ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG NGUỒN LỢI TÔM GIỐNG CỦA MỘT SỐ LOÀI TÔM KINH TẾ THUỘC GIỐNG PENAEUS FABRICIUS, 1798 VÀ METAPENAEUS WOODMASON ET ALCOCK, 1891 VÙNG CỬA SÔNG BÃI BỒI TÂY NGỌC HIỂN VÀ VÙNG BIỂN VEN BỜ CÀ MAU Vì vậy, việc tiến hành đề tài luận án “Đánh giá sự biến động nguồn lợi tôm giống của một số loài tôm kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius, 1798 và Metapenaeus Wood Mason et Alcock, 1891 vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển và vùng biển ven bờ Cà Mau là cần thiết, có tính thời sự, ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG NGUỒN LỢI TÔM GIỐNG CỦA
MỘT SỐ LOÀI TÔM KINH TẾ THUỘC GIỐNG PENAEUS FABRICIUS, 1798 VÀ METAPENAEUS WOOD-MASON ET
ALCOCK, 1891 VÙNG CỬA SÔNG BÃI BỒI TÂY NGỌC HIỂN
VÀ VÙNG BIỂN VEN BỜ CÀ MAU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Trang 2VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG NGUỒN LỢI TÔM GIỐNG CỦA
MỘT SỐ LOÀI TÔM KINH TẾ THUỘC GIỐNG PENAEUS FABRICIUS, 1798 VÀ METAPENAEUS WOOD-MASON ET
ALCOCK, 1891 VÙNG CỬA SÔNG BÃI BỒI TÂY NGỌC HIỂN
VÀ VÙNG BIỂN VEN BỜ CÀ MAU
CHUYÊN NGÀNH : THỦY SINH VẬT HỌC
MÃ SỐ : 62.42.01.08
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 TS CHU TIẾN VĨNH
2 TS ĐÀO MẠNH SƠN
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nêu trong luận án là trung thực Những số liệu sử dụng trong luận án tôi đã xin phép và được sự cho phép của cấp có thẩm quyền
Tác giả luận án
Trang 4
Tôi xin trân trọng cám ơn sự giúp đỡ vô cùng quý báu của Lãnh đạoViện Nghiên cứu Hải sản; phòng Nguồn lợi Viện Nghiên cứu Hải sản; trườngCao đẳng Sư phạm Cà Mau; Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau; Sở Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Cà Mau; chính quyền địa phương các cấp; GS TS
Vũ Trung Tạng (Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội);GS.TS Nguyễn Văn Chung (Viện Hải dương học Nha Trang); ngư dân địaphương, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, cung cấp các số liệu,
tư vấn khoa học cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ niềm kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc tới TS Chu TiếnVĩnh (hướng dẫn 1), TS Đào Mạnh Sơn (hướng dẫn 2) đã chỉ dẫn nghiên cứutận tình, đầy trách nhiệm giúp tôi hoàn thành luận án này
Hải Phòng, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Trang 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 4
1.1.1 Về định loại 4
1.1.2 Về sự phân bố và biến động thành phần loài của ATT-TC theo sự biến đổi của các yếu tố môi trường 5
1.1.3 Về một số giải pháp quản lý và bảo vệ nguồn lợi liên quan 6
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 8
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài, phân bố và mùa vụ sinh sản 8
1.2.2 Nghiên cứu về hiện trạng khai thác tôm con của một số loại nghề và giải pháp bảo vệ 11
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÀ MAU 16
1.3.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội 16
1.3.2 Tình hình nghiên cứu về tôm giống 21
1.3.3 Ảnh hưởng của một số loại nghề khai thác đến tôm con và một số giải pháp bảo vệ 23
1.4 MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ HẠN CHẾ 24
1.4.1 Một số tồn tại và hạn chế 24
1.4.2 Nguyên nhân của tồn tại và hạn chế 25
Chương 2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
Trang 62.1.3 Địa điểm nghiên cứu 27
2.2 PHƯƠNG TIỆN VÀ KĨ THUẬT THU MẪU 31
2.2.1 Tàu thuyền và thiết bị thu mẫu 31
2.2.2 Thiết kế các điểm thu mẫu 32
2.2.3 Kĩ thuật thu mẫu 33
2.3 NGUỒN SỐ LIỆU SỬ DỤNG 34
2 4 TÀI LIỆU ĐỊNH LOẠI 34
2.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ TÔM Ở KVNC 37
3.1.1 Thành phần loài tôm ở KVNC 37
3.1.2 Đặc điểm phân bố 46
3.1.3 Tính chất độc đáo của khu hệ tôm ở KVNC 48
3.1.4 Tần suất xuất hiện tôm giống của các loài thuộc giống Penaeus và giống Metapenaeus có giá trị kinh tế ở KVNC 49
3.2 BIẾN ĐỘNG MẬT ĐỘ VÀ TRỮ LƯỢNG TỨC THỜI TÔM GIỐNG PENAEUS VÀ GIỐNG METAPENAEUS Ở KVNC 52
3.2.1 Biến động mật độ và trữ lượng tức thời tôm giống vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 52
3.2.2 Biến động mật độ và trữ lượng tức thời tôm
Trang 73.3.1 Hiện trạng hoạt động khai thác và ảnh hưởng của nghề te đến nguồn lợi tôm giống vùng cửa
sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 85
3.3.2 Hiện trạng hoạt động khai thác và ảnh hưởng của nghề đáy sông đến nguồn lợi tôm giống ở vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 93
3.4 CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI THUỶ SẢN Ở VQG MŨI CÀ MAU 98
3.4.1 Thực trạng công tác bảo vệ NLTS qua việc quản lý nghề te và nghề đáy sông ở vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 98
3.4.2 Đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý bảo vệ nguồn lợi tôm giống ở vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 101
KẾT LUẬN 109
KIẾN NGHỊ 110
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 111
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC i
Trang 8ATT-TC Ấu trùng tôm - tôm con
Trang 9Hiển và vùng biển ven bờ Cà Mau 30
Bảng 3.1 Tổng hợp danh mục loài tôm ở các điểm nghiên cứu 37
Bảng 3.2 Tỷ lệ các giống, loài các họ tôm ở KVNC 38
Bảng 3.3 Tỷ lệ các giống, loài các họ tôm vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 42
Bảng 3.4 Tỷ lệ các giống, loài các họ tôm ở vùng biển ven bờ Cà Mau 43
Bảng 3.5 Mật độ tôm giống (ct/1000 m 3 ) họ Penaeidae theo các tháng khảo sát vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 60
Bảng 3.6 Mật độ tôm giống (ct/1000 m 3 ) Metapenaeus theo các tháng khảo sát vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 61
Bảng 3.7 Mật độ tôm giống (ct/1000 m 3 ) giống Penaeus theo các tháng khảo sát vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 61
Bảng 3.8 Biến động mật độ tôm giống Metapenaeus (ct/1000 m 3 ) ở từng trạm khảo sát vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 64
Bảng 3.9 Biến động mật độ tôm giống giống Penaeus (ct/1000 m 3 ) ở từng trạm khảo sát vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 66
Bảng 3.10 Biến động mật độ tôm giống họ Penaeidae mùa vụ sinh sản chính vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 67
Bảng 3.11 Biến động mật độ tôm giống Metapenaeus mùa vụ sinh sản chính vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 67
Bảng 3.12 Biến động mật độ tôm giống Metapenaeus mùa vụ sinh sản chính từng trạm khảo sát vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 68
Bảng 3.13 Biến động mật độ tôm giống Penaeus mùa vụ sinh sản chính vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 69
Bảng 3.14 Biến động mật tôm giống giống Penaeus mùa vụ sinh sản chính từng điểm khảo sát vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 69
Bảng 3.15 Biến động mật độ tôm giống (ct/1000 m 3 ) mùa sinh sản phụ của tôm vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 70
Trang 10ngày đêm ở tầng thẳng đứng vùng biển ven bờ Cà Mau 79
Bảng 3.18 Mật độ tôm giống (ct/1000 m 3 ) họ Penaeidae theo nhịp điệu ngày đêm ở tầng thẳng đáy vùng biển ven bờ Cà Mau 80
Bảng 3.19 Mật độ tôm giống họ Penaeidae (ct/1000 m 3 ) theo các tháng khảo sát vùng biển ven bờ Cà Mau 81
Bảng 3.20 Mật độ tôm giống họ Penaeidae (ct/1000 m 3 ) theo các tháng khảo sát ở tầng mặt của vùng biển ven bờ Cà Mau 81
Bảng 3.21 Mật độ tôm giống họ Penaeidae (ct/1000 m 3 ) theo các tháng khảo sát ở tầng thẳng đứng của vùng biển ven bờ Cà Mau 82
Bảng 3.22 Mật độ tôm giống họ Penaeidae (ct/1000 m 3 ) theo các tháng khảo sát ở tầng đáy của vùng biển ven bờ Cà Mau 82
Bảng 3.23 Số liệu tàu thuyền của ngư dân sống trong và giáp ranh VQG mũi Cà Mau 87
Bảng 3.24 Số liệu tàu thuyền của ngư dân sống trong và giáp ranh VQG mũi Cà Mau năm 2008 88
Bảng 3.25 Thống kê tàu te hoạt động ở Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 89
Bảng 3.26 Năng suất đánh bắt (kg/mẻ) của lưới te không sử dụng xung điện 91
Bảng 3.27 Năng suất đánh bắt (kg/mẻ) của lưới te có sử dụng xung điện
92
Bảng 3.28 Kích thước thành phần các loài tôm kinh tế ở nghề te 93
Bảng 3.29 Thống kê miệng đáy vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển95
Bảng 3.30 Năng suất và sản lượng (kg) thuỷ sản từ nghề đáy sông 96
Bảng 3.31 Kích thước thành phần loài tôm kinh tế ở nghề đáy sông 98
Trang 11Hình 2.2: Trạm vị nghiên cứu vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 29
Hình 2.3: Hệ thống trạm vị nghiên cứu vùng biển ven bờ Cà Mau 31
Hình 3.1: Sơ đồ phân bố mật độ tôm giống tháng 8/2007 (phía trên) và 9/2007 (phía dưới) vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 54
Hình 3.2: Sơ đồ phân bố mật độ tôm giống tháng 10/2007 (phía trên) và 11/2007 (phía dưới) vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 55
Hình 3.3: Sơ đồ phân bố mật độ tôm giống tháng 12/2007 (phía trên) và 01/2008 (phía dưới) vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 56
Hình 3.4: Sơ đồ phân bố mật độ tôm giống tháng 02/2008 (phía trên) và 3/2008 (phía dưới) vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển 57
Hình 3.5: Sơ đồ phân bố mật độ tôm giống tháng 4 (phía trên) và 5/2008 (phía dưới) vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 57
Hình 3.6: Sơ đồ phân bố mật độ tôm giống tháng 6/2008 (phía trên) và 3/2009 (phía dưới) vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển 58
Hình 3.7: Sơ đồ phân bố mật độ tôm giống tháng 4 (phía trên) và 5/2009 (phía dưới) vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 59
Hình 3.8 Biến động mật độ tôm giống họ Penaeidae theo các tháng khảo sát ở vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 62
Hình 3.9 Biến động mật độ tôm giống Metapenaeus theo các tháng khảo sát vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 63
Hình 3.10 Biến động mật độ tôm giống Penaeus theo các tháng khảo sát vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 65
Hình 3.11: Trữ lượng tức thời tôm giống họ Penaeidae vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 71
Hình 3.12: Trữ lượng tức thời tôm giống Metapenaeus vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 72
Hình 3.13: Trữ lượng tức thời tôm giống Penaeus vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển 73
Trang 1211/2007 (phía dưới) vùng biển ven bờ Cà Mau 76
Hình 3.16: Sơ đồ phân bố mật độ tôm giống tháng 3 (phía trên) và 5/2008 (phía dưới) vùng biển ven bờ Cà Mau 77
Hình 3.17 Biến động mật độ tôm giống họ Penaeidae theo các tháng khảo sát vùng biển ven bờ Cà Mau 83
Hình 3.18 Trữ lượng tức thời tôm giống họ Penaeidae tầng mặt vùng biển ven bờ Cà Mau 83
Hình 3.19 Trữ lượng tức thời tôm giống họ Penaeidae tầng thẳng đứng vùng biển ven bờ Cà Mau 84
Hình 3.20 Trữ lượng tức thời tôm giống họ Penaeidae tầng đáy vùng biển ven bờ Cà Mau 84
Hình 3.21 Trữ lượng tức thời tôm giống họ Penaeidae vùng biển ven
bờ Cà Mau 85
Trang 13MỞ ĐẦU
Vùng biển ven bờ Cà Mau được đánh giá là một trong những vùng cónguồn lợi tôm biển phong phú và đa dạng về thành phần loài, trong đó cónhiều loài có giá trị kinh tế cao Vùng biển này là ngư trường khai thác tôm
và cũng là bãi đẻ, nơi ương nuôi ấu trùng tôm bổ sung cho nguồn lợi tôm biểnngoài tự nhiên
Ở Cà Mau, loài tôm được nuôi và khai thác phổ biến là Penaeus monodon, P indicus và Metapenaeus ensis Trong đó, con giống loài Penaeus monodon chủ yếu được sản xuất nhân tạo, còn những loài tôm khác
được khai thác ngoài tự nhiên Ước tính mỗi năm, chỉ riêng loài tôm sú
Penaeus monodon người nuôi tôm ở Cà Mau đã sử dụng khoảng 10 tỷ con giống với số tiền chi phí lên tới nhiều tỷ đồng
Trong những năm qua, do việc khai thác không hợp lý, trong đó kể cảviệc sử dụng những ngư cụ và phương pháp khai thác có tính hủy diệt, nênnguồn lợi tôm biển ngày càng suy giảm, dẫn đến nguồn lợi tôm giống cũngsuy giảm theo
Nguồn lợi tôm giống của các loài tôm kinh tế thuộc hai giống Penaeus
và Metapenaeus ở ven bờ Cà Mau đã được một số công trình nghiên cứu
trong nước công bố, nhưng do thời gian nghiên cứu đã qua lâu, số liệu khôngđược cập nhật, nên mức độ sử dụng gặp hạn chế, chưa đủ cơ sở dẫn liệu khoahọc cần thiết cho việc sử dụng hợp lý nguồn lợi tôm giống tự nhiên cho nghềnuôi tôm và bảo vệ, phát triển nguồn lợi tôm bố mẹ
Việc nghiên cứu, đánh giá hiện trạng cũng như biến động nguồn lợitôm, nhất là nguồn lợi tôm giống và đánh giá hiện trạng, sự ảnh hưởng củamột số loại nghề khai thác có tính hủy diệt là rất cần thiết để làm cơ sở khoahọc đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm quản lý, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi
Trang 14tôm ở Cà Mau, góp phần quan trọng cho việc quy hoạch, định hướng và pháttriển bền vững ngành Thủy sản ở đây
Vì vậy, việc tiến hành đề tài luận án “Đánh giá sự biến động nguồn lợi tôm giống của một số loài tôm kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius,
1798 và Metapenaeus Wood - Mason et Alcock, 1891 vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển và vùng biển ven bờ Cà Mau là cần thiết, có tính thời sự,
ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá hiện trạng và tình hình biến động nguồn lợi tôm giống của một
số loài tôm có giá trị kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius, 1798 và giống Metapenaeus Wood - Mason et Alcock, 1891, nhằm cung cấp cơ sở khoa học
cần thiết cho việc qui hoạch, quản lý và phát triển nguồn lợi tôm phù hợp ởvùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển và vùng biển ven bờ Cà Mau
Nội dung nghiên cứu:
1 Nghiên cứu thành phần loài và tình hình biến động nguồn lợi tôm giống
của một số loài tôm kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius, 1798 và giống
Metapenaeus Wood - Mason et Alcock, 1891 ở KVNC.
2 Điều tra hiện trạng và đánh giá sự ảnh hưởng của nghề te, nghề đáy sôngđến nguồn lợi tôm giống ở vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển, VQGmũi Cà Mau
3 Đánh giá công tác quản lý, bảo vệ nguồn lợi tôm giống ở vùng cửa sôngBãi bồi Tây Ngọc Hiển, VQG mũi Cà Mau nhằm đề xuất các giải pháp khảthi để quản lý, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi tôm giống
Trang 15Những đóng góp khoa học và điểm mới của luận án:
1 Ý nghĩa khoa học
Là công trình nghiên cứu đầu tiên chuyên về tôm giống của 02 giốngtôm kinh tế ở vùng biển ven bờ của một tỉnh có điều kiện sinh thái và nguồnlợi tôm đặc thù nhất
Công trình đã đánh giá một cách khoa học về biến động thành phầnloài và sự ảnh hưởng tiêu cực của nghề te và nghề đáy sông đến nguồn lợitôm giống
Công trình đã nghiên cứu tương đối tổng hợp, có cơ sở khoa học về cácđiều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc ban hành các chính sách bảo vệ vàphát triển nguồn lợi tôm giống
2 Tính mới của luận án
Các kết quả nghiên cứu về thành phần loài, số lượng và sự biến độnggiống loài tôm phân bố tự nhiên theo thời gian, không gian; thành phần loài,
số lượng tôm giống bị khai thác bởi nghề te và nghề đáy sông có ý nghĩa lớntrong việc đưa ra những biện pháp tích cực để bảo vệ nguồn lợi tôm giống
Các đánh giá về hiện trạng khai thác, hiện trạng của các biện pháp bảo vệnguồn lợi tôm giống đang được thực hiện là cơ sở khoa học để các cơ quan chứcnăng nắm được tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp để đưa ra những quyếtsách mới
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Tôm thường được sử dụng trong bữa ăn của người Việt Nam và củanhiều nước trên thế giới, đồng thời tôm đang là mặt hàng xuất khẩu có giá trịkinh tế cao của nước ta
Nhiều kết quả nghiên cứu về tôm đã được công bố ở trong và ngoài nướctrên nhiều lĩnh vực: từ đa dạng loài, phân bố, tình hình nguồn lợi, đặc điểm sinhhọc (tuổi, sinh trưởng, sinh sản, dinh dưỡng vv ), đến di cư, cấu trúc quần thể,mối quan hệ giữa chúng với môi trường sống vv Luận án này chỉ đề cậpnhững tài liệu liên quan đến các loài tôm có giá trị kinh tế sống ở vùng cửasông, ven biển nhằm có một cái nhìn tổng quan nhất về tình hình nghiên cứutôm trên thế giới, ở Việt Nam nói chung và ở khu vực Cà Mau nói riêng
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
1.1.1 Về định loại
Kubo (1949) đã công bố kết quả nghiên cứu về thành phần tôm họPenaeidae ở vùng biển Nhật Bản và các thủy vực lân cận, tác giả đã đưa ra nhiềudẫn liệu về phân loại và mô tả các loài tôm họ Penaeidae, đặc biệt là hình tháiphân loại ATT-TC Đây là một trong những công trình nghiên cứu tiêu biểu vềtôm giống ở thế kỷ XX, đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị, rất hữu ích cho côngtác tham khảo [86]
Baez (1985) đã xây dựng khóa phân loại cho một số họ giáp xác mườichân thu thập được ở phía nam Chile Với ảnh màu minh họa khá rõ nét, việcđịnh loại tôm được hỗ trợ nhiều [71]
Cook (1996) đã xây dựng khóa định loại chung cho ấu trùng và hậu ấutrùng Penaeidae ở vùng triều Mexico [74] Công trình nghiên cứu của Lindley(2001) đã tiến hành định loại bộ Decapoda ở giai đoạn còn non của một số họ
Trang 17tôm Aristeidae, Penaeidae, Solenoceridae, Sicyoniidae, Sergestidae vàLuciferidae [88]
1.1.2 Về sự phân bố và biến động thành phần loài của ATT-TC theo sự biến đổi của các yếu tố môi trường
Tại các vùng cửa sông ở Nam Phi, Whitfield (1989) đã nghiên cứu sựbiến động về số lượng của tôm con theo độ cao mực thuỷ triều của kỳ connước Kết quả cho thấy: sự biến động số lượng tôm con liên quan chặt chẽ tới
sự biến đổi của độ cao thuỷ triều, tốc độ dòng chảy, nhiệt độ và độ muối củakhối nước triều Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, số lượng tômcon còn phụ thuộc vào mùa cũng như nhịp điệu ngày - đêm ở các tầng nướckhác nhau [94]
Vùng nước ven bờ biển Andaman của Thái Lan cũng đã được JanekarnVudhichai (1993) nghiên cứu Tác giả đã thu được gần 10.000 cá thể và xác địnhchúng thuộc 62 họ Sự phong phú về số lượng tôm con ở vùng biển này tương tựvới các vùng nhiệt đới khác Kết quả nghiên cứu cho thấy, thành phần loài tômcon ở tầng sát đáy đa dạng hơn tầng mặt và tầng giữa [82]
Kết quả nghiên cứu tôm Penaeus monodon của Kenyon và cộng sự (1997) cho thấy Penaeus monodon con thích nghi sống tại vùng nước lợ cửa
sông, nơi giàu có thức ăn Mật độ thu được tại vùng nước lợ cửa sông thườngcao hơn các khu vực khác [85]
Đối với hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn (RNM): Chươngtrình nghiên cứu thí điểm về tôm trong RNM và khu vực lân cận đượcChaitiamvong (1983) tiến hành và cho thấy mật độ tôm trong RNM nhiều và đadạng hơn ngoài RNM [73]
Kết quả nghiên cứu của Singh và cộng sự (1995) đã cho thấy, RNM ven
bờ là nơi ẩn trú thuận lợi và có vai trò như một vườn ương cho nhiều loài sinhvật thủy sinh sinh trưởng, sinh sản [90]
Trang 18Nghiên cứu của Laegdsgaard (1995) và Kenyon (1997) ở vùng biểnphía đông của Australia cho thấy, số lượng ATT-TC tại các vị trí có cỏ biểncao gấp từ 2 đến 3 lần nơi không có cỏ biển Kết quả thí nghiệm về số lượngATT-TC cư trú tại các thảm cỏ nhân tạo và không có thảm cỏ của tác giảcũng cho thấy sự chênh lệch mật độ từ 5 -10 lần [87] Theo Haywood và cộng
sự (1998), thảm cỏ biển có vai trò quan trọng giúp cho ATT-TC tránh khỏi sựtấn công của các loài cá dữ [83]
Năm 1999, tại Hội thảo Quốc tế về RNM ở Hongkong, trong báo cáo
“Mối quan hệ giữa mật độ tôm con và cá con với RNM ở Maipo, Hongkong”
Vance chỉ ra rằng: số lượng tôm con thu được vào ban đêm trong RNM, venRNM và đáy bùn cao gấp từ 2 đến 10 lần so với mẫu thu vào ban ngày [92]
1.1.3 Về một số giải pháp quản lý và bảo vệ nguồn lợi liên quan
FAO (1995) đã đưa ra Bộ Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm Năm
1997, trên cơ sở Bộ Quy tắc này, Trung tâm Phát triển nghề cá Đông Nam Á(SEAFDEC) đã xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết về nghề cá có tráchnhiệm (Code of Conduct for Responsible Fisheries) phù hợp với điều kiệnnghề cá ở các nước Đông Nam Á [76] Một số giải pháp cơ bản, có hiệu quả ởnhiều nước trên thế giới được triển khai, áp dụng:
1) Giảm số lượng tàu thuyền và chuyển đổi nghề nghiệp được thực hiện
ở Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Chi Lê, Hà Lan, các nước châu Âu và liênminh châu Âu vv…
2) Xây dựng các khu bảo tồn biển, khu bảo tồn nguồn lợi và tạo rạnnhân tạo được áp dụng ở Tanzania, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan vv…
3) Cấm có thời hạn một số loại nghề như: lưới kéo đáy, đăng chắn, texiệp được áp dụng ở Trung Quốc; cấm mọi hoạt động khai thác từ 8 km vào bờđược áp dụng ở Malaysia vv…
Trang 19Trung Quốc cấm nghề lưới kéo, te xiệp hoạt động trong vùng từ 12 hải
lý trở vào bờ; Thái Lan cấm nghề lưới kéo và te đẩy hoạt động ở vùng cách
bờ 3 km; Philippine cấm tất cả các dạng đánh bắt cá bất hợp pháp và phươngpháp khai thác huỷ diệt như lưới kéo, te xiệp, chất nổ, chất độc và kích thướcmắt lưới nhỏ hơn quy định; Malaysia cấm tất cả các ngư cụ và phương phápkhai thác có hại như te xiệp, lưới kéo, xung điện, chất nổ và chất độc;Indonesia cấm nghề lưới kéo, te xiệp trong toàn bộ vùng biển của mình
5) Có chính sách phát triển bền vững nghề cá
Trung Quốc cấp giấy phép đánh cá theo vùng và ngư trường, đưa ratrần hạn mức mã lực cho mỗi vùng biển; cấm các ngư cụ và phương phápđánh bắt hủy diệt; Thái Lan cấp giấy phép cho các tàu đánh cá, thiết lậpchương trình quản lý nghề cá ven bờ với sự tham gia của cộng đồng ngư dânven biển; Malaysia giảm cường lực khai thác thông qua việc cấp giấy phépcho tàu cá, phân chia ngư trường cho nghề cá qui mô nhỏ và nghề cá côngnghiệp, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng ngư dân trong quản lý nghề cá;Indonesia phát triển nghề nuôi để giảm áp lực khai thác ven bờ, phân chia vùngđánh bắt, tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý nghề cá
6) Các giải pháp tạo sinh kế cho ngư dân chuyển đổi nghề
Na Uy mua lại số tàu thuyền đánh cá bị cắt giảm hoặc cấm hoạt động
để ngư dân có tiền chuyển đổi nghề; Canada mua lại tàu thuyền bị cấm đánhbắt rồi đánh đắm làm rạn nhân tạo, sau đó trợ cấp cho những ngư dân bị thấtnghiệp; Trung Quốc hỗ trợ cho ngư dân nghèo làm nghề khai thác hải sản ven
bờ chuyển đổi nghề nghiệp; Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc mua lại tàu thuyền
cũ của ngư dân, cấp tiền đào tạo nghề cho những ngư dân chấp nhận chuyểnsang nghề khác vv
Trang 201.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài, phân bố và mùa vụ sinh sản
Phần lớn các nghiên cứu đã được tiến hành trước đây liên quan đếnnguồn giống thủy sản chủ yếu tập trung vào việc xác định các khu vực phân
bố nguồn giống ấu trùng trôi nổi trong khuôn khổ của nhiều đề tài, dự án khácnhau do Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản và PhânViện Hải dương học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài Nguyên và Môi trườngbiển) thực hiện
Năm 1971-1972, Viện Nghiên cứu Hải sản đã tiến hành khảo sát tôm ởvùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng Kết quả đã xác định được một số loàitôm kinh tế là đối tượng khai thác ở vùng ven bờ và tôm giống của các đốitượng này có thể trở thành giống nuôi trong các đầm nước lợ ven biển Cáctác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu một số yếu tố môi trường liên quan như:nhiệt độ, độ mặn, dòng chảy… tới ATT-TC [3]
Nguồn giống tôm, cá vào đầm nước lợ Tràng Cát (Hải Phòng) đã đượcNguyễn Mạnh Long và cộng sự (1976) nghiên cứu Kết quả cho thấy, trongnhững ngày đầu con nước, số lượng con giống vào đầm phong phú hơn nhữngngày sau nhiều lần [34] Cùng lĩnh vực nghiên cứu về nguồn giống thủy sản,Mai Văn Cứ và cộng sự (1980) đã có thông báo về tình hình xuất hiện tômgiống ở một số đầm nước lợ ở Hải Phòng [15] Khúc Ngọc Cẩm (1988) đã cócông trình về Sự biến động theo mùa vụ của sản lượng tôm, cá giống tự nhiênvào đầm nước lợ qua cống lấy giống ở khu vực Thái Bình [5]
Trung Trọng Tiến (1983) đã đề cập đến việc theo dõi mùa vụ xuất hiệntôm giống vào đầm nuôi, thấy rằng vào các tháng 3 - 6, mật độ tôm giống vàođầm nhiều hơn các tháng khác [58]
Các nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa hệ sinh thái và nguồn giống
Trang 21trung vào các hệ sinh thái ven bờ như cửa sông, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển
và rạn san hô Những kết quả nghiên cứu bước đầu thấy rằng, các hệ sinh tháirừng ngập mặn và thảm cỏ biển được xem là nơi ương nuôi nguồn giống củacác loài cá, tôm (Nguyễn Thị Thu, 1985; Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn ThịThu, 2000) - [52], [57] Nguồn giống tôm, cá trong các hệ sinh thái RNM, cácđầm nuôi nước lợ ven bờ Hải Phòng - Quảng Ninh đã được nghiên cứu từnhững năm 1980 -1985 và được tổng kết trong công trình của Phạm ĐìnhTrọng và cộng sự Kết quả cho thấy, ở vùng xung quanh RNM và các bãi cóRNM, số lượng nguồn giống tôm, cá cao gấp từ 3-5 lần nơi không có hoặc xaRNM [63] Nguyễn Hữu Đại và cộng sự (1997) nghiên cứu các thảm cỏ biển
ở đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh - Khánh Hòa thấy rằng, ấu trùng và connon của tôm trong các thảm cỏ biển thường cao hơn so với khu vực không có
cỏ biển, đặc biệt là tôm He chỉ ghi nhận được ở những khu vực có cỏ biểnphân bố [17]
Phạm Ngọc Đẳng và cộng sự (1978) đã nghiên cứu về đặc điểm sinh
học loài Metapenaeus affinis thuộc giống Metapenaeus trong tự nhiên trong 3
năm 1975-1977 Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu tập tính sinh sản của mộtloài tôm khá phổ biến trong tự nhiên ở vùng gần bờ của vịnh Bắc Bộ Kết quảnghiên cứu làm cơ sở khoa học và tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhàkhoa học khi nghiên cứu về các loài tôm của giống Metapenaeus [18]
Nghiên cứu về ngư trường khai thác tôm, Vũ Như Phức (1985) đã đề
cập đến các bãi tôm Penaeus merguiensis giao vĩ, đẻ trứng ở ven bờ biển Tây
Nam Bộ như bãi tôm khu vực tây bắc Phú Quốc (Kiên Giang), Hòn Chuối(Cà Mau) Tác giả nhận định, do tập tính sống đàn, nên chúng ta có thể khaithác đánh bắt tôm bố mẹ với số lượng lớn [42]
Năm 1978-1980, Viện Nghiên cứu Hải sản đã phối hợp cùng Viện Hảidương học Nha Trang thực hiện Đề tài “Điều tra tổng hợp vùng biển Thuận
Trang 22Hải - Minh Hải” trong đó có thu mẫu ATT-TC Bước đầu các tác giả đã xácđịnh thành phần loài, bãi đẻ và mùa vụ sinh sản của một số loài hải sản Với
số lượng mẫu thu được rất lớn, nhưng tiếc là các tác giả không phân chia theocác giai đoạn phát triển của cá thể, chỉ miêu tả sơ lược một số cá thể bắt gặp,đặc biệt hiện nay mẫu không còn lưu giữ, nên giá trị tham khảo bị hạn chế[4]
Năm 1982, Viện Hải dương học Nha Trang sử dụng tàu “Viện sĩAlecxander Nesmeyanov” điều tra tại 47 trạm, từ cửa sông Cửu Long đếnThuận Hải, cách bờ từ 5 đến 190 hải lý (độ sâu từ 19m đến 1.935m) với hailoại lưới kéo tầng mặt và tầng thẳng đứng ở độ sâu từ 50m đến 500m Một sốlượng mẫu trứng cá cá con và ATT-TC đã được thu thập và xử lý, hiện sốmẫu này đang được lưu giữ và bảo quản tại Viện [3]
Từ năm 1987 đến năm 1989, nghiên cứu xác định phân bố, biến độngnguồn lợi tôm giống vùng ven biển và cửa sông từ Hải Phòng đến Thanh Hóađược Phạm Ngọc Đẳng thực hiện Kết quả cho thấy, mật độ tôm giống vùngcửa sông cao hơn vùng ven biển, đó cũng chính là nguồn giống chủ yếu củacác giống nuôi trong các đầm nước lợ ven biển Tác giả cũng đã nêu sự liênquan của các điều kiện môi trường như: nhiệt độ, độ mặn, dòng hải lưu… tớiđối tượng nghiên cứu [19]
Nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các khu bảo tồn biển,khu bảo tồn nguồn lợi thủy sản, đã có một số đề tài ở một số khu vực đượcViện Nghiên cứu Hải sản chủ trì thực hiện, như: Năm 1993, Điều tra nguồngiống tôm, cua, cá ở vùng biển Đông Nam Cát Bà [64]; năm 1997, Nghiên cứuhiện trạng nguồn lợi hải sản ở vùng biển Tây Nam Bộ [53]; năm 2007, Cơ sởkhoa học của việc bảo tồn đa dạng sinh học vùng biển Tây Nam Bộ [55]
Một số tài liệu có thể tham khảo trong quá trình định danh phải kể tới:
Trang 23Thanh và cộng sự (1996) Khu hệ tôm biển Việt Nam - Thành phần loài, phân
bố, phân loại [51] Nguyễn Văn Khôi và cộng sự (2001), ATLAS giáp xác vùng biển Việt Nam [31] vv Đây là tài liệu hữu ích trong việc tham khảo để
Nẹ, cửa Lạch Hới - Sầm Sơn và cửa Lạch Bạng - Hà Lầm, trong đó vùng cửasông đổ ra và xung quanh Hòn Nẹ thường có mật độ ấu trùng tôm cao hơn cácvùng khác (Phạm Quốc Huy và cộng sự, 2010) - [27]
1.2.2 Nghiên cứu về hiện trạng khai thác tôm con của một số loại nghề và giải pháp bảo vệ
Trước thực trạng nguồn lợi thủy sản ngày một bị cạn kiệt, Nhà nước đãban hành nhiều văn bản nhằm tăng cường chức năng quản lý, bảo vệ nguồnlợi thủy sản Việt Nam: Pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã được Nhànước ban hành năm 1989 [12] Luật Thủy sản có hiệu lực từ năm 2004 [35],Chính phủ, Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy
Trang 24ban nhân dân một số địa phương ven biển đã ban hành nhiều Nghị định,quyếtđịnh, thông tư, chỉ thị để triển khai
Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, hiện cường lực khai thác ở vùngbiển ven bờ tiếp tục gia tăng, tình trạng phá hoại nguồn lợi thủy sản, đặc biệt lànguồn lợi thủy sản ven bờ đã và đang diễn ra hết sức nghiêm trọng trên diện rộngtrong đó có sự “đóng góp” không nhỏ của nghề te Theo Cục Khai thác và Bảo
vệ nguồn lợi thuỷ sản (2003), sản lượng khai thác ở vùng nước có độ sâu <50m chiếm tới 82% tổng sản lượng [14] Vùng biển ven bờ đã bị khai thác quámức cho phép kể từ năm 1991 Hiện tại sức ép khai thác ở vùng nước ven bờvẫn đang gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của nghề cá.Hầu hết các bãi tôm tự nhiên đã bị khai thác quá mức cho phép và tại một sốbãi tôm truyền thống năng suất khai thác đã giảm sút rõ rệt, cụ thể: bãi tôm MỹMiều (Quảng Ninh) mật độ sản lượng năm 1993 chỉ bằng 45% của năm 1975;
ở vùng biển Tây Nam Bộ trữ lượng tôm giảm tới 25% [13]
Theo kết quả điều tra của Dự án Đánh giá nguồn lợi sinh vật Biển ViệtNam (ALMRV) do Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện từ năm 1996-2000, tỷ
lệ cá tạp trong thành phần sản lượng của nghề te, xiệp chiếm 90 - 93%, trong
đó tôm chì, tôm thẻ, tôm sắt chưa trưởng thành chiếm từ 70 - 90% sản lượngtôm đánh bắt được Khối lượng cá thể tôm đánh bắt được còn quá nhỏ: tôm thẻ 7 -15g/con; tôm chì 2,6 - 9,6g/con Rõ ràng sự hoạt động của nghề te xiệp đã gây ratác hại rất lớn đối với nguồn lợi tôm Trong khi đó, thu nhập của người dân nghề
te xiệp thấp, do phần lớn sản lượng đánh bắt được là tôm và cá con [69]
Đỗ Văn Khoan (1985) nghiên cứu về nguồn lợi và công cụ đánh bắt tômgiống vùng cửa sông huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tác giả cho thấy, mật
độ tôm giống vùng cửa sông huyện Thái Thụy phụ thuộc vào biên độ thủytriều rất lớn, việc quản lý hoạt động của các nghề khai thác thủy sản ở đây ít
Trang 25Đặc điểm về nguồn lợi và tính chất nghề cá ở Thuận Hải đã được TrầnTrọng Thương (1991) nêu lên với những hiện tượng vi phạm Pháp lệnh Bảo
vệ Nguồn lợi thuỷ sản thông qua hoạt động của một số nghề khai thác bằngchất nổ, te, xiệp và những hậu quả của việc vi phạm trên gây ra [56]
Trần Hoàng Phúc (1996) đã nêu hiện trạng nguồn lợi thuỷ sản ở TràVinh, tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi ở vùng biển này Nhữngnguyên nhân dẫn đến sự suy giảm chất lượng môi trường, nguồn lợi thuỷsản và một số giải pháp bảo vệ, phát triển và khai thác có hiệu quả nguồntài nguyên ở Trà Vinh [41]
Đánh giá về hoạt động thủy sản và thực trạng nguồn giống ở đầm Sam
- Thanh Lam, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, Lê Văn Miên (1999)cho rằng, do hoạt động tự do của nhiều loại nghề khai thác thủy sản, mỗi năm
có hàng tỷ cá thể chưa trưởng thành bị sát hại [36]
Nguyễn Long (1998) đã khuyến cáo các nhà chức trách ngànhThủy sản bằng việc đưa ra chỉ số về kích thước mắt lưới của một số loạingư cụ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tái tạo nguồn lợi, đó là cácnghề te đẩy với kích thước mắt lưới 2a = 4-8mm, lưới chụp mực với kíchthước mắt lưới ở chóp 2a = 20mm Đặc biệt là hoạt động của lưới kéođáy đã tàn phá nơi sinh cư, ương ấp và bãi đẻ của nhiều loài thủy sinh.Kết quả nghiên cứu còn cho thấy tỉ lệ tôm, cá con trong mẻ lưới kéo đáythường chiếm từ 50-70% sản lượng [33]
Khi phân tích các thông số kỹ thuật của lưới vây, Nguyễn Phi Toàn(2000) cho rằng, bên cạnh việc sử dụng mắt lưới phù hợp với đối tượng đánhbắt và độ thô chỉ lưới thích hợp đảm bảo độ bền cho quá trình hoạt động củalưới, còn phải hạn chế tối đa việc đánh bắt lẫn tôm, cá con làm ảnh hưởng đếnnguồn lợi thủy sản vùng ven bờ Theo tác giả, kích thước mắt lưới hợp lý ởtùng của lưới vây ở vùng biển Đông Nam Bộ là 2a = 20-50mm [59]
Trang 26Để hạn chế số lượng cá con bị đánh bắt, Nguyễn Văn Kháng (2005) đãcông bố kết quả đề tài nghiên cứu, thiết kế và áp dụng ngư cụ chọn lọc chomột số loại nghề khai thác hải sản, trong đó có nghề lưới kéo đáy [28] CũngNguyễn Văn Kháng và cộng sự (2005) đã tiến hành áp dụng thử nghiệm thiết
bị thoát cá con cho nghề lưới kéo đáy Kết quả đạt được rất khả quan: số lượng
cá và các loài hải sản khác thoát ra khỏi đụt lưới từ các thiết bị khung sắt đềukhá tốt, đạt từ 24-87% tổng số cá thể có trong mẻ lưới, cá thoát ra ngoài cókhối lượng rất nhỏ từ 0,7 đến 7,3g/ cá thể, số lượng cá và các loài hải sản khácthoát ra khỏi đụt lưới qua thiết bị tấm lưới mắt vuông đạt từ 53-80% số lượng
cá thể có trong mẻ lưới, với khối lượng trung bình là 2,2g/ cá thể [29]
Tỷ lệ nhóm cá tạp ở các đội tàu lưới kéo đôi đã được Đào Mạnh Sơn
và cộng sự (2005) ước tính ở miền Bắc là khoảng 70%, trong khi ở ĐôngNam Bộ vào khoảng từ 21% - 42% tổng sản lượng khai thác Kết quả phântích hiệu quả hoạt động của đội tàu lưới kéo đáy ở khu vực Tây Nam Bộ chothấy, tỷ lệ nhóm cá tạp trong tổng sản lượng đánh bắt là khá cao và có xuhướng tăng lên trong những năm vừa qua Điều đó đồng nghĩa với số lượng
cá và tôm con bị khai thác bằng lưới kéo đôi ngày càng tăng [69]
Khi nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật và kinh tế để chuyển đổi nghề
te xiệp sang nghề khác không xâm hại nguồn lợi thủy sản (Nguyễn Chu Hồi,2006) đã chứng minh nghề te xiệp là loại hình nghề có tính sát hại nguồn lợirất cao, cần phải thay thế bằng loại hình nghề khác ít xâm hại nguồn lợi thủysản, phù hợp với trình độ của ngư dân [24]
Trước thực trạng nguồn lợi thủy sản ngày một bị cạn kiệt, với nhữngluận cứ khoa học về sự ảnh hưởng của nhiều loại hình nghề có tính sát hạinguồn lợi được cảnh báo bởi các nhà khoa học Nhà nước đã ban hành nhiềuvăn bản, áp dụng nhiều giải pháp nhằm tăng cường chức năng quản lý và bảo
Trang 27Một số giải pháp về khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi hải sản được
áp dụng trên thế giới cũng được vận dụng ở Việt Nam như:
1) Giảm số lượng tàu thuyền khai thác và chuyển đổi nghề nghiệp
Không cho đóng mới tàu thuyền đánh cá có công suất nhỏ hơn 20 CV,đồng thời nghiêm cấm các nghề lưới kéo, te xiệp điện trong đầm Nha Phu,Khánh Hòa [47] Hỗ trợ vốn để chuyển đổi nghề nghiệp từ đánh bắt ven bờsang đánh bắt xa bờ, chuyển nghề te xiệp sang làm nghề lưới rê ít sát hạinguồn lợi hơn và mô hình này đã được thử nghiệm ở Nghệ An, Quảng Bình,
Cà Mau [70]
2) Xây dựng các khu bảo tồn biển và thả rạn nhân tạo
Chỉ trong vòng 10 năm trở lại đây Việt Nam đã thiết lập thêm nhiềukhu bảo tồn biển và vườn quốc gia nhằm duy trì đa dạng sinh học như: VườnQuốc gia Mũi Cà Mau, khu bảo tồn biển Hòn Mun - Nha Trang, khu bảo tồnbiển Cù Lao Chàm, KBTB Phú Quốc, KBTB Cồn Cỏ, KBTB Hòn Cau và cácKBTB khác đang hoàn thiện hồ sơ [2]
Để bổ sung nguồn tôm giống, trong thời gian gần đây một số địaphương đã thả tôm giống ra biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, BìnhĐịnh, Khánh Hòa, Ninh Thuận vv Tuy nhiên do hạn chế về nhiều mặt nênhiện tại vẫn chưa có căn cứ đánh giá hiệu quả của việc thả giống [9]
3) Cấm có thời hạn và cấm hoàn toàn một số loại nghề
Thông tư số 89/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/12/2011 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn về việc ban hành danh mục khuvực cấm khai thác thủy sản có thời hạn trong năm Trong Thông tư này cóquy định cấm khai thác thủy sản có thời hạn trong năm tại 16 khu vực cấmvới những đối tượng cụ thể
Kiên Giang là tỉnh có đội tàu đánh cá và sản lượng khai thác hải sảnlớn nhất cả nước Trên cơ sở kết quả khảo sát khu vực cấm khai thác thường
Trang 28xuyên và hạn chế khai thác [66], Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã raQuyết định 1236/QĐ-UB ngày 26/9/1999 cấm các loại nghề te, xiệp, bóngmực, lưới kéo ven bờ hoạt động tại vùng biển Kiên Giang [67].
Ngày 01/6/1994 UBND tỉnh Khánh Hòa ra chỉ thị 26 CT-UB nghiêmcấm việc sử dụng các nghề lưới kéo và xiệp điện trong đầm Nha Phu, đồngthời tạo sinh kế cho ngư dân làm nghề này chuyển sang nuôi sò huyết, vẹmxanh, ngao vv…[47]
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÀ MAU
1.3.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội [1]
Cà Mau là một bán đảo, phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đônggiáp tỉnh Bạc Liêu, phía Tây giáp biển Tây (vịnh Thái Lan), phía Nam vàĐông Nam giáp biển Đông VQG mũi Cà Mau nằm ở tọa độ 8032’ đến 8049’
vĩ độ bắc và từ 104040’ đến 104055’ kinh độ đông với tổng diện tích 41.862
ha, trong đó đất liền là 15.262 ha (gồm đất rừng và đất trống) nằm trên địaphận hành chính của 3 xã: xã Đất Mũi, xã Viên An (huyện Ngọc Hiển), xãĐất Mới (huyện Năm Căn), phần bảo tồn ven biển là 26.600 ha - là Bãi bồiTây Ngọc Hiển (còn gọi là Bãi bồi) được tính từ mép biển phía tây ra biển
Bãi bồi, nơi có hai cửa sông lớn nhất Cà Mau đổ ra biển là cửa sôngCửa Lớn và cửa Bảy Háp, chúng có vai trò quan trọng trong giao thông,thương mại và đặc biệt trong nghề khai thác thủy hải sản
Sông ngòi Cà Mau có mật độ dày đặc, nối với nhau thành mạng lướichằng chịt, với tổng chiều dài khoảng 7000 km và tổng diện tích mặt nước là15.756 ha, có các sông lớn đổ ra biển Đông và biển Tây như: sông Bảy Háp vớichiều dài hơn 50 km nối sông Gành Hào với cửa Bảy Háp; sông Mương Điều
từ Gành Hào chảy qua Đầm Dơi đổ vào sông Cửa Lớn với chiều dài 45 km vv
Cà Mau nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới Bắc bán cầu và gần xích đạo,
Trang 29nên có pha một phần khí hậu Hải dương, với nền nhiệt độ cao tương đối ổnđịnh Trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
Cà Mau có nền nhiệt cao và ổn định Nhiệt độ không khí trung bìnhhàng năm đạt 26,60C, giá trị trung bình của giới hạn cực đại là 31,20C và cựctiểu là 23,30C Tổng nhiệt độ cả năm khoảng 9.5000C
Độ ẩm tương đối trung bình từ 73% đến 89% Trong các tháng mùakhô (tháng 12 đến tháng 4) độ ẩm tương đối của không khí thấp, đạt 75%.Mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11), độ ẩm tương đối của không khí có khivượt quá 89%
Tổng số giờ chiếu sáng trung bình/năm từ 2.200 - 2.600 giờ nắng.Tháng có số giờ nắng nhiều nhất là vào các tháng mùa khô (từ tháng 11 đếntháng 4 năm sau), số giờ chiếu sáng đạt trên 240 giờ nắng/tháng, thấp nhấtvào tháng 9 là 58 giờ nắng Tổng lượng bức xạ trung bình >100kcal/cm2/năm
và > 8 kcal/cm2/tháng
Cà Mau chịu ảnh hưởng chính bởi chế độ gió mùa và gió biển Hàngnăm có 2 mùa gió chính là gió Đông Bắc và gió Tây Nam Mùa gió Đông Bắcxuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau - trùng với mùa khô Mùa gió TâyNam xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 11- trùng với mùa mưa Mùa mưa thường
có gió xoáy và giông (hàng năm Cà Mau có từ 50 - 90 ngày có giông, thờigian hay có giông nhất là tháng 5 và tháng 8) Ngoài ra, do có biển bao bọcnên gió địa phương ở đây mang tính chất gió biển - gió đất thổi theo chu kỳngày đêm với cường độ thấp
Cà Mau nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung là khu vựcrất ít khi có bão Trong 55 năm quan sát chỉ có 9 cơn bão trực tiếp đổ vào biểnNam Bộ, trong đó Cà Mau bị ảnh hưởng trực tiếp là cơn bão số 5 năm 1997,còn lại chỉ ảnh hưởng mang tính chất gián tiếp Thời kỳ bão hoạt động trênbiển Nam Bộ rất muộn, chủ yếu là vào tháng 11 và 12
Trang 30Nhiệt độ nước biển trung bình vào mùa khô từ 25,40C - 26,50C vàvào mùa mưa là 270C - 280C Do có độ sâu nhỏ nên nhiệt độ khá đồng đềugiữa tầng mặt và tầng đáy Vào cuối mùa khô, nhiệt độ tầng mặt dao độngtrong khoảng 290C - 300C, cá biệt có nơi tới 310C và thấp nhất là 28,50C.
Độ mặn nước biển vùng biển Cà Mau thay đổi khá phức tạp Độ mặnthay đổi phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước cửa sông, động lực là hoàn lưunước biển Vùng ven bờ, độ mặn dao động từ 27 - 28‰, ở các khu vực cànggần bờ và gần các cửa sông độ muối giảm dần Vùng khơi, độ mặn có thể lêntới 33,5‰ vào tháng 2 và tháng 3, thấp nhất vào tháng 8 và tháng 9
Dòng chảy vùng biển Đông Cà Mau luôn thay đổi cả hướng lẫn tốc độ,với 2 dòng hải lưu chính là dòng chảy mùa hè và dòng chảy mùa đông Tốc
độ dòng chảy tương đối nhỏ (10 - 15cm/s) Ở vùng cửa sông, vào mùa mưatốc độ dòng chảy tương đối mạnh (20 - 30m/s) Biển Tây, dòng chảy mangtính chất cục bộ và có tốc độ yếu hơn
Sông ngòi thường đóng vai trò của những kênh dẫn triều đưa nướcbiển xâm nhập ngược dòng làm nhiễm mặn gần toàn bộ sông, rạch của tỉnh.Dao động mực nước trên toàn bộ hệ thống sông, rạch tỉnh Cà Mau kể cảnhững điểm nằm sâu trong nội địa chủ yếu do lan truyền từ biển Đông, biểnTây và sự tương tác giao thoa giữa chế độ bán nhật triều không đều biểnĐông với chế độ nhật triều không đều biển Tây đã tạo nên tính đa dạng, phứctạp trong đặc điểm thủy triều Phía biển Đông có chế độ bán nhật triều vớibiên độ triều khá lớn, vào các ngày triều cường, biên độ triều đạt 3 - 3,5 m,vào các ngày triều kém biên độ triều cũng đạt từ 1,8 - 2,2 m Phía biển Tây,
có chế độ nhật triều không đều, biên độ triều thấp, cực đại chỉ đạt khoảng 1,2
m, vào kỳ triều kém biên độ chỉ còn 0,6 m
Trang 31Tài nguyên rừng [50]:
Rừng Cà Mau là rừng ngập mặn và rừng tràm nước ngọt, rất thuận lợicho sự sinh trưởng và phát triển các loài thuỷ sản nước lợ, nước mặn và nướcngọt Diện tích rừng chiếm khoảng 11.000 km2, riêng khu vực Bãi bồi - VQGmũi Cà Mau là rừng ngập mặn, chủng loại cây rừng chủ yếu là mắm và hỗngiao với diện tích khoảng 8.569 ha, trong đó rừng tự nhiên là 4.196 ha, rừngtrồng là 4.373 ha Rừng mắm tự nhiên phân bố tập trung ven bờ biển Tây(khu vực ven cửa Bảy Háp và mũi Ông Trang), mật độ cây tái sinh cao (hơn20.000 cây/ha), cây sinh trưởng tốt, đa số có đường kính nhỏ hơn 3 cm, chúngtập trung thành từng dải với chiều rộng 5 - 50 m, vào sâu hơn, sau dải rừngmắm non là dải rừng mắm già tuổi hơn, có đường kính khoảng 4 - 10 cm, với
độ tán che từ 0,6 - 0,8 m, chiều cao rừng 4 - 10 m Một vài nơi ở Bãi bồi có sựhỗn giao tạo nên rừng mắm - đước
Điều kiện xã hội [7]:
Đơn vị hành chính: Cà Mau có 09 đơn vị hành chính huyện, thànhphố, bao gồm: Thành phố Cà Mau, huyện Cái Nước, huyện Đầm Dơi,huyện Ngọc Hiển, huyện Năm Căn, huyện Thới Bình, huyện U Minh,huyện Trần Văn Thời và huyện Phú Tân VQG mũi Cà Mau nằm trên địaphận hành chính của 03 xã: xã Đất Mới (huyện Năm Căn), xã Đất Mũi và
xã Viên An (huyện Ngọc Hiển)
Dân số: Dân số Cà Mau năm 2008 ước đạt khoảng 1.200.000 người,mật độ trung bình là 230 người/km2 Tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên là1,86% Dân cư sống rải rác ven sông, kênh, rạch; sống đông đúc ở các thị tứ,thị trấn và đông nhất ở thành phố Cà Mau (797 người/1km2 )
Diện tích và cư dân 03 xã nằm trong VQG mũi Cà Mau cụ thể như sau:
Xã Đất Mũi có diện tích 15.025 ha với 9 ấp, số hộ dân là 3.240 hộ; Xã Viên
An có diện tích 13.640 ha với 18 ấp, số hộ dân là 3.320 hộ; Xã Đất Mới có
Trang 32diện tích 9.575 ha với 11 ấp, số hộ dân là 2.058 hộ Dân cư của xã NguyễnViệt Khái (là xã vùng ven VQG mũi Cà Mau) có diện tích 10.853 ha, số hộdân là 3.836 hộ.
Về thành phần dân tộc: Cư trú trên địa bàn Cà Mau có 20 dân tộc,người Kinh chiếm đa số với tỷ lệ khoảng 97,16%, người Khơ Me chiếm1,86%, còn lại là người Hoa và các dân tộc khác
Đời sống kinh tế, văn hoá xã hội:
Kinh tế: Thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Cà Mau,hàng năm đóng góp ngân sách gần 40% GDP toàn tỉnh và đã tạo công ăn việclàm cho gần 400 nghìn lao động (khoảng 30% tổng dân số toàn tỉnh và 45,5%người trong độ tuổi lao động) bao gồm các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng vàchế biến [23] Khảo sát ở VQG mũi Cà Mau, có khoảng 90% các hộ trongvùng sống dựa vào việc khai thác và nuôi trồng thủy hải sản Tuy nhiên cuộcsống của phần lớn các hộ dân ở VQG mũi Cà Mau còn nghèo, vì đây là khuvực cấm tất cả các hoạt động khai thác thủy sản, nguồn thu nhập hợp pháp lànuôi trồng thủy sản (chủ yếu là tôm và cua) và đánh bắt xa bờ Tuy nhiêncùng chung tình trạng với ngư dân nuôi trồng thủy sản trong toàn tỉnh, việcnuôi tôm, cua không được thuận lợi, liên tục bị mất mùa, trong khi đánh bắt
xa bờ đòi hỏi phải có tiềm lực kinh tế để mua sắm tàu thuyền, ngư lưới cụthì họ lại không có khả năng Để kiếm sống họ làm thêm một số nghề dùbiết đó là những nghề cấm ở trong VQG, như: đốt than, đẩy te, đóng đáy,đăng, đặt lú, lưới ba màng vv…nhưng thu nhập cũng chỉ đạt khoảng 13,5-13,8 triệu đồng/hộ/năm, tức khoảng 2,7-3,0 triệu đồng/người/năm (bìnhquân thu nhập trên hai trăm ngàn đồng/tháng) [70]
Văn hóa xã hội: Dân trí Cà Mau nói chung còn thấp so với mặt bằngchung toàn quốc Hiện có 76,3% số người lao động ở Cà Mau chưa qua đào
Trang 33tạo, 23,7% được đào tạo, cán bộ có trình độ sau đại học rất ít (khoảng 200người tập trung chủ yếu trong ngành giáo dục và y tế)
Dân trí của cư dân sống ở VQG mũi Cà Mau khá thấp, tỷ lệ ngườidân có trình độ trung học phổ thông trở lên rất ít Năm học 2010 - 2011huyện Ngọc Hiển mới có 01 trường trung học phổ thông đi vào hoạt động
Vì thế từ trước đến nay con em người dân nơi đây muốn theo học trung họcphổ thông đều phải qua học nhờ các huyện khác hay thành phố Cà Mau.Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản cản trở sự nâng cao dân trícho cư dân ở VQG mũi Cà Mau
Về y tế: Điều kiện Y tế trên thành phố Cà Mau khá tốt, tuy nhiênluôn trong tình trạng quá tải, do y tế ở cấp huyện, xã, ấp còn nhiều khókhăn về nhân lực, vật lực, tài lực vv…hầu hết các xã chưa có bác sĩ điềutrị, nên một số bệnh thường gặp cũng không chữa trị được phải chuyển lêntuyến trên Về mặt chăm sóc sức khỏe, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinhdưỡng năm 2007 là 20,4%
Đường giao thông: 8/9 huyện có đường bộ liên huyện (trừ huyện NgọcHiển) Thành phố Cà Mau và trung tâm các huyện giao thông chủ yếu làđường bộ, còn từ huyện đến xã, ấp giao thông chủ yếu là đường thủy gây khókhăn về giao thương cho người dân sống ở đây
Điện lưới và các phương tiện thông tin truyền thông: Điện thắp sángđược kéo đến từng hộ gia đình, mỗi xã có 01 bưu điện cung cấp cơ bản cácdịch vụ Internet, báo chí, điện thoại (đa số người dân ở khu vực này sử dụngđiện thoại di động)
1.3.2 Tình hình nghiên cứu về tôm giống
Nghiên cứu về thành phần loài, phân bố và mùa vụ sinh sản của nguồnlợi tôm giống ở Cà Mau được bắt đầu từ thập niên 80, thế kỷ XX Một sốcông trình nghiên cứu tiêu biểu về tôm giống như sau:
Trang 34Khi xác định trữ lượng bãi tôm giống ở cửa Ông Trang, Minh Hải (cũ),Đoàn Văn Đẩu (1984) cho rằng, hàng năm bãi tôm này đã bị khai thác phí
phạm 8 tỷ tôm giống các loại, trong đó khoảng 54% là tôm Penaeus merguiensis và Penaeus indicus [21] Theo chương trình điều tra 60.02, vùng
biển Minh Hải lúc đó còn khoảng 5 tỷ tôm giống (Đoàn Văn Đẩu, 1985) [22]
Đánh giá biến động nguồn lợi tôm giống vùng cửa sông Bãi bồi CàMau, Lê Trọng Phấn và cộng sự (1994) nhận thấy, tôm giống thuộc họPenaeidae xuất hiện nhiều ở vùng Bãi bồi đã được nhân dân thu vào đầm
để nuôi thành tôm thịt, chủ yếu là hai loài tôm Penaeus merguiensis và Penaeus indicus Tôm Penaeus monodon cũng có trong vùng nhưng số
lượng ít Ấu thể tôm thu được bình quân mỗi lưới là 31 con/lưới vào mùamưa và 61 con/lưới vào mùa khô Ban đêm và lúc triều xuống vớt đượcnhiều hơn Mật độ ấu trùng tôm biến đổi theo không gian có quy luật, tạiBãi bồi có số lượng cao, 67 cá thể/lưới, giảm dần tại Ông Trang là 14 cáthể/lưới Từ số liệu ấu thể tôm trên đơn vị thể tích nước, ước tính trữ lượngtôm giống đạt khoảng 2 tỷ con [40] Nghiên cứu tôm giống đi vào trong cáckênh rạch Đầm Dơi (Minh Hải) cho thấy mật độ tôm trung bình dao động từ0,002 - 0,165 con/m3 nước (Phạm Văn Miên và cộng sự, 1995) [36]
, Kết quả nghiên cứu của đề tài Điều tra nghiên cứu sử dụng hợp lý hệsinh thái vùng cửa sông ven biển thuộc hệ thống sông Cửu Long để bảo vệnguồn lợi và phát triển nuôi trồng thuỷ sản được Nguyễn Thanh Tùng và cộng
sự (1998) cho biết: thành phần loài tôm ở cửa sông Ông Đốc bắt gặp 18 loàithuộc 5 họ, trong đó họ Penaeidae chiếm 50% số loài; tại cửa sông Cửa lớnbắt gặp 13 loài thuộc 5 họ; sản lượng khai thác ở cửa sông Ông Đốc là 1,4 kg/
ha, cửa sông Cửa Lớn là 0,5 kg/ha [65]
Năm 2004, khoa Thủy sản Đại học Cần Thơ phối hợp với Chi Cục Bảo
Trang 35cá vùng Bãi bồi Tây Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Kết quả xác định được 09 loàitôm giống và 01 loài cua giống Ước lượng tổng trữ lượng tôm, cua giống cácloại đạt trung bình là 5.966,3 triệu cá thể Trữ lượng cao nhất là 11.684,4 triệu
cá thể vào tháng 4, thấp nhất là 197,1 triệu cá thể vào tháng 9 Tiếc là số liệukhông tách biệt giữa tôm và cua [16]
1.3.3 Ảnh hưởng của một số loại nghề khai thác đến tôm con và một số giải pháp bảo vệ
Việc nghiên cứu hiện trạng hoạt động của một số loại nghề khai thácthủy sản có ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản ở Cà Mau được tiến hành khásớm Nhằm bảo vệ nguồn lợi tôm ở vùng biển Minh Hải và miền Nam nước
ta, Bùi Hữu Kỷ (1980) đã xác định kích thước mắt lưới tối ưu ở đụt lưới là2a=16mm (thay vì 2a = 8mm như ngư dân thường dùng) [32]
Nguyễn Công Con (1983) đã có thông báo về thành phần tôm controng sản lượng đánh bắt của nghề xiệp, đáy sông, đáy biển ở khu vựcsông Ông Trang, huyện Năm Căn, tỉnh Minh Hải (nay là huyện NgọcHiển, tỉnh Cà Mau) [11]
Năm 2005, Phân Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản phía Nam thống
kê theo báo cáo của các địa phương, cả nước có 1.640 tàu thuyền nghề texiệp, trong đó nhiều nhất là các tỉnh Bắc Trung Bộ có 898 tàu, điển hình làtỉnh Quảng Bình với 469 tàu, vùng Đông - Tây Nam Bộ có 575 tàu, trong đónhiều nhất là Cà Mau với 541 tàu [39]
Một số giải pháp về khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản hợp lý đượcthực hiện ở Cà Mau gồm:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc chuyển khu bảo tồnthiên nhiên Đất Mũi thành VQG mũi Cà Mau gồm cả diện tích khu vựcBãi bồi và xây dựng khu vực này thành khu bảo tồn biển, Ủy bân nhân
Trang 36dân tỉnh Cà Mau đã ban hành nhiều văn bản cấm các nghề khai tháctrong khu vực 26.600 ha Bãi bồi [38]
Phân Viện Quy hoạch Thủy sản phía Nam (2005), đã tiến hànhnghiên cứu các giải pháp kĩ thuật và kinh tế để chuyển đổi nghề te, xiệpsang nghề khác không xâm hại đến nguồn lợi thủy sản trên vùng biểntỉnh Cà Mau [70]
Thông tư 89/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/12/2011 của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục khu vực cấm khaithác thủy sản có thời hạn trong năm ở 16 khu vực cấm, trong đó vùngbiển ven bờ Cà Mau bị cấm trong phạm vi đường nối các điểm có tọađộ: A: (08025’05’’N, 105014’25’’E); B: (08025’00’’N, 105006’00’’E); C:(08024’32’’N, 104032’13’’E); E: (08034’00’’N, 104034’00’’E) Thời giancấm từ 1/4 - 30/6 Đối tượng chính cần được bảo vệ là các loài tômgiống trong thời gian sinh sản như: họ tôm he Penaeidae, giống tôm rảoMetapenaeus
1.4 MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ HẠN CHẾ
1.4.1 Một số tồn tại và hạn chế
Việc đánh giá hiện trạng ATT-TC là lĩnh vực nghiên cứu mang tínhthực tiễn và phục vụ trực tiếp cho các nhà quản lý, làm cơ sở cho việc dự báo,quy hoạch và phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản Điển hình nhưAustralia, Thái Lan, việc đánh giá đúng mức hiện trạng ATT-TC qua việc tổchức điều tra nghiên cứu định kỳ về ATT-TC đã giúp cho việc điều tiết nghềnuôi, tổ chức khai thác hợp lý và bảo vệ khá tốt nguồn tài nguyên sinh vậtbiển nói chung và nguồn giống thuỷ sản nói riêng ở những nước này
Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việcnghiên cứu ATT-TC chưa được quan tâm đúng mức, các công trình nghiên
Trang 37trình nghiên cứu về thành phần loài và sinh khối ATT-TC ở tầng đáy, nghiêncứu sự di chuyển của tôm con theo nhịp điệu ngày - đêm vv Chưa xácđịnh được tác động của môi trường và sự ảnh hưởng của một số loại nghềkhai thác thủy sản có tính sát hại nguồn lợi đến ATT-TC ở vùng nước ven
bờ Ít quan tâm đến những nghiên cứu mối quan hệ giữa nơi sinh cư và cácgiai đoạn phát triển trong vòng đời của nguồn lợi tôm giống Vì vậy, rất cóthể trong một giai đoạn nhạy cảm nào đó trong vòng đời của mình, đặc biệt
ở các khu vực bên ngoài vùng bảo vệ nghiêm ngặt, nhiều loài tôm hoàn toànkhông được bảo vệ nên chúng dễ bị tổn thương, điều này làm suy giảmnguồn bố mẹ và khả năng bổ sung, từ đó làm giảm năng suất khai thác Việcđánh giá khả năng phục hồi đa dạng sinh học về nguồn lợi tôm ở Phân khubảo tồn biển - VQG mũi Cà Mau được thiết lập trong những năm qua chưacho thấy dấu hiệu phục hồi, công tác quản lý chưa phù hợp với điều kiệnthực tiễn vv
1.4.2 Nguyên nhân của tồn tại và hạn chế
Mặc dù khoa học và kỹ thuật ngày nay đã rất phát triển, nhưng khókhăn trong nghiên cứu ATT-TC không phải là không còn bởi một số lý
do sau:
1) Hạn chế về thu thập số liệu và phương pháp nghiên cứu
2) Đối tượng nghiên cứu có kích thước nhỏ, phân tích mẫu mất rấtnhiều thời gian và đòi hỏi sự kiên trì cao của người nghiên cứu, đặc biệt khónhận biết các loài khi đã qua xử lý bằng formol hoặc cồn
3) Tài liệu định loại ATT-TC ít, khó tìm kiếm
4) Kinh phí giành cho nghiên cứu về ATT-TC hạn hẹp
Trang 385) Thiếu cán bộ chuyên sâu về trứng cá, cá con (chuyên gia về phânloại ATT-TC ở Việt Nam không có nhiều)
6) Trong quá trình điều tra hoạt động của một số loại nghề hủy diệtnguồn lợi thường gặp nhiều khó khăn do ngư dân và chính quyền địa phươngkhông nhiệt tình hợp tác; bị áp lực về sinh kế của ngư dân nên các giải phápđưa ra kém tính khả thi
Trang 39Chương 2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là tôm giống (bao gồm
ATT-TC) của các loài tôm có giá trị kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius, 1789
và giống Metapenaeus Wood-Mason et Alcock, 1891 thuộc họ Penaeidae.
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu tiến được tiến hành từ tháng 11/2006 đến tháng5/2009, cụ thể như sau:
Từ tháng 11/2006 đến tháng 6/2007: lược khảo tài liệu, thu thập, phântích, xử lý các số liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Từ tháng 8/2007 đến tháng 5/2009 tiến hành khảo sát mẫu tôm:
* Tại vùng cửa sông Bãi bồi Tây Ngọc Hiển, khảo sát 14 đợt vào cáctháng: tháng 8/2007 đến tháng 6/2008 và tháng 3,4,5/2009
* Tại vùng biển ven bờ Cà Mau đã tiến hành khảo sát 06 đợt vàocác tháng: tháng 3, 5, 8, 11/2007, tháng 3, 5/2008
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau (xem hình 2.1)