Giải pháp mở rộng cho vay phát triển làng nghề đối với chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát Triển Nông thôn huyện Gia Bình
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Bắc Ninh là một trong những tỉnh có nhiều làng nghề trong cả nước, các làng nghề đang có xu hướng phát triển trên cơ sở khôi phục nghề truyền thống đồng thời mở rộng thêm nhiều nghề mới Từ đó xuất hiện nhu cầu về vốn lớn
để mở rộng sản xuất kinh doanh tạo ra một thị trường tín dụng giàu tiềm năng đối với các ngân hàng thương mại trên địa bàn
Chi nhánh NHNH&PTNT huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua đã đầu tư tín dụng trong nông nghiệp, công nghiệp, đạt nhiều thành tích, đóng góp tích cực trong quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện nhà Tuy nhiên việc đầu tư vốn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn vào các làng nghề còn ở mức cầm chừng, phân tán làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển của làng nghề về cả quy mô và chất lượng Do vậy phải tìm các giải pháp nghiên cứu nhằm mở rộng cho vay có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn để khôi phục và phát triển các làng nghề, đồng thời tạo lợi thế cho NH chiếm lĩnh thị trường nông thôn, mở rộng đầu tư Nhận thấy vấn đề
đó nên trong một thời gian thực tập tại phòng tín dụng của chi nhánh
NHNN&PTNT huyện Gia Bình em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Giải pháp mở
rộng cho vay phát triển làng nghề đối với chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát Triển Nông thôn huyện Gia Bình ” làm khóa luận tốt nghiệp
của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng, về làng nghề, mở rộng cho vay phát triển làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh Phân tích đánh giá thực trạng tín dụng trong các làng nghề, những tồn tại và nguyên nhân ảnh hưởng đến mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề của các tổ chức tín dụng trên địa bàn Đề xuất hệ thống giải pháp để mở rộng cho vay phát triển
Trang 2làng nghề của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ tín dụng ngân hàng của các TCTD trên địa bàn đối với làng nghề
Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng cho vay để phát triển làng nghề tại NHNo
& PTNT huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh từ năm 2007 đến năm 2009
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, suy luận logic kết hợp với phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp so sánh, thống kê…
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kêt luận khóa luận gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận cơ bản về Mở rộng cho vay phát triển làng nghề của
ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng cho vay đối với làng nghề tại chi nhánh
NHNN&PTNT huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua
Chương III: Giải pháp mở rộng cho vay phát triển làng nghề tại chi nhánh
NHNN&PTNN huyện Gia Bình
Trang 3CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY PHÁT TRIỂN LÀNG
NGHỀ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHO VAY PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Những vấn đề về làng nghề
a Khái niệm về làng nghề
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đều cho thấy làng
xã có vai trò hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống dân cư ở nông thôn Làng xã xuất hiện từ rất lâu, được hình thành dựa trên cơ sở những công xã nông thôn, công xã nông thôn là một tập hợp các gia đình sống quay quần với nhau trong một khu vực địa giới nhất định
Ban đầu phần lớn các thành viên trong làng đều làm nông nghiệp, sau đó
có một bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau hình thành nên một số tổ chức theo nghề nghiệp như: phường gốm, phường dêt…từ đó các nghề được lan truyền rộng ra khắp làng và hình thành nên làng nghề Bên cạnh những người chuyên làm nghề thì đa phần các gia đình trong làng đều vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chuyên môn sâu hơn và thường chỉ giới hạn trong quy mô nhỏ (làng) dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Càng về sau xu hướng người lao động tách khỏi đồng ruộng chuyển sang làm nghề thủ công và sống bằng chính nghề đó ngày một tăng Những làng nghề phát triển mạnh số hộ và số lao động làm nghề tăng nhanh và sống bằng nghề đó ngày càng nhiều
Như vậy làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra các làng nghề truyền thống
và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hóa văn minh dân tộc Trải qua thời gian dài của lịch sử, có những nghề vẫn được lưu giữ, có những
Trang 4nghề bị mai một hoặc mất hẳn và bên cạnh đó có những nghề mới ra đời.
Đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau về làng nghề, nhưng tựu
chung lại có khái niệm như sau: “ Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một làng có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độp lập Thu nhập từ các làng nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng”.
Căn cứ để xác định một làng nghề có phải là làng nghề hay không dựa trên những tiêu thức sau:
+ Số hộ và số lao động làm nghề ở làng đạt từ 50% trở nên so với tổng số
Người ta có thể chia làng nghề thành các loại: làng một nghề và làng nhiều nghề Làng một nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại hoặc
có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác không đáng kể Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỷ trọng nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau Cũng có thể chia : làng nghề truyền thống và làng nghề mới.Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề đã tồn tại hàng trăm, hàng nghìn năm Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do
Trang 5sự xuất hiện lan tỏa của các làng nghề trong những năm gần đây, đặc biệt
trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trường
b Đặc điểm của làng nghề
Một là, đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn
bó với nông nghiệp.
Các làng nghề xuất hiện và tồn tại trong từng làng, xã ở nông thôn.Các ngành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp nhưng không rời khỏi nông thôn Sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng đan xen lẫn nhau Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân Các gia đình nông dân vừa làm ruộng vừa làm nghề thủ công nghiệp.Theo cách nói của Mác thì Làng nghề là một đặc điểm đặc trưng của nông thôn Châu Á
Hai là, Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề thường rất thô sơ, lạc hậu,sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu.
Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công,công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc Nhiều loại sản phẩm có công nghệ, kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ.Mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hóa và điện khí hóa từng bước trong công nghệ, kỹ thuật sản xuất ở các làng nghề Song, cho tới nay cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hóa được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm
Ba là, làng nghề phát triển đa dạng về quy mô, cơ cấu ngành nghề.
Về quy mô: đại bộ phận các cơ sở sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ, bình quân mỗi cơ sở làm nghề chỉ có khoảng vài chục triệu đồng Làng nghề phát triển với nhiều loại mô hình sản xuất, hình thức tổ chức của các cơ sở làng nghề cũng mang đậm sắc thái nông nghiệp nông thôn như: các hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã… Trong những năm gần đây còn xuất hiện những nghề mới như chế biến nông sản, thực phẩm… đã hình thành nên những công ty, doanh
Trang 6nghiệp tư nhân.
Về cơ cấu ngành nghề: đã có sự thay đổi thích ứng với cơ chế thị trường một số ngành phát triển mạnh như sản xuất vật liệu xây sựng, chế biến nông sản, cơ kim khí… Có thể nói cơ cấu những ngành nghề của làng rất phong phú, ở các địa phương tỷ lệ ngành nghề cũng khác nhau do nhu cầu tiêu thụ
và tiêu dùng khác nhau
Bốn là, về sản phẩm của làng nghề
Sản phẩm làng nghề là những sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, đối với các sản phẩm của làng nghề truyền thống thì sản phẩm mang tính đơn chiếc, co tính mỹ thuật cao Bên cạnh những sản phẩm mang tính truyền thống còn có rất nhiều sản phẩm của những làng nghề mới làm cho các sản phẩm của các làng nghề ngày cang đa dạng, phong phú với nhiều chủng loại Nhờ bám sát nhu cầu thị trường mà các mặt hàng của làng nghề tăng lên nhanh chóng, chất lượng được nâng cao đáp ứng nhu cầu trường
Năm là, làng nghề có khẳ năng giải quyết tốt việc làm cho người lao động.
Một đặc điểm nổi bật về lao động ở các làng nghề là lao động chủ yếu trong các hộ gia đình chiếm tới 90%, chỉ còn khoảng 10% nằm ở các doanh nghiêp Nếu như trước đây lao động trong các làng nghề chủ yếu là thủ công thì ngày nay do có sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các làng nghề đã ứng dụng ngày càng nhiều các công nghệ mới vào sản xuât làm cho năng suất lao động tăng cao
Lao động trong các làng nghề truyền thống có trình độ kỹ thuật cao, tay nghề giỏi, mang tính kỹ thuật độc đáo Bên cạnh những lao động có tay nghề cao ở các làng nghề truyền thống thì đại đa số trình độ lao độngở các làng nghề là thấp Các chủ hộ, chủ cơ sở thường chưa qua trường lớp đào tạo nào nên trình độ quản lý yếu kem, họ thường quản lý theo kinh nghiệm, kinh doanh theo kiểu chộp giật, điều đó chỉ đem lại lợi ích trước mắt không đem lại hiệu quả lâu dài
Trang 7Sáu là, đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ.
Hầu hết các làng nghề được hình thành xuất phát từ có sẵn nguồn nguyên liệu tại chỗ, trên địa bàn địa phương.Một số ngành nghề còn có thể tận dụng
cả những phế liệu, phế phẩm, phế thải trong công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt để làm nguyên liệu sản xuất, nên chúng càng sẵn có trên địa bàn.Tậm chí đối với một số mặt hang thủ công mỹ nghệ, sơn mài, chạm khắc gỗ, đá, vàng bạc…cũng có thể khai thác một số nguyên liệu phải nhập khẩu từ nước ngoài như thuốc nhuộm…nhưng không nhiều
Bảy là, về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề.
Khi mới hình thành hình thức tổ chức kinh doanh của làng nghề là hộ gia đình, hình thức này vẫn được duy trì cho tới ngày nay và chiếm tỷ trọng lớn Bên cạnh đó cũng tồn tại các hình thức hợp tác xã doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiện hữu hạn Tuy các hình thức này mới chỉ chiếm số it những
đã cho thấy sự phát triển của làng nghề ở trình độ phát triển cao hơn
Tám là, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa phương, tại chỗ, nhỏ hẹp.
Sự ra đời của các làng nghề xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hang tiêu dung tại chỗ của địa phương.Ở mỗi làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dung làm nơi trao đổi,buôn bán,tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề.Cho đến nay thị trường làng nghề cơ bản vẫn là thị trường địa phương la tỉnh hay liên tỉnh.Thói quen chỉ thích hàng tiểu thủ công nghiệp(TTCN) ở một vùng nhất định,theo một mùa vụ nhất định đã hạn chế sức tiêu thụ sản phẩm ở nông thôn.làng nghề thủ công nghiệp trong một thời gian dài đã phát triển theo một lối mòn là đáp ứng thị hiếu thuộc phạm vi nhỏ hẹp.yếu tố cạnh tranh hầu như không có.Vì vậy khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường,cac làng nghề đứng trước những khó khăn không nhỏ và nhiều làng nghề đã lâm vào tình trạng điêu đứng.Tuy nhiên các sản phẩm thuộc hàng thủ
Trang 8công mỹ nghệ có thị trường tiêu thụ phong phú,đa dạng và rộng lớn hơn.
c Vai trò của làng nghề trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn được coi là chiến lược quan trọng của nước ta, để đạt được mục tiêu đó thì trước hết cần đẩy mạnh việc khai thác các tiềm năng sẵn có nhằm xóa dần tình trạng độc canh cây lúa, tạo việc làm cho người lao động dư thừa ở nông thôn Để góp phần giải quyết vấn đề trên thì việc khôi phục và phát triển các làng nghề ở nông thôn là một hướng đem lại hiệu quả cao, điều đó được thể hiện thông qua vai trò quan trọng của việc phát triển các làng nghề Cụ thể:
Phát triển làng nghề góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn, đây là vấn đề quan trọng của chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Các làng nghề đang ngày càng thu hút nhiều lao động không chỉ lao động
ở địa phương mà còn cả lao động ở các địa phương khác Đồng thời, phát triển làng nghề còn kéo theo các dịch vụ khác phát triển tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động việc phát triển các làng nghề là giải pháp quan trọng nhằm khai thác tiềm lực ở nông thôn tạo điều kiện cho người lao động
có khả năng sản xuất nông nghiệp chuyển hẳn sang làm nghề mà họ có ưu thế ngay tại địa phương, từ đó hạn chế việc di dân ồ ạt ra thành phố
Các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa mở rộng thị trường Cũng qua đó các nguồn lực của địa phương được khai thác sử dụng như tài nguyên đất, nguyên liệu, lao động… vào quá trình sản xuất kinh doanh, khai thác có hiệu quả nguồn vốn kinh doanh, tay nghề của người lao động Hiện nay ngày càng nhiều các mặt hàng của các làng nghề được xuất khẩu như dệt, mây tre đan, điêu khắc, đồ gốm…, những sản phẩm này ngày càng được thị trường nước ngoài ưa thích
Phát triển làng nghề góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống
Trang 9nhân dân ở nông thôn Qua thực tế cho thấy thu nhập bình quân một người lao động làm nghề bao giờ cũng cao hơn thu nhập bình quân một lao động thuần nông, khoảng 400.000 – 1.000.000 đồng một tháng và còn có thể hơn, thu nhập này không thể có nếu làm nghề nông Thu nhập tăng, họ có điều kiện mua sắm các tiện nghi cần thiết cho gia đình, đảm bảo sức khỏe cho cuộc sống Thứ đến là những khoản tiết kiệm nhỏ họ gửi trong NH, tích lũy cho tương lai, tạo đà tăng trưởng kinh tế toàn diện.
Làng nghề là nơi đào tạo những lao động có tay nghề cao, có khả năng thích ứng với lĩnh vực công nghiệp, tạo cơ sở cho doanh nghiệp hiện đại ra đời, thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển Cơ sở hạ tầng nông thôn như đường xá, cầu cống sẽ được cải thiện hay xây mới tạo thuận lợi cho việc đi lại giao thương giữa các vùng
Làng nghề là nơi thu hút vốn nhàn rỗi: Quy mô các cơ sở kinh tế trong làng nghề chủ yếu là hộ gia đình và đang dần hình thành một số doanh nghiệp vừa và nhỏ Đồng thời hầu hết các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các làng nghề đều dành một phần diện tích nhà ở của gia đình làm nơi sản xuất kinh doanh.Cho nên, suất đầu tư cho một lao động và quy mô vốn cho một cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các làng nghề không nhiều Bình quân mỗi một suất đầu tư vốn cho một lao động chỉ khoảng trên dưới hai triệu đồng và quy
mô vốn bình quân cho mỗi hộ sản xuất kinh doanh chỉ khoảng vài ba chục triệu đồng.Nó cho phép các làng nghề sẽ huy động hết thảy mọi loại vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư ở trong từng làng xã để đưa vào sản xuất,kinh doanh
Bên cạnh đó, ở các làng nghề cũng có sự liên kết giữa các doanh nghiệp với các cơ sở sản xuất Các doanh nghiệp có thể mua lại sản phẩm hay cung ứng nguyên liệu cho làng nghề hoặc tinh chế, lắp ráp một bộ phận của sản phẩm tạo thành một sản phẩm hoàn chỉnh để bán ra thị trường
Phát triển làng nghề truyền thống góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân
Trang 101.1.2 Hoạt động cho vay đối với sự phát triển kinh tế làng nghề
a Khái niệm cho vay
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, ngân hàng thương mại đã hình thành và tồn tại như một tất yếu khách quan Trải qua bao nhiêu thăng trầm của nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng thương mại đã mở rộng không chỉ quy mô, chất lượng mà cả về số lượng và loại hình các dịch
vụ cũng ngày một mở rộng đáp ứng nhu cầu khách hàng Nghiệp vụ cho vay
là một trong những nghiệp vụ cơ bản nhất của mọi NHTM, là huy động và sử dụng vốn nhằm thu lợi nhuận Việc huy động vốn chính là quá trình tạo nên các khoản tài sản khác nhau của ngân hàng trong đó cho vay là khoản mục tài sản lớn và quan trọng nhất
Như vậy: ‘’cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức giao dịch cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận và nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi’’
( Mục 2- điều 3- 162/2001 QĐ - NHNN.)
Từ định nghĩa trên ta có thể đưa ra các đặc trưng của cho vay phát triển làng nghề như sau:
b Đặc trưng của cho vay đối với làng nghề
Ngoài những đặc điểm chung như đặc trưng của tín dụng vốn có, nó còn mang những đặc trưng riêng của tín dụng ngân hàng đối với làng nghề( tín dụng ngân hàng đối với làng nghề là tín dụng ngân hàng đối với khách hàng làm nghề ở các làng nghề) Từ nhận thức này, khoá luận rút ra những đặc trưng chủ yếu của việc cho vay phát triển làng nghề
một là, việc cho vay đó phải gắn với đặc điểm hoạt động của làng nghề
Khi đầu tư tín dụng đối với các đối tuợng ở làng nghề ở nông thôn còn phải bao quát đặc điểm: nghành nghề ở nông thôn rất đa dạng, có hàng trăm nghề, việc phân loại nhóm nghề thuờng căn cứ vào nguyên liệu đầu vào hoặc công
Trang 11nghệ sản xuất Hiện nay, ở nuớc ta nghề nông thôn có thể chia thành ba nhóm ngành chính: chế biến nông, lâm, thuỷ sản; công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng; dịch vụ Ngoài ra còn phải chú trọng một số đặc điểm chủ yếu của ngành nghề nông thôn là về lao động và sử dụng lao động; nhà xuởng và máy móc thiết bị; vốn và quan hệ tín dụng với ngân hàng; nguyên liệu và thị truờng;…
hai là, đặc trưng quan hệ cung cầu vốn đối với các cơ sở làm nghề của
làng nghề thuờng là hộ kinh doanh vừa là hộ chuyên, vừa là hộ kiêm mang tính thời vụ, hoạt động kinh doanh chủ yếu trên địa bàn nông thôn Từ đặc trưng này, nó tác động tới nhu cầu tín dụng thuờng có tính thời vụ rõ rệt, gắn với hoạt động kinh tế nông nghiệp nông thôn Hơn nữa do thị truờng tài chính nông thôn chưa phát triển và hạn chế về khả năng tích luỹ cũng như hạn chế
về khả năng khai thác các nguồn tài chính khác, nên những hộ hoạt động kinh doanh trong ngành nghề phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Ba là, các điều kiện vay vốn so với các quy định hiện nay thuờng
không đầy đủ Số luợng khách hàng và các món vay nhiều, phân tán trên nhiều địa bàn nhưng giá trị từng món vay lại nhỏ và cơ chế cho vay đối với ngành nghề chưa có, hiện nay chủ yếu vận dụng theo cơ chế cho vay đối với
hộ sản xuất Từ đó dẫn đến quan hệ tín dụng với ngân hàng gặp nhiều khó khăn
Bốn là, là loại tín dụng đa dạng Đa dạng về đối tuợng vay vốn ở mỗi
ngành nghề, mỗi vùng khác nhau là khác nhau Nhu cầu vốn, thời hạn cho vay, thu nợ ngay cùng một ngành nghề cũng có khi khác nhau, nó tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên từng vùng, điều kiện kinh tế từng hộ khác nhau Đa dạng hoá về hình thức chuyển tải vốn; Trực tiếp, gián tiếp, qua tổ vay vốn đoàn thể cả bằng tiền mặt, chuyển khoản, cả bằng hiện vật Đa dạng về hình thức trả nợ… Ngoài ra thực hiện quy trình tín dụng chủ yếu đơn giản như: thẩm định dự án đầu tư vốn chỉ là phuơng án SXKD đơn giản, chu kỳ sản
Trang 12xuất kinh doanh do tự nhiên định sẵn, nơi sinh sống của các khách hàng vay vốn chủ yếu là sống cố định tại một địa phuơng, tài sản đảm bảo nợ vay thuờng có tính cha truyền con nối, đồng sở hữu trong gia đình…
Năm là, vừa mang tính thuơng mại vùă mang tính chính sách nhằm
phục vụ các chương trình phát triển kinh tế của nhà nước thuộc khu vực kinh
tế nông nghiệp nông thôn Sự ảnh huởng bởi yếu tố chính sách đặc biệt rõ ở những nơi mà chua tách đuợc đối tuợng thuộc ngân hàng chính sách xã hội trong những truờng hợp này việc tính toán hiệu quả tín dụng sẽ trở nên rất khó khăn do không chỉ căn cứ vào lợi nhuận của ngân hàng mà còn phải tính toán đến lợi ích lâu dài, lợi ích toàn xã hôi, phải căn cứ vào các định hướng phát triển kinh tế từng vùng, từng thời kỳ
Sáu là, cho vay đối với làng nghề thuờng là bên đi vay thuờng ít hiểu
biết về sản phẩm dịch vụ ngân hàng Do đó, để khắc phục phải cần nhiều biện pháp tổng hợp nắm giữ khách hàng, đi sâu giúp đỡ và huớng dẫn khách hàng
là điều cần thiết để mở rộng và nâng cao chất luợng đối với cho vay để phát triển làng nghề
c Phân loại cho vay đối với làng nghề
Mỗi khu vực ngành nghề trong các làng nghề thuờng có những đặc trưng nhất định như: Đặc trưng về các loại trang thiết bị, nguyên liệu, chu kỳ lưu chuyển của sản phẩm… Những đặc điểm này là một trong những căn cứ
để đầu tư tín dụng ngân hàng lụă chọn các hình thức và quy trình cho vay phù hợp với sự phát triển của làng nghề
Do hình thức tổ chức của sản xuất kinh doanh tại các làng nghề đa số
hộ kinh doanh với quy mô vay nhỏ, ngay cả các cơ sở thì mức vay cũng không quá cao so với khả năng đáp ứng của ngân hàng nên các khách hàng không phải hợp vốn để cho vay Vì vậy các phuơng thức cho vay thích hợp thuờng đuợc sử dụng trong tín dụng ngân hàng đối với làng nghề chủ yếu:
Trang 13* Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng làm thủ tục vay cần thiết và ký hợp đồng tín dụng Số tiền cho vay bằng tổng nhu cầu vay cần thiết của dự án hoặc phuơng án trừ đi vốn chủ sở hữu hoặc vốn tự có và vốn khác tham gia (nếu có) Mỗi hợp đồng tín dụng
có thể phát triển vay một lần hay nhiều lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng
* Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng (HMTD) là việc khách hàng và NH căn cứ vào dự án, phuơng án, kế hhoạch sản xuất kinh doanh để tính toán và thoả thuận một HMTD duy trì trong một thời gian nhất định (3 tháng, 6 tháng, 12 tháng) hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh, cho vay không đuợc vượt quá hạn mức tín dụng đã cam kết Loại cho vay này thích hợp với các KH có quan hệ tín dụng thường xuyên và Nh có thể trích doanh thu của khách hàng để trả
nợ trong thời gian duy trì hạn mức tín dụng
* Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho KH vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống Phương thức này thường được áp dụng đối với cho vay trung hạn, dài hạn Số tiền cho vay bằng tổng mức đầu tư của dự án sau khi loại trừ phần vốn lưu động dự kiến ban đầu cho sản xuất dự án, vốn chủ sở hữu hoặc vốn tự có tham gia và nguồn vốn huy động khác
* Cho vay theo uỷ thác: Do tầm quan trọng của việc phát triển làng nghề Chính phủ, các tổ chức và cá nhân có thể uủy thác các NH cho vay đối tượng này Khi ngân hàng nhận được một khoản tiền nhất định sẽ tiến hành cho vay và hưởng phí uỷ thác trên cơ sỏ đảm bảo bù đắp chi phí, rủi ro và có lãi
Trang 14Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể chỉ định các ngân hàng cho vay làng nghề với lãi suất ưu đãi Trong trường hợp phát sinh tổn thất từ các khoản cho vay này theo những nguyên nhân khách quan thì ngân hàng có thể yêu cầu Chính phủ, NHNN và các Bộ, ngành liên quan có các biện pháp thích hợp nhằm đảm bảo quyền lợi thích đáng cho ngân hàng.
Căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng ngân hàng đối với làng nghề thường bao gồm cả ba hình thức là: Ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Trong
đó phổ biến là ngắn hạn, trung hạn thường ít hơn và dài hạn thường không
có vì chu kì sản xuất kinh doanh thường trong ngắn hạn, thời gian đầu tư cho một chỗ làm mới hoặc mở rộng sản xuất không quá dài Cho vay dài hạn nếu có thì là để tài trợ cho bất động sản Dạng cho vay dài thường có rủi ro cao do các biến động của thị trường nên các ngân hàng thường đòi hỏi lãi suất cao hơn mức bình thường để bù đắp được rủi ro
Căn cứ vào xuất xứ tín dụng, tín dụng đối với làng nghề có thể bao gồm cả tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp Tín dụng trực tiếp là cho vay trực tiếp khách hàng tại hội sở, sở giao dịch và phòng giao dịch của các NH Tín dụng gián tiếp là hình thức cho vay thong qua việc mua lại các giấy tờ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán của hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân, hội phụ nữ… gọi chung là người buôn Việc cho vay gián tiếp đem lại một cơ hội tín dụng mà không có sự gia tăng đáng kể nào trong chi phí nghiệp vụ của ngân hàng Nói chung, việc tài trợ gián tiếp qua người buôn đem lại ít rủi ro hơn cho Ngân hàng
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, cho vay làng nghề cũng có thể cần hay không cần tài sản bảo đảm TSBD có thể thong qua tài sản thế chấp, cầm cố Tài sản thế chấp gồm nhiều loại như: Động sản, bất động sản… Trong trường hợp không đủ tin tưởng hoặc muốn an toàn cao nhất có tthể đối với khoản cho vay, ngân hàng có thể yêu cầu có tài sản thế chấp, giá thị trường của tài sản thế chấp tại thời điểm vay có thể
Trang 15bằng 150% số tiền cho vay Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng sẽ phát mại tài sản này và lấy số tiền thu hồi từ việc bán tài sản này để bù đắp vào khoản tiền khách hành đã vay mà chưa trả được.
Cho vay không cần đảm bảo là cho vay tín chấp dựa trên sự tin tưởng vào tư cách, năng lực, khả năng sản xuất kinh doanh của khách hàng hoặc tin tưởng vào uy tín của một tổ chức, cá nhân đứng ra bảo lãnh mà chỉ cần một dạng hứa phiếu trong đó cam kết là sẽ trả nợ cho Ngân hàng
d Vai trò của cho vay đối với phát triển kinh tế nói chung và kinh tế làng nghề nói riêng
Đối với Ngân hàng thương mại
Cho vay đem lại thu nhập lớn cho ngân hàng Trong các khoản mục sử dụng vốn thì cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và quan trọng nhất Lãi từ hoạt động cho vay là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng, được dùng chi trả các chi phí như: lãi tiền gửi, lãi tiền vay, các chi phí khác Phần còn lại là lợi nhuận của ngân hàng, có lợi nhuận ngân hàng sẽ sử dụng để đầu tư máy móc, thiết bị, mở rộng mạng lưới, phát triển kinh doanh
Cho vay giúp ngân hàng sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động được, ngân hàng huy động vốn từ dân cư, tổ chức kinh tế và phải trả chi phí cho hoạt động đó bao gồm các chi phí: quảng cáo, thuê nhân viên, lãi tiền gửi,,, trong đó chi phí lãi tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất Nếu ngân hàng huy động tiền và cất tiền trong két thì tiền không sinh lời trong khi ngân hàng lại phải trả chi phí cho số tiền đó Cho vay sẽ giúp ngân hàng sử dụng được nguồn vốn đó đem lại nguồn thu cho ngân hàng để trang trải các chi phí Mặt khác, cho vay càng tăng thì đến lượt nó sẽ thúc đẩy hoạt động huy động vốn tăng nhanh hơn
Đối với nền kinh tế
Cho vay góp phần làm quá trình sản xuất diến ra liên tục thường xuyên trong nền kinh tế, góp phần tạo sự tăng trưởng về kinh tế Thừa thiếu vốn tạm
Trang 16thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp Việc phân phối vốn tín đã góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục Nhờ được cung cấp vốn mà các chương trình, hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện, được bắt đầu và duy trì tạo sự phát triển cho nền kinh tế Nhìn hẹp hơn, ở góc độ người đi vay, người cho vay thì cho vay đem lại khoản lợi cho cả hai bên Lợi ích kinh tế của cả hai phía đạt được
từ quan hệ cho vay chính là biểu hiện cụ thể nhất của sự tăng trưởng về kinh tế
Cho vay là công cụ tài trợ cho ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn Các ngành kinh tế kém phát triển thường đem lại hiệu quả kinh tế không cao những nó có thể là rất cần thiết Chẳng hạn: ngành nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho nền kinh tế nhưng đem lại lợi nhuận không cao so với các ngành khác do vậy mà các doanh nghiệp thường không muốn đầu tư vào các ngành này Trong điều kiện nước ta, nông nghiệp là ngành sản xuất chính cung cấp lương thực thực phẩm cho xã hội, đang trong quá trình CNH – HĐH và là ngành chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên Vì vậy trong giai đoạn trước mắt Nhà nước cần đầu tư phát triển nông nghiệp thông qua việc cho vay và hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh
Những ngành kinh tế mũi nhọn là những ngành mới phát triển đòi hỏi vốn đầu tư lớn Phát triển những ngành này sẻ tạo cơ sở và lôi cuốn các ngành khác như: sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thường không đủ tiềm lực tài chính để đầu tư, không ai khác ngân hàng chính là người cho vay để tài trợ cho các ngành này
Cho vay góp phần nâng cao đời sống nhân dân, ngân hàng cho khách hàng vay vốn để sản xuất kinh doanh, việc phát triển sản xuất sẽ góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cho vay trực tiếp đối với KH là cá nhân dưới hình thức cho vay tiêu dùng để mua sắm những thiết yếu cần thiết cho cuộc sống như: xây dựng
Trang 17nhà cửa, mua xe… trong khi bản thân họ không có đủ tiền từ đó mà cho vay
đã góp phần cải thiện đời sống của người dân
Cho vay góp phần điều chỉnh cơ cấu đầu tư, từ đó tác động chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Ngân hàng sử chỉ cho vay đối với các ngành có hiệu quả có khả năng phát triển Mặt khác, ngân hàng cũng cho vay theo chỉ định của Nhà nước, chính quyền địa phương trong đó có chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Bởi ngân hàng khi cho vay không phân biệt thành phần kinh tế mà sẵn sang cho vay với các đơn vị hoạt động kinh doanh có hiệu quả và trả nợ đầy đủ
Đối với Làng nghề
Cho vay đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục Các tổ chức kinh tế trong một thời điểm nào đó thiếu vốn để mua nguyên vật liệu, trả lương công nhân… do chưa thu được tiền bán hàng Lúc này họ phải đi vay để duy trì quá trình sản xuất, họ có thể vay bạn bè, người thân nhưng không phải lúc nào cũng đáp ứng được, chỉ có NHTM mới đáp ứng nhanh nhất và kịp thời nhất vốn cho họ để tiếp tục quá trình sản xuất Cho vay góp phần đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh và mở rộng sản xuất của khách hàng Các khách hàng trong quá trình mở rộng sản xuất luôn cần phải mở rộng sản xuất, đổi mới sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng, tăng súc cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Muốn vậy họ cần phải đổi mới công nghệ, mua những thiết bị máy móc mới, xây dựng thêm nhà xưởng, thuê thêm lao động… chi phí cho những hoạt động này là rất lớn và bản thân các doanh nghiệp tại một thời điểm không thể có đủ vốn để chi trả Vốn vay ngân hàng sẽ giúp họ thực hiện được trong khi bản thân các doanh nghiệp chưa đủ vốn
Trên cơ sở sàng lọc và giám sát ngân hàng buộc các đối tượng vay phải
sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả Trong nghiệp vụ cho vay của ngân hàng không phải đối tác nào có nhu cầu đều được vay mà ngân hàng
Trang 18luôn có sự sàng lọc, lựa chọn Ngân hàng sẽ chỉ thực hiện cho vay với khách hàng có uy tín, có phương án kinh doanh hiệu quả và có triển vọng phát triển
Do vậy mà các chủ thể vay vốn phải có một phương án vay vốn có hiệu quả
và có tư cách đạo đức tốt Khi cho vay, ngân hàng sẽ tiến hành giám sát, kiểm tra xem đối tượng cho vay vốn có đúng mục đích không? Nếu khách hàng sử dụng vốn vay không hiệu quả ngân hàng sẽ tư vấn để giúp họ có phương án kinh doanh có hiệu quả hơn hoặc nếu khách hàng sử dụng không đúng mục đích ngân hàng có thể thu hồi lại vốn cho dù chưa hết thời hạn vay vốn Chính
vì vậy mà khách hàng, tránh rủi ro cho ngân hàng
1.2 MỞ RỘNG CHO VAY PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm mở rộng cho vay phát triển làng nghề
Mở rộng cho vay nhằm phát triển làng nghề là tăng qui mô cả khối lượng
và chất lượng nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận tăng, đảm bảo ngân hàng phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường.
Qua nhận thức nêu trên khóa luận rút ra, mở rộng cho vay của các tổ chức tín dụng cho vay đối với làng nghề được thể hiện:
Một là, mở rộng cho vay của các tổ chức tín dụng đối với làng nghề mà
không ngắn liền với sự tăng trưởng của nền kinh tế thì sự mở rộng đó sẽ là phiến diện Do đó trong bất cứ trường hợp nào, đã là mở rộng cho vay thì phải góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển phù hợp với định hướng, mục tiêu của nhà nước Tuy nhiên, mở rộng đầu tư tín dụng ngân hàng không thể tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh với bất kỳ giá nào, NH không thể cho vay thiếu sự tính toán, cân nhắc Mở rộng cho vay phải được xác đinh, định lượng, định tính gắn liền với chất lượng và hiệu quả đẩu tư tín dụng
Hai là, mở rộng cho vay phát triển làng nghề còn phải bảo đảm thực hiện
mục tiêu của nguồn vốn huy động Chẳng hạn mục tiêu của nguồn vốn huy động là để cho vay xóa đói giảm nghèo, có hoàn trả, không hoàn trả, có lãi
Trang 19xuất, không lãi xuất…Thì khồng thể lấy nguồn vốn này mà cho vay xây dựng
cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị máy móc…Tùy theo tính chất của nguồn vốn
mà đầu tư
Ba là, mở rộng cho vay đối với làng nghề còn phải cho vay có hiệu quả
các cơ chế đầu tư tín dụng
1.2.2 Sự cần thiết mở rộng cho vay phát triển làng nghề của ngân hàng thương mại
Thứ nhất: cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của làng nghề để đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất.
Các làng nghề muốn tồn tại và phát triển thì phải có vốn đầu tư, việc đầu
tư từ vốn ngân sách cho phát triển làng nghề còn rất hạn chế bởi khả năng tài chính của Nhà nước thấp, bên cạnh đó khả năng tự đầu tư của bản thân làng nghề là rất thấp Sự hạn chế đó bắt nguồn từ hạn chế về khả năng tích lũy của các hộ gia đình và cơ sở sản xuất Để thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo điều kiện cho làng nghề phát triển đáp ứng bằng vốn vay của ngân hàng có ý nghĩa rất to lớn trong việc tài trợ vốn ban đầu cho sản xuất kinh doanh Chính sự hỗ trợ vốn của NH đã giúp làng nghề mở rộng quy mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật, bên cạnh đó hoạt động cho vay của ngân hàng cũng giúp các hộ, cơ sở sản xuất quay vòng vốn nhanh, sản phẩm ngày càng nhiều, tăng thu nhập cải thiện đời sống cho người dân
Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của làng nghề.
Các hộ và cơ sở khi vay vốn của ngân hàng đều phải trả lãi, họ bị thúc ép
về nghĩa vụ tài chính, nên phải tính toán cẩn thận để làm ăn có hiệu quả Mỗi đồng vốn vay của ngân hàng phải đem lại lợi ích kinh tế cao vì họ phải trả phí cho những đồng vốn này.Doanh thu thu được phải bảo đảm bù đắp đủ chi phí sản xuất, lãi ngân hàng, thuế…mà vẫn có lãi(lãi dòng) Do vậy qua hoạt động cho vay, ngân hàng buộc khu vực này phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Trang 20thông qua hiệu quả kinh doanh như:Nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm,nâng cao trình độ tổ chức và quản lý doanh nghiệp…
Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần thay đổi bộ mặt làng nghề theo hướng nền kinh tế thị trường.
Ngay từ khi mới bắt đầu vào sản xuất kinh doanh, các hộ và các cơ sở làng nghề đã cần nhà xưởng, đất đai để người lao động có nơi sản xuất.Nguồn vốn tự có không đủ họ phải vay ngân hàng Một khi hoạt động phát triển hệ thống nhà xưởng sẽ được mở rộng thêm.Mức độ tập trung hóa được tăng cường Thông qua việc gián tiếp thúc đẩy tập trung hóa lao động nông thôn, tín dụng NH đã góp phần thay đổi theo phát triển kinh tế làng nghề theo cơ chế thị trường Đồng thời việc giúp làng nghề phát triển sẽ tạo điều kiện phát triển các khu công nghiệp mà làng nghề làm vệ tinh
Thứ tư, tín dụng ngân hàng không những mang lại lợi ích kinh tế cao mà còn mang lại lợi ích chính trị, xã hội cho làng nghề.
tín dụng NH không những mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp có thể thấy được qua thực tế sản xuất kinh doanh và các con số mà nó gián tiếp mang lại các lợi ích chính trị và xã hội khác như: Tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, khắc phục thời gian nhàn, hạn chế các tệ nạn xã hội qua đó có cơ sở củng cố tiềm lực kinh tế - quốc phòng tại địa phương
Thứ năm,tín dụng ngân hàng tham gia vào quá trình hình thành một số làng nghề mới và thúc đẩy làng nghề hiện tại phát triển.
Hiện nay, các làng nghề phục vụ cho các nhu cầu trong nước xuất hiện
ngày một nhiều Tuy nhiên, mới ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, để
có thể trở thành làng nghề cần có sự mạnh dạn đầu tư về vốn, trang thiết bị công nghệ cũng như có sự hỗ trợ của chính phủ Tín dụng ngân hàng tác động vào nhu cầu về vốn sẽ giúp cho các làng nghề này có khả năng phát triển thành các làng nghề mới Với các làng nghề đang tồn tại thì tín dụng ngân hàng cung ứng vốn để duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, qua
Trang 21đó giúp các làng nghề này ngày một phát triển, từ đó góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế
xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra
1.2.3 Các chỉ tiêu mở rộng cho vay phát triển làng nghề
a Chỉ tiêu định tính
Thứ nhất, mở rộng cho vay đối với làng nghề có hiệu quả hay không điều
đó thể hiện ở khả năng đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng Đối với khách hàng thì điều này thể hiện trước hết ở thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng kịp thời, an toàn Nhờ vậy khách hàng sẽ tiết kiệm được chi phí giao dịch, thời gian và nhất là không bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt Tuy nhiên đây mới chỉ là yêu cầu ban đầu, trong nền kinh tế thị trường đầy biến động và có
sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi ngân hàng phải sang tạo,năng động thì mới có thể mở rộng cho vay đối với làng nghề có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, để đạt được điều đó thì ngoài việc đáp ứng nhanh chóng kịp thời,nhu cầu vốn thì ngân hàng phải thực sự trở thành người bạn của khách hàng, sẵn sang giúp đỡ chia sẻ khó khăn với khách hàng Chẳng hạn trong quá trình xet duyệt hồ sơ vay vốn nêú thấy không khả thi thì thay
vì từ chối cho vay ngân hàng có thể góp ý tư vấn cho khách hàng để họ xem xét lại, ngoài ra ngân hàng có thể cung cấp thông tin bổ ích về thị trường, khoa học công nghệ cho khách hàng Có làm được điều đó thì nguồn vốn của khách hàng mới thực sự phát huy được vai trò đòn bẩy kinh tế đối với cả ngân hàng và khách hàng Điều này sẽ làm cho việc mở rộng cho vay đối với làng nghề có hiệu quả cao hơn
Thứ hai, để việc mở rộng cho vay đối với làng nghề có hiệu quả thì phải
đáp ứng được mức độ khả năng và nhu cầu kinh doanh của ngân hàng Điều này không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng mà còn phụ thuộc vào khách hàng Một khoản vay có hiệu quả chỉ khi các nguyên tắc cho vay được tuân thủ triệt
để, sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, hoàn trả nợ gốc và lãi đúng
Trang 22hạn Việc tân thủ các nguyên tắc cho vay vừa là điều kiện cần thiết vừa là biểu hiện khoản vay có chất lượng Như vậy sử dụng vốn vay đúng mục đích cùng với sự năng động nhạy bén trong kinh doanh của khách hàng và sự giúp
đỡ có hiệu quả của ngân hàng sẽ tạo điều kiện để khách hàng đầu tư vốn có hiệu quả Đây cũng là tiền đề cho khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả
nợ bảo đảm sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Tóm lại chỉ tiêu định tính là căn cứ để xác định mở rộng cho vay đối với làng nghề có hiệu quả, nhưng để có kết luận chính xác hơn cần phải dựa vào
hệ thống chỉ tiêu định lượng sau:
b Chỉ tiêu định lượng
Đối với Ngân hàng
Chỉ tiêu về Doanh số và tốc độ tăng doanh số cho vay đối với làng nghề: Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng đối với làng nghề là chỉ tiêu phản ánh chính xác tuyệt đối về hoạt động cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm
Do đó nếu kết hợp doanh số chop vay của các thời kỳ liên tiếp thì có thể thấy được hướng hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với làng nghề Còn tốc độ tăng trưởng doanh số thể hiện khả năng mở rộng quy mô cho vay qua các thời
kì Doanh số cho vay lớn với tốc độ tăng trưởng nhanh cho thấy khả năng mở rộng hoạt động cho vay đối với làng nghề đang ở tình trạng tốt
Đối với Khách hàng
Các chỉ tiêu dùng để đánh giá mở rộng cho vay đối với làng nghề gồm: Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận tăng và mức tăng năng suất lao động từ việc thực hiện phương án SXKD Các chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của làng nghề Đó là tiền đề để khách hàng thực hiện đúng cam kết trả nợ cho ngân hàng, đồng thời bản thân khách hàng có lợi nhuận đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước
Trang 23Đối với sản phẩm của Làng nghề
Thông thường các sản phẩm làng nghề nhất là những sản phẩm truyền thống vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng vừa là vật trang trí trong nhà, đền, chùa, công sở nhà nước,… Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Các hàng thủ công truyền thống thường mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi làng nghề Do vậy các sản phẩm này thường có thị trường tiêu thụ rộng lớn, phong phú, đa dạng Sản phẩm của các làng nghề vừa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương trong nước vừa để xuất khẩu, trong đó nhu cầu để xuất khẩu bán cho khách tham quan du lịch thường chiếm tỷ trọng lớn.Tóm lại sản phẩm càng đa dạng, thị rường tiêu thụ càng rộng lớn điều đó chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của làng nghề càng lớn Chỉ tiêu này có ý nghĩa rất lớn khi xác định mở rộng cho vay đối với làng nghề
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHO VAY PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
là phù hợp? sử dụng các hình thức cho vay nào? Lĩnh vực cho vay nào đang
có xu hướng phát triển?
Trang 24Chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết định tới sự thành công hay thất bại của một ngân hàng Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội.
Thứ hai, quy trình tín dụng: quy trình tín dụng bao gồm những quy
định phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Nó được bắt đầu thực hiện từ khi chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra qua trình cho vay cho đến khi thu hồi nợ Hoạt động cho vay có được đảm bảo hay không tùy thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng… sẽ tạo điều kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường theo đúng kế hoặch
đã định, nhờ đó đảm bảo chất lượng tín dụng
Thứ ba, trình độ nghiệp vụ của nhân viênngân hàng: nhân tố con người
luôn đóng vai trò hết sức quan trọng Sự thành công trong hoạt động cho vay đối với làng nghề hay không phụ thuộc vào năng lực, trách nhiệm của người cán bộ tín dụng Họ là những người trực tiếp quản lý toàn bộ số vốn từ khi đầu tư cho đến khi kết thúc hợp đồng tín dụng Trước khi cho vay cán bọ tín dụng phải phân tích kỹ phương án vay vốn, tình hình tài chính của các hộ, cơ
sở sản xuất, kiểm tra việc sử dụng vốn vay của các cơ sở Làng nghề đang ngày càng mở rộng và phát triển, việc nâng cao năng lực, trách nhiệm nhân sự
là rất cần thiết, điều đó phòng tránh cho ngân hàng rủi ro trong cho vay đối với làng nghề
Thứ tư, thông tin tín dụng: thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong
quản lý tín dụng Nhờ có thông tin tín dụng người quản lý có thể đưa ra những quyêt định cần thiết có liên quan đến việc cho vay, theo dõi quản lý tài khoản cho vay Số lượng chất lượng của thông tin về làng nghề có liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích tình hình về các làng nghề, các cơ
Trang 25sở để đưa ra quyêt định phù hợp Vì vậy thông tin càng đầy đủ, chính xác, kịp thời thì khả năng mở rộng cho vay đối với các làng nghề càng lớn NH có thể thu thập thông tin từ nguồn sẵn có của khách hàng cung cấp, từ trung tâm thông tin tín dụng, các nguồn khác.
Thứ năm, trang thiết bị ngân hàng phục vụ cho hoạt động cho vay: nếu
một ngân hàng được trang bị đầy đủ thiết bị công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tài chính, phạm vi, quy mô hoạt động sẽ giúp ngân hàng hoạt động tốt hơn
Ngoài những nhân tố nêu trên thì công tác tổ chức của ngân hàng cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng Tổ chức ngân hàng phải được tổ chức một cách khoa học, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong ngân hàng, trong toàn bộ hệ thống NH để tạo đoều kiện đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng, giúp ngân hàng theo dõi sát sao các khoản cho vay, từ đó đem lại hiệu quả cao trong hoạt động cho vay
Thứ sáu, nhân tố kiểm soát nội bộ: Đây là biện pháp giúp cho ban lãnh
đạo ngân hàng có được các thông tin về tình trạng kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động kinh doanh đang được xúc tiến, phù hợp với các chính sách, đáp ứng được các mục tiêu đã định Chất lượng tín dụng tùy thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời nguyên nhân các sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng của công tác kiểm soát nội bộ để có biện pháp khắc phục kịp thời Để kiểm soát nội bộ có hiệu quả, ngân hàng cần có cơ cấu
tổ chức hợp lý, cán bộ kiểm tra phải giỏi nghiệp vụ, trung thực và có chính sách thưởng phạt vật chất nghiêm minh
Thứ bảy, nhân tố công tác tổ chức của ngân hàng: Tổ chức ngân hàng
phải sắp xếp một cách có khoa học, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong từng ngân hàng, trong toàn hệ thống ngân hàng cũng như giữa ngân hàng với các cơ quan khác như tài chính, pháp lý…
sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, giúp ngân hàng
Trang 26theo dõi, quản lý sát sao các khoản cho vay, các khoản huy động vốn.Đây là
cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh và quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng
b Nhân tố thuộc về làng nghề
Việc ngân hàng có quyết định cho vay hay không phụ thuộc phần nhiều vào làng nghề, dựa trên các điều kiện:
Thứ nhất, nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Nhu cầu vay vốn phải là những nhu cầu cần thiết như vay để sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm duy trì hay phát triển sản xuất Nhu cầu này tùy thuộc vào ngành nghề, mức vốn tự có và mở rộng sản xuất kinh doanh ở làng nghề Chẳng hạn: làng nghề có nhu cầu tín dụng ngắn hạn để tài trợ vốn lưu động thường xuyên như mua nguyên vật liệu, dự trữ hang cho kỳ sau… Thông thường chu kỳ sản xuất kinh doanh của làng nghề là ngắn hạn so với chu kỳ xây dựng cơ bản Khách hàng ở các làng nghề cũng có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn để mua sắm tài sản cố định khi mà vốn tự có của bản thân các cơ sở là không đủ
Nhu cầu vay vốn của làng nghề phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề, đối tượng tài trợ, giai đoạn sản xuất kinh doanh và điều kiện của người vay
Do vậy nhu cầu của KH khác nhau về quy mô, thời hạn, phương thức cho vay Khi mở rộng cho vay với đối tượng khách hàng này ngân hàng cần thiết xem xét nhu cầu khách hàng cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu đó của mình
Thứ hai, Tình trạng tài chính của làng nghề.
Ngân hàng sẽ cho vay nếu nhận thấy khả năng tài chính của khách hàng
là lành mạnh và có thể phát triển Khi cho vay các ngân hàng sẽ xem xét các yếu tố sau:
Khả năng trả nợ: được thể hiện trong hồ sơ hoạt động kinh doanh trước đây như báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán và phương án sản
Trang 27xuất kinh doanh Trong đó phương án sản xuất kinh doanh là rất quan trọng,
nó phản ánh khả năng trả nợ trên cơ sở dự toán các luồng tiền trong tương lai
Tài sản đảm bảo: tài sản đảm bảo vẫn được coi là công cụ hữu ích nhất
để hạn chế rủi ro Tài sản đảm bảo phải dễ xác định giá trị, dễ mua bán, có thể chuyển nhượng, thuộc sở hữu hợp pháp của khách hàng Thông thường các hộ sản xuất thường đảm bảo bằng đất đai, nhà cửa, máy móc thiết bị Đối với các doanh nghiệp thường là hang tồn kho, khoản phải thu, máy móc thiết bị Ngân hàng cũng cho khách hàng vay không có tài sản đảm bảo khi khách hàng đáp ứng nhu cầu sau: tư cách và năng lực tài chính tốt hoặc là khách hàng có quan
hệ lâu dài thường xuyên có tín nhiệm với ngân hàng Tuy nhiên thực tế cho vay không có tài sản đảm bảo bằng tài sản vẫn chưa nhiều, các làng nghề thường chứa nhiều rủi ro do thi trường tiêu thụ và nguyên liệu biến động thường xuyên
Thứ ba, Tư cách đạo đức, trình độ quản lý của KH ở làng nghề cũng có vai trò quan trọng
Kinh nghiệm của rnhiều cán bộ tín dụng cho thấy tư cách đạo đức, tính cách và năng lực quản lý của KH quyết định rất nhiều đến nhu cầu, mục đích vay vốn của họ cũng như mức độ thành công của món vay Cán bộ tín dụng
có thể đánh giá họ thông qua một số tiêu thức như có quan hên tín dụng lâu dài và luôn trả đúng hạn, phương án sản xuất hợp lý, có trình độ phát triển, trình độ giáo dục
1.3.2 Các nhân tố khách quan
Ngoài các nhân tố thuộc về làng nghề, ngân hàng thì nhân tố thuộc về môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, chính trị xã hội, môi trường công nghệ cũng rất quan trọng
Thứ nhất, về môi trường pháp lý.
Để tiến hành CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn thì Đảng và Nhà nước
ta đã đề ra chủ trương khôi phục và phát triển các làng nghề để khai thác tối
Trang 28đa nguồn lực ở nông thôn Ngân hàng với tư cách là đơn vị kinh doanh trong kĩnh vực tiền tệ thì phải thường xuyên cập nhật những chủ trương chính sách của Nhà nước để biết được xu hướng phát triển trong tương lai, từ đó đưa ra chính sách tín dụng phù hợp, Bời vì để phát triển một khu vực nào đó thi Nhà nước sẽ phải đầu tư vốn cho khu vực đó mà ngân hàng lại là kênh phân phối lớn và có hiệu quả nhất Một khi đã đầu tư thì hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, nguyên liệu, thị trường đều phát triển từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho làng nghề phát triển Các làng nghề có phát triển thì nhu cầu vốn đầu tư càng tăng.
Bên cạnh chính sách của Đảng và Nhà nước, mỗi địa phương đều có chính sách riêng phát triển kinh tế tại địa phương cho phù hợp NH cần theo dõi để có chính sách mở rộng tín dụng phù hợp với định hướng của nhà nước
và địa phương nơi mình phục vụ
Thứ hai, môi trường kinh tế.
Các điều kiện kinh tế là những yếu tố khách quan thể hiện sự qua sự tăng trưởng kinh tế hay sự trì trệ của nền kinh tế Khi nền kinh tế đang có sự tăng trưởng: sức mua cao, xuất khẩu tăng, thu nhập của nhân dân ổn định… Thì dễ dàng cho phép các NH mở rộng tín dụng, ngược lại khi nền kinh tế đang ở trong tình trạng trì trệ, thì cho vay sẽ bị thu hẹp bởi yếu tố lạm phát, khủng hoảng sẽ làm cho khả năng cho vay, khả năng trả nợ biến động lớn làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu nợ khi cho vay của ngân hàng
Ngân hàng khi mở rộng cho vay cần xem xét chính sách kinh tế của nhà nước vì những chính sách này sẽ điều tiết để ưu tiên hay hạn chế sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực nào đó để đảm bảo cho sự cân đối cho nền kinh tế
Chính sách tín dụng của đối thủ cạnh tranh cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng Trong môi trường kinh tế có sự cạnh tranh gay gắt, ngày càng nhiều ngân hàng tham gia, bên cạnh đó các quỹ tín dụng nhân
Trang 29dân, công ty cho thuê tài chính cũng tham gia sôi nổi vào thị trường này Khách hàng sẽ có nhiều lựa chọn để vay hơn, họ sẽ lựa chọn những ngân hàng có lãi suất thấp hoặc có điều kiện ưu đãi Chính vì vậy ngân hàng muốn
mở rộng cho vay cần xem xét chính sách tín dụng của đối thủ cạnh tranh để
có những điều chỉnh phù hợp
Thứ ba, môi trường chính trị xã hội.
Một nền kinh tế có tình hình chính trị ổn định sẽ tạo sự an toàn cho các khoản tín dụng tử đó thúc đẩy các ngân hàng mở rộng cho vay Trong quan hệ tín dụng có sự kết hợp của ba yếu tố: Khách hàng, ngân hàng, sự tín nhiệm, trong đó sự tín nhiệm là câu nối mối quan hệ giữa KH và NH Ngân hàng có
độ tín nhiệm càng cao thì thu hút được khách hàng càng lớn, đến lượt khách hàng có tín nhiệm với ngân hàng thường được vay vốn dễ dàng với lãi suất ưu đãi có lợi Ngoài các yếu tố trên còn các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay như đạo đức xã hội, liên quan đến rủi ro tín dụng, trong trường hợp lợi dụng lòng tin để lừa đảo, hoặc do trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết dẫn tới ứ đọng vốn vay không đũng mục đích hoặc kinh doanh kém hiệu quả…dẫn đến ngân hàng không thu được nợ
Thứ tư, môi trường công nghệ.
Với trình độ phát triển như ngày nay, việc ứng dụng công nghệ vào mọi lĩnh vực là một tất yếu công nghệ hiện đại đã góp phần giảm một khối lượng lớn công việc cho con người, ngân hàng cần phải không ngừng nghiên cứu môi trường công nghệ để biết công nghệ nào đang phát triển từ đó lựa chọn lĩnh vực đầu tư đúng đắn
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua phân tích nghiên cứu những lý luận cơ bản về mở rộng tín dụng đối với làng nghề ở chương 1 nêu trên Khóa luận dã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu sau:
Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về làng nghề, mở rộng cho vay phát triển làng nghề những đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng của các tổ chức tín dụng đối với làng nghề: Và khẳng định nhận thức về mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề phải được xuất phát từ lợi ích của 3 phía là nền kinh tế xã hội, khách hàng và ngân hàng thông qua hệ thống chỉ tiêu đánh giá mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề; trên cơ sở đó nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề
tổ chức tín dụng Đây là những kiến thức cơ bản cần thiết giúp những người quản lý đề ra những định hướng và xác định những quan điểm đúng đắn trong việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta Mặt khác, giúp các tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn đúng hướng, đúng đối tượng, có hiệu quả góp phần tăng trưởng kinh tế khu vực kinh tế làng nghề
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG CHO VAY PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TẠI CHI NHÁNH NHNN & PTNT HUYỆN GIA BÌNH
TỈNH BẮC NINH TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH NHNN& PTNT HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH
2.1.1 Tổng quan về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Gia Bình
a Đặc điểm về tự nhiên
Gia Bình là một huyện mới được tách từ huyện gia lương cũ của tỉnh Bắc Ninh nằm ở khu vực Đồng bằng bắc bộ huyện có diện tích tự nhiên 107,53km2, có 13xã, 1 thị trấn, phía bắc giáp huyện quế võ, phía nam giáp huyện lương tài, phía tây giáp huyện thuận thành và phía đông giáp tỉnh Hải Dương
Là vùng trọng điểm lúa, được thiên nhiên ưu đãi nhiều lợi thế, tiềm năng cho ngành nông nghiệp phát triển phong phú đa dạng Bên cạnh đó chăn nuôi gia súc gia cầm và nuôi trồng thủy sản cũng rất phát triển
Huyện có rất nhiều ngành nghề và làng nghề truyền thống, sản phẩm công nghiệp trong huyện đa dạng và phong phú Các sản phẩm mà các làng nghề tạo ra gồm:nồi đồng,lư hương, đồ thờ cúng (làng đúc đồng Đại Bái), nón lá (làng Môn Quảng) đồ thủ công mỹ nghệ (làng Xuân Lai)… góp phần quan trọng làm tăng giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở địa phương
b Đặc điểm kinh tế xã hội
Dân số trong huyện 100,3 nghìn người, số người ở độ tuổi lao động chiếm
>50%, gần 100% dân số sống ở nông thôn, gần 75% số dân làm lao động tại địa phương, số còn lại lao động tại các đô thị lớn, 1/3 số xã có làng nghề, là
Trang 32một huyện có truyền thống hiếu học, người dân lao động cần cù,sáng tạo, có nhận thức mới về sản xuất hàng hóa, năng động hơn trong sản xuất kinh doanh.
Kinh tế của huyện đạt mức tăng trưởng khá, liên tục qua các năm Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch tích cực theo mục tiêu đã đề ra, đến năm 2009tỷ trọng các ngành là: nông nghiệp 39,8%, công nghiệp xây dựng 32,8%, dịch vụ 28,4%, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 2007 – 2009đạt 8,85%/năm Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản đều đạt và vượt kế hoạch, thu nhập bình quân đầu người đạt 480.000 đồng/người/ tháng Các chỉ tiêu về văn hóa,
y tế, giáo dục cũng hoàn thành suất sắc, đời sống nhân dân được đảm bảo và
có điều kiện phát triển toàn diện
Từ những đặc điểm cơ bản về tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện, hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHNN&PTNT huyện Gia Bình có những thuận lợi và khó khăn sau:
xu thế hội nhấp lãi suất quốc tế Chính sách lãi suất là đòn bẩy quan trọng kích thích mọi thành phần kinh tế mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, là
Trang 33cơ hội để ngân hàng mở rộng thị trường, kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Dưới sự lãnh đạo của huyện ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân huyện, các cấp các ngành đã chỉ đạo có hiệu quả các mặt công tác như: đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng đường giao thông, điểm công nghiệp, khu dân
cư, chính sách ưu tiên gọi vốn đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cơ bản theo hướng sản xuất hàng hóa tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển, từ đó tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh ngân hàng
* Khó khăn:
Gia Bình là một huyện thuần nông, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, trong những năm gần đây cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch nhưng chưa rõ rệt Chưa có ngành nghề kinh tế mũi nhọn, việc sắp xếp các doanh nghiệp Nhà nước tiến hành chậm Mặt khác, trên địa bàn hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh còn nhiều hạn chế, hiệu quả sản xuất chưa cao gây nên những khó khăn trong đầu tư tín dụng của NH Thị trường chính của ngân hàng nông nghiệp là ở nông thôn mà chủ yếu
là các hộ sản xuất, món vay nhỏ, chi phí cao Trong quá trình kinh doanh tín dụng ngân hàng tốn rất nhiều công sức trong việc điều tra thẩm định, quản lý
và xử lý nợ khi cho vay Mặt khác đối tượng vay vốn của ngân hàng nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, nên trong hoạt động cho vay lĩnh vực này chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với các ngành khác
Trên địa bàn huyện có 2 ngân hàng quốc doanh và 4 quỹ tín dụng nhân cùng hoạt động, môi trường cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt đòi hỏi phải
có sự nỗ lực, quyết tâm cao của cán bộ nhân viên ngân hàng
Nhận thức được điều đó, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Gia Bình đã xây dựng đề án chiến lựơc kinh doanh nhạy bén để mở rộng hoạt động, giữ vững uy tín với khách hàng, nâng cao chất lượng phục vụ của ngân hàng
Trang 342.1.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển NHNo & PTNT huyện Gia Bình
a Quá trình hình thành và phát triển NHNo & PTNT huyện Gia Bình.
Ngân hàng nông nghiệp chi nhánh huyện Gia Bình được thành lập khi huyện Gia Bình được tái lập năm 1999 Có trụ sở tại thị trấn Đông Bình huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh
Ngân hàng nông nghiệp huyện Gia Bình là một chi nhánh của NHNo & PTNT tỉnh Bắc Ninh thuộc hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam có đầy đủ chức năng của ngân hàng thương mại hoạt động theo luật của tổ chức tín dụng
NHNo & PTNT huyện Gia Bình là ngân hàng cấp 2 gồm có: 01 chi nhánh hội sở chính tại trung tâm huyện và 2 ngân hàng cấp 3 trực thuộc tại địa
bàn( ngân hàng cấp 3 Nhân Thắng và ngân hàng cấp 3 Đông Cứu)
từ khi được thành lập đến nay, với vai trò của ngân hàng thương mại đóng trên địa bàn, hoạt động kinh doanh NHNo & PTNT huyện Gia Bình đã đóng góp không nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế, xã hội, cũng như xóa đói giảm nghèo và không ngừng phát triển đi lên, ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế thị trường
b Chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng NHNo & PTNT huyện Gia Bình
- Huy động vốn VNĐ và ngoại tệ của các tổ chức, cá nhân
- Cho vay vốn ngắn hạn, trung và dài hạn đối với tổ chức kinh tế và dân cư
- Nhận vốn ủy thác đầu tư của các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng trong
và ngoài nước
- Thanh toán chuyển tiền điện tử, chi trả kiều hối, kinh doanh ngoại tệ và các dich vụ khác về ngân hàng
c Cơ cấu tổ chức
Trang 35sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của NHNo& PTNT huyện Gia Bình
(Nguồn: Phòng nhân sự NHNo& PTNT huyện Gia Bình)
NHNo& PTNT huyện Gia Bình là một ngân hàng cấp 2 chịu sự quản lý của NHNo& PTNT tỉnh Bắc Ninh
Mô hình tổ chức gồm 3 phòng ban và 2 ngân hàng cấp 3.Tất cả mọi hoạt động của NH và 2 ngân hàng cấp 3 dều chịu sự quản lý trực tiếp của ban giám đốc, giữa các phòng ban có mối quan hệ tác nghiệp với nhau
Giám đốc ngân hàng chịu trách nhiệm chỉ đạo điều hành và kiểm soát các công việc kinh doanh nói chung và phụ trách riêng phòng kế toán
Phó giám đốc phụ trách mảng kinh doanh tín dụng và công đoàn Phó giám đốc được sự ủy quyền của giám đốc chịu trách nhiệm về các công việc liên quan đến tín dụng như:
Xem xét nội dung thẩm định do phòng tín dụng trình lên để quyết định cho vay và chịu nhiệm về các quyết định của mình
Ngân hàng cấp 3 Đông Cứu
Ngân hàng cấp 3 Nhân Thắng
Phòng kế toán nhân quỹ
Trang 36Kí hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay và các hồ sơ do ngân hàng và khách hàng cùng lập.
Quyết định các biện pháp xử lý nợ, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, thực hiện các biện pháp xử đối với khách hàng
Phòng tín dụng
+ Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại khách hàng và đề xuất các chính sách ưu đãi với từng khách hàng nhằm mở rộng theo hướng đầu tư tín dụng khép kin: sản xuât, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu
và gắn tín dụng, sản xuất, lưu thông và tiêu dùng
+ Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kinh tế kỹ thuật, danh mục khách hàng, lựa chọn biện pháp an toàn và đạt hiệu quả
+ Thẩm định các dự án, hoàn thiện các trường trình, dự án thuộc nguồn vốn trong nước, nước ngoài Trực tiếp làm dịch vụ ủy thác nguồn vốn thuộc chính phủ, bộ, ngành khác và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước
+ Xây dựng và thực hiện các mô hình tín dụng thí điểm, thử nghiệm trong địa bàn đồng thời đánh giá, theo dõi, sơ kết, tổng kết, đề xuất với tổng giám đốc chp phép áp dụng rộng rãi
+ Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm ra nguyên nhân và đề xuất khắc phục
+ Giúp giám đốc chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tín dụng của các chi nhánh NHNo & PTNT thuộc trực thuộc địa bàn
Chi nhánh ngân hàng cấp 3: Với chức năng tổng hợp của phòng kinh doanh, phòng kế toán, vừa huy động vốn và đầu tư tín dụng là đơn vị nhận khoán trực tiếp với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện
2.1.3 Khái quát hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHNN & PTNT huyện Gia Bình
Trang 37a Hoạt động huy động vốn
Hoạt động này đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của NH Trên cơ sở NH xác định rõ huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt và có ý nghĩa quyết định để mở rộng sản xuất kinh doanh, trong các năm qua các cấp NH thường xuyên tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhiều giải pháp thiết thực để tăng trưởng nguồn vốn Kết quả là tổng nguồn vốn huy động liên tục tăng trưởng qua các năm và được thể hiện qua bảng sau:
( xem trang bên)
Trang 38Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của NHNo & PTNT huyện Gia Bình
Nguồn vốn tiền gửi 172.200 253.580 47.26 226.580 -10.65
Trang 39Số lượng tăng của các tổ chức tín dụng là 410 triệu đồng, tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 19080 triệu đồng.
Năm 2009 tổng nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng giảm 27000 triệu đồng
so với năm 2008 Trong đó tiền gửi của tổ chức kinh tế giảm một cách đáng
kể 87900 triệu đồng, tương úng với tỷ lệ giảm 86,4%, tiền gửi của các tổ chức tín dụng giảm 460 triệu đồng, so với năm 2008 Tuy nhiên tiền gửi của dân cư lại có xu hướng tăng mạnh 61.360 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 40,58%
Nguyên nhân: Sở dĩ có tình hình trên là do năm 2009 có nhiều diễn biến phức tạp về kinh tế, tình hình lạm phát tăng cao, giá cả hầu hết các mặt hàng tăng mạnh, lãi suất luôn ở mức báo động, giá vàng biến động lên xuống hàng ngày, lên việc huy động vốn trong năm 2009 của NHNo & PTNT huyện Gia Bình chủ yếu huy động được tiền ngắn hạn và không đạt được chỉ tiêu kế hoạch giao
b Hoạt động cho vay
Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là huy động vốn để sử dụng nhằm thu được lợi nhuận Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo lên các khoản tài sản khác nhau của ngân hàng, trong đó cho vay là khoản mục tài sản lớn và quan trọng nhất Trong những năm qua NHNN&PTNT huyện Gia Bình đã mở rộng đầu tư đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng Các cấp ngân hàng thực hiện việc lựa chọn thị trường, lựa chọn khách hàng, lấy thị trường nông nghiệp nông thôn là chính đẩy mạnh đầu tư vào các làng nghề, kinh tế trang trại và kinh tế hộ sản xuất
Tình hình cho vay của ngân hàng được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2: Tình hình cho vay qua các năm 2007 – 2009 tại NHNN & PTNT huyện Gia Bình
(Đơn vị: triệu đồng)
Trang 40Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Số tiền Số tiền 2008/2007(%) Số tiền 2009/2008(%)Doanh số cho vay 162.635 229.083 40,85 312.890 36,59Doanh số thu nợ 125.104 176.218 40,86 240.685 36,53
* Về doanh số cho vay: doanh số cho vay của chi nhánh tăng trưởng đều
qua các năm Năm 2007, doanh số cho vay đạt 162.635 triệu đồng, năm 2008
là 229.083 triệu đồng, tăng so với năm 2007 là 66.448 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng là 40,85% Đến năm 2009, doanh số cho vay đạt 312.890 triệu đồng, tăng 83.807 triệu đồng với tốc độ tăng trưởng la 36,59% so vưói năm 2008 Doanh số cho vay liên tục tăng là do trong 3 năm các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng tăng cả về quy mô và số lượng nên nhu cầu vay vốn để mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng lớn
* Về doanh số thu nợ: năm 2007 doanh số thu nợ đạt 125.104 triệu đồng,
năm 2008 doanh số thu nợ đạt 176.218 triệu đồng tăng 51.114 triệu đồng so với năm 2007, tốc độ thu nợ tăng 40,86% Năm 2009 doanh số thu nợ đạt 240.685 triệu đồng, tăng 64.467triệu đồng , tốc độ tăng trưởng 36,53% so với năm 2008, như vậy tốc độ tăng trưởng đã giảm so với năm trước đó Tuy nhiên, qua các năm doanh số thu nợ đều tăng, nguyên nhân là trong những năm qua nền kinh tế của huyện tăng trưởng khá, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả luôn trả nợ đúng hạn Đồng thời công tác thu nợ luôn được chi nhánh quan tâm một cách đúng mức ngân hàng thường xuyên kiểm tra, đôn đốc giám sát các khoản nợ để thu hồi nợ đúng thời hạn Do vậy mà doanh số