Theo định nghĩa của pháp luật hiện hành của Việt Nam tại Điều 3,Khoản 2 Luật thương mại 2005: “Hàng hóa bao gồm: a Tất cả các loại độngsản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, b N
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việc trao đổi mua bán hàng hóa là hoạt động chính trong hoạt động thương mại,
là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, không chỉ giới hạn ở phạm vi một quốc gia màcòn mở rộng ra cả các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới Khi hai bên tiến hànhmua bán hàng hóa với nhau thì nảy sinh những hình thức khác được hai bên thỏathuận, có thể bằng miệng, bằng văn bản, bằng email, fax… mà người ta gọi là hợpđồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa rất phong phú được điều chỉnhbởi nhiều nguồn luật và khá phổ biến trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ cá nhânhay tổ chức nào Trong hệ thống pháp luật nước ta đã có những quy định cụ thể về sựđiều chỉnh quan hệ hợp đồng ngay từ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, tiếp đến là Bộluật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997… và hiện tại tiêu biểu là hai văn bản phápluật mới được ban hành: Bộ luật dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 Tuy nhiêntrong phạm vi chương trình học của bộ môn Luật Kinh tế tại giảng đường, nhóm xinđược đi sâu tìm hiểu Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và các hợp đồngtrung gian thương mại của Luật Thương mại 2005
Vì vậy, có thể nói hợp đồng mua bán hàng hóa là một nội dung không thể thiếutrong hoạt động kinh doanh Việc nắm vững, hiểu rõ các quy định của pháp luật vềhợp đồng mua bán hàng hoá sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợpđồng được thuận lợi, an toàn và hiệu quả, tránh các tranh chấp, rủi ro đáng tiếc
Trang 2MỤC LỤC
1 HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Đặc điểm 4
1.2.1 Đối tượng của hợp đồng 4
1.2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng 5
1.2.2.1 Thương nhân – thương nhân 5
1.2.2.2 Thương nhân – không phải thương nhân 7
1.2.3 Hình thức và mục đích hợp đồng mua bán hàng hóa 7
1.2.3.1 Hình thức 7
1.2.3.2 Mục đích 8
1.2.4 Nội dung hợp đồng 8
1.3 Phân loại 9
1.3.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường 9
1.3.2 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 9
1.3.2.1 Khái niệm 9
1.3.2.2 Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 10
a) Điều ước quốc tế 10
b) Tập quán thương mại quốc tế 11
c) Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại 11
d) Luật quốc gia 11
1.3.3 Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch 14
1.3.3.1 Khái niệm 14
1.3.3.2 Đặc điểm 16
a) Đối tượng 16
b) Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng kỳ hạn 16
c) Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng quyền chọn 16
1.4 Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa 17
1.4.1 Nghĩa vụ bên bán 17
Trang 31.4.2 Nghĩa vụ bên mua 25
1.5 Chuyển rủi ro đối với mua bán hàng hóa 29
2 CÁC HỢP ĐỒNG TRUNG GIAN 31
2.1 Hợp đồng môi giới thương mại 31
2.1.1 Khái niệm 31
2.1.2 Đặc điểm 32
2.1.2.1 Chủ thể 32
2.1.2.2 Nội dung 33
2.1.2.3 Đối tượng 34
2.1.2.4 Hình thức 34
2.1.2.5 Mục đích 34
2.1.2.6 Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mô giới thương mại 35
2.2 Hợp đồng Đại lý thương mại 37
2.2.1 Khái niệm 37
2.2.2 Đặc điểm 37
2.2.2.1 Chủ thể 37
2.2.2.2 Nội dung hợp đồng 37
2.2.2.3 Đối tượng 37
2.2.2.4 Hình thức 38
2.2.2.5 Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng Đại lý thương mại 39
a) Nghĩa vụ và quyền của bên đại lý 39
b) Nghĩa vụ và quyền của bên giao đại lý 40
2.2.2.6 Chấm dứt hợp đồng 41
2.3 So sánh sự giống và khác nhau của hợp đồng Mô giới thương mại và hợp đồng Đại lý thương mại 43
2.3.1 Giống nhau 43
2.3.2 Khác nhau 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
MẪU HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 39
MẪU HỢP ĐỒNG MÔ GIỚI THƯƠNG MẠI 45
Trang 4Theo định nghĩa của pháp luật hiện hành của Việt Nam tại Điều 3,Khoản 2 Luật thương mại 2005: “Hàng hóa bao gồm: a) Tất cả các loại độngsản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, b) Những vật gắn liền với đấtđai”.
Cũng tại Điều 3 Luật này quy định ở Khoản 8: Mua bán hàng hóa là hoạtđộng thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữucho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán,nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận
Việc mua bán hàng hóa được thực hiên trên cơ sở hợp đồng Pháp luậtViệt Nam không đưa ra khái niệm cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng
có thể hiểu rằng Hợp đồng mua bán hàng hóa là thỏa thuận giữa các thươngnhân (hoặc một bên là thương nhân) về việc thực hiện hoạt động mua bán hànghóa nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Bên cạnh đó, còn có khái niệm chung
về hợp đồng mua bán tài sản tại Điều 428 Bộ Luật Dân sự 2005 như sau: “Hợpđồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa
vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản
và trả tiền cho bên bán”
1.2 Đặc điểm
1.2.1 Đối tượng của hợp đồng
Trong mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng là một hàng hóanhất định Đây là một điều khoản cơ bản của một Hợp đồng mua bán hànghóa mà khi thiếu nó Hợp đồng mua bán hàng hóa không thể hình thành
Trang 5được do người ta không thể hình dung được các bên tham gia hợp đồngnhằm mục đích gì, trao đổi cái gì
Đối tượng của Hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định thông quatên gọi của hàng hóa đó Trong Hợp đồng mua bán hàng hóa các bên có thểghi rõ tên hàng bằng tên thông thường, tên thương mại…để tránh có sự hiểusai lệch về đối tượng hợp đồng Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mạinăm 2005, định nghĩa hàng hóa bao gồm:
a) Tất cả các loại bất động sản, kể cả động sản hình thành trong tươnglai
b) Những vật gắn liền với đất đai
Nói chung hàng hóa trong thương mại là những tài sản có hai thuộc
tính cơ bản: có thể lưu thông và có tính chất thương mại.
1.2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng
1.2.2.1 Thương nhân – thương nhân
Để xác định một thỏa thuận có phải là một Hợp đồng mua bánhàng hóa hay không thì việc trước tiên phải xác định một bên trong giaokết hợp đồng có phải là thương nhân hay không, sau đó mới xét đến đốitượng của hợp đồng
Thương nhân có thể là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp
hoặc cá nhân nhưng phải hoạt động thương mại độc lập (nghĩa là nhằmmục đích sinh lời cho chính mình), thường xuyên (tức là hoạt độngthương mại với tư cách là nghề nghiệp chính, liên tục và lâu dài).Thương nhân dù là cá nhân hay tổ chức đều phải đăng ký kinh doanh.Đây vừa là đặc điểm pháp lý của thương nhân vừa là điều kiện cho sự rađời và tồn tại hợp pháp của thương nhân
Luật Thương mại có đề cập đến trường hợp tổ chức và cá nhân
“chưa đăng ký kinh doanh” vẫn được coi là thương nhân và vẫn phảichịu trách nhiệm về hoạt động thương mại của mình (thương nhân thựctế) Quy định này đã giải quyết được những vấn đề đặt ra trong thực tế làngười không đăng ký kinh doanh nhưng có hành vi kinh doanh thì có
Trang 6được là thương nhân không Những quy định này lại có phần không rõràng vì nó không giới hạn trách nhiệm của thương nhân trong phạm vihoạt động thương mại Vì vậy một tổ chức, cá nhân trước khi đăng kýkinh doanh tiến hành các hành vi không nhằm mục đích sinh lời vẫn cóthể phải chịu trách nhiệm như thương nhân.
Thương nhân sẽ không bao gồm hộ gia đình, tổ hợp tác vì tuy
được thừa nhận là chủ thể cuả luật dân sự, có quyền hoạt động kinhdoanh dưới hình thức hộ kinh doanh, song hộ gia đình, tổ hợp tác khôngphải tổ chức kinh tế, cũng chẳng phải là cá nhân Thương nhân gồm cóthương nhân Việt nam và thương nhân nước ngoài (điều 16 Luật thươngmại)
Chủ thể khác không phải là thương nhân khi ký hợp đồng với mộtthương nhân khác mà bản thân họ không nhằm mục đích sinh lời thì họ
có thể là chủ thể của Hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt độngthương mại nếu bên không phải là thương nhân lựa chọn luật thương mại
để áp dụng khi giao kết hợp đồng
Thương nhân là cá nhân:
Để được công nhận là thương nhân thì một cá nhân phải có nănglực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và hoạt độngthương mại một cách độc lập, thường xuyên như một ngành nghề Cánhân có thể trở thành thương nhân ngay cả khi hoạt động thương mạimột cách độc lập và thường xuyên như một nghề nghiệp mà chưa Đăng
Ký Kinh Doanh
Trong lĩnh vực hoạt động thương mại, thương nhân phải chịutrách nhiệm đầy đủ về hành vi thương mại của mình, vì vậy những ngườisau đây sẽ không công nhận là thương nhân: người không có năng lựchành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạnchế hành vi nhân sự, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, ngườiđang chịu trách nhiệm hình phạt tù, người đang bị tòa án tước quyền
Trang 7nghề vì các tội buôn bán hàng cấm, kinh doanh trái phép…và các tộitheo quy định của pháp luật.
Thương nhân là tổ chức
Trong thực tiễn hoạt động thương mại, thương nhân là tổ chức làchủ yếu của Hợp đồng mua bán hàng hóa Tổ chức kinh tế được thànhlập hợp pháp nhằm mục đích hoạt động thương mại hợp pháp một cáchđộc lập và thường xuyên và có ĐKKD sẽ được coi là thương nhân
Tổ chức kinh tế gồm: Doanh nghiệp được thành lập hoạt động
theo Luật Doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công tyTNHH, công ty hợp danh); Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã được thànhlập theo Luật hợp tác xã; các tổ chức kinh tế thành lập theo luật đầu tư
1.2.2.2 Thương nhân – không phải thương nhân
Chủ thể không phải thương nhân là bên có quyền chi phối đếnviệc hợp đồng được ký với thương nhân có phải là hợp đồng mua bánhàng hóa không Nghĩa là nếu bên không phải thương nhân chọn luậtthương mại để điều chỉnh thì đó hợp đồng mua bán hàng hóa trongthương mại, nếu chủ thể này không chọn luật thương mại mà chọn bộluật dân sự hoặc không thể hiện chọn đạo luật nào trong hai bộ luật nàythì hợp đồng được coi là hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của bộluật dân sự
Tuy nhiên, thường bên không phải là thương nhân là các cá nhânhoặc tổ chức mua hàng hóa không vì mục đích lợi nhuận thì hiểu biết vềpháp luật thường hạn chế và “trao cho” họ quyền quyết định là hợp đồngmua bán hàng hóa hay mua bán tài sản xem ra không có nhiều ý nghĩa
mà đôi khi còn dễ dẫn đến tranh chấp, nhất là khi mà những quy định vềchế tài phạm vi hợp đồng trong bộ luật dân sự và luật thương mại cònkhác nhau
1.2.3 Hình thức và mục đích hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.3.1 Hình thức
Trang 8Theo Điều 24 Luật Thương Mại:
1 Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng vănbản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể
2 Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy địnhphải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó
1.2.3.2 Mục đích
Là để phục vụ cho hoạt động kinh doanh kiếm lời khi các bêntrong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa đều là thương nhân; còn nếuhợp đồng có một bên không có mục đích này thì bên đó phải chọn luậtthương mại để áp dụng cho hợp đồng
1.2.4 Nội dung hợp đồng
Nội dung của Hợp đồng nói chung là các điều khoản do các bên thỏathuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Nộidung của Hợp đồng mua bán hàng hóa là các điều khoản do các bên thỏathuận, thường chứa đựng các nội dung cơ bản sau:
Tên hàng (Tên hàng, mã số, mẫu hàng…)
Số lượng, trọng lượng (kèm đơn vị đo lường thống nhất…)
Quy cách chất lượng
Giá cả, phương thức thanh toán
Địa điểm và thời hạn giao hàng
Quyền và nghĩa vụ các bên
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Phạt vi phạm hợp đồng
Các nội dung khác…
Ngoài ra hợp đồng còn phải thể hiện những điều khoản nhằm đảm
bảo quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồngmua bán hàng hóa
Hợp đồng bắt buộc phải bao gồm những nội dung chủ yếu nào làtùy thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia Việc pháp luật quyđịnh nội dung của hợp đồng mua bán có ý nghĩa hướng các bên tập trung
Trang 9vào thỏa thuận các nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiệnthuận lợi để thực hiện và phòng ngừa các tranh chấp có thể xảy ra trongquá trình thực hiện hợp đồng
Các nước thuộc hệ thống luật Anh - Mỹ về cơ bản chỉ bắt buộcthỏa thuận về điều khoản đối tượng của hợp đồng mua bán; còn nhữngnội dung khác nếu các bên không thỏa thuận cụ thể thì có thể viện dẫntập quán thương mại để xác định Trong khi đó, pháp luật của các nướcthuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, điển hình là Cộng hòa Pháp,thông thường hợp đồng mua bán cần phải thảo luận rõ về đối tượng, chấtlượng và giá cả LTM Việt Nam không quy định hợp đồng mua bán hànghóa phải bao gồm nội dung bắt buộc nào Tuy nhiên, ta có thể thấy rằng,một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường phải chứa đựng sự thỏathuận về đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn
và địa điểm nhận giao hàng
Trong quan hệ mua bán hàng hóa, các bên không chỉ bị ràng buộcbởi những điều khoản đã thỏa thuận với nhau mà còn chịu sự ràng buộcbởi những quy định của pháp luật, tức là những điều khoản pháp luật cóquy định nhưng các bên không thỏa thuận trong hợp đồng
1.3 Phân loại
Theo đặc điểm của các giao dịch mua bán hàng hóa có thể chia thành cácloại sau:
1.3.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường
Là hợp đồng mua bán hàng hóa mà các bên chủ thể của hợp đồngthực hiện các giao dịch về mua bán hàng hóa với nhau trên lãnh thổ ViệtNam
1.3.2 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 101 Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuấtkhẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyểnkhẩu.
2 Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồngbằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tươngđương
Theo luật thương mại Việt Nam, việc mua bán hàng hóa quốc tếđược thực hiện dưới hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập,tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu (điều 28,29,30 luậtThương Mại)
Tính chất quốc tế của quan hệ hợp đồng trong hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế:
Chủ thể của hợp đồng là các bên có quốc tịch khác nhau
Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng di chuyển từ nước náysang nước khác
Đồng tiền trong thanh toán quốc tế là ngoại tệ đối với mộthoặc cả 2 bên
1.3.2.2 Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
a) Điều ước quốc tế
Là hình thức chứa đựng các quy phạm pháp Luật quốc tế
Là cam kết của các quốc gia đối với nhau trong các lĩnh vực nhấtđịnh
Là tất cả các văn bản được ký kết giữa các quốc gia và do Luậtquốc tế điều chỉnh (Công ước Viên 1969)
Điều ước quốc tế là thoả thuận bằng văn bản được ký kết giữanước CHXHCN Việt nam và một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc
tế hoặc chủ thể khác nhau của Luật quốc tế, không phụ thuộc vào têngọi như: hiệp ước, công ước, định ước, hiệp định, nghị định thư, cônghàm trao đổi và danh nghĩa ký kết…(Điều 2, pháp lệnh về ký kết vàthực hiện điều ước quốc tế ngày 24/08/1998 của Việt nam)
Trang 11Có thể nói rằng điều ước quốc tế về thương mại là sự thoảthuận bằng văn bản giữa hai hoặc nhiều quốc gia ký kết phù hợp vớinhững nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nhằm ấn định, thay đổihoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ quốc tế.
b) Tập quán thương mại quốc tế
Các tập quán thương mại hình thành lâu đời trong các quan hệthương mại quốc tế, khi được các chủ thể ký kết hợp đồng mua bánquốc tế chấp nhận sẽ trở thành nguồn luật điều chỉnh đối với các hợpđồng giữa các chủ thể đó với nhau Các tập quán thương mại, khi dẫnchiếu vào hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, sẽ có hiệu lực bắtbuộc áp dụng đối với các chủ thể ký kết Một tập quán thông dụng,
phổ biến hiện nay trong buôn bán quốc tế là Incoterms.
c) Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại
Các quy tắc pháp Luật hình thành từ thực tiễn xét xử của Toà
án được gọi là tiền lệ pháp Tại các nước theo hệ thống Luật
Anh-Mỹ, các toà án thường sử dụng một hoặc một số phán quyết của Toà
án đã được công bố để làm khuôn mẫu áp dụng cho việc giải quyếtcác tranh chấp tương tự (Ví dụ: Điển hình của việc áp dụng án lệ tạiAnh là vụ tranh chấp giữa công ty bảo hiểm Yangtse với công tyLukmangre)
d) Luật quốc gia
Luật quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyếtcác tranh chấp và trong nhiều trường hợp nó là nguồn điều chỉnh cácquan hệ hợp đồng
Luật này trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hànghoá quốc tế trong trường hợp: Khi các bên ký kết hợp đồng thoảthuận trong điều khoản luật áp dụng cho hợp đồng về việc chọn luậtcủa một bên điều chỉnh hợp đồng; Khi điều khoản về luật áp dụngcho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được quy định trong các
Trang 12điều ước quốc tế liên quan xác định luật của một quốc gia đươngnhiên trở thành luật áp dụng cho các hợp đồng đó.
Ví dụ:
Áp dụng điều khoản về những trường hợp bất khả kháng
Ngày 20/9/1995, nguyên đơn A ký hợp đồng mua của bị đơn B20.000 tấn hàng X (ngày 29/9/1995 A đã ký hợp đồng bán lại lô hàng
X cho người thứ ba khác), giao hàng tháng 12/1995, thanh toán bằngL/C không hủy ngang, thanh toán ngay L/C phải được mở trướcngày 30/9/1995 (trên thực tế nguyên đơn đã mở L/C vào ngày25/9/1995 cho bị đơn hưởng lợi)
Tại Điều 14 của hợp đồng các bên thỏa thuận: “Nếu bất kỳ bên nàokhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng vì cáctrường hợp bất khả kháng như: bão, động đất, lũ lụt, hỏa hoạn, núilửa phun trào, chiến tranh, đình công, bạo động của quần chúng, lệnhcấm của Chính phủ, nhà máy sản xuất đóng cửa thì được miễn tráchnhiệm”
Đến hạn giao hàng nguyên đơn A đã nhiều lần gọi điện thoại nhắcbên B và bên B cũng đã cam kết giao hàng cho bên A nhưng vẫnkhông giao hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng Ngày 20/12/1995bên A nhận được một “Giấy chứng nhận bất khả kháng” từ bên B đốivới Hợp đồng số 02/95 (là hợp đồng giữa bên B ký với bên thứ bacung cấp hàng hóa cho B ký ngày 04/7/1995) Ngày 20/6/1996 bên Anhận tiếp bản photo “Giấy chứng nhận bất khả kháng” thứ hai đềngày 21/01/1996 của bên B gửi Sau đó bên B gửi tiếp cho bên A bảnphoto “Giấy chứng nhận bất khả kháng” thứ ba đề ngày 05/05/1996.Hai “Giấy chứng nhận bất khả kháng” thứ nhất và thứ hai do Thamtán thương mại của Đại sứ quán của nước người cung cấp hàng chobên B (bị đơn) đóng trên lãnh thổ của bị đơn cấp “Giấy chứng nhậnbất khả kháng” thứ ba do Ủy ban xúc tiến thương mại quốc tế củanước người cung cấp hàng cho bên B (bị đơn) cấp Trong cả ba giấy
Trang 13đều xác nhận “ở nước người cung cấp hàng hóa cho bị đơn bị mưalớn và xảy ra lũ lụt, đường xá bị sụt lún, hư hỏng nặng, không chởnguyên vật liệu vào nhà máy được và nhà máy cũng bị hư hỏng nặngphải ngừng sản xuất Trường hợp này được coi là bất khả kháng Nhàmáy đang cố gắng khắc phục hậu quả để hoạt động trở lại và sẽ cóthông báo về lịch giao hàng cụ thể sau”
Do việc bên B không giao hàng đúng theo thỏa thuận trọng hợp đồngnên bên A (bên mua hàng của B) đã khởi kiện B ra trước Trọng tàithương mại yêu cầu bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận trong nộidung hợp đồng đã ký kết
Phân tích tình huống
Về vụ việc này chúng ta thấy cần xác định vấn đề sau đây Mưa lớn,
lũ lụt xảy ra làm nhà máy ngừng sản xuất và bị đơn có “Giấy chứngnhận bất khả kháng” của cơ quan có thẩm quyền cấp có được xem làtrường hợp bất khả kháng để miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệthại cho bị đơn theo hợp đồng đã ký kết hay không?
Căn cứ theo quy định của pháp luật và tình tiết thực tế của vụ việcHội đồng trọng tài nhận định: Thứ nhất, mưa lớn, lũ lụt xảy ra làmnhà máy ngừng sản xuất ở nước thứ ba (nước người cung cấp hànghóa cho bên B là bị đơn) có thể là sự kiện bất khả kháng để miễntrách nhiệm giao hàng nhưng đấy là một hợp đồng khác, trong mộtquan hệ khác Nó không thuộc phạm vi để xem xét là sự kiện bất khảkháng theo hợp đồng giữa bị đơn và nguyên đơn trong vụ kiện này vìtrong hợp đồng giữa bị đơn và nguyên đơn không quy định vấn đềnày
- Thứ nhất, theo các thỏa thuận tại Điều 14 của hợp đồng về cáctrường hợp bất khả kháng thì không có nội dung nào được đề cập liênquan đến bên thứ ba trong hợp đồng, trong đó có sự kiện bất khảkháng
Trang 14- Thứ hai, bị đơn có “Giấy chứng nhận bất khả kháng” của cơ quan
có thẩm quyền cấp nhưng giấy chứng nhận này chỉ có giá trị để miễntrách nhiệm của bên thứ ba (là bên cung cấp hàng hóa cho bị đơn)trong hợp đồng với bị đơn chứ không phải là một căn cứ pháp lý đểxem xét việc miễn trách nhiệm trong vụ kiện giữa bị đơn với nguyênđơn (bên A) Giả sử các “Giấy chứng nhận bất khả kháng” kể trên cóliên quan đến vụ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiệnthì các giấy chứng nhận này cũng không có giá trị pháp lý bởi lẽ:
- (1) Lũ lụt xảy ra ở nước người cung cấp hàng vào tháng 8/1995(trước thời điểm ký hợp đồng) Như vậy, lũ lụt trong trường hợp nàykhông phải là sự kiện mà “các bên trong hợp đồng không thể lườngtrước được” mà nó là sự kiện “đương nhiên thấy được”;
- (2) Lũ lụt xảy ra vào tháng 8/1995 nhưng hai “Giấy chứng nhậnbất khả kháng” thứ hai và thứ ba lại đề ngày 21/01/1996 và05/5/1996 là không đáng tin cậy vì thời gian cấp diễn ra sau sự kiệntương đối lâu
Hội đồng trọng tài quyết định
Từ các nhận định trên Hội đồng trọng tài kết luận các điều kiện củađiều khoản về trường hợp bất khả kháng không thỏa mãn nên bên Bkhông được viện dẫn điều khoản này để thoát khỏi nghĩa vụ giaohàng hoặc bồi thường thiệt hại xuất phát từ thỏa thuận của các bêntrong hợp đồng
Như vậy, qua vụ việc thực tiễn này chúng ta thấy bên nguyên đơn (làbên mua hàng) đã bảo vệ được lợi ích hợp pháp của mình nhờ đưavào nội dung hợp đồng điều khoản về trường hợp bất khả kháng vàbên bị đơn đã không thể vận dụng được điều khoản này để thoát khỏinghĩa vụ của hợp đồng do đã không thể chứng minh được có sự kiệnbất khả kháng xảy ra liên quan đến việc thực hiện hợp đồng
1.3.3 Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
Trang 15Quy định về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là mộthoạt động thương mại mới được bổ sung tại Luật Thương mại 2005, đây làmột hoạt động phổ biến trong thực tiễn thương mại quốc tế nhằm bảo hiểmcác rủi ro do việc biến động giá cả trên thị trường.
1.3.3.1 Khái niệm
Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thươngmại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhấtđịnh của một loại hàng hóa nhất định qua Sở giao dịch hàng hóa theonhững tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hóa với giá được thỏa thuận tạithời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại
một thời điểm trong tương lai (Điều 63 – Luật Thương Mại)
Theo điều 64 – LTM, Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao
dịch hàng hóa bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn
Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết giao vàbên mua cam kết nhận tại 1 thời điểm trong tương lai theo hợpđồng
Ví dụ: Một người dự đoán giá cà phê sau 3 tháng sẽ hạ giá nên dù
không có hàng nhưng người này vẫn ký hợp đồng bán cà phêRobusta theo giá 800 USD/1 tấn với hạn giao hàng 3 tháng Sau 3tháng, giá cà phê hạ xuống chỉ còn 700 USD/1 tấn Do đó, ngườinày được hưởng chênh lệch giá là 100 USD/1 tấn
Hợp đồng về quyền chọn mua và quyền chọn bán là thỏa thuận,theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán mộthàng hóa xác định với mức giá định trước (gọi là giao kết) và phảitrả một khoản tiền nhất định để mua quyền này (gọi là tiền mauquyền) Bên mua quyền có quyền chọn thực hiện hoặc không thực
hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó.
Ví dụ: Công ty cà phê X có lô cà phê trị giá 200.000USD Công
ty Y kí hợp đồng quyền chọn với công ty X, theo đó, lô cà phê sẽđược giao sau 1 năm với điều kiện công ty Y phải trả một khoản
Trang 16tiền mua quyền là 5.000USD Sau một năm, nếu giá trị của lô càphê tăng lên 210.000USD, thì công ty Y được lợi và sẽ thực hiệnviệc mua bán này và nhận hàng Nếu giá trị của lô cà phê giảmxuống 190.000USD thì công ty Y sẽ bị thiệt hại nếu thực hiện hợpđồng này, do đó công ty Y chọn quyền chọn mua và không nhậnhàng Trong trường hợp này, công ty Y vẫn phải mất 5.000USDtiền chọn mua quyền công ty Y
b) Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng kỳ hạn
Quy định tại điều 65 – Luật Thương mại
Trường hợp người bán thực hiện việc giao hàng theo hợp đồng thìbên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc bên mua có thể thanhtoán bằng tiền và không nhận hàng thì bên mua phải thanh toáncho bên bán một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thỏathuận trong hợp đồng và giá thị trường do Sở giao dịch hàng hóacông bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc bên bán có thể thanhtoán bằng tiền và không giao hàng thì bên bán phải thanh toán chobên mua một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thị trường
do Sở giao dịch hàng hóa công bố tại thời điểm hợp đồng đượcthực hiện và giá thỏa thuận trong hợp đồng
c) Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng quyền chọn
Trang 17Quy định tại điều 66 – Luật Thương mại
Bên mua quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán phải trả tiền muaquyền chọn để được trở thành bên giữ quyền chọn mua hoặc giữquyền chọn bán Số tiền phải trả cho việc mua quyền chọn đó docác bên thỏa thuận
Bên giữ quyền chọn mua: có quyền mua những không có nghĩa
vụ phải mua hàng hóa đã giao kết trong hợp đồng
Trường hợp bên giữ quyền chọn mua quyết định thực hiện hợpđồng thì bên bán có nghĩa vụ phải bán hàng hóa cho bên giữquyền chọn mua
Trường hợp bên bán không có hàng để giao thì phải thanhtoán cho bên giữ quyền chọn mua một khoản tiền bằng mứcchênh lệch giữa giá thỏa thuận trong hợp đồng và giá thịtrường do Sở giao dịch hàng hóa công bố tại thời điểm hợpđồng được thực hiện
Bên giữ quyền chọn bán có quyền bán nhưng không có nghĩa vụphải bán hàng hóa đã giao kết trong hợp đồng
Trường hợp bên giữ quyền chọn bán quyết định thực hiện hợpđồng thì bên mua có nghĩa vụ phải mua hàng hóa của bên giữquyền chọn bán
Trường hợp bên mua không mua hàng thì phải thanh toán chobên giữ quyền chọn bán một khoản tiền bằng mức chênh lệchgiữa giá thị trường do Sở giao dịch hàng hóa công bố tại thờiđiểm hợp đồng được thực hiện và giá thỏa thuận trong hợpđồng
Trường hợp bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọnbán quyết định không thực hiện hợp đồng trong thời hạn hợpđồng có hiệu lực thì hợp đồng đương nhiên hết hiệu lực
1.4 Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 18Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên cạnh những quyền và nghĩa vụ
do bên bán và bên mua thỏa thuận thì còn có những quyền và nghĩa vụ dànhcho các bên này do pháp luật quy định Như chúng ta biết quyền của bên này lànghĩa vụ của bên kia và ngược lại Do đó, phần dưới đây sẽ trình bày về nghĩa
vụ của mỗi bên và từ đó chúng ta cũng sẽ hiểu và xác định được quyền của họ
1.4.1 Nghĩa vụ bên bán
Nghĩa vụ chính của bên bán theo hợp đồng mua bán hàng hóa chính
là nghĩa vụ giao hàng Nghĩa vụ giao hàng bao hàm những nội dung sau:
Giao hàng đúng đối tượng và chất lượng: Bên bán phải giao hàng
đúng đối tượng và chất lượng theo thỏa thuận trong hợp đồng và theoquy định của pháp luật Chất lượng của hàng hóa có thể được thỏa thuậnhoặc xác định theo nhiều cách khác nhau: theo mẫu, theo mô phỏng, trên
cơ sở tiêu chuẩn hóa, theo giám định… Hàng hóa phải đảm bảo không cócác khuyết tật có thể nhìn thấy được khi bàn giao (khuyết tật bên ngoài)
và cả những khuyết tật không thể nhìn thấy ngay được mà chỉ có thể pháthiện trong quá trình sử dụng (khuyết tật ẩn giấu bên trong)
Trường hợp không thể xác định một cách rõ ràng được đối tượng là hànghóa được giao có phù hợp với hợp đồng hay không thì theo quy định củaLTM 2005, hàng hóa được coi là không phù hợp với hợp đồng nếu thuộcmột trong các trường hợp sau:
Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hànghóa cùng chủng loại
Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đãcho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kếthợp đồng
Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đốivới loại hàng hóa đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảoquản hàng hóa trong trường hợp không có cách thức bảo quảnthông thường loại hàng hóa đó
Trang 19 Không đảm bảo chất lượng như chất lượng mẫu hàng hóa mà bênbán đã giao cho bên mua.
Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, nếu không tráchnhiệm của các bên nếu hàng hóa bàn giao không phù hợp với hợp đồng
sẽ được quyết định căn cứ vào Điều 39 và Điều 41 LTM 2005.
Ngoài việc giao đúng đối tượng và chất lượng hàng hóa, bên muacòn có nghĩa vụ giao đúng số lượng hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng.Trong trường hợp bàn giao số lượng ít hơn, bên mua có quyền hoặc chấpnhận số lượng ít hơn đó, hoặc yêu cầu bàn giao nốt phần còn lại (có thểkèm theo yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại), hoặc yêu cầu hủy bỏ hợpđồng (có thể kèm theo đòi bồi thường thiệt hại) Việc bên mua tiếp nhậntài sản với số lượng ít hơn mà không có ý kiến khiếu nại gì thì được coi
là đã chấp nhận việc sửa đổi số lượng hàng hóa trong hợp đồng Trongtrường hợp bên bán giao hàng với số lượng nhiều hơn số lượng đã thỏathuận trong hợp đồng, bên mua có quyền từ chối nhận phần hàng hóagiao thừa, bên bán phải nhận lại số hàng thừa và chịu mọi chi phí liênquan Nếu bên bán nhận số hàng thừa thì phải thanh toán số hàng nàytheo giá do các bên thỏa thuận
Ví dụ:
A có mua một chiếc xe Fly 125 của Công ty HL ở Lào Cai Trong hợpđồng có ghi đối tượng mua bán là xe Fly của hãng Piaggio - Italia Hiabên thỏa thuận sử dụng Luật Thương mại 2005 để điều chỉnh Quakhuyến cáo của hãng Piaggio về Fly 125 và xác nhận của đại diện hãngPiaggio tại Hà Nội, A được biết chiếc xe mà A mua là xe City Fly doTrung Quốc sản xuất; giá thấp hơn xe Fly của Piaggio - Italia hàng chụctriệu đồng A đã thông báo cho doanh nghiệp về sự việc nhưng khôngđược giải quyết
Giao chứng từ kèm theo hàng hóa.
Theo LTM 2005, trường hợp có thỏa thuận về việc giao chứng từ thìbên bán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa (như chứng nhận
Trang 20chất lượng, chứng nhận nguồn gốc xuất xứ, vận đơn,…) cho bên mua trongthời hạn, tại địa điểm và bằng phương thức đã thỏa thuận Nếu các bênkhông thỏa thuận về thời hạn, địa điểm giao các chứng từ liên quan đếnhàng hóa thì bên bán phải giao chứng từ liên quan đến hàng hóa cho bênmua trong thời hạn và tại địa điểm hợp lý để bên mua có thể nhận hàng.
Theo quy định tại khoản 3 và 4 Điều 42 LTM2005, trong trường hợp bên
bán giao chứng từ liên quan đến hàng hóa trước thời hạn thỏa thuận, nếu cóthiếu sót về chứng từ liên quan, bên bán có thể khắc phục những thiếu sótcủa những chứng từ này trong thời hạn còn lại; khi bên bán thực hiện việckhắc phục những thiếu sót của của các chứng từ này mà gây bất lợi hoặc làmphát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên mua có quyền yêu cầu bênbán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó
Giao hàng đúng thời hạn và địa điểm
Các bên thường thỏa thuận về thời điểm giao hàng trong hợp đồng.Nếu các bên không thỏa thuận vấn đề này trong hợp đồng thì áp dụng quyđịnh của pháp luật hoặc theo tập quán Nếu các bên không thỏa thuận về thờiđiểm giao hàng cụ thể mà chỉ nêu thời hạn giao hàng thì bên bán có thể giaohàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải báo trước cho bênmua Nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì
theo quy định tại Điều 37 LTM 2005, bên bán phải giao hàng trong một thời
hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng
Bên bán phải giao hàng đúng địa điểm theo thỏa thuận Trong trườnghợp các bên không thỏa thuận trong hợp đồng thì địa điểm giao hàng sẽđược xác định như sau:
Nếu hàng hóa là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giao hàng tạinơi có hàng hóa đó
Nếu hợp đồng có quy định về vận chuyển hàng hóa thì bên bán cónghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên Trong thực tế,bên bán có thể không trực tiếp giao hàng cho bên mua mà việc giaohàng có thể được thực hiện thông qua người thứ ba (như qua người
Trang 21làm dịch vụ vận chuyển hàng hóa…) Các bên có thể thỏa thuận vềvấn đề rủi ro đối với hàng hóa khi giao hàng qua người thứ ba Nếukhông có thỏa thuận thì bên bán được coi là đã hoàn thành nghĩa vụgiao hàng sau khi đã giao hàng cho người thứ ba theo các điều kiệngiao hàng do hai bên thỏa thuận.
Nếu hợp đồng không quy định về vận chuyển hàng hóa; nếu vào thờiđiểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho chứa hàng,địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hóa thì bên bánphải giao hàng tại địa điểm đó
Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinhdoanh của bên bán, nếu bên bán không có địa điểm kinh doanh thìphải giao hàng tại nơi cư trú của bên bán được xác định tại thời điểmgiao kết hợp đồng
Ví dụ:
Tranh chấp giữa công ty A và công ty B xảy ra vì người bán A khônggiao hàng khi hết thời hạn quy định trong hợp đồng (B đã thanh toántiền đầy đủ cho A) Sau đó vài ngày, công ty A giao hàng tới và bắt Bphải nhận hàng
B có quyền không nhận hàng và yêu cầu A hoàn trả toàn bộ số tiền đã thanh toán.
Kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng:
Để ngăn ngừa những sai sót trong việc giao hàng và tăng khả năngthực hiện hiệu quả việc mua bán, việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao làmột yêu cầu cần thiết đối với giao dịch mua bán hàng hóa trong thương mại,
và đây là một điểm khác biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thươngmại với hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự
Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc kiểm tra hàng hóatrước khi giao hàng thì bên bán phải tạo điều kiện cho bên mua thực hiệnviệc kiểm tra của mình Bên mua phải thực hiện việc kiểm tra hàng hóatrong một thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép Nếu bên mua
Trang 22không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa theo thỏa thuận thì đến thời hạn giaohàng, bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng Khi kiểm tra nếu bên muaphát hiện hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì phải thông báo cho bênbán trong một thời hạn hợp lý Nếu bên mua không thực hiện việc thông báonày thì bên bán không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết củahàng hóa, trừ khi những khiếm khuyết đó không thể phát hiện được trongquá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phảibiết về những khiếm khuyết đó mà không thông báo cho bên mua.
Đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua.
Bên bán phải đảm bảo về tính hợp pháp của quyền sở hữu và việcquyển giao quyền sở hữu đối với hàng hóa giao cho bên mua; và phải đảmbảo quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấpbởi các bên thứ ba Trường hợp hàng hóa bị người thứ ba tranh chấp quyền
sở hữu thì bên bán phải đứng về phía bên mua để bảo vệ quyền lợi của bênmua Trong trường hợp người thứ ba có quyền sở hữu một phần hoặc toàn
bộ đối với hàng hóa mua bán thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêucầu bên bán bồi thường thiệt hại
Theo quy định của pháp luật, bên bán không được bán hàng hóa viphạm quyền sở hữu trí tuệ Nếu có tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trítuệ đối với hàng hóa đã bán, bên bán phải chịu trách nhiệm Tuy nhiên, nếubên mua yêu cầu bên bán phải tuân theo bản vẽ kỹ thuật, thiết kế, công thứchoặc những số liệu khác do bên mua cung cấp thì bên mua phải chịu tráchnhiệm đối với các khiếu nại liên quan đến những vi phạm quyền sở hữu trítuệ phát sinh từ việc bên bán đã tuân thủ những yêu cầu của bên mua
Theo Điều 62 LTM 2005, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ
bên bán sang bên mua từ thời điểm chuyển giao hàng hóa, trừ trường hợppháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác Trong trườnghợp các bên không có thỏa thuận, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng
Trang 23hóa có thể diễn ra ở những thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào tính chất củaviệc chuyển giao hàng hóa và phương thức mua bán.
Theo tính chất của việc chuyển giao hàng hóa:
Thông thường, đối với hàng hóa khi giao nhận được dịch chuyển vềmặt cơ học, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao cho người muakhi người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
Đối với những hàng hóa khi giao nhận không được dịch chuyển vềmặt cơ học (hàng hóa gắn liền với đất đai), việc giao nhận hàng hóađược thông qua việc giao nhận chứng từ liên quan đến hàng hóa, thìquyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao cho người mua khi ngườibán hoàn tất việc chuyển giao các chứng từ liên quan đến hàng hóa
Đối với hàng hóa mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữuthì quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao cho bên mua kể từ thờiđiểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với hàng hóa đó
Trong trường hợp hàng hóa không dịch chuyển về mặt cơ học khigiao dịch và cũng không có chứng từ về hàng hóa, quyền sở hữuhàng hóa được coi là đã chuyển giao cho bên mua tại thời điểm hợpđồng có hiệu lực
Theo phương thức mua bán:
Trường hợp hàng hóa được mua theo phương thức mua sau khi sửdụng thử thì trong thời gian sử dụng thử, hàng hóa vẫn thuộc sở hữucủa bên bán Nhưng trong thời gian này, quyền sở hữu của bên bán bịhạn chế (không được bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm
cố hàng hóa) khi bên mua chưa trả lời
Trường hợp hàng hóa được mua theo phương thức trả chậm thì bênbán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với hàng hóa đã giaocho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ khi có thỏa thuận khác
Nghĩa vụ bảo hành hàng hóa
Bên cạnh nghĩa vụ quan trọng nhất là bàn giao hàng hóa, bên bán còn
có một nghĩa vụ khác, đó là bảo hành hàng hóa, tức là trong một thời hạn
Trang 24nhất định, bên bán phải chịu trách nhiệm về hàng hóa sau khi đã giao hànghóa cho bên mua Pháp luật quy định trong trường hợp hàng hóa có bảohành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung
và thời hạn đã thỏa thuận Thời hạn bảo hành có thể do các bên tự xác định,cũng có thể được pháp luật quy định
Trong trường hợp pháp luật đã quy định thì thời hạn đó mang tínhbắt buộc và các bên chỉ được phép thỏa thuận để thay đổi tăng thêm thời hạn
đó mà thôi Trong thời hạn bảo hành nếu bên mua phát hiện có khuyết tậtcủa hàng hóa thì có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, mọi phí tổn về việcsửa chữa do bên bán chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Nếu bên bánkhông sửa chữa được hoặc không sửa chữa xong trong thời hạn hai bên thỏathuận thì bên mua có quyền yêu cầu đổi hàng khác, giảm giá, hoặc trả lạihàng và lấy lại tiền
LTM 2005 không quy định cụ thể những vấn đề về bảo hành hàng
hóa, nếu các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định tại Điều 446 –
448 của BLDS
TÌNH HUỐNG
Ngày 14/1/2009 công ty liên doanh A ký hợp đồng bán cho công ty TNHHmột dây chuyền chế biến thực phẩm trị giá 2,2 tỷ đồng Hai bên thỏa thuận,công ty LD A phải bảo hành dây chuyền trong vòng 12 tháng Ngày25/3/2009 dây chuyền chế biến trên bị gặp trục trặc về mặt kỹ thuật vàngưng hoạt động Công ty B gửi ngay công văn sang LD A yêu cầu cửchuyên viên kỹ thuật sang khắc phục sự cố Mặc dù đã nhận được công vănnhưng đến ngày 6/4/2009 công ty A vẫn chưa trả lời và không cử chuyênviên sang sửa chữa
Do vậy công ty B đã tự mình lập biên bản về sự cố trên và thuê người đếnsữa chữa với chi phí là 50 triệu đồng Ngày 15/4/2009, công ty B gửi yêucầu công ty A phải thanh toán số tiền 50 triệu đồng nói trên và đòi bồithường thiệt hại do ngưng sản xuất là 200 triệu đồng cũng như phạt vi phạm
Trang 25hợp đồng, nhưng phía công ty A đã từ chối yêu cầu trên, vụ việc đã đượckhởi kiện tại toàn án.
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG Theo Điều 49 – Luật Thương mại 2005
1 Trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu tráchnhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận
2 Bên bán phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất màhoàn cảnh thực tế cho phép
3 Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thoảthuận khác
Bạn phải xác định HĐ này có điều khoản bảo hành 12 tháng, do vậy bên
A lỗi hoàn toàn do không bảo hành khi bên B có thông báo về sự cố hưhỏng phải ngừng sản xuất mà bên A vẫn không cử người đến sửa chữa Bên
B có quyền thuê người đến sửa chữa khắc phục sự cố, mọi chi phí Bên B cóquyền yêu cầu bên A thanh toán lại Nếu Bên A không thanh tóan chi phíbảo hành này và bồi thường thiệt hại do ngưng sản xuất 200 triệu đồng, bên
B có quyền khởi kiện ra Tòa án
1.4.2 Nghĩa vụ bên mua
Nhận hàng và thanh toán tiền là nghĩa vụ cơ bản của bên mua, tươngxứng với nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa của bên bán
Nghĩa vụ nhận hàng: Nhận hàng được hiểu là việc bên mua tiếp nhận
trên thực tế hàng hóa từ bên bán Bên mua phải thực hiện những côngviệc hợp lý để bên bán giao hàng, tùy từng trường hợp cụ thể công việchợp lý đó có thể là: hỗ trợ bên bán về thủ tục giao hàng, hướng dẫn vềphương thức vận chuyển, điều kiện bốc dỡ hàng hóa,… Cần lưu ý rằngviệc nhận hàng trên thực tế không đồng nghĩa với việc bên mua đã chấpnhận về hàng hóa được giao Sau khi hoàn thành việc giao nhận, bên bánvẫn phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa đã đượcgiao, nếu đó là những khiếm khuyết không thể phát hiện được trong quá
Trang 26trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường; và bên bán đã biết hoặc phảibiết về các khiếm khuyết đó mà không thông báo cho bên mua.
Khi bên bán đã sẵn sàng giao hàng theo hợp đồng mà bên muakhông tiếp nhận hàng thì coi như đã vi phạm hợp đồng và phải chịu cácbiện pháp chế tài theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định củapháp luật Theo quy định của BLDS, trong trường hợp này, bên bán phải
áp dụng các biện pháp cần thiết trong khả năng có thể và với chi phí hợp
lý để lưu giữ, bảo quản hàng hòa, và có quyền yêu cầu bên mua chi trảcho chi phí đã bỏ ra Đối với hàng hóa có nguy cơ bị hư hỏng thì bên bán
có quyền bán hàng hóa và trả tiền cho bên mua khoản tiền thu được từviệc bán hàng hóa đó sau khi đã trừ đi chi phí hợp lý để bảo quản và bánhàng hóa
Nghĩa vụ thanh toán tiền: Đây là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua
trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa Điều khoản thanh toán tronghợp đồng được các bên thỏa thuận thông thường bao gồm những nộidung cụ thể về đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán, thời hạn vàđịa điểm thanh toán, trình tự và thủ tục thanh toán,… Trường hợp cácbên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của pháp luật thương mại
về thanh toán trong hợp đồng:
Địa điểm thanh toán: Nếu không được thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ xác định địa điểm thanh toán theo quy định tại Điều 54 LTM 2005.
Trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm thanh toán cụthể thì bên mua phải thanh toán cho bên bán tại một trong các địađiểm sau đây:
1 Địa điểm kinh doanh của bên bán được xác định vào thời điểmgiao kết hợp đồng, nếu không có địa điểm kinh doanh thì tạinơi cư trú của bên bán;
Trang 272 Địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ, nếu việc thanh toánđược tiến hành đồng thời với việc giao hàng hoặc giao chứngtừ.
Thời hạn thanh toán: Được xác định theo quy định tại Điều 55
và khoản 3 Điều 50 LTM 2005.
Điều 55: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thời hạn
thanh toán được quy định như sau:
1 Bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bángiao hàng hoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hóa
2 Bên mua không có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi có thểkiểm tra xong hàng hóa trong trường hợp có thỏa thuận theoquy định Điều 44 của Luật này
Khoản 3 Điều 50: Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua
hàng trong trường hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời điểmrủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mấtmát, hư hỏng do bên bán gây ra
Xác định giá: Điều 52.
Trường hợp không có thỏa thuận về giá hàng hóa, không
có thỏa thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất
kỳ chỉ dẫn nào khác về giá thì giá của hàng hóa được xác địnhtheo giá của loại hàng hóa đó trong các điều kiện tương tự vềphương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hóa, thị trườngđịa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnhhưởng đến giá
Ví dụ:
Bạn phải xác định HĐ này có điều khoản bảo hành 12 tháng, dovậy bên A lỗi hoàn toàn do không bảo hành khi bên B có thôngbáo về sự cố hư hỏng phải ngừng sản xuất mà bên A vẫn không
cử người đến sửa chữa Bên B có quyền thuê người đến sửa chữakhắc phục sự cố, mọi chi phí Bên B có quyền yêu cầu bên A
Trang 28thanh toán lại Nếu Bên A không thanh tóan chi phí bảo hành này
và bồi thường thiệt hại do ngưng sản xuất 200 triệu đồng, bên B
có quyền khởi kiện ra Tòa án
Giải quyết tình huống: Luật thương mại năm 2005 (Điều 52) cũng
quy định thì như vậy, đối với trường hợp trên, cơ quan có thẩmquyền (Tòa án) sẽ dựa vào giá của loại gạch đó trên thị trường tạithời điểm ký hợp đồng để làm cơ sở xử lý vụ việc trên
Chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: Điều 306
Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiềnhàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lýkhác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãitrên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trênthị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậmtrả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy địnhkhác
Ví dụ: Cách tính thù lao cho Đại lý
Công ty A và ông B có ký với nhau một hợp đồng đại lý theo đóông B sẽ trở thành đại lý phân phối, bán hàng cho công ty A.Trong quý I năm 2012, công ty A giao cho đại lý của ông B lôhàng 800 hộp sữa Có 2 trường hợp xảy ra:
Công ty A định giá sẵn cho đại lý B là đại lý phải bán ra thịtrường với mức giá 200.000đ/hộp và mức hoa hồng là 5% trêntổng doanh thu => Thù lao đại lý B được hưởng: 200.000 x 800 x5% = 8.000.000đ
Công ty A chỉ định giá bán cho đại lý B là 200.000đ/hộp màkhông quy định giá bán ra thị trường Đại lý bán ra với mức giá205.000đ/hộp => Thù lao đại lý B được hưởng là: (205.000 –200.000) x 800.000 = 4.000.000đ
Trang 29 Ngừng thanh toán: Điều 51.
Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, việc ngừng thanh toántiền mua hàng được quy định như sau
1 Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyềntạm ngừng thanh toán;
2 Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bịtranh chấp thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việctranh chấp đã được giải quyết
3 Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng khôngphù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán chođến khi bên bán đã khắc phục sự không phù hợp đó;
4 Trường hợp tạm ngừng thanh toán theo quy định tại Khoản 2
và Khoản 3 Điều này mà bằng chứng do bên mua đưa rakhông xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải bồithường thiệt hại đó và chịu các chế tài khác theo quy định củaLuật này
1.5 Chuyển rủi ro đối với mua bán hàng hóa
Nếu các bên không có thỏa thuận, thì:
Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định: rủi rođược chuyển cho bên mua từ thời điểm hàng hóa đã được giao dịch chobên mua hoặc người được bên mua ủy quyền đã nhận hàng tại địa điểm
đó kể cả trường hợp bên bán được ủy quyền giữ lại chứng từ xác lậpquyền sở hữu đối với hàng hóa
Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định:khi hàng hóa được giao cho người vận chuyển đầu tiên
Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao
mà không phải là người vận chuyển, Khi bên mua nhận được chứng từ
sở hữu hàng hóa; hoặc Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyềnchiếm hữu hàng hóa của bên mua
Trang 30Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hóa đang được vậnchuyển: kể từ thời điểm giao kết hợp đồng.
Điều 60 - Luật Thương Mại: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác,nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hóa đang trên đường vậnchuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa được chuyểncho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng
Chuyển rủi ro khi bên mua không nhận hàng đúng hợp đồng: kể từthời điểm hàng hóa lẽ ra thuộc quyền định đoạt của bên muanhưng bên mua đã không nhận hàng theo đúng hợp đồng
TÌNH HUỐNG 1
Công ty Đẹp Chói Lóa có đơn đặt hàng với số lượng lớn Giữa công ty
và khách hàng Nong Poy đã ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa thôngthường, công ty có nghĩa vụ giao hàng cho Nong Poy tại khách sạn mà
cô đang lưu trú Trong hợp đồng không kèm theo bất kỳ thỏa thuận đặcbiệt nào và khách hàng đã giao kết hợp đồng bằng việc thanh toán tiềncho công ty, kí kết hợp đồng và chỉ chuyển quyền sở hữu hàng hóa khihàng đã được giao
Tuy nhiên, trên đường vận chuyển hàng hóa đến khách hàng thì 2 nhânviên nhận hàng công ty gặp cướp và mất mát, thiệt hại về số hàng trên
Và câu hỏi đặt ra là: “Phần rủi ro này ai sẽ chịu?”
GIẢI QUYẾT Điều 57 – Luật Thương mại quy định
Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác địnhTrừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên bán có nghĩa vụ giao hàngcho bên mua tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hưhỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giaocho bên mua hoặc người được bên mua uỷ quyền đã nhận hàng tại địađiểm đó, kể cả trong trường hợp bên bán được uỷ quyền giữ lại cácchứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hoá
Vậy bên bán chịu rủi ro