiều với các phương tiện truyền thông
Xã Đường Lâm đại diện cho khu nông thôn Làng cổ của thị xã Sơn Tây- Hà Nội, đời sống của người dân nơi đây còn mang nặng lối sống cổ
truyền, cả về nếp ăn uống và phong tục
Điểm chung của hai địa phương trên là nhân dân và chính quyền ở cả hai nơi đều nhiệt tình hợp tác triển khai đề tài
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Trang 302.2.2 Cỡ mẫu, cách chọn mẫu
Mục tiêu 1:
Cỡ mẫu:
Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu
Với độ tin cậy Z= 1,96
P= 0,5 (Tỷ lệ khảo sát trong nghiên cứu mô tả)
Khoảng sai lệch mong muốn ∆= 0,05
(đối tượng)
Cách chọn mẫu: Phương pháp: mẫu ngẫu nhiên hệ thống
- Thông qua trạm y tế xã/ phường để chọn 2- 3 thôn/ tổ dân phố và lên
danh sách toàn bộ phụ nữ có độ tuổi 16- 45 ở các thôn/ tổ dân phố này
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với k = 3 chọn ra
384 đối tượng từ danh sách Mỗi xã, phường sẽ là 192 đối tượng được điều tra
- Trường hợp phải thay thế một số đối tượng nào đó vẫn thực hiện theo
đúng nguyên tắc chọn ngẫu nhiên hệ thống
Mục tiêu 2:
Cỡ mẫu:
Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu
Với độ tin cậy Z =1,96
p = 0,63 (Theo kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia VN kết hợp với ĐH Otago trong nghiên cứu được công bố tại hội thảo “ Tăng
cường Folate cho thai nhi phát triển trọn vẹn”.)
Trang 31 = 0,2
(đối tượng)
Cách chọn mẫu: Phương pháp: chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
- Từ 384 đối tượng được chọn thông qua phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
hệ thống chọn ra 56 đối tượng theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
- Dựa vào bảng số ngẫu nhiên, 28 đối tượng sẽ được chọn từ 192 đối
tượng xã Đường Lâm và 28 đối tượng sẽ được chọn từ 192 đối tượng phường
Yên Thịnh
2.3 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu Biến số Chỉ số Phương pháp
folic
- Kế hoạch sinh đẻ/hiểu biết về acid
folic
- Phân loại kinh tế/sử
dụng acid folic
Bộ câu hỏi
Mục tiêu 2 - Tổng lượng ăn vào 24h
- Hàm lượng acid folic
Trang 322.4 CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
Trước khi phỏng vấn, điều tra viên sẽ giải thích mục đích của cuộc điều tra và đề nghị đối tượng hợp tác, đặc biệt là không thay đổi khẩu phần ăn
thường ngày
2.4.1 Phỏng vấn đối tượng, điều tra khẩu phần tiêu thụ trong 24h
Sử dụng phương pháp hỏi ghi nhớ lại 24 giờ qua
- Đối với điều tra viên (ĐTV) trước khi tiến hành thu thập số liệu sẽ được tập huấn về kỹ thuật, mục đích, tầm quan trọng của mỗi khâu điều tra, đặc biệt về kỹ thuật, kỹ năng điều tra Đối tượng được phỏng vấn trực tiếp là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã được chọn
- Điều tra khẩu phần bằng phương pháp hỏi ghi 24 giờ qua công cụ là
bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn và được thử và được thử nghiệm trước khi triển khai Sử dụng bảng quy đổi được chuẩn thức hóa của Viện Dinh dưỡng
Cách hỏi ghi : Hỏi tất cả các thực phẩm (kể cả đồ uống) được đối tượng
tiêu thụ trong một ngày hôm trước kể từ lúc ngủ dậy buổi sáng cho đến trước lúc đi ngủ buổi tối Sử dụng album “các món ăn thông dụng” của Viện dinh dưỡng để qui đổi trọng lượng các thực phẩm ra đơn vị đo lường chung
2.4.2 Phương pháp xử lý mẫu và thu thập mẫu:
- Sau khi hỏi ghi có được khẩu phần ăn 24 giờ của đối tượng, các đối tượng sẽ được đề nghị chuẩn bị một suất ăn tương tự như khẩu phần ăn của ngày trả lời trong phỏng vấn Tổng khẩu phần ăn trong ngày mà đối tượng chuẩn bị sẽ được thu thập lại thành một mẫu, được đồng nhất bằng máy xay mẫu thông thường sau đó chia nhỏ thành mẫu thứ cấp và thành mẫu phân tích theo quy tắc 1/4 Các mẫu được đựng trong các túi nilon zipper có ghi nhãn mác rõ ràng (ngày tháng điều tra, mã đối tượng…)
Trang 33Bảo quản và vận chuyển mẫu: Các mẫu khẩu phần được đặt trước với
đối tượng và sẽ được cán bộ đi lấy mẫu thu thập lại: Các bữa được gộp lại thành một mẫu Các mẫu này được đồng nhất bằng máy xay cầm tay và lấy mẫu đại diện với lượng tối thiểu là 100-150g Mẫu thực phẩm sẽ được đựng trong các hộp nhựa, có đánh code theo code đối tượng và ghi rõ các thông tin như: ngày tháng điều tra, đồng thời lưu giữ trong thùng bảo quản lạnh và chuyển ngay về phòng xét nghiệm của Khoa Vệ sinh an toàn thực phẩm – Viện dinh dưỡng trong ngày (mẫu phân tích sẽ được lấy riêng ra) và tất cả để bảo quản ở -200C cho đến khi phân tích
Sơ đồ tóm tắt quá trình lấy mẫu và xử lý mẫu (dành cho cán bộ đi lấy mẫu)
Gộp tất cả các bữa ăn trong ngày thành 1 mẫu
Đồng nhất mẫu bằng máy xay cầm tay
Lấy mẫu đại diện (100-150g)
Đựng trong hộp nhựa, bảo quản lạnh, mang về phòng thí nghiệm ngay
trong ngày Bảo quản ở nhiệt độ -20 độ cho đến khi phân tích
Phân tích mẫu bằng ELISA
Cách tính kết quả :
Các kết quả phải được đọc trong vòng 1giờ sau khi kết thúc việc kiểm tra Từ đó tính được mật độ quang học của mẫu Từ mật độ quang của các mẫu sẽ tính chính xác lượng folate trong thực phẩm Đọc kết quả bằng bộ đọc ELISA Microplate Reader 550 và phần mềm Microplate Manager 5.1
Trang 34Chú ý: Nếu mẫu nằm ngoài khoảng tuyến tính thì phải pha loãng mẫu
sao cho nồng độ mẫu nằm trong khoảng tuyến tính
- Phân loại kinh tế dựa vào địa phương
- Kết quả Acid Folic: theo kết quả XN và tính toán từ khẩu phần dùng bảng TPHH thức ăn Việt Nam
- So sánh kết quả với nhau và với khuyến nghị của VDD năm 2012
Trang 352.7 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Tháng 06/2012 đến tháng 12/2012
2.8 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
- Được sự nhất trí của chính quyền, trạm y tế trường Đại học Y Hà Nội
- Nghiên cứu chỉ có tính chất phục vụ sức khỏe cộng đồng ngoài ra không có mục đích nào khác
- Thông báo và giải thích cho các đối tượng về mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra để tạo thêm tinh thần hợp tác cùng làm việc
- Điều tra trên những đối tượng đồng ý hợp tác, không ép buộc và trên tinh thần tôn trọng
- Sau khi được phỏng vấn, điều tra viên sẵn sàng trả lời những câu hỏi
mà đối tượng cần biết
- Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi cho trạm y tế để có giải pháp can thiệp
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 KIẾN THỨC VỀ ACID FOLIC CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐỘ TUỔI
Biểu đồ 3.1 Phân bố độ tuổi
Nhận xét: Biểu đồ 3.1 cho thấy:
Có 81 đối tượng dưới 20 tuổi (chiếm 21,1%), 107 đối tượng trên 30
tuổi (chiếm 27,9%) và cao nhất là các đối tượng từ 20 – 30 tuổi: 196 đối
tượng (chiếm 51%)
3.1.2 Quê quán
Bảng 3.1 Phân bố dân cư
Trang 37Nhận xét: Bảng 3.1 cho thấy:
Có 24 đối tượng được nghiên cứu là dân nhập cư dưới 10 năm (chiếm
6,3%), 39 đối tượng là dân nhập cư trên 10 năm (chiếm 10,1%) và chiếm tỷ lệ
cao nhất 83,6% là dân bản địa (321 đối tượng)
Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn
Nhận xét: Biểu đồ 3.2 cho thấy:
Chiếm tỷ lệ nhiều nhất là trình độ cấp III với 42,7%; các cấp học cao
hơn chiếm 37%; trình độ cấp II chiếm 18% và thấp nhất chiếm 2,3% là trình
Biểu đồ 3.3 Phân bố nghề nghiệp