1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao ý thức học tập môn ngữ văn cho học sinh khối 11 bằng một số biện pháp khơi gợi hứng thú

24 608 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tôi đưa ra giải pháp yêu cầu học sinh thực hiện khâu chuẩn bị bài ở nhà và hoạt động xây dựng bài mới bằng một số hình thức như

Trang 1

Phụ lục 2 Thiết kế tiết dạy “Chí Phèo” (Tiết 1) 13,14,15

Trang 2

ĐỀ TÀI NÂNG CAO Ý THỨC HỌC TẬP MÔN NGỮ VĂN CHO HỌC SINH KHỐI 11

BẰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHƠI GỢI HỨNG THÚ

Người nghiên cứu:

Lương Thanh Hưởng,

Giáo viên, Trường THPT Phan Bội Châu, Sở GD&ĐT Khánh Hòa

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Hiện nay, ý thức học tập, lòng say mê đối với môn Ngữ văn của học sinh khối 11 nói riêng và học sinh THPT nói chung ngày càng có chiều hướng giảm sút Nhiều học sinh, nhất là những em lựa chọn cho mình khối thi đại học không có môn học này trở nên không quan tâm, thậm chí bỏ bê việc học Văn Tuy nhiên, môn Ngữ văn lại đóng một vai trò không nhỏ trong việc bồi dưỡng, giáo dục tình cảm, nhân cách; đồng thời cung cấp những kiến thức và kĩ năng cần thiết cho học sinh khi bước vào đời Nếu không nâng cao được ý thức học tập và chất lượng dạy học bộ môn thì sau này hành trang của những chủ nhân đất nước sẽ khiếm khuyết một phần rất quan trọng

Một trong những yếu tố của phương pháp có khả năng nâng cao ý thức học tập Ngữ văn cho học sinh là việc sử dụng một số biện pháp thu hút sự quan tâm, tò mò, khơi gợi hứng thú học tập cho các em Chính vì thế, nghiên cứu và triển khai ứng dụng các biện pháp này là một việc làm cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn

Thực tế giảng dạy cho thấy: vì không hứng thú nhiều với môn học nên học sinh thực hiện khâu chuẩn bị bài chưa kĩ, học bài cũ một cách máy móc và dẫn đến kết quả học tập không được như mong đợi Trong khi đó, Ngữ văn lại là một môn học mang tính nghệ thuật đòi hỏi người học phải có cảm hứng nên các thầy cô giáo luôn trăn trở để có thể tìm ra giải pháp nhằm cải thiện tình hình trên

Xuất phát từ thực tế, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tôi đưa ra giải pháp yêu cầu học sinh thực hiện khâu chuẩn bị bài ở nhà và hoạt động xây dựng bài mới bằng một số hình thức như vẽ tranh, hát múa, diễn kịch, trả lời câu hỏi kích thích sự tò mò… nhằm mục đích khơi gợi hứng thú học tập để từ đó nâng cao ý thức và chất lượng học Ngữ văn Tuy nhiên, trên thực tế, bằng lòng yêu nghề và nghệ thuật đứng lớp, giáo viên cần kết hợp giải pháp trên với rất nhiều hình thức khác: tổ chức ngoại khóa, chia sẻ kinh nghiệm học tập (tham khảo phụ lục 7 – trang 21, 22), khích lệ, động viên học sinh Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương: hai lớp 11A, Trường THPT Phan Bội Châu Lớp 11A1 là lớp thực nghiệm và 11A2 là lớp đối chứng Lớp thực

Trang 3

nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế khi dạy học các bài: “Hai đứa trẻ”, “Chữ người tử tù”, “Hạnh phúc của một tang gia”, “Chí Phèo”, “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”,

“Tình yêu và thù hận” ở học kì I Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng tích cực rõ rệt đến việc khơi gợi hứng thú, nâng cao ý thức và kết quả học tập Ngữ văn của học sinh: lớp thực nghiệm đã đạt kết quả cao hơn so với lớp đối chứng Điểm bài kiểm tra sau khi tác động của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 7,2; điểm bài kiểm tra sau khi tác động của lớp đối chứng có giá trị trung bình là 6,3 Kết quả kiểm chứng T-test cho thấy p = 0,0001 < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Điều đó chứng minh rằng sử dụng các biện pháp khơi gợi hứng thú trong dạy học Ngữ văn làm nâng cao ý thức và chất lượng học bộ môn của học sinh khối 11 tại trường THPT Phan Bội Châu

GIỚI THIỆU

Những năm gần đây, dù giáo viên đã có cố gắng nhưng thực sự chưa khơi gợi được hứng thú học tập Hứng thú, ý thức cũng như kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh THPT chưa thỏa mãn được sự kì vọng của xã hội Học sinh học văn đa số là thực hiện cho xong nhiệm vụ, cốt đủ điểm để đạt được kết quả cho một mục đích khác mà không phải vì sự đam mê, hiếu học: học bài cũ qua loa, chuẩn bị bài mới ở nhà sơ sài (chỉ một

số học sinh đọc tác phẩm và tự mình trả lời câu hỏi hướng dẫn học bài, số còn lại thường soạn bài bằng cách chép câu trả lời từ tài liệu tham khảo) và khi lên lớp các em chưa có khí thế xây dựng bài, tiếp thu bài còn ít nhiều thụ động, máy móc

Qua khảo sát thực trạng về kiến thức và kĩ năng làm bài của hai lớp 11A1 và 11A2 Trường THPT Phan Bội Châu bằng bài viết số 2, kết quả thu được cho thấy học sinh chưa nỗ lực làm bài, nắm kiến thức và kĩ năng làm văn ở mức độ trung bình (xem đề, đáp án và điểm kiểm tra trước tác động phần phụ lục)

Thực tế cụ thể trên nói riêng và thực trạng dạy học văn nói chung bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân Các nguyên nhân này có liên quan mật thiết với nhau:

- Do sự tác động của nền kinh tế thị trường khiến nhiều giá trị nhân văn truyền thống

bị xem nhẹ, con người bị cuốn hút vào những điều thực tế hơn những giá trị văn hóa tinh thần trừu tượng Hơn nữa, cuộc sống hiện đại diễn ra hối hả, xô bồ, chúng ta ít có thời gian và điều kiện nhìn nhận và suy ngẫm về những giá trị tinh thần ấy Đối với học sinh, lứa tuổi nhạy bén với cái mới, thích nghi nhanh chóng với cuộc sống hiện đại,

ngay cả những trò giải trí, tiêu khiển cũng là sản phẩm của công nghệ mới thì việc văn

hóa nghe nhìn đang dần thay thế cho văn hóa đọc ở lứa tuổi này cũng là một điều không

Trang 4

khó giải thích Càng ngày, học sinh đọc sách càng ít, điều đó kéo theo thực tế học sinh không đọc tác phẩm để chuẩn bị bài trước khi lên lớp và khó có hứng thú khi nghe giáo viên diễn giảng về những điều trong các tác phẩm cách đây hàng chục, thậm chí hàng trăm năm Đây là một thực tế gây rất nhiều khó khăn cho người dạy, vì cái gốc, cái cốt lõi của việc học Văn là tiếp cận được văn bản đã không được chú ý

- Học sinh đến trường tiếp thu kiến thức và trang bị kĩ năng nhằm có được một nghề nghiệp trong tương lai để có thể tồn tại và phục vụ cho nhu cầu xã hội Trong khi đó, môn Văn hiện nay có mặt trong các khối thi và các ngành nghề không nhiều, vì thế không được gia đình và bản thân học sinh quan tâm

- Một nguyên nhân khác là không phải tất cả các giáo viên dạy Văn đều có điều kiện

và khả năng thu hút sự quan tâm, khơi gợi được hứng thú của học sinh Đây là một môn học đòi hỏi người dạy phải có cả một nghệ thuật mới mang lại được kết quả hoàn thiện

William A Ward đã từng nói “Người thầy trung bình chỉ biết nói Người thầy giỏi biết giải thích Người thầy xuất chúng biết minh họa Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng” Quả thật, cảm hứng đóng một vai trò không nhỏ trong hoạt động học tập

của học sinh Hơn nữa, với thực trạng nói trên, người giáo viên dạy Văn lại càng phải cố gắng nhiều hơn để khiến học sinh trở lại với môn “Nhân học” này Vì vậy, trong các nguyên nhân đã đề cập, đề tài chỉ lựa chọn, tập trung vào một nguyên nhân gây nên tình trạng học sinh chưa có ý thức học Văn và kết quả học tập còn thấp, đó là nguyên nhân trực tiếp: học sinh không có hứng thú nên không chuẩn bị bài tốt (không tiếp cận văn bản) và chưa có tinh thần xây dựng bài sôi nổi trong giờ học

Giải pháp thay thế: Giải pháp của tôi là bằng nghệ thuật của người giáo viên yêu

cầu học sinh thực hiện khâu chuẩn bị bài ở nhà và hoạt động xây dựng bài mới bằng một số hình thức như vẽ tranh, hát múa, diễn kịch, trả lời câu hỏi kích thích sự tò mò… nhằm mục đích khơi gợi hứng thú học tập để từ đó nâng cao ý thức và chất lượng học Ngữ văn

Về vấn đề khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh, đã có những bài viết trình bày hoặc đề cập đến Ví dụ:

- “Đặc điểm hứng thú đối với các môn học của học sinh THPT” – Nhóm tác giả Đinh Thị Sao, Phùng Thị Sơn, Trịnh Thị Hồng Thúy, Trường ĐHSP Hà Nội

- “Tạo hứng thú trong giờ dạy học văn bằng cách tổ chức thảo luận nhóm và trò chơi” – Tác giả Phạm văn Hiếu, Trường THCS Ngô Quyền, Tuy Đức, Đăk Nông

- “Hứng thú học tập môn văn” – Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Lánh, Trường THCS Phú Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình

Trang 5

Vấn đề nghiên cứu: Việc yêu cầu học sinh thực hiện khâu chuẩn bị bài ở nhà và

hoạt động xây dựng bài mới bằng một số hình thức như vẽ tranh, hát múa, diễn kịch, trả lời câu hỏi kích thích sự tò mò… có khơi gợi hứng thú học tập để từ đó nâng cao ý thức

và chất lượng học Ngữ văn của học sinh khối 11 THPT hay không?

Giả thuyết nghiên cứu: Việc yêu cầu học sinh thực hiện khâu chuẩn bị bài ở nhà và

hoạt động xây dựng bài mới bằng một số hình thức như vẽ tranh, hát múa, diễn kịch, trả lời câu hỏi kích thích sự tò mò… sẽ khơi gợi hứng thú học tập để từ đó nâng cao ý thức

và chất lượng học Ngữ văn của học sinh khối 11 THPT

PHƯƠNG PHÁP

a) Khách thể nghiên cứu

Để có kết quả nghiên cứu chính xác và khách quan, tôi lựa chọn hai lớp 11A1 và 11A2 của trường THPT Phan Bội Châu làm đối tượng khảo sát: lớp 11A1 là lớp thực nghiệm, lớp 11A2 là lớp đối chứng Hai lớp được lựa chọn tham gia nghiên cứu trên có

sự tương đương về các mặt:

- Tổng số lượng học sinh, số học sinh nam, số học sinh nữ

- Độ tuổi, môi trường học tập

- Ý thức học tập: các em ở hai lớp này đều có ý thức học tập tốt

- Chất lượng học tập nói chung, kết quả môn Văn nói riêng: hai lớp có điểm số các môn học tương đương nhau

Bảng 1 Đặc điểm giới tính và kết quả học tập năm học trước của học sinh hai lớp

được chọn

Giới tính Lớp

TN

Lớp ĐC

Học lực(ĐTB cả năm)

Lớp TN

Lớp ĐC

Học lực môn Văn

Lớp TN

Lớp ĐC

Trang 6

b) Thiết kế

Chọn lớp 11A1 là nhóm thực nghiệm, lớp 11A2 là nhóm đối chứng và tiến hành kiểm tra các kiến thức cơ bản để đánh giá và so sánh mức độ của hai lớp trước tác động Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai lớp có sự khác nhau Do đó, tôi dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hailớp trước khi tác động

p = 0,244 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm TN và

ĐC là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương

Ở nghiên cứu này, tôi sử dụng thiết kế thứ hai làm thiết kế nghiên cứu cho đề tài:

Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương.

Bảng 3 Thiết kế nghiên cứu

Thực nghiệm O1 Yêu cầu học sinh thực hiện

khâu chuẩn bị bài ở nhà và hoạt động xây dựng bài mới bằng một số hình thức như vẽtranh, hát múa, diễn kịch, trảlời câu hỏi kích thích sự tò mò…

O3

Đối chứng O2 Không tác động Học sinh

chuẩn bị bài mới theo câu hỏi hướng dẫn học bài và lên lớp hoạt động theo tiến trình tổchức các hoạt động

O4

Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-test độc lập

c) Quy trình nghiên cứu

* Khảo sát thực trạng (xem phụ lục 5 – trang 18, 19 và phụ lục 6 – trang 20).

* Chuẩn bị bài của giáo viên

Thiết kế bài dạy lớp thực nghiệm có yêu cầu học sinh thực hiện khâu chuẩn bị bài ở nhà bằng một số hình thức như vẽ tranh, tập hát múa, tập diễn kịch, và hoạt động xây dựng bài mới trong tiết dạy thực nghiệm có phần cho học sinh thể hiện những gì đã

Trang 7

chuẩn bị và trả lời câu hỏi kích thích sự tò mò…(phụ lục 1 – trang 11, 12 và phụ lục 2 –trang 13,14).

Thiết kế bài dạy lớp đối chứng ở tiết trước yêu cầu học sinh chuẩn bị bài mới theo câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa và lên lớp hoạt động theo tiến trình tổ chức các hoạt động

* Tiến hành dạy thực nghiệm

Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan

d Đo lường và thu thập dữ liệu

Bài kiểm tra trước tác động là bài viết số 2 ở học kì I Bài kiểm tra sau tác động là bài viết số 5 ở học kì II, sau khi học sinh đã được học các tiết dạy thực nghiệm (xem phụ lục 4 – trang 17 và phụ lục 5 – trang 18,19) Đánh giá học sinh sau tác động bằng cách dùng phép kiểm chứng T-test độc lập và tính mức độ ảnh hưởng đối với nhóm thực nghiệm

PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ

Bảng 4 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động

Chênh lệch giá trị TB chuẩn

(SMD)

0,9

Như trên đã chứng minh rằng kết quả hai nhóm trước tác động là tương đương Sau tác động kiểm chứng chênh lệch ĐTB bằng T-test cho kết quả p = 0,0001, cho thấy: sự

chênh lệch giữa ĐTB nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa, tức là

chênh lệch kết quả ĐTB nhóm thực nghiệm cao hơn ĐTB nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động

Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = (7,2 – 6,3)/1 = 0,9 Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0,9 cho thấy mức độ ảnh hưởng của

tác động đến nhóm thực nghiệm là lớn

Giả thuyết của đề tài “Nâng cao ý thức học tập môn Ngữ văn cho học sinh khối

11 bằng một số biện pháp khơi gợi hứng thú” đã được kiểm chứng.

Trang 8

Hình 1 Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động

của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

BÀN LUẬN

Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là điểm trung bình = 7,2;kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là điểm trung bình = 6,3 Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 0,9 Điều đó cho thấy điểm trung bình của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng

Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,9 Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn

Phép kiểm chứng T-test điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của hai lớp là p =0,0001 < 0,001 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động, nghiêng về nhóm thực nghiệm

* Hạn chế:

Nghiên cứu này sử dụng các biện pháp khơi gợi sự hứng thú của học sinh là một giải pháp tốt Tuy nhiên, để thực hiện có hiệu quả, người giáo viên dạy Văn cần kết hợp các biện pháp ấy với nghệ thuật dạy học của bản thân, không ngừng sáng tạo, đổi mới, đặc biệt cần làm chủ về thời gian trong tiết dạy và xem học sinh là những người bạn đồng hành trên con đường chinh phục các tác phẩm văn chương

1 Trước TĐ

(NTN) Trước TĐ(NĐC) Sau TĐ(NTN) Sau TĐ(NĐC)

Trang 9

Đối với giáo viên: Với nội dung của đề tài này, tôi mong rằng các thầy cô, các bạn đồng nghiệp luôn trau dồi vốn kiến thức, không ngừng học tập và thường xuyên trao đổi, sẻ chia kinh nghiệm trong việc giảng dạy để có thể nâng cao hơn nữa hứng thú,

ý thức và chất lượng học tập bộ môn của học sinh

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 PGS –TS Đặng Thành Hưng, Thiết kế phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá.

2 Nhóm biên soạn: Lê Trung Chính, Đoàn Văn Điều, Võ Văn Nam, Ngô Đình Qua,

Lý Minh Tiên, Bài giảng học phần “Đo lường và đánh giá kết quả học tập – Phương

pháp thực hành”, Khoa Tâm lý giáo dục, Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh.

3 Trần Liên Nguyễn, Đố vui về văn học nghệ thuật, NXB Thanh niên.

4 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở Đổi mới phương pháp dạy học trong các trường đại học, cao đẳng đào tạo giáo viên trung học cơ sở

Hà Nội tháng 9/2003

5 Carl Rogers, Các phương pháp dạy học hiệu quả, NXB trẻ, 2001.

6 Luật giáo dục NXB QG, Hà Nội , 1998

7 N M Iacoplep, Phương pháp và kỹ thuật lên lớp ở trường phổ thông, NXB Giáo

dục, 1975 - 1978

8 Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 10, 11, NXB Giáo dục.

9 GS Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (2004), Lịch sử văn học Việt Nam, Tập 3, NXB

ĐH Sư Phạm, Hà Nội

Trang 11

PHỤ LỤCPhụ lục 1 Một số nội dung tác động nhằm khơi gợi hứng thú cho học sinh trong từng bài cụ thể

Bài “Hai đứa trẻ”

* Câu hỏi kích thích trí tò mò trong phần dặn dò học sinh chuẩn bị bài ở nhà (ngoài những câu hỏi hướng dẫn học bài trong Sgk):

- “Tự lực văn đoàn” là gì?

- Nhân vật An trong tác phẩm là một cô bé hay cậu bé? Vì sao em (anh/chị) lại nghĩ

đó là một cậu bé (hoặc cô bé)?

- Em (anh/chị) biết gì về gia đình và con người Thạch Lam?

* Câu hỏi kích thích tư duy trong phần đọc – hiểu:

- Trong tác phẩm, chị em Liên và An hướng về ánh sáng bao nhiêu lần? Đó là những ánh sáng nào và ý nghĩa của nó?

* Hoạt động phát huy tính tích cực, năng lực hoạt động của học sinh:

GV chia bảng làm hai phần, một phần để ghi các chi tiết miêu tả ánh sáng và phần kia để ghi các chi tiết miêu tả bóng tối, hai nhóm học sinh trong lớp (thi đua) cùng lên bảng hoàn thành chỗ trống Cuối cùng, GV đàm thoại với học sinh so sánh hai yếu tố ánh sáng và bóng tối trong tác phẩm để rút ra ý nghĩa chi tiết, nghệ thuật miêu tả của Thạch Lam

* Câu hỏi kích thích tư duy trong phần đọc – hiểu:

Có người cho rằng cái cúi lạy tử tù Huấn Cao của viên quản ngục chứng tỏ nhân vật này là một con người hèn hạ, thấp kém Em (anh/chị) có đồng ý với ý kiến đó không?

* Hoạt động phát huy tính tích cực, năng lực hoạt động của học sinh:

GV cho học sinh diễn kịch đoạn cuối của tác phẩm (cảnh cho chữ)

Bài “Hạnh phúc của một tang gia”

* Câu hỏi kích thích trí tò mò trong phần dặn dò học sinh chuẩn bị bài ở nhà (ngoài những câu hỏi hướng dẫn học bài trong Sgk):

Trang 12

- Nhan đề “Hạnh phúc của một tang gia” có gì đặc biệt? Em (anh/chị) lý giải tại sao đoạn trích lại có nhan đề ấy?

- Kể tên các nhân vật trong tác phẩm và nói rõ quan hệ giữa họ? Thử lập sơ đồ thể hiện hệ thống nhân vật

- Câu nói nào của Xuân tóc đỏ gây nên cái chết của cụ cố tổ?

* Câu hỏi kích thích tư duy trong phần đọc – hiểu:

Qua đoạn trích, rút ra nghệ thuật trào phúng của tác giả?

* Hoạt động phát huy tính tích cực, năng lực hoạt động của học sinh:

GV cho học sinh hóa trang làm nhân vật Xuân tóc đỏ, thử sáng tạo và thể hiện một

số lời thoại của hắn

Bài “Chí Phèo”

* Câu hỏi kích thích trí tò mò trong phần dặn dò học sinh chuẩn bị bài ở nhà:

Tên thật của “Chí Phèo” là gì? Tại sao mọi người lại gọi hắn là Chí Phèo?

* Câu hỏi kích thích tư duy trong phần đọc – hiểu: Xem phụ lục 2 – trang 13, 14

* Hoạt động phát huy tính tích cực, năng lực hoạt động của học sinh:

Phân lớp thành bốn tổ, chia truyện ngắn “Chí Phèo” thành bốn đoạn Mỗi tổ vẽ một bức tranh khắc họa lại một cảnh tiêu biểu cho đoạn truyện mà mình được phân công Yêu cầu tranh vẽ trên khổ giấy A3 theo chiều ngang (xem phụ lục 3 – trang 15, 16) GV

sử dụng bốn bức tranh học sinh chuẩn bị để minh họa cho phần tóm tắt tác phẩm và đọc – hiểu văn bản

Bài “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”

* Câu hỏi kích thích trí tò mò trong phần dặn dò học sinh chuẩn bị bài ở nhà:

- Vũ Như Tô trong đoạn trích có ước vọng gì? Tại sao ước vọng ấy không thể thực hiện được?

* Câu hỏi kích thích tư duy trong phần đọc – hiểu:

- Trình bày những mâu thuẫn trong đoạn trích kịch? Em (anh/chị) có đồng ý với cách giải quyết mâu thuẫn của tác giả không?

* Hoạt động phát huy tính tích cực, năng lực hoạt động của học sinh:

GV hướng dẫn HS đọc phân vai, cố gắng thể hiện đúng giọng điệu nhân vật

Bài “Tình yêu và thù hận”

* Câu hỏi kích thích tư duy trong phần đọc – hiểu:

Nhận xét mối quan hệ giữa tình yêu và thù hận trong đoạn trích?

* Hoạt động phát huy tính tích cực, năng lực hoạt động của học sinh:

HS đọc phân vai, diễn kịch phần trích GV cho HS xem phim trong buổi sinh hoạt

Ngày đăng: 06/03/2015, 11:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phụ lục 5. Bảng điểm các bài kiểm tra 20,21 Phụ lục 6. Kết quả thăm dò ý kiến nhóm thực nghiệm 22 Phụ lục 7 - nâng cao ý thức học tập môn ngữ văn cho học sinh khối 11 bằng một số biện pháp khơi gợi hứng thú
h ụ lục 5. Bảng điểm các bài kiểm tra 20,21 Phụ lục 6. Kết quả thăm dò ý kiến nhóm thực nghiệm 22 Phụ lục 7 (Trang 1)
Bảng 2. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương - nâng cao ý thức học tập môn ngữ văn cho học sinh khối 11 bằng một số biện pháp khơi gợi hứng thú
Bảng 2. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương (Trang 6)
Bảng 4. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động - nâng cao ý thức học tập môn ngữ văn cho học sinh khối 11 bằng một số biện pháp khơi gợi hứng thú
Bảng 4. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động (Trang 7)
Hình 1. Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động - nâng cao ý thức học tập môn ngữ văn cho học sinh khối 11 bằng một số biện pháp khơi gợi hứng thú
Hình 1. Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động (Trang 8)
Phụ lục 5. Bảng điểm kiểm tra trước và sau tác động - nâng cao ý thức học tập môn ngữ văn cho học sinh khối 11 bằng một số biện pháp khơi gợi hứng thú
h ụ lục 5. Bảng điểm kiểm tra trước và sau tác động (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w