Thị trường chứng khoán (TTCK) là thị trường tài chính cao cấp, một thị trường của thông tin và niềm tin. Thông tin trên TTCK là yếu tố sống còn, có thể tác động trực tiếp đến những biến động trên thị trường, nói cách khác là ảnh hưởng trực tiếp, ngay lập tức đến quyết định và sự thành bại của nhà đầu tư. Minh bạch hóa thông tin hiện đang được coi là vấn đề hết sức bức xúc của TTCK Việt Nam với 9 năm non trẻ so với ý thức thông tin hàng trăm năm của TTCK trên thế giới. Vì thế hiện nay những kênh thông tin về TTCK từ các nguồn chính thống từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và đặc biệt từ các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng đang khá đa dạng để đáp ứng nhu cầu này. Nhanh chóng chỉ đạo vấn đề này, ngày 2532008, Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các báo, đài đưa tin khách quan, chính xác góp phần cho người dân hiểu rõ chủ trương chính sách của Nhà nước về phát triển TTCK theo công văn số1909VPCPKTTH Vv các biện pháp ổn định TTCK Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng đã phê duyệt “Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” thì truyền thông cho thị trường này là vấn đề bức thiết đặt ra với các loại hình báo chí nói chung và truyền hình nói riêng. Theo đề án này, TTCK sẽ là thành phần chủ đạo để đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị trường tài chính Việt Nam. Đến năm 2020, thị trường vốn Việt Nam sẽ phát triển tương đương thị trường các nước trong khu vực. Theo tiến sĩ Vương Quân Hoàng, Nghiên cứu viên cao cấp Bộ môn Tài chính, Trung tâm Emile Bernheim, ĐHTH Bruxelles thì các quyết định tốt trong đầu tư ngày nay còn được gọi là: Các quyết định đầy đủ thông tin, nguyên văn tiếng Anh: Wellinformed decisions. Các phương tiện truyền thông đại chúng với lợi thế của mình đã làm được gì và phải làm gì cho các nhà đầu tư, cho TTCK, thị trường vốn và cho cả nên kinh tế thì không thể chần chừ hay không quy chuẩn.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêngtôi Những kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá trong luận văn làhoàn toàn độc lập, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, tháng 11 năm 2009
Tác giả luận văn
Vũ Thị Tuyết Minh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, trước hết tôi xin cảm ơn sự giúp
đỡ nhiệt tình, tận tụy từ cán bộ hướng dẫn, TS Phạm Tất Thắng Xincảm ơn những bạn bè, đồng nghiệp từ các kênh VTV1, InfoTV, VTC,HanoiTV, HTV đã cung cấp tư liệu cho luận văn
Xin cảm ơn các thầy, cô trong khoa báo chí - truyền thông, trườngĐại hội Khoa học xã hội và Nhân văn đã truyền thụ kiến thức và kinhnghiệm cho tôi trong thời gian qua
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, cơ quan đã tạo điều kiện, hỗ trợ tôihoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
1 Tính thời sự và lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11
6 Phương pháp luận nghiên cứu 12
7 Kết cấu luận văn 12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN TTCK TRÊN TRUYỀN HÌNH 13
1.1 Một số vấn đề về thông tin, tuyên truyền 13
1.1.1 Khái niệm tuyên truyền 13
1.1.2 Khái niệm thông tin 15
1.1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin, tuyên truyền của báo chí .18
1.2 TTCK và phân loại thông tin về TTCK 21
1.2.1 Lịch sử ra đời TTCK 21
1.2.2 Chức năng TTCK đối với nền kinh tế 23
1.2.3 Phân loại thông tin trên TTCK 25
1.3 Yêu cầu về việc tuyên truyền TTCK trên truyền hình 26
Trang 41.3.1 Đối tượng tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình
26
1.3.2 Một số yêu cầu tuyên truyền về TTCK trên truyền hình 29
Chương 2: THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN VỀ TTCK TRÊN TRUYỀN HÌNH 32
2.1 Lịch sử ra đời của truyền hình về tài chính 32
2.1.1 Truyền hình về tài chính trên thế giới 32
2.1.2 Truyền hình chứng khoán ở Việt Nam 42
2.1.2.1 Kênh VTV1 43
2.1.2.2 Kênh InfoTV (VCTV9) 45
2.1.2.3 Đài truyền hình kỹ thuật số VTC 46
2.1.2.4 Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (HanoiTV) 46
2.1.2.5 Đài phát thanh và truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (HTV9) 47
2.2 Nội dung tuyên truyền của các chương trình về TTCK trên truyền hình .49
2.2.1 Truyền hình góp phần phổ biến kiến thức về TTCK đến nhà đầu tư .49
2.2.2 Truyền hình góp phần tuyên truyền những chính sách của nhà nước, cơ quan quản lý tới công chúng 52
2.2.3 Tuyên truyền thông tin về diễn biến thị trường 56
2.2.3.1 Tuyên truyền thông tin phiên giao dịch 56
2.2.3.2 Tuyên truyền những thông tin khác về TTCK (thông tin doanh nghiệp, thông tin quốc tế…) 59
2.3 Đặc thù hình thức việc tuyên truyền TTCK trên truyền hình 63
2.3.1 Chia nhỏ màn hình 63
2.3.2 Sử dụng ngôn ngữ phi văn tự 68
Trang 52.3.3 Mầu sắc chủ đạo là mầu xanh và mầu vàng 70
2.3.4 Sử dụng nhiều MC trong một chương trình 70
2.3.5 Nhạc nền sôi động 72
2.3.6 Ba thể loại chủ yếu là tin, phóng sự và phỏng vấn 72
2.4 Nhận xét, đánh giá chung về các chương trình tuyên truyền về TTCK trên truyền hình Việt Nam 73
2.4 1 Một vài nhận xét về chất lượng tuyên truyền 73
2.4.1.1 Tính chính xác 73
2.4.1.2 Tính cập nhật 76
2.4.1.3 Tính định hướng 78
2.4.2 Thực trạng tỷ lệ người xem trên các chương trình tiêu biểu 79
2.4.3 Ưu-nhược điểm của các chương trình tuyên truyền về TTCK trên truyền hình 82
2.4.3.1 Ưu điểm 82
2.4.3.2 Nhược điểm 84
Chương 3: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN VỀ TTCK TRÊN TRUYỀN HÌNH 87
3.1 Sự phát triển của TTCK đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền 87
3.2 Định hướng phát triển chương trình tuyên truyền về TTCK trên truyền hình 90
3.2.1 Nắm vững chỉ đạo tuyên truyền về TTTCK 90
3.2.2 Kết hợp nhiều biện pháp trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền về TTCK 92
3.2.3 Vận dụng sáng tạo kinh nghiệm truyền hình tài chính thế giới 94
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền TTCK trên truyền hình 97
3.3.1 Đối với độ ngũ thực hiện chương trình 97
3.3.2 Đối với lãnh đạo các Đài truyền hình 100
3.3.3 Đối với cơ quan quản lý thị trường 101
Trang 63.3.4 Đối với các doanh nghiệp 102
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Nxb: Nhà xuất bản
Hnx: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HoSE: Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh TTCK: Thị trường chứng khoán
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê lịch phát sóng, thời lượng các chương trình truyên truyền
về TTCK trên VTV1, VTC, InfoTV, HanoiTV và HTV9
Bảng 2.2: Mô hình hóa mẫu màn hình chia nhỏ nhất hiện nay
Bảng 2.3: Mẫu màn hình Bản tin thị trường 24h -VTV1
Bảng 2.4:Tỷ lệ người xem Bản tin tài chính (sáng) - VTV1
Bảng 2.5: Tỷ lệ người xem Bản tin tài chính (tối)- VTV1
Bảng 2.6 : Tỷ lệ người xem Bản tin Việt Nam và các chỉ số (tối) -VTV1
Bảng 2.7: Tỷ lệ người xem Bản tin Việt Nam và các chỉ số (trưa) - VTV1
Trang 9Nhanh chóng chỉ đạo vấn đề này, ngày 25/3/2008, Thủ tướng giao Bộ Thôngtin và Truyền thông chỉ đạo các báo, đài đưa tin khách quan, chính xác góp phầncho người dân hiểu rõ chủ trương chính sách của Nhà nước về phát triển TTCKtheo công văn số1909/VPCP-KTTH V/v các biện pháp ổn định TTCK
Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng đã phê duyệt
“Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm
2020” thì truyền thông cho thị trường này là vấn đề bức thiết đặt ra với các loại
hình báo chí nói chung và truyền hình nói riêng Theo đề án này, TTCK sẽ là thànhphần chủ đạo để đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thịtrường tài chính Việt Nam Đến năm 2020, thị trường vốn Việt Nam sẽ phát triểntương đương thị trường các nước trong khu vực
Theo tiến sĩ Vương Quân Hoàng, Nghiên cứu viên cao cấp Bộ môn Tàichính, Trung tâm Emile Bernheim, ĐHTH Bruxelles thì các quyết định tốttrong đầu tư ngày nay còn được gọi là: Các quyết định đầy đủ thông tin,
Trang 10nguyên văn tiếng Anh: "Well-informed decisions." Các phương tiện truyềnthông đại chúng với lợi thế của mình đã làm được gì và phải làm gì cho cácnhà đầu tư, cho TTCK, thị trường vốn và cho cả nên kinh tế thì không thểchần chừ hay không quy chuẩn
Với hàng loạt các kênh truyền hình như hiện nay việc tuyên truyền về TTCKcàng cần phải lưu tâm và thể hiện sao cho chất lượng chương trình xứng đáng với
số lượng chương trình đang có và sẽ còn phát triển mạnh trong tương lai
Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển và biến động của thị trường, các phương tiệntruyền thông đại chúng cũng tăng cường thông tin về TTCK Riêng về truyềnhình hiện trên hầu hết các kênh từ VTV1, HanoiTV, HTV, truyền hình kỹthuật số VTC, truyền hình cáp Việt Nam đều có những chương trình riêngbiệt tuyên truyền về TTCK
Tuy nhiên, nói về thông tin chứng khoán trên các phương tiện thông tinđại chúng, dù nhiều về số lượng (ngoài hệ thống chương trình về chứng khoántrên các kênh VTV1, HanoiTV, HTV thì có hẳn 2 kênh riêng biệt về tài chính
là VTC8 và InfoTV (VCTV9) nhưng nội dung vẫn chưa sâu, chưa kỹ và chưathực sự sát với đối tượng tuyên truyền Nhiều thông tin, nhiều chương trìnhdẫn đến sự trùng lập và ít bản sắc của các chương trình về chứng khoán trêncác kênh khác nhau
Thứ hai, tuy cùng thông tin về TTCK nhưng các bản tin trên truyền hình
cũng có những đặc thù, khu biệt với báo in, báo điện tử hay phát thanh Vìvậy làm rõ đặc thù này cũng là cách để các nhà làm truyền hình có thể tuyêntruyền tốt hơn về TTCK
Trước nhu cầu “thông tin chứng khoán” và nâng cao chất lượng của các
chương trình truyền hình tác giả xin lựa chọn đề tài: Tuyên truyền về thị
trường chứng khoán trên truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTC,
VTV1, InfoTV, HaNoiTV và HTV9).
Trang 112 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu, tìm hiểu thông tin về TTCK đã có mầmmống từ đầu thập kỷ 90 Từ khi Uỷ ban chứng khoán Nhà nước thành lậptheo nghị định 75/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2006 thì những thông tinmang tính chất tuyên truyền về lĩnh vực này thực sự được quan tâm và bắtđầu triển khai chủ động
Hiện theo thống kê trong nước hiện nay có khoảng 200 đầu sách nghiêncứu về TTCK Tiêu biểu, ngay từ năm 1991, các tác giả Đặng Quốc Tuyến,
Trịnh Trọng Nghĩa, Đặng Thị Luận đã biên soạn cuốn “Chứng khoán và
TTCK : Kinh nghiệm của các nước trên thế giới” (Viện Khoa học Tài chính
-Bộ Tài chính xuất bản) Nội dung cuốn sách về TTCK và lịch sử phát triển;các khái niệm cơ bản về TTCK; kinh nghiệm hoạt động TTCK ở các nướckinh tế phát triển; vai trò của TTCK ở các nước chuyển sang nền kinh tế thịtrường và điều lệ chứng khoán ở Liên Xô
Sang năm 1993, tác giả Nguyễn Ngọc Minh dịch cuốn “Những kiến thức
cơ bản về chứng khoán và môi giới chứng khoán” của Học viện Tài chính
Nữu ước (Mỹ) (Nhà xuất bản thế giới xuất bản)
Sang năm 1994, sách về chứng khoán được xuất bản nhiều hơn, tác giả
Nguyễn Công Nghiệp xuất bản cuốn “TTCK : Trò chơi và những thủ pháp
làm giàu” Một số nội dung chính của tác phẩm là đôi nét về đặc điểm của
TTCK Những thủ đoạn, bí quyết làm giàu của những kẻ tham gia trò chơichứng khoán, luật chơi của trò chơi này
Và đây cũng là cuốn sách đầu tiên chỉ những ứng dụng, bí quyết trongTTCK với quan niệm về “trò chơi chứng khoán”
Về luận án, hiện tại Thư viện quốc gia có lưu chiểu khoảng 50 luận án
nghiên cứu về TTCK Sớm nhất, năm 1995, tác giả Lê Thị Tuyết Hoa nghiên
cứu về “Các giải pháp nhằm thực hiện các điều kiện hình thành TTCK tại
Trang 12Việt Nam” Tác phẩm nghiên cứu lý luận TTCK và thực trạng kinh tế - xã hội
Việt Nam về kinh tế - con người, pháp lý để tìm và đưa ra những kiến nghị
về các giải pháp thực hiện các điều kiện hình thành TTCK ở VIệt Nam
Cùng năm, tác giả Lê Hoàng Nga hoàn thành đề tài “Thiết lập cơ chế
hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam trên TTCK” Nội dung chính là
về TTCK và vai trò của hệ thống ngân hàng trên TTCK Thực trạng và cơ chếhoạt động của hệ thống ngân hàng trên TTCK Cơ chế hoạt động của hệ thốngngân hàng Việt Nam trên TTCK
Như vậy, tuy sách, luận án hay các tài liệu bài viết về TTCK khá nhiềunhưng cho đến nay những tác phẩm đó nghiên cứu thị trường chủ yếu dướigóc độ tài chính
Ở trong nước, về thông tin TTCK trên báo chí có một số công trình:
- Khóa luận "TTCK qua Báo chí" của Đoàn Mai Anh K40, sinh viên
khoa báo chí trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
- Khóa luận “Thông tin chứng khoán trên Báo chí Việt Nam” của sinh
viên Phạm Thị Hằng K47 hệ tại chức khoa báo chí trường Đại học khoa học
xã hội và nhân văn
- Khóa luận “Thông tin chứng khoán trên báo chí Việt Nam” của Phạm
Thị Thuỷ (K47 Hà Nội hệ tại chức) khoa báo chí trường Đại học khoa học xãhội và nhân văn
- Khóa luận “Cách tiếp cận và xử lý thông tin chứng khoán của phóng
viên kinh tế ở Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Minh Anh, K48 chính quy khoa
báo chí trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
- Luận văn “Thông tin tuyên truyền về chứng khoán và TTCK (Khảo sát
tạp chí chứng khoán từ 1997-2003)” của tác giả Nguyễn Cao Cầm, Học viện
Báo chí và tuyên truyền, người hướng dẫn TS Phạm Tất Thắng, năm 2004.Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả đã lược dịch một số
tác phẩm của một số tác giả nước ngoài, tiêu biểu là “Media firms: structures,
Trang 13operations and performances”, nhà xuất bản Lawrence Erlbaum Associates,
năm 2002, biên soạn Robert G.Picard, Trường kinh tế và quản trị kinh doanh
Turku, Phần Lan và “The options course: High Profit & Low Stress Trading
Methods” Nhà xuất bản Wigley, tái bản lần 2 năm 2005 của tác giả George
A.Fontanills
Việc tiếp cận với các tài liệu gốc này vẫn mang tính hạn chế nhưng cũng
đủ để minh chứng cho việc phát triển khá mạnh những tác phẩm nghiên cứu
về vấn đề này trên thế giới
Như vậy, ở nhiều khía cạnh khác nhau bước đầu mảng đề tài này đãđược khai thác Tuy nhiên trên thực tế hiện chưa có một công trình nàonghiên cứu trên về việc tuyên truyền về TTCK trên truyền hình và từ đó đưa
ra những giải pháp thực tiễn là nâng cao chất lượng chương trình như ở luậnvăn thực hiện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao việc tuyên truyền về TTCKtrên truyền hình trong thời gian tới
- Nhiệm vụ:
Thứ nhất, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về TTCK và tuyên
truyền về TTCK trên truyền hình
Thứ hai, đánh giá thực trạng hoạt động tuyên truyền về TTCK trên cơ sở
khảo sát các chương trình trên một số kênh truyền hình
Thứ ba, đề ra giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động của thông
tin tuyên truyền về TTCK trên truyền hình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Khảo sát việc tuyên truyền về TTCK trên một số kênh
VTV1, HanoiTV và HTV9, truyền hình kỹ thuật số VTC và InfoTV truyền hình cáp Việt Nam)
Trang 14(VCTV9-Cụ thể, tập trung vào một số chương trình:
- Việt Nam và các chỉ số; Bản tin tài chính; Chứng khoán cuối tuần(VTV1)
- Bữa sáng doanh nhân, Hàn thử biểu, Tâm chấn (VTC8)
- Bản tin trước giờ mở cửa, Bản tin chứng khoán Info, Sàn chứng khoánInfo (InfoTV)
- Bản tin chứng khoán và đầu tư (HanoiTV)
- Bản tin kinh tế tài chính 24H (HTV9)
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chung về các chương trình tuyên
truyền về TTCK trên truyền hình từ năm 2006 và tập trung khảo sát sâu vàomột số chương trình cụ thể (trên cách kênh VTV1, VTC, InfoTV, HanoiTV
và HTV9) từ tháng 7/2007 và đặc biệt từ quý III/2009 (tháng 8,9,10) đến nay
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận: Đề tài đặt nhiệm vụ và nghiên cứu cơ sở lý luận cho việc
tuyên truyền về TTCK như nghiên cứu tâm lý đối tượng tuyên truyền, cáchphân loại thông tin trên thị trường tài chính và rút ra những yêu cầu về chấtlượng khi tuyên truyền về TTCK trên truyền hình Kết quả nghiên cứu của đềtài là đóng góp những cơ sở lý thuyết chung nhất vào hoạt động tuyên truyền
về TTCK trên truyền hình
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là đóng góp tích cực,
đem lại cái nhìn toàn cảnh về những chương trình truyền hình về TTCK hiệnnay trên các kênh khảo sát tiêu biểu đã được chọn lọc đại diện cho hầu hếtviệc tuyên truyền về TTCK trên truyền hình
Từ những kết luận cụ thể đề tài đưa ra những kiến nghị để nâng cao hiệuquả thông tin tuyên truyền về một lĩnh vực đặc thù như TTCK trên truyềnhình cho các đối tượng (đối tượng được tuyên truyền (các doanh nghiệp); cơquan quản lý thị trường và bản thân những người làm chương trình)
Trang 156 Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp tiếp cận hệ thống nguyên lý tuyên truyền củaĐảng Xuất phát từ phân tích và tổng hợp hoạt động thực tiễn rút ra những vấn
đề mang tính quy luật cho nên đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp vàlogic Phương pháp khái quát hoá cũng được sử dụng để hỗ trợ
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu,kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận vănđược kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tuyên truyền TTCK trên truyền hình
Chương 2: Thực trạng tuyên truyền về TTCK trên truyền hình
Chương 3: Giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả tuyên truyền về thị
trường chứng khoán trên truyền hình
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN TTCK TRÊN
TRUYỀN HÌNH
1.1 Một số vấn đề về thông tin, tuyên truyền
1.1.1 Khái niệm tuyên truyền
Theo Plêkhanốp thì Tuyên truyền là truyển bá ý kiến nhiều người cho ít người).Theo PGS.TS Tạ Ngọc Tấn, Tuyên truyền là hoạt động nhằm truyền bátrong quần chúng nhân dân những tư tưởng nền tảng, những quan điểm chínhyếu của hệ tư tưởng của chế độ, nhằm hình thành một bức tranh đặc trưng vềthế giới về lịch sử vận động của xã hội
Ở nghĩa rộng, tuyên truyền được hiểu là toàn bộ các hình thức hoạt độngcủa công tác tư tưởng, vận động quần chúng nhân dân Ở một nghĩa hẹp hơn
“Tất cả các hoạt động nhằm truyền bá một tri thức, một ý niệm cụ thể nào đó”.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: Đế quốc Mỹ không những chiếntranh xâm lược bằng quan dự, chúng còn chiến tranh bằng tuyên truyền, rằngTuyên truyền là một thứ vũ khí sắc bén cho địch chống lại ta Chính vì vậy
Hồ Chủ tịch yêu cầu: Chúng ta phải đánh thắng địch về tuyên truyền cũngnhư Bộ đội ta đánh thắng địch về mặt quân sự
Trong tác phẩm “Làm gì”, Lê Nin đã đưa ra một hình dung rõ ràng vềnội dung khái niệm tuyên truyền “ Người tuyên truyền phải nói nhiều ý, mangđến cho công chúng những tri thức sâu sắc có tính bản chất Trên cơ ở đó tácđộng vào thế giới quan của con người, vào quá trình hình thành những quanniệm niềm tin và ý chí của mỗi thành viên trong xã hội” Người đã yêu cầu:
Tờ báo là người tuyên truyền, cổ động và tổ chức tập thể”
Hoạt động tuyên truyền của báo chí chúng ta có nhiệm vụ truyền bá, giảithích cho toàn xã hội những quan điểm đường lối, chính sách quyết định cả
Trang 17Đảng, Nhà nước ta, là sự vận dụng sáng tạo, cụ thể học thuyết Mác-Lê Ninviết vào việc xác định đường hướng, vận dụng và giải quyết các nhiệm vụcách mạng việt Nam Nội dung tuyên truyền hệ tư tưởng Mác-Lê Nin vàtuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, hòa quyện đan xenlàm tiền đề cho nhau.
Yêu cầu đặt ra đối với việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước là phân tích lý giải các cơ sở khoa học, thực tiễn một cách thuyếtphục, hướng dẫn các khả năng thực hiện, làm cho quần chúng nhân dân hiểubiết, tin tưởng và tự giác chấp hành tạo ra các điều kiện tinh thần tư tưởng chocác cuộc vận động xã hội rộng lớn nhằm giải quyết các nhiệm vụ xây dựng vàphát triển kinh tế-xã hội Phương hướng quan trọng hàng đầu của hoạt độngtuyên tryền trên báo chí là hình thành các quan điểm khái quát về thời đại.Trên cở sở phương pháp luận khoa học, báo chí phân tích, đánh giá nhận địnhtính chất khuynh hướng vận động các mâu thuẫn cơ bản của từng khu vục vàthế giới, từng lĩnh vực hoạt động và toàn bộ đời sống xã hội, mối quan hệ, tácđộng giữa các quốc gia, các khu vực, các giai cấp và lực lượng xã hội Bằng
sự tổng kết, đánh giá đó báo chí hình thành trong công chúng nhân dân nhữngquan điểm cơ bản về thời đại và thế giới thực Đó là một tiền đề quan trọngcho việc củng cố lý tưởng và định hướng xây dựng chế độ mới Những trithức đó đồng thời là điều kiện cho quần chúng xem xét, đánh gia đúng đắncác hiện tượng, sự kiện đang diễn ra xung quanh và định hướng hoạt động của
họ một cách hợp lý
Về bản chất, hành động tuyên truyền nhằm hình thành nền tảng cho ýthức xã hội, bộ phận duy lý của đời sống tinh thần con người Hoạt độngtuyên truyền với nội dung chủ yếu là tập trung sự quan tâm vào dư luận xãhội-bộ phận linh động dễ biến đổi nhất của ý thức xã hội
Trang 181.1.2 Khái niệm thông tin
Theo Philipppe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách "Bùng nổ truyềnthông" 1 khái niệm thông tin có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là, nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình thái (frome), thứ hai là, nói về sự truyền đạt một
ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, mộtnhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt
Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức
Theo quan điểm của triết học, thông tin là một hiện tượng vốn có của vậtchất, là thuộc tính khách quan của thế giới vật chất Nội dung của thông tinchính là những thuộc tính, tính chất vốn có của sự vật với các sự vật hiệntượng được bộc lộ ra, thể hiện thông qua tác động qua lại của sự vật ấy với sự
vật khác Thông tin luôn gắn với quá trình phản ánh Những dấu ấn để lại
chính là những thông tin của hệ thống vật chất này đối với hệ thống vật chấtkhác Phản ánh của vật chất là phản ánh thông tin, không có thông tin chungchung mà thông tin là thông tin về sự vật này đối với sự vật khác
Theo Từ điển tiếng Việt thì thông tin với nghĩa là động từ là truyền tin
cho nhau để biết; và với nghĩa danh từ là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi (ví dụ bài báo có lượng thông tin cao) 2
Như vậy, thông tin được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó chính là nội
dung thông tin; Thứ hai, đó là phương tiện thông báo, báo tin
Cách hiểu này phù hợp với khái niệm thông tin nêu trong phần mở đầu
“Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010” ban hành kèm theo Quyết định số 219/2005/QĐ - TTg ngày 9/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ: "Thông
tin được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, là công cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở
1 Philipppe Breton, Serge Proulx (1996), Bùng nổ truyền thông, Nxb Văn hoá - Thôngtin, Hà Nội
Trang 19rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội"
Đặc biệt, Chiến lược phát triển thông tin đã nêu lên một luận điểm quan
trọng về vai trò của thông tin trong đời sống xã hội: Sự chênh lệch về trình độphát triển thông tin giữa các nước là một đặc điểm về quy mô và trình độ pháttriển trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ Nước nào không vượtqua được những thách thức về thông tin, nước đó mất cơ hội phát triển và cónguy cơ mất khả năng tự chủ Thiếu thông tin, sẽ gặp khó khăn trong việc đưa
ra các quyết định hoặc các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa học,không thực tiễn và trở nên kém hiệu quả
Thông tin báo chí
Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại, báo chí là mộthiện tượng xã hội, ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thứccủa con người Thông tin là một hiện tượng vốn có của thế giới vật chất Theocác nhà nghiên cứu, lần đầu tiên thông tin được con người chú ý về mặt ýnghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết báo chí vào những
năm 20 - 30 của thế kỷ XX Và từ đây, "Thông tin chính là những cái mới
khác với những điều đã biết" 3
Thông tin là chức năng sơ khởi của báo chí, theo nghĩa sử dụng phươngtiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo Thực hiệnchức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả các vấn đề, sựkiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tựnhiên, xã hội
Trong một thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, báo chí có cáchriêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp
xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau Chính điều đó
3Lê Thị Duy Hoa (1999), Tạp chí Triết học, số 01 (107), tháng 2/1999
Trang 20đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi vànăng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được
Như vậy, thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực
cuộc sống Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đượcbáo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con người
Thứ hai, đó là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới công chúng
Trong hoạt động báo chí, thông tin là mục đích chủ yếu Thông tin trởthành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng Căn cứ việc phân loại theophương thức thể hiện, người ta chia thông tin báo chí thành các loại hình:Thông tin bằng chủ yếu chữ viết (báo in); thông tin chủ yếu bằng tiếng nói(phát thanh); thông tin chủ yếu bằng hình ảnh (truyền hình); thông tin trênmạng internet (đa phương tiện)
Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ "thông tin" có nhiều dạng khác nhau:
có khi chỉ là cái tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng vấn; có khi
là một chương trình phát thanh, truyền hình Ngay cả các tiêu đề, vị trí của tácphẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cáchxếp chữ trên các tờ báo đều chứa đựng thông tin
Thuật ngữ "Thông tin" trong hoạt động báo chí còn có có cách hiểu rộnghơn, chúng còn được hiểu như một danh từ tập hợp Chúng ta có thể gọi toàn
bộ tác phẩm, hay hệ thống những tin tức là thông tin
Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng và đánh giá cao vai trò của thôngtin Đây không chỉ là phương tiện cung cấp thông tin, cung cấp tri thức, làmột trong những công cụ giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành đất nước màcòn là nơi để phản hồi những thông tin từ nhân dân đối với đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọngthực hiện dân chủ hoá trong đời sống xã hội Thông tin thực sự là công cụ
Trang 21cung cấp tri thức, dự báo sự phát triển đồng thời cũng là động lực thúc đẩy sựphát triển Đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí ngày càng đượcnâng cao nên nhu cầu thông tin của nhân dân đòi hỏi ngày càng cao hơn
1.1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin, tuyên truyền của báo chí
Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sựvật Chất lượng theo quan điểm của Triết học Mác - Lênin, là hai mặt có mốiquan hệ biện chứng của mỗi sự vật, hiện tượng Chất là tính quy định vốn cócủa các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ những thuộc tính,những yếu tố cấu thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó với các sựvật và hiện tượng khác Lượng là tính quy định của sự vật và hiện tượng vềmặt quy mô, trình độ phát triển của nó, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu
tố cấu thành nó Quá trình thay đổi về lượng tạo điều kiện cho chất đổi vàngược lại, khi chất mới ra đời, nó lại tạo ra một lượng mới phù hợp với nó.Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngượclại là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật nàynói lên cách thức của sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng Trong hoạt động báo chí, nhận thức về chất lượng thông tin song songvới nhận thức về chức năng và đối tượng phản ánh của báo chí Muốn có nhậnthức đúng đắn về thông tin, cần xác định được mục đích hoạt động của báochí, đồng thời phải nêu lên định hướng có tính nguyên tắc cho những hoạtđộng thực tiễn của một nền báo chí Sự định hướng rõ ràng sẽ trang bị chonhà báo phương pháp thông tin và biết cách vận dụng thông tin có hiệu quả đểthực hiện chức năng của báo chí
Một hướng quan trọng trong cách tiếp cận thông tin báo chí là mỗichương trình, mỗi tác phẩm phải được xem xét kỹ lưỡng trong hệ thốngnhững mối quan hệ giữa báo chí và công chúng Tác phẩm báo chí là điểmtrung gian trong mối quan hệ: Nhà báo - Tác phẩm - Công chúng Tác phẩm
Trang 22báo chí khi được đăng tải, phát sóng, mới chỉ dừng lại ở thông tin tiềm năng,
vì thông tin đó chưa chắc đã được công chúng tiếp nhận Người làm báo phảitìm mọi cách biến thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực Tính chấtthực tiễn của thông tin là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của thông tin cao haythấp, tức là có mang đến cho công chúng những thông tin phù hợp với nhucầu của họ không và có khả năng chuyển thông tin tiềm năng thành thông tinhiện thực không
Lý luận báo chí truyền thông đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng
thông tin, cũng như khả năng tuyên truyền đó là tính độc đáo, tính đại chúng
và tính hợp thời (đúng lúc)
- Tính độc đáo của thông tin, là cái mới mà công chúng chưa biết.
Nhưng cái mới không phải là cái duy nhất thể hiện tính độc đáo Cùng với sựđòi hỏi tất yếu của cái mới, có thể tái hiện thông tin cũ đã bị lãng quên, giúpcho công chúng có thêm tư liệu để nhận thức tốt hơn sự kiện mới Tuy nhiên,những thông tin được nhắc lại sẽ vô bổ, thậm chí có hại khi cái mới, cái độcđáo bị chìm đi trong một loạt cái cũ; khi cái cũ không đóng vai trò bổ sung
mà lại cản trở việc nhận thức cái mới
- Tính đại chúng (dễ hiểu) giúp cho công chúng nhận thức nội dung tác
phẩm tương ứng với ý đồ tác giả, đòi hỏi ngôn ngữ của báo chí (chữ viết, lờinói, hình ảnh…) và cách viết, cách thể hiện phải được công chúng nhậnthức đầy đủ Nếu không thực hiện được nguyên tắc này sẽ dẫn đến tình trạng
là công chúng không hiểu được tác phẩm
- Tính hợp thời (đúng lúc) đòi hỏi tác phẩm báo chí xuất hiện đúng lúc,
đáp ứng được nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ trong thời điểm
đó thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn, tạo sự hứng thú, hấp dẫn công chúng Lượngthông tin còn phụ thuộc vào tính thời điểm của nó Trong thời đại ngày nay,lượng thông tin phụ thuộc một cách quyết định vào tính kịp thời, đúng lúc,
Trang 23nhanh nhạy Báo chí làm được những điều trên sẽ làm tăng giá trị của thôngtin, nếu thông tin chậm, hiệu quả sẽ ngược lại và lượng của nó sẽ bằng không.Tiêu chí đánh giá tác phẩm báo chí chất lượng cao đã được các cơ quan
quản lý nhà nước quy định cụ thể, đó là: "Những tác phẩm mang lại hiệu quả
thiết thực cho toàn xã hội hoặc một vùng miền, địa phương; có nhiều tìm tòi, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày; có nội dung phù hợp, hấp dẫn người đọc, người nghe, người xem; phù hợp với quan điểm chỉ đạo, tuyên truyền, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước" 4
Cơ sở lý luận báo chí truyền thông cũng chỉ ra rằng, tác phẩm báo chí làmột chỉnh thể, bao gồm hai yếu tố nội dung và hình thức Hai yếu tố này cómối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ, chi phối lẫn nhau tạo nên chất lượngtác phẩm báo chí Tác phẩm báo chí còn được hiểu rộng hơn, đó là cả trangbáo, số báo, tờ báo, chuyên mục, chương trình phát thanh, truyền hình Do
đó tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin báo chí phải coi trọng cả hai yếu tốnội dung và hình thức thông tin
Hoạt động báo chí là hoạt động có ý thức và mục đích của con người,bởi vậy yêu cầu về tính hiệu quả báo chí phải được đặt lên hàng đầu Hiệu quảbáo chí là việc vận dụng các quy luật, các nguyên tắc, hình thức, phương thứchoạt động báo chí giúp cho nó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình nhằmđạt mục đích đặt ra Để báo chí hoạt động hiệu quả, trước hết nội dung thông tinphải phong phú, mang lại cho công chúng một lượng thông tin mới, phản ánhđúng, kịp thời, đi vào những vấn đề thiết thực nhất mà công chúng đang quantâm hoặc đang thiếu thông tin, phải thỏa mãn nhu cầu mỹ cảm, tác động sâu sắc
4 Thông tư số 17/2007/TTLT/BVHTT - BTC ngày 14/6/2007 của Liên bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện hỗ trợ tác phẩm báo chí chất lượng cao ở Trung ương và địa phương giai đoạn 2006 - 2010.
Trang 24đến tình cảm và suy nghĩ của đối tượng Về hình thức, thông tin báo chí phảiđược chuyển tải bằng các hình thức tác phẩm và phương pháp thể hiện thuyếtphục, dễ hiểu Nó không chỉ làm cho công chúng thích thú mà còn khơi gợi được
sự suy nghĩ theo hướng đúng và thúc đẩy hành động tích cực của họ
1.2 TTCK và phân loại thông tin về TTCK
1.2.1 Lịch sử ra đời TTCK
TTCK được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiệnđại Người ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế qua diển biếntrên TTCK
Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, TTCK đươc hiểu mộtcách chung nhất, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán ,trao đổi các chứngkhoán - các hàng hoá và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia Việcmua bán trao đổi này được thưc hiện theo những quy tắc nhất định
TTCK không phải ngay từ đầu đã có những giao dịch toàn cầu phức tạpnhư hiện nay
Cho đến năm 1531, định chế đầu tiên hao hao như một sở giao dịch mới
ra đời tại Antwerp, Bỉ Tuy vậy, ở TTCK đầu tiên này không hề có cổ phiếu Thay vì mua bán cổ phiếu công ty (những thứ khi ấy còn chưa tồn tại),người môi giới và cho vay tập trung lại đây để giao dịch các món nợ của công
ty, chính phủ và thậm chí cả cá nhân
Mọi chuyện thay đổi vào những năm 1600, khi cả Anh, Pháp và Hà Lanđều cử hạm đội đến Đông Ấn Do ít nhà thám hiểm trang trải đủ cho mộtchuyến hải thương, các công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập để huyđộng tiền từ nhà đầu tư, những người này sẽ được chia lợi nhuận đoàn tươngứng với phần vốn góp
Hình thức tổ chức kinh doanh này cũng đòi hỏi phải được quản lý rủi ro
Trang 25Theo báo Imperial Gazetteer của Ấn Độ, các chuyến hải hành đầu tiêncủa Anh đến Ấn Độ Dương không thành công, tàu đắm còn tài sản cá nhâncủa những người đi huy động vốn bị chủ nợ tịch thu
Điều đó khiến một nhóm thương nhân London lập nên một công ty vàotháng 9/1599, giới hạn trách nhiệm của mỗi thành viên theo số tiền họ đầu tư.Nếu chuyến hải hành thất bại, luật pháp chỉ có thể tịch biên số tiền trên
Nữ hoàng Anh cho phép nhóm thương nhân này hoạt động trong vòng
15 năm, và đặt tên cho công ty là “Thống đốc và nhóm thương nhân Londongiao thương với Đông Ấn” (hay đơn giản là “Công ty Đông Ấn”)
Hình thức trách nhiệm hữu hạn đã phát huy tác dụng tốt, cho đến năm
1609, vua James I đã cho phép nhiều công ty thương nghiệp nữa hoạt động vàthúc đẩy giao thương tại các quốc gia Châu Âu có bờ biển khác
Công ty Đông Ấn Hà Lan là công ty đầu tiên cho phép người ngoài mua
cổ phiếu ghi danh theo một tỷ lệ nhất định Họ cũng là công ty đầu tiên pháthành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng qua Sở giao dịch chứng khoánAmsterdam năm 1602
Ở Việt Nam, để thực hiện đường lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa(CNH – HĐH) đất nước, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế bền vững vàchuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả và sứccạnh tranh, đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển
Vì vậy, việc xây dựng TTCK ở Việt Nam đã trở thành nhu cầu bức xúc vàcấp thiết nhằm huy động các nguồn vốn trung, dài hạn ở trong và ngoài nướcvào đầu tư phát triển kinh tế thông qua chứng khoán nợ và chứng khoán vốn Thêm vào đó, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước với sự hìnhthành và phát triển của TTCK sẽ tạo môi trường ngày càng công khai và lànhmạnh hơn
Ngày 10/07/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định
Trang 2648/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và TTCK cùng với Quyết định thành lập hai (02)Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
Sự ra đời của TTCK Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vậnhành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 vàthực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000
Tại Hà Nội, thì do chưa hội đủ các yếu tố nên mãi đến tháng 3/2005, sàngiao dịch mới được khai trương
Về mặt khái niệm, TTCK là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán,chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Tuy nhiên, đó
có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung Tính tập trung ở đây là muốn nóiđến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất
Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán( Stock exchange) Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịchđược tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch vàtham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch
TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter) Trênthị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công tychứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạngđiện tử Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận
1.2.2 Chức năng TTCK đối với nền kinh tế
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiềnnhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó gópphần mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ởcác địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng vàđầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
Trang 27TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh vớicác cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khácnhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựachọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sởhữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năngthanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối vớingười đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư.TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của cácchứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánhmột cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt độngcủa doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môitrường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích
áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cáchnhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang
mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ chothấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong
vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thựchiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua
và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách vàquản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách,biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát
Trang 28triển cân đối của nền kinh tế.
Với những chức năng như vậy, qua 9 năm hoạt động, TTCK đóng gópvai trò quan trọng đối với nền kinh tế Báo chí là công cụ “tuyên truyền tậpthể, cổ động tập thể và tổ chức tập thể” đã chọn TTCK làm đối tượng đểtuyên truyền
1.2.3 Phân loại thông tin trên TTCK
Thị trường tài chính thành ba bộ phận: Thứ nhất, thị trường vốn: nhằmhuy động vốn dài hạn mà chủ yếu là thông qua TTCK; Thứ hai, thị trườngtiền tệ: thị trường vốn ngắn hạn; Thứ ba, thị trường hối đoái
Hiện nay, tuyên truyền về TTCK thường được các nhà làm truyền hìnhlồng ghép trong hệ thống thông tin về thị trường tài chính Lý do của việc này
có thể do sự khó phân định rạch ròi về các thị trường vì có sự tác động qua lại
và tương hỗ lẫn nhau
Theo khảo sát và kinh nghiệm từ các chuyên gia từ Dow Jones Thông tinkinh tế chia làm 3 loại: Tin tài nguyên, tin chứng khoán và tin tiền
Tin tài nguyên (tin hàng hóa): Bao gồm tin tài nguyên thiên nhiên, nhiên
liệu khoáng sản, đất đai; và hưởng lợi từ điều kiện tự nhiên (lúa gạo, nôngsản, cao su….)
Tin chứng khoán: Tin liên quan đến doanh nghiệp, hoạt động của doanh
nghiệp cổ phần, tin kinh tế vĩ mô, xuất nhập khẩu…chính sách ảnh hưởng đếndoanh nghiệp, huy động vốn của doanh nghiệp…
Các loại tin còn lại không thuộc 2 nhóm trên được gọi là tin tiền: tin đầu
tư cơ sở hạ tầng, công du, điều tiết giá cả, tin bão lụt…
Trong hệ thống này tin tài nguyên được xem là tin quan trọng nhất Tuynhiên mức độ ảnh hưởng, khả năng phản ứng của thị trường là chậm Tinchứng khoán là tin có mức độ ảnh hưởng, phản ứng tức thời nhanh nhất Trước đây nhóm tin tài nguyên dường như ít được ai quan tâm ( kể cảnhững nhà đầu tư tham gia trong các tổ chức, định chế tài chính), nó chỉ phục
Trang 29vụ doanh nghiệp tham gia khai thác tài nguyên là chính Tuy nhiên từ saukhủng hoảng, và sự nỗ lực của các tổ chức, giới đầu tư chú ý nhiều hơn loạitin này và nó sức ảnh hưởng khá mạnh đến TTCK Việt Nam.
Về tin tiền như chuyến công du của các quan chức được báo chí, truyềnhình đưa tin trong các chương trình thời sự Thực tế cần nhìn sâu hơn ở nhữngthông tin này để phân tích tìm ra lợi ích đạt được
Những thông tin như bão lụt, thiên tai, tưởng chừng như tin xã hội tuynhiên đây cũng là tin kinh tế nếu chúng ta khai thác ở gốc độ tài chính Ví dụ:Hạn hán, nhà máy thủy điện không thể phát điện, gây thiệt hại và tài chínhcho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp tham gia trên TTCK – giá chứng khoán
sẽ phản ánh ảnh hưởng này có thể ngay lập tức ( khi nhà đầu tư hiểu rõ) hoặckhi có BCTC niên độ (sau một thời gian) do đó bị lãng quên
Cách chia thông tin này là cơ sở cho những người làm truyền hình vềTTCK có những nhận thức rõ ràng và khu biệt thông tin về TTCK để phục vụmục đích tuyên truyền Ngoài ra, để hiểu thị trường tài chính và thông tin cácloại có thể tương tác qua lại với nhau và đặt chúng trong mối quan hệ phù hợp
để tuyên truyền
1.3 Yêu cầu về việc tuyên truyền TTCK trên truyền hình
1.3.1 Đối tượng tuyên truyền về thị trường chứng khoán trên truyền hình
Trước khi bàn về tuyên truyền về TTCK thì cần khẳng định rõ, đối tượngtuyên truyền về TTCK trên các loại phương tiện truyền thông đại chúng làcông chúng của nó (với truyền hình là khán giả truyền hình), cụ thể xác định
là các nhà đầu tư trên thị trường, các chủ doanh nghiệp và cả các cơ quanquản lý thị trường
Riêng với các nhà đầu tư, một đòi hỏi của thị trường là các nhà đầu tư
Trang 30phải có một trình độ văn hóa, tư duy, cũng như một đầu óc phán đoán nhạybén với các “thông số” trên thị trường Nhưng ít ai biết được “văn hóa truyềnthống” dân tộc, đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý và khả năng “làm kinhtế” của họ Các nhà đầu tư đã vô tình “ứng dụng”các đặc trưng văn hóa “nôngnghiệp-làng xã” vào hoạt động kinh doanh của mình Từ đó, đã hình thành cáivăn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh,hìnhthành nên những kiểu kinh doanh “ổn định” và “đặc thù” chính họ
Thay vì đem lại những lợi ích,ưu điểm cho nhà đầu tư chứng khoán,thì
“văn hóa truyền thống” lại có quá nhiều điểm không phù hợp với việc “kinhdoanh chứng khoán” hiện nay
Những yếu tố văn hóa truyền thống tác động đến nhà đầu tư trên thị trường
- Tính cộng đồng: như ta biết tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên
trong làng xã với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác.Conngười trong xã hội nông nghiệp thường chú trọng đến các mối quan hệ Từ
đó, dẫn đến việc thủ tiêu vai trò cá nhân, làm cho người Việt Nam thiếu hụtnhững cá tính mạnh mẽ, mỗi con người chưa thực sự phát triển với tư cách làmột chủ thể tự chủ, môi trường xã hội mang đậm tính cộng đồng không thểkhuyến khích cao độ những động lực và lợi ích, tài năng sáng tạo của cá nhân.Trong khi thời đại nhiều thách thức như bây giờ, người chiến thắng là nhữngnhà doanh nhân can đảm với những khát khao cháy bổng và một đầu óc phánđoán cực nhạy, những người biết tạo cho mình một văn hóa kinh doanh mới,một văn hóa mang tính cá nhân cao độ, không còn quá lệ thuộc vào các mối
“quan hệ nông nghiệp” như trước
- Tính đồng nhất: nhân vật trung tâm trong nền văn hoá truyền thống chủ
yếu là con người nông thôn,với các tính cách hay dựa dẫm, ỷ lại vào tậpthể,chịu ảnh hưởng tư tưởng “kéo theo” một cách khá mạnh mẽ từ tập thể :nước trôi thì bèo trôi, nước nổi thì thuyền nổi… đó là một tư tưởng cầu an
Trang 31Từ đó, đã hình thành nên tâm lí “ăn theo”trong việc kinh doanh cũng nhưTTCK Chứ chưa phải là con người kinh doanh, nhà doanh nghiệp, nhữngngười làm ăn thật sự để tạo ra sự giàu có về kinh tế cho bản thân mình và cho
xã hội
- Tính tự trị : con người Việt Nam trong nền văn hóa nông nghiệp làng
xã có tính tự trị khá cao, những người một làng thì chỉ biết có làng đó, đôi khi
cả cuộc đời họ cũng không bao giờ bước chân ra khỏi “lũy tre” làng với cuộcsống và các mối quan hệ ổn định,nên người Việt Nam thường có lối suy nghĩđơn giản,tùy tiện manh mún, phân tán, thiếu hệ thống… kém tính hợp tác, ỷvào khả năng xoay sở của mình, không nhìn xa trông rộng Đây chính lànhững tối kị trên thường trường Chính những điều này đã làm cho các nhàđầu tư chứng khoán gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt và phân tích,tìm hiểu các “thông số” để đưa ra chính sách đầu tư hơp lí nhất để thu lợinhuận cao Chính những yếu kém về tâm lí mà nhà đầu tư thường gặp nhiềukhó khăn trong việc quyết định kịp thời, từ đó dẫn đến hậu quả khó lường
Từ những hạn chế của nền “văn hóa truyền thống” làm nảy sinh tâm lý
về số phận Phản ánh một tâm thế thiếu tự tin hay bất an nào đó,vì cảm thấykhông an toàn trong một môi trường rủi ro, cảm thấy bất lực không làm chủđược cuộc sống Từ đó, xuất hiện xu hướng cục bộ, trong khi yêu cầu của xãhội hiện đại cần sự hợp tác theo quan hệ chức năng, thích dựa vào quen biết.Trong khi, nếu cái gì cũng dựa vào sự vất vả chạy chọt thì chắc chắn xã hộikhông thể vận hành một cách lành mạnh được huống gì trong “kinh doanhTTCK”, là một nơi với nhiều “thông số” phức tạp
Nói vậy, nhưng không phải nền văn hóa nông nghiệp truyền thống lạikhông đem đến những lợi ích cho người chơi chứng khoán,nhờ vào tính cộngđồng mà người chơi ở Việt Nam thường có tâm lí hỗ trợ lẫn nhau, nên thịtrường không bị một số cá nhân “lũng đoạn” chi phối, như một số nước có
Trang 32nền văn hóa du mục Mặt khác nhờ vào tính tự trị mà thị trường trong nướcthường ổn định hơn so với thị trường thế giới (dù bị thị trường thế giới tácđộng tới cũng không nhỏ).
1.3.2 Một số yêu cầu tuyên truyền về TTCK trên truyền hình
Theo tiến sĩ Vương Quân Hoàng, Nghiên cứu viên cao cấp Bộ môn Tàichính, Trung tâm Emile Bernheim, ĐHTH Bruxelles thì Các quyết định tốttrong đầu tư ngày nay còn được gọi là: Các quyết định đầy đủ thông tin,nguyên văn tiếng Anh: "Well-informed decisions."
Tuyên truyền về TTCK là hoạt động thu thập, xử lý và nghiên cứu, bổsung để phổ biến, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và công bố các kết quảnghiên cứu khoa học về chứng khoán và thị trường chứng khóa đã đạt đượcgóp phần đẩy nhanh quá trình tiến lên một nền kinh tế hiện đại ở nước ta.TTCK là kênh lưu thông vốn lớn là giải pháp của Chính Phủ huy động vốn để
hỗ trợ thực hiện phát triển các chương trình kinh tế-xã hội Thông qua việcthông tin tuyên truyền về thị trường này báo chí góp phần trong sự phát triểnlành mạnh của thị trường cũng như nền kinh tế
Bằng kinh nghiệm thực tiễn và tham khảo các ý kiến các nhà quản lý,chuyên gia trong TTCK thì tuyên truyền về TTCK phải đáp ứng các yêu cầu:
Thứ nhất, làm rõ cho nhà đầu tư những kiến thức chung về thị trường và
các cách thức để đầu tư
Thứ hai, truyền các thông điệp từ nhà quản lý thị trường, các quy định pháp
lý về thị trường cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp tham gia thị trường
Thứ ba, đưa thông tin về TTCK hàng ngày và những vấn đề nóng diễn ra
xung quanh thị trường
TTCK là thị trường của thông tin và niềm tin Điều đó khiến cho việctuyên truyền về thị trường này trở nên càng ngày càng quan trọng với xuhướng xuất hiện những kênh truyền hình chuyên biệt Truyền thông ngàycàng quan trọng do đó là phương pháp hữu hiệu tác động vào tâm lý và cảm
Trang 33xúc xã hội, trong đó có rất nhiều doanh nhân, người làm chuyên môn và cácnhà đầu tư
Từ khi ra đời cho đến nay thị trường đã có 9 năm hoạt động và sự pháttriển của việc truyền thông về thị trường cũng cho thấy sự quan trọng của thịtrường này và vấn đề truyền thông trong thị trường này Với 9 năm phát triển,nhà đầu tư của TTCK không còn “non nớt” như những ngày đầu, vì vậy việctruyền thông cho thị trường này đòi hỏi phải có sự sâu rộng đặc biệt
Lý luận báo chí truyền thông đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng
thông tin, cũng như khả năng tuyên truyền đó là tính độc đáo, tính đại chúng
Đảm bảo những tiêu chí này là cơ sở để tiến hành nghiên cứu thực tiễn
về thực trạng tuyên truyền về TTCK trên truyền hình Việt Nam hiện nay
Trang 34Về lý thuyết, tuyên truyền về TTCK phải đáp ứng các yêu cầu:
Thứ nhất, làm rõ cho nhà đầu tư những kiến thức chung về thị trường và
các cách thức để đầu tư
Thứ hai, truyền các thông điệp từ nhà quản lý thị trường, các quy định pháp
lý về thị trường cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp tham gia thị trường
Thứ ba, đưa thông tin về TTCK hàng ngày và những vấn đề nóng diễn ra
xung quanh thị trường
Theo khảo sát và kinh nghiệm từ các chuyên gia từ Dow Jones thông tin
kinh tế chia làm 3 loại: Tin tài nguyên, tin chứng khoán và tin tiền
Đối với lĩnh vực tuyên truyền đặc thù như TTCK, thì việc tuyên truyền
trên truyền hình sẽ phải đáp ứng 3 tiêu chí: tính cập nhật, tính chính xác và
tính định hướng.
Trên cơ sở những lý luận chung về tuyên truyền cũng như những tiêu chí
cụ thể để tuyên truyền về TTCK sẽ là cơ sở để tiến hành nghiên cứu, đánh giáthực trạng tuyên truyền về TTCK trên truyền hình Việt Nam hiện nay
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN VỀ TTCK TRÊN
TRUYỀN HÌNH
2.1 Lịch sử ra đời của truyền hình về tài chính
2.1.1 Truyền hình về tài chính trên thế giới
Theo “Media firms: structures, operations and performances, nhà xuất bảnLawrence Erlbaum Associates” nhà xuất bản Lawrence Erlbaum Associates,năm 2002, Biên soạn Robert G.Picard, Trường kinh tế và quản trị kinh doanhTurku, Phần Lan thì lịch sử báo chí kinh tế trong thế kỷ 20 là những thông tinhấp dẫn và cũng là câu chuyện về bài học thành công trong quản lý Nhữngdoanh nghiệp như Dow Jones, Financial Times Group, Bloomberg, Nikkeihay Reuters đã có những đóng góp quan trọng và trở thành mô hình quốc tếcho sự phát triển và vận động của báo chí kinh tế
Cũng như vậy, tất cả các nước phát triển đều có một hệ thống phương tiệnthông tin truyền thông lành mạnh cạnh tranh với sức hút ngày càng tăng từ phíacác phương tiện truyền thông còn lại, dù mới và không mới Các phương tiệntruyền thông như vậy cũng đã có đóng góp vào nền kinh tế thế giới
Tuy nhiên, để có được kết quả này là cả một quá trình lâu dài Trongnhiều năm, chủ đề liên quan tới “những môn khoa học buồn thảm” đã chiếmmột phần lớn thời lượng và tần suất xuất hiện trên các phương tiện truyềnthông Chỉ có một số ít sản phẩm được coi là thực sự có chất lượng
Cũng giống như những gì diễn ra trong 25 năm cuối cùng của thế kỷ 20,
sự phát triển của tư bản tài chính trong nửa cuối thế kỷ 19 đã trực tiếp thu hútnhiều sự chú ý đối với giới thương mại và giới tài chính
Trong một vài năm, tiền thân trực tiếp của những tờ báo kinh tế hàng đầuhiện nay được ra đời Vào năm 1965, tờ II Sole được thành lập ở Italia; đến
Trang 36năm 1867, tiền thân của tờ Nihon Keizai Shimbung là Chugai Bukka Shimpcũng được ra mắt tại Nhật Bản.
Thập kỷ tiếp theo chứng kiến sự ra đời của của tờ Financial News (1884)
và Financial Times (1888) tại London, tờ Wall Street Journal (1889) tại NewYork Những tờ báo này đã trở thành nhóm nhật báo kinh tế, cùng với tờ TheEconomist (1843) – được coi như tờ báo đứng đầu - đã phát hành từ giữa thế
kỷ 19 và tồn tại cho tới ngày nay
Cũng tương tự, kể từ sau đó, những cơ quan thông tấn như hiện nayđược thành lập - dẫn đầu là Reuters – và giành được sự thu hút đặc biệt nhờnội dung thông tin tài chính
Bên cạnh đó, số lượng các tờ báo xuất bản định kỳ cũng tiếp tục tăngnhanh trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, đặc biệt là sự xuất hiện củanhững tạp chí kinh tế Sự ra đời của Forbes (1917), Bussiness Week (1929) vàFortune (1930) – “Ba ông lớn” trong làng báo Mỹ - từng được coi là biểutượng của quản lý dễ dãi trong những năm 1920 Những tờ báo này cũng đánhdấu sự chấm dứt thời kỳ phụ thuộc vào Phố Wall khi Sở giao dịch New Yorksụp đổ
Cũng phải mất nhiều năm, khi những tập đoàn truyền thông đầu tiênchuyên về kinh tế tài chính được thành lập, đã tiếp quản những tờ báo kinh tế
và cố gắng đưa những ấn phẩm xuất hiện trên thị trường Điển hình có DowJones, dưới sự điều hành của tổng biên tập Clarence Barron và Tập đoànFinancial Times do Brendan Bracken điều hành
Khủng hoảng tài chính 1929 và thập kỷ Đại suy thoái đã đặt dấu chấm kếtthúc đối với một chương cũ và mở ra một chương mới trong lịch sử báo chí Lúc đó, các tờ báo kinh tế nói chung đều không thể truyền tải hết mức độquan trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất trong lịch sử đúng tầm vàđúng mức Điều này đã cho ra đời những bài báo có chất lượng nghèo nàn,
Trang 37nội dung của báo chí kinh tế trở nên nhạt nhẽo
Tuy nhiên thập kỷ 30 đã đưa tin kinh tế và tài chính trở thành nền tảng
và tiêu điểm quan trọng trong nền kinh tế nhờ sự nổi lên của những tin tức cótầm ảnh hưởng thực sự Đây là những năm vàng của những tờ tạp chí thiên vềphân tích như The Economist và Fortune
Đây cũng là những những năm chuyển giao của nhật báo như FinancialNews và Walll Street Journal Những tờ nhật báo sau này bắt đầu được tái cơcấu như những tờ báo kinh tế đúng nghĩa, phá bỏ sự phụ thuộc quá mức vàoPhố Wall và những tin tức diễn ra tại New York
Chiến tranh thế giới II kết thúc đặt ra yêu cầu tái xây dựng lại ngành báochí tại những nền kinh tế lớn của phương Tây trong những thập kỷ 50 và 60 Nằm trong số ít những tờ báo có ảnh hưởng đến thị trường, Wall StreetJournal được lựa chọn trở thành thành tờ nhật báo quốc gia đầu đầu tiên Tờnày cũng leo lên vị hàng đầu trong việc phát hành và cạnh tranh với những tờbáo lớn khác như New York Times hay Washington Post
Hai tờ Financial Times và Financial News cũng hợp nhất thành tờ cial Times như hiện nay vào năm 1945 Sau đó, nhiều tờ báo kinh tế mớiđược ra đời như tờ Handelsblatt (1946) ở Đức, tờ 24 Ore (1946) và sau này là
Finan-tờ II Sole (1965) ở Italia
Việc tái cơ cấu cũng được diễn ra tại những tờ báo lâu năm kỳ cựu như tờLes Echos (thành lập năm 1098 với tư cách ban đầu là tuần báo) tại Pháp, và tờNihon Keizia Shimbun của Nhật - được hợp nhất với 4 tờ báo khác vào năm 1945Việc tái cơ cấu đã tạo nền tảng cơ bản cho sự hình thành vững chắc củanhững tập toàn tin tức chuyên sâu sâu về kinh tế trong giai đoạn bùng nổ ởthập kỷ 60
Điều này cũng do sự hờ hững đối với thông tin kinh tế của nhữngphương tiện truyền thông mới như phát thanh và truyền hình Đó cũng là thời
Trang 38điểm phương Tây vẫn còn đang ưa chuộng lý thuyết Keynes
Báo chí kinh tế ngày càng phát triển mạnh trong thập kỷ 70 sau sự sụp
đổ của hệ thống trao đổi Bretton Woods 5 và khủng hoảng dầu mỏ những năm
1934 Như nhà kinh tế Paul Krugman nhận định “vào năm 1973, sự thần kỳcủa nền kinh tế đã biết mất”
Sự tồn tại song song giữa lạm phát leo thang và thất nghiệp tăng ngàycàng lên đến mức đỉnh điểm đã khiến đời sống của công chúng bình thường rơivào cảnh khó khăn Do vậy, kinh tế trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu Cuộc khủng hoảng dầu mỏ diễn ra ngày sau đó cùng với làn sóng kinh tếtân tự do với hai đại biểu là chủ nghĩa của Thatcher và chính sách kinh tế củaReagan đã đặt dấu chấm hết cho sự sụp đổ của bức tường Berlin
Bên cạnh đó, rất nhiều thách thức kinh tế được đặt ra do kết quả của quátrình toàn cầu hóa diễn ra ngày ngày càng mạnh mẽ và sự hợp nhất của kinh
tế tài chính trên thế giới – nơi nền kinh tế tri thức cùng tồn tại với nền kinh tếđói nghèo Những vấn đề liên quan đến kinh tế tài chính cùng nhau xuất hiệnngày càng nhiều trong 25 năm cuối thế kỷ 20
Do không thể cùng hoạt động, phần những phương tiền truyền thông đạichúng đều muốn thể hiện và luôn nhấn mạnh vai trò dẫn dắt mới đối với lĩnhvực kinh tế và tài chính
Kể từ những năm 1970, những tờ báo in chuyên về tài chính đã phảiđương đầu với những đối thủ cạnh tranh mới – vốn từng rất khó khăn để tồn
5 Hệ thống Bretton Woods Năm 1944, các nước phương Tây đã thành lập ra một hệ thống Bretton Woods lấy đồng USD làm chủ đạo, sau chiến tranh thế giới II với nhiệm vụ là lập lại trật tự thế giới mới
-Hệ thống quản lý tiền tệ Bretton Woods đề ra luật cho quan hệ thương mại và tài chính trên thế giới -Hệ thống này là ví dụ đầu tiên về một trật tự tài chính được thỏa thuận ổn thỏa để quản lý quan hệ tiền tệ giữa các nước.
Chế độ Bretton Woods quy định một ounce vàng có giá 35 đôla Chế độ này tồn tại trong vòng gần 30 năm sau đó sụp đổ (1945-1971).
Trang 39tại trước đó Những tờ nhật báo có chất lượng – thậm chí nổi tiếng, nhữngkênh truyền hình tổng hợp, các đài phát thanh đều cố thỏa mãn nhu cầu thôngtin ngày càng tăng của công chúng
Ngoài ra, còn có một cuộc bùng nổ những ấn phẩm mới trong ngành báo
in vào giữa thập kỷ 80 Italia, Tây Ban Nha và thậm chí là tại Mỹ đều xuấthiện tờ báo kinh tế mới – nhân tố mới tăng thêm sự thách thức đối với vị thếvững chắc của những tờ báo kỳ cựu – với những thành công khác nhau
Trong lúc đó, những tên tuổi lớn bắt đầu cuộc đua trở thành nhữngnhững thương hiệu có tầm ảnh hưởng thực sự trên toàn cầu, ít nhất cũng làphạm vi quốc tế Điều này là do đã khai thác tối đa thông tin tại thị trườngnước và nhờ sự hình thành của những luật chơi mới trong ngành
Dow Jones với tờ Wall Street Journal, Pearson cùng với Financial Times
và những tờ báo quốc gia khác, hay Nikkei với hệ thông thông tin kinh tế xungquanh Nihon Keizai Shimbun đã trở thành ba ông lớn trên thị trường nhật báokinh tế Về phần mình, những cái tên như The Economist, Business Week,Forbes và Fortune cũng tìm được vị thế vững chắc trong làng tạp chí thế giới
Sự phát triển của sản phẩm báo in truyền thống trong việc đưa tin kinh tếtài chính cùng tồn tại với tất cả mọi phương tiện truyền thông khác Tuynhiên, đến thập kỷ 90 đã xuất hiện những đối thủ cạnh tranh mới: kênh truyềnhình chuyên sâu về kinh tế và Internet
Sự phát triển của phương tiện truyền thông mới trong việc đưa tin kinh tếtài chính
Mặc dù đã trải qua một số cuộc khủng hoảng, nhưng không nghi ngờ gìkhi nói rằng thập kỷ 90 của thế kỷ trước có thể được coi là một “thập kỷ phithường” của những quan điểm kinh tế Đây cũng là thập kỷ đáng nhớ vớibước chuyển từ quan điểm về công nghệ, đi đầu là công nghệ thông tin, đếnviệc phát triển thành cuộc cách mạng kỹ thuật số và Internet
Trang 40Trong một số trường hợp, thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 cũng đươc coi
là thập kỷ của thị trường tự do, của “chủ nghĩa tư bản đang thắng thế” – dựatrên sự tăng trưởng thần kỳ của những “công dân đầu tư” – và toàn cầu hóa –
đi đầu là khối doanh nghiệp và ngành tài chính
Tất cả những lý lẽ này đã mở ra cánh cửa bước vào thiên niên kỷ mới ởthời điểm thông tin kinh tế, tài chính trỗi dậy chưa từng thấy, được kích thíchnhờ những thách thức của nền kinh tế mới ,và được yêu thích nhờ sự say mêthông tin – vốn được phát huy nhờ công nghệ thông tin
Sự kết hợp giữa tất cả những xu hướng trong thế giới truyền thông, haynói cách khác là sự chuyển hướng từ quan điểm kinh tế và quan điểm côngnghệ đã chịu trách nhiệm đối với sự phát triển nở rộ của thông tin kinh tế, tàichính trong lĩnh vực phát thanh truyền hình và báo điện tử
Vai trò dẫn dắt mới đã cụ thể hóa sự nổi lên của những kênh truyền hìnhchuyên sâu về kinh tế tài chính so với những phương tiện truyền thông khác,cùng với sự hỗ trợ không thể thiếu của Internet trong vài trò cung cấp nộidung thông tin
Những kênh truyền hình kinh tế tài chính
Sự nổi lên của những kênh truyền hình đầu tiên chuyên sâu về tin tứckinh tế tài chính bắt đầu hình thành vào thập kỷ 80 Kênh truyền hình quantrọng đầu tiên trong lĩnh vực này tại Mỹ là Financial News Network (FNN) Được thành lập vào năm 1981, với chương trình đầu tiên kéo dài 5 giờđồng hồ và phát trên băng tần UHF Đến năm 1988, nhờ thành công của FNN
đã mở lối cho sự ra đời kênh truyền hình CNBC, và đến năm 1989 CNBC bắtđầu được phát sóng
CNBC có nhiều chương trình khác nhau, nội dung ít tập trung vào thếgiới tài chính hơn đối so với thủ cạnh tranh CNBC thuộc quyền kiểm soátcủa NBC (sở hữu 50%) – chịu trách nhiệm sản xuất chương trình – và Cable