Các giống lúa thơm năng suất cao, chất lượng tốt như Hương cốm, P6, PC6, HT6, HT9, N98 đã được công nhận chính thức và sản xuất thử, được mở rộng nhanh chóng tại các tỉnh miền Trung và c
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận án nào trước đây Toàn bộ các thông tin trích dẫn trong luận án đã được ghi rõ xuất xứ
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Tác giả Luận án xin chân thành cảm ơn:
Viện KHNN Việt Nam, Ban Đào tạo sau đại học Bộ môn Chọn tạo giống lúa thâm canh và đặc sản thuộc Trung tâm lúa thuần, Viện Cây lương thực - CTP; Viện Di truyền Nông nghiệp; Viện Nghiên cứu lúa thuộc Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã cung cấp nguồn vật liệu Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Hà Tĩnh; UBND huyện, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Trung tâm ứng dụng KHKT huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh, đã tạo điều kiện thuận lợi
để tôi hoàn thành Luận án
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Vĩnh Thảo và PGS.TS Nguyễn Văn Hoan đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ hết sức tận tình trong suốt cả quá trình học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thành Luận án này
Tôi xin cảm ơn:
- Các thầy các cô, các đồng nghiệp trong ngành Nông nghiệp & PTNT
đã quan tâm giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
- Các cộng tác viên của các Tổ sản xuất giống: Thôn 9 xã Cẩm Thăng - Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh; Thôn 3 xã Kỳ Tiến - Kỳ Anh - Hà Tĩnh; Hợp tác xã Nại Cửu - Triệu Phong - Quảng Trị; Trại giống Vĩnh Thủy - Vĩnh Linh -
Quảng Trị đã tạo điều kiện giúp đỡ và cộng tác trong suốt thời nghiên cứu
- Th.S Nguyễn Văn Vương; KS Đào Thị Duyên; Ông Lê Văn Xuân xã
Kỳ Tiến - Kỳ Anh - Hà Tĩnh; Ông Trần Tuất xã Nại Cửu - Triệu Phong - Quảng Trị đã nhiệt tình hỗ trợ trong suốt thời gian nghiên cứu
- Các thành viên trong gia đình, bạn bè thân hữu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận án
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN I
LỜI CẢM ƠN II
CÁC CHỮ VIẾT TẮT VII
DANH MỤC CÁC BẢNG VIII
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ XII
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng thể 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Những đóng góp mới của luận án 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
5 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu của đề tài 5
5.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 5
5.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
Trang 4CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
6
1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 6
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 6
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam và các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ 9
1.2 Nghiên cứu lúa trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm nông của các giống lúa 13
1.2.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu chất lượng gạo 18
1.2.3 Phương pháp chọn tạo giống lúa thơm, lúa chất lượng cao 23
1.2.4 Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm, lúa chất lượng cao trên thế giới 27
1.2.5 Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm, lúa chất lượng cao ở Việt Nam 29
1.2.6 Nghiên cứu về dinh dưỡng của cây lúa 32
1.3 Điều kiện tự nhiên của các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ 35
1.3.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Hà Tĩnh 35
1.3.2 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Trị 37
1.3.3 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Thừa Thiên Huế 37
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Vật liệu nghiên cứu 41
2.1.1 Giống lúa 41
2.1.2 Phân bón 41
2.1.3 Thuốc bảo vệ thực vật 42
2.2 Nội dung nghiên cứu 42
2.2.1 Nội dung 1: Điều tra thực trạng sản xuất lúa của tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Quảng Trị 42
2.2.2 Nội dung 2: Đánh giá các giống lúa mới cho các tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị 43
Trang 52.2.3 Nội dung 3: Thí nghiệm hoàn thiện kỹ thuật canh tác đối với các giống lúa
mới triển vọng 46
2.2.4 Nội dung 4: Trình diễn sản xuất thử các giống lúa mới 48
2.3 Phương pháp nghiên cứu 49
2.3.1 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu 49
2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 54
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
3.1 Đánh giá thực trạng sản xuất lúa tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 56
3.1.1 Thực trạng sản xuất lúa tại Hà Tĩnh từ 2003 - 2007 56
3.1.2 Thực trạng sản xuất lúa tại Quảng Trị từ 2003 - 2008 60
3.1.3 Đánh giá tồn tại sản xuất lúa tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 62
3.1.3 Một số chỉ tiêu nông hóa của đất tại các điểm nghiên cứu 71
3.2 Đánh giá các giống lúa mới cho Hà Tĩnh và Quảng Trị 72
3.2.1 Đánh giá sơ bộ các giống lúa mới cho Hà Tĩnh và Quảng Trị 72
3.2.2 Đánh giá giá trị canh tác và giá trị sử dụng với các giống được tuyển chọn tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 86
3.2.3 Đánh giá độ ổn định về năng suất và chỉ số thích nghi của các giống thử nghiệm tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 110
3.3 Thí nghiệm hoàn thiện kỹ thuật canh tác đối với các giống lúa được tuyển chọn 116
3.3.1 Thí nghiệm xác định công thức mật độ và phân bón thích hợp cho các giống lúa được tuyển chọn tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 116
3.3.2 Thí nghiệm xác định thời vụ gieo thích hợp cho các giống lúa được tuyển chọn tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 128
3.4 Trình diễn các giống lúa mới được tuyển chọn tại Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế 134
Trang 63.4.1 Trình diễn các giống lúa mới được tuyển chọn tại Hà Tĩnh 134
3.4.2 Trình diễn các giống lúa mới được tuyển chọn tại Quảng Trị 136
3.4.3 Trình diễn các giống lúa mới được tuyển chọn tại Thừa Thiên Huế 139
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 143
1 Kết luận: 143
2 Đề nghị: 145
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCC Chiều cao cây
CDB Chiều dài bông
CDLĐ Chiều dài lá đòng
CLT&CTP Cây lương thực và Cây thực phẩm
ĐDGĐT Độ dài giai đoạn trổ
HV3 Hương Việt 3 (tên giống lúa)
IRRI Viện Nghiên cứu lúa Quốc Tế
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
STT bảng Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Dự báo sản xuất lúa của Việt Nam đến năm 2030 11 Bảng 1.2 Thống kê một số chỉ tiêu khí tượng thủy văn của Hà Tĩnh trong 5 năm từ 2005- 2009 36 Bảng 3.1 Tình hình sử dụng giống lúa của nông dân Hà Tĩnh và Quảng Trị trong năm 2008 63 Bảng 3.2 Phương thức gieo/cấy lúa, lượng hạt giống gieo thẳng, và chấp hành thời
vụ của nông dân Hà Tĩnh và Quảng Trị trong năm 2008 65 Bảng 3.3 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa của nông dân Hà Tĩnh và Quảng Trị trong năm 2008 68 Bảng 3.4 Được tập huấn kỹ thuật thâm canh lúa và sử dụng thuốc BVTV của nông dân Hà Tĩnh và Quảng Trị trong năm 2007 và 2008 69 Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu nông hóa của đất tại các điểm nghiên cứu 71 Bảng 3.6 Các đặc điểm nông học của các giống thí nghiệm trong vụ Xuân 2008 tại
Hà Tĩnh 73 Bảng 3.7 Các đặc điểm nông học của các giống thí nghiệm trong vụ Xuân 2009 tại Quảng Trị 74 Bảng 3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống thí nghiệm trong vụ Xuân 2008 tại Hà Tĩnh 75 Bảng 3.9 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống thí nghiệm trong vụ Xuân 2009 tại Quảng Trị 76 Bảng 3.10 Các đặc điểm nông học của các giống thí nghiệm trong vụ Hè Thu 2008 tại Hà Tĩnh 78 Bảng 3.11 Các đặc điểm nông học của các giống thí nghiệm trong vụ Hè Thu 2008 tại Quảng Trị 79 Bảng 3.12 Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống chịu điều kiện bất thuận của các giống thí nghiệm trong năm 2008 tại Hà Tĩnh (điểm 1-9) 80
Trang 9Bảng 3.13 Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống chịu điều kiện bất lợi của các giống thí nghiệm trong vụ HT 2008, Xuân 2009 tại Quảng Trị 81 Bảng 3.14 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm trong vụ Hè Thu 2008 tại Hà Tĩnh 83 Bảng 3.15 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống thí nghiệm trong
vụ Hè Thu 2008 tại Quảng Trị 84 Bảng 3.16 Tổng hợp năng suất các giống được lựa chọn qua đánh giá sơ bộ trong năm 2008, 2009 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 85 Bảng 3.17 Thời gian sinh trưởng và chiều cao cây của các giống thử nghiệm trong
vụ Xuân 2009, 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 86 Bảng 3.18 Chiều dài bông và số nhánh hữu hiệu của các giống thử nghiệm trong vụ Xuân 2009, 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 87 Bảng 3.19 Đặc điểm nông học của các giống thử nghiệm trong vụ Xuân 2009, Xuân
2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 88 Bảng 3.20 Mức độ nhiễm sâu bệnh và KNCC điều kiện bất lợi của các giống thử nghiệm vụ Xuân 2009, 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 88 Bảng 3.21 Số hạt/bông và tỷ lệ lép của các giống thử nghiệm trong trong vụ Xuân
2009, Xuân 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 90 Bảng 3.22 Khối lượng 1000 hạt và năng suất của các giống thử nghiệm trong vụ Xuân 2009, 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 90 Bảng 3.23 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống thử nghiệm vụ Xuân 2009, Xuân 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 91 Bảng 3.24 Chất lượng xay xát các giống thử nghiệm trong vụ Xuân 2009, Xuân
2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 93 Bảng 3.25 Chất lượng gạo các giống thử nghiệm trong vụ Xuân 2009, Xuân 2010 tại
Hà Tĩnh và Quảng Trị 94 Bảng 3.26 Năng suất và hiệu quả kinh tế của các giống thử nghiệm trong vụ Xuân
2009, Xuân 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 95 Bảng 3.27 Thời gian sinh trưởng và chiều cao cây của các giống thử nghiệm trong
vụ HT 2009, HT 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 100
Trang 10Bảng 3.28 Chiều dài bông và nhánh hữu hiệu của các giống thử nghiệm trong vụ Hè Thu 2009, 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 101 Bảng 3.29 Các đặc điểm nông học của các giống thử nghiệm trong vụ Hè Thu 2009,
2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 102 Bảng 3.30 Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống chịu điều kiện bất lợi của các giống trong vụ Hè Thu 2009, 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 103 Bảng 3.31 Tổng số hạt/bông và tỷ lệ lép của các giống thử nghiệm trong vụ Hè Thu
2009, Hè Thu 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 104 Bảng 3.32 Khối lượng 1000 hạt và năng suất của các giống thử nghiệm trong vụ Hè Thu 2009, Hè Thu 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 105 Bảng 3.33 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống thử nghiệm trong
vụ Hè Thu 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 106 Bảng 3.34 Chất lượng xay xát các giống thử nghiệm trong trong vụ Hè Thu 2009,
Hè Thu 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 108 Bảng 3.35 Chất lượng gạo các giống thử nghiệm trong vụ Hè Thu 2009, Hè Thu
2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 109 Bảng 3.36 Hiệu quả kinh tế của các giống thử nghiệm trong vụ Hè Thu 2009, Hè Thu 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 110 Bảng 3.37 Chỉ số ổn định và chỉ số thích nghi của các giống thử nghiệm trong vụ
ĐX 2009, ĐX 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 111 Bảng 3.38 Chỉ số ổn định và chỉ số thích nghi của các giống thử nghiệm trong vụ Hè Thu 2009, Hè Thu 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 112 Bảng 3.39 Một số đặc điểm cơ bản của các giống lúa được tuyển chọn thử nghiệm trong năm 2009, 2010 tại Hà Tĩnh và Quảng Trị 113 Bảng 3.40 Mức độ nhiễm sâu bệnh và chống chịu điều kiện bất thuận của HT18 và N34 ở thí nghiệm mật độ và phân bón năm 2010 tại Hà Tĩnh (Đơn vị tính: điểm 1 - 9) 117 Bảng 3.41 Số hạt chắc/bông của HT18 và N34 ở thí nghiệm mật độ và phân bón tại
Hà Tĩnh trong năm 2010 119 Bảng 3.42 Năng suất lý thuyết của HT18 và N34 ở Thí nghiệm mật độ và phân bón tại Hà Tĩnh trong năm 2010 120
Trang 11Bảng 3.43 Năng suất thực thu của HT18 và N34 ở thí nghiệm mật độ và phân bón tại Hà Tĩnh trong năm 2010 121 Bảng 3.44 Mức độ nhiễm sâu bệnh và KNCC điều kiện bất lợi của BM125 và N208
ở thí nghiệm mật độ và phân bón trong năm 2010, 2011 tại Quảng Trị (điểm 1- 9) 123 Bảng 3.45 Tổng số hạt chắc/bông của BM125 và N208 ở thí nghiệm mật độ và phân bón tại Quảng Trị trong năm 2010 và 2011 126 Bảng 3.46 Năng suất thực thu của BM125 và N208 ở thí nghiệm mật độ và phân bón tại Quảng Trị trong năm 2010 và 2011 (đvt: tạ/ha) 127 Bảng 3.47 Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống chịu điều kiện bất lợi của HT13 và N34 ở thí nghiệm thời vụ tại Hà Tĩnh năm 2010 128 Bảng 3.48 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm thời vụ tại Hà Tĩnh năm 2010 131 Bảng 3.49 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của HT13 và N208 ở thí nghiệm thời vụ tại Quảng Trị 2010 133 Bảng 3.50 Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống chịu điều kiện bất lợi của các giống trình diễn tại Hà Tĩnh năm 2010 và 2011 134 Bảng 3.51 Năng suất và thu nhập của các giống trình diễn tại Hà Tĩnh năm 2010 và
2011 136 Bảng 3.52 Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống chịu điều kiện bất lợi của các giống trình diễn tại Quảng Trị năm 2011 137 Bảng 3.53 Năng suất và thu nhập của các giống trình diễn tại Quảng Trị trong năm
2011 138 Bảng 3.54 Năng suất và thu nhập của các giống trình diễn tại Thừa Thiên Huế trong năm 2011 139 Bảng 3.55 Năng suất các giống trình diễn tại Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế trong năm 2010, 2011 140 Bảng 3.56 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các giống trình diễn tại Hà Tĩnh, Quảng Trị
và Thừa thiên Huế năm 2010,2011 141
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
STT hình, biểu đồ Tên hình, biểu đồ Trang
Hình 3.1 Hạt thóc và gạo xát trắng giống nếp N34 97
Hình 3.2 Hạt thóc và gạo xát trắng giống Hương Việt 3 97
Hình 3.3 Hạt thóc và gạo xát trắng giống HT13 99
Hình 3.4 Hạt thóc và hạt gạo lật giống lúa cẩm LĐ1 và LĐ2 99
Hình 3.5 Hạt thóc và gạo xát trắng giống lúa thơm BM125 114
Hình 3.6 Hạt thóc và gạo xát trắng giống lúa thơm HT18 114
Hình 3.7 Mô hình trình diễn giống lúa BM125 tại Hà Tĩnh vụ xuân 2011 142
Hình 3.8 Mô hình trình diễn giống nếp N208 tại Hà Tĩnh vụ xuân 2011 142
Hình 3.9 Mô hình trình diễn giống nếp N34 tại Hà Tĩnh vụ Xuân 2011 146
Hình 3.10 Mô hình trình diễn giống lúa HT13 tại Thừa Thiên Huế vụ Xuân 2011 146
Biểu đồ 1.1 Giá gạo trên thế giới từ năm 2003- 2007 9
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân ở Hà Tĩnh từ 2003-2007 58
Biểu đồ 3.2 Diễn biến năng suất lúa vụ Đông Xuân từ 2003-2007 của tỉnh Hà Tĩnh 59
Biểu đồ 3.3 Diễn biến năng suất lúa vụ Hè Thu từ 2003 - 2007 của tỉnh Hà Tĩnh 60
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất so với nghề trồng lúa
ở các nước châu Á Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam cây lúa đã có mặt từ 3000 - 2000 năm trước Công Nguyên Tổ tiên chúng ta đã thuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng và đã phát triển nghề trồng lúa đạt được những tiến bộ như ngày nay
Sau 1990, Việt Nam đã tự túc được lương thực, nghề trồng lúa đã hướng đến sản phẩm có chất lượng phục vụ xuất khẩu và nhu cầu gạo ngon trong nước Cùng với sự phát triển chung của xã hội hiện nay nhu cầu các giống lúa
có năng suất, chất lượng ngày càng cao Để đáp ứng nhu cầu sản xuất cũng như nâng cao năng suất, chất lượng giống lúa, việc đánh giá, nhân nhanh một
số dòng, giống chất lượng có triển vọng là rất cần thiết
Các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ nằm trên dải đất miền Trung có điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt Nơi đây chịu ảnh hưởng mạnh của gió Tây Nam vào cuối vụ Đông
Xuân và đầu vụ Hè Thu, các đợt lũ lụt vào cuối vụ Hè Thu đã gây thiệt hại rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa Để khắc phục được các hiện tượng ấy, ngoài việc bố trí thời vụ gieo trồng hợp lý còn phải đặc biệt chú ý xác định được bộ giống thích hợp có năng suất chất lượng cao
và có khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi
Trong gần 20 năm qua, tại các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ, các giống lúa lai đang bị hạn chế mở rộng đặc biệt là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế do tập quán sản xuất của nông dân Các giống lúa thuần dài ngày, năng suất thấp, chất lượng kém đang chiếm đa số cơ cấu giống trong vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh này Các giống lúa ngắn
Trang 14ngày có năng suất chất lượng cao đang sản xuất tại các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ còn rất ít về số lượng và hạn chế về chất lượng, chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất của nhân dân
Trong những năm gần đây, các viện nghiên cứu đã chọn tạo nhiều giống lúa có năng suất, chất lượng cao và chống chịu tốt với sâu bệnh Các giống lúa thơm năng suất cao, chất lượng tốt như Hương cốm, P6, PC6, HT6, HT9, N98 đã được công nhận chính thức và sản xuất thử, được mở rộng nhanh chóng tại các tỉnh miền Trung và các tỉnh miền Bắc như Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình Đặc biệt, các giống lúa mới như: XT28, HV3, BM125, HT13, HT18, N208, N34, LĐ1, LĐ2 có năng suất chất lượng cao được chọn tạo tại các trung tâm và các viện nghiên cứu lúa Các giống này được đánh giá cao tại các vệ tinh của Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia, tại các tỉnh miền núi phía Bắc trong những năm gần đây
Mục tiêu đánh giá để ứng dụng nhanh vào sản xuất các giống lúa triển vọng có năng suất chất lượng cao, thích ứng rộng cho vùng trồng lúa có điều kiện tự nhiên đặc biệt khó khăn ở các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ là điều hết sức cần thiết Để đáp ứng mục tiêu cấp thiết trên chúng tôi đã tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu xác định một số giống lúa mới có năng suất chất
lượng cao cho các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 152.2 Mục tiêu cụ thể
1 Đánh giá được thực trạng sản xuất lúa của nông dân ở các vùng nghiên cứu, về các biện pháp kỹ thuật thâm canh lúa Trên cơ sở đó, định hướng tập trung những vấn đề cần nghiên cứu, nhằm khắc phục những tồn tại, yếu kém trong sản xuất lúa của nông dân để nâng cao năng suất, chất lượng lúa gạo
2 Tuyển chọn được 3 - 4 giống lúa có năng suất chất lượng cao, có tính
ổn định tốt và thích nghi rộng tại các địa phương ở các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ, để mở rộng diện tích sản xuất thay thế các giống cũ tại địa phương Giúp bà con nông dân đưa các giống được tuyển chọn vào sản xuất làm gạo ăn và hàng hóa, góp phần nâng cao thu nhập
3 Xác định được một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu (thời vụ, mật độ và phân bón) để bổ sung và hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh các giống lúa được tuyển chọn, tại các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ
4 Xây dựng được mô hình trình diễn các giống lúa mới tuyển chọn, nhằm thuyết phục bà con nông dân mở rộng diện tích sản xuất, đáp ứng mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng lúa gạo phục vụ nhu cầu tiêu dùng, hàng hóa xuất khẩu và nâng cao thu nhập cho người nông dân
3 Những đóng góp mới của luận án
- Bằng phương pháp nghiên cứu khả năng thích ứng, độ ổn định về năng suất, đã xác định được 7 giống lúa gồm: 4 giống lúa tẻ HT18, HT13, BM125, HV3; 2 giống nếp N34, N208 và 1 giống lúa cẩm LĐ2 Các giống này có tiềm năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, có tính ổn định cao và thích nghi rộng tại các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế)
Trang 16- Thông qua các thí nghiệm kỹ thuật, đã xây dựng được các biện pháp canh tác phù hợp cho các giống lúa mới tại các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn từ 20 - 30% so với các giống lúa đang sản xuất đại trà ở địa phương
- Góp phần đưa nhanh các giống lúa mới có triển vọng vào sản xuất trên địa bàn các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, được nông dân chấp nhận rộng rãi
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên tại các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ, xác định được các giống lúa có giá trị kinh tế cao,
có khả năng ứng dụng nhanh vào sản xuất cho vùng có điều kiện tự nhiên đặc biệt khó khăn
- Đã xác định được độ ổn định và chỉ số thích nghi của các giống lúa mới, làm cơ sở cho việc phát triển bền vững giống lúa được tuyển chọn tại các vùng nghiên cứu
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đã tuyển chọn được 7 giống lúa gồm: 4 giống lúa tẻ (HT13, BM125, HT18, Hương Việt 3), 2 giống nếp (N34, N208) và 1 giống lúa cẩm LĐ2 có các chỉ tiêu sinh trưởng tốt, cho năng suất và chất lượng nổi bật hơn hẳn các giống đối chứng Đặc biệt các giống này cho hiệu quả kinh tế cao hơn các giống lúa đang sản xuất đại trà ở địa phương từ 20 - 30% Trong 2 năm (2010
và 2011) đã mở rộng được hơn 1.700 ha các giống lúa mới tại các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ
Trang 17- Giới thiệu bổ sung 7 giống triển vọng ở trên vào bộ giống lúa chủ lực cho các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ, làm đa dạng thêm bộ giống, hạn chế được những rủi ro do biến đổi khí hậu bất thường xảy ra ở các tỉnh này
- Đã nghiên cứu đưa ra được các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp cho các giống lúa mới được tuyển chọn, sản xuất tại các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ
- Xây dựng được một số mô hình trình diễn các giống lúa mới được tuyển chọn, thuyết phục được bà con nông dân mở rộng sản xuất, từ đó đánh giá được khả năng phát triển các giống lúa mới tại các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ
5 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu của đề tài
5.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Các hộ nông dân sản xuất lúa
- Tập đoàn gồm 27 giống lúa mới có triển vọng được tuyển chọn từ các viện Nghiên cứu lúa và các trường đại học Nông nghiệp trong nước
- Các biện pháp kỹ thuật canh tác lúa cơ bản (thời vụ, mật độ và phân bón)
5.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế)
Trang 18CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA
HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Diện tích trồng lúa hàng năm trên thế giới khoảng 150 triệu ha, chiếm 11% đất gieo trồng của thế giới (G.S Khush, 1994)[84] Năng suất lúa trên thế giới tăng từ 3,0 - 5,8 tấn/ha trong thời kỳ 1964 - 1990 ở những nơi chủ động tưới tiêu Ở những nơi không chủ động tưới tiêu năng suất chỉ từ 1,4 - 1,8 tấn/ha do thiếu giống được cải tiến phù hợp (Pigali, M Hossain, 1997)[96] Tại Viện lúa Quốc tế, các nhà chọn tạo giống lúa đã quan tâm đến việc cải tiến chất lượng nấu nướng đối với các giống lúa cải tiến Giống lúa IR64
là giống lúa cải tiến đầu tiên có chất lượng gạo tốt, hạt thon dài, trong, hàm lượng amylose và nhiệt độ hoá hồ trung bình Giống lúa IR64 đã nhanh chóng được mở rộng gieo trồng ở các nước Châu Á và được coi là giống lúa tiêu biểu cho nhóm giống hạt dài, chất lượng gạo trung bình (G.S Khush, 1994)[84]
Ở Thái Lan lúa là cây lương thực quan trọng nhất Lúa được trồng rải rác
ở các vùng và phân bố chủ yếu vùng Đông Bắc sau đó ở miền Trung và miền Bắc, vùng phía Nam diện tích trồng lúa không đáng kể Thái Lan trồng nhiều giống lúa cổ truyền địa phương có chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu, là nước đầu tiên trên thế giới xuất khẩu gạo hạt dài, trắng trong, cơm thơm, ngon
có chất lượng cao như: Khao Dawk Mali 105, RD15 giống lúa Khao Dawk Mali 105 là giống phản ứng với ánh sáng ngày ngắn
Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn trên thế giới (42 triệu ha) trong
đó 45% được tưới tiêu Sản lượng đạt trên 100 triệu tấn hàng năm kể từ 1988,
Trang 19đến năm 1994, Ấn Độ đạt tổng sản lượng 120 triệu tấn thóc, năng suất bình quân đạt 2,6 tấn/ha Ấn Độ đã thực hiện chiến lược tăng cường nghiên cứu sản xuất lúa với sự cộng tác của FAO và IRRI (Akitas, 1989)[60] và là một trong những trung tâm có nguồn gen lúa lớn trên thế giới
Theo thống kê của Khush và cộng sự (Khush G.S and N Dela Cruz, 2001)[85], hàng năm toàn thế giới thu hoạch 4 triệu tấn thóc lúa tẻ thơm Basmati Chỉ riêng giống Basmati, Ấn Độ đã gieo trồng 1 triệu ha và Pakistan gieo trồng 750.000 ha
Sản lượng lúa trên thế giới năm 2008 là 689.043.756 tấn, có 114 quốc gia trồng lúa, châu Á chiếm 90%, dẫn đầu là Trung Quốc và Ấn Độ Theo dự báo của Ban Nghiên cứu kinh tế - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn
2007 - 2017, các nước sản xuất gạo ở châu Á sẽ tiếp tục là nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới, bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới Một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp tăng sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Sahara châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil (faostat.fao.org/site/567/)[76]
Năm 1960, năng suất lúa bình quân trên thế giới là 1,04 tấn/ha, đến
2008, năng suất lúa thế giới bình quân đạt 4,25 tấn/ha Năm 2008, nước sản xuất lúa đạt năng suất cao nhất là Uruguay: 8,01 tấn/ha, kế đến là Mỹ: 7,68 tấn/ha và Peru: 7,36 tấn/ha Trong khi đó, nước có sản lượng cao nhất là Trung Quốc, năng suất bình quân chỉ đạt 6,61 tấn/ha, Việt Nam có sản lượng đứng thứ năm, năng suất đạt 5,22 tấn/ha Nếu năng suất lúa Việt Nam phấn đấu bằng với Uruguay thì sản lượng sẽ tăng gần gấp đôi hiện nay
Trang 20Hiện nay trên thế giới, rất nhiều nước còn trong tình trạng thiếu lương thực, đặc biệt là các nước ở châu Phi Trên thế giới có khoảng 800 triệu người thường xuyên trong tình trạng thiếu lương thực Nhu cầu về gạo của con người trên thế giới luôn tăng, khoảng 50 triệu người/ năm Châu Á là nơi sản xuất gạo chính và có tới hơn 90% dân số dùng lúa gạo, tốc độ tăng khoảng 2%/năm, nhưng để tăng diện tích là rất hạn chế vì vậy con đường duy nhất là tăng năng suất (Khush và Cộng sự, 1994)[84]
Trang 21(Nguồn: Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế - IRRI)
Biểu đồ 1.1 Giá gạo trên thế giới từ năm 2003- 2007
Viện nghiên cứu lúa gạo Quốc tế - IRRI dự báo, mức tiêu thụ gạo của thế giới năm 2015 dự kiến đạt khoảng 468 triệu tấn, tăng 10% so với năm
2009 Ngoài ra, cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay cũng khiến các chính phủ gặp khó khăn khi đầu tư vào ngành nông nghiệp - nhân tố chính giúp tăng sản lượng trong dài hạn Như vậy, nhu cầu tiêu dùng gạo trên thế giới vẫn tăng cao hơn so với nguồn cung ứng sẽ là một trong những nhân tố gây tác
động tăng đối với giá gạo trong thời gian tới, (http://www.irri.org/) [76]
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam và các tỉnh vùng Bắc Trung
Bộ
1.1.2.1 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Trang 22Ở Việt Nam, cây lúa có một bề dày về nền văn minh lúa nước, có khoảng 80% hộ gia đình nông thôn trong cả nước tham gia sản xuất lúa gạo (Đỗ Đình Thuận, 2001)[44] Sản xuất và giá thành lúa gạo đã ảnh hưởng tới thu nhập và đời sống của trên 70% dân số Việt Nam, cũng như ảnh hưởng tới
sự ổn định chính trị - xã hội trong nước Sản xuất lúa gạo không chỉ tạo ra kinh tế, ổn định chính trị - xã hội mà còn tạo ra những giá trị văn hoá, tinh thần Xây dựng vùng lúa có phẩm chất gạo cao phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu là chiến lược lâu dài Việc chọn tạo giống lúa có phẩm chất gạo cao đáp ứng xuất khẩu, đáp ứng mở rộng vùng sản xuất hàng hoá chất lượng cao là nhiệm vụ lớn của các nhà tạo giống (Bùi Bá Bổng, 1995)[2]
Các giống lúa tẻ thơm cổ truyền có chất lượng cao được nông dân nhiều vùng trồng như: Tám thơm, các giống gạo Dự ở các tỉnh miền Bắc, Nàng Hương, Nàng Thơm, Nho nhen, Nanh chồn ở miền Nam cơm dẻo, mềm, thơm, có hàm lượng Protein, Vitamin cao nên được người tiêu dùng trong nước ưa chuộng Các giống lúa trên được trồng khoảng 400 ngàn ha ở các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây (Bùi Quang Toản, 1999)[46]
Lưu Ngọc Trình và các cộng sự dựa trên các mẫu isozyme để phân loại
643 giống lúa cổ truyền đại diện cho các hệ sinh thái của Việt Nam, đã phát hiện ra rằng lúa Indica chiếm 91,9% nguồn gen lúa của Việt Nam, lúa Japonica 6,8% và 1,3% chưa phân loại được (Lưu Ngọc Trình, 1999)[112]
* Những trở ngại và thách thức
Quá trình đô thị hoá tăng, diện tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp, nhiều vùng sản xuất lúa được nông dân sở hữu rất manh mún, khó cơ giới hóa Quá trình áp dụng giống mới chịu thâm canh, phát triển thành những vùng sản xuất hàng hóa là điều kiện thuận lợi để các loại dịch hại mới nguy
Trang 23hiểm, khó phòng trừ Sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật có xu hướng tăng, ảnh hưởng đến chất lượng nông sản Tham gia vào thị trường thương mại thế giới
có sự đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng nông sản Do vậy phải có sự đầu tư một cách đồng bộ từ sản xuất đến đánh giá kiểm định chất lượng, bảo quản và vận chuyển tiêu thụ
Bảng 1.1 Dự báo sản xuất lúa của Việt Nam đến năm 2030
Diện tích (triệu ha) 7.40 7.29 6.93 6.66 6.30 Năng suất (tấn/ha) 5.22 5.30 5.60 5.85 6.25 Sản lượng (triệu tấn) 38.7 38.6 39.6 41.3 43.0
(Nguồn: Bo nguyen van, 2010)[64], Vietnam Academy of Agricultural
Sciences)
1.1.2.2 Sản xuất lúa thơm, lúa chất lượng cao ở Việt Nam
Diện tích lúa tẻ thơm ở Việt Nam chiếm khoảng 1,2% trong tổng diện tích lúa toàn quốc (khoảng 80.000 ha), trong đó vụ Xuân 30.000 ha, vụ Mùa 50.000 ha Ở miền Bắc, hai tỉnh Nam Định và Thái Bình là vùng trồng lúa tẻ thơm nhiều nhất chiếm khoảng 30% toàn vùng (khoảng 15.000 ha) (Lê Vĩnh Thảo, Bùi Chí Bửu, Lưu Ngọc Trình, Nguyễn Văn Vương, 2004)[42] Yêu cầu gạo tẻ thơm được phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu là tuỳ thuộc từng nước, từng vùng (Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang, 2000)[8]
Ở vùng Trung Bộ, diện tích trồng lúa thơm không đáng kể, chiếm khoảng 10% sản lượng lúa tẻ thơm của Việt Nam với sản lượng 25.000 tấn Các tỉnh miền Nam trồng lúa tẻ thơm, lúa chất lượng phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu chiếm 35%, sản lượng toàn quốc (khoảng 105.000 tấn) (Lê Vĩnh Thảo, Bùi Chí Bửu, Lưu Ngọc Trình, Nguyễn Văn Vương, 2004)[42]
Trang 24Các giống lúa tẻ thơm địa phương có đặc điểm quý là phẩm chất gạo tốt, hạt thon dài, cơm dẻo, ngọt, thơm Nhiều giống lúa Mùa có tỷ lệ gạo trắng, cũng như tỷ lệ gạo nguyên cao hơn các giống lúa cao sản (Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang, 1999)[7]
Lúa tẻ thơm Việt Nam được phân bố rộng từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng đến miền núi Thời gian trước đây, lúa tẻ thơm ở Miền Bắc được chia thành hai nhóm: lúa Tám và lúa Nương (Lê Vĩnh Thảo, 2003)[41] Hiện nay trong sản xuất tồn tại nhiều giống lúa tẻ thơm cải tiến có dạng thấp cây, hạt màu vàng đến nâu, cơm thơm và ngon như các giống HT1, LT2, Bắc thơm số 7, DT122, Việt hương chiêm, các giống lúa tẻ thơm cải tiến có năng suất cao, không phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, bố trí sản xuất được hai vụ trong năm nên diện tích trồng lúa tẻ thơm của cả nước ngày càng phát triển phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của người dân Việt Nam, đồng thời tham gia xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu được 7,1 triệu tấn gạo, năm 2012 dự kiến xuất khẩu đạt từ 7,7- 8 triệu tấn
Việt Nam có nguồn gen cây lúa rất đa dạng, có nguồn lao động dồi dào, điều kiện tiếp thu và phát triển khoa học nông nghiệp từ nhiều nước trên thế giới (Nguyễn Hữu Nghĩa, 2000)[32] Bên cạnh những thuận lợi trên còn có nhiều khó khăn đáng kể như chất lượng nông sản của ta nói chung thấp nên sức cạnh tranh trên thị trường thấp, sản xuất lúa chủ yếu theo hướng năng suất cao, ít chú ý đến chất lượng (Lê Huy Ngọ, 2001)[35] Các giống lúa xuất khẩu của ta còn ít, thiếu giống chất lượng tốt để đáp ứng nhu cầu của sản xuất nông nghiệp Kế hoạch mua gạo của nước ta chưa chủ động, nên giá cả không
ổn định, công tác dự tính chưa kịp thời và các doanh nghiệp còn thiếu kinh nghiệm trong việc khai thác thị trường, ký kết hợp đồng
Sự cạnh tranh về chất lượng, giá cả, thương hiệu giữa các nước xuất khẩu gạo ngày càng gay gắt, do đó các giải pháp tăng khả năng cạnh tranh
Trang 25xuất khẩu gạo ở Việt Nam, trong đó giải pháp khoa học, kỹ thuật được áp dụng nhanh chóng vào sản xuất nhằm giảm giá thành, tăng chất lượng và đa dạng hoá về chủng loại gạo xuất khẩu và tiêu dùng trong nước
1.1.2.3 Sản xuất lúa thơm, lúa chất lượng cao ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
Các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ có đặc thù riêng, thường bị thiên tai bất thường Do vậy các giống lúa sử dụng cho các tỉnh này yêu cầu có TGST ngắn để tránh bão lụt (Phạm Văn Chương, 1997)[10]
Các giống lúa tẻ thơm, nếp thơm gieo trồng cho các tỉnh vùng Bắc Trung
Bộ được mở rộng trong 6 năm trở lại đây như Bắc thơm 7, HT1, HT6, LT2, HC95, N99, Việt Hương Chiêm, TL6, giống lúa HT1 được nông dân chấp nhận và quy mô ngày càng được nhân rộng Giá trị lúa tẻ thơm ở các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh cao hơn lúa tẻ thường từ 20 - 30% Bằng phương pháp phân tích Isozyme, phân tích khoảng cách di truyền, một số giống lúa tám thơm Việt Nam lần đầu tiên được xác định thuộc nhóm Japonica (Lưu Ngọc Trình, 1999)[112]
Việc đánh giá khả năng thích ứng và phát triển các giống lúa thơm, lúa nếp, lúa đen ngắn ngày, năng suất cao tại các tỉnh miền Trung nói chung và các tỉnh phía Nam vùng Bắc Trung Bộ là mục tiêu được chúng tôi quan tâm trong luận án và thời gian tới
1.2 Nghiên cứu lúa trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm nông của các giống lúa
1.2.1.1 Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng (TGST) của lúa gồm hai giai đoạn là sinh trưởng sinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng sinh thực Các giống lúa Mùa cảm ứng
Trang 26ánh sáng ngày ngắn mạnh, phải chờ đến quang kỳ thích hợp mới bắt đầu phân hóa đòng để trổ bông Giai đoạn chín thường kéo dài khoảng 27 - 35 ngày, trung bình 30 ngày Hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới có giai đoạn chín khoảng 30 ngày
Thời gian sinh trưởng của lúa bị ảnh hưởng bởi môi trường như: thời gian chiếu sáng/ngày, nhiệt độ và điều kiện đất Nghiên cứu di truyền của các đột biến làm mất tính cảm ứng quang chu kỳ ở một số giống lúa thơm đặc sản miền Bắc, Nguyễn Minh Công (2005)[11] cho biết các đột biến làm mất tính cảm ứng quang chu kỳ là các đột biến lặn, khả năng biểu hiện ở F1 không phụ thuộc vào hướng lai, được di truyền theo định luật Mendel trong lai đơn Các đột biến gây ra chín sớm trong vụ Mùa là các đột biến lặn không hoàn toàn, di truyền theo định luật Mendel trong lai đơn Kiều Thị Ngọc (2002)[33] cho rằng: gen cộng tính và siêu trội điều khiển tính trạng thời gian sinh trưởng
1.2.1.2 Chiều cao cây
Chiều cao cây (CCC) có liên quan tới tính đổ ngã, tỷ lệ hạt và rơm, tính cảm ứng với phân đạm và tiềm năng cho năng suất cao Thân rạ cao, dễ đổ ngã sớm, bộ lá rối, tăng hiện tượng bóng rợp tạo điều kiện cho sâu bệnh cư trú gây hại cản trở quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp về hạt làm cho hạt
bị lép làm giảm năng suất Chiều cao cây lúa thích hợp là từ 80 - 100 cm, có thể cao đến 120 cm trong một số điều kiện nào đó (Jennings và cộng sự, 1979)[79] Cây cao 90 - 100 cm được coi là lý tưởng về năng suất (Akita, 1989)[60] Cải thiện dạng hình thấp cây nhằm tạo điều kiện cho chúng tiêu thụ một khối lượng dinh dưỡng khá lớn trong đất để đạt năng suất cao, thân cây lúa dày hơn thì khả năng tích lũy chất khô tốt hơn Thân cứng và dày có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chống đổ ngã và dẫn tới chỉ số thu hoạch cao hơn (Clarkson và Hanson, 1980)[72] Nếu thân lá không cứng khoẻ, không
Trang 27dày, thì dễ dẫn đến đổ ngã, tán lá che khuất lẫn nhau làm gia tăng một số bệnh hại dẫn đến năng suất giảm (Vergara, 1988)[113] Khi tăng mức bón đạm, chiều cao cây và thời gian sinh trưởng tăng trong cả vụ Đông Xuân (ĐX) và
vụ Hè Thu (HT)
1.2.1.3 Chiều dài bông
Chiều dài bông (CDB) do yếu tố di truyền quyết định, thay đổi tùy giống
và góp phần gia tăng năng suất, bông lúa đóng vai trò quan trọng trong quang hợp Quang hợp có thể gia tăng 25 - 40%, nếu độ cao của bông lúa trong quần thể thấp hơn 40% chiều cao của tán lá Trong tương lai, việc chọn tạo cây lúa
có chiều dài bông bằng nửa chiều cao của thân cây là tốt nhất (Setter và cộng
sự, 1994)[98] Giống có bông dài, hạt xếp sít, tỷ lệ hạt lép thấp, khối lượng
1000 hạt cao sẽ cho năng suất cao Mehetre và cộng sự (1994)[85] cho rằng:
số hạt chắc trên bông, chiều dài bông là tính trạng chính trong việc đóng góp vào năng suất trên những vùng đất nhiễm mặn Theo Gonzales và Ramirez (1998)[74], chiều dài bông và khối lượng (KL) 1000 hạt chịu tác động rất ít bởi các yếu tố môi trường Các dòng, giống có nhiều nhánh và bông to sẽ cho năng suất cao hơn
1.2.1.4 Khả năng đẻ nhánh
Khả năng đẻ nhánh sớm quan trọng cho cả lúa gieo lẫn lúa cấy vì nó làm
giảm sự cạnh tranh của cỏ dại, đền bù một phần cho các cây bị mất hay sạ với mật độ thấp Số nhánh mang đặc tính di truyền số lượng, khả năng đẻ nhánh sớm liên quan với khả năng sinh trưởng mạnh và sớm của các giống lúa cải tiến, nhưng nó lại di truyền độc lập với nhiều đặc tính quan trọng khác Các giống lúa cải tiến hiện nay có thể đẻ tới 20 - 25 nhánh trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, nhưng chỉ khoảng 14 - 15 nhánh cho bông hữu hiệu, còn lại là nhánh vô hiệu hoặc bông rất nhỏ Cây lúa chỉ cần có số bông vừa phải, gia
Trang 28tăng số hạt chắc trên bông thì tốt hơn là gia tăng số bông trên đơn vị diện tích (Bùi Chí Bửu, 1998)[5]
Nguyễn Văn Hoan (2006)[18] cho biết: Sự tương quan giữa năng suất và
số bông/khóm ở mỗi giống lúa là khác nhau, ở giống bán lùn có tương quan chặt (r = 0,85), nhóm lùn (r = 0,62), nhóm cao cây (r = 0,54) Sự tương quan giữa năng suất và số hạt trên bông thì ngược lại, nhóm cao cây (r = 0,96), nhóm lùn (r = 0,66), nhóm bán lùn (r = 0,62) Còn sự tương quan giữa năng suất và chiều cao cây thì nhóm lùn là chặt nhất (r = 0,62), nhóm bán lùn (r = 0,49) nhóm cao cây (r = 0,37)
1.2.1.5 Số bông/khóm
Các giống lúa cải tiến hiện nay có thể đẻ tới 20-25 nhánh trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, nhưng chỉ khoảng 14-15 nhánh cho bông hữu hiệu, còn lại là nhánh vô hiệu hoặc bông rất nhỏ Cây lúa chỉ cần có số bông vừa phải, gia tăng số hạt chắc trên bông thì tốt hơn là gia tăng số bông trên đơn vị diện tích (Bùi Chí Bửu, 1998)[5]
1.2.1.6 Tổng số hạt trên bông
Tổng số hạt trên bông do tổng số hoa phân hoá và số hoa thoái hoá quyết định Số hoa phân hoá càng nhiều, số hoa thoái hoá càng ít thì tổng số hạt trên bông sẽ nhiều Tỷ lệ hoa phân hoá có liên quan chặt chẽ với chế độ
chăm sóc (Nguyễn Văn Hoan, 2006)[18] Ahamadi và cs (2008)[58] cho biết:
có đến 19 Locút của gen điều khiển tính trạng số lượng nằm trên các NST (nhiễm sắc thể) số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 9, 11 và 12 kiểm soát tổng số hạt trên bông Trong đó, SPP1 nằm trên NST số 1, SPP3a, SPP3b nằm trên NST số 3, SPP7
trên NST số 7 và SPP8 trên NST số 8 (Liu và cs., 2010)[90]
Số gié cấp 1, đặc biệt là số gié cấp 2 nhiều thì số hoa trên bông cũng nhiều Số hoa trên bông nhiều là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho tổng số
Trang 29hạt trên bông lớn Việc tổng hợp carbohydrate ở thân lá cũng như việc vận chuyển tổng hợp những chất khô vào hạt đòi hỏi ưu tiên trước hết trong việc làm chắc hạt Muốn có sự vận chuyển tổng hợp tốt hơn thì bộ lá có cấu tạo dày, xanh đậm hơn, tuổi thọ lá kéo dài là một đặc tính rất quan trọng và cần thiết Bộ lá thẳng đứng thì cây lúa sử dụng ánh sáng hữu hiệu hơn (Yoshida S 1981)[116]
1.2.1.7 Tỷ lệ hạt chắc
Tỷ lệ hạt chắc có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất lúa, tỷ lệ hạt chắc còn phụ thuộc vào lượng tinh bột được tích luỹ trên cây Trước khi trổ bông, nếu cây lúa sinh trưởng tốt, quang hợp thuận lợi thì hàm lượng tinh bột được tích luỹ và vận chuyển lên hạt nhiều, làm cho tỷ lệ hạt chắc cao Mạch dẫn vận chuyển tốt thì quá trình vận chuyển tinh bột tích luỹ trong cây đến hạt được tốt làm tỷ lệ hạt chắc sẽ cao Tỷ lệ hạt chắc còn chịu ảnh hưởng của quá trình quang hợp sau khi trổ bông Sau khi trổ bông, quang hợp ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tích luỹ tinh bột trong phôi nhũ; ở giai đoạn này, nếu điều kiện khí hậu không thuận lợi cho quá trình quang hợp thì tỷ lệ hạt chắc giảm
rõ rệt (Nguyễn Văn Hoan, 2006)[18] Những điều kiện thời tiết không thuận lợi như nhiệt độ thấp hoặc cao vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm và trổ, có thể gây ra bất thụ Các điều kiện thời tiết không thuận lợi lúc chín có thể ức chế sự sinh trưởng tiếp của vài gié hoa cho ra những gié hoa lép (Yoshida S.1981)[116] Trong điều kiện tăng trưởng và chăm sóc tốt, vẫn có thể đạt năng suất cao khi hạt lép chiếm từ 10 - 15% Tỷ lệ lép cao hơn là điều đáng ngại
1.2.1.8 Khối lượng hạt
Khối lượng hạt cũng là một đặc điểm quan trọng góp phần nâng cao năng suất lúa Theo nghiên cứu về các thông số di truyền của Gonzales O.M
Trang 30và cộng sự, (1998)[74], Khối lượng 1000 hạt chịu tác động rất ít bởi các yếu
tố môi trường Để tăng khối lượng hạt, trước lúc trổ bông, cần bón nuôi đòng
để làm tăng kích thước vỏ trấu Sau khi trổ bông, cần tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt để quang hợp được tiến hành mạnh mẽ, tích luỹ được nhiều tinh bột thì khối lượng hạt sẽ cao
1.2.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu chất lượng gạo
Chất lượng hạt gạo được đánh giá thông qua nhiều chỉ tiêu, xếp thành ba nhóm: chất lượng dinh dưỡng, chất lượng thương phẩm hay chất lượng kinh
tế và chất lượng sử dụng (Nguyễn Thị Trâm, 2001)[48]
1.2.2.1 Mùi thơm của hạt lúa
Di truyền của tính trạng thơm khá phức tạp, Nguyễn Minh Công và cộng
sự, 2007[11] xác định tính thơm của lúa tám Xuân Đài được kiểm soát bởi ít nhất 2 gen lặn và có tác động cộng tính Tám thơm Hải Hậu đột biến mất thơm hoặc thơm nhẹ là do đột biến trội phát sinh từ các locus khác nhau
Sự hình thành và duy trì mùi thơm được gia tăng nếu trong giai đoạn hạt vào chắc nhiệt độ xuống thấp và phụ thuộc biên độ nhiệt (Meng và Zhou, 1997)[93] Hàm lượng 2-AP còn bị ảnh hưởng bởi khô hạn Khô hạn trong giai đoạn chín sữa làm tăng hàm lượng 2-AP nhưng khô hạn ở giai đoạn chín vàng thì không tăng và hàm lượng 2-AP tăng cao nhất trong khoảng 4 - 5 tuần sau trổ, sau đó giảm dần (Yoshihashi và cộng sự, 2002[117]) Cho nên tháo cạn nước ở giai đoạn vào chắc sẽ thuận lợi cho việc hình thành mùi thơm Goufo và cộng sự (2010)[75] cho biết cần thu hoạch sớm để có mùi thơm đậm nhưng có thể năng suất giảm do hạt chưa chín đều và cấy mật độ dầy hơn bình thường sẽ làm giảm mùi thơm
Trang 31Mùi thơm phụ thuộc theo mùa vụ gieo trồng, loại đất, địa điểm và độ phì của đất (Somrith, 1996)[108] Lúa thơm trồng các vùng sinh thái khác nhau sẽ
có độ thơm khác nhau (Ahmad và cs., 2010)[58].
Suwanarit và cộng sự (1996)[110] cho biết mùi thơm, độ mềm cơm,
màu sáng trắng, độ dính của gạo Khao Dawk Mali 105 bị ảnh hưởng tỷ lệ cân đối phân đạm với phân khác Bón tăng lượng kali cũng được Bahmaniar và cộng sự (2007)[62] nghiên cứu và cho biết đã làm độ bền thể gel cứng lên Bón cân đối giữa đạm và lưu huỳnh sẽ làm tăng mùi thơm của lúa (Srivastava
và cộng sự, 2007)[109] Goufo và cộng sự (2011)[75] cho biết phun chất kích thích sinh trưởng như GA3, 3-indole acetic acid, paclobutrazol ở giai đoạn lúa
trổ 25% làm giảm hàm lượng 2-AP tuần tự là 9%, 19% và 22% Sarawgi và
cs (2010)[97] nghiên cứu tổ hợp lai Gopalbhog và Krishabhog (không thơm)
kết luận mùi thơm của Gopalbhog được kiểm soát bởi một gen lặn, ở tổ hợp lai Tarunbhog/Gangabarud cho biết một gen trội quy định mùi thơm của Tarunbhog Tại hội nghị lúa Quốc tế lần thứ 3 ở Hà Nội, Calingacion và cộng
sự (2010)[66] báo cáo có 519 chất bay hơi ở gạo jasmine mới và basmati dự trữ, trong đó có 66 chất đóng vai trò chính trong mùi thơm của jasmine Nghiên cứu về mùi thơm trên các giống lúa địa phương, Mathure và cộng sự (2011)[91] cho biết các chất 2-AP, penta decanal, guaiacol, benzyl alcohol, indole và vanilin đóng vai trò chính tạo nên mùi thơm của nhóm gạo Basmati, Ambemohar, Kolam, Indrayani ở Ấn Độ Chen và cộng sự (2006)[69] đã xác định vị trí gen thơm nằm giữa chỉ thị phân tử L02 (CAP) và L06 với khoảng cách vật lý là 69 kb Sha và Linscombe (2004)[99] so sánh kết quả thử thơm bằng dung dịch KOH so với phân tích hàm lượng 2-AP, tác giả cho biết: thử thơm bằng dung dịch KOH trong phòng sẽ có hiệu quả cả với mẫu nhỏ có mùi thơm nhẹ khi so với phép thử định lượng 2-AP
Trang 32Phương pháp điện di SDS-PAGE: Băng thơm được xác định ở vị trí 24,4 Kda, tùy theo mức độ đậm nhạt của băng protein mà đánh giá mùi thơm của hạt lúa, hạt lúa có băng 24,4 Kda đậm sẽ thể hiện mùi thơm cao hơn hạt lúa
có băng 24,4 Kda nhạt (Quan Thị Ái Liên và cộng sự, 2010[26]; Nguyễn Thị Mai Hạnh và cộng sự, 2010)[15]
Như vậy, qua tổng hợp tài liệu cho thấy, tính thơm quyết định bởi yếu tố
di truyền nhưng chịu ảnh hưởng rất lớn của biện pháp canh tác và môi trường, những yếu tố trên đồng ruộng, cần chú ý đến những yếu tố bảo quản khác như điều kiện kho chứa, phương pháp chế biến, xay xát, cách nấu cơm, đồ cơm, đều ảnh hưởng đến mùi thơm
1.2.2.2 Hàm lượng amylose
Chất lượng nấu ăn và nếm thử được xác định bởi hàm lượng amylose và nhiệt hóa hồ mà ít phụ thuộc vào hàm lượng protein Người Việt Nam thường thích cơm mềm nhưng lại ráo và đậm Nếu hàm lượng amylose trung bình từ
22 - 24% thì nhiệt hóa hồ cũng trung bình và cơm sẽ mềm, nếu hàm lượng amylose từ 25 - 26% thì cơm hơi khô nhưng lại cứng, hàm lượng amylose nhỏ hơn 22% cơm hơi ướt và nhạt (Nguyễn Thị Trâm, 2001)[48]
Alen Wxa quy định hàm lượng amylose cao, trội không hoàn toàn so với alen Wxb quy định hàm lượng amylose thấp Wxa hiện diện ở hầu hết lúa Indica và Wxb ở lúa Japonica (Zhao và cs 2010)[118] Theo Kumar I and
Khush G.S (1986)[88] cho rằng chọn cá thể có hàm lượng amylose mong muốn, cần tiến hành ở thế hệ phân ly đầu (F2) sẽ cho hiệu quả tốt hơn Môi trường gây nên sự biến động đến hàm lượng amylose, hàm lượng amylose có thể biến đổi khoảng 6% ở cùng một số giống khi chuyển vùng trồng từ nơi này đến nơi khác hay từ vụ này sang vụ khác Hàm lượng amylose trong tinh bột nội nhũ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường
Trang 331.2.2.4 Nhiệt hóa hồ
Nhiệt hóa hồ có liên quan một phần với lượng amylose của tinh bột, khi hạt tinh bột được tác động bởi nhiệt độ hoặc hóa chất thì các phân tử tinh bột
bị phá vỡ thông qua sự nóng chảy hay còn gọi là nhiệt hóa hồ (Vũ Hiếu Đông
và cộng sự, 2005)[14] Chen và cs., 1992[68] và Kiani và cs., 2008[86] báo
cáo nhiệt hóa hồ cao trội hoàn toàn so với nhiệt hóa hồ thấp Nhiệt hóa hồ thấp không liên hệ chặt với lượng amylose cao, thấp hay trung bình Gạo có nhiệt hóa hồ cao có phẩm chất kém (Jennings và cộng sự, 1979)[79] Singh R.K và cộng sự (2000)[104] cho biết lúa thơm được phân thành ba nhóm như Basmati, Jasmine và trung gian giữa Basmati và Jasmine; nhóm Basmati có nguồn gốc ở Ấn Độ và Pakistan, hàm lượng amylose trung bình, nhiệt hóa hồ
từ thấp đến trung bình, độ bền thể gel trung bình; ngược lại nhóm Jasmine (Thái Lan) có hàm lượng amylose và nhiệt hóa hồ thấp và độ bền thể gel mềm
1.2.2.5 Độ bền thể gel
Trang 34Ðộ bền thể gel biến động rất lớn giữa hai vụ Ðông Xuân và Hè Thu, giữa các điểm canh tác khác nhau (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2000)[8]
Độ bền thể gel cứng trội hơn độ bền thể gel cấp trung bình và mềm (Kiani và cộng sự, 2008)[86] Tang và cộng sự (1989) [111] khảo sát độ bền thể gel và nhiệt hóa hồ của 45 giống lúa có hàm lượng amylose thấp cho thấy, về độ bền thể gel có 34 giống thuộc nhóm mềm, 9 giống thuộc nhóm trung bình và 2 giống thuộc nhóm cứng; về nhiệt hóa hồ có 35 giống thuộc nhóm thấp, 1 giống thuộc nhóm trung bình và 4 giống thuộc nhóm cao Kết quả này cho thấy các giống lúa có hàm lượng amylose thấp thường có độ bền thể gel mềm
và nhiệt hóa hồ thấp Tuy nhiên cũng có một số trường hợp không có tương quan thuận, lúa có hàm lượng amylose thấp vẫn có độ bền thể gel trung bình hoặc cứng và nhiệt hóa hồ trung bình hoặc cao Trong cùng một nhóm có hàm lượng amylose cao giống nhau (>25%), giống lúa nào có độ bền thể gel mềm hơn, giống lúa đó được ưa chuộng nhiều hơn (Khush G.S và cộng sự, 1979)[83]
Những chỉ tiêu trên được định lượng để đánh giá chất lượng lúa gạo, cũng được chúng tôi quan tâm để đưa vào theo dõi trong các thí nghiệm, hy vọng sẽ tuyển chọn được các giống lúa có năng suất chất lượng cao, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận và chỉ nhiễm nhẹ với các loại sâu bệnh hại
1.2.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng gạo
Chất lượng gạo là một trong bốn mục tiêu chính trong công tác chọn tạo giống Chất lượng lúa gạo được đánh giá thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau như: Hình dạng hạt, màu sắc vỏ hạt, tỷ lệ gạo xay, tỷ lệ gạo xát, tỷ lệ gạo nguyên, tỷ lệ hạt bạc bụng, chất lượng thử nếm, chất lượng dinh dưỡng và đặc điểm trong quá trình chế biến
Trang 35Hình dạng hạt gạo là đặc tính giống tương đối ổn định, ít bị thay đổi do điều kiện ngoại cảnh Tuy nhiên, nếu sau khi nở hoa, nhiệt độ hạ thấp có thể làm giảm chiều dài hạt nhưng không nhiều Nếu những cá thể có hình dạng hạt đẹp ở F2 thì ít biến đổi ở F3 và các thế hệ sau Vì vậy, trong các quần thể
từ F3 hay các dòng quần thể không có hy vọng chọn được dạng hạt đẹp hơn F2
hoặc nguyên bản (Nguyễn Thị Trâm, 1998)[47]
Theo Vũ Văn Liết và cộng sự (1995)[25] hàm lượng amyloza có tương quan tương đối chặt chẽ với đặc điểm nông học của giống như chiều cao cây, chiều dài bông, khối lượng 1000 hạt Hàm lượng amylose thấp có tỷ lệ gạo gãy tăng, độ nở thấp, độ dính, độ dẻo cao Những giống có tỷ lệ D/R cao thì hàm lượng amyloza thấp và tỷ lệ gạo gãy cao
Theo Bùi Chí Bửu và cộng sự (1999)[6] thì mức độ ổn định các chỉ tiêu chất lượng của hạt gạo được xắp xếp thứ tự:
Dạng hạt < độ hoá hồ < hàm lượng amyloza < tỷ lệ gạo lật < Tỷ lệ gạo trắng
< độ bạc bụng < độ bền gen < tỷ lệ gạo nguyên
1.2.3 Phương pháp chọn tạo giống lúa thơm, lúa chất lượng cao
1.2.3.1 Chọn dòng thuần từ các giống địa phương
Các giống lúa địa phương được hình thành và phát triển lâu dài tại những vùng nhất định Bản thân chúng là những quần thể được hình thành do chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo nên thích ứng bền vững với điều kiện tự nhiên Nền di truyền của các giống địa phương càng rộng thì tính bền vững càng tốt Chính vì lúa địa phương có nền di truyền rộng nên có thể chọn lọc dòng thuần để tạo ra những dạng mới có nền di truyền hẹp hơn nhưng lại có những tính trạng đặc trưng rất phù hợp với nhu cầu của con người Giống lúa thành công đầu tiên bằng kỹ thuật chọn dòng thuần là giống lúa Basmati 370 vào năm 1933 ở Kala Shah Kaku của Pakistan Giống này thơm, chất lượng
Trang 36gạo tốt, được trồng khá phổ biến ở Ấn Độ và Pakistan, đồng thời trở thành tiêu chuẩn giống xuất khẩu của nhóm lúa này (Shobha Rani và cộng sự, 2006)[106] Somrith (1996)[108] báo cáo giống Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan được những nông dân chọn lọc trong quần thể lúa địa phương từ năm 1945 Đến nay, giống này là giống xuất khẩu chủ lực của Thái Lan Bằng
kỹ thuật chọn lọc dòng thuần, giống lúa nàng Hương 2, nàng Thơm chợ Đào 5 được chọn từ giống lúa thơm nổi tiếng nàng Hương và nàng Thơm chợ Đào của các tỉnh phía Nam (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2005)[1], Tám thơm Xuân Đài, Tám thơm Trực Thái, Dự số 2, Tám số 5, Tám xoan Thái Bình, Tám số 1, Dự lùn ở các tỉnh phía Bắc (Nguyễn Hữu Nghĩa, 2010)[94]
1.2.3.2 Lai và chọn lọc quần thể phân ly
Các giống lúa cổ truyền thường có khả năng tổ hợp kém; vì thế, các nhà chọn giống dùng kỹ thuật lai tích lũy nhiều bố mẹ để phá vỡ những liên kết không mong muốn và tăng tần suất tái tổ hợp (Singh và cộng sự, 2000)[104] Theo phương pháp này, giống lúa thơm Pusa Basmati-1 có dạng hình thấp, năng suất cao, mất tính cảm quang đã được chọn từ tổ hợp lai tích lũy giữa 6 giống, trong đó hai giống lúa thơm chất lượng cao (Basmati 370, Karnal) và bốn giống lúa cao sản (TKM6, IR8, Ratna và IR72) Giống lúa Việt Đài 20 được Yang và cộng sự (1988)[114] chọn từ tổ hợp lai tích lũy giữa năm giống lúa khác nhau trong đó một giống có nguồn gen thơm từ Khao Dawk Mali
105 và một từ Tainung Sen 12 Nguyễn Thanh Tuyền và cộng sự, (2007)[50] thực hiện tổ hợp lai giữa DT10 và Amber đã chọn tạo được giống tẻ thơm Số
10 có đặc điểm chính tương đương với giống lúa Bắc thơm số 7 như thơm ngon, cơm mềm dẻo, ráo rời, gạo trắng đục
Nguyễn Thị Trâm và cộng sự, (2006)[49] đã chọn tạo được giống lúa thơm Hương Cốm từ các giống Hương MR365, Tám xoan đột biến (TX93),
Trang 37Maogô và R9311 có hàm lượng amylose 17,5%, hàm lượng protein 8,7%, nhiệt hóa hồ thấp, độ bền thể gel mềm, chống đổ ngã rất tốt Dương Văn Chín, (2009)[9] cho biết Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long đã chọn được giống lúa OM4900 có mùi thơm nhẹ từ tổ hợp lai Jasmine 85 và Lemont, Võ Công Thành (Trường Đại học Cần Thơ) chọn ra giống TP5 và TP8 Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự, (2010)[12] báo cáo đã chọn tạo được 7 giống lúa tẻ thơm mới như AC5, T10, HT6, TL6, HT9, PC5, SH4 có chất lượng cao phục
vụ cho vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ
Giống lúa thơm Jasmine 85 có nhiệt hóa hồ và hàm lượng amylose thấp tương tự lúa thơm của Thái Lan, có TGST ngắn (105 - 110 ngày), thấp cây hơn IR841 và năng suất khá (5 - 6 tấn/ha) Tuy nhiên, đây là giống nhiễm nặng đối với các bệnh hại chính ở ĐBSCL Để chọn tạo giống lúa tốt hơn giống Jasmine 85, qua 6 năm chọn tạo, đến năm 2008, Sha và Linscombe, (2007)[100] tại Trung tâm Nghiên cứu lúa Louisiana đã phóng thích giống lúa Jazzman Giống lúa này có hàm lượng amylose là 14,5% trong khi KDM 105
có hàm lượng amylose là 11,8%
Nhiều giống lúa thơm khác cũng được các nhà khoa học chọn tạo thành công như giống lúa thơm MRQ50, MRQ74 ở Malaysia; giống lúa cải tiến Tainung Sen 72 ở Đài Loan; giống Hawn Suphanburi, Khao Hom Klongluang, Pathum Thani 1 được sản xuất rộng rãi hiện nay tại Thái Lan Nhiều giống lúa thơm phổ biến như Khao Dawk Mali 105, Basmati 370 và IR841 đã được sử dụng để lai với giống Shuang – Zhu - Zhan với mục đích tạo ra những giống lúa có chất lượng cao, hạt gạo dài thon và đạt năng suất cao (Choi và cộng sự, 2004[70], Chuanyuang và Shuzhen, 1994)[71]
1.2.3.3 Chọn lọc từ quần thể đột biến
Trang 38Một trong những kỹ thuật được sử dụng khá thành công trong việc tạo
ra những thay đổi mong muốn về tính trạng được kiểm soát bởi một hoặc đa gen là dùng phương pháp đột biến Lê Xuân Thám và cộng sự, (2004)[39] cho rằng, từ đầu thập niên 90, nhiều tác giả đã cố gắng nghiên cứu cải tiến các giống lúa Tám đặc sản của Việt Nam bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma trên các giống như: Tám rồng, Tám cổ ngỗng, tám thơm Nam Định, Tám ấp
bẹ Xuân Đài Bằng phương pháp chiếu xạ, giống lúa thơm đột biến Khooshboo 95 được chọn tạo có năng suất cao và chiều cao cây thấp hơn 22% so với giống Jajai 77 (Baloch và cộng sự, 1999)[63] Ở Thái Lan, Somrith (1996)[108] báo cáo giống RD15 được tạo bằng kỹ thuật đột biến từ giống Khao Dawk Mali 105 có TGST ngắn hơn Khao Dawk Mali 105 từ 7 đến 10 ngày mà vẫn giữ được phẩm chất tốt của Khao Dawk Mali 105 Boonsirichai và cộng sự (2007)[65] thu được 3 dòng lúa số 1, 4 và 16 từ Khao Dawk Mali 105 đột biến không cảm ứng quang chu kỳ
1.2.3.4 Ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống
Ứng dụng chỉ thị phân tử và sắc khí để chọn tạo giống, tại Hội nghị Quốc gia chọn tạo giống lúa năm 2004 Nguyễn Thị Lang và cộng sự (2004)[24] báo cáo 2 mồi RG28F - R và RM223 có thể sử dụng trong chương trình chọn tạo giống lúa thơm Năm 2008, Nguyễn Thị Lang và cộng sự đã sử dụng 2 mồi trên để xác định tính thơm trên OM4900 (cặp lai C53/Jasmine 5)
và trên OM6161 (cặp lai C51/Jasmine 85) và cho rằng 2 chỉ thị phân tử này giúp phát hiện quần thể phân ly F2 có chứa gel fgr trong các các thể
Nguyễn Thị Lang và cộng sự, (2008) đã sử dụng hai mồi RG28F- R và RM223 để xác định tính thơm trên OM4900 (cặp lai C53/Jasmine 85) và trên OM6161 (cặp lai C51/Jasmine 85) và cho rằng hai chỉ thị phân tử này sẽ giúp phát hiện ở quần thể phân ly F2 có chứa gen fgr trong các cá thể Cũng ứng
Trang 39dụng các mồi này, Nguyễn Thị Lang, (2010)[89] xác định 16 giống lúa địa phương và 49 giống lúa cải tiến đều chứa gen thơm và có mùi thơm Yi M và cộng sự, (2009)[115] đã lai giống lúa thơm Basmati 370 với giống Manawthukha (giống địa phương của Myanmar) để chuyển alen badh 2.1 vào giống mới Sau đó sử dụng PCR với mồi aromarker để xác định tính thơm
1.2.4 Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm, lúa chất lượng cao trên thế giới
Các nhà chọn tạo giống lúa trên Thế giới đã quan tâm đến chất lượng nấu nướng đối với các giống lúa cải tiến, tuy nhiên kết quả chọn tạo giống giống lúa chất lượng còn đạt thấp vì hầu hết các giống mang gen chống chịu sâu bệnh đều có hàm lượng amylose cao và nhiệt hoá hồ thấp Hiện nay có hàng loạt các giống lúa cải tiến được chọn tạo, có tiềm năng năng suất cao, chất lượng gạo tốt đang được mở rộng trong sản xuất như: IR29723, IR42, IR50 (G.S Khush, C.M.Paule and N.M.Dela Crus, 1979)[83] Các giống lúa thơm đã được quan tâm và xếp vào các nhóm lúa đặc biệt (Chaudhary R.C and D.V Tran, 2001)[67]
Tại Trung Quốc, Nam Triều Tiên, Philippin và Srilanka trên 90% diện tích trồng lúa là các giống lúa cải tiến Ở Ấn Độ, Indonesia, Pakistan, Buma, Malayxia, Việt Nam, diện tích trồng lúa cải tiến là 60% (Khush, 1994)[79]
Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan là các nước có nguồn gen lúa chất lượng phong phú, đáng chú ý nhất là giống lúa Basmati 370 Hiện nay các nước này đang tích cực thực hiện chương trình cải tiến giống lúa, tạo ra những giống mới có năng suất, chất lượng cao và mang gen chất lượng của giống Basmati (Abbas S L Naqui S M.S, Azra, 1988)[57]
Ở Thái Lan có nhiều giống lúa cổ truyền chất lượng cao nổi tiếng với loại hạt gạo dài, trắng trong, bóng (Khaodawk Mali) và chủ yếu vẫn trồng các
Trang 40giống cổ truyền chất lượng cao nhưng năng suất thấp để lấy gạo xuất khẩu (Pingali, M Hossain, 1997)[96]
Nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng
và thời kỳ bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa trên thế giới Các kết quả thu được về ảnh hưởng của phân bón đến khả năng đẻ nhánh, chiều cao cây, các hoạt động quang hợp, hô hấp, diện tích lá, hệ số nhận ánh sáng đến khả năng tích luỹ các chất khô, các yếu tố cấu thành năng suất, Mức
độ nhiễm sâu bệnh, hàm lượng tinh bột, protein, amylose Theo báo cáo của IRRI năm 1970 (Juliano, B.O.,L.U Onate and A.M del Mundo, 1972)[81] trong vụ Mùa, thời gian bón đạm ảnh hưởng không đáng kể đến hàm lượng protein Tuy nhiên bón lúc lúa trổ có chiều hướng làm tăng hàm lượng protein trong hạt gạo Với lượng đạm bón từ 150 kg N/ha bón khi cấy và phân hoá đòng làm cho hàm lượng protein cao hơn khi bón lót (Awasthi,C.P., A.Singh,
A KShukla, S K Addy and R Singh, 1989)[61]
Nhiều nghiên cứu cho thấy các loại đất trồng có ảnh hưởng tới mùi thơm của gạo Các loại đất có phù sa và giàu chất hữu cơ có mùi thơm hơn các loại đất chua, đất cát (Gomez k.A, 1984)[73]
Độ trong hạt gạo và mùi thơm của các giống lúa Ấn Độ đặc biệt là giống Basmati bị ảnh hưởng đáng kể khi gieo trồng ở các mùa vụ và vùng khí hậu khác nhau (Kumar S và cộng sự, 1996)[87]
Tổng quan cho thấy, nguồn gen thơm ở cây lúa trên thế giới khá đa dạng, gạo có mùi thơm được ưa chuộng ở hầu hết các châu lục, giá gạo thơm đắt hơn trên 30% so với gạo không thơm Việc nghiên cứu, ứng dụng và làm vật liệu lai tạo giống mới từ các vật liệu lúa thơm trên thế giới là trách nhiệm của các nhà khoa học trên toàn cầu để mọi nông dân có nhu cầu có thể có gạo thơm trong bữa cơm hay lễ hội