1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải quyết tranh chấp kinh doanh thông qua trọng tài thương mại

27 413 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 783,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Trọng tài thương mại là quá trình giải quyết tranh chấp do các bên tự nguyên lựa chọn; trong đó có bên thứ ba trung lập Trọng tài viên sau khi nghe các bên trình bày sẽ ra mộ

Trang 1

Luật Kinh tế

MỤC LỤC

1 Khái niệm và đặc điểm của Trọng tài thương mại 2

1.1 Khái niệm 2

1.2 Đặc điểm của Trọng tài thương mại 2

1.3 Những ưu điểm của Trọng tài thương mại so với Toà án 3

2 Cơ sở phát sinh thẩm quyền Trọng tài thương mại (trong mối quan hệ với Tòa án) 3 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong phương thức Trọng tài thương mại 8

4 Tranh chấp kinh doanh do Trọng tài thương mại giải quyết 9

5 Trình tự, thủ tục tố tụng tại Trọng tài thương mại 10

6 Vấn đề thi hành 13

7 Hủy phán quyết Trọng tài 14

8 Thỏa thuận Trọng tài vô hiệu 16

8.1 Thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng chỉ vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau: 16

8.2 Hậu quả pháp lý của thỏa thuận trọng tài vô hiệu 18

9 Ý nghĩa phán quyết của trọng tài 19

9.1 Ý nghĩa của trọng tài: 19

9.2 Ý nghĩa phán quyết trọng tài : 19

10 So sánh giống và khác nhau giữa Trọng tài và Tòa án 20

10.1 Điểm giống nhau 20

10.2 Điểm khác nhau 20

Trang 2

Luật Kinh tế

GIẢ I QUYE T TRẢNH CHẢ P KINH DOẢNH THO NG QUẢ TRO NG TẢ I THƯƠNG MẢ I

1 Khái niệm và đặc điểm của Trọng tài thương mại

1.1 Khái niệm

Trọng tài thương mại là quá trình giải quyết tranh chấp do các bên tự nguyên lựa chọn; trong đó có bên thứ ba trung lập ( Trọng tài viên) sau khi nghe các bên trình bày sẽ ra một quyết định có tính bắt buộc đối với các bên tranh chấp

Ví dụ : thoả thuận Trọng tài thương mại:

Công ty A bán hàng cho công ty B Hai bên ký Hợp đồng mua bán hàng hóa

Về việc giải quyết tranh chấp, hai bên phải ghi rõ trong hợp đồng là “ “mọi tranh chấp, nếu có, nếu không tự giải quyết được sẽ đưa ra giải quyết tại Trung tâm trọng tài thương mại ABC” Việc thỏa thuận như vậy được gọi là “thỏa thuận trọng tài”

1.2 Đặc điểm của Trọng tài thương mại

 Là loại hình tổ chức phi chính phủ ( không hưởng ngân sách nhà nước), hoạt động theo pháp luật và quy chế Trọng tài

 Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại là sự kết hợp giữa hai yếu tố thoả thuận và tài phán

 Hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại đã đảm bảo quyền tự do định đoạt của các đương sự cao hơn so với quyết định giải quyết tranh chấp bằng Toà án, cụ thể:

 Quyền lựa chọn hình thức Trọng tài

 Quyền lựa chọn trung tâm Trọng tài để yêu cầu giải quyết tranh chấp

 Quyền lựa chọn Trọng tài viên

Trang 3

Luật Kinh tế

 Quyền lựa chọn quy tắc tố tụng

 Quyền lựa chọn luật áp dụng cho tranh chấp

 Quyền lựa chọn ngôn ngữ sử dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp

 Phán quyết của Trọng tài thương mại có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất cứ cơ quan, tổ chức nào

 Mỗi tổ chức Trọng tài đều có quy tắc tố tụng riêng, độc lập và yêu cầu các bên tranh chấp khi lựa chọn giải quyết tại đây phải tuân thủ

 Về nguyên tắc pháp luật của các quốc gia đều quy định sự hỗ trợ từ phía Toà án trong việc đảm bảo việc thực thi các quyết định của Trọng tài thương mại

 Trọng tài thương mại chủ yếu tồn tại ở hai dạng cơ bản:

 Trọng tài vụ việc (Ad-hoc): không có trụ sở, không có bộ máy giúp việc, không lệ thuộc vào bất cứ một quy tắc xét xử nào Về nguyên tắc các bên đương sự khi yêu cầu Trọng tài Ad-hoc xét xử có quyền lựa chọn thủ tục, các phương pháp tiến hành tố tụng

 Trọng tài thường trực (quy chế) : có hình thức tổ chức, có trụ sở ổn định, có danh sách Trọng tài viên và hoạt động theo điều lệ riêng

Ví dụ: Trung tâm Trọng tài, Uỷ ban Trọng tài, Viện Trọng tài, Hội đồng

Trọng tài quốc gia và quốc tế

1.3 Những ưu điểm của Trọng tài thương mại so với Toà án

 Thứ nhất, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đ6ói với việc giải quyết tranh chấp: Trong khi tòa án xử từ 2 -3 lần, từ sơ thẩm đến phúc thẩm , thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, khiếu nại, khiếu kiện,… thì trọng tài chỉ có một cấp xét xử khi phán quyết xong, ủy ban trọng tài hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá

Trang 4

Luật Kinh tế

trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo

 Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật

 Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng linh hoạt cho các bên: Các bên được tư d lựa chọn thủ tục, thời gian, địa điểm, phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên giúp làm giảm chi phí, thời gian, làm tăng hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp

 Thứ tư, duy trì được quan hệ đối tác: Tố tụng trọng tài là tự nguyện Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ căng thẳng của những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở

 Thứ năm, trọng tài cho phép các bên sử dụng kinh nghiệm của các chuyên gia: các bên có thể lựa chọn hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu biết của họ về pháp luật thương mại quốc tế, cuất nhập khẩu hàng hóa,…

2 Cơ sở phát sinh thẩm quyền Trọng tài thương mại (trong mối quan hệ với Tòa án)

Sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước trong quá trình trọng tài là một vấn đề

đã được đề cập đến rất nhiều trong khoa học pháp lý Xung quanh vấn đề này cũng

có nhiều ý kiến tranh cãi và tiếp cận dưới nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, tất cả cùng thống nhất với nhau ở khía cạnh : trọng tài không thể thoát ly khỏi sự kiểm soát của Nhà nước Nhà nước cần phải đóng một vai trò nhất định trong quá trình tố tụng trọng tài Vấn đề là Nhà nước sẽ tác động trọng tài đến đâu và liệu Nhà nước can thiệp một cách tích cực hay tiêu cực vào trọng tài Sự can thiệp của Nhà nước có thể tích cực nhưng cũng có thể tác động không tốt đến trọng tài Sự can thiệp đó sẽ

là tích cực nếu Nhà nước quan tâm đến kết quả trọng tài và can thiệp khi cần thiết

Trang 5

Luật Kinh tế

nhằm giúp các bên tham gia trọng tài đạt được mục đích trọng tài trên cơ sở công lý, công bằng Sự can thiệp đó có thể là không tích cực nếu nó nhằm chỉ để bảo vệ quyền lợi của một bên tham gia mà không công bằng đối với tất cả các bên Vai trò của Nhà nước là bảo đảm sự cân bằng giữa quyền lợi chung và quyền lợi riêng của các bên tham gia trọng tài Chính vì vậy, sự cần thiết phải duy trì “mối quan hệ lẫn nhau và năng động giữa mong muốn của các bên tham gia trọng tài và quyền lợi của

hệ thống pháp luật quốc gia trong việc bảo đảm công bằng cho quá trình trọng tài và quyền lợi to lớn của quốc gia” là mối quan tâm của Luật trọng tài ở tất cả các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Thực tế ở các nước cho thấy, sự hỗ trợ, can thiệp của Nhà nước trong quá trình tố tụng trọng tài được thể hiện thông qua tòa án, thông qua vai trò của tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài

Theo thông lệ và tập quán thương mại của nhiều nước trên thế giới và quốc

tế, xét về bản chất, trọng tài là một quá trình giải quyết tranh chấp dựa trên sự lựa chọn tự nguyện của các bên tranh chấp Bằng một Điều khoản trọng tài (trong hợp đồng kinh tế, thương mại) hay bằng một Thỏa thuận trọng tài (lập ra sau khi tranh chấp đã phát sinh), các bên tự nguyện đưa tranh chấp ra giải quyết bằng một cơ quan trọng tài (Ủy ban trọng tài hoặc trọng tài viên) do các bên lựa chọn Các bên tự thỏa thuận về phạm vi các tranh chấp mà trọng tài được quyền giải quyết, thỏa thuận về luật áp dụng (luật nội dung và các qui tắc tố tụng), thỏa thuận về tính chung thẩm và hiệu lực bắt buộc của phán quyết trọng tài đối với các bên tranh chấp,… Như vậy, thẩm quyền của cơ quan trọng tài bắt nguồn từ “quyền lực theo hợp đồng” hay

“quyền lực đại diện” do các bên tranh chấp giao phó, ủy nhiệm

Trong khi đó, Tòa án là người đại diện của quyền lực Nhà nước (quyền tư pháp) để xét xử theo pháp luật của Quốc gia các tranh chấp trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật cho phép Các bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực bắt buộc đối với mọi công dân, tổ chức có liên quan và được đảm bảo thi hành bằng sức

Trang 6

Luật Kinh tế

mạnh cưỡng chế của Nhà nước Chính sự khác biệt về nguồn gốc quyền lực của tòa

án và trọng tài như đã phân tích ở trên đã đặt ra ít nhất hai vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa hai loại cơ quan này trong việc đảm bảo hiệu quả của trong tài, đó

là :

 Trong quá trình tố tụng trọng tài, theo sự thỏa thuận của các bên tranh chấp, trọng tài có quyền ra các quyết định có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp nhưng lại không có quyền ra lệnh bắt buộc đối với bất kỳ bên thứ ba nào khác

có liên quan đến tranh chấp Chính sự hạn chế về quyền lực này nên không phải lúc nào trọng tài cũng có khả năng bảo đảm cho quá trình trọng tài diễn ra suôn sẻ, có hiệu quả (ví dụ: trọng tài không thể bắt buộc nhân chứng, giám định viên tham gia phiên họp xét xử của trọng tài nếu họ không tự nguyện,….) Sau khi có phán quyết của trọng tài về vụ tranh chấp, cho dù các bên đã thỏa thuận rằng phán quyết trọng tài là chung thẩm và có giá trị bắt buộc nhưng nếu một trong hai bên không tự nguyện thi hành thì trọng tài cũng không có quyền và nghĩa vụ cưỡng chế thi hành phán quyết hay quyết định do chính mình ban hành Trong những trường hợp như vậy, hiệu quả của việc thi hành phán quyết trọng tài sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào mức

độ hợp tác giữa tòa án và trọng tài, trong đó tòa án với quyền lực Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, giúp đỡ trọng tài khi cần thiết

 Trong quá trình tố tụng trọng tài, trọng tài chỉ có thể hoạt động trong phạm vi thẩm quyền do các bên giao phó, cụ thể là trọng tài chỉ được giải quyết một

số loại tranh chấp nhất định và theo cách thức nhất định do các bên lựa chọn và thỏa thuận trong điều khoản trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài Nếu trọng tài vượt quá thẩm quyền được ủy nhiệm hoặc không tuân thủ các nguyên tắc tố tụng trong thỏa thuận trọng tài, không thực hiện đầy đủ, đúng đắn, khách quan, vô tư, công bằng trách nhiệm được các bên giao phó thì theo nguyên tắc đại diện, các quyết định của trọng tài sẽ có thể bị chính các bên tranh chấp yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm

Trang 7

Luật Kinh tế

quyền xem xét, hủy bỏ, không công nhận và không cho thi hành để bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của họ và để thực thi công lý Như vậy, cũng như đối với mọi

“quyền lực hợp đồng” hay “quyền lực đại diện” khác, ở đây cần có một cơ chế kiểm tra, giám sát của quyền lực Nhà nước đối với trọng tài để bảo đảm cho trọng tài ngay

từ khi bắt đầu thành lập và trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp sẽ không vượt quá thẩm quyền được giao, sẽ thực hiện đúng đắn, vô tư, khách quan, trung lập các trách nhiệm của mình, do đó hiệu lực của các quyết định trọng tài cũng sẽ được bảo đảm, hiệu quả trọng tài được nâng cao Đa số các quốc gia đều quy định tòa án chính

là cơ quan đại diện cho quyền lực Nhà nước để thực hiện việc giám sát đối với trọng tài

Có thể nói, mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài trong quá trình tố tụng trọng tài chính là thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ và giám sát quá trình tố tụng trọng tài Nội dung của mối quan hệ này luôn được công nhận và quy định ở trong luật về trọng tài ở tất cả các nước trên thế giới, mặc dù có thể khác nhau ở góc

độ này hoặc góc độ khác Bên cạnh đó, trong khi xử lý mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài cần phải đảm bảo hai yêu cầu đặt ra là vừa phòng ngừa, hạn chế sự can thiệp không cần thiết của tòa án vào quá trình trọng tài, vừa bảo đảm được vai trò hỗ trợ và kiểm tra giám sát cần thiết của tòa án để nâng cao hiệu quả của tố tụng trọng tài Tùy theo điều kiện, truyền thống pháp luật, các học thuyết và quan điểm pháp lý

về tố tụng trọng tài ở từng quốc gia mà quan hệ giữa tòa án và trọng tài được thể chế hóa ở những mức độ khác nhau tại những văn bản khác nhau nhưng thông thường là trong luật trọng tài, luật tố tụng dân sự hoặc tố tụng thương mại của từng nước và trong các điều ước quốc tế về trọng tài

Trang 8

Luật Kinh tế

3 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong phương thức Trọng tài thương mại

Đây là nguyên tắc cốt lõi của toàn bộ quá trình Trọng tài vì thực chất sự hình thành Trọng tài là do ý chí tự nguyện của các bên đương sự

Khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định “ Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận Trọng tài Thoả thuận Trọng tài

có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Nguyên tắc này cũng được Uỷ ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc ghi nhận tại Luật mẫu về Trọng tài thương mại

Các nhà lập pháp xác định rằng tố tụng Trọng tài chỉ phát sinh khi các bên đã

có cam kết về phương thức giải quyết khi tranh chấp phát sinh Cam kết này phải được lập bằng văn bản, tồn tại trong chính hợp đồng hoặc độc lập với bản hợp đồng

Các bên tranh chấp có địa vị pháp lý như nhau, và bình đẳng với nhau trong hoạt động tố tụng Đây lầ cơ sở quan trọng và là tiền đề giúp cho việc tranh chấp có khả năng thành công và phán quyết của Trọng tài dễ dàng được các bên tự nguyện thi hành

Trang 9

Luật Kinh tế

tranh chấp

Sự độc lập là vô cùng quan trọng và mang tính quyết định đến việc giải quyết

và đưa ra một phán quyết khách quan cho vụ tranh chấp

4 Tranh chấp kinh doanh do Trọng tài thương mại giải quyết

Theo Luật Trọng tài thương mại 2010, Trọng tài thương mại có quyền giải quyết các loại tranh chấp bao gồm:

Theo UNCITRAL hoạt động thương mại bao gồm cung ứng hàng hoá, dịch vụ,phân phối, đại diện, đại lý, thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, li-xăng, đầu tư, liên doanh, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ

Hoạt động thương mại theo Luật thương mại 2005 của Việt Nam ghi nhận là hoạt động nhằm mục định sinh lợi, bao gồm mua hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác

Trang 10

Luật Kinh tế

Đây là quy định mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại Cụ thể về việc căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ kinh doanh

Quy định này mở rộng thẩm quyền hơn cho Trọng tài thương mại Việt Nam khi chỉ cần “ít nhất một bên có hoạt động thương mại” trong giải quyết tranh chấp

quyết bằng Trọng tài thương mại

Pháp luật Việt Nam đã dần bổ sung phương thức Trọng tài thương mại như là phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản trên một số lĩnh vực nhất định như lĩnh vực đầu tư nhằm đa dạng hoa khả năng lựa chọn của các bên tranh chấp

5 Trình tự, thủ tục tố tụng tại Trọng tài thương mại

Tố tụng Trọng tài gồm các bước cơ bản sau đây:

Tố tụng Trọng tài bắt đầu hoạt động kể từ khi Trung tâm Trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn (nếu vụ việc do Trung tâm Trọng tài giải quyết), hoặc

kể từ khi bị đơn nhận được đơn khởi kiện (nếu Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập giải quyết)

Nội dung chủ yếu của đơn kiện bao gồm:

 Ngày tháng năm viết đơn

 Tên và địa chỉ của các bên

 Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp

 Các yêu cầu của nguyên đơn

Trang 11

Luật Kinh tế

 Trị giá tài sản mà nguyên đơn yêu cầu

 Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài mà nguyên đơn chọn Kèm theo đơn kiện nguyên đơn phải gửi bản chính hoặc bản sao thoả thuận Trọng tài, các tài liệu, chứng cứ Bản sao phải được chứng thực hợp lệ

Đơn kiện phải được gửi cho Hội đồng Trọng tài, đồng thời gửi cho nguyên đơn trước ngày mở phiên họp của Hội Đồng Trọng tài giải quyết đơn kiện của nguyên đơn

Việc khởi kiện của nguyên đơn phải thoả mãn thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 33 Luật Trọng tài thương mại 2012 với thời hạn là hai năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm

Trong thời hạn năm ngày kể từ khi nhận được đơn kiện, Trung tâm Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu đi kèm

Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo của nguyên đơn do Trung tâm Trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho Trung tâm Trọng tài bản tự vệ kèm theo( nếu không có thoả thuận khác) Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, trong thời hạn 30 ngày

kể từ khi nhận được đơn kiện và các tài liệu đi kèm của nguyên đơn thì bị đơn phải gửi cho nguyên đơn Bản tự vệ và tên Trọng tài viên mà mình chọn( trong trường hợp không có thoả thuận nào khác)

Bản tự vệ phải gồm có những nội dung chính sau đây:

 Ngày tháng năm viết bản tự vệ

 Tên và địa chỉ của bị đơn

 Lý lẽ và chứng cứ để tự bảo vệ trong đó bao gồm việc một phần hoặc toàn

bộ nội dung đơn kiện của nguyên đơn

Trang 12

Luật Kinh tế

Nếu bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài, không có thoả thuận Trọng tài hoặc thoả thuận Trọng tài vô hiệu thì có quyền nêu ra trong Bản tự vệ

Trong quá trình tố tụng Trọng tài, các bên có thể tự hoà giải, nếu hoà giải thành thì Hội đồng Trọng tài đình chỉ tố tụng

Các bên cũng có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài hoà giải, nếu hoà giải thành thì Hội đồng Trọng tài lập biên bản và ra quyết định công nhận hoà giải thành

Quyết định công nhận hoà giải thành của Trọng tài là chung thẩm và được thi hành theo Điều 58, Luật Trọng tài thương mại

Thời gian mở phiên hợp tranh chấp do Hội đồng Trọng tài quyết định và diễn

ra không công khai (nếu không có thoả thuận khác)

Các bên có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham gia dự phiên họp các bên có quyền mời nhân chứng, luật sư bảo vệ

Trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập nhưng không tham gia phiên họp

mà không được hội đồng Trọng tài đồng ý thì được coi là đã rút đơn kiện

Trường hợp bị đơn vắng mặt không có lý do hoặc bỏ phiên họ mà không có

sự đồng ý của Hội đồng Trọng tài thì Hội đồng Trọng tài vẫn tiến hành giải quyết vụ tranh chấp căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có

Ngoài ra trong trường hợp các bên yêu cầu, Hội đồng Trọng tài có thể căn cứ

và hồ sơ để giải quyết vụ tranh chấp mà không cần các bên có mặt

Phán quyết Trọng tài của Hội đồng Trọng tài được lập theo nguyên tắc đa số, trừ trường hợp vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất giải quyết

Phán quyết Trọng tài có nội dung chủ yếu sau đây:

Trang 13

Luật Kinh tế

 Ngày, tháng, năm và địa điểm diễn ra phán quyết Trọng tài Trong trường hợp giải quyết vụ tranh chấp do Trung tâm Trọng tài tổ chức thì phán quyết Trọng tài phải có tên Trung tâm Trọng tài

 Tên và địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn

 Tóm tắt đơn kiện và những vấn đề tranh chấp

 Cơ sở để ra phán quyết Trọng tài

 Quyết định về vụ tranh chấp, quyết định về phí Trọng tài và các chi phí khác

 Thời hạn thi hành phán quyết Trọng tài

 Chữ ký của các Trọng tài viên hoặc Trọng tài viên duy nhất

Phán quyết Trọng tài có hiệu lực kể từ ngày công bố

6 Vấn đề thi hành

 Thi hành phán quyết Trọng tài

Điều 66 Luật Trọng tài thương mại quy định sau thời hạn thi hành phán quyết Trọng tài mà bên phải thi hành không tự nguyện thi hành cũng không yêu cầu huỷ phán quyết Trọng tài theo quy định tại Luật Trọng tài thương mại, thì bên thi hành phán quyết Trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có

Bước 1: Gửi đơn kiện Bước 2: Hoà giải

Bước 3: Mở phiên họp giải quyết tranh chấp

Bước 4: Ra phán quyết Trọng tài

Ngày đăng: 06/03/2015, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w