Các doanh nghiệp muốn đạt được hiệu quả kinh doanh cao thì cần thiết phải xây dựng cho mình một kế hoạch sản xuất kinh doanh rõ ràng chi tiết khả thi, đồng thời phải có kế hoạch về các n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Th.S TRẦN THU THỦY
Hà Tĩnh, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Quản trị kinh doanh Lớp: K1B-QTKD Khóa: 2008-2012
Người hướng dẫn khoa học:
ThS TRẦN THU THỦY
Hà Tĩnh, 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả và số liệu trong khóa luận chưa được ai công bố dưới hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Tĩnh, ngày 12 tháng 06 năm 2012
Tác giả:
Nguyễn Thị Trang
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty 26
Bảng 2.2: Tổng hợp và so sánh kết quả dự thầu qua các năm của công ty 28
Bảng 2.3: Bảng phân tích tình hình nguồn vốn trong 2 năm 2010-2011 30
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu về tài sản của công ty 32
Bảng 2.5: Năng lực máy móc thiết bị nhà thầu của công ty 33
Bảng 2.6: Tình hình lao động của công ty giai đoạn 2009-2011 42
Bảng 2.7: Số lượng các công trình trúng thầu qua các năm 43
Bảng 2.8: Giá trị các công trình giai đoạn 2009-2011 44
Bảng 2.9: Thị phần chiếm lĩnh của các công ty trên địa bàn Hà Tĩnh 46
Bảng 2.10 Mô hình SWOT 50
CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty 23
Biểu đồ 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty 27
Biểu đồ 2.2: Thị trường của công ty 45
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới như hiện nay sự cạnh tranh là vô cùng gay gắt quyết liệt Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trên thương trường tất yếu phải cạnh tranh thắng lợi trước các doanh nghiệp khác bằng việc bảo đảm hiệu quả sản xuất kinh doanh cao Các doanh nghiệp muốn đạt được hiệu quả kinh doanh cao thì cần thiết phải xây dựng cho mình một kế hoạch sản xuất kinh doanh rõ ràng chi tiết khả thi, đồng thời phải có kế hoạch về các nguồn lực như: vốn, công nghệ, đất đai nhà xưởng, máy móc thiết bị, lao động…
Hiện nay, cùng với chủ trương luật hoá hoạt động đấu thầu thì phương thức đấu thầu đã trở thành một phương thức cạnh tranh đặc thù của các doanh nghiệp xây dựng Bên cạnh đó, do đặc trưng của ngành, quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng lại được bắt đầu bằng hoạt động tiêu thụ thông qua việc kí kết hợp đồng xây dựng Chính vì vậy, tất cả sự phát triển của doanh nghiệp xây dựng giờ đang đều phụ thuộc vào khả năng thắng thầu và hợp đồng bao thầu xây dựng các công trình
Tuy nhiên, ở nước ta, hoạt động đấu thầu nhìn chung mới chỉ tiến hành ở một
vài năm trở lại đây và chưa hoàn chỉnh về nhiều mặt Cùng với điều này, nhiều doanh nghiệp xây dựng cũng đang phải tự điều chỉnh để tiến tới thích ứng ho àn toàn với phương thức cạnh tranh mới Vì thế, công tác đấu thầu tại các doanh nghiệp này không tránh khỏi bất cập và gặp những khó khăn dẫn đến hiệu quả không cao, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, việc làm của người lao động cũng như tình hình sản xuất chung của đơn vị
Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh, tôi nhận thấy vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh trong công tác đấu thầu xây dựng là một vấn đề thực sự bức xúc trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Với mong muốn được góp phần giải quyết yêu cầu đó, tôi
mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu đề tài "Một số giải pháp nhằm tăng
khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần tư vấn
và xây dựng Hà Tĩnh" để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 7o Đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty CP tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh
o Hệ thống hóa những vấn đề chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
o Đề tài nhằm làm rõ và đánh gía năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của công ty trong thời gian qua
o Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty trong đấu thầu xây dựng
o Đề xuất các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong công
tác đấu thầu xây dựng của Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
o Về đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những đặc điểm cạnh tranh trên thị trường của công ty trong công tác đấu thầu
o Về thời gian nghiên cứu: Phân tích thực trạng hoạt động của doanh nghiệp trong giai đoạn 2009- 2011 và phương hướng hoạt động trong 5 năm tới tại Công ty CP tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh
o Các số liệu phân tích sử dụng trong đề tài được thu thập trong vòng 3 năm qua của công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
o Phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu…
o Phương pháp phân tích: Phương pháp đồ thị, phương pháp chỉ số, phương pháp phân tích ma trận SWOT
Trang 8Chương 2:Thực trạng khả năng cạnh tranh tại Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong đấu thầu
xây dựng tại Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh
Vì thời gian thực tập và kiến thức của tôi còn hạn chế cho nên không tránh khỏi những thiếu sót Do vậy tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh cũng như Ban lãnh đạo cùng các cán bộ nhân viên trong Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Trang 9CHƯƠNG 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH
VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
1.1 Tổng quan về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh một loại hàng hoá nào đó trên thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh Đây là một điều tất yếu và
là đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị trường Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá
Hiểu theo nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế trong việc giành giật thị trường, khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành
về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường Cạnh tranh là một điều tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không ngừng tiến bộ để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả cao nhất nhằm thu lợi nhuận tối đa, kết quả cạnh tranh sẽ loại bỏ được các doanh nghiệp yếu kém và giúp phát triển các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị trường thì cuãng là lúc cạnh tranh và quy luật cạnh tranh được thừa nhận, vai trò của cạnh tranh ngày càng được thể hiện rõ nét hơn Cụ thể:
- Đối với doanh nghiệp
Các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh dịch vụ khi tham gia thị trường bắt buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh Cạnh tranh có thể coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà doanh nghiệp không thể lẫn tránh và phải tìm mọi cách để vươn lên, chiếm ưu thế Như vậy cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng, của thị trường Cạnh tranh
Trang 10gây nên sức ép đối với các doanh nghiệp qua đó làm cho các doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả hơn
- Đối với người tiêu dùng
Nhờ có cạnh tranh, người tiêu dùng nhận được dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú hơn Chất lượng dịch vụ được nâng cao trong khi đó chi phí bỏ ra ngày càng thấp hơn Cạnh tranh cũng làm quyền lợi người tiêu dùng được tôn trọng và quan tâm tới
nhiều hơn
- Đối với nền kinh tế xã hội
Đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội cạnh tranh có vai trò rất lớn
+ Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội
+ Cạnh tranh tạo ra sự đổi mới, mang lại sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn, giúp xoá bỏ các độc quyền một cách bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh
+ Cạnh tranh giúp tăng tính chủ động sáng tạo của các doanh nghiệp, tạo ra các doanh nghiệp mạnh hơn, một đội ngũ làm kinh doanh giỏi, chân chính
+ Cạnh tranh còn là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lý giữa các loại lợi ích doang nghiệp, người tiêu dùng và toàn xã hội
1.1.3 Các loại hình cạnh tranh
Cạnh tranh được phân loại theo các hình thức khác nhau:
1.1.3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia nền kinh tế:
Cạnh tranh được chia làm 3 loại:
Cạnh tranh giữa người bán và người mua: là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả 2 bên đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình Người bán muốn bán với giá cao nhất còn người mua muốn mua với giá thấp nhất nhưng chất lượng phải được đảm bảo và mức giá cuối cùng cũng là mức giá thỏa thuận giữa 2 bên
Cạnh tranh giữa người mua với người mua: Là cuộc cạnh tranh được dựa trên cơ
sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu hàng hóa trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua để đạt được nhu cầu mong muốn của mình họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa
Trang 11những người mua, kết quả là giá cả hàng hóa sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt thòi về cả giá cả và chất lượng
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc chiến tranh gay go và ác liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu rất nhiều, khách hàng được coi là thượng đế của người bán, là nhân tố có vai trò quyết định sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp Do vậy doanh nghiệp phải luôn ganh đua và loại trừ nhau để giành ưu thế và lợi thế cho mình
Cuộc canh tranh này diễn ra ở các góc độ: giá cả, chất lượng, hình thức, nghệ thuật
tổ chức bán hàng, thời gian…
Kết quả cuộc cạnh tranh này là kẻ mạnh (cả về khả năng vật chất và trình độ chuyên môn) sẽ là người chiến thắng còn những doanh nghiệp nào không có đủ tiềm lực sẽ bị thua cuộc và bị loại bỏ ra khỏi thị trường
1.1.3.2 Căn cứ theo tính chất mức độ cạnh tranh
Theo tiêu thứ này cạnh tranh được chia làm 2 loại:
Cạnh tranh hoàn hảo: hay còn gọi là cạnh tranh thuần tuý, là hình thức cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hoá là không đổi trong toàn bộ một địa danh của thị trường; các yếu tố sản xuất được tự do luân chuyển từ ngành này sang ngành khác, chi phí vận tải không đáng kể và không đề cập tới
Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn doanh nghiêp nhỏ sản xuất một mặt hàng y hệt nhau và sản lượng từng doanh nghiệp quy mô nhỏ không thể tác động đến giá cả thị trường Cạnh tranh hoàn hảo muốn tồn tại phải có các điều kiện :
+ Tất cả các hãng kinh doanh trong ngành đó có quy mô tương đối nhỏ
+ Số lượng các hãng kinh doanh trong các ngành đó phải rất nhiều
Trong điều kiện như vậy không có Công ty nào có đủ sức mạnh để có thể ảnh hưởng đến giá cả của các sản phẩm của mình trên thị trường Sản phẩm của hãng đưa
ra trên thị trường giống nhau tới mức cả người sản xuất và người tiêu dùng cũng khó phân biệt
Cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực để có thể chi phối giá cả các sản
Trang 12phẩm của mình trên thị trường Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính chất độc quyền
+ Độc quyền nhóm, tồn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất hoặc một số ít người bán sản phẩm Sự thay đổi về giá của một doanh nghiệp gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu đối với sản phẩm của các doanh nghiệp khác và ngược lại Ở các nước phát triển các ngành công nghiệp có độc quyền nhóm là những ngành như sản xuất ô tô, cao su, chế biến thép
+ Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thức cạnh tranh mà ở đó những người bán
có thể ảnh hưởng đến những người mua bằng sự khác nhau của các sản phẩm mà mình sản xuất ra về hình dáng, kích thước, chất lượng và nhãn hiệu
1.1.3.3 Căn cứ vào phạm vi kinh tế:
Cạnh tranh nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất, tiêu dùng chung một chủng loại sản phẩm Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp thậm chí còn có thể
bị phá sản
Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khác nhau nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác Như vậy giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khác nhau như môi trường kinh doanh, thu nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu có tính chất khác nhau nên cùng một lượng vốn đầu tư vào ngành này sẽ thu được lợi nhuận cao hơn các ngành khác Điều đó dẫn đến tình trạng nhiều người sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuân thấp có xu hướng chuyển sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các ngành Kết quả là những ngành trước kia
Trang 13có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy mô sản xuất tăng Dẫn tới cung vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hóa có xu hướng giảm xuống, làm giảm tỷ suất lợi
nhuận và ngược lại
1.2 Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
1.2.1 Khái niệm khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Hiện nay một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị trường và ngày càng được mở rộng thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất bằng tỉ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
Theo đó cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng được hiểu như sau: Theo nghĩa hẹp: “ Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là quá trình các doanh nghiệp xây dựng ganh đua nhau đưa ra các giải pháp về kỹ thuật, tài chính, tiến độ thi công để xây dựng công trình thỏa mãn một cách tối ưu các yêu cầu của bên mời thầu” Theo nghĩa rộng: “ Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự phấn đấu gay gắt giữa các doanh nghiệp xây dựng kể từ khi bắt đầu tìm kiếm thông tin, đưa ra các giải pháp đấu thầu bảo đảm trúng thầu và thực hiện hoạt động cho tới khi hoàn thành công trình và bàn giao theo yêu cầu của chủ đầu tư”
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là toàn bộ năng lực về tài chính, thiết
bị, công nghệ, marketing, tổ chức quản lý mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tạo ra các lợi thế của mình so với doanh nghiệp khác Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng không chỉ là lợi thế về sản phẩm (chất lượng, giá cả) mà còn cả lợi thế nguồn lực dể đảm bảo sản xuất ra sản phẩm đó (tài chính, công nghệ, nhân lực) Để tồn tại và phát triển bền vững không ngừng phải nâng cao nội lực của doanh nghiệp nhằm tạo ưu thế về mọi mặt như chất lượng công trình, tiến độ thi công, giá cả, biện pháp thi công… so với các đối thủ
1.2.2 Phương thức cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Để đánh giá cho điểm và lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư căn cứ vào một số chỉ tiêu nhà thầu sau: Kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu, tài chính, tiến độ thi công, giá dự thầu Các phương thức cạnh tranh trọng tâm trong đấu thầu xây dựng:
Trang 14 Phương thức 1: Cạnh tranh bằng giá dự thầu
Trong xây dựng, chỉ tiêu giá bỏ thầu đóng một vai trò rất quan trọng quyết định việc doanh nghiệp có trúng thầu hay không Nếu xây dựng mức giá bỏ thầu tốt đảm bảo được hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp vừa đảm bảo được khả năng trúng thầu cao Chất lượng của việc xây dựng mức giá bỏ thầu liên quan tới rất nhiều yếu tố nó tổng hợp các phẩm chất của doanh nghiệp xây dựng như: trình độ tổ chức quản lý doanh nghiệp, kỹ thuật thi công, khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến, phẩm chất kinh doanh của doanh nghiệp…
Để giá dự thầu của doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh đòi hỏi phải có chính sách về giá một cách linh hoạt dựa trên cơ sở: năng lực thực sự của doanh nghiệp, mục tiêu tham gia đấu thầu, quy mô, đặc điểm của dự án, địa điểm dự án, phong tục tập quán của địa phương nơi dự án được thi công
Việc xây dựng giá dự thầu phụ thuộc vào mục tiêu đấu thầu của nhà thầu như kiếm lợi nhuận, công ăn việc làm hay mở ra thị trường mới Mỗi nhà thầu xây dựng một mức giá khác nhau với mục tiêu đạt được khác nhau Tùy theo từng công trình cụ thể, tiềm lực nguồn lao động, khả năng về vốn, thiết bị máy móc… mục tiêu đấu thầu có chính sách định giá khác nhau trong việc quyết định giá bỏ thầu
Phương thức 2: Cạnh tranh bằng chất lượng công trình
Chất lượng công trình là tập hợp tất cả các thuộc tính của công trình trong điều kiện nhát định về kinh tế kỹ thuật Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiều mặt khác nhau về cơ, lý, hóa của công trình mà chủ đầu tư đặt ra Doanh nghiệp phải luôn giữ vững và nâng cao chất lượng công trình Đó là điều không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn giành được thắng lợi trong cạnh tranh Do vậy chất lượng công trình là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp xây dựng Nâng cao chất lượng công trình có ý nghĩa quan trọng nó thể hiện ở các giác độ:
- Chất lượng công trình tăng lên sẽ góp phần tăng uy tín của doanh nghiệp, năng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường
Trang 15- Nâng cao chất lượng công trình góp phần nâng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra Trong phương thức cạnh tranh bằng chất lượng công trình các nhà thầu xây dựng không chỉ cạnh tranh bằng chất lượng thực hiện cam kết của công trình đang được đấu thầu xây dựng mà còn cạnh tranh với nhau qua chất lượng xây dựng của các công trình
đã và đang được xây dựng
Chất lượng là yếu tố chủ yếu của mỗi loại sản phẩm sản xuất ra, chất lượng của sản phẩm là một công trình xây dựng lại càng quan trọng cũng chính vì vậy chất lượng công trình là một công cụ mạnh để cạnh tranh trong đấu thầu xâu dựng
Phương thức 3: Cạnh tranh bằng tiến độ thi công
Tiến độ thi công thể hiện ở việc bố trí tổng thể của doanh nghiệp trong công tác thi công công trình Chịu sự ảnh hưởng về sự cam kết đối với chất lượng, an toàn lao động, thời hạn bàn giao công trình Thông qua tiến độ thi công của các công trình đã
và đang thi công chủ đầu tư có thể đánh giá nhà thầu về khía cạnh trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật thi công và năng lực máy móc thiết bị, nhân lực… của nhà thầu
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu xây dựng
1.3.1 Chỉ tiêu số lượng công trình trúng thầu và giá trị trúng thầu hàng năm
Giá trị trúng thầu hàng năm là tổng giá trị của tất cả các công trình mà doanh nghiệp
xây dựng đã tham gia đấu thầu và trúng thầu trong năm (kể cả gói thầu của hạng mục công trình)
Chỉ tiêu giá trị trúng thầu và số công trình trúng thầu qua các năm cho ta biết một cách khái quát nhất tình hình kết quả dự thầu của các doanh nghiệp xây dựng Thông qua đó để đánh giá chất lượng thực hiện công tác dự thầu trong năm Xem xét chỉ tiêu
này ta có thể lập bảng sau:
Công trình trúng thầu Mức tăng trưởng(%)
Năm Số lượng Giá trị Số Lượng Giá trị
Giá trị trung bình một công trình trúng thầu
Trang 16Về việc xem xét theo từng cột: Cột 1 và cột 2 cho biết qui mô trúng thầu hàng năm: cột 3 và cột 4 cho biết mức tăng trưởng qua từng năm được tính toán bằng việc so sánh qui mô của năm sau với năm trước: cột 5 cho biết qui mô giá tri bình quân một công trình trúng thầu biểu hiện khả năng của doanh nghiệp có thể tham gia đấu thầu và trúng thầu các công trình có qui mô lớn hay nhỏ
Chỉ tiêu này cho biết một cách khái quát kết quả dự thầu của doanh nghiệp Qua đó
có thể đánh giá được chất lượng, hiệu quả của công tác dự thầu trong năm và biết quy
mô của các công trình mà doanh nghiệp đã trúng thầu Từ đó thấy được khả năng, tiềm lực của doanh nghiệp
1.3.2 Chỉ tiêu xác suất trúng thầu
Xác suất trúng thầu trong đấu thầu xây dựng là những công trình mà công ty tham
gia dự thầu sẽ có bao nhiêu công trình công ty thắng thầu nó được biểu hiện dưới 2 mặt đó là số lượng và giá trị các công trình
Chỉ tiêu xác suất trúng thầu được xác định theo hai mặt biểu hiện là:
+ Xác suất trúng thầu theo số hợp đồng công trình
Trang 17Các chỉ tiêu này cũng được đánh giá theo từng năm Trên thực tế hai chỉ tiêu này không bằng nhau do giá trị các công trình đấu thầu khác nhau Việc đánh giá cần căn
cứ vào từng kết quả cụ thể
1.3.3 Chỉ tiêu thị phần và uy tín của doanh nghiệp xây dựng trên thị trường xây dựng
Do đấu thầu là một hình thức cạnh tranh đặc thù của các doanh nghiệp xây dựng nên chất lượng của công tác dự thầu xét cho đến cùng cũng là một trong các biểu hiện chủ yếu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Mặt khác, khả năng cạnh tranh lại được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu tổng quát là thị phần và uy tín của doanh nghiệp Chỉ tiêu thị phần cũng được đo bằng hai mặt biểu hiện đó là phần thị trường tuyệt đối và thị trường tương đối
Giá trị SLXD do Doanh nghiệp thực hiện
* Phần thị trường tuyệt đối =
Tổng giá trị SLXD thực hiện của toàn ngành
* Phần thị trường tương đối của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở so sánh phần thị trường tuyệt đối của doanh với phần thị trường tuyệt đối của một hoặc một số đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Sự thay đổi của chỉ tiêu thị phần qua các năm cũng sẽ cho phép đánh giá chất lượng của công tác dự thầu trong doanh nghiệp
Đối với chỉ tiêu uy tín của doanh nghiệp, đây là chỉ tiêu định tính mang tính chất
bao trùm Nó liên quan tới tất cả các chỉ tiêu nêu trên và nhiều yếu tố khác như: chất lượng xây lắp, hoạt động Marketing, quan hệ của doanh nghiệp với các tổ chức khác
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp
1.4.1 Nhóm các nhân tố bên trong
1.4.1.1 Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Con người cung cấp dữ liệu đầu vào để hoạch định mục tiêu, phân tích môi trường, lựa chọn, thực hiện và kiểm tra chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Cho dù các quan điểm của hệ thống chiến lược tổng quát có đúng đắn đến mức độ nào
đi chăng nữa thì cũng không thể mang lại hiệu quả nếu không có những con người làm việc có hiệu quả
Trang 18Đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ của bộ máy quản lý từ Giám đốc doanh nghiệp đến cán bộ kỹ thuật, trình độ tay nghề và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo sẽ quyết định đến phương thức làm việc trong công ty, cách bố trí các công việc và nhân công như thế nào sao cho phù hợp… điều này có ảnh hưởng tới tiến độ thi công các công trình, chất lượng của mỗi công trình từ đó năng cao hay làm giảm uy tín của doanh nghiệp và ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của Công ty
* Cán bộ điều hành và quản lý kỹ thuật:
Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả đòi hỏi cán bộ điều hành và cán bộ quản
lý kỹ thuật phải có những phẩm chất sau:
- Hiểu rõ ý đồ của cấp trên để tự giác thực hiện nghiêm túc nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra
- Năng động, sáng tạo trong điều hành thiết kế tổ chức thi công đã vạch ra
- Có kinh nghiệm quản lý, điều hành thi công, nắm vững kỹ thuật
Cơ cấu về các chuyên ngành đào tạo phân theo trình độ sẽ cho biết khả năng chuyên môn hóa cũng như đa dạng hóa của doanh nghiệp Thông thường cơ cấu cán bộ quản
lý, cán bộ kỹ thuật công nhân lành nghề có chuyên môn về lĩnh vực tài chính mà
Trang 19doanh nghiệp đang kinh doanh phải chiếm ít nhất 60%, bởi điều này liên quan đến chất lượng và kỹ thuật công trình
* Cán bộ quản lý trung gian, đốc công, công nhân:
Đây là đội ngũ lao động trực tiếp tạo ra sức cạnh tranh tổng hợp của doanh nghiệp trên các khía cạnh: chất lượng công trình, tiến độ thi công công trình Người phụ trách đơn vị phải có trình độ quản lý (tổ chức điều phối lao động và thiết bị hợp lý, tránh lãng phí nhằm hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuận nhưng phải đảm bảo chất lượng), am hiểu sâu rộng
về công việc mà đơn vị đang thực hiện, biết chăm lo đến quyền lợi cho người lao động…
Có như vậy mới tạo ra được sự ủng hộ, lòng nhiệt thành từ phía người lao động
Số lượng các công nhân thực hiện thi công công trình cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của công ty có thể đảm bảo hay không tiến độ thi công công trình, chất lượng ra sao Vì công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cho nên số lượng công nhân là không thể ổn định vì vậy tùy thuộc vào quy mô và tính chất của công trình để có cơ cấu chính sách phù hợp
1.4.1.2 Năng lực máy móc thiết bị, công nghệ thi công
Máy móc thiết bị là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanh nghiệp xây dựng, nó đại diện cho trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất hiện có của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
Mức độ cơ giới hóa được chủ đầu tư đánh giá cao bởi nó liên quan nhiều đến chất lượng và tiến độ thi công Khả năng cạnh tranh về máy móc thiết bị và công nghệ thể hiện thông qua các đặc tính sau:
- Tính hiện đại của thiết bị công nghệ biểu hiện ở các thông số như sau: hãng sản xuất, năm sản xuất, công suất, giá trị còn lại… của máy móc thiết bị
- Tính đồng bộ: thiết bị hoạt động tốt nhất phải đảm bảo sự phù hợp giữa thiết bị công nghệ với điều kiện địa lý, khí hậu, thủy văn, phương pháp sản xuất và sự phù hợp giữa chất lượng, độ phức tạp của sản phẩm với giá cả của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra
- Tính hiệu quả: thể hiện về trình độ sử dụng máy móc, thiết bị của doanh nghiệp, từ
đó tác động dến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng huy động tối đa nguồn lực vật chất sẵn có, phục vụ cho mục đích cạnh tranh
Trang 20- Tính đổi mới: là một trong những yếu tố tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực máy móc thiết bị và trình độ công nghệ ảnh hưởng rất nhiều đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp Yếu tố kỹ thuật quyết định việc lựa chọn, bố trí con người và thiết bị một cách hài hòa nhằm đạt được tiêu chuẩn về chất lượng rút ngắn tiến độ thi công công trình, tiết kiệm chi phí xây dựng, hạ giá thành công trình và tăng lợi thế cạnh tranh
1.4.1.3 Năng lực tài chính:
Năng lực tài chính thể hiện ở quy mô nguồn vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn khác cho sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó Mặt khác để đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp cần xem xét giữa vốn cố định
và vốn lưu động với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng
Với khả năng tài chính dồi dào, doanh nghiệp có thể tham gia đấu thầu nhiều công trình khác nhau, có nhiều cơ hội để đầu tư trang thiết bị kỹ thuật nhằm đáp ứng kịp thời quy trình công nghệ hiện đại Đồng thời sẽ tạo được niềm tin đối với các tổ chức tín dụng và các nhà cung cấp vật tư hàng hóa
Năng lực về tài chính mạnh sẽ tác động tích cực đến quá trình đấu thầu:
- Trước hết nó giúp doanh nghiệp có thể thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong điều kiện giới hạn về vốn
- Thứ hai, nó tạo niềm tin nơi chủ đầu tư về khả năng quản lý hiệu quả đồng vốn được giao
- Thứ ba, hiệu quả sử dụng nguồn vốn kinh doanh là yếu tố quyết định tới khả năng huy động nguồn vốn từ bên ngoài cho qúa trình kinh doanh của doanh nghiệp
Thực tế cho thấy trong đấu thầu quốc tế, nếu xem xét trên phương diện tài chính thì các doanh nghiệp trong nước thường mất ưu thế so với các doanh nghiệp nước ngoài Nguyên nhân là do bản thân các doanh nghiệp trong nước có quy mô không lớn, công tác tổ chức quản lý kinh tế không hiệu quả, tình trạng nợ chồng chéo phổ biến, tạo ra sự mất cân đối về vốn cho doanh nghiệp
Trang 211.4.1.4 Hoạt động Marketing
Hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp xây dựng không giống như các doanh nghiệp khác là đưa sản phẩm ra thị trường cho khách hàng mua Ngược lại, doanh nghiệp xây dựng phải dựa vào danh tiếng để khiến cho khách hàng tìm đến và yêu cầu sản xuất sản phẩm cần thiết Do vậy, danh tiếng là nhân tố quyết định đến ưu thế cạnh tranh của từng doanh nghiệp xây dựng
Danh tiếng, thành tích của doanh nghiệp có tác dụng rất lớn đến khả năng trúng thầu dự án, bởi các chủ đầu tư xây dựng những công trình luôn quan tâm tới chất lượng và tiến độ công trình Do vậy, hoạt động quảng cáo sẽ tạo ra hình ảnh tốt đẹp giúp doanh nghiệp mở rộng và khẳng định phạm vi ảnh hưởng của mình đến sự lựa chọn của các chủ đầu tư
Nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thì công ty phải gây dựng được uy tín, niềm tin đối với khách hàng, nắm bắt các yêu cầu của thị trường từ đó xây dựng chiến lược cạnh tranh phù hợp tạo ra lợi thế cạnh tranh cho công ty khi tham gia thị trường
Để thực hiện tốt các chức năng của Marketing là điều tra, nghiên cứu, phân tích nhu cầu thị trường, hoạch định chiến lược cạnh tranh cho phù hợp thì công ty cần tập trung một số nội dung sau:
Thu thập và tổng hợp thông tin về thị trường xây dựng căn cứ vào kế hoạch xây dựng của nhà nước, ban ngành địa phương và căn cứ vào nhu cầu xây dựng của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt chú ý đến các dự án sắp được tiến hành Trên cơ sở đó phân loại, đánh giá để xác định công trình phù hợp với năng lực của công ty và có những biện pháp điều chỉnh, bổ sung kịp thời các yếu tố nguồn lực cho phù hợp với đòi hỏi của thực tế
Thu thập các thông tin về đối thủ cạnh tranh của công ty thông qua các mặt mạnh yếu của công ty để có chiến lược cạnh tranh phù hợp
Nghiên cứu thị trường về các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu (nguồn cung cấp nguyên vật liệu, giá cả, các vật liệu thay thế), lao động (khả năng thuê lao động nhất là lao động có tay nghề, chi phí liên quan đến thuê lao động, khả năng tận dụng các lao động có tính chất thời vụ cho các công việc ít quan trọng), thiết bị thi công…
Trang 22 Tiến hành nghiên cứu vào chủ đầu tư, sở thích, thị hiếu, uy tín và tiềm lực tài chính Đây là căn cứ để xem công ty có nên hợp tác đầu tư với chủ đầu tư đó hay không, là nguồn tin quan trọng cung cấp cho quá trình lập hồ sơ dự thầu được tốt hơn
Thu thập thông tin các nguồn vốn đầu tư xây dựng trong từng thời kỳ như: vốn ngân sách, vốn ODA, vốn FDI, các nguồn vốn vay ngắn hạn dài hạn khác
1.4.1.5 Văn hóa tổ chức
Mỗi doanh nghiệp đều có một phong cách văn hóa trong hoạt động của mình, nó ảnh hưởng đến phương thức thông qua quyết định của người lãnh đạo , quan điểm của
họ đối với các chiến lược và điều kiện môi trường của doanh nghiệp Văn hóa tổ chức
là tổng hợp các kinh nghiệm, cá tính, bầu không khí của doanh nghiệp mà khi liên kết với nhau tạo nên phương thức hoạt động, thực chất văn hóa tổ chức của doanh nghiệp
là cơ chế doanh nghiệp tương tác với môi trường
Văn hóa tổ chức có thể là nhược điểm gây cản trở cho việc hoạch định và thực hiện chiến lược hay ngược lại là ưu điểm thúc đẩy hoạt động đó Các doanh nghiệp có văn hóa tổ chức tốt, tích cực có nhiều cơ hội để thành công hơn so với các doanh nghiệp có văn hóa tổ chức yếu kém, tiêu cực
1.4.2 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
1.4.2.1 Yếu tố chính phủ và chính trị:
Thị trường có tác dụng như một “ bàn tay vô hình” điều tiết nền kinh tế Song nếu chỉ phó mặc cho thị trường thì nó dễ bị đi đến khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu Ở đây rất cần một “bàn tay hữu hình” can thiệp, hướng dẫn nền kinh tế đi theo hướng mục tiêu chiến lược đã chọn Đó chính là sự điều tiết của nhà nước
Sự ổn định chính trị của đất nước trong đó có sự ổn định của chính phủ là tiền đề cho sự ổn định của các hoạt động kinh tế Hiện nay các doanh nghiệp xây dựng hoạt động dựa theo các nghị định văn bản hướng dẫn đặc biệt là các Nghị định:
- Căn cứ luật xây dựng số 16/2003/QH 11 ngày 26/3/2003 của quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, căn cứ luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các điều luật liên quan đến đấu thầu xây dựng cơ bản số 38/2009/QH 12 ngày 19/06/2009;
- Căn cứ nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 21/10/2009 của thủ tướng chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng;
Trang 23- Căn cứ vào luật đấu thầu số 61/2005/ QH 11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Thông tư số 02/2009/TT-BKH ngày 17/2/2009 của bộ kế hoạch của và đầu tư hướng dẫn lập kế hoạch đấu thầu;
- Căn cứ vào quyết định số 26/2011/QĐ-UBND NGÀY 29/8/2011 của ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định một số nội dung về quản l đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh
Ngoài ra còn các quy định về khung giá, mức giá, những quy định về thuê mướn, thuế, cho vay, quảng cáo… bắt buộc các doanh nghiệp phải tuân theo
1.4.2.2 Đối thủ cạnh tranh
Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp Các đối thủ cạnh tranh nhau sẽ quyết định tính chất và mức độ ganh đua, thủ thuật giành lợi thế trong ngành Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào mối tương quan giữa các yếu
tố như: số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của các ngành, cơ cấu chi phí cố định và mức độ đa dạng hóa sản phẩm Ngoài ra các đối thủ cạnh tranh mới
và giải pháp công nghệ thường làm thay đổi mức độ và tính chất cạnh tranh
Các vấn đề cần xem xét về đối thủ cạnh tranh:
Điều gì mà đối thủ cạnh tranh muốn đạt tới
Mục đích tương lai
Điều gì đối thủ cạnh tranh đang làm và
có thể làm được ? Chiến lược hiện tại
Nhận định Các tiềm năng
(Bao gồm cả mặt mạnh và mặt yếu)
Các vấn đề cần trả lời về đối thủ cạnh tranh
- Đối thủ có bàng long với vị trí hiện tại không ?
- Khả năng đối thủ chuyển dịch và đổi hướng như thế nào?
- Điểm yếu của đối thủ cạnh tranh là gì ?
- Điều gì có thể khiến đối thủ cạnh tranh một cách mạnh mẽ và có hiệu quả nhất
Trang 24 Về mục đích tương lai: Sự hiểu biết mục đích của đối thủ cạnh tranh giúp doanh nghiệp đoán biết được:
- Mức độ mà đối thủ cạnh tranh bằng lòng với kết quả tài chính và vị trí hiện tại của họ
- Mức độ mà đối thủ cạnh tranh thay đổi chiến lược như thế nào?
- Sức mạnh phản ứng của đối thủ trước những diễn biến bên ngoài
- Tính chất hệ trọng của các sáng kiến mà đối thủ đề ra
Các yếu tố chủ yếu cần điều tra liên quan đến các mục đích của đối thủ cạnh tranh là:
- Các mục đích về tài chính
- Thái độ với các rủi ro
- Cơ cấu tổ chức
- Các hệ thống và thông lệ kế toán
- Các nhân viên quản trị đặc biệt là giám đốc điều hành
Các thông tin nhận được qua việc phân tích các vấn đề nêu trên giúp doanh nghiệp xác định được vị trí của mình trên thị trường ở những nơi mà doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu mà không phải đương đầu với những thử thách quyết liệt Nếu không tìm được vị trí như vậy thì doanh nghiệp nhờ các thông tin trên, luôn luôn có thể tìm được vị trí tốt hơn để phát triển các chiến lược mà nó có thể bảo vệ trước các đối thủ cạnh tranh mà doanh nghiệp đang và sẽ gặp phải
Nhận định: Một điều rất có lợi cho doanh nghiệp là nắm bắt được những nhận định của đối thủ cạnh tranh về chính họ và các doanh nghiệp khác trong ngành Nếu nhìn nhận không chính xác thì nó sẽ tạo ra các “điểm mù”, tức là điểm yếu của đối phương Tương tự như vậy, doanh nghiệp có thể có những nhận định thiếu chính xác
về các doanh nghiệp khác và môi trường hoạt động kinh doanh của mình
Chiến lược hiện thời: Cần phải hiểu rõ chiến lược hiện thời của từng đối thủ cạnh tranh, kể cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Điều quan trọng là doanh nghiệp cần phải hiểu được các đối thủ tham gia cạnh tranh như thế nào Vì vậy, cần chú trọng xem xét các chính sách tác nghiệp chính yếu của doanh nghiệp cạnh tranh trong từng lĩnh vực hoạt động và xem xét họ tìm cách liên kết các bộ phận chức năng như thế nào
Trang 25 Tiềm năng: Mục đích nhận định và chiến lược của đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng tới tính hợp lý, thời gian, tính chất và cường độ phản ánh của họ Khả năng của đối thủ cạnh tranh phản ứng trước các diễn biến tùy thuộc vào các ưu và nhược điểm của họ Doang nghiệp phải xem xét đến tiềm năng chính yếu của đối thủ cạnh tranh,
ưu, nhược điểm của họ trong các lĩnh vực sau: các loại sản phẩm, hệ thống phân phối, trình độ tác nghiệp, tiềm lực xã hội, tài chính…
1.4.2.3 Khách hàng
Khách hàng là vấn đề sống còn trong môi trường cạnh tranh Sự tín nhiệm của khách hàng đôi khi là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp Sự thỏa mãn đó đạt được do biết thỏa mãn một cách tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh
Một vấn đề khác liên quan đến khách hàng là khả năng trả giá của họ, người mua có
ưu thế có thể làm cho lợi nhuận của cả doanh nghiệp giảm do họ ép giá hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn, nhiều dịch vụ đi kèm hơn, ưu thế đó là do các điều kiện sau tạo nên:
- Lượng hàng hóa người mua chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng hàng bán ra
- Việc chuyển sang mua hàng người khác không gây nhiều tốn kém
- Sản phẩm của người bán ra ít ảnh hưởng đến sản phẩm của người mua
1.4.2.4 Quyền lực nhà cung cấp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau như: vật tư, máy móc thiết bị, nguồn tài chính, nguồn nhân lực… Người cung ứng vật tư thiết bị sẽ tận dụng mọi ưu thế để tăng thêm lợi nhuận của mình thông qua việc tăng giá, giảm chất lượng sản phẩm hoặc giảm dịch vị đi kèm
Giữa các nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng Khả năng thương lượng về giá cả của các nhà cung cấp tùy thuộc vào mức độ và chất lượng hàng hóa hay dịch vụ mà họ dự định cung ứng cho doanh nghiệp Những ưu thế và đặc quyền của nhà cung cấp cho phép
họ có những ảnh hưởng nhất định đối với doanh nghiệp Các nhà cung cấp có thế lực mạnh khi họ có các điều kiện sau:
Trang 26- Độc quyền cung cấp một loại vật tư thiết yếu cho doanh nghiệp
- Doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung cấp
- Loại vật tư cung cấp là yếu tố đầu vào quan trọng, quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
1.4.2.5 Yếu tố công nghệ
Hầu như tất cả các ngành nghề đều phụ thuộc vào cơ sở công nghệ Các công nghệ tiên tiến liên tục ra đời tạo cơ hội cũng như nguy cơ đối với các ngành, các doanh nghiệp Các nhà nghiên cứu và chuyển giao công ngheej hàng đầu đang lao vào công việc tìm tòi các giải pháp kỹ thuật mới nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại và xác định các công nghệ có thể khai thác trên thị trường
Cũng như các sản phẩm hàng hóa, công nghệ cũng có chu kỳ sống Muốn đạt được kết quả tốt hơn, doanh nghiệp phải nghiên cứu, xem xét thời điểm nào cần phải cải tiế công nghệ hay thay thế công nghệ khác tiên tiến hơn Yếu tố công nghệ ngày càng biểu hiện ảnh hưởng to lớn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: quá trình tự động hóa, sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ…
1.4.2.6 Quyền lực của chủ đầu tư:
Trong giai đoạn hiện nay, quy chế đấu thầu còn nhiều vướng mắc và thường xuyên thay đổi nên khả năng thắng thầu của doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi chủ đầu tư Chủ đầu tư là người trực tiếp quyết định, lựa chọn hồ sơ đấu thầu của doanh nghiệp
Việc chủ đầu tư lựa chọn tư vấn để đánh giá hồ sơ dự thầu cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thắng thầu của doanh nghiệp Do vậy kinh nghiệm, trình độ của tư vấn
và mối quan hệ thân tín với họ sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến việc cho điểm của hồ sơ
Trang 27CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG HÀ TĨNH
2.1 Giới thiệu tổng quát về Công ty CP tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty cổ phần Tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh là một doanh nghiệp được thành lập dưới hình thức chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần, được tổ chức hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Hiện nay trụ sở của Công ty đóng tại số 75 đường Nguyễn Chí Thanh - Thành Phố Hà Tĩnh - Tỉnh Hà Tĩnh
Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng được thành lập ngày 03 tháng 6 năm 2005, tiền thân là Viện thiết kế chỉ chuyên phục vụ cho công tác thiết kế sau đó được nhà nước cho phép hoạt động trong lĩnh vực tư vấn và xây dựng
Tháng 6 năm 2005, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh có quyết định thành lập Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Hà Tĩnh Từ đó đến nay Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Hà Tĩnh là một doanh nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh với nhiệm vụ chủ yếu là thiết kế xây dựng, khảo sát địa hình, khảo sát địa chất, lập dự
án, thiết kế các công trình dân dụng, công nghiệp, giám sát thi công xây dựng, thẩm tra các công trình, kiểm định và thí nghiệm đất xây dựng trong phòng, ngoài trời theo nội dung Quyết định LAX - 132
Ngay từ đầu thành lập công ty đã triển khai hàng loạt chiến lược tuyển dụng lực lượng công nhân, các kiến trúc sư, kỹ sư, trung cấp kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý chủ chốt có năng lực trong lĩnh vực tư vấn xây dựng để hình thành bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường, từng bước đưa công ty
đi vào hoạt động ngày càng có hiệu quả
Có thể nói trải qua hơn 8 năm hoạt động công ty đã đóng góp cho tỉnh Hà Tĩnh cũng như đất nước hàng trăm công trình lớn nhỏ, chất lượng công trình luôn được đảm bảo làm tăng thêm cơ sở vật chất, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên trong công ty, góp phần làm thay đổi bộ mặt cho công ty
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của công ty
Cơ cấu tổ chức của công ty thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 28Sơ đồ 2.1: SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY
Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Ưu điểm: Tổ chức bộ máy quản lý như trên không quá cồng kềnh nhưng đã mang
lại hiệu quả cao cho Công ty trong hoạt động SXKD nhờ có sự kết hợp giữa hai hình thức quản lý trực tuyến và chức năng Toàn bộ quá trình hoạt động SXKD được thực hiện một cách xuyên suốt, thống nhất từ trên xuống thông qua quan hệ trực tuyến Mặt khác, cơ cấu tổ chức trên phân chia nhiệm vụ của Công ty thành những công việc được xác định rõ ràng và có thể quản lý được cho các bộ phận và nhân viên nhằm tạo được hiệu quả thông qua việc chuyên môn hoá chức năng hoạt động của họ
Phòng thiết kế
QH
Phòng khảo sát địa chất
Phòng khảo sát địa hình
soát Đại hội đồng
cổ đông
Trang 29Nhược điểm: Sự quản lý theo quan hệ trực tuyến đòi hỏi phải có sự phối hợp thống
nhất giữa các bộ phận mới có thể đem lại hiệu quả cao Trong quá trình thực hiện các quyết định nếu một bộ phận trong tuyến không làm tốt thì sẽ gây khó khăn cho các bộ phận khác và làm giảm đi hiệu quả hoạt động SXKD của Công ty
* Chức năng nhiệm vụ của phòng ban:
- Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của Công ty do Đại hội đồng cổ đông công
ty bầu ra, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng
cổ đông
- Ban kiểm soát: Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong nghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính
- Giám đốc: Là người đứng đầu công ty, người chủ tài khoản, là người chịu
trách nhiệm tổ chức điều hành mọi hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ đạo các phòng ban, đội tổ chức sản xuất thực hiện mục tiêu kinh doanh có hiệu quả Giám đốc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình phù hợp với các quy định của điều lệ và quy chế hoạt động của công ty
- Phó giám đốc phụ trách Kỹ thuật: Phụ trách toàn bộ khâu kỹ thuật, điều hành các
phòng, đội sản xuất Chịu trách nhiệm trước giám đốc về chất lượng, kỹ thuật cũng như hình thức của hồ sơ dự án, khảo sát, thiết kế các đơn vị, phòng ban trình kiểm tra trước
khi ban giao cho Chủ đầu tư
- Phó Giám đốc Tổ chức hành chính: Quản lý điều hành bộ máy hành chính của doanh
nghiệp, thay giám đốc giải quyết công việc khi giám đốc đi công tác, đồng thời có quyền ra lệnh, chỉ đạo cho các phòng ban và đội trong giới hạn của mình, ký kết các hợp đồng kinh tế khi
được giám đốc uỷ quyền
- Phòng Kế hoạch - Tài vụ: Lập kế hoạch cho sản xuất kinh doanh của công ty,
đồng thời tìm thị trường để ký hợp đồng, làm nghiệm thu quyết toán các công trình đã
hoàn thành được cấp có thẩm quyền phê duyệt Có nhiệm vụ làm nghiệm thu quyết
toán các công trình, hạch toán, giám sát kiểm tra và tham mưu cho Giám đốc về tình hình tài chính và theo dõi mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, cũng như về
Trang 30kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ, về tình hình vốn sử dụng và luân chuyển vốn,
thực hiện các chế độ về vốn của Công ty
- Phòng Tổ chức hành chính: Có nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến tổ chức quản lý, xây
dựng các chức năng và nhiệm vụ cho các bộ phận, thực hiện tuyển chọn, đề bạt sử dụng cán bộ, lập kế hoạch về nhu cầu lao động, đào tạo, phục vụ kịp thời cho nhu cầu
thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Theo dõi giám sát tình hình tăng, giảm số
lượng cán bộ công nhân viên trong công ty, thực hiện và giải quyết các chế độ, chính sách mà Nhà nước quy định với cán bộ công nhân viên, theo dõi tình hình làm việc, tình hình thực hiện định mức công việc của cán bộ công nhân viên, tổ chức công tác
lao động tiền lương
Phòng khảo sát địa hình: Thực hiện công tác khảo sát quy hoạch định vị các công trình
trước lúc khoan thăm dò và đo đạc khảo sát địa hình các công trình để phục vụ công tác thiết
kế, xây dựng
Phòng khảo sát địa chất: Nhiệm vụ là khoan thăm dò các điều kiện địa chất
phục vụ cho thiết kế xây dựng các công trình, thí nghiệm lấy mẫu đất phân tích các chỉ tiêu cơ lý hoá của các lớp đất để phục vụ cho công tác tính toán kết cấu chịu lực cho
các công trình
Phòng thiết kế, quy hoạnh: Công việc chủ yếu là các bản vẽ Quy hoạch, thiết kế, các bản
tính dự toán, lập các hồ sơ mời thầu, lập hồ sơ dự án khả thi với chủ đầu tư (bên A) cho công
tác xây dựng các công trình ở các huyện, thị xã, thị trấn, quy hoạch các khu công nghiệp…
2.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Trong những năm qua, với sự phấn đấu không ngừng của tất cả cán bộ công nhân viên đã đem lại kết quả nhất định cho Công ty, từng bước khẳng định vị thế của mình trên thị trường Trải qua hơn 8 năm hoạt động thì Công ty đang có nhiều bước tiến rõ rệt, điều đó được thể hiện thông qua uy tín làm việc của Công ty, qua việc xây lắp các công trình mang tính phức tạp như đập chứa nước Trục Xối, Khu du lịch sinh thái Cửa Thờ - Trại tiểu, Quy hoạch chung thị trấn Vũ Quang, Khu tái định cư Hòa Lộc – Kỳ Trinh, Xây dựng vùng nông thôn mới các xã Cẩn Lộc, Cẩm Trung Hồ chức nước Đập Trạ ở Hà Tĩnh, đập chứa nước Hương Phong, Hệ thống Thuỷ lợi A Roàng ở Thừa Thiên Huế
Trang 31Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được đánh giá thông qua một
(Nguồn số liệu: Phòng kế hoạch - tài vụ)
Dựa vào bảng số liệu trên chúng ta thấy tốc độ tăng của chi phí nhanh hơn so với tốc độ tăng của doanh thu làm cho lợi nhuận của công ty các năm 2010, 2011 giảm so với năm 2009 Điều này chứng tỏ hoạt động kinh doanh của công ty chưa mấy phát triển tuy năm 2011 đã thu lại lợi nhuận cao hơn 2010 nhưng kết quả này vẫn thấp hơn
so với năm 2009 Năm 2010 tổng doanh thu tăng lên 6.028.817.353 đồng (tương đương với 43,73%) so với năm 2009 trong khi đó tổng chi chi phí tăng lên 6.400.919.093 đồng do vậy đã làm cho lợi nhuận của công ty giảm đi 372.101.740 đồng Bước sang năm 2011 công ty đã kinh doanh có hiệu quả hơn so với năm 2010, tổng lợi nhuận trước thuế đạt 377.076.394 tăng 95.453.891 đồng tương ứng với 33,89% so với năm 2010 nhưng so với năm 2009 thì công ty làm ăn còn kém hiệu quả hơn thể hiện ở chỗ lợi nhuận trước thuế giảm 42,32% tuy nhiên công ty đã có nhiều cố
gắng trong năm 2011
Để biết được hiệu quả của công ty trong quá trình sản xất kinh doanh chúng ta cần
Trang 32xem xét một số chỉ tiêu như:
Chi phí/doanh thu: Chỉ tiêu này phản ánh số chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra
để có được một đồng doanh thu, chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1 thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao Trong mấy năm qua công ty luôn duy trì được chỉ tiêu này ở mức thấp (nhỏ hơn 1) nhưng lại có xu hướng tăng lên điều này chứng tỏ công
ty hoạt động có lãi nhưng lãi giảm dần Năm 2009 để có được một đồng doanh thu thì cần đến 0,953 đồng chi phí, năm 2010 tăng lên đến 0,986 đồng và đến năm
2011 mức chi phí có giảm xuống ở mức là 0,984 đồng Tuy năm 2011 mức chi phí này có giảm nhưng không đáng kể công ty cần có những cố gắng để giảm mức chi phí này xuống
Lợi nhuận/doanh thu: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu thu vào thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận Năm 2009 cứ một đồng doanh thu thu vào thì công ty sẽ có được 0,047 đồng lợi nhuận, năm 2010 giảm xuống 0,014 và đến năm 2011 tăng lên một ít là 0,016 Như vậy nhìn chung đối với công ty chỉ tiêu này đang có xu hướng giảm xuống và dần tăng lên
Kết quả kinh doanh của công ty được minh họa theo biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty
0 5,000,000
Trang 33thị trường Để đạt được kết quả cao hơn trong thời gian tới công ty cần chú trọng hơn
nữa trong hoạt động của công ty
2.2 Thực trạng khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây
dựng Hà Tĩnh trong đấu thầu xây dựng
2.2.1 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của công ty CP
tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh
2.2.1.1 Những nhân tố bên trong
a Khả năng và tình hình tài chính của công ty
Các dự án đầu tư xây dựng công trình có thể chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ
theo tính chất của công trình là sản phẩm của dự án Mỗi loại dự án này lại có các đặc
điểm khác nhau cần tính đến trong quá trình phân tích tài chính, trong đó phân tích
nguồn vốn là một trong những vấn đề cần được quan tâm nhiều nhất
Bảng 2.2: Bảng phân tích tình hình nguồn vốn trong hai năm 2010-2011
Đơn vị tính: 1.000đồng
2010/2009 2011/2010 Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
( Nguồn: Phòng Kế hoạch – tài vụ)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy tổng nguồn vốn của Công ty năm 2010 tăng lên
28,3% so với năm 2009 tuy nhiên sang năm 2011 giảm 2.917.774 nghìn đồng tương
ứng giảm 15,1% so với năm 2010 Việc giảm đi của nguồn vốn là do các khoản nợ
giảm với số lượng lớn cụ thể là: Nợ ngắn hạn giảm 768.617 nghìn đồng tương ứng
Trang 34giảm 14,7%; Nợ dài hạn giảm 4.181.614 nghìn đồng tương ứng giảm 58,2% Nguyên nhân là do Công ty lấy các khoản tiền để thanh toán các khoản nợ Đây là chiến lược của Công ty giảm các khoản nợ, tăng khả năng thanh toán nhằm tạo uy tín đối với nhà cung cấp, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường
Nguồn vốn CSH tăng lên 2.059.457 nghìn đồng tương ứng tăng 29,6% so với năm
2010 do lợi nhuận chưa phân phối của năm 2011 tăng lên so với năm 2010 gần 400 tỷ đồng Tuy vậy nhưng nợ phải trả giảm đi quá nhiều dẫn đến nguồn vốn của Công ty cũng giảm đi Vốn chủ sở hữu của Công ty đã tăng lên đáng kể chứng tỏ đây là một dấu hiệu tốt cho thấy công ty đang lấy lại thế chủ động trong tài chính
Như vậy, tổng nguồn vốn của Công ty có quy mô tương đối lớn, có thể đáp ứng được các hạng mục xây dựng đã đề ra Nguyên nhân là do Công ty lấy các khoản tiền
để thanh toán các khoản nợ Đây là chiến lược của Công ty giảm các khoản nợ, tăng khả năng thanh toán nhằm tạo uy tín đối với nhà cung cấp, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường Với tình đặc thù của ngành nghề kinh doanh thì các hình thức huy động vốn cho các dự án công trình xây dựng là tương đối phong phú và đa dạng Vốn sản xuất trong Doanh nghiệp là hình thái giá trị của toàn bộ tư liệu sản xuất được Doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý và có kế hoạch vào việc sản xuất kinh doanh những sản phẩm theo kế hoạch của Doanh nghiệp Vốn được thể hiện dưới dạng vật chất hoặc phi vật chất, được đo lường bằng thước đo tiền tệ gọi là tài sản Một tài sản có thể do một hoặc nhiều nguồn vốn hình thành ngược lại một nguồn vốn có thể tham gia hình thành nên một hay nhiều loại tài sản khác nhau Từ bảng 2.3 ta thấy quy
mô về tài sản của Công ty năm 2011 so với năm 2010 đã giảm đi đáng kể Sự giảm này chủ yếu do TSLĐ và ĐTNH, trong đó: Các khoản phải thu giảm 2.106.228 nghìn đồng tương ứng 51% Điều này chứng tỏ công ty đã tích cực thu hồi các khoản nợ phải thu, làm cho các khoản vốn bị chiếm dụng giảm đi một cách nhanh chóng Tuy các khoản phải thu giảm nhưng lượng tiền không tăng mà lại giảm đi 1.549.912 nghìn đồng tương ứng 51% Do Công ty đã thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn còn tồn đọng của năm 2010 Riêng hàng tồn kho của công ty tăng lên 394.558 nghìn đồng tương ứng 5% Vì đây là Công ty tư vấn và xây dựng cho nên hàng tồn kho tăng ở mức tương đối thấp, hoạt đông kinh doanh đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, lượng tồn kho ít Đây là một dấu hiệu tốt, khẳng định sản phẩm của Công ty ngày càng được thị trường
Trang 35chấp nhận, quy mô thị trường ngày càng rộng lớn Cụ thể quy mô cơ cấu tài sản của Xí
nghiệp trong hai năm qua được phản ánh qua bảng sau:
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu về tài sản của công ty
Trang 36TSCĐ và ĐTDH tuy có tăng lên nhưng không đáng kể Sự tăng lên này là do TSDH khác tăng lên 722.235 nghìn đồng tương ứng 105,4% Còn TSCĐ trong hai năm qua
đã giảm xuống do tốc độ hao mòn TSCĐ lớn hơn tốc độ tăng TSCĐ Do Công ty
đã đầu tư gần như đầy đủ các máy móc hiện đại từ các năm trước Tuy nhiên Công ty cũng nên chú trọng hơn nữa đến công tác đầu tư mua mới nếu thấy cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động, phù hợp với công nghệ hiện đại, sản phẩm
đảm bảo chất lượng và đem lại uy tín cho Công ty Tỷ trọng trên cho chúng ta
thấy tài sản lưu động của công ty chưa ổn định lắm chứng tỏ tình hình ổn định tài
chính của công ty chưa được cao
b Khả năng về máy móc thiết bị, công nghệ thi công
Xây dựng là một ngành sản xuất vật chất đặc thù, chu kỳ sản xuất thường kéo dài, khối lượng công việc lớn, đòi hỏi phải sử dụng nhiều loại công nghệ khác nhau Vì vậy
để tham gia vào thi công xây lắp Công ty phải có nhiều thiết bị xe máy khác nhau và
số thiết bị xe máy này đóng vai trò là công cụ lao động chính, chiếm tỉ trọng chủ yếu trong vốn cố định của Công ty Để xây dựng một công trình, Công ty phải huy động một lực lượng máy móc thiết bị đủ lớn, cân đối với công việc cần thực hiện Do năng lực về thiết bị xe máy thi công của Công ty không lớn lắm và một số thiết bị
đã quá củ và nhỏ nên khi thi công các công trình Công ty thường sử dụng số thiết
bị xe máy sẵn có của mình và một phần nào đó phải thuê ngoài Điều này đã làm Công ty không được tự chủ cao trong sản xuất do đó ảnh hưởng đến việc giành ưu thế khi tranh thầu
Trong những năm qua Công ty CP tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh đã hết sức chú trọng vào việc nghiên cứu đầu tư đổi mới và đầu tư công nghệ mới Với lượng trang thiết bị máy móc thiết bị hiện có như trên đã làm ảnh hưởng tới tiến độ thi công của công trình
đã làm giảm phần nào lợi thế trong cạnh tranh của công ty Chính vì vậy trong những năm tới đây Công ty cần có chính sách kế hoạch sử dụng hợp lý và đầu tư trang thiết
bị máy móc phù hợp tránh tình trạng đầu tư tràn lan, thiếu đồng bộ kém chất lượng, không đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh để có thể tăng năng lực cạnh tranh về mặt này, dẫn tới làm tăng khả năng cạnh tranh trong công tác dự thầu
Hệ thống máy móc trang thiết bị của công ty hiện tại được thể hiện qua bảng sau:
Trang 37Bảng 2.4 : Năng lực máy móc thiết bị nhà thầu của công ty
CÔNG SUẤT
7 Máy khoan BT
( Nguồn : Tài liệu nội bộ của Công ty Cổ phần tư vấn và xây dựng Hà Tĩnh)
c Nguồn nhân lực và tổ chức quản lý của Công ty
Nhằm tạo điều kiện hòa nhập và đủ năng lực cạnh tranh trong cơ chế thị trường,
Trang 38nguồn nhân lực Vì có xây dựng nguồn nhân lực dồi dào mới có cơ sở xác định được quy mô phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng Có thể nói lao động là nguồn lực quan trọng nhất của một Doanh nghiệp Nguồn lực này ảnh hưởng trực tiếp và
trọng yếu đến tình hình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
Bảng 2.5 Tình hình lao động của Công ty giai đoạn 2009-2011
(Nguồn: Phòng kế hoạch tài vụ Công ty)
Từ bảng số liệu trên ta thấy số lượng lao động của Công ty tăng dần qua 3 năm Năm 2009 tổng số lao động của Công ty là 76 người, năm 2010 tăng 23,7% và năm
2011 tiếp tục tăng 22,3% cụ thể như sau: