1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế

189 606 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi không quên cảm ơn sự cộng tác chặt chẽ của các thành viên trong Ban Vận động thành lập Hội Nghề cá Thừa Thiên Huế, Ban Xây dựng quy hoạch tổng thể quản lý thuỷ sản đầm phá Thừa Thiên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Nguyễn Quang Vinh Bình

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG CHO NGHỀ CÁ

QUY MÔ NHỎ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

NHA TRANG - 2008

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Nguyễn Quang Vinh Bình

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG CHO NGHỀ CÁ

QUY MÔ NHỎ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành: Khai thác thủy sản

Mã số: 62.62.80.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Nguyễn Văn Động

2 PGS TS Hà Xuân Thông

NHA TRANG - 2008

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của

riêng tôi trong đề xuất ý tưởng, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và tổ chức

triển khai thực nghiệm để chứng minh, đánh giá và rút ra các kết luận khoa

học Tất nhiên, công trình không thể hoàn thành nếu thiếu sự cộng tác chặt

chẽ của nhiều cá nhân, tổ chức tham gia nghiên cứu các khía cạnh khác nhau,

vào các giai đoạn khác nhau của suốt quá trình nghiên cứu - triển khai công

trình này

Các số liệu được sử dụng trong Luận án là trung thực, những kết luận

khoa học chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn tài liệu và tác giả Các đồng nghiên cứu, các

dữ liệu phân tích lấy từ các công trình nghiên cứu liên quan khác đều được

phép của đồng tác giả hoặc các cơ quan chủ quản

Nguyễn Quang Vinh Bình

Trang 4

Lời cảm tạ

Luận án này là công trình khoa học độc lập, nhưng là một bộ phận của

tiến trình đổi mới quản lý thuỷ sản ở Thừa Thiên Huế nói riêng, Việt Nam nói

chung Do vậy, công trình này không thể hoàn thành nếu thiếu cộng tác chặt

chẽ của nhiều cấp, ngành, các trường Đại học, nhiều cộng đồng ngư dân địa

phương Thừa Thiên Huế

Xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nha Trang, Bộ Giáo dục và

Đào tạo đã chấp thuận Đề cương Đề tài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc “học

đi đôi với hành”, chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Phó Giáo sư,

Tiến sỹ Nguyễn Văn Động; Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hà Xuân Thông và các thầy

cô giáo khác trong Khoa Khai thác Thuỷ sản, xin chân thành cảm ơn Sở Thủy

sản, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho phép tôi hoàn thành

chương trình đào tạo này và tạo điều kiện, hỗ trợ các chương trình, đề án liên

quan việc thực hiện Luận án

Tôi không quên cảm ơn sự cộng tác chặt chẽ của các thành viên trong

Ban Vận động thành lập Hội Nghề cá Thừa Thiên Huế, Ban Xây dựng quy

hoạch tổng thể quản lý thuỷ sản đầm phá Thừa Thiên Huế, bà con ngư dân

trong Chi hội Nghề cá Quảng Thái nói riêng, các cộng đồng nghề cá Thừa

Thiên Huế nói chung và Dự án Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng

đồng, Đại học Nông Lâm - Huế Tất cả đã góp sức cùng nhau tạo nên sức

mạnh lớn trong sự nghiệp nghiên cứu và triển khai để cải tiến phương pháp

quản lý nghề cá quy mô nhỏ ngày một tốt hơn

Lời cuối cùng, tôi xin dành tặng vợ và hai con, những người đã chịu

nhiều phần thiệt thòi trong suốt quá trình học tập của tôi, vì đã dành nhiều hơn

thời gian và tâm huyết để nghiên cứu, triển khai công trình này

Nghiên cứu sinh

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á

BCH: Ban Chấp hành

BKT: Ban Kiểm tra

DANIDA: Cơ quan Phát triển quốc tế Đan Mạch

FAO: Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên Hiệp quốc

HĐND: Hội đồng Nhân dân

HTX: Hợp Tác xã

ICLARM: Trung tâm Quốc tế về Quản lý Nguồn lợi Thuỷ sinh Nay

đổi tên là World-Fish Centre

IDRC: Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (Canada)

PGS: Phó Giáo sư

SEAFDEC: Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á

STOFA: Hợp phần Tăng cường Năng lực quản lý hành chính Thuỷ

sản thuộc Chương trình Hỗ trợ Phát triển ngành Thuỷ sản Việt Nam giai đoạn

2001-2005 của Chính phủ Đan Mạch tài trợ (tiếp tục giai đoạn 2006-2010)

SUMA: Hợp phần nuôi trồng thuỷ sản mặn - lợ thuộc Chương trình

Hỗ trợ Phát triển ngành Thuỷ sản giai đoạn 2001-2005 của Chính phủ Đan

Mạch tài trợ

TS: Tiến sỹ

UBND: Uỷ ban Nhân dân

VINAFIS: Hội Nghề cá Việt Nam

Trang 6

GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ

Carrying capacity: Khả năng hấp thu, chuyển tải môi trường Nhiều

chuyên gia nước ngoài xem đây như là một loại tài nguyên

Co-management (CoM): “Đồng quản lý” Dự án Quản lý nghề cá hồ

chứa của Uỷ hội sông Mê Kông sử dụng cụm từ Việt Nam "quản lý phối hợp"

để chỉ thuật ngữ tiếng Anh này từ 1995, mãi cho đến năm 2001 mới dùng cụm

từ "đồng quản lý" Nguyễn Duy Thiệu trong tác phẩm: "Cộng đồng ngư dân ở

Việt Nam" đã sử dụng cụm từ "liên kết quản lý" Hiện nay, đã sử dụng gần

như thống nhất cụm từ Việt Nam "đồng quản lý" để chỉ khái niệm này

Community-Based Fisheries Management (CBFM): “Quản lý nghề cá

dựa vào cộng đồng”

Community-Based Fisheries Co-Management: “Đồng quản lý nghề cá

dựa vào cộng đồng”, được sử dụng như trung gian giữa hai khái niệm trên

Community-Based Coastal Resources Management (CBCRM): “Quản

lý nguồn lợi ven biển dựa vào cộng đồng”

Community-Based Resources Management (CBRM): “Quản lý nguồn

lợi (tài nguyên) dựa vào cộng đồng”

Limited Entry: cơ chế tiến cận giới hạn đối với việc khai thác, sử dụng

nguồn lợi, môi trường thủy sản chỉ dành cho những người nhất định, thường

là ngư dân Có khi còn được gọi là “tiếp cận đóng”: Close Entry

Fisheries Cooperative Association (FCA): Hội Hợp tác nghề cá (ở

Nhật), còn có thể gọi tắt là Hiệp hội Nghề cá Đây là tổ chức nghề cá cơ sở

mang tính xã hội - nghề nghiệp ở Nhật Bản, hoạt động dưới Luật Hợp tác

Nghề cá (Fisheries Cooperative Law) Nghĩa tiếng Nhật chuyển ngữ Việt

Nam là "Tổ hợp hiệp đồng" (Lê Thị Bình - Dự án Luật Thuỷ sản, 2002)

Nhiều nhà nghiên cứu gọi FCA là HTX Nghề cá, nhưng bản chất tổ chức này

không giống HTX nghề cá kiểu Việt Nam

Trang 7

Fishing Rights: quyền được phép khai thác, nuôi trồng những loài

thủy sản cụ thể, hoặc khai thác bằng số lượng các chủng loại ngư cụ cụ thể

trên một vùng lãnh thổ xác định, đây có thể hiểu là quyền sử dụng lãnh thổ

trong nghề cá

Individual Quota (IQ): “Chỉ tiêu riêng biệt” chỉ một sản lượng hạn chế

được phép khai thác hàng năm của cá nhân hoặc tổ chức nghề cá, nhằm hạn

chế việc đầu tư quá mức Từ giữa thập niên 1980, hệ thống IQ được áp dụng

ở các nước phát triển cho phép từng phần “Tổng sản lượng cho phép đánh

bắt” đến những ngư dân riêng biệt như là một chỉ tiêu, phương pháp này được

xem như lý tưởng đi từ "tiếp cận mở" sang "tiếp cận giới hạn"

Maximum Economic Yield (MEY): Sản lượng tối đa khai thác kinh tế

cho một vùng miền, nghề cá nào đó

Maximum Sustainable Yield (MSY): Sản lượng tối đa khai thác bền

vững cho một vùng miền, nghề cá nào đó

Monitoring, Control and Surveillance (MCS): chỉ hệ thống điều hành,

kiểm soát, giám sát thuỷ sản của Chính phủ

Territorial Use Rights in Fisheries (TURFs): “Quyền sử dụng lãnh thổ

trong nghề cá” để phân biệt quyền sở hữu hoàn toàn

Total Allowable Catch (TAC): “Tổng sản lượng cho phép khai thác”

để chỉ tổng sản lượng cho phép khai thác cho một đơn vị, vùng, miền, quốc

gia nào đó

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các hình thức thường gặp trong "đồng quản lý nghề cá" 7

Bảng 1.2: Các nghề khai thác chính ở đầm phá Thừa Thiên Huế 41

Bảng 2.1: Các tiêu chí lựa chọn điểm xây dựng mô hình 69

Bảng 2.2: Kết quả chấm điểm lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình 70

Bảng 2.3: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Chi hội 76

Bảng 2.4: Phân tích các bên liên quan và phương pháp giải quyết 77

Bảng 2.5: Các chỉ tiêu qui hoạch và biện pháp dự kiến 78

Bảng 2.6: Kế hoạch thời gian và nguồn lực lập qui hoạch 78

Bảng 2.7: Kế hoạch thực hiện quy hoạch và nguồn lực cần thiết 79

Bảng 3.1: Quá trình phát triển tổ chức ngư dân tại Quảng Thái 82

Bảng 3.2: So sánh phát triển của các loại hình tổ chức ngư dân cơ sở 86

Bảng 3.3: So sánh về hộ nghèo trước và sau khi xây dựng mô hình 98

Bảng 3.4: Kết quả trắc nghiệm về sự tham gia quản lý của ngư dân 100

Bảng 3.5: Kết quả trắc nghiệm về mức độ "đồng quản lý nghề cá" 102

Bảng 3.6: Kết quả trắc nghiệm về đánh giá các nội dung của mô hình 107

Bảng 3.7: Chi hội Nghề cá cơ sở ở Thừa Thiên Huế đến 31/12/2006 111

Bảng 3.8: Hội viên và loại hình sản xuất Nghề cá đến 31/12/2006 113

Bảng 3.9: Phân tích các yếu tố hệ thống quản lý nghề cá dựa vào dân 129

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Hình ảnh của việc sắp xếp đồng quản lý nghề cá 6

Hình 1.2: Cấu trúc của Nghề cá Cộng đồng "Kompong Phluk" 22

Hình 1.3: Sơ đồ tóm tắt tiến trình thực hiện mô hình đồng quản lý 27

Hình 1.4: Sơ đồ mô hình chống rà điện dựa vào cộng đồng 28

Hình 1.5: Ảnh tổng thể các vùng khai thác thuỷ sản Thừa Thiên Huế 39

Hình 1.6: Biểu đồ Kinh tế nghề cá vĩ mô 47

Hình 2.1: Sơ đồ Quản lý nghề cá đầm phá Tam Giang trong quá khứ 52

Hình 2.2: Sơ đồ khái quát quản lý nghề cá theo Yamamoto, 1997 58

Hình 2.3: Sơ đồ Tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu của Đề tài 66

Hình 2.4: Phân bố ngư trường nò sáo và nuôi cá lồng xã Quảng Thái 73

Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức Chi hội Nghề cá Quảng Thái tháng 11/2003 83

Hình 3.2: Bản đồ quy hoạch của Chi hội Nghề cá Quảng Thái 87

Hình 3.3: Ảnh Chi hội Nghề cá thả trụ phân định ngư trường, giao thông 90 Hình 3.4: Ảnh hưởng của mô hình nghiên cứu lên phát triển hệ thống 113

Hình 3.5: Sơ đồ hệ thống Hội Nghề cá tỉnh Thừa Thiên Huế 117

Hình 3.6: Cơ cấu tổ chức Tỉnh Hội Nghề cá của VINAFIS 118

Trang 10

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Lý thuyết quản lý nghề cá dựa vào dân 4

1.1.1 Sơ lược tiếp cận tại Việt Nam 4

1.1.2 Đồng quản lý nghề cá 6

1.1.3 Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng kiểu Nhật Bản 12

1.1.4 Đồng quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng 15

1.2 Mô hình quản lý nghề cá dựa vào dân 16

1.2.1 Các nghiên cứu và triển khai trên thế giới 16

1.2.2 Các nghiên cứu và triển khai ở trong nước 22

1.2.3 Các nghiên cứu và triển khai tại Thừa Thiên Huế 28

1.2.4 Đánh giá các nghiên cứu triển khai trước đây ở Việt Nam 33

1.3 Sơ lược nghề cá quy mô nhỏ Thừa Thiên Huế 37

1.3.1 Các loại hình nghề cá và nghề cá quy mô nhỏ 37

1.3.2 Khai thác thuỷ sản nước ngọt, nội địa Thừa Thiên Huế 38

1.3.3 Khai thác thuỷ sản nước lợ ở đầm phá Thừa Thiên Huế 39

1.3.4 Khai thác thuỷ sản ở biển ven bờ Thừa Thiên Huế 42

1.4 Quản lý nghề cá quy mô nhỏ 43

1.4.1 Quản lý nghề cá và tầm quan trọng của nó 43

1.4.2 Hai xu hướng quản lý nghề cá 44

1.4.3 Những thách thức trước nghề cá quy mô nhỏ 45

1.4.4 Giải pháp cho quản lý nghề cá quy mô nhỏ 48

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50

2.1 Cơ sở lý thuyết dựa vào dân phù hợp Việt Nam 50

2.1.1 Dựa vào dân trong quản lý nghề cá truyền thống 50

2.1.2 Dựa vào dân trong thể chế quản lý chung hiện nay 53

2.1.3 Dựa vào dân trong thể chế quản lý thuỷ sản hiện hành 55

2.2 Một số nhận định lý thuyết cho mô hình 57

2.2.1 Quản lý dựa vào cộng đồng và đồng quản lý 57

2.2.2 Một số lý thuyết đồng quản lý không phù hợp Việt Nam 59

2.2.3 Quản lý nghề cá vận hành kiểu xã hội chủ nghĩa 59

2.2.4 Hội Hợp tác Nghề cá Nhật và Hợp tác xã Nghề cá Việt 60

2.2.5 Phác thảo mô hình cần xây dựng 61

2.3 Giả thuyết nghiên cứu - luận điểm khoa học 62

2.4 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 64

2.4.1 Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu - luận điểm khoa học 65

Trang 11

2.4.2 Kiểm chứng giả thuyết, luận điểm bằng thực nghiệm 67

2.4.3 Kiểm chứng qua lý thuyết bổ sung và sự kiện phát sinh 81

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ MÔ HÌNH VÀ THẢO LUẬN 82

3.1 Tổ chức ngư dân thông qua Hội Nghề cá 82

3.1.1 Tổ chức ngư dân thông qua Chi hội Nghề cá 82

3.1.2 Bàn luận triển khai tổ chức ngư dân 83

3.2 Quy hoạch và tái sắp xếp ngư trường 87

3.2.1 Kết quả quy hoạch và tái sắp xếp ngư trường 87

3.2.2 Bàn luận về quy hoạch và tái sắp xếp theo tri thức bản địa 88

3.3 Quy định tự quản - hương ước 90

3.3.1 Kết quả quy định tự quản lý - hương ước 90

3.3.2 Bàn luận quy định tự quản lý - hương ước 92

3.4 Tổ chức bảo vệ ngư trường 93

3.4.1 Kết quả bảo vệ ngư trường 93

3.4.2 Bàn luận công tác bảo vệ ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản 94

3.5 Phát triển sinh kế góp phần xoá đói giảm nghèo 96

3.5.1 Tổ chức hợp tác, phát triển sinh kế 96

3.5.2 Đánh giá tổ chức ngư dân góp phần xoá đói giảm nghèo 97

3.6 Kết quả đánh giá mô hình và bàn luận 98

3.6.1 Đánh giá khách quan từ bên ngoài 98

3.6.2 Đánh giá từ Nhà nước địa phương tỉnh Thừa Thiên Huế 103

3.6.3 Đánh giá cuối kỳ nghiên cứu 105

3.7 Thảo luận về phát triển hệ thống sau mô hình 110

3.7 1 Hệ thống Hội Nghề cá Thừa Thiên Huế 110

3.7.2 Phân tích tổ chức Chi hội Nghề cá cơ sở ở Thừa Thiên Huế 119

3.7.3 Hệ thống quản lý nghề cá dựa vào dân 125

3.7.4 Tính thể chế quản lý nghề cá dựa vào dân 132

3.7.5 Tóm lược kinh nghiệm triển khai hệ thống 135

KẾT LUẬN 141

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ xi

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO xiii

PHẦN PHỤ LỤC xxi

Trang 12

THỪA THIÊN HUẾ - VIỆT NAM

Trang 13

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

Huyền thoại về nguồn lợi thuỷ sinh được coi là quà tặng không giới hạn

của tự nhiên đã dần biến mất, khi cả thế giới phải đối mặt với hiện thực nguồn lợi

thuỷ sản dẫu có tái tạo nhưng ngày càng cạn kiệt Do đó, ngày nay phát triển và

bền vững là hai từ luôn đi song hành khi nói đến ngành thủy sản hiện đại Không

thể chỉ chú trọng đến công nghệ, kỹ thuật để tạo ra năng suất cao, phát triển

vượt bực mà chúng ta còn cần phải quan tâm đến quản lý ngư trường, nguồn lợi,

môi trường thuỷ sinh tạo thế bền vững trên cả 3 khía cạnh: kinh tế, tài nguyên

và xã hội nghề cá Điều này đặc biệt quan trọng đối với nghề cá quy mô nhỏ ở

vùng ven bờ biển, là nơi hầu như sự khai thác thường đã vượt quá giới hạn cân

bằng về nguồn lợi, sức tải môi trường

Dù đất nước đã bước vào giai đoạn hoà bình, thống nhất từ năm

1975, nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa kịp khắc phục hết hậu quả nặng nề

mà các cuộc chiến tranh trong ngót cả thế kỷ mang lại Do đó, việc quản lý

mọi mặt của đất nước nói chung, quản lý thuỷ sản nói riêng còn nhiều bất

cập, cơ chế quản lý nghề cá ít mang tính kế thừa, luật pháp thuỷ sản vừa

thiếu vừa không đồng bộ Từ năm 1986, công cuộc đổi mới của đất nước đã

được đặt ra; tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế đang ở mức thấp, tình

trạng đói nghèo và sự thiếu hiểu biết của người dân còn tồn tại, cộng với

việc thiếu chuyên gia, thiếu kinh nghiệm quản lý và thiếu sự định hướng cụ

thể nên công cuộc cải tổ quản lý nghề cá vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập,

chung chung Do sức ép của đời sống nghèo khó cộng thêm việc quản lý

nghề cá chưa được quan tâm đầy đủ, nên nguồn lợi thủy sản, vốn đã có dấu

hiệu kém bền vững tiếp tục bị khai thác quá mức, khai thác bằng các

phương pháp vi phạm pháp luật như dùng chất nổ, chất độc, xung điện

Nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản, kéo theo tình trạng đói nghèo của bộ

phận ngư dân dựa vào nguồn lợi này là rất rõ ràng

Trang 14

Nghề cá quy mô nhỏ ở Thừa Thiên Huế, cả nghề cá đầm phá lẫn nghề cá

ven bờ cũng nằm trong tình trạng trì trệ chung như của cả nước Do có thể khai

thác tự do, tuỳ tiện, trong khi áp lực thiếu việc làmvà thu nhập thấp nên số lượng

người tham gia vào làm nghề cá ngày càng đông Trải qua nhiều thế hệ, các loại

nghề khai thác đã tăng gấp nhiều lần về số lượng, nhưng năng suất khai thác

ngày càng giảm khiến ngư dân đua nhau sử dụng nhiều nghề khai thác mang tính

hủy diệt như te quệu, giã, xung điện để mong đạt thu nhập cao hơn, làm cho

nguồn lợi thủy sản ở đây có nguy cơ bị cạn kiệt

Những năm gần đây, dù đã có rất nhiều nỗ lực của các cơ quan quản lý

thủy sản, cũng như của chính quyền các cấp, song tiến trình quản lý vẫn chưa có

chiều hướng tốt hơn Lực lượng cán bộ quản lý thuỷ sản, ngân sách Nhà nước

dùng trong quản lý thuỷ sản có hạn mà khu vực quản lý và thời gian quản lý

nghề cá là “mọi nơi, mọi lúc” trên các vùng nước, ngư trường, nên hiệu lực và

hiệu quả quản lý không cao

Vì thế, việc tìm kiếm, vận dụng phát triển những cách thức quản lý hợp

pháp mới có tính hiệu lực hơn, khả thi hơn, đỡ tốn kém các nguồn lực và phù

hợp với những điều kiện thực tế, cụ thể của địa phương là một công việc hết sức

cấp thiết Đáp ứng đòi hỏi khách quan đó, khi thực hiện xây dựng luận án tiến sỹ

tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng

cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh Thừa Thiên Huế” để nghiên cứu

Mục đích Luận án này là nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý có

hiệu quả và hiệu lực hơn, dựa vào cộng đồng những người làm nghề cá cho

nghề cá quy mô nhỏ ở tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm góp phần phát triển thuỷ

sản bền vững ở địa phương Nhiệm vụ của Luận án là xây dựng mô hình quản

lý nghề cá quy mô nhỏ sao cho một mặt phù hợp với thể chế pháp luật hiện

nay, mặt khác phát huy được các sáng kiến của những người trực tiếp sử dụng

nguồn lợi và kế thừa các phương thức quản lý truyền thống ở địa phương, gần

gũi với quần chúng Yêu cầu đặt ra là vừa phải dễ thực hiện, lại vừa có tính

khoa học, có tiếp thu các thành quả quản lý nghề cá của thế giới

Trang 15

Đối tượng nghiên cứu được xác định là vấn đề quản lý nghề cá quy

mô nhỏ và phương cách quản lý dựa vào cộng đồng với phạm vi địa bàn

nghiên cứu được xác định trong tỉnh Thừa Thiên Huế

Do giới hạn về thời gian thực hiện lẫn nguồn kinh phí nên phạm vi

triển khai thực nghiệm chỉ chọn trong một thôn nghề cá Tuy nhiên về mặt lý

luận, Luận án thực hiện nghiên cứu mở rộng sang toàn bộ các hệ thống thuỷ

sản các vùng đầm phá, vùng ven bờ trong tỉnh, trong nước và quốc tế

Về mặt thời gian, luận án tập trung trong giai đoạn bắt đầu từ cuối năm

2002 đến cuối năm 2006 và kế thừa các nguồn tài liệu, kết quả nghiên cứu chủ

yếu từ 1990 đến 2006

Nghiên cứu đề tài quản lý nghề cá dựa vào dân có ý nghĩa lý luận là

cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước vào điều kiện thực tiễn

quản lý ngành thủy sản tại địa phương cơ sở Mặt thực tiễn, Đề tài là hướng

mở, đường lối quản lý nghề cá vừa tiết kiệm kinh phí vừa đạt hiệu lực cao

thông qua việc huy động nguồn lực nhân dân, chủ động quản lý ở cơ sở, góp

phần cùng Nhà nước quản lý tốt ngư trường, nguồn lợi, môi trường thuỷ sản

Luận văn được trình bày theo cơ cấu ngoài chương mở đầu nêu lên

tính cấp thiết mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như

những đóng góp mới về khoa học của đề tài, thì phần nội dung chính được thể

hiện trong 4 chương:

+ Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

+ Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

+ Chương 3: Kết quả triển khai tổng hợp mô hình và bàn luận

+ Chương 4: Kết quả phát triển hệ thống - thể chế và bàn luận

Cuối cùng là chương kết luận gồm các kết luận và các khuyến nghị,

hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo

Trang 16

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 LÝ THUYẾT QUẢN LÝ NGHỀ CÁ DỰA VÀO DÂN

1.1.1 Sơ lược tiếp cận tại Việt Nam

Thuật ngữ "đồng quản lý" xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam năm 1994

khi Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản, Bộ Thủy sản tham gia vào Dự án

"Nghiên cứu Toàn cầu về Đồng quản lý trong Nghề cá" (Worldwide

Co-Management in Fisheries Project) do DANIDA tài trợ, Viện Quản lý Nghề cá

và Phát triển Cộng đồng Vùng bờ cuả Đan Mạch và Trung tâm Quốc tế về

Quản lý Nguồn lợi Thuỷ sinh (ICLARM) thực hiện Năm 1995 một khoá tập

huấn "Đồng quản lý nguồn lợi sinh vật ven bờ ở Đông Nam Á: Lý thuyết,

thực tiễn và gợi ý cho Việt Nam" do Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản, Bộ

Thuỷ sản phối hợp với "Chương trình Hợp tác ven bờ và đại dương Việt Nam

- Canada" (VCOP) và ICLARM lần đầu tiên tổ chức tại Hà Nội để truyền bá

và tập huấn cho các nhà nghiên cứu và quản lý nghề cá tại Việt Nam về

phương thức quản lý này Trước đó ít lâu, thuật ngữ "quản lý nguồn lợi ven

bờ dựa vào cộng đồng" đã được sử dụng tại các Hội thảo xây dựng Dự án:

"Quản lý nguồn lợi sinh học phá Tam Giang", tại Huế, do Trung tâm Nghiên

cứu Phát triển Quốc tế (IDRC), Canada tài trợ

Về mặt văn bản chính thức, thuật ngữ "quản lý nghề cá dựa vào cộng

đồng" có trong Báo cáo dự án "Quy hoạch tổng thể ngành Thuỷ sản đến năm

2010" [3, tr.6], là một định hướng để đưa vào thực hiện phương pháp quản lý

nghề cá dựa vào cộng đồng tại một số vùng miền phù hợp trong kỳ quy hoạch

Tuy nhiên, Quy hoạch này mãi cho đến ngày 11/01/2006 mới được phê duyệt,

nhưng trong quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ không sử dụng

Trang 17

thuật ngữ nói trên, mà chỉ sử dụng thuật ngữ "quản lý cộng đồng" trong phần

xây dựng mô hình nuôi trồng thuỷ sản

Hiện tại, Bộ Thuỷ sản lại chú trọng đến thuật ngữ "đồng quản lý" và đã

có những động thái để xúc tiến nghiên cứu cũng như xây dựng các mô hình

triển khai, tuy nhiên cũng chỉ mới đang ở dạng xem xét, đề xuất Hoàn toàn

chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định, thậm chí ngay trong văn

bản quyết định thông thường cũng không nhắc đến thuật ngữ "đồng quản lý"

Đồng quản lý chỉ được đề cập đến nhiều ở các hội thảo của các Dự án Hỗ trợ

kỹ thuật, do nước ngoài tài trợ Nhưng ngay trong trong các hội thảo khoa học

đã có nhiều tranh luận, đôi lúc diễn ra gay gắt về các thuật ngữ, nhất là việc

"đồng quản lý" tốt hơn, lớn hơn hay "quản lý dựa vào cộng đồng" tốt hơn

Thuật ngữ "quản lý nghề cá dựa vào dân" hay "dựa vào dân để quản

lý nghề cá" được nghiên cứu sinh sử dụng lần đầu tiên tại Đại học Thuỷ sản

Nha Trang1 năm 2002, khi xây dựng các chuyên đề nghiên cứu của mình,

mục đích muốn chỉ rõ tính độc lập của khái niệm Việt Nam, so với các nước

khác Thuật ngữ này được tiếp tục sử dụng tại các Hội thảo khác nhau về

"đồng quản lý" và "quản lý dựa vào cộng đồng" trong nghề cá, khi giới thiệu

về mô hình đang xây dựng tại Thừa Thiên Huế, với hàm ý độc lập, không bị

áp đặt bởi lý thuyết "đồng quản lý" của bất kỳ tác giả nước ngoài nào, cũng

như lý thuyết "quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng" kiểu Nhật Bản Khái niệm

tương tự "quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào dân" cũng được sử dụng tại Hội

thảo "Nhân rộng mô hình khu bảo tồn biển Rạn Trào do địa phương quản lý"

tại Nha Trang, ngày 10 & 11/8/2004

Các ngành khác như nông, lâm nghiệp và thuỷ lợi chỉ sử dụng thống

nhất một thuật ngữ "quản lý dựa vào cộng đồng" khi nói đến việc Nhà nước

dựa vào nhân dân địa phương để cùng quản lý tài nguyên, thiên nhiên

Trang 18

1.1.2 Đồng quản lý nghề cá

1.1.2.1 Khái quát:

Đồng quản lý nghề cá đƣợc hiểu trong các khái niệm "quản lý nghề cá"

và "đồng quản lý" Đồng quản lý nghề cá có cái riêng trong nghề cá, đồng thời

"đồng quản lý" còn có cái chung trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên

"Đồng quản lý được định nghĩa như là sự chia sẻ trách nhiệm và/hoặc

quyền hạn giữa Chính phủ và người/cộng đồng ngư dân địa phương sử dụng

nguồn lợi để quản lý nghề cá hoặc tài nguyên tự nhiên khác" [64, tr.7] Nội

dung và hình thức đồng quản lý nghề cá đƣợc thể hiện ở Hình 1.1 và Bảng

Hợp tác

Cố vấn Dựa vào

cộng đồng

Tự quản lý

Đồng quản lý Hình 1.1: Hình ảnh của việc sắp xếp đồng quản lý nghề cá [62, tr.9]

Trang 19

Đồng quản lý là sự sắp xếp ở những mức độ khác nhau của việc chia

sẻ quyền hạn một cách thống nhất của Chính phủ và cộng đồng địa phương

Nó thừa nhận và hợp pháp hóa truyền thống của cộng đồng địa phương ở cấp

độ hệ thống quản lý Đó là nhóm ngư dân, hoặc một tổ chức cộng đồng được

thành lập và tuân thủ các quy tắc, điều lệ trong việc đánh cá và sử dụng nguồn

lợi do họ đặt ra, với sự ủng hộ từ Nhà nước ở nhiều cấp độ khác nhau

Trên thế giới, đã có nhiều luận bàn về khái niệm đồng quản lý

Korten (1987) cho rằng: Đồng quản lý cơ bản là một nhóm người có

một số lợi ích chung, cơ chế chung trong quản lý hiệu quả, công bằng cũng

như trong giải quyết xung đột Hình thái đồng quản lý phụ thuộc vào Chính

phủ và chính sách phân quyền [60, tr.16]

Theo Sagdahl (1992), Abdullah và đồng sự (1995) thì khái niệm đồng

quản lý được sử dụng rộng rãi và có nhiều định nghĩa khác nhau, thay đổi từ

Trang 20

trường hợp, đồng quản lý được sử dụng như tương đương với quản lý dựa vào

cộng đồng [60, tr.17]

Một khái niệm được giới học thuật trong nghề cá sử dụng nhiều nhất,

do Nielsen đưa ra trong báo cáo tổng kết Dự án Đồng quản lý Nghề cá Toàn

cầu năm 1997: Đồng quản lý nghề cá là sự sắp xếp trách nhiệm quản lý nguồn

lợi chia sẻ bởi Chính phủ và nhóm người sử dụng, được xem như là giải pháp

để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong khai thác quá mức tài nguyên Sắp xếp

đồng quản lý được xem là động lực hợp tác, sử dụng các năng lực và sự quan

tâm của người sử dụng bổ sung khả năng hành chính nghề cá để cung ứng

khung pháp lý cho phép [57, tr.1]

Jentoft và đồng sự (1998) đã cụ thể hoá thêm khi giải thích: Đồng

quản lý là quá trình phối hợp và hợp tác trong việc đưa ra các quyết định quản

lý giữa đại diện các nhóm sử dụng nguồn lợi, Chính phủ, tổ chức nghiên cứu

Theo nghĩa ai là người đưa ra quyết định có hai thái cực: quyền lực Nhà nước

và quyền của ngư dân Hình thức quản lý trên - xuống (top-down), Nhà nước

đưa ra những quyết định đơn độc, còn người dân thụ động thực hiện Ngược

lại, đồng quản lý tạo cho người sử dụng nguồn lợi có quyền hành, tổ chức và

thực hiện hệ thống quản lý của riêng họ [60, tr.16]

Về vấn đề này Berkes, Mahon, McConney, Pollnac và Pomeroy

(2001) cũng có lời giải thích khá cụ thể và mở rộng khái niệm ra một quy mô

rộng hơn: Đồng quản lý là sự đồng thuận giữa Chính phủ, cộng đồng sử dụng

nguồn lợi (ngư dân), các tổ chức bên ngoài (tổ chức phi chính phủ, cơ quan

nghiên cứu), người có lợi ích liên quan nghề cá và nguồn lợi thuỷ sản khác

(chủ tàu, buôn bán cá, cho vay, tổ chức du lịch ) chia sẻ trách nhiệm và

quyền hạn ra các quyết định quản lý nghề cá [54, tr.202]

Gần với tinh thần đó, trong Hội thảo của Uỷ Hội Nghề cá châu Á -

Thái Bình Dương 2005, cũng thống nhất: Đồng quản lý nghề cá có thể được

Trang 21

hiểu như là phương pháp tham gia, nơi mà Chính phủ và người sử dụng

nguồn lợi thuỷ sản chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn để quản lý nghề cá quốc

gia hoặc nghề cá trong một vùng, dựa trên sự hợp tác giữa hai bên và với các

bên liên quan khác [58, tr.1] Trong ngữ cảnh quốc gia riêng, đồng quản lý

được hiểu đơn giản và mang tính cụ thể trong bối cảnh Campuchia là một

thoả thuận hợp tác giữa Chính phủ và các cộng đồng địa phương và được gọi

là Nghề cá Cộng đồng (Community Fisheries) [58, tr.31]

Tại Hội thảo: "Đồng quản lý: phương pháp tiếp cận mới của ASEAN

đối với công tác quản lý nuôi trồng thuỷ sản ven biển" do Bộ Thuỷ sản -

DANIDA tổ chức năm 2001, Hà Xuân Thông đã xem xét thêm khía cạnh tính

đặc thù địa phương và tính lịch sử của đồng quản lý, khi cho rằng: Đồng quản

lý được hiểu như là cách thức chia sẻ hoặc phân định quyền lực và trách

nhiệm giữa chính quyền và những người sử dụng nguồn lợi nhằm quản lý một

đối tượng nguồn lợi nào đó như nguồn lợi cá, vùng rạn san hô, vùng nuôi thuỷ

sản hoặc hồ chứa, một cánh rừng v.v Phạm vi và cách thức chia sẻ quyền

lực và trách nhiệm không giống nhau ở các nước khác nhau và các địa

phương khác nhau, do những điều kiện và nền văn hoá khác nhau [37a, tr.6]

1.1.2.2 Hạt nhân:

Theo Pomeroy và Williams (1994), quản lý tài nguyên dựa vào cộng

đồng (CBRM) là nhân tố trung tâm của đồng quản lý, áp dụng tốt ở quản lý

nguồn nước (thủy lợi) và rừng, cũng như đang áp dụng trong nông nghiệp ở

trung du và quản lý thú săn Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng (CBFM) có

khó khăn hơn vì phức tạp: tính liên thông của nguồn lợi thủy sản, cấu trúc văn

hóa, xã hội của cộng đồng nghề cá và bản chất tự do của ngư dân [64, tr.8-9]

Như vậy, khái niệm "quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng" được bao

hàm bởi khái niệm "quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng" và lớn hơn

là "quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng" Có thể nghiên cứu "quản lý nguồn

Trang 22

lợi ven bờ dựa vào cộng đồng" và "quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng" để

áp dụng cho "quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng" nhưng lưu ý các đặc điểm

riêng có của nghề cá, vì vấn đề quả là phức tạp hơn đối với quản lý nghề cá

1.1.2.3 Điều kiện cơ bản để "đồng quản lý nghề cá" thành công:

Từ các điển hình khắp thế giới, các điều kiện then chốt để "đồng quản

lý nghề cá" thành công được Ostrom (1990, 1992); Pinkerton (1989) liệt kê

dưới đây [64, tr.11]:

1) "Ranh giới được xác định rõ ràng": Ranh giới tự nhiên của khu vực

được quản lý cần phải rõ ràng để nhóm ngư dân hiểu biết đúng về chúng Nên

dựa trên hệ sinh thái mà ngư dân có thể quan sát và hiểu được Kích cỡ khu

vực có thể cho phép quản lý bằng các phương tiện kỹ thuật sẵn có

2) "Thành viên tham gia được xác định rõ ràng": Các cá nhân, hộ gia

đình ngư dân có quyền đánh bắt trong ngư trường giới hạn là rõ và không quá

nhiều, dễ dàng liên lạc nhau và ra các quyết định quản lý tập thể có hiệu quả

3) "Khả năng liên kết trong nhóm": Nhóm hay tổ chức ngư dân có sự

đồng nhất cao về quan hệ họ hàng, dân tộc, tôn giáo hay loại hình ngư cụ sử

dụng thì càng dễ liên kết Hệ tư tưởng, tập quán và tín ngưỡng chung cũng tạo

ra tinh thần tự nguyện giải quyết các khó khăn chung của tập thể

4) "Tổ chức sẵn có": Ở những nơi trước đây đã có truyền thống quản

lý dựa vào cộng đồng và các tổ chức đại diện cho những người sử dụng nguồn

lợi và những đối tượng có liên quan thì rất thuận lợi

5) "Lợi ích lớn hơn đầu tư": Lợi ích thu được khi tham gia hệ thống

quản lý dựa vào cộng đồng lớn hơn công sức đầu tư vào các hoạt động đó

6) "Sự tham gia của các đối tượng chịu ảnh hưởng": Hầu hết các cá

nhân chịu ảnh hưởng bởi các quyết định quản lý đều là thành viên trong nhóm

để có thể thoả thuận xây dựng và thay đổi các quyết định quản lý này

Trang 23

7) "Tính thực thi của các quy tắc quản lý": Các quy tắc quản lý phải

đơn giản để tất cả các ngư dân đều có thể thực hiện và chia sẻ việc giám sát

8) "Quyền tổ chức hợp pháp": Nhóm hay tổ chức ngư dân có quyền

hợp pháp về sử dụng và quản lý tài nguyên Nhà nước có pháp luật xác định

và phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cộng đồng địa phương

9) "Phối hợp và lãnh đạo ở cấp cộng đồng": Ngư dân tự nguyện tích

cực tham gia đóng góp thời gian, công sức và tiền của vào quản lý nghề cá

Một cá nhân hay một nhóm trung tâm giữ vai trò lãnh đạo quá trình quản lý

10) "Phân cấp quản lý và quyền hạn quản lý": Nhà nước xây dựng

chính sách và pháp luật để phân cấp, phân quyền quản lý, giao trách nhiệm và

quyền hạn cho chính quyền địa phương và các tổ chức ngư dân ở cơ sở

11) "Phối hợp giữa chính quyền và cộng đồng": Một cơ quan điều

phối được thiết lập, có đại diện của nhóm hay tổ chức ngư dân và chính quyền

để giám sát các thoả thuận về quản lý ở địa phương, giải quyết mâu thuẫn và

hỗ trợ thi thành luật lệ tại địa phương

1.1.2.4 Những khó khăn trong việc triển khai đồng quản lý nghề cá:

Pomeroy và Williams (1994) cũng chỉ rõ những khó khăn trong triển

3) Thiếu những động lực kinh tế, xã hội hoặc chính trị

4) Chi phí vượt quá lợi ích mang lại

5) Thiếu chủ trương và chính sách

6) Mâu thuẫn của nhóm sử dụng nguồn lợi và nhóm bên ngoài

7) Khó khăn nảy sinh trong điều kiện đặc biệt của nguồn lợi

Trang 24

Đặc biệt, để thực hiện chính sách về đồng quản lý thường kéo theo

một loạt luật lệ, chính sách, thủ tục hành chính ở cả cấp địa phương và trung

ương, mà thường rất khó để có thể thay đổi được [64, tr.7]

1.1.3 Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng kiểu Nhật Bản

1.1.3.1 Xuất xứ và khái niệm thuật ngữ:

Thuật ngữ “quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng” sử dụng trên thế giới

lần đầu tiên tại hội đàm của Nhật Bản / FAO về phát triển hệ thống quản lý

nghề cá ven bờ ở châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức tại Kobe, Nhật Bản từ

08-12/6/1992 Tuy nhiên, trong Hội thảo này đã không thảo luận về định

nghĩa của quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng Định nghĩa kiểu Nhật Bản là:

“Hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng là một hệ thống quản lý nghề

cá được phát triển bởi một nhóm ngư dân dựa trên "quyền đánh cá" và được

thực hiện dưới sự sáng tạo của ngư dân” [71, tr.2]

Như vậy, quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng không đề cập thêm vai

trò quản lý của Nhà nước mà chỉ nhấn mạnh vai trò quản lý của bản thân cộng

đồng ngư dân Vai trò Nhà nước ở đây được ẩn đi trong các thể chế tạo nên

việc phân quyền sử dụng nguồn lợi thuỷ sản cho các tổ chức ngư dân

Ngày nay, hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng phổ biến tại

các nước và vùng lãnh thổ tuân thủ đường lối quản lý nghề cá theo “cơ chế

tiếp cận giới hạn” là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan khi mà các "quyền

đánh cá" được cấp cho các tổ chức ngư dân địa phương "Quản lý nghề cá dựa

vào cộng đồng" rất được các nước đang phát triển, đặc biệt các nước Đông

Nam Á như: Thái Lan, Philippines, Campuchia quan tâm, một số nước đã

xây dựng các mô hình thử nghiệm và thiết lập hệ thống "quản lý nghề cá dựa

vào cộng đồng" tương tự Nhật Bản

1.1.3.2 Tổ chức quản lý nghề cá (Fisheries Management Organization)

Trang 25

Nghiên cứu hệ thống tại Nhật Bản cho thấy "tổ chức quản lý nghề cá"

thực hiện quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng, thường có 3 loại dưới đây:

1) Một nhóm các Hội Hợp tác Nghề cá lân cận đã cùng thoả thuận

được để quy định cùng nhau điều phối các nguồn lợi chung, để cùng có lợi

2) Hội Hợp tác Nghề cá tự quản lý, thông qua các quy chế quản lý

nghề cá trong Hội

3) Một nhóm ngư dân trong cùng Hội Hợp tác Nghề cá (FCA), sử

dụng cùng một chủng loại nghề nghiệp tương tự như nhau Họ tự quy định và

cùng nhau thực hiện cũng như giám sát các quy tắc về đánh bắt cá

Đa số các "tổ chức quản lý nghề cá" là hoặc trường hợp 2 hoặc 3

Trường hợp 1, nơi một nhóm Hội Hợp tác Nghề cá làm thành một tổ chức

quản lý nghề cá, thực hiện quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng là hiếm, vì

càng ở cấp độ rộng lớn thì pháp luật Nhà nước đóng vai trò điều tiết là chính

Trong 1.734 tổ chức quản lý nghề cá phát triển năm 1998, có 460 tổ

chức (27%) là Hội Hợp tác Nghề cá tự quản đơn lẽ, 106 tổ chức (6%) được 2

Hội Hợp tác Nghề cá lân cận trở lên quản lý nhau, 742 tổ chức (43%) là nhóm

ngư dân trong Hội Hợp tác Nghề cá, và 90 tổ chức (5%) là khác biệt 3 kiểu

trên Một Hội Hợp tác Nghề cá thường thành lập các nhóm ngư dân dựa theo

loại ngư cụ khai thác hoặc chủng loài đánh bắt [72, tr.9]

1.1.3.3 Những quy định phổ biến trong quản lý dựa vào cộng đồng:

Các tổ chức quản lý nghề cá của cộng đồng tại Nhật Bản, thực tế đã

phát triển nhiều sáng kiến quản lý từ đơn giản đến tinh vi, phức tạp để cùng

Nhà nước quản lý ngày một tốt hơn ngư trường, nguồn lợi [71, tr.12-13]:

1) "Giới hạn số lượng đơn vị khai thác": Một cộng đồng sẽ cho phép

đánh cá với một số lượng ngư cụ giới hạn trong một vùng nước nhất định mà

chỉ cộng đồng ấy có quyền khai thác cá

Trang 26

2) "Quy định kích cỡ tối thiểu cho đối tượng khai thác": Cộng đồng

xác lập một cỡ tối thiểu cho một loài xác định, lớn hơn cỡ tối thiểu xác định

bởi pháp luật của Nhà nước Bởi vì cộng đồng quản lý được cho đến khi cá

thể to hơn, mang lại giá trị kinh tế lớn hơn cho cộng đồng

3) "Luân phiên ngư trường với mùa cấm khai thác": Vùng mặt nước

thuộc quyền đánh cá của cộng đồng được phân chia thành các vùng nhỏ hơn,

vùng được phép đánh cá được luân chuyển nhằm duy trì ổn định nguồn lợi

thủy sản, do cộng đồng tự nhận thấy nguồn lợi đã có dấu hiệu suy giảm

4) "Tăng kích thước mắt lưới rê": Mắt lưới rê đánh bắt cụ thể đối

tượng tôm cá nào đó được tất cả các ngư dân trong cộng đồng chấp thuận mở

rộng Nhờ đó, gía trị khai thác tăng lên, do kích thước cá thể của tôm cá tăng

5) "Hệ thống chia chung": Giá trị đánh bắt có thể sẽ được chia bình

quân cho tất cả các thành viên trong một tổ chức cộng đồng

6) "Hệ thống Tổng sản lượng cho phép đánh bắt”(TAC): TAC trong

vùng ngư trường của cộng đồng được xác định bởi cơ quan chuyên môn nghề

cá cấp tỉnh, trên cơ sở các nghiên cứu chuyên sâu Tổ chức cộng đồng nghề cá

có liên quan tuân thủ “tổng sản lượng cho phép đánh bắt” đã xác định

7) "Thời kỳ tạm ngừng khai thác": Do sản lượng của một số loài thủy

sản cụ thể đã bị suy giảm nặng nề, nên ngư dân trong một cộng đồng, hoặc

nhiều cộng đồng liên quan đồng ý ngừng đánh bắt loại tôm cá này trong thời

hạn xác định, không cần chờ quyết định từ Nhà nước, thường rất chậm

8) "Nuôi bởi cộng đồng": Cộng đồng nghề cá thực hiện bổ sung giống

các loại tôm cá con xuống thuỷ vực, được xem là "lãnh địa" của họ bằng kinh

phí của tự cộng đồng Từ đó, nâng cao được sản lượng khai thác tự nhiên

1.1.3.4 Điều kiện cần để phát triển hệ thống dựa vào cộng đồng:

Như trên cho thấy, hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng

không phải được thiết lập bởi Nhà nước, nó tồn tại không phụ thuộc vào ý

Trang 27

kiến chủ quan của nhà quản lý Tuy nhiên, để cộng đồng ngư dân có thể sáng

tạo ra hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng thì Nhà nước, nhà quản lý

thuỷ sản phải tạo ra được cơ chế, môi trường thích hợp Có 3 điều kiện cần

[65, tr.271-273] để có thể xây dựng hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng

đồng tại các nước đang phát triển:

1) "Ban hành quyền đánh cá cho ngư dân"

"Quyền đánh cá" là một yếu tố rất quan trọng trong việc thiết lập quản

lý nghề cá dựa vào cộng đồng, là giấy phép nghề cá đặc biệt được cấp cho tổ

chức ngư dân trên cơ sở "quyền sử dụng lãnh thổ trong nghề cá" (TURF)

2) "Tổ chức ngư dân"

Để ban hành "quyền đánh cá", tổ chức ngư dân là phải có Tổ chức

ngư dân có vùng biển, vùng mặt nước đầm phá, sông hồ có thẩm quyền phía

trước vùng đất ở của họ, trong sự sắp xếp vùng đánh bắt cho "quyền đánh cá"

Tổ chức nghề cá nên bao hàm hầu hết ngư dân trong một thôn làng, xã

3) "Sửa đổi pháp luật nghề cá quốc gia"

Để hai nhiệm vụ trên có thể thực thi thì pháp luật nghề cá hiện hành2

sẽ phải có sự điều chỉnh để phù hợp cơ chế tiếp cận giới hạn

1.1.4 Đồng quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng

1.1.4.1 Khái quát:

"Đồng quản lý" và "quản lý dựa vào cộng đồng" ở nghề cá cũng như

chung trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, có nhiều điểm chung cũng như

một số khác biệt Do đó gần đây, thuật ngữ "đồng quản lý nghề cá dựa vào

cộng đồng" (community-based fisheries co-management) cũng được sử dụng

như trung gian giữa hai khái niệm trên

Trang 28

Theo Pomeroy (1998): "Đồng quản lý dựa vào cộng đồng bao gồm

hai cấu thành của cả "đồng quản lý" và "quản lý dựa vào cộng đồng", như:

người dân là trung tâm, hướng vào cộng đồng, dựa vào nguồn lợi và sự tham

gia của các đối tác Theo đó, "đồng quản lý dựa vào cộng đồng" có cộng

đồng là tâm điểm của nó nhưng thừa nhận để duy trì những hành động nói

trên thì các mối quan hệ dọc - ngang là cần thiết." [65, tr.74]

1.1.4.2 Tiến trình của "đồng quản lý dựa vào cộng đồng":

Khi thực hiện đồng quản lý dựa vào cộng đồng như là một dự án phát

triển thì cần xác định 3 giai đoạn [65, tr.74]:

1) "Tiền - triển khai" thường bắt đầu bằng việc người sử dụng nguồn

lợi và các thành phần liên quan thảo luận các vấn đề, đàm phán, thương

lượng, đồng thuận, phát triển các kế hoạch thực hiện Cộng đồng cần được hỗ

trợ từ các cơ quan Chính phủ, phi Chính phủ và thành phần liên quan khác

2) Giai đoạn triển khai có 4 hợp phần: quản lý nguồn lợi, phát triển

kinh tế và cộng đồng, nâng cao năng lực và hỗ trợ thể chế

3) Các hoạt động "hậu - triển khai" bao gồm: đánh giá các hoạt động

dự án, hiệu chỉnh các kế hoạch và hoạt động nếu cần Lập lại và áp dụng mở

rộng các kết quả có thể đến những cộng đồng ở những nơi khác nhau có thể

1.2 MÔ HÌNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ DỰA VÀO DÂN

1.2.1 Các nghiên cứu và triển khai trên thế giới

1.2.1.1 Nhật Bản:

Sau năm 1867, Chính phủ Minh Trị Thiên Hoàng Nhật Bản cải cách

sâu sắc pháp luật nước nhà bằng cách phái chuyên gia sang các nước phương

Tây để học hỏi, áp dụng Hầu hết ở các lãnh vực, đều ban hành pháp luật cải

cách theo xu hướng "Tây hóa" và tạo nên nguồn động lực lớn lao phát triển

kinh tế Nhật Bản Tuy nhiên, riêng đoàn chuyên gia nghề cá nhận thấy đường

Trang 29

lối pháp luật quản lý nghề cá của phương Tây khó có thể áp dụng tốt ở Nhật

Bản Mãi đến 34 năm sau, qua đầu thế kỷ XX, Luật Nghề cá 1901 của Nhật

Bản mới ra đời trên cơ sở bảo lưu đường lối quản lý nghề cá truyền thống

theo cơ chế tiếp cận giới hạn: nghề cá ven bờ chỉ dành cho ngư dân Tại Nhật

hiện gọi Luật này là Luật nghề cá cũ Quá trình quản lý nghề cá của Chính

phủ Nhật sau chiến tranh thế giới 2 tuy không có chủ đích, nhưng đã thiết lập

hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng, thông qua các chính sách, pháp

luật, thể chế nghề cá của Nhật Bản:

1) Quyết định sửa đổi Luật Nghề cá theo đường lối dân chủ sau chiến

tranh thế giới lần 2

2) Ban hành Luật Nghề cá mới vào tháng 12/1949, hủy bỏ tất cả các

"quyền đánh cá" cũ bằng cách mua lại với giá trị bảo đảm vào năm 1950

3) Lập "quy hoạch quản lý nghề cá ven bờ" ở mỗi một tỉnh, với việc

tham khảo công chúng, ban hành "giấy phép đánh cá giới hạn" và "quyền

đánh cá" của chính quyền tỉnh dựa trên quy hoạch, năm 1950

Quyền đánh cá ven bờ với 3 hợp phần là nghề khai thác cố định cỡ lớn

(set net fishing right), khai thác công cộng (common fishing right) và nuôi

trồng thuỷ sản (aquaculture fishing right) chỉ được cấp cho các Hội Hợp tác

Nghề cá, ở trong khu vực gần kề ngư trường Các Hội Hợp tác Nghề cá phải

quản lý lấy nhau trong việc xúc tiến khai thác và nuôi trồng thuỷ sản của các

thành viên theo những quyền đã được Nhà nước ban cho

Kết quả, hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng đã ra đời Tổng

số tổ chức quản lý nghề cá toàn Nhật Bản vào năm 1952 chỉ là 359, sau đó

tăng dần theo thời gian, lên 1.339 vào năm 1988, 1.524 vào năm 1993 và

1.734 vào năm 1998 So sánh với tổng số Hội Hợp tác Nghề cá là 1.890 vào

Trang 30

năm 1998, thì hầu như tổ chức quản lý nghề cá đã phát triển ở hầu hết mọi

Hội Hợp tác Nghề cá [72, tr.9]

1.2.1.2 Hàn Quốc:

Hệ thống quản lý thuỷ sản Hàn Quốc hiện hành khá hoàn thiện và

tương đối hiện đại Trong nhiều kiểu loại nghề cá khác nhau do Luật Thuỷ

sản Hàn Quốc quy định, có loại hình "nghề cá làng" [4, đ.8] thuộc nghề cá

quy mô nhỏ, mà giấy phép chỉ được cấp cho "Hội khai thác của làng" hoặc

cho tổ chức "Hợp tác nghề cá cấp huyện" (Tổ chức huyện), nhằm mục đích

nâng cao lợi ích chung cho ngư dân địa phương ở vùng ven biển [4, đ.9]

Giấy phép nghề cá thuộc sở hữu của "Hội khai thác của làng" sẽ được

thực hiện bởi các thành viên trong Hội, theo như các điều kiện quy định quản

lý ngư trường Các cá nhân là thành viên của "Hội khai thác của làng" có thể

thực hiện nghề cá nếu thoả mãn các yêu cầu sau: "Người có thẩm quyền trong

Hội khai thác của làng; Có quyết định của cuộc họp toàn thể của Hội khai

thác của làng; Có báo cáo về nghề cá " [4, đ.37]

Bất kỳ "Hội khai thác của làng" nào, sở hữu "nghề cá làng" phải đưa

ra các quy định quản lý cần thiết: tiêu chuẩn của những ngư dân tham gia,

phương pháp xác định việc ra vào ngư trường, thời gian và ngư cụ [4, đ.38]

Các báo cáo này phải gởi đến cho người đứng đầu Shi/Kun/Ku3 tự trị

Giấy phép nghề cá do "Hội khai thác của làng" hoặc "Tổ chức huyện"

sở hữu có thể chuyển nhượng hoặc phân chia giữa các "Hội khai thác của các

làng", các "Tổ chức huyện" hoặc giữa "Hội khai thác của làng" với "Tổ chức

huyện" do sự hợp nhất, phân chia, thay đổi vùng hoạt động hoặc do các hiệp

thương chung Tuy nhiên, không được thế chấp giấy phép hoạt động nghề cá

thuộc sở hữu của "Hội khai thác của làng" hoặc "Tổ chức huyện" [4, đ.19]

3

Các đơn vị hành chính của Hàn Quốc

Trang 31

1.2.1.3 Philippines:

Philippines có lịch sử lâu dài thực hiện quyền đánh cá truyền thống

của cộng đồng Tuy nhiên, dưới thời thuộc Tây Ban Nha và Mỹ, quyền lợi và

quyền hạn của cộng đồng bị xoá bỏ thay bằng quyền kiểm soát ngư trường

của chính quyền cấp Bang Cấu trúc này tồn tại cho đến ngày nay

Năm 1991, Chính phủ nhận thấy cần thiết phải tăng cường sự tham gia

của cộng đồng cấp cơ sở trong quản lý nghề cá Theo đó, chính sách phân

quyền quản lý nghề cá ven bờ cho chính quyền thành phố tự trị và cộng đồng

ngư dân địa phương được ban hành qua "Luật Chính quyền Địa phương

1991" (The Local Government Code 1991) Dưới luật này, chính quyền đã

khuyến khích hoạt động quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng nhằm bảo vệ

nguồn lợi thuỷ sản ven bờ và nâng cao thu nhập cho ngư dân nghèo

Luật Thuỷ sản Philippines 1998 một lần nữa khẳng định việc khuyến

khích tổ chức ngư dân địa phương Các hiệp hội, tổ chức ngư dân được hưởng

ưu đãi về quyền đánh cá do Hội đồng thành phố địa phương giao cho theo

mục 149, Luật Chính quyền địa phương 1991 [5, mục 17/16.9] Mọi hoạt

động nghề cá trong các "vùng nước địa phương", theo quy định của Luật,

được thực hiện bởi các ngư dân địa phương, những người nằm trong danh

sách đăng ký các hiệp hội, tổ chức của ngư dân [5, mục 18/16.9]

Một số các dự án thành công chứng minh quản lý nghề cá dựa vào

cộng đồng là phương pháp tốt nhất để quản lý nghề cá ven bờ Các dự án đó

đã phác họa: (1) tổ chức hoặc các tổ chức cộng đồng thành lập và tồn tại; (2)

khu bảo tồn biển, được bảo vệ bởi tổ chức cộng đồng; (3) nguồn sinh sống

dựa vào nguồn lợi thủy sản ven bờ; (4) mạng lưới công việc đồng thuận với

chính phủ và các tổ chức phi chính phủ [52, tr.155-156]

Trang 32

Hiện nay, Philippines có hơn 400 khu bảo tồn biển do địa phương

quản lý được thành lập [35, tr.1]

1.2.1.4 Thailand:

Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng chỉ tồn tại trong truyền thống

quản lý nghề cá nội địa Thailand Hiện nay, quản lý nghề cá tập trung với hệ

thống pháp luật hiện hành, trong tổng thể không giải quyết được nạn khai thác

quá mức và mâu thuẫn giữa nghề cá cỡ nhỏ và nghề cá thương mại

Từ năm 1993, Cục Nghề cá Thailand cùng Khoa Thuỷ sản, Đại học

Kasetsart thiết lập chương trình quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng Năm

1994, Cục Nghề cá đã thực nghiệm hệ thống “quyền đánh cá” và cấp cho

cộng đồng ngư dân cấp cơ sở như là bước chuẩn bị dự án thí điểm và dự thảo

Luật Thuỷ sản mới Có 4 tỉnh được lựa chọn như những vùng thí điểm Trong

mỗi tỉnh, một cộng đồng nghề cá mà nhóm ngư dân đã phát triển tốt, được

chọn để trình diễn cho các hội đoàn ngư dân trong tỉnh Sau đó, Cục Nghề cá

ban "quyền đánh cá" trong một vùng biển xác định đến các nhóm ngư dân

[59, tr.5] Những ngư dân là thành viên của nhóm có quyền đánh cá trong ngư

trường xác định, và có trách nhiệm quản lý nghề cá Tổ chức cộng đồng có

những quy định giới hạn số lượng tàu cá và các loại ngư cụ được phép hoạt

động trong ngư trường, vì đó là nguồn lợi của chính họ, nên nguồn lợi thủy

sản ngày càng được quản lý hữu hiệu

Thông qua một số dự án, Chính phủ Thailand thử nghiệm phân quyền

và trách nhiệm quản lý nghề cá ven bờ cho các cộng đồng vụng, vịnh cả

việc phân phối nguồn lực ngân quỹ, quỹ luân chuyển [61, tr.69]

1.2.1.5 Campuchia:

Hệ thống quản lý nghề cá nội địa thông qua các lô đánh cá (fishing

lots) được sử dụng truyền thống, nhất là ở Biển Hồ (Tonle Sap) Để khuyến

Trang 33

khích "Nghề cá Cộng đồng" (Community Fisheries), thực hiện quản lý nghề

cá dựa vào dân, Nhà nước Campuchia hiện từng bước thu hồi các lô đánh cá

của tư nhân, cấp cho các Hội ngư dân ở cơ sở

Một số mô hình tổ chức ngư dân kiểu Nhật Bản được xây dựng đầu

tiên do Viện Kỹ nghệ châu Á (AIT) giúp đỡ năm 1994 tại tỉnh Svay Rieng, do

FAO hỗ trợ năm 1995 tại tỉnh Siem Reap Vào năm 1998, các tổ chức "Nghề

cá Cộng đồng" được thành lập ở hai tỉnh Kratie và Strung Treng, Nhà nước

giao quyền đánh cá trong khu vực nhất định cho tổ chức ngư dân cấp cơ sở để

quản lý cùng Nhà nước Sau khi có kết quả tốt, nhà Vua ban hành Chỉ dụ

Hoàng gia về việc thành lập "Nghề cá Cộng đồng" vào năm 2000 Sau đó,

Chính phủ Hoàng gia Campuchia đã ra quyết định thực hiện Chỉ dụ nói trên

Ví dụ điển hình4: Nghề cá Cộng đồng "Boeun Thkash" tại Quyền

đánh cá số 5 được thành lập năm 2001 với 208 thành viên, dưới sự điều phối

của Chi cục Thuỷ sản tỉnh Kampong Cham bao gồm 2 làng của xã Chulasa,

huyện Bathey Khu vực 2.810 ha, chiếm 66,79% diện tích của "lô đánh cá" số

5 trước đây được trích lại, giao lại cho tổ chức nghề cá cộng đồng này tham

gia quản lý, bảo vệ, bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn lợi thuỷ

sản Ban Quản lý Nghề cá Cộng đồng (Community Fisheries Management

Committee) thường có có 4 thành viên, được phân định nhiệm vụ ở Ban Quản

lý Nghề cá Cộng đồng "Boeun Thkash" như sau: (1) Trưởng Ban, trách nhiệm

chỉ đạo chung; (2) Phó Ban thứ nhất, trách nhiệm hành chính và kế toán, làm

việc với một Thư ký; (3) Phó Ban thứ nhì, trách nhiệm giáo dục và khuyến

ngư, làm việc với một Trợ lý; (4) Phó Ban thứ ba, phụ trách đội tuần tra và

hoạt động, làm việc với một Trợ lý

Cấu trúc hoạt động điển hình của tổ chức "Nghề cá Cộng đồng" có thể

phác hoạ: dưới Ban Quản lý có Đội tuần tra, dưới Đội tuần tra có các Tổ tuần

Trang 34

tra theo từng thôn làng, dưới cùng là các nhóm ngư dân Xem sơ đồ cấu trúc

cụ thể hình 1.2 dưới đây

Hình 1.2: Cấu trúc của Nghề cá Cộng đồng "Kompong Phluk"5

Với thể chế tương đối rõ nét so với các nước Đông Nam Á khác, hệ

thống "Nghề cá Cộng đồng" phát triển nhanh chóng và rộng khắp Campuchia

Kết quả, năm 2001 có 165 tổ chức Nghề cá Cộng đồng và lên đến 368 tổ chức

vào năm 20056 [58, tr.31]

1.2.2 Các nghiên cứu và triển khai ở trong nước

Các nghiên cứu của một số tác giả trong nước [36, 37a, 37b, 39] chỉ

ra rằng "quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng" và thậm chí "đồng quản lý"

không phải là khái niệm mới mẻ đối với Việt Nam, có mới chăng chỉ là ở tên

cá Cộng đồng ở Campuchia (vào thời điểm gặp Nghiên cứu sinh ở Siem Reap - Campuchia, tháng 5/2007)

Tổ tuần tra Kok Kdol

12 thành viên

Tổ tuần tra Dey Kraohom

Tổ tuần tra Thnal Kombot

11 thành viên

Trang 35

gọi mà thôi Khoảng 400 năm trước nghề cá sông ở Việt Nam đã được giao

cho các cộng đồng ngư dân đánh cá quản lý và tự điều chỉnh phân chia quyền

thả lưới ở từng quãng sông Dưới triều đại nhà Nguyễn, nghề cá đầm phá ở

Thừa Thiên Huế được Nhà nước giao cho các làng quản lý theo thể thức lãnh

trưng Tại miền Bắc Việt Nam, các Chuôm ở từng làng và các đầm ở trên các

cánh đồng thường là nơi đánh cá chung của cả làng nhưng là của từng làng

riêng biệt,…

Từ khoảng 1995 trở lại nay, các nghiên cứu triển khai về quản lý thuỷ

sản dựa vào cộng đồng hoặc đồng quản lý đã bắt đầu trở lại

1.2.2.1 Hải Phòng:

Mô hình quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng xã Phù Long

được phối hợp thực hiện bởi Trung tâm Phát triển Nông thôn (Hà Nội), Chi cục

Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản Hải Phòng và UBND huyện Cát Hải dưới sự trợ

giúp của Viện Konrad Adenauer (KAS), là tổ chức phi chính phủ của Đức, từ

năm 1999 Ý tưởng chính của dự án "quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng

đồng" là phân cấp cho địa phương và lôi kéo sự tham gia đông đảo của những

người sử dụng nguồn lợi vào việc bảo vệ chính những nguồn lợi đó Mục tiêu

dự án là triển khai thí điểm mô hình quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng

đồng để khi có điều kiện, có thể nhân rộng trên toàn huyện [41, tr.78]

Một số kết quả đạt được của mô hình: Nhận thức và năng lực của

cộng đồng từng bước được nâng cao; Thả phao và khai trương khu bảo tồn

nguồn lợi xã Phù Long vào tháng 3/2003; Hội đồng quản lý khu bảo tồn

nguồn lợi với 10 thành viên là các ngư dân và cán bộ địa phương được thành

lập do Chủ tịch UBND xã đứng đầu, bên cạnh đó Đội tuần tra, kiểm soát với

6 thành viên cũng được lập ra với nhiệm vụ chính là tuần tra, phát hiện và

ngăn chặn các hoạt động khai thác bất hợp pháp trong phạm vi khu bảo tồn

Trang 36

nguồn lợi; Nguồn lợi thuỷ sản có dấu hiệu bắt đầu phục hồi; Bước đầu định

hướng phát triển các hoạt động khai thác thân thiện với môi trường

Các vấn đề còn tồn đọng, cần giải quyết lúc kết thúc dự án là: Chưa

có khung pháp lý cho khu bảo tồn biển Phù Long; Chưa có cơ chế tài chính để

tiếp tục duy trì các hoạt động của khu bảo tồn; Năng lực quản lý khu bảo tồn

của cán bộ và cộng đồng dân địa phương chưa cao; Chưa có sự nhất trí giữa

các ban ngành cấp huyện, tỉnh và địa phương [41, tr.110]

1.2.2.2 Khánh Hoà:

Mô hình Bảo tồn biển Rạn Trào do địa phương quản lý ở thôn Xuân

Tự, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, được phối hợp thực hiện

bởi Liên minh Sinh vật biển Quốc tế Việt Nam7

và UBND huyện Vạn Ninh từ năm 2001 đến 2004

Mục tiêu là quản lý và bảo tồn tốt hệ sinh thái san hô Rạn Trào (27

hecta) tại xã Vạn Hưng, thông qua áp dụng đồng quản lý và quản lý có sự

tham gia của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, khai thác và

nuôi trồng thuỷ sản bền vững Các mục tiêu khác, như: Nâng cao năng lực

người dân trong bảo vệ môi trường; Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý

và sử dụng hợp lý nguồn lợi ven bờ; Xây dựng một mô hình quản lý vùng ven

biển để phổ biến và áp dụng tại các vùng biển khác của Việt Nam

Các kết quả đạt được là: Sự liên hệ khăng khít giữa chính quyền, Ban

Quản lý Dự án và người dân; Ban Quản lý Dự án được UBND huyện thành

lập; "Nhóm hạt nhân" do UBND xã Vạn Hưng thành lập trên cơ sở được cộng

đồng bầu chọn, gồm 8 người dân và 1 chiến sỹ biên phòng; Tháng 3/2002,

Khu Bảo tồn chính thức ra đời với việc xác định các cột mốc ranh giới, nhà

bảo vệ; Nguồn lợi thuỷ sản bước đầu có dấu hiệu phục hồi

7

Nay là Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng

Trang 37

Những hạn chế được phát hiện lúc kết thúc Dự án: Hoạt động của Dự

án chưa gắn kết với các quy hoạch phát triển của chính quyền địa phương;

Chưa mở rộng được mô hình ra ngoài thôn Xuân Tự, để các cộng đồng hưởng

lợi; Chưa có kế hoạch khai thác hợp lý và hoàn chỉnh, để xảy ra tranh chấp

khai thác thuỷ sản sau khi nguồn lợi có dấu hiệu hồi phục; Việc trợ giúp của

cơ quan Nhà nước cho nhóm hạt nhân chưa đủ, thể chế chưa mạnh và hiệu

quả chưa cao [23, tr.4] Theo Đào Văn Thiện và Nguyễn Thu Huệ (2004):

Thu hút được cộng đồng tham gia thành lập khu bảo tồn biển tại địa phương

là một thành công lớn nhưng chưa đủ, Nhà nước cần tạo thể chế và khuyến

khích các sáng kiến quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào dân [35, tr.1]

1.2.2.3 Đắc Lắc:

Dự án "Quản lý nghề cá hồ chứa" do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng

Thuỷ sản III thực hiện, dưới sự tài trợ của Uỷ hội sông Mê Công (MRC) bắt

đầu từ tháng 8 năm 1995 Mục tiêu của giai đoạn 1 là “nâng cao năng lực cho

các cơ quan thủy sản về lập kế hoạch và quản lý nghề cá hồ chứa bền vững”

Đồng quản lý dựa trên cơ sở cộng đồng là mục tiêu lâu dài của dự án, nhằm đạt

được sản lượng thủy sản cao và bền vững thông qua việc quản lý hồ chứa có sự

thống nhất giữa cộng đồng và Nhà nước [50, tr.1] Giai đoạn 2 bắt đầu từ tháng

3 năm 2000, với mục tiêu là thiết lập mô hình đồng quản lý bền vững và triển

khai nhân rộng nhằm đạt được sản lượng thủy sản tối ưu trong các hồ chứa

Dự án đã tiến hành các nghiên cứu về sinh học và kinh tế xã hội tại 6

hồ được chọn, có diện tích mặt nước từ 5,37 hecta đến 658 hecta, ở tỉnh Đắc

Lắc, Tây Nguyên, Việt Nam Phương thức quản lý giữa các hồ được chọn

cũng khác nhau, không có sự đồng nhất nào trong sự quản lý các hồ chứa Dự

án đã cố gắng đưa ra được một mô hình quản lý để các nhà quản lý thuỷ sản

có thể áp dụng thử nghiệm và sau đó phát triển nhân rộng cho những hồ khác

Trang 38

Hồ đầu tiên được thử nghiệm mô hình đồng quản lý là hồ Easoup,

tháng 6 năm 1998 Cho đến nay đã thiết lập mô hình đồng quản lý nghề cá

trên 3 hồ có tổ chức ngư dân: Hội Nghề cá hồ Easoup thành lập 1999 bởi

UBND xã Easoup, là thành viên của Hội Nông dân thị trấn Easoup; Tổ Ngư

dân hồ Buôn Tría được UBND xã Buôn Tría thành lập từ năm 2001; Hội

Nghề cá hồ Lak do UBND tỉnh Đắc Lắc thành lập năm 2002 Các hồ khác

cũng đã được khẳng định là không phù hợp với mô hình "đồng quản lý"

Tiến trình xây dựng mô hình đồng quản lý qua thực tiễn của dự án

được tóm tắt bằng sơ đồ ở Hình 1.3

Các vấn đề tồn đọng cho đến nay, được tóm lược [50, tr.4]:

- Thiếu tài chính để thực hiện các kế hoạch hoạt động khi chỉ dựa trên

nguồn tài chính thông qua thuế và phí hội viên Hoạt động thả cá và tuần tra

bảo vệ cần nhiều sự đóng góp về tài chính từ các thành viên cũng như các tổ

chức cơ quan Dự án cũng không có nguồn tài chính để tài trợ cho các hoạt

động này của hội và các Chi hội cũng không có khả năng để đóng góp

- Chính quyền cấp huyện vẫn còn thờ ơ, chưa bố trí cán bộ chuyên

trách quản lý, theo dõi nghề cá Cán bộ chuyên trách này được kỳ vọng sẽ là

cầu nối quan trọng giữa Hội Nghề cá, chính quyền địa phương và các cơ quan

ban ngành khác khi Dự án kết thúc

Qua các tồn đọng của việc triển khai mô hình "đồng quản lý nghề cá"

ở Đắc Lắc, có thể thấy: động lực thực hiện "đồng quản lý nghề cá" chưa được

làm rõ, nguy cơ không có kế thừa thực hiện "đồng quản lý nghề cá" khi Dự án

kết thúc vì không tồn tại bất kỳ thể chế, cam kết nào từ phía chính quyền

Trang 39

Các thảo luận thăm dò với các bên liên quan

Không ủng hộ? Rút lui

Ủng hộ

Gặp gỡ các bên liên quan (PRA): các bên liên quan? Các vấn đề? Hướng giải quyết?

Tiếp tục thăm dò các bên liên quan Xác định/ tìm ra các vần đề: Mâu

thuẫn?

các vấn đề chung? Các hoạt động?

Cơ cấu đại diện cho ngư dân?

Xác định các mối liên quan cần thiết Các hoạt động ban đầu

(tập huấn/ điều tra, vv )

Sắp xếp các mối liên kết Xác định nhóm lãnh đạo tiềm năng

Tổ chức nhóm lãnh đạo của cộng đồng/ thiết lập mối liên quan với các cơ quan hữu quan

Tổ chức bầu cử/ Thiết lập hội ngư nghiệp

Tập huấn/ phối hợp nghiên cứu/ quản lý hành chính, kỹ thuật, hỗ trợ tài chính/ Liên hệ các cơ quan hữu quan

Phối hợp với các bên liên quan xác định mô hình đồng quản lý

Quyết định thành lập mô hình đồng quản lý

LẬP KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG, THỰC HIỆN, GIÁM SÁT,

LƯỢNG GIÁ

Trang 40

1.2.3 Các nghiên cứu và triển khai tại Thừa Thiên Huế

1.2.3.1 Quảng Thái trước đây:

Mô hình "Bảo vệ, chống nghề rà điện dựa vào cộng đồng" được triển

khai trong giai đoạn 1995 - 1996 tại xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền, với

sự tham gia của nhóm nghiên cứu đa ngành, từ: Đại học Nông Lâm Huế, Đại

học Khoa học Huế và Sở Thuỷ sản Thừa Thiên Huế dưới sự tài trợ của dự án:

"Quản lý nguồn lợi sinh học đầm phá Tam Giang" (1995 - 2000) do Trung

tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC), Canada triển khai

Uỷ quyền

Giám sát

Chi phí

Hình 1.4: Sơ đồ mô hình chống rà điện dựa vào cộng đồng [1, tr.101]

Tiến trình thực hiện: (1) thành lập nhóm hoạt động, (2) nhóm hoạt

động thuyết phục sự ủng hộ của cộng đồng để thực hiện, (3) tiếp xúc Chi cục

Bảo vệ Nguồn lợi và UBND xã để thông qua kế hoạch, (4) chọn những người

bảo vệ ở địa phương, (5) xây dựng các quyết định của cộng đồng về việc thực

hiện các quy định (bước đầu là cấm nghề rà điện, sau đó có thể thay các mục

tiêu khác khi đã đạt được mục tiêu ban đầu), (6) giám sát và đánh giá việc

thực hiện quy định [1, tr.101]

Bước đầu mô hình đã thu được kết quả khả quan, đã hạn chế phần lớn

nghề rà điện trong thời điểm đó Tuy nhiên, việc duy trì mô hình trên là khó

khăn khi thuyền máy được tài trợ đã hư hỏng và Dự án đã kết thúc Mặt khác,

Ngày đăng: 06/03/2015, 11:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Hình ảnh của việc sắp xếp đồng quản lý nghề cá [62, tr.9] - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Hình 1.1 Hình ảnh của việc sắp xếp đồng quản lý nghề cá [62, tr.9] (Trang 18)
Hình 1.2: Cấu trúc của Nghề cá Cộng đồng "Kompong Phluk" 5 - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Hình 1.2 Cấu trúc của Nghề cá Cộng đồng "Kompong Phluk" 5 (Trang 34)
Hình 1.3: Sơ đồ tóm tắt tiến trình thực hiện mô hình đồng quản lý [50] - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Hình 1.3 Sơ đồ tóm tắt tiến trình thực hiện mô hình đồng quản lý [50] (Trang 39)
Hình 1.4: Sơ đồ mô hình chống rà điện dựa vào cộng đồng [1, tr.101] - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Hình 1.4 Sơ đồ mô hình chống rà điện dựa vào cộng đồng [1, tr.101] (Trang 40)
Hình 1.5: Ảnh tổng thể các vùng khai thác thuỷ sản Thừa Thiên Huế - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Hình 1.5 Ảnh tổng thể các vùng khai thác thuỷ sản Thừa Thiên Huế (Trang 51)
Bảng 1.2: Các nghề khai thác chính ở đầm phá Thừa Thiên Huế [32]. - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Bảng 1.2 Các nghề khai thác chính ở đầm phá Thừa Thiên Huế [32] (Trang 53)
Hình 2.2: Sơ đồ khái quát quản lý nghề cá theo Yamamoto, 1997 [70] - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Hình 2.2 Sơ đồ khái quát quản lý nghề cá theo Yamamoto, 1997 [70] (Trang 70)
Hình 2.3: Sơ đồ Tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu của Đề tài  Các  phương  pháp  thuộc  nhóm  nghiên  cứu  lý  thuyết  và  phi  thực  nghiệm nói trên đã giúp xác định tốt các luận điểm nghiên cứu - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Hình 2.3 Sơ đồ Tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu của Đề tài Các phương pháp thuộc nhóm nghiên cứu lý thuyết và phi thực nghiệm nói trên đã giúp xác định tốt các luận điểm nghiên cứu (Trang 78)
Bảng 2.2: Kết quả chấm điểm lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình  T - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.2 Kết quả chấm điểm lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình T (Trang 82)
Hình 2.4: Phân bố ngư trường nò sáo và nuôi cá lồng xã Quảng Thái [32] - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Hình 2.4 Phân bố ngư trường nò sáo và nuôi cá lồng xã Quảng Thái [32] (Trang 85)
Bảng 2.3: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Chi hội Hoạt động/Tổ chức: - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.3 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Chi hội Hoạt động/Tổ chức: (Trang 88)
Bảng 2.4: Phân tích các bên liên quan và phương pháp giải quyết  Nhóm  người - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.4 Phân tích các bên liên quan và phương pháp giải quyết Nhóm người (Trang 89)
Bảng 2.7: Kế hoạch thực hiện quy hoạch và nguồn lực cần thiết - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.7 Kế hoạch thực hiện quy hoạch và nguồn lực cần thiết (Trang 91)
Bảng 3.1: Quá trình phát triển tổ chức ngƣ dân tại Quảng Thái - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.1 Quá trình phát triển tổ chức ngƣ dân tại Quảng Thái (Trang 94)
Hình 3.1 dưới đây giới thiệu về cơ cấu tổ chức và vận  hành của Chi  hội Nghề cá Quảng Thái cũng nhƣ lƣợng thành viên cấu thành các phân hội - nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh thừa thiên huế
Hình 3.1 dưới đây giới thiệu về cơ cấu tổ chức và vận hành của Chi hội Nghề cá Quảng Thái cũng nhƣ lƣợng thành viên cấu thành các phân hội (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm