1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận môn thương mại điện tử chính phủ điện tử

32 614 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 5,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: - Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về chính phủ điện tử như: quan điểmcủa sách trắng – Chính phủ điện tử Singapore, quan điểm của Malaysia, quan điểm củaMichiel Backus…., s

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING

 

THUYẾT TRÌNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Chủ đề: CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ

Nhóm 20 – Lớp 11DMA1

Trang 2

E- GOVERNMENTCác ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông đã làm cho việc cung cấp cácdịch vụ của chính phủ cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp thay đổi về cơ bản Vậychính phủ điện tử là gì? Cách thức xây dựng và vận hành chính phủ điện tử như thế nào?

I Khái quát chung:

1 Khái niệm:

- Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về chính phủ điện tử như: quan điểmcủa sách trắng – Chính phủ điện tử Singapore, quan điểm của Malaysia, quan điểm củaMichiel Backus…., song có thể hiểu một cách đơn giản:

- Chính phủ Điện tử là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)

để các cơ quan của Chính quyền từ trung ương và địa phương đổi mới, làm việc có hiệulực, hiệu quả và minh bạch hơn; cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân,doanh nghiệp và các tổ chức; và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân thực hiệnquyền dân chủ và tham gia quản lý Nhà nước

2 Các thành tố chủ yếu của chính phủ điện tử:

Các dịch vụ công: Chính phủ tập trung vào việc nâng cao chất lượng và

hiệu quả dịch vụ, cung cấp thông tincho các đối tác liên quan như doanh nghiệp, ngườidân và các tổ chức thông qua internet, các trạm giao dịch điện tử và có thể qua điện thoại

di động Chứ không phải gặp mặt trực tiếp (face to face) như trước

Ví dụ: một công dân có thể đăng ký làm hộ chiếu và gửi ảnh qua internet

Tiếp cận thông tin:Chính phủ sẽ kết nối với doanh nghiệp người dân và

các tổ chức thông qua hệ thống thông tin của chính phủ qua internet và các trạm giao dịchđiện tử Lúc đó, mọi người sẽ nhận được thông tin theo phương thức tự phục vụ, cácthông tin của chính phủ đều được công khai minh bạch qua internet Chính phủ điện tửgiúp giảm thiểu những công việc không hiệu quả và tệ quan liêu

Sự tương tác giữa chính phủ và công chúng:Công nghệ thông tin và

truyền thông sẽ làm cho chính phủ quản lý cởi mở và dễ tiếp cận hơn bằng việc cho phép

Trang 3

công chúng cùng tham gia vào các công việc của các cơ quan nhà nước chính phủ có thểvươn tới cả những đối tượng ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Ví dụ: thông qua các diễn đàn trao đổi, đóng góp ý kiến, đề xuất cơ chế chínhsách, chuyên mục hỏi đáp…

3 Nguyên tắc của chính phủ điện tử:

- Phát triển dịch vụ công theo sự lựa chọn của doanh nghiệp, người dân vàcác tổ chức

- Làm cho việc tiếp cận chính phủ và các dịch vụ chính phủ trở nên dễ dàng,thuận tiện, nhanh chóng, trực tiếp

- Tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp, người dân và tổ chức

- Thực hiện các trách nhiệm về thông tin

- Tạo ra thông tin có khả năng số đông

4 Mục tiêu của E – Government:

- Mục tiêu chung: tăng cường năng lực, nâng cao hiệu quả điều hành nhànước của chính phủ, mang lại thuận lợi cho dân chúng, tăng cường sự công khai minhbạch, giảm chi tiêu chính phủ

- Mục tiêu cụ thể:

Nâng cao năng lực quản lý điều hành củachính phủ và các cơ quan chínhquyền các cấp (trao đổi văn bản điện tử, thu thập thồn tin chính xác và kịp thời ra quyếtđịnh, giao ban điện tử…)

Cung cấp cho người dân và doanh nghiệp các dịch vụ công tạo điều kiệncho người dân dễ dàng truy cập ở khắp mọi nơi

Người dân có thể tham gia xây dựng chính sách, đóng góp vào quá trìnhxây dựng luật pháp, quá trình điều hành của chính phủ một cách tích cực

Giảm được chi phí cho chính phủ

Thực hiện một chính phủ hiện đại, hiệu quả và minh bạch

Tạo ra phong cách lãnh đạo mới, phương thức mới, cung cấp dịch vụ chongười dân và nâng cao được năng lực quản lý điều hành đất nước

5 Giai đoạn phát triển:

Trang 4

Chính phủ trên thế giới đều có các chiến lược khác nhau để xây dựng chính phủđiện tử Tuy nhiên, hầu hết các nước đang xây dựng thành công chính phủ điện tử chọncách chia dự án phát triển thành ba giai đoạn nhỏ Các giai đoạn này không phụ thuộc lẫnnhau, tức là không cần giai đoạn này hoàn thành thì giai đoạn kia mới bắt đầu Ba giaiđoạn như sau:

Giai đoạn 1:Sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông để mở rộng truy

cập thông tin của Chính phủ Phổ cập thông tin chính phủ trên mạng, tập trung vào cácđiều lệ, quy tắc, các văn bản pháp luật, các quy định, thông báo, biểu mẫu… Tạo điềukiện để công dân, doanh nghiệp và tổ chức có thể truy nhập, tiếp cận mà không phải tới

cơ quan chính phủ, không phải xếp hàng hay chi phí phụ, ngoài ra còn dẹp bỏ được nantham nhũng, quan liêu

Giai đoạn 2:Tăng cường sự tham gia của người dân vào Chính phủ.Chính

phủ điện tử phải lôi kéo, thu hút dân chúng tham gia các hoạt động của chính phủ từ đótạo được lòng tin từ phía công chúng vào chính phủ

Giai đoạn 3:Cung cấp rộng rãi các dịch vụ của Chính phủ qua mạng.Chính

phủ cho phép người dân giao dịch qua mạng bằng cách cung cấp các dịch vụ trực tuyến,chỉ cần ngồi ở gần nhà hay tại nơi làm việc, trạm điện thoại và bật máy vi tính lên để nóivào mạng của chính phủ, người dân sẽ nhận được nhiề dịch vụ do các cơ quan nhà nước

có trách nhiệm cung cấp

II Các loại giao dịch của chính phủ điện tử

1 Mô hình 2 thành phần:

Mô hình này được áp dụng ở những nước tiên tiến về CNTT như Mỹ, Canada lànhững nước đi đầu về CPĐT Họ định nghĩa CP phục vụ người dân 24/24; 7/7 và bất kểngười dân đang ở đâu Họ quan niệm CPĐT là vấn đề về G2C và G2B

G2C là việc giải quyết thông qua mạng các quan hệ của người dân với cơ quan

CP Các quan hệ giao dịch ở đây bao gồm: người dân đóng thuế thu nhập cá nhân, đăng

ký kết hôn, làm khai sinh… qua mạng Dịch vụ này không đơn thuần là nhận tờ đăng kýkết hôn qua mạng mà là 1 hệ thống thông tin tự động hóa căn bản dựa trên CSDL quốcgia về dân số Điều đó có thể hiểu là khi bạn muốn đăng ký kết hôn, bạn sẽ kê khai tờ đơn

Trang 5

đăng ký trên mạng sau đó hệ thống sẽ kiểm tra lại toàn bộ thông tin cá nhân được lưu trữtrước đóxem có đúng với những gì bạn đã kê khai và bạn có đủ điều kiện để đăng ký kếthôn hay ko.

VD về G2C: Thông qua cổng giao diện Công dân điện tử của Chính phủ Singapore(www.ecitizen.gov.sg), người dân Singapore có thể truy cập tới 1.600 dịch vụ bao gồm từkinh doanh, y tế, giáo dục, giải trí đến việc làm và gia đình Trong đó, 1.300 dịch vụ điện

tử đã được giao dịch trực tuyến giữa người dân với chính phủ Cổng giao diện Công dânđiện tử được chia theo từng danh mục dựa trên nhu cầu thực tế cuộc sống của từng cánhân, trong đó từng bộ và ủy ban luật pháp cung cấp dịch vụ điện tử thông qua cùng mộtcổng Qua đó, người dân Singapore có thể truy cập một cửa đến các dịch vụ của chínhphủ: Điều này giúp cho họ không phải điqua một rừng các thủ tục hành chính Tới tháng

6 năm 2002, khoảng 77% dịch vụ công đã trở nên khả thi để có thể cung cấp trực tuyến.G2B bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau được trao đổi giữa chính phủ và cộng đồngdoanh nghiệp bao gồm cả việc phổ biến các chính sách, biên bản ghi nhớ, các qui định vàthể chế Các dịch vụ được cung cấp bao gồm truy xuất các thông tin về kinh doanh, tảicác mẫu đơn, gia hạn giấy phép, đăng ký kinh doanh, xin cấp phép và nộp thuế

Ở mức cao hơn, các dịch vụ G2B bao gồm việc mua sắm điện tử và trao đổi trựctuyếngiữa chính phủ với các nhà cung cấp để mua sắm hàng hóa và dịch vụ cho chínhphủ

Một ví dụ điển hình là các Website mua sắm điện tử sẽ cho phép những người sửdụng có tài khoản có thể tìm kiếm người mua và người bán hàng hóa-dịch vụ Tùy theotừng phương pháp, người mua hoặc người bán có thể xác định giá cả hoặc mở thầu

Trang 6

Việc mua sắm điện tử làm cho quá trình đấu thầu trở nên minh bạch và cho phépcác doanh nghiệp nhỏ có thể tham gia đấu thầu đối với các dự án lớn của chính phủ Hệthống này cũng giúp cho chính phủ có thể tích kiệm chi tiêu nhiều hơn thông qua việc cắtgiảm chi phí cho người môi giới trung gian và giảm chi phí hành chính của các đại lýmua bán.

Tóm lại, các quốc gia này khi khởi xướng CPĐT 2 thành phần, học đã tin học hóacao độ các cơ quan CP, xây dựng hạ tầng thông tin quốc gia, làm nền tảng cho các DVtrực tuyến tự động Tuy mô hình của họ chỉ có 2 thành phần nhưng về căn bản họ vẫnhoàn tất thành phần G2G - quan hệ giữa các cơ quan chính phủ, cái mà sau này lý thuyết

về CPĐT đã bổ sung vào Và đó là mô hình về CPĐT 3 thành phần

2 Mô hình 3 thành phần

Phổ biến ở các nước TB như: HQ, ĐL Mô hình này sử dụng ICT-công nghệ thôngtin và truyền thông mà chủ yếu là Internet để thực hiện 3 giao dịch: G2G, G2C, G2B

G2G: Quan hệ giữa các cơ quan của nhà nước,được triển khai ở hai cấp độ: cấpquốc gia và địa phương;cấp quốc tế, là khả năng phối hợp, chuyển giao và cung cấp các

Trang 7

dịch vụ một cách có hiệu quả giữa các cấp, ngành, tổ chức, bộ máy nhà nước trong việcđiều hành và quản lý nhà nước, trong đó chính bản thân bộ máy của chính phủ vừa đóngvai trò là chủ thể và khách thể trong mối quan hệ này

G2G là yếu tố hậu trường của G2C và G2B Lý do cơ bản là vì để thể hiện 1 DV trựctuyến nào đó trong thành phần G2C hoặc G2B thì 1 cơ quan nói chung không thể đủ mà phải là

sự liên kết nhiều cơ quan quản lý nhà nước và thông thường phải dựa trên 1 hệ thống các CSDLđược liên kết hoàn chỉnh

VD về G2G: Bản chất xuyên quốc gia của Internet không chỉ cho thấy sự chuyểnđổi của các hoạt động kinh doanh hợp pháp mà còn tạo ra cơ hội mới cho việc kinh doanhphi pháp Trong những năm gần đây, việc hình thành tội phạm có tổ chức và tiến hànhcác hành động buôn bán phi pháp đã ngày càng trở nên tinh vi hơn do tính nặc danh được

sử dụng trong Internet (mô hình)

Để chống lại khuynh hướng trên, 124 nhà lãnh đạo đứng đầu chính phủ đã tớiPalemo, Ý vào tháng 12 năm 2000 để ký công ước quốc tế chống tội phạm có tổchứcxuyên quốc gia.Để làm công ước trên trở nên có hiệu lực, Liên hợp quốc đã xây dựng

“Chương trình quốc tế về đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia” (www.uncjin org/CiCP/cicp.html) nhằm nâng cao việc chia sẻ thông tin và hợp tác quốc tế

Mục tiêu là xây dựng một mạng lưới của các nhà cung cấp số liệu và các điểmnóng của các quốc gia trong lĩnh vực trên (ví dụ các cơ quan hành pháp, chính quyền,các tổ chức phi chính phủ, các trung tâm nghiên cứu và các tổchức quốc tế có liên quan)nhằm tạo ra một cơ sở dữ liệu toàn cầu và xây dựng một trung tâm báo cáo của các nướcthành viên

Trang 8

3 Mô hình 4 thành phần

Với những quốc gia có trình độ ứng dụng CNTT thấp thì còn một giai đọan khókhăn nhất phải làm là đưa CNTT, bao gồm chủ yếu MTĐT và mạng máy tính vào cáchoạt động hành chính của từng cơ quan ở mức độ khá cao so với hiện tại Công việcnày gọi là G2E

G2E: chỉ các dịch vụ, giao dịch trong mối quan hệ giữa chính phủ đối với côngchức, viên chức, bảo hiểm, dịch vụ việc làm, trợ cấp thất nghiệp, chăm sóc sức khoẻ,nhà ở…

Gồm 3 nội dung chính:

1 Máy tính trở thành công cụ làm việc như giấy bút cho công chức

2 Mỗi công chức với máy tính của mình tạo dần nên các CSDL nghiệp vụtích hợp các loại thông tin thuộc trách nhiệm

3 Các công chức trong một cơ quan được kết nối máy tính với nhau để nhờcông cụ mạng thực thi một phần các giao tiếp với đồng nghiệp, với cấp trên và đặc biệt làthực hiện việc chia sẻ thông tin trong các CSDL nghiệp vụ Do quá trình chia sẻ này, mộtcông việc cực kỳ quan trọng là làm cho các CSDL của riêng kết nối lại với nhau, loại bỏcác trùng lặp và mâu thuẫn Từ đây tạo ra các CSDL, các nguồn thông tin nghiệp vụchung của toàn cơ quan, một thực thể mới của công nghệ quản lý với CNTT (máy tính vàmạng cục bộ) ra đời

Mô hình CPĐT 4 thành phần

Trang 9

VD về G2E: T ới tháng 10 năm 2002, các nhân viên của chính quyền bangMississipi có thể xem các bản kê khai thông tin về thuế và tiền lương của mình một cáchtrực tuyến thông qua một ứng dụng được thiết kế dưới dạng tự phục vụ và đảm bảo tính

an toàn, dựa trên web có tên gọi là Kênh truy nhập cho nhân viên (ACE) ACE cho phépcác nhân viên chính phủ với mã số cá nhân và mật khẩu có thể xem tài khoản lương củamình (gọi là W-2) Ngoài ra, các nhân viên chính phủ sẽ nhận được séc trả tiền của mình.Các nhân viên sẽ đượcthông báo bằng e-mail thời gian các cuống séc thanh toán của họđược gửi đến và họ có thể xem xét thông tin trước khi thanh toán thực tế Ứng dụng này

đã giúp cho Bang Misssissipi tích kiệm được 0,5 USD cho mỗi biểu mẫu W-2 được in vàgửi đi bằng đường bưu điện Ngoài việc tích kiệm chi phí, nếu các nhân viên có sai sóttrong các biểu mẫu W-2 của mình, việc in lại điện tử chỉ mất hai ngày so với 2 tuần nhưtrước đây

Yêu cầu giao dịch của CPĐT: Chính phủ điện tử có mục đích giao dịch với các

công dân, các doanh nghiệp, người lao động và các cơ quan nhà nước sao cho:

- Thuận tiện hơn

Đặc điểm của giao dịch:

 Trong một chính phủ điện tử, các cá nhân có thể đề ra các yêu cầu đối vớimột dịch vụ cụ thể của chính phủ và sau đó nhận được dịch vụ đó qua internet hoặc một

cơ chế điện toán khác

 Dịch vụ của chính phủ có thể được cung cấp bởi một cơ quan/trung tâm củachính phủ thay với nhiều cơ quan

 Một giao dịch của chính phủ có thể được thực hiện mà không cần sự đốimặt trực tiếp của người có nhu cầu với người chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ

Trang 10

III Nền tảng hình thành chính phủ điện tử.

Như chúng ta đã biết muốn xây dựng được 1 căn nhà thì trước tiên phải đặt nềnmóng Và để xây dựng 1 hệ thống chính phủ điện tử cũng cần có 1 nền tảng nhất định baogồm: mạng Internet, hạ tầng viễn thông và an toàn bảo mật

1 Internet Hiện nay, mạng internet đã phủ khắp các tỉnh thành trong cả nước,

số người sử dụng internet rất đông Trong những năm gần đây, VN được đánh giá là quốcgia có tăng trưởng mạnh về số người dùng Internet Tại khu vực châu Á, vào đầu năm

2011, Việt Nam xếp thứ 7 về số lượng người dùng Internet

Có 21/22 Bộ, cơ quan ngang Bộ, 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã

có trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử

2 Hạ tầng viễn thông.

- Mạng truyền dẫn cáp quang đã lan rộng tới hầu hết các xã tạo nền tảngvững chắc cho 1 hạ tầng thông tin băng rộng đa dịch vụ, an toàn, chất lượng cao

- Mạng điện thoại cố định đã vươn đến hầu khắp các xã trong cả nước

- Tất cả các huyện, hầu hết các xã trong các vùng KT trọng điểm, các tuyếnđường quốc lộ, tỉnh lộ quan trọng đều đã được phủ sóng di động

- Với việc phóng thành công và đưa vào sử dụng vệ tinh Vinasat 19/4/2008,

hạ tầng viễn thông đã được hoàn thiện với đầy đủ các phương thức truyền dẫn, đáp ứngyêu cầu CNH-HĐH, đảm bảo an ninh quốc phòng

- INR là mức độ chuẩn bị của một nước hay cộng đồng để tham gia và hưởnglợi từ các phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông Chỉ số này do diễn đàn kinh

tế thế giới công bố trong Báo cáo công nghệ thông tin toàn cầu được thực hiện hàng năm

và tính dựa trên 3 yếu tố: môi trường điều phối và kinh tế vĩ mô cho CNTT-TT, Sự sẵnsàng của cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ cho việc sử dụng và thụ hưởng CNTT-TT,mức độ ứng dụng CNTT-TT

- INR của VN tăng ngoạn mục từ 75/134 năm 2001 lên 55/133 năm 2011,tăng 20 bậc sau 10 năm, xếp vị trí cao nhất trong các nhóm có thu nhập thấp Trong khuvực ĐNA, VN đứng thứ 4 năm 2011

Trang 11

3 An toàn bảo mật.

- Đến nay, gần một nửa số tổ chức, doanh nghiệp lớn trong cả nước đã quantâm xây dựng bộ máy và cử cán bộ quản lý an toàn thông tin số

- 70% đv có cán bộ chuyên trách về CNTT và 61.2% đv có kế hoạch đào tạo

về an toàn an ninh thông tin

- Đa số các tổ chức đã trang bị các phần mềm, giải pháp bảo vệ hệ thống

- Ý thức chú trọng áp dụng các giải pháp an toàn bảo mật vẫn còn khá thấptrong đại bộ phận người dùng cũng như các cơ quan, tổ chức

- Tại VN, đã có nhiều công ty tham gia hoạt động trong lĩnh vực an toàn anninh thông tin như Công ty BKAV, Công ty Nam Trường Sơn, Công ty hệ thống thôngtin FPT, thu hút ngày càng nhìu đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn

- Một số trường ĐH cũng đã mở chuyên ngành đào tạo an toàn an ninh thôngtin như: Học viện kỹ thuật mật mã, ĐH quốc gia Hà Nội, ĐH quốc gia TP.HCM với thờigian đào tạo 5 năm

IV Tại sao phải xây dựng chính phủ điện tử.

- Toàn cầu hóa đã thúc đẩy sự ra đời và hoàn hiện của chính phủ điện tử:

+ sự phụ thuộc ngày càng tăng về văn hóa và xã hội giữa các nước khác nhau là cơ sở cho sự hình thành nền văn hóa toàn cầu.

+ Sự trợ giúp cho các công dân và các tổ chức kinh doanh của các quốc gia khác nhau cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hóa là cách thức duy nhất để các quốc

gia có thể tham gia vào sự hình thành nền văn hóa toàn cầu

+ Cung cấp các thông tin cạnh tranh cho các công ty trong nước hoạt động, tạo việc làm cho công dân là những lợi ích trực tiếp mà chính phủ điện tử có thể đem lại

cho công dân của mình trong môi trường kinh doanh mang tính toàn cầu

- Quốc tế hóa trên cơ sở các thỏa ước đa phương và các hiệp ước song phương đã thúc đẩy sự ra đời của chính phủ điện tử:

+ nhiều thử thách cần phải giải quyết hiện nay mang tính toàn cầu như bảo vệ

môi trường, chia sẻ các nguồn tài nguyên chiến lược (ví dụ như nước sạch), xóa đói giảm

nghèo, chống dịch bệnh không thể giải quyết được bởi từng quốc gia riêng lẻ

Trang 12

+ Chính phủ điện tử tạo điều kiện tốt hơn để quản lý các hợp tác đa phương

và các quy trình trao đổi đa phương Hơn thế nữa, việc kiểm soát các rủi ro toàn cầu

không thể được thực hiện một cách có hiệu quả nếu không có một cách thức trao đổithông tin hiệu quả giữa các chính phủ

+ Trong các vấn đề về tài chính và thương mại, sự hợp tác đa phương thông qua các định chế tài chính và thương mại mang tính quốc tế cũng cần phải xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử chung Chẳng hạn, trong thương mại quốc tế, cơ sở dữ liệu

chuẩn về thuế quan, phân loại hàng hóa, các thỏa ước của WTO, nên nhanh chống điện

tử hóa và chia sẻ toàn cầu, ít nhất cũng trong số các quốc gia thành viên WTO để phục vụtốt hơn cho tiến trình tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế

- Thị trường hóa các dịch vụ thương mại điện tử:

+ nếu chính phủ được nhìn nhận như một nhà cung cấp dịch vụ, sẽ trở nên có

hiệu quả hơn bằng cách sử dụng các giải pháp trên thị trường quốc tế để quản lý tài sản, cung cấp dịch vụ hay giải quyết các vấn đề tài chính thông qua các phương tiện điện tử.

Các dịch vụ do chính phủ điện tử cung ứng sẽ giúp cho doanh nghiệp, người dân, ngườitiêu dùng nhận được giá trị tiêu dùng với độ thỏa mãn ngày càng cao và do đó họ chấpnhận trả phí cao hơn, là tiền đề vật chất để hoàn thiện dịch vụ của chính phủ điện tử

+ Thị trường hóa của chính phủ điện tử đòi hỏi cả người cung ứng dịch vụ vàngười sử dụng dịch vụ đều phải sòng phẳng và bình đẳng hơn trong cung cấp và tiêu

dùng dịch vụ nên sẽ góp phần giảm thiểu những mặt tiêu cực vốn có của bộ máy hành chính

+ Tuy nhiên, các dịch vụ của chính phủ điện tử cũng không phải không

ngừng nâng cao chất lượng, kể cả vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng quản lý đảm bảo bảo mật thông tin theo yêu cầu của công dân và của doanh nghiệp Điều này chỉ có thể thực

hiện được thông qua thị trường hóa các dịch vụ chính phủ điện tử cung cấp

- Yêu cầu của các công dân số:

+ khi thế giới càng phát triển, công dân của các quốc gia càng có nhiều cơ hộihơn nhưng nó cũng làm cho cuộc sống của công dân phức tạp hơn Các luật lệ và thể chếđược xây dựng bảo đảm cho xã hội có thể theo được xu hướng phát triển này Điều này

Trang 13

có nghĩa là quản lý nhà nước càng trở nên phức tạp hơn và trừu tượng hơn Những côngdân không thỏa mãn, cảm thấy bị tách ra và không tin tưởng vào chính phủ Họ càngngày càng không đưa ra các ý kiến của mình cũng như tham gia vào tiến trình dân chủhóa bởi họ không thấy được mối quan hệ giữa ý kiến của họ, các chính sách của chínhphủ và cuộc sống hàng ngày của họ

+ Chính phủ điện tử sẽ là một nhân tố để khắc phục vấn đề này trong quá trình phát triển Các công dân số hàng ngày sử dụng các phương tiện điện tử sẽ tiếp nhận được nhiều thông tin hơn cũng như được sử dụng các công cụ trao đổi thông tin phù hợp khả năng trao đổi với những người khác, họ yêu cầu sự tin cậy của chính phủ

+ Ngược lại, chính phủ điện tử với hệ thống phương tiện truyền và nhận tin của mình cũng tiếp nhận được nhiều thông tin từ người dân, doanh nghiệp và các cơ quan phi chính phủ khác nên sẽ có cơ hội đưa ra quyết định đúng đắn, linh hoạt và phù hợp hơn, tác động tích cực hơn đến thực tế cuộc sống Đem lại lợi ích của chính phủ điện

tử với các công dân đồng nghĩa với việc trao đổi thông tin với công dân Và cuối cùng sửdụng công nghệ đào tạo những kỹ năng cần thiết cho mọi công dân, để họ trở thành một

bộ phận của tiến trình xã hội

Từ những vấn đề trên cho thấy chính phủ điện tử và các công dân điện tử sẽ làhai thành phần chính, tương tác lẫn nhau để thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài ngườithế kỷ XXI

Vai trò, lợi ích của chính phủ điện tử?

- Đối với chính phủ:

+ Chính phủ điện tử giúp các thủ tục hành chính được công khai và tin cậy, tạo sự bình đẳng trong truy nhập thông tin và cho phép xử lý các thủ tục hành chính nhanh hơn Do đó chính phủ sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí cho việc xử lý công việc giấy tờ vốn có rất nhiều chồng chéo vướng mắc

+ bản thân các chính phủ trong quá trình thực hiện các chức năng của mìnhluôn gặp phải những vấn đề làm giảm hiệu quả của việc đề ra và thực thi các quyết định

Hiệu quả điều hành thấp do năng suất của các công chức và sự trì trệ của đối tượng điều hành Song song với các vấn đề đó là một số tệ nạn mà các chính phủ truyền thống có thể

Trang 14

mắc phải những tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng Xây dựng và phát triển chính phủ

điện tử, thực hiện cung cấp các dịch vụ của chính phủ điện tử cho người dân và doanhnghiệp sẽ khắc phục những vấn đề trên và đem lại những lợi ích to lớn cho chính bảnthân chính phủ

- Đối với xã hội:

+ Chính phủ điện tử là một công cụ hữu hiệu để góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia chính phủ điện tử tạo môi trường thông

thoáng, dễ tiếp cận cho các nhà đầu tư nước ngoài Sự phê duyệt các dự án đầu tư nhanhchống của chính phủ sẽ tạo nhiều cơ hội hơn để thu hút đầu tư

+ phúc lợi xã hội phải được nâng cao thông qua việc cung ứng đầy đủ, có

chất lượng các hàng hóa và dịch vụ công miễn phí và không miễn phí Chẳng hạn, cácthành viên xã hội phải bình đẳng với nhau và có quyền được tiếp nhận một nền giáo dụcphổ thông tối thiểu ngày càng cao Những dịch vụ y tế cộng đồng phải có điều kiện đểphủ đến mọi tầng lớp xã hội chính phủ điện tử sẽ góp phần giải quyết tốt các vấn đề này

và nó sẽ thực sự có ý nghĩa đối với toàn xã hội

+ Chính phủ điện tử giúp toàn xã hội được tiếp xúc với một phương thức làmviệc mới hiệu quả hơn Quá trình thực hiện chính phủ điện tử sẽ hình thành nhiều chương

trình dự án phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và trong cuộc sống, nâng cao mặt tri thức của quốc gia cũng như toàn xã hội

- Đối với người dân và các doanh nghiệp: người dân vừa là khách hàng

tiêu dùng các sản phẩm số hóa, tạo nên sức mua của thị trường điện tử, đồng thời là người thụ hưởng các dịch vụ của chính phủ điện tử Các doanh nghiệp là đối tượng phục

vụ của chính phủ điện tử nhằm tạo ra môi trường điện tử cho hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế

+ Chính phủ điện tử tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp được thông tin tốt hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình, tính tương tác giữa chính phủ với người dân, giữa chính phủ với doanh nghiệp được nâng cao

- Chính phủ điện tử có thể cho người dân được mọi thông tin cần thiết mộtcách nhanh chống, nhờ vào công nghệ thông tin và truyền thông, các trung tâm cung cấp

Trang 15

dịch vụ trực tuyến được thiết lập, ngay cả trong trụ sở cơ quan nhà nước Qua mạng,người dân được cung cấp thông tin pháp luật, thực hiện các việc như công chứng, đăng

ký lập doanh nghiệp, khai thuế và thanh toán thuế, đăng ký nhân khẩu, sang tên trướcbạ, mà không phải đi gõ cửa nhiều cơ quan như trước đây

+ Chính phủ điện tử cũng cho phép người dân có thể chủ động, tích cực tham gia vào quá trình điều hành của chính phủ ở mỗi quốc gia Người dân có thể tiếp xúc dễ

dàng hơn với chính phủ, từ đó ý kiến của người dân, nguyện vọng của người dân sẽ đượcphản ánh trung thực đến các cơ quan chính phủ Ý kiến của mọi công dân được cân nhắc

và trở thành cơ sở đề ra quyết định

- Do việc xử lý các công việc của chính phủ được mau chống hơn nên giúpcho các doanh nghiệp không bị chậm trễ, ảnh hưởng trong các hoạt động kinh doanh và

có thể bắt kịp cơ hội kinh doanh tốt

V Tình hình thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại việt nam:

1 Một số khái niệm về Dịch vụ công trực tuyến:

- Dịch vụ hành chính công là: những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực

thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanhnghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loạigiấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý

- Dịch vụ công trực tuyến là: dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác

của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ đảm bảo cung cấp đầy đủ

các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện dịch vụ

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1

và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theoyêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơquan, tổ chức cung cấp dịch vụ

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2

và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chứccung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được

Trang 16

thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả đượcthực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3

và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến Việc trảkết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đếnngười sử dụng

2 Tình hình thực hiện Dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam:

a Chủ trương, chính sách về đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến:

- Năm 2012 là năm thứ 2 triển khai chương trình quốc gia về ứng dụng côngnghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 – 2015

- Ngày 08/11/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30c/NQ-CP vềChương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 Một trongnhững nội dung quan trọng của Nghị quyết là dẩy mạnh việc Hiện đại hoá hành chính vàđảm bảo đến năm 2012 “hầu hết các giao dịch của cơ quan hành chinh1 nhà nước đượcthực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông

đa phương tiện; hầu hết các dịch vụ công được công cung cấp trực tuyến trên mạng thôngtin diện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụngười dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương diện khác nhau”

- Nhìn trên bình diện chung cả nước, số lượng dịch vụ công trực tuyến mức

độ 3 và mức độ 4 đã có dấu hiệu tăng trưởng khá mạnh, Số liệu thống kê cho thấy trongnăm 2012 cả nước có 860 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 11 dịch vụ công trựctuyến mức độ 4 (trong đó có 8 dịch vụ do cấp UBND tỉnh, thành phố cung cấp, 3 dịch vụ

do cấp Bộ triển khai)

b Tình hình triển khai của các bộ ngành:

- Từ năm 2010 hầu hết nội dung các thủ tục hành chính của các Bộ, ngành,địa phương đã được cung cấp đầy đủ trên Website của các đơn vị Mổi một thủ tục hànhchính được công bố công khai nội dung liên quan trên mạng điện tử tương đương với 1dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 hoặc 2

Ngày đăng: 06/03/2015, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w