Theo thời gian nhu cầu và thị hiếu của khách hàng sẽ thay đổi, tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng trong sản xuất kinh doanh ngày càng nhiều, áp lực cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải t
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.6 KẾT CẤU ĐỀ TÀI 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
2.1 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM/DỊCH VỤ MỚI 7
2.1.1 Nghiên cứu sản phẩm - Hình thành ý định sản phẩm mới: 7
2.1.2 Soạn thảo và thẩm định dự án: 8
2.1.3 Thiết kế kỹ thuật, phát triển và hoàn thiện sản phẩm mới 8
2.1.4 Thiết kế chiến lược Marketing 8
2.1.5 Thử nghiệm sản phẩm 9
2.1.6 Chế tạo ra hàng loạt và tung sản phẩm mới ra thị trường 9
2.2 NHỮNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 9
2.3 ĐỊNH HƯỚNG MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ 10
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VÀ NHU CẦU KHÁCH HÀNG 12
3.1 GIỚI THIỆU DỊCH VỤ ĐI CHỢ THUÊ 12
3.2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ ĐI CHỢ THUÊ TẠI TP.HCM 12
3.2.1 Quy mô thị trường 12
3.2.2 Đặc điểm ngành dịch vụ đi chợ thuê 12
3.2.3 Tình hình tiêu thụ 13
3.2.4 Tình hình cạnh tranh 13
3.2.5 Xu hướng tăng trưởng 14
Trang 23.3 KHẢO SÁT NHU CẦU NGƯỜI TIÊU DÙNG 14
3.3.1 Đối tượng mục tiêu của cuộc khảo sát 14
3.3.2 Chân dung khách hàng 14
3.3.3 Nhu cầu của người tiêu dùng 15
3.3.4 Khả năng phát triển dịch vụ 15
3.3.5 Quan điểm về chất lượng dịch vụ đi chợ thuê 16
CHƯƠNG 4: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ ĐI CHỢ THUÊ 18
4.1 GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ LỰA CHỌN Ý TƯỞNG SẢN PHẨM 18
4.2 SOẠN THẢO VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN 18
4.2.1 Loại hình kinh doanh 18
4.2.2 Yếu tố đầu vào 18
4.2.3 Khả năng sản xuất 19
4.2.4 Mục tiêu doanh số trong 3 năm đầu 19
4.2.5 Bảng dòng tiền dự án trong 3 năm tới (Đơn vị: triệu đồng) 19
4.3 THIẾT KẾ CHIẾN LƯỢC MARKETING CHO DỊCH VỤ 20
4.3.1 Phân khúc thị trường – Chọn thị trường mục tiêu 20
4.3.2 Định vị dịch vụ 20
4.3.3 Định hướng mô hình phát triển dịch vụ 21
4.3.4 Mục tiêu 23
4.3.5 Chiến lược Marketing mix 24
4.4 THIẾT KẾ DỊCH VỤ 33
4.4.1 Quy trình 33
4.4.2 Con người 39
4.4.3 Chứng cứ vật lý 40
4.5 GIAI ĐOẠN THỬ NGHIỆM 40
4.6 GIAI ĐOẠN TUNG DỊCH VỤ RA THỊ TRƯỜNG 41
PHỤ LỤC 1 – BẢN CÂU HỎI 42
Trang 3PHỤ LỤC 2 - XUẤT KẾT QUẢ SPSS 48 PHỤ LỤC 3 – TRÍCH DẪN NGUỒN 54
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá đang phát triển vượt bậc, người dân Việt Nam, mà cụ thể là tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh phải chịu rất nhiều áp lực để có thể đáp ứng được tiến độ công việc Trong đó, chiếm một nửa là phụ
nữ Phụ nữ Việt ngày nay đang dần khẳng định được vị thế và khả năng của mình trên thương trường; tuy nhiên, với nét văn hoá truyền thống của nước Á Đông, người phụ nữ luôn là người giữ lửa cho căn bếp, hâm nóng tình cảm gia đình qua những bữa ăn sum họp Chính vì biết được nhu cầu rất cần được chu toàn cả ở xã hội hay tại gia đình của nữ giới, rất rất nhiều những sản phẩm, dịch vụ đã được đưa ra thị trường nhằm giúp họ dung hoà được cả hai khía cạnh ấy như các dụng cụ lau dọn nhà cửa, máy giặt, nồi cơm điện, hay các loại hình dịch vụ dọn dẹp nhà cửa, thuê mướn người giúp việc
Đồng thấu hiểu được nỗi lo lắng của họ khi đứng trước hai ngã đường: xã hội - gia đình, nhóm chúng tôi đã nghiên cứu và đưa ra một loại hình dịch vụ mới dành riêng cho đối tượng khách hàng này Đó chính là dịch vụ đi chợ thuê Dịch vụ của chúng tôi muốn mang đến cho người phụ nữ sự tiết kiệm tối đa về mặt thời gian, sức khoẻ, giảm thiểu nỗi
lo về thực đơn và nguyên liệu của những bữa ăn ngon ngọt, an toàn, hợp vệ sinh; mang đến cho phụ nữ và gia đình nhiều thời gian quây quần bên mâm cơm hơn Và nhất là, giúp cho họ trở thành một người vợ, người mẹ, người con “giỏi việc nước – đảm việc nhà” trong gia đình Mặt khác, hiện nay, dịch vụ này đã có mặt trên thị trường, nhưng đa phần là dưới dạng tự phát nhỏ lẻ, không có hệ thống Và những nhà cung cấp dịch vụ này
có hệ thống là rất ít Vì thế, chúng tôi thấy rằng đây là một thị trường vô cùng tiềm năng
để kinh doanh và phát triển Với những nhu cầu, lý do nêu trên, nhóm chúng tôi xin trình bày “Chiến lược phát triển dịch vụ đi chợ thuê Alô Chợ tại TP.HCM”
Thứ nhất, phân tích nhu cầu tiêu dùng những dịch vụ hỗ trợ cho việc bếp núc của phụ nữ tại TP.HCM
Trang 5Thứ hai, đưa ra chiến lược phát triển loại hình dịch vụ đi chợ thuê Alo Chợ nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu của người tiêu dùng
Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu của người tiêu dùng đối với dịch vụ đi chợ thuê tại TP.HCM
Phạm vi nghiên cứu: Nội thành TP.HCM
Thứ nhất, phân tích nhu cầu tiêu dùng những dịch vụ hỗ trợ cho việc bếp núc – đi chợ thuê của phụ nữ tại TP.HCM Trong mục tiêu này, nhóm nghiên cứu sẽ phân tích nhu cầu, nhận thức và quan niệm về chất lượng dịch vụ của họ đối với dịch vụ đi chợ thuê
Thứ hai, đưa ra chiến lược phát triển loại hình dịch vụ đi chợ thuê Alo Chợ nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Đây là loại hình dịch vụ mới, nên nhóm nghiên cứu sẽ đề xuất chiến lược theo 6 bước phát triển sản phẩm, dịch vụ mới
Đề tài áp dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
Phương pháp nghiên cứu định tính: cho nghiên cứu sơ bộ thông qua các công cụ như chuyên gia, tại bàn và thảo luận nhóm
Phương pháp nghiên cứu định lượng: cho nghiên cứu thử nghiệm và chính thức
thông qua việc thiết lập mô hình kinh doanh, bản câu hỏi, thang đo
1.6 KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Với những mục tiêu, nội dung đã trình bày phía trên, đề tài sẽ được kết cấu gồm 4 chương như sau
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Phân tích tổng quan thị trường và nhu cầu khách hàng
Trang 6Chương 4: Chiến lược phát triển dịch vụ đi chợ thuê
Trang 7CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Phát triển sản phẩm mới là một vấn đề cực kì quan trọng, liên quan đến sự sống còn của công ty Không có công ty nào duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh chỉ với một loại hoặc một nhóm sản phẩm cố định Theo thời gian nhu cầu và thị hiếu của khách hàng
sẽ thay đổi, tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng trong sản xuất kinh doanh ngày càng nhiều, áp lực cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên xem xét đến việc phát triển sản phẩm mới Vì vậy phát triển sản phẩm mới là một vấn đề cực kì quan trọng, liên quan đến sự sống còn của công ty Không có công ty nào duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh chỉ với một loại hoặc một nhóm sản phẩm cố định
Sản phẩm mới có thể phân thành 3 loại:
Sản phẩm mới hoàn toàn
Sản phẩm bắt trước theo sản phẩm đã có
Sản phẩm mới cải tiến
Phát triển sản phẩm là một yêu cầu cần thiết song cũng hàm chứa nhiều rủi ro, thậm chí có thể thất bại, gây tổn thất to lớn cho doanh nghiệp vì nhiều nguyên nhân Với mục tiêu giảm thiểu các rủi ro, doanh nghiệp thường xem xét quá trình phát triển sản phẩm mới qua nhiều giai đoạn Quá trình nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới diễn ra qua 5 giai đoạn cụ thể sau đây:
2.1.1 Nghiên cứu sản phẩm - Hình thành ý định sản phẩm mới:
Nghiên cứu sản phẩm là giai đoạn khởi đầu tính từ khi hình thành ý định sản phẩm mới đến khi các ý định đó được trình bày một cách tổng hợp về các mặt kỹ thuật và kinh
tế
Là giai đoạn tìm kiếm những ý tưởng về sản phẩm mới Ý định về sản phẩm mới
có thể hình thành từ các tác nhân: do nhu cầu thị trường, do cạnh tranh, do muốn chiếm lĩnh thị trường… Ý tưởng về sản phẩm mới có thể được gợi ý từ các nguồn như khách
Trang 8hàng, nguồn nội bộ, các đối thủ cạnh tranh hoặc từ ý kiến chuyên gia, từ những cuộc hội nghị khách hàng…
Qua nhiều nguồn thông tin khác nhau, xuất phát nhiều ý tưởng cho sản phẩm mới, song người có trách nhiệm phải biết phân tích, chọn lọc dựa trên cơ sở phân tích các yếu
tố môi trường, chiến lược S-T-P của công ty, chiến lược marketing mix…
2.1.2 Soạn thảo và thẩm định dự án:
Sau khi ý tưởng mới đã được hình thành từ người có trách nhiệm cần phải tiến hành thẩm định ý tưởng đó Mục tiêu của việc kiểm tra và đánh giá ý tưởng sản phẩm mới là nhằm khẳng định một khả năng tiêu thụ chắc chắn của chúng Những mục tiêu này
có liên quan đến một loạt các khía cạnh cần được xem xét, đánh giá như sau: tài chính của công ty, chiến lược S-T-P, đối thủ cạnh tranh, khả năng marketing của công ty…
2.1.3 Thiết kế kỹ thuật, phát triển và hoàn thiện sản phẩm mới
Sau khi đã xác định khả năng thực tế của sản phẩm, nhà sản xuất sẽ ra quyết định triển khai sản phẩm mới, kể từ đây công việc chủ yếu được tiến hành bởi các bộ phận kỹ thuật và sản xuất của xí nghiệp Tuy nhiên, hoạt động Marketing phải quan tâm toàn diện đến các quyết định có liên quan như:
Các thông số kỹ thuật của sản phẩm
Hình dáng, màu sắc, mỹ thuật công nghệ, trang trí tổng thể sản phẩm
Bao bì sản phẩm (Tính hấp dẫn, tính thẩm mỹ, khả năng bảo quản,…)
Những yếu tố phi vật chất gắn liền với sản phẩm như: tên, nhãn hiệu, biểu tượng
của sản phẩm…
2.1.4 Thiết kế chiến lược Marketing
Thiết kế chiến lược Marketing cho việc giới thiệu sản phẩm trên thị trường là một quá trình bao gồm 3 phần:
- Mô tả thị trường mục tiêu, mô tả quy mô, cấu trúc và cách ứng xử của thị trường mục tiêu
- Lập kế hoạt định vị sản phẩm trên thị trường, thị phần chiếm lĩnh, hoạch định giá bán, kênh phân phối và chi phí phục vụ cho việc bán hàng…
Trang 9- Phân tích kinh doanh, so sánh doanh số, chi phí lợi nhuận và mục tiêu của doanh nghiệp
2.1.5 Thử nghiệm sản phẩm
Sau khi hoàn tất việc thiết kế sản phẩm, thiết kế bao bì, dự kiến tên gọi, nhãn hiệu, biểu tượng cho sản phẩm nhà sản xuất phải tiến hành thử nghiệm sản phẩm, việc thử nghiệm có thể được thực hiện trực tiếp trên thị trường Thời gian thử nghiệm dài hay ngắn phụ thuộc vào khả năng tài chính của công ty, loại sản phẩm và đặc điểm cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Qua đó đánh giá được những thông số kỹ thuật và đặc tính
sử dụng sản phẩm, khả năng sản phẩm phù hợp với thị trường, ý kiến phản hồi từ phía khách hàng, thử nghiệm chiến lược marketing mix, kiểm tra các chỉ tiêu kinh tế của sản phẩm, Mục tiêu của giai đoạn này là để đi đến việc định hình sản xuất, lường trước rủi ro cũng như hoàn thiện chiến lược marketing mix Trong giai đoạn này chi phí thường rất
cao, sản phẩm được sản xuất với số lượng ít
2.1.6 Chế tạo ra hàng loạt và tung sản phẩm mới ra thị trường
Để có thể tung sản phẩm ra thị trường một cách có hiệu quả, nhà sản xuất phải quyết định thời điểm tung ra sản phẩm, điều này phụ thuộc rất lớn vào đặc tính tiêu thụ sản phẩm Tiếp đó là chọn địa điểm tung sản phẩm, thị trường mục tiêu và quyết định chọn kênh phân phối Ngoài ra, nhà sản xuất cũng phải đề ra một chiến lược Marketing cho sản phẩm mới khi tung ra thị trường
Tính tin cậy: Bao gồm sự thực hiện thích hợp và có độ tin cậy Thực hiện dịch vụ đúng ngay lần đầu, doanh nghiệp tôn trọng những thông điệp truyền thông của mình, đồng thời bảo đảm:
Trang 10 Quy chế, thủ tục dịch vụ (thuận lợi dễ dàng không?)
Giao dịch dịch vụ nhanh chóng
Khách hàng tới trong mọi tình huống
Dịch vụ nhanh thỏa mãn tức thời
Tính hữu hình: Bao gồm những dấu hiệu vật chất của dịch vụ:
Phương tiện vật chất
Gương mặt nhân viên
Công cụ và thiết bị để tạo ra dịch vụ
Đầu mối vật chất của dịch vụ
Hiểu nhu cầu khách hàng:
Học tập, đào tạo những kĩ năng riêng biệt theo yêu cầu của khách hàng
Chú ý tới nhu cầu cá nhân
Thừa nhận khách hàng quen
Tùy theo điều kiện cụ thể của doanh nghiệp, điều kiện cụ thể của thị trường, đặc điểm của dịch vụ mà doanh nghiệp căn cứ vào đó để lựa chọn sử dụng riêng biệt từng mô hình phát triển
Mô hình đa khu vực: Chiến lược này mô phỏng 1 dịch vụ cơ bản cung ứng cho 1
đoạn thị trường và sau đó áp dụng cho các khu vực khác nhau Một mô hình đơn giản và hoàn hảo được xây dựng ở 1 hoặc 2 địa điểm, sau đó mô hình được áp dụng cho nhiều nơi khác nhau Điều đó làm tăng tính phức tạp do mức tăng trưởng cao bắt nguồn từ việc lựa chọn các đặc điểm và sự quản lý cơ sở hạ tầng Trên giác
Trang 11(vốn) và quyết định chiến thuật Việc xây dựng mô hình thành công tùy thuộc rất nhiều vào việc nghiên cứu marketing
Mô hình đa dịch vụ: Trong chiến lƣợc này, việc tổ chức dịch vụ dựa vào uy tín
của công ty và sự thiện cảm của khách hàng để bán thêm cá dịch vụ khác Những dịch vụ bổ sung đã có thay đổi trong dịch vụ bao quanh hoặc có sự khác nhau về đẳng cấp dịch vụ cơ bản, song chúng có quna hệ với nhau trong sản xuất cung ứng hay trong tiêu dùng Có thể coi đó nhƣ là 1 hệ thống marketing dọc Một công ty
áp dụng chiến lƣợc đa dịch vụ chỉ phục vụ khách hàng ở 1 địa điểm và 1 ngành Thách thức lớn nhất của ứng dụng marketing trong mô hình này là việc phát triển
cá dịch vụ mới Cần phải phân biệt dịch vụ cơ bản và dịch vụ phụ thêm (bao quanh) Dịch vụ cơ bản do hoạt động chính trong dịch vụ tạo nên Dịch vụ thứ sinh (phụ) do các hoạt động phụ trợ tạo nên Các dịch vụ này đƣợc cộng thêm vào dịch vụ chính nhằm tăng lợi ích cho khách hàng và tăng lợi nhuận cho hệ thống dịch vụ đó Mức độ phức tạp sẽ tăng gấp nhiều lần nếu cá dịch vụ phụ trở thành dịch vụ chính thứ 2, thứ 3 …cùng với những dịch vụ bao quanh của nó
Mô hình đa ngành: Mô hình này xuất phát từ quan điểm về khả năng dƣ thừa chi
phí cố định Tiền thuê mặt bằng, tiền mua sắm máy móc thiết bị, … nói chung là
cố định và tồn tại suốt trong thời kì dài hạn Vì vậy cần khai thác khả năng dƣ thừa
để thực hiện những dịch vụ khác Có nhƣ vậy công ty mới không những khai thác
sử dụng hết chi phí cố định mà còn đƣa những chi phí này tham gia vào việc tạo ra lợi nhuận Các dịch vụ đƣợc triển khai có dịch vụ cơ bản, dịch vụ bao quanh, không cùng hệ thống marketing
Trang 12CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VÀ NHU
CẦU KHÁCH HÀNG
Dịch vụ đi chợ thuê là dịch vụ giao tận nhà các thực phẩm tươi sống đã được làm
sạch Khách hàng chỉ cần gọi điện đặt món ăn mình sẽ nấu trước 1 buổi, dịch vụ này sẽ cung cấp đầy đủ nguyên liệu cho món ăn mà khách hàng muốn Các nguyên liệu, thực phẩm này đã được sơ chế, đóng gói, khách hàng có thể nấu ngay mà ko cần rửa hay sơ chế lại Gia vị món ăn sẽ được đóng kèm trong gói thực phẩm và khách hàng tự do nêm
nếm theo khẩu vị của mình
3.2.1 Quy mô thị trường
Dịch vụ đi chợ thuê thực ra đã xuất hiện ở TP.HCM từ năm 2002 do doanh nghiệp
tư nhân thực hiện, nhưng sau đó hoạt động gặp nhiều khó khăn nên phải đóng cửa Những năm sau này, đã có nhiều công ty mở lại dịch vụ với những cách làm mới, dần dần chuyên nghiệp hơn và có được lượng khách ổn định Dịch vụ đi chợ thuê phát triển ở
Hà Nội và TP.HCM Tại TP.HCM hiện nay có khoảng 5-6 công ty kinh doanh dịch vụ đi chợ thuê Khách hàng mục tiêu nhắm đến là những người có thu nhập khá và có công việc bận rộn
3.2.2 Đặc điểm ngành dịch vụ đi chợ thuê
Dù tình hình kinh tế khó khăn nhưng hoạt động công ty không ảnh hưởng gì nhiều, vì phần đông khách của công ty sống ở các quận trung tâm, thu nhập khá và ổn định
Để giữ được khách hàng và phát triển nguồn khách mới, công ty xác định điểm mạnh của mình sẽ là chất lượng hàng hoá Vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề mà hầu hết người tiêu dùng quan tâm, nhất là khi hàng hoá giao đến tay mình đều đã được sơ chế qua (gọt vỏ, tẩm ướp chẳng hạn) thì việc nhận biết hàng kém chất lượng rất khó Đây cũng là mối quan tâm chung của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đi chợ thuê Có công
Trang 13ty công bố rõ ràng luôn hàng hoá mình lấy từ đâu và xử lý rau quả bằng cách nào (lấy từ Metro, Vissan, xử lý bằng ozone, bảo quản lạnh trong toàn quy trình chẳng hạn) để tạo sự yên tâm cho khách
Thực tế, đây là kinh doanh dịch vụ, nhận được đơn hàng thì công ty mới đi chợ Nguy cơ hàng tồn đọng ít xảy ra nếu khéo biết thu xếp
3.2.3 Tình hình tiêu thụ
Hiện nay nhiều người đã biết đến dịch vụ đi chợ thuê nhưng họ vẫn còn ngần ngại
vì sợ chi phí cao Không dừng lại ở đi chợ thuê là mua gì giao đó, nhiều công ty tìm cách giảm những công đoạn gây mất thời gian cho khách Tuỳ theo quỹ thời gian, khách có thể chọn mua nguyên vật liệu hoặc nguyên liệu thực phẩm đã sơ chế hoặc gấp quá, chọn luôn thực phẩm đã nấu chín, như dịch vụ của ilovefood.com.vn Dĩ nhiên, đỡ cực đoạn nào thì phải thêm tiền đoạn đó
3.2.4 Tình hình cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh không trực tiếp như: các dịch vụ mua và giao hàng tận nhà của siêu thị Coopmart, BigC; các dịch vụ dọn dẹp nhà cửa đã bao gồm việc đi chợ và nấu nướng Hơn nữa, với số vốn bỏ ra không nhiều, các bà nội trợ hay hộ gia đình cũng có thể trở thành đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn của công ty Họ đi chợ thuê trong khu phố và dễ dàng nhận được sự tin tưởng của người xung quanh Tuy nhiên, đối với hình thức đi chợ qua siêu thị, đa phần là mặt hàng thực phẩm đông lạnh và phải có điều kiện hóa đơn trên 200,000 VNĐ mới giao hàng; đối với dịch vụ dọn dẹp nhà cửa kết hợp đi chợ nấu ăn thì cần có người ở nhà để trông chừng Vì vậy, Alô Chợ có thể mạnh dạn phát triển dịch vụ
mà ít bị áp lực từ những đối thủ này
Nhìn nhận chung về thị trường kinh doanh dịch vụ đi chợ thuê, ta thấy thị trường còn tương đối hấp dẫn, vẫn còn nhiều khoảng trống để nhảy vào khi mà không nhiều doanh nghiệp kinh doanh và chưa doanh nghiệp nào thật sự ấn tượng và tạo uy tín lớn đến với khách hàng ngành Đối thủ cạnh tranh hiện không nhiều và chưa có người dẫn đầu thị trường tại TP.HCM Hiện nay có hai doanh nghiệp đang kinh doanh lĩnh vực này nhưng chưa thật phát triển:Dịch vụ ilovefood.vn mở ra dịch vụ cung cấp thực đơn với sự
đa dạng các món ăn đã qua chế biến tiết kiệm thời gian cho khách hàng trong việc nấu
Trang 14nướng; dịch vụ giupviectrongoi.com ngoài hỗ trợ đi chợ thuê còn cung cấp các dịch vụ khác như dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc người già, trẻ em
Giupviectrongoi.com
(Giúp việc trọn gói -
công ty Sen vàng)
Đã phát triển từ khá lâu, có nhiều kinh nghiệm
Phát triển nhiều dịch vụ cùng lúc (dọn dẹp nhà cửa; dạy nấu ăn; chăm sóc người già, trẻ em và gia sư)
3.2.5 Xu hướng tăng trưởng
Để thu hút và giữ khách, các công ty đều nỗ lực cung cấp thực phẩm càng phong phú càng tốt Thậm chí, vài công ty còn lên cả thực đơn cho người ăn kiêng, thực đơn chay
Sau một thời gian lấy dịch vụ đi chợ thuê làm ngành kinh doanh chính thì có doanh nghiệp cũng đã bắt đầu chú trọng đối tượng khách hàng là các trường mầm non, cung cấp suất ăn sẵn cho doanh nghiệp…
Thậm chí, bên cạnh cung cấp nguyên liệu sơ chế theo thực đơn gia đình phong phú, vài công ty cũng phát triển mạnh dịch vụ giúp việc nhà trọn gói, chăm sóc người già hay gia sư tại gia
3.3.1 Đối tượng mục tiêu của cuộc khảo sát
Nữ giới, trên 26 tuổi, có đi làm và thu nhập trên 4 triệu VNĐ
3.3.2 Chân dung khách hàng
Trang 15 Đa phần là người ở độ tuổi từ 26 đến 35 tuổi (chiếm 84,5%); chủ yếu làm nhân viên văn phòng, kinh doanh, làm việc tại nhà (chiếm 70,9%) và có thu nhập rải đều từ 4 triệu đến trên 10 triệu VNĐ; ngoài ra có đến 68% là đã có gia đình và 76,4% là người nấu ăn chính trong gia đình
Đa phần gia đình đối tượng khảo sát có từ 2 đến 5 người (chiếm 88,2%) Như vậy Alô Chợ cần tiến hành đưa khẩu phần ăn theo 2 chế độ: 2,3 người và 4,5 người ăn
3.3.3 Nhu cầu của người tiêu dùng
Theo khảo sát, có khoảng 65,4% phụ nữ phải làm việc từ 8 tiếng trở lên Trong số
đó, có đến 95,8% nhận thấy do làm việc nhiều (từ 8 đến trên 10 tiếng/ ngày) nên
họ không có thời gian chuẩn bị bữa cơm cho gia đình, mặc dù họ nhận biết rằng
“việc chuẩn bị một bữa cơm chu đáo cho gia đình là cần thiết”
Đối với thang đo Likert gồm 5 mức độ từ hoàn toàn không đồng ý - 1 đến hoàn toàn đồng ý - 5: Trong số những người cho rằng làm việc nhiều ảnh hưởng đến việc chuẩn bị bữa cơm thì mức độ đồng ý của họ với các quan điểm “chuẩn bị bữa cơm cho gia đình là cần thiết”, “việc đi chợ tốn nhiều thời gian” và “thường tốn thời gian chọn món ăn” với mức điểm đồng ý là 4 trong thang đo Likert 5 bậc Tuy nhiên một lưu ý là khi xét tổng thể mẫu, thì quan điểm “Việc chuẩn bị một bữa cơm chu đáo cho gia đình” có mức độ quan tâm cao nhất 4,38; kế đến là
“thường tốn thời gian trong việc chọn món ăn” (3,88)
Chi phí cho một bữa cơm của các gia đình là chủ yếu nằm từ dưới 100,000 VNĐ đến dưới 200,000 VNĐ Vậy nên việc định giá thực đơn cho 2-3 người và 4-5 người cũng phải phù hợp với mức giá này
Có đến khoảng 98% khách hàng nấu ăn từ 2 buổi trở lên và các buổi đó là trưa và chiều, trong đó họ chủ yếu nấu ăn cho gia đình vào buổi chiều (90%) Như vậy, dịch vụ tập trung phát triển dịch vụ cho 2 bữa ăn trưa và chiều
3.3.4 Khả năng phát triển dịch vụ
Trang 16 Trong số các dịch vụ đề xuất như “nấu ăn sẵn giao tới nhà”, “đi chợ thuê giao đến nhà”, “đến nhà để nấu ăn và dọn dẹp”, thì dịch vụ “Đi chợ thuê giao đến tận nhà” được nhiều người ưu tiên chọn nhất chiếm 80% Từ đây có ta có thể tin rằng dịch
vụ này có khả năng phát triển Ngoài ra, dịch vụ “nấu ăn sẵn giao tới nhà” cũng đứng thứ 2 trong các lựa chọn với 23,6%
Dù dịch vụ này đã được nhắc đến nhiều lần trong cuộc sống, trên mặt báo; nhưng khá nhiều người chưa từng sử dụng qua (có đến 94,5% chưa sử dụng) Như vậy, nhìn chung thị trường này vẫn còn khá mới mẻ và hấp dẫn khi mà nhu cầu đã phát sinh, nhưng không nhiều dịch vụ cung ứng được biết đến
Vậy lý do là do đâu? Theo chính những người được phỏng vấn, đa phần cho rằng
do “Dịch vụ chưa phát triển, không thấy nhiều thông tin”; “Họ chưa có thói quen
sử dụng”, “Thực phẩm không biết xuất xứ” Như vậy cần triển khai các chiến lược chiêu thị để gia tăng mức độ nhận biết và uy tín với khách hàng bằng việc cam kết
rõ ràng
3.3.5 Quan điểm về chất lượng dịch vụ đi chợ thuê
Ta có nhận định chung như sau: Đối với việc đánh giá chất lượng dịch vụ đi chợ tại nhà, tính chất mà khách hàng quan tâm nhiều nhất là “tính an toàn” Tính chất ít quan tâm nhất chính là “tính hữu hình” của dịch vụ Xét từng tính chất ta có nhận xét như sau:
Tính tin cậy: Khách hàng có xu hướng quan tâm đến yếu tố “Giao đúng thời gian, địa điểm – 4,63” hơn “Địa chỉ cơ sở rõ ràng, minh bạch – 4,51”
Tính sẵn sàng: Khách hàng quan tâm nhiều hơn đối với yếu tố „Giao hàng tiện lợi, nhanh chóng – 4,63” so với yếu tố “Quy trình đặt hàng và giao hàng đơn giản – 4,32”
Tính hữu hình: Tác phong và thái độ nhân viên là yếu tố được khách hàng quan tâm nhiều, “Nhân viên thân thiện, nhiệt tình – 4,31” Trong khi đó, 2 yếu tố “Có đường dây nóng miễn phí – 4,06” và “Có website hoặc facebook” lại không được quan tâm nhiều chỉ 3,95
Trang 17 Tính an toàn: Yếu tố “Thức ăn sạch sẽ, hợp vệ sinh – 4,73” đƣợc nhiều khách
hàng quan tâm nhất trong số các đặc tính của chất lƣợng dịch vụ
Trang 18CHƯƠNG 4: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ ĐI CHỢ THUÊ
Mỗi người phụ nữ sinh ra đều có thiên chức làm vợ, làm mẹ, nhưng để hoàn thành được thiên chức đó không phải là điều dễ dàng Chỉ riêng với việc nội trợ đã có rất nhiều vấn đề Họ rất bận rộn nhưng vẫn muốn chăm lo cho gia đình mình, Sếp hối thúc deadline thì cũng không to bằng việc chăm lo cho bữa cơm của chồng con ở nhà Những người không đảm đang thì công việc nội trợ trở thành một gánh nặng Với nhiều người thích công việc nấu nướng, nhưng đi đến chợ lại tần ngần không biết mua gì, nhưng khi
về đến nhà lại thấy còn thiếu nhiều nguyên liệu, gia vị này, gia vị kia và lại phải vòng vài vòng chợ Rất khó khăn cho việc thức dậy vào sáng sớm để đi chợ, và cũng không ai muốn mua đồ đã không còn tươi ngon vào lúc xế chiều Việc nội trợ cùng với công việc ngoài xã hội không phải là điều dễ dàng để thực hiện nhưng những người vợ, người mẹ vẫn luôn muốn tự tay nấu các bữa cơm phục vụ, chăm lo cho gia đình mình Từ đó, nhóm lựa chọn dịch vụ “đi chợ thuê” để hỗ trợ cho việc nội trợ của người phụ nữ dễ dàng hơn
4.2.1 Loại hình kinh doanh
Loại hình kinh doanh: Dịch vụ đi chợ thuê
Địa điểm cơ sở: quận Phú Nhuận, phân phối trong nội thành TP.HCM
Đặc điểm sản phẩm dịch vụ
- Mua thực phẩm tươi sống
- Sơ chế thực phẩm và đóng gói
- Giao tận nơi cho khách hàng
4.2.2 Yếu tố đầu vào
- Nguồn thực phẩm: lấy từ các chợ đầu mối, các nguồn tận gốc
- Nguồn nhân lực: thuê mướn, đào tạo nhân viên linh hoạt trong công việc, hiểu và đảm bảo quá trình chọn lựa sơ chế thực phẩm là an toàn nhất
- Các dụng cụ khác: bao bì, vỉ đựng, bàn sơ chế, tủ mát,
Trang 194.2.3 Khả năng sản xuất
Đây là loại hình dịch vụ không cần quá nhiều cơ sở vật chất hay máy móc thiết bị mới có thể thực hiện đƣợc Khả năng sản xuất phụ thuộc vào nguồn nhân lực đƣợc đào tạo tốt cũng nhƣ sự ổn định về nguồn hàng Tuy nhiên, nguồn hàng ổn định không quá khó để có thể tạo lập đƣợc Chính vì vậy, khi đào tạo đƣợc đội ngũ nhân viên tốt sẽ đạt đƣợc những kết quả tốt
4.2.4 Mục tiêu doanh số trong 3 năm đầu
- Doanh thu trung bình: 40 triệu/tháng (mỗi ngày có khoảng 10 đơn hàng, mỗi đơn hàng dao động từ 80.000 – 200.000)
- Mỗi năm, doanh số tăng từ 10% - 15%
4.2.5 Bảng dòng tiền dự án trong 3 năm tới (Đơn vị: triệu đồng)
Trang 20Thẩm định dự án: Dự án kinh doanh dịch vụ đi chợ thuê có thể đầu tư được Thời gian
thu hồi vốn trong khoảng 1 năm 3 tháng
4.3.1 Phân khúc thị trường – Chọn thị trường mục tiêu
4.3.1.1 Phân khúc thị trường:
- Giới tính: Nam - Nữ
- Độ tuổi: Dưới 26 tuổi, 26-50 tuổi, trên 50 tuổi
- Thu nhập: Dưới 4 triệu, Trên 4 triệu
- Tình trạng công việc: Có đi làm, Không đi làm
Dung lượng thị trường:
Dân số toàn Tp.HCM hiện nay vào khoảng 8 triệu người Trong đó, nữ chiếm 51%, có thu nhập trên 4 triệu vào khoảng 85% (theo nhóm tự khảo sát), và trong độ tuổi
từ 26-50 là 37.8% (Nguồn: Điều tra biến động dân số - kế hoạch hóa gia đình 1/4/2011, Tổng cục Thống kê)
Vậy, ước tính dung lượng thị trường là khoảng 1.310.904 người Đây là một thị trường khá vừa sức đối với loại hình dịch vụ của chúng tôi
4.3.2 Định vị dịch vụ
Alô Chợ là một dịch vụ mới nên khi phân tích tình hình để đưa ra chiến lược định
vị thì doanh nghiệp chủ yếu dựa trên phân tích khách hàng Theo nghiên cứu cho thấy,
Trang 21người nữ giới luôn biết rằng việc chuẩn bị chu đáo bữa cơm cho gia đình là hết sức cần thiết, nhưng lại tốn quá nhiều thời gian của họ Vì vậy doanh nghiệp lựa chọn chiến lược định vị cho nhãn hiệu Alô Chợ dựa vào lợi ích mà dịch vụ có thể đem đến cho khách hàng Đó chính là “sự tiện lợi khi đi chợ” Đây cũng là một lợi ích khác biệt so với thị trường, khẳng định rõ ràng bản chất khác biệt của loại hình dịch vụ mới này
Dịch vụ Alô Chợ do muốn hỗ trợ thiên chức của người phụ nữ trong việc thực hiện bữa cơm cho gia đình, cụ thể là công đoạn đi chợ tốn kém nhiều thời gian nên chọn định vị “ĐI CHỢ CHƯA BAO GIỜ TIỆN LỢI HƠN THẾ”
4.3.3 Định hướng mô hình phát triển dịch vụ
Mô hình phát triển: Mô hình đa dịch vụ
Diễn giải: Từ dịch vụ cơ bản là đi chợ thuê với đối tượng khách hàng là nhóm khách lẻ (gia đình) và khách sỉ (nhà hàng, khách sạn), dựa vào uy tín của doanh nghiệp
và sự thiện cảm của khách hàng đối với dịch vụ cơ bản, cùng với nguồn cung, nguồn nguyên liệu sẵn có để phát triển dịch vụ mới là giao cơm trưa văn phòng và xa hơn là phát triển thành nhà hàng, phục vụ khách hàng tại thị trường TP.HCM
4.3.3.1 Dịch vụ cơ bản: Đi chợ thuê
Dịch vụ cơ bản của Alô Chợ là dịch vụ đi chợ thuê tại thị trường TP.HCM “Alo chợ” bắt đầu dịch vụ đi chợ thuê cho bữa cơm gia đình tại thị trường thành phố Hồ Chí
Dịch vụ cơ bản:
Đi chợ thuê
• Khách lẻ
• Khách sỉ
Giao cơm trưa văn phòng
Nhà hàng
Trang 22Minh Tập trung phát triển, nâng cao chất lượng phục vụ để lấy niềm tin của khách hàng Chi nhánh đầu tiên với đầy đủ trang thiết bị và công nghệ cần thiết được đặt ở quận Phú Nhuận, là nơi dễ dàng thuận tiện giao hàng cho các quận trong thành phố Đây là cơ sở, văn phòng và nơi sơ chế thực phẩm, giao hàng
Chuyên môn hóa trong từng khâu hoạt động, đội ngũ nhân viên đảm nhiệm công việc từng khâu trong thời gian dài từ khâu nhận đơn đặt hàng, đi chợ, sơ chế và giao hàng Với sự chuyên môn hóa, đội ngũ nhân viên sẽ thuần thục với vai trò của mình trong
hệ thống dịch vụ Đó là cơ sở để năng suất tăng cao, hạ thấp chi phí Chuyên môn hóa , tiêu chuẩn hóa sẽ giúp kiểm soát, đảm bảo chất lượng dịch vụ, tạo lòng tin cho khách hàng, đảm bảo uy tín tin cậy
Khách hàng của dịch vụ đi chợ thuê bao gồm cả khách sỉ và lẻ Thời gian đầu,
“Alo chợ” hướng tới khách hàng nhỏ lẻ mua thực phẩm phục vụ cho các bữa cơm gia đình tại nhà, kiếm các đầu ra ổn định, gây dựng thương hiệu, tạo dựng lòng tin cho khách hàng Sau 3 năm hoạt động, doanh nghiệp mở rộng thị trường với đối tượng khách hàng
sỉ là các quán ăn, nhà hàng, đặt thực phẩm tươi sống chuẩn bị cho các bữac tiệc lớn Khách hàng sỉ giúp cho doanh nghiệp thương lượng để có nguồn cung tốt với giá tốt hơn,
hỗ trợ tăng lợi nhuận khi bán cho khách hàng lẻ Để phục vụ cho việc mở rộng thị phần,
“Alo chợ” sẽ mở thêm chi nhánh ở Q3, Q4 với cơ sở sơ chế thực phẩm, tiện lợi, đảm bảo việc giao hàng đúng giờ cho những đơn hàng ở các quận xa và các nhà hàng
4.3.3.2 Dịch vụ giao cơm trưa văn phòng
Sau nhiều năm hoạt động dịch vụ đi chợ thuê, với mức lợi nhuận ổn định, tăng dần cho doanh nghiệp Khi giao thực phẩm tươi sống cho khách hàng lẻ, đối với khách hàng
là nhân viên văn phòng, thường thì các đơn hàng đi chợ là cho buổi ăn chiều “Alo chợ” nhận thấy nhu cầu của nhóm khách hàng này là buổi ăn trưa nhanh tại nơi làm việc Với
sự tin tưởng về chất lượng dịch vụ, nguồn gốc thực phẩm của khách hàng với thương hiệu “Alo chợ”, doanh nghiệp sẽ phát triển thêm dịch vụ mới cho khách hàng cũ sẵn có này là dịch vụ giao cơm trưa văn phòng
Trang 23Với cơ sở nguồn cung đã ổn định,cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên giao hàng sẵn
có, cung cấp dịch vụ tại thị trường cũ đã có lòng tin với doanh nghiệp “Alo Chợ” dễ dàng phát triển dịch vụ mới phù hợp nhu cầu người tiêu dùng để tăng thêm lợi nhuận mà không tốn thêm nhiều chi phí cho việc phát triển dịch vụ mới
4.3.3.3 Dịch vụ nhà hàng
Sau nhiều năm phát triển thêm dịch vụ mới, mở rộng phát triển cả dịch vụ giao thực phẩm tươi sạch với mạng lưới rộng rãi và dịch vụ giao cơm trưa văn phòng trên thị trường thành phố Hồ Chí Minh Với nguồn nguyên liệu sẵn và thương hiệu của mình, định hướng trong tương lai, “Alo chợ” sẽ phát triển thành nhà hàng Với nguồn cung ổn định, khách hàng trung thành đã có sẵn Doanh nghiệp sẽ phát triển nhà hàng với thương hiệu “Alo chợ”
Đây là những định hướng lâu dài cho doanh nghiệp với mức độ rủi ro thấp nhờ vào những nguồn cung, nhân lực, cơ sở vật chất, chi phí tăng thêm cho dịch vụ mới không nhiều
4.3.4 Mục tiêu
Như đã trình bày ở phần trên, hướng phát triển dịch vụ của Alo Chợ bao gồm 3 bước lớn: Dịch vụ đi chợ thuê, Giao cơm trưa văn phòng và cuối cùng là Nhà hàng Tuy nhiên, trong phần xác định mục tiêu, Alo Chợ chỉ đề cập đến mục tiêu ngắn hạn, tức là mục tiêu của bước 1
Vì là dịch vụ mới mẻ, không có quá nhiều đối thủ cạnh tranh, sức cạnh tranh cũng không gay gắt, Alo Chợ không xác định những mục tiêu cụ thể về thị phần Thay vào đó, Alo Chợ tập trung vào mục tiêu doanh thu và lợi nhuận
Giai đoạn 1: (trong 3 năm đầu tiên)
Doanh thu trung bình: 30 triệu/tháng (mỗi ngày có khoảng 10 đơn hàng, mỗi đơn hàng dao động từ 80.000 – 200.000)
Mỗi năm, doanh số tăng từ 10% - 15%
Trang 24Lợi nhuận đạt khoảng từ 80 – 90 triệu/năm
Giai đoạn 2: 2 năm tiếp theo
- Song song với việc tiếp tục thực hiện giao sản phẩm cho khách hàng lẻ, phát triển thêm mạng lưới khách hàng sỉ Nâng doanh thu lên khoảng 55 triệu/tháng (tức tăng khoảng 35% doanh thu)
- Lợi nhuận đạt từ 100 – 120 triệu
4.3.5 Chiến lược Marketing mix
Dịch vụ bao quanh: dịch vụ đặt trọn gói nguyên liệu thành phần theo món ăn, đặt thực đơn cho tiết kiệm thời gian cho cả tuần, tiếp nhận và xử lí riêng đối với yêu cầu trong đơn hàng của từng cá nhân khác nhau
Không đẩy mạnh lợi thế cạnh tranh bằng các loại hình dịch vụ bao quanh dịch vụ chính, AC tập trung mọi nỗ lực đầu tư vào dịch vụ cốt lõi, đặc biệt với mô hình đặt hàng thuận tiện 24/7 sẽ là lợi điểm cạnh tranh chính yếu của AC trên thị trường
Cụ thể trên thị trường hiện nay, khung thời gian nhận đặt hàng và điều kiện chấp nhận xử lí trường hợp hủy/từ chối/thay đổi đơn hàng bị ràng buộc trong khoản thời gian nhất định – mà khoản thời gian này lại cách xa so với thời điểm giao hàng, khi người tiêu dùng có ý định thay đổi hành vi, họ sẽ không thể kiểm soát việc sửa đổi đơn hàng – việc này khiến họ có cảm giác bị kìm hãm và không thể thoải mái trong việc sử dụng dịch vụ Với mô hình đặt hàng 24/7 tại AC sẽ giúp người tiêu dùng giải quyết được vấn đề đó, trao cho họ đặc quyền kiểm soát, khai thác dịch vụ một cách tối ưu nhất
Trang 25Mặt khác, đây cũng là thách thức đối với AC trong việc kiểm soát và chấp nhận rủi ro đối với trường hợp hủy/từ chối/thay đổi đơn hàng Để thiết lập một vị thế vững chắc như một người bạn đồng hành tuyệt đối với căn bếp của những người phụ nữ, buộc
sự mạo hiểm ngay từ bước khởi đầu, cùng với tất cả sự nỗ lực trong việc phối hợp giữa các bộ phận, liên kết với các cơ sở cung ứng nguyên liệu để có thể hỗ trợ AC trong việc điều phối nguồn nguyên vật liệu một cách tốt nhất
b Quyết định liên quan đến nhãn hiệu sản phẩm dịch vụ
Tên nhãn hiệu: ALÔ CHỢ
Quyết định về việc đặt tên nhãn hiệu:
- “Alô” là một từ vay mượn từ tiếng nước ngoài, đóng vai trò mở đầu cuộc trò chuyện thông qua thiết bị điện thoại di động, gắn bó mật thiết với cuộc sống của con người
- “Chợ” là từ ngữ được nghĩ đến đầu tiên khi nhắc đến việc mua các nguyên liệu thực phẩm, là nơi không thể thiếu trong cuộc sống của người nội trợ ở bất kì nơi đâu
- Việc sử dụng biện pháp kết hợp 2 từ ngữ này trong việc quyết định tên nhãn hiệu
“Alô Chợ ” mang một sắc thái gần gũi, thân thuộc cùng với ý nghĩa biểu tượng thật sinh động và rõ ràng, giúp doanh nghiệp truyền tải được thông điệp/sản phẩm dịch vụ chủ lực đến với khách hàng
Nhìn chung, quyết định về đặt tên nhãn hiệu cho sản phẩm đều dựa trên cơ sở dễ nghe, dễ hiểu và dễ hình dung về sản phẩm, giúp cho khách hàng nhận biết dễ dàng danh mục sản phẩm của AC để có thể đưa ra được quyết định mua dễ dàng
- Rau: rau muống, rau thơm, rau dền, ngò gai, hành lá, rau
ôm, rau cần, rau lang, cải xanh, cải ngọt, cải chíp, cải cúc,
Trang 26đã sơ chế cải bắp tím, cải bắp trắng, rau dớn, giá đỗ sạch,…
- Củ: củ cải trắng, cà rốt, khoai tây, khoai lang,…
- Quả: đu đủ, dưa hấu, thơm, xoài, mận,…
Thịt – cá – hải sản tươi sống
- Thịt heo
- Thịt bò
- Thịt gia cầm: gà, vịt (đùi, cánh, ức, chân,…)
- Cá: cá lóc, cá điêu hồng, cá nục, cá thu, cá rô, cá hú, cá hồi,…
- Hải sản: cá biển, bạch tuột, mực, tôm, nghêu, sò, ốc, hến, hàu, cua, tôm hùm
Nguyên liệu
thực phẩm
sơ chế theo
món ăn
Món canh - Canh khoai mỡ nấu tép tươi
(Khoai mỡ, tép tươi, ngò gai, rau ôm)
- Canh rau tần ô nấu thịt bằm (Rau tần ô, thịt bằm)
- Canh bông cải tép tươi (Bông cải, cà rốt, tép tươi lột vỏ, hành lá, ngò rí)
- Canh bí đỏ nấu thịt nạc (Bí đỏ, thịt bằm, ngò gai, rau ôm)
- Canh bí đỏ nấu tôm khô (Bí đỏ, tôm khô, ngò gai, rau ôm)
- Canh cà chua trứng (Cà chua, trứng, hành lá, ngò rí)
- Canh chua cá lóc (Cá lóc, bạc hà, đậu bắp, cà chua, khóm, me)
- Canh mướp nấm rơm thịt nạc (Mướp, nấm rơm, thịt nạc bằm, miến, hành lá, ngò rí)
- Canh dưa chua thịt bò (Thịt bò, dưa chua, cà chua, ngò gai, rau ôm, ớt)
Trang 27- Canh dưa chua nấu sườn non (Sườn non, dưa chua, cà chua, ngò gai, rau ôm, ớt)
- Canh chua thơm nấu tép (Thơm, tép tươi, ngò goi, rau ôm)
- Canh soup nấu xương (Xương heo, khoai tay, cà rốt, hành lá ngò rí)
- Canh tàu hủ non hẹ nấu thịt nạc (Hẹ, tàu hủ non, thịt nạc bằm)
- Canh khổ qua nấu xương (Xương heo, khổ qua, hành lá, ngò rí)
- Canh bí xanh nhồi thịt (Bí xanh nhồi thịt, hành lá ngò rí)
- Canh cá đối nấu ngót (Cá đối, cà chua, hành lá)
- Canh soup bò viên (Cà rốt, su su, bò viên, hành lá, ngò rí)
… Món mặn - Cá rô kho riềng khế
(Cá rô, riềng, khế)
- Bò cuộn phô mai (Tính theo cuốn, 1 phần 10 cuốn)
- Cà chua dồn thịt (Cà chua dồn thịt, cà chua để sốt, tỏi, ngò rí)
- Cá trê kho tiêu (Cá trê, tỏi băm, nước màu)
- Ếch kho măng (Ếch, măng vàng luộc, tỏi băm, hành lá)
…