Song thực trạng hiện nay cho thấy, tình hình dạy và học bộ môn lịch sử có xu hướng ngược lại, học sinh không yêu thích, không hứng thú với bộ môn này.Bằng đề tài sáng kiến kinh nghiệm: ”
Trang 1SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA
TRƯỜNG THPT PHAN BỘI CHÂU
Người thực hiện: Bùi Thị Kiều Oanh
Năm học: 2012 - 2013
ĐỀ TÀI
NÂNG CAO HỨNG THÚ VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP
PHẦN II LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ NĂM 1917 ĐẾN NĂM 1945 (LỊCH SỬ 11) BẰNG PHƯƠNG PHÁP
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương
pháp theo hướng lấy học sinh làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết Bản chất của dạy học lấy học sinh làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo cũng như sự hứng thú say mê trong học tập
Từ trước đến nay, chúng ta chỉ quen dạy người học “cái ” nhưng chưa bao
giờ dạy “cách” để lĩnh hội kiến thức hiệu quả nhất Để làm được điều này thì vấn đề mà người giáo viên cần nhận thức rõ là quy luật nhận thức của người học Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái
độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến thức” một cách thụ động
Trong thực tế nhiều học sinh, sinh viên học tập một cách thụ động; chỉ đơn thuần là tái hiện kiến thức một cách máy móc Học bài nào biết bài nấy, cô lập nội dung của các bộ môn chưa có sự liên kết kiến thức với nhau và với thực tiễn
vì vậy chưa phát huy được tư duy logic và tư duy hệ thống
Tại các trường phổ thông hiện nay, việc giảng dạy các môn học nói chung và lịch sử nói riêng còn gặp nhiều bất cập trong phương pháp truyền thụ tri thức cho học sinh Bằng phương pháp truyền thống thì nặng về kiến thức, ít liên hệ thực tiễn; bằng phương pháp hiện đại (Power Point) thì nặng về trình chiếu, ít đào sâu phân tích Nhìn chung, các em đều không có hứng thú với bộ môn lịch
sử vì sự kiện nhiều, bài dài, tên nhân vật khó nhớ…hay tâm lí môn chính môn phụ Sử dụng sơ đồ tư duy giúp các em giải quyết được các vấn đề trên và nâng cao kết quả học tập
Sau khi nghiên cứu cuốn sách “Tôi tài giỏi bạn cũng thế” của ADAM KHOO
và cuốn “THE MIND MAP BOOK” của TONY BUZAN - những cuốn sách giới thiệu về hoạt động của bộ não và những khả năng phi thường của con ngườinhưng chưa được đánh thức Giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nguyên lý hoạt động của bộ não và cách sử dụng nó như thế nào để có hiệu quả tối ưu, hay có thể ghi nhớ lâu hơn, đọc nhanh hơn; tóm tắt cũng như khái quát một vấn đề, một chương hoặc lên kế hoạch cho một công việc cụ thể Từ đó, thấy được vai trò quan trọng của sơ đồ tư duy trong học tập và trong đời sống
Phần II Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1917 đến năm 1945 (Lịch sử 11) là một phần rất khó, quan trọng và rất hay đối với cả giáo viên và học sinh Vì dung lượng kiến thức lớn, nhiều khái niệm mới và có liên hệ mật thiết với chương trình lịch sử 12, học sinh thường có tâm lí ngại và sợ học Để cải thiện tình hình, bản thân tôi xin mạnh dạn đề xuất một vài kinh nghiệm trong việc
“Nâng cao hứng thú và kết quả học tập Phần II Lịch sử thế giới hiện đại từ
năm 1917 đến năm 1945 (Lịch sử 11) bằng phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy”
2 Mục đích nghiên cứu
Bước sang thế kỉ XXI, đất nước ta đang trong thời kì hội nhập, đổi mới.Việc học lịch sử có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của quốc gia dân tộc.Việc học
Trang 3lịch sử trước hết là học về lòng yêu nước, học xưa để biết nay Nếu các cá nhân trong một dân tộc không biết về nguồn gốc và tổ tiên của mình thì dân tộc đó sẽ tiêu vong Đánh mất lịch sử đồng nghĩa với việc đánh mất quốc gia dân tộc Song thực trạng hiện nay cho thấy, tình hình dạy và học bộ môn lịch sử có xu hướng ngược lại, học sinh không yêu thích, không hứng thú với bộ môn này.
Bằng đề tài sáng kiến kinh nghiệm: ” Nâng cao hứng thú và kết quả học tập
Phần II Lịch sử thế giới hiện đại(1917-1945) (Lịch sử 11) bằng phương pháp
sử dụng sơ đồ tư duy” , giúp:
+Học sinh có bức tranh tổng thể về lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân tộc nói riêng
+Khả năng ghi nhớ lâu hơn
+Phát huy óc sáng tạo và sự hứng thú trong học tập Đồng thời góp phần thực hiện chỉ thị năm học 2012-2013: “Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá của Bộ Giáo Dục-Đào Tạo”
3 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh THPT khối 11
- Soạn giảng tiết dạy bằng sơ đồ tư duy theo chuẩn kiến thức kĩ năng được giảm tải trong năm 2011-2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Hướng dẫn học sinh ghi bài và phương thức tạo lập sơ đồ tư duy
5 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
- Nghiên cứu phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy nhằm nâng cao hứng thú
và kết quả học tập Phần II Lịch sử thế giới hiện đại(1917-1945)(Lịch sử 11)
- Đề tài nghiên cứu trong hai năm từ tháng 9/2012 đến tháng 4/2013
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lí luận
Dạy và học là một quá trình nhận thức đặc thù, trong đó giáo viên tổ chức, dẫn dắt học sinh một cách có mục đích, có kế hoạch Để học sinh nắm vững những tri thức về văn hoá, khoa học và kĩ năng cơ bản; phát triển năng lực nhận thức, dần dần hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, nhân cách, đạo đức Trong quá trình dạy học, người giáo viên phải nhận biết được thái độ, tình cảm của người học trước một hiện tượng, một tri thức mới Những biểu hiện đó thường khác nhau, hoặc thờ ơ vô cảm, hoặc sôi nổi nhiệt tình, tập trung chú ý hoặc tỏ vẻ chán chường…
Vậy làm gì để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập?
Bằng mọi cách, người giáo viên phải có kĩ năng vận dụng các phương pháp
để truyền đạt kiến thức cho học sinh, tuỳ theo nội dung của từng tiết học mà giáo viên lựa chọn phương pháp phù hợp với đặc trưng môn học và đối tượng
Trang 4người học Không những thế thông qua bài giảng của mình giáo viên còn rèn luyện cho học sinh kĩ năng quan sát, nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp….
Để đánh giá một tiết dạy có hiệu quả hay không đều phụ thuộc vào kĩ năng vận dụng tốt các thao tác, giúp học sinh hiểu và nắm tốt bài; ghi nhớ lâu hơn và
sơ đồ tư duy đáp ứng những yêu cầu này
2 Cơ sở thực tiễn
Đổi mới dạy học nói chung và dạy học lịch sử ở trường trung học nói riêng là một vấn đề lớn, thu hút sự quan tâm không chỉ của những người làm công tác giáo dục mà ngay cả các cấp, các ngành ở trung ương và địa phương Làm thế nào để biến tư tưởng đổi mới đó thành thực tiễn dạy học nhằm nâng cao chất lượng bộ môn ở trường phổ thông?
Những năm gần đây, chúng ta thấy xuất hiện ngày càng nhiều tiết học tốt, dạy tốt của các giáo viên giỏi theo hướng tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới Tuy nhiên tình trạng phổ biến vẫn là “thầy đọc”, “trò chép” hoặc giảng giải xen kẽ vấn đáp; giải thích, minh hoạ bằng phương tiện trực quan
Với lối dạy này, người thầy đã máy móc rập khuôn, dễ có tính phó mặc không hứng thú trong cập nhập kiến thức, không sáng tạo trong việc tìm kiếm các phương án mới phù hợp với đối tượng học sinh để đạt kết quả tối ưu Người học theo cách học này sẽ trở nên thụ động, chỉ biết thu nhập kiến thức một chiều, không động não suy nghĩ, không biết tự mình chiếm lĩnh kiến thức, trởnên thui chột về tư duy, khó vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Hơn nữa, đã dạy theo kiểu “đọc-chép” thì đề thi phải ra theo kiểu học thuộc Học sinh khi học, chép được điều gì thì lúc thi, lại chép những điều ấy vào bài làm, không có khả năng sáng tạo, không thể hiện được “cái riêng” của mình hoặc không dám thể hiện Bài dạy kiểu “đọc-chép” sẽ nhàm chán và mang tính
áp đặt
Có nhiều nguyên nhân lí giải cho thực trạng trên:
+ Do dung lượng kiến thức lớn, trong một tiết học 45 phút, đã mất từ 10đến 15 phút ổn định tổ chức, kiểm tra bài cũ, dặn dò bài mới và hướng dẫn bài tập về nhà….Như vậy, chỉ còn khoảng 30 phút để giảng bài mới nên giáo viên chọn cách “đọc chép” là hữu hiệu nhất
+ Học sinh không biết cách ghi bài, các em vẫn sử dụng lối “đọc chép” từ cấp hai; không biết tóm tắt nội dung sách giáo khoa cũng như những kiến thức trọng tâm mà giáo viên đào sâu phân tích
+ Một số giáo viên chưa đầu tư thích đáng cho việc soạn giảng một tiết dạy, chỉ đơn thuần là tóm lược sách giáo khoa (dựa theo chuẩn kiến thức), đọc cho các em chép rồi buộc các em phải học thuộc lòng Làm như vậy bộ môn lịch
sử sẽ trở nên giáo điều như một tiết dạy chính trị Học sinh cảm thấy bị nhồi
Trang 5nhét, thậm chí làm cho các em có cảm giác như bị “tra tấn” trong học tập bộ môn.
Việc chống lối dạy học thụ động, “ thầy đọc - trò chép” đã được đặt ra từ lâu Ngay từ năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyên người học: ”phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng như một nhiệm vụ… phải hoàn thành cho được” Hay tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt học tốt” của ngành giáo dục (năm 1963), Bác Hồ lại căn dặn: “về giảng dạy tránh dạy nhồi sọ”… “ về học tập tránh lối học vẹt”… “ học phải có suy nghĩ, phải có liên
hệ với thực tiễn, phải có thí nghiệm và thực hành Học và hành phải kết hợp với nhau”
Để làm được điều này, giáo viên nên sử dụng nhiều phương pháp tổ chức dạy học Tuỳ theo nội dung kiến thức và đối tượng mà lựa chọn phương pháp cho phù hợp nhằm tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, khắc sâu kiến thức cơ bản…Đặc biệt muốn phát huy hơn nữa tính tích cực của học sinh trong học tập thì phương pháp sơ đồ tư duy tỏ ra có ưu thế Mỗi bài học sẽ chứa đựng một số vấn đề cơ bản của lịch sử, bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêu vấn đề, tổ chức cho học sinh cách giải quyết bằng cách tạo lập sơ đồ tư duy qua đó phát huy tính tích cực và huy động bộ não hoạt động hết công suất cho mỗi bài học
Sẽ không còn tình trạng học sinh ngồi im thụ động “chờ” giáo viên cho “ghi” hay lại “đọc chép” Do đó vai trò dẫn đắt của người thầy là hết sức quan trọng Dạy học là một nghệ thuật, bằng tâm hồn, sự hiểu biết và nghệ thuật của người giáo viên, những “phần xác” lịch sử sẽ được “phả hồn” vào một cách sinh động
và đẹp đẽ; giúp các em cảm nhận tốt hơn, yêu thích bộ môn lịch sử hơn
Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phổ biến và được nhiều nước tiên tiến trên thế giới sử dụng đạt hiệu quả cao Nếu khai thác tốt sơ
đồ tư duy sẽ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình giảng dạy Dạy và học là quá trình tác động qua lại thống nhất không tách rời Việc sử dụng sơ đồ tư duy tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội trao đổi với thầy và bạn phát huy tính tích cực, chủ động vươn lên chiếm lĩnh tri thức Đồng thời còn tạo được sự hấp dẫn, hứng thú (thông qua hình vẽ) giảm dần tính biên niên trong dạy học lịch sử Hiểu lịch sử góp phần đáng kể vào việc lí giải những vấn đề phức tạp của cuộc sống
3 Thực trạng
Sau khi Bộ Giáo Dục thông qua sáu môn thi tốt nghiệp THPT không có môn lịch sử Học sinh Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (Thành phố Hồ Chí Minh) đã biểu diễn một trò chơi tập thể : xé giấy và cả đề cương môn sử tung rải trắng sân trường Đây không còn được xem là một hồi chuông báo động mà phải xem đó như một quả bom tấn về thực trạng học sinh học môn sử nói riêng và tất
cả các môn khoa học xã hội nói chung Có thể đây chỉ là sự bồng bột của tuổi học trò nhưng nó sẽ lây lan một cách nhanh chóng nếu không được nhận thức đúng đắn
Trang 6“ …Hãy tin rằng cái hình ảnh đau lòng của Trường THPT NguyễnThượng Hiền là ranh giới cuối cùng của sự chịu đựng trước nhu cầu giáo dục cần thay đổi, chương trình môn lịch sử cần thay đổi” (Trích dẫn của Hà Văn Thịnh - Tuần Vietnam.net).
Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới của ngành giáo dục trong trào lưu đổi mới chung của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc dạy, học lịch sử cũng có nhiều thay đổi quan trọng về quan niệm, nội dung, phương pháp Kết quả bước đầu rất khả quan như:
+ Sách giáo khoa cô đọng hơn, nhiều kênh hình, kênh chữ minh hoạ
+ Nhiều nội dung được tinh giảm, giáo viên soạn giảng dựa theo chuẩn kiến thức (Bộ Giáo dục biên soạn)
+ Tài liệu tham khảo về nội dung và phương pháp dạy học phong phú, cơ
sở vật chất được đầu tư
+ Đặc biệt sự bùng nổ công nghệ thông tin, tạo điều kiện cho cả thầy và trò có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu, đi sâu vào một vấn đề hay một lĩnh vực nào đó Song sự phát triển của giáo dục hiện nay, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo thế
hệ trẻ trong thời kì mới Sự đổi mới về phương pháp quá chậm so với sự thay đổi hệ thống giáo dục và nội dung khoa học Có lẽ một trong những điểm chúng
ta chưa gặt hái được nhiều thành công trong cải cách giáo dục là không có những cải tiến đáng kể về phương pháp Nó còn theo đường mòn, lạc hậu về nhiều mặt, đòi hỏi phải nhanh chóng đổi mới
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng như vậy là do:
+ Chưa quán triệt quan điểm của Đảng trong chiến lược phát triển đất
nước lấy con người làm trung tâm “Con người là mục tiêu và động lực phát
triển của kinh tế - xã hội” (Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII - 1991) Chiến lược con người không chỉ là cơ sở hoạch định chiến lược phát triển giáo dục nói chung mà còn là nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo việc dạy, học các bộ môn trong đó có lịch sử
+ Quan niệm môn chính, môn phụ
+ Mặt trái của cơ chế thị trường tác động vào giáo dục - một nghề vốn thanh cao - làm thay đổi bậc thang giá trị của các môn học Việc dạy thêm các
“môn chính” làm cho đời sống giữa hàng ngũ giáo viên phân hoá, chênh lệch; vì học sinh học thêm với mục đích rất thực dụng - đua nhau vào các ngành có thể kiếm việc làm nhiều tiền sau này Việc dạy thêm có những điểm tích cực nhất định trong việc bồi dưỡng, củng cố kiến thức Song chỉ “dạy chữ” không chăm
lo việc “dạy người”, phát triển lối học “nhồi sọ”, trái quan điểm giáo dục của Đảng Việc thương mại hoá trong giáo dục dẫn đến hậu quả khôn lường của việc đào tạo thế hệ trẻ: chất lượng giáo dưỡng, giáo dục, phát triển giảm, tiếp nhận lối sống sượng, lối sống xa lạ với bản sắc, truyền thống dân tộc
Giải quyết và thoát ra tình trạng báo động này cần có sự phối hợp hành động
đồng bộ của nhiều ngành, nhiều cấp Riêng đối với giáo viên cần nhận thức
Trang 7đúng, sâu sắc ý nghĩa, vị trí bộ môn Lịch sử trong chương trình giáo dục Mọi
môn học ở trường phổ thông đều xây dựng trên cơ sở kiến thức của một khoa học, đều bình đẳng với nhau trong việc góp phần bồi dưỡng trình độ văn hóa phổ thông cho học sinh theo chức năng, nhiệm vụ, nội dung, đặc điểm môn học Giá trị của môn học không do số giờ quyết định, vì số giờ chỉ là điều kiện để cung cấp trình độ học vấn phổ thông của bộ môn Giá trị của nó chính là tác dụng vào việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện
* Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài:
- Thuận lợi:
+ Năm học 2011-2012, Bộ Giáo dục giảm tải nội dung sách giáo khoa tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong quá trình giảng dạy
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường được đầu tư tương đối đầy
đủ thuận lợi cho giáo viên khi lựa chọn và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực
- Khó khăn:
+ Hầu như giáo viên chưa giảng dạy theo phương pháp sơ đồ tư duy, tỏ ra
bở ngỡ, nên cần đầu tư nhiều thời gian để xây dựng bản đồ tư duy sao cho dễ nhớ, dễ nhìn nhưng đầy đủ nội dung
+ Phần lớn học sinh chưa quen với cách học mới, nên còn lúng túng khi viết hoặc tóm tắt nội dung sách giáo khoa sang sơ đồ tư duy
+ Sơ đồ tư duy được tạo lập từ những từ khoá, kí hiệu, hình vẽ…; học sinh tạo được sơ đồ tư duy nhưng khi kiểm tra, đánh giá các em không có khả năng diễn giải, liên kết các sự kiện
4 Các bước tiến hành
- Chuẩn bị kĩ nội dung kiến thức tiết học thông qua bài soạn
- Lựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung từng bài
- Chuẩn bị hệ thống câu hỏi sao cho phát huy được tính tích cực của học sinh
- Lựa chọn nội dung để giao cho nhóm hoặc cá nhân thảo luận Mỗi cá nhân (nhóm) phải đọc sách giáo khoa và chuẩn bị sơ đồ tư duy theo ý riêng Đồng thời sưu tầm tư liệu, hình ảnh để minh họa cho bài thuyết trình
- Xây dựng sơ đồ tư duy, tuỳ theo nội dung từng bài mà lựa chọn cho phù hợp ( có thể sử dụng sơ đồ tư duy để khai thác kiến thức mới hoặc củng cố…)
5 Nội dung thực hiện
5.1 Bộ não kì diệu
5.1.1 Hoạt động của bộ não
Để đánh giá một người nào đó thông minh hay bình thường, chúng ta thường căn cứ vào chỉ số IQ của anh ta Vậy chỉ số IQ của bạn là bao nhiêu? Làm thế nào để tăng cường chỉ số IQ ? giới hạn trí thông minh của bạn ở đâu?
Trang 8Điều này phụ thuộc vào việc não bộ của bạn còn có thể tạo ra thêm bao nhiêu liên kết nơ-ron nữa Bạn hãy nhớ rằng chúng ta có một triệu nơ-ron và mỗi nơ-ron có thể tạo ra vô số liên kết với các nơ-ron khác Tổng số liên kết khi được tính toán chính xác sẽ nhiều đến mức nếu chúng ta buộc phải viết ra giấy, đó là một con số khiến ai cũng phải rùng mình, bắt đầu bằng số 1 theo sau là dãy số 0 dài 10.5 triệu cây số Rõ ràng tiềm năng phát triển của não bộ là vô hạn.
Để học cách tận dụng sức mạnh não bộ, trước hết phải hiểu được cách hoạt động của nó
Võ não (lớp trên cùng và lớp trung tâm) được cấu tạo từ hai bán cầu não trái và não phải Hai bán cầu nối liền nhau nhờ vào tập hợp các sợi dây thần kinh Não trái xử lí thông tin về lập luận, toán học, ngôn ngữ, số liệu…Não phải chăm lo những việc như âm nhạc, sáng tạo , mơ mộng, màu sắc,…
Trang 95.1.2 Tại sao trẻ thường không tập trung lâu được
Vấn đề phổ biến nhất đối với trẻ em hiện nay là chúng không thể chú ý hay tập trung lâu vào một điều gì Thường sau khi tập trung được vài phút là đầu
óc chúng lại miên man với những ý nghĩ không đầu không cuối Chẳng hạn, trong giờ lịch sử cô giáo đang sôi nổi giảng về hào khí quân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên, bất chợt cô phát hiện bạn Dũng đang ngơ ngác nhìn ra cửa sổ và cậu được cô giáo gọi đứng lên Sau vài phút hốt hoảng, cậu lắp bắp và không thể nhắc lại những điều cô vừa dạy Nguyên nhân từ đâu?
Thật ra một trong những lí do làm cho điều này thêm trầm trọng là do hệ thống giáo dục của chúng ta có khuynh hướng về những môn học có liên quan đến não trái như toán, ngôn ngữ, hoá học…Hơn nữa, trong giờ lên lớp, giáo viên có xu hướng dạy các phương pháp chỉ tập trung vào não trái (giảng bài đơn điệu với những con số khô khan, dữ liệu thuần tuý, các bài tập, bài kiểm tra ) Ngoài ra các lớp học truyền thống ít sử dụng các dụng cụ trực quan khơi gợi trí sáng tạo, lôi cuốn cảm xúc hay trí tưởng tượng của người học Khi não phải không có cơ hội tham gia nhiều vào quá trình học, nó tìm cách giết thời gian bằng cách dệt nên những hình ảnh Đó là lí do tại sao ngồi học môn sử lại mơ mộng bên ngoài cửa sổ Nếu không thì nó cũng hí hoáy vẽ, chọc phá các bạn bên cạnh…hiện tượng này xuất phát từ việc não phải cần có sự “dịch chuyển”,
“tưởng tượng” hay ”âm điệu” làm cho bận rộn Kết quả, học sinh đó bị phân tán không thể tập trung vào bài học
Khi hiện tượng này xảy ra thường xuyên, những đứa trẻ này bị qui kết là
“hiếu động thái quá”, “tiếp thu kém”, “khả năng tập trung ngắn”…Thực chất,
đứa trẻ này không có vấn đề gì về mặt đầu óc, chính phương pháp dạy học và cách học mới là vấn đề.
5.1.3 Học bằng cả bộ não
Bí quyết giúp trẻ chú ý, tập trung và học hành hiệu quả là gì? Câu trả lời
là tận dụng cả hai bán cầu não vào quá trình học Tức là hãy học bằng cả bộ não.Học môn sử thuần tuý bằng não trái tức là đọc các sự kiện trong sách giáo khoa, lặp đi lặp lại cho đến khi những con số và dữ kiện được ghi vào bộ nhớ.Song, học lịch sử có cách khác thú vị hơn: sau khi đọc và hiểu các sự kiện, các
em có thể vẽ phác hoạ ra giấy vài hình ảnh về một trận thắng chẳng hạn, rồi vẽ biểu đồ thể hiện những thắng lợi của ta, thương vong của địch Bạn thậm chí có thể phóng trí tưởng tưởng của mình về quá khứ tất cả giống như một cuốn phim 3D trong tâm trí Việc sử dụng hai bán cầu não sẽ giúp thông tin trở nên sống động và mở rộng khả năng lưu giữ thông tin của não bộ Học như vậy, chắc chắn bạn sẽ nhớ lâu hơn và thậm chí còn có kiến giải riêng của mình về sự kiện lịch sử, chứ không phải như một con vẹt chỉ biết nói lại những điều sách nói
5.1.4 Bí quyết của những điểm 10
Sau khi tìm hiểu nhiều học sinh giỏi về phương pháp học tập, tôi phát hiện
ra một kĩ năng chung mà họ sử dụng trong học tập đó là việc luôn ghi chú theo nhiều cách phù hợp với từng cá nhân
Trang 10Tại sao bạn phải ghi chú? Vì:
+ Ghi chú giúp bạn tiết kiệm thời gian;
+ Ghi chú giúp bạn tăng khả năng nhớ bài
+ Ghi chú giúp bạn hiểu bài tốt hơn
Phương pháp ghi chú truyền thống và những bất lợi của phương pháp này: + Cách 1: ghi chú truyền thống được tạo nên từ các đoạn văn hay tổng hợp các khái niệm quan trọng
+ Cách 2: ghi chú dưới dạng nhiều phần mục (1…
+ Không nhớ bài tốt: không có hình ảnh để hình dung;
không thể hiện sự khác nhau giữa các điểm chính
mà chỉ đơn thuần là liệt kê
không làm nổi bật thông tin, không sử dụng màu sắc không tận dụng trí tưởng tượng
+ Không sử dụng tối ưu sức mạnh của cả bộ não
Vậy để ghi chú một cách tốt nhất thì sơ đồ tư duy là công cụ ghi chú tối ưu
5.2 Khái niệm sơ đồ tư duy
Theo TONY BUZAN, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra sơ đồ tư duy thì :
Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng
và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển thành các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, bản đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển
5.2.1 Nguyên lí hoạt động
Hoạt động theo nguyên tắc liên tưởng “ý này gọi ý kia” của bộ não Từ một
chủ đề tạo ra nhiều nhánh lớn, từ mỗi nhánh lớn lại toả ra nhiều nhánh nhỏ và cứ thế mở rộng ra vô tận
5.2.2 Cấu trúc và dòng chảy thông tin
Sơ đồ tư duy được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ Các từ ngữ nằm bên trái sơ đồ tư duy nên đọc từ phải sang trái (từ trong ra ngoài) Các mũi tên xung
Trang 11quanh bên dưới chỉ ra cách đọc thông tin Các số thứ tự cũng là cách hướng dẫn khác Bốn liên kết I,II,II,IV gọi là các nhánh chính.
Trang 125.2.3 Phương thức tạo lập sơ đồ tư duy
Bước 1: Vẽ chủ đề trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
- Người vẽ bắt đầu ở trung tâm với hình ảnh chủ đề Hình ảnh có thể thay thế cho 1000 từ và giúp chúng ta sử dụng tốt trí tưởng tượng Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề (nếu chủ đề không rõ)
- Sử dụng màu sắc minh hoạ (kích thích não)
- Có thể dùng từ khoá, kí hiệu, câu nói để gợi ấn tượng sâu sắc về chủ đề Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm:
- Tiêu đề phụ viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật
- Tiêu đề phụ nên vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác được vẽ toả ra một cách rõ ràng
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm ý chính và các chi tiết hỗ trợ
- Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ nên tận dụng từ khoá và hình ảnh
- Mỗi từ khoá, hình ảnh nên được vẽ trên những đoạn gấp khúc, trên mỗi khúc chỉ tối đa một từ
- Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình trung tâm, nối nhánh cấp 2→1, nối nhánh cấp 3→ 2…bằng đường kẻ Đường kẻ càng gần trung tâm thì càng tô đậm hơn
* Lưu ý: Nên dùng đường cong thay cho đường thẳng (thu hút sự chú ý của mắt) Tất cả các nhánh toả ra trên cùng một điểm nên tô một màu, chỉ thay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra ý phụ
Bước 4: Người viết nên thêm nhiều hình ảnh, kí hiệu để làm nổi bật, tăng tính sinh động (sao cho dễ nhớ và hấp dẫn)
Trang 135.2.4 Tác dụng của sơ đồ tư duy
- Tiết kiệm thời gian, công sức
- Nhìn thấy bức tranh tổng thể
- Tổ chức và phân loại suy nghĩ
- Ghi nhớ tốt hơn
- Kích thích tiềm năng sáng tạo, hình thành các ý tưởng độc đáo
- Sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng ở nhiều lĩnh vực, trên nhiều phương tiện, tại mọi địa điểm
- Ngoài ra, sơ đồ tư duy còn là công cụ tư duy hiệu quả giúp tối đa hoá nguồn lực của cá nhân và tập thể
* Lưu ý: Sơ đồ tư duy là một công cụ giúp học sinh học tập hiệu quả, nâng cao hứng thú học tập Tuy nhiên sơ đồ tư duy không phải là một tác phẩm hội hoạ nên cần tránh rơi vào việc trang trí cầu kì, thay cho ghi chú (mục đích chính khi sử dụng sơ đồ tư duy)
5.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử
Trước khi đi vào Phần II LSTG hiện đại (1917-1945) - nội dung tôi chọn làm đề tài nghiên cứu Tại một số tiết với dung lượng kiến thức ngắn (đã được giảm tải), tôi vận dụng sơ đồ tư duy Cụ thể:
Bước 1: Để tạo hứng thú cho học sinh đối với một phương pháp dạy học mới, tôi nêu khái niệm, nguyên tắc hoạt động sau đó giới thiệu ngay tác dụng nhằm thu hút sự chú ý của các em
Bước 2: Lập sơ đồ tư duy
Trang 14- Hướng dẫn học sinh vẽ chủ đề chính bằng một hình ảnh bất kì mà các
em thích (gợi trí tò mò)
- Gọi học sinh lên bảng phân nhánh sơ đồ hoặc chia thành từng nhóm nhỏrồi tự vẽ sơ đồ theo cách hiểu riêng của mình, sau đó giáo viên định hướng lại từng nội dung cho học sinh
Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, diễn biến hay cả bài giảng như trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được khái niệm qua hình
vẽ Không những vậy, cách học này còn phát triển năng lực riêng của từng học sinh về trí tuệ, khả năng diễn đạt trên sơ đồ, hệ thống hóa kiến thức chọn lọc cũng như vận dụng vào cuộc sống
Lần đầu thực hiện, tôi chỉ thu hút được sự tập trung của các em tại hình trung tâm, nhánh cấp 1, cấp 2; nhưng đến các nhánh nhỏ, các em bắt đầu thấy khó khăn do:
- Trang vở hẹp không đủ diện tích trình bày
- Viết theo đường cong từ trong ra ngoài… khó viết
- Lúng túng khi lựa chọn từ khóa, hình ảnh thay thế
- Không biết cách diễn đạt, liên kết sự kiện
- Tâm lí điểm số
Các em đưa ra vô số lí do và yêu cầu quay lại lối dạy truyền thống Tuy nhiên một bộ phận khác tỏ ra hào hứng khi nhìn vào bức tranh sinh động đầy đủ màu sắc và hình vẽ của mình
Năm học 2012- 2013, tôi được tổ chuyên môn phân công giảng dạy ở haikhối lớp 11 và 12 Tổng số lớp tôi phụ trách là năm lớp (HK I) và mười lớp (HKII), giúp tôi có nhiều cơ hội để thực hiện đề tài nghiên cứu
Dạy học lịch sử bằng sơ đồ tư duy không có gì mới, điều này đã được triển khai từ cấp hai, nhưng lên cấp ba lại không có điều kiện thực hiện và phổ biến, vì:
- Nội dung bài học quá dài khó triển khai bằng sơ đồ tư duy
- Kiến thức phải được trình bày rõ ràng, cụ thể đáp ứng mục tiêu thi cử
Trang 15có trong tiền lệ); bài mới các em giơ tay lên bảng vẽ sơ đồ để được điểm cộng
Tiết học thật sôi nổi hào hứng
Sơ đồ tư duy thực chất là một sơ đồ mở không theo khuôn mẫu hay tỉ lệ
nhất định, theo nguyên tắc liên tưởng “ý này gọi ý kia” sơ đồ tư duy trở thành
phương tiện tối ưu trong việc hình thành và phát triển ý tưởng Mặt khác, nó còn
là công cụ để hệ thống kiến thức tạo ra một tiết học sinh động và hiệu quả
Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì nó có thể vận dụng
được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của nhà trường, có thể thiết kế trên
giấy, bìa hoặc bảng bằng cách sử dụng bút chì màu hay đơn thuần là phấn Giáo
viên có thể linh động sử dụng hình vẽ tay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ
diễn đạt khác nhau giúp học sinh có thể nắm bắt tốt “phần lõi” của bài giảng
ngay tại lớp
Đối với học sinh, thường xuyên tạo lập sơ đồ tư duy sẽ phát triển nhiều
năng lực như khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế phải có bố cục màu sắc, các
đường nét, các nhánh sao cho đẹp; sắp xếp các ý tưởng khoa học súc tích…và
đó chính là để học sinh “Học cách học” tích lũy kiến thức và sử dụng kiến thức
một cách đơn giản mà hiệu quả nhất
Bằng sơ đồ tư duy giáo viên nêu vấn đề, hướng dẫn cách giải quyết thông
qua việc khơi gợi các ý tưởng Học sinh không thể thụ động tiếp nhận trái lại
mặc sức thả trí tưởng tượng vào bài học nhưng vẫn chốt được dàn bài chi tiết
Giờ học sau chỉ cần nhìn vào sơ đồ các kiến thức lại được tái hiện dễ dàng
Sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học, bước đầu giúp các em làm quen, dần
dần biến thành kĩ năng trong quá trình tạo lập Điểm đáng mừng là tiết học sôi
nổi, kết quả học tập được nâng cao Qua đó phát huy tích tích cực của học sinh
trong học tập cũng như sự sáng tạo, mạnh dạn thể hiện cái tôi của mình
Sau đây tôi xin trình bày một số dạng bài tôi thường sử dụng và đạt nhiều
hiệu quả trong quá trình giảng dạy
5.3.1 Sử dụng sơ đồ tư duy để khai thác kiến thức mới
Vận dụng trong Bài 9 – Tiết 12 : CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA
NĂM 1917 VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN
XÔ (1921 – 1941).
Cách 1: Sử dụng sơ đồ tư duy trong suốt tiết học (giáo viên và học sinh
cùng tạo lập sơ đồ ngay tại lớp)
Bước 1: Giáo viên giới thiệu khái quát chương và nội dung bài mới
Bước 2: Nêu câu hỏi định hướng nhận thức cho học sinh nhằm:
+ Xác định nhiệm vụ nhận thức của người học
+ Hướng học sinh vào kiến thức trọng tâm của bài, huy động tối đa các
hoạt động của các giác quan trong quá trình học tập
Câu 1: Vì sao năm 1917 ở Nga diễn ra hai cuộc cách mạng.
Trang 16Câu 2: Trình bày quá trình chuyển biến từ Cách mạng dân chủ tư sản sang Cách mạng tháng Mười Nga.
Câu 3: Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng ttháng Mười Nga.
Bước 3: Lập sơ đồ tư duy
- Gíao viên vẽ hình ảnh trung tâm (có thể sử dụng quốc kì của Nga minh họa)
- Sau khi tạo xong hình ảnh trung tâm, giáo viên nêu câu hỏi:
+ Bài này có những nội dung chính, cơ bản nào? ( thay cho nhánh)
+ Học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành các nhánh lên bảng, có chú thích tên từng nhánh lớn và đánh số thứ tự (phục vụ cho việc ôn bài)
* Lưu ý: Khi đặt câu hỏi cho học sinh trả lời, giáo viên nên hỏi những câu
liên quan đến thông hiểu để học sinh vận dụng khi làm bài
- Hình thành xong nhánh cấp 1, chuyển sang nhánh cấp 2
1 Tình hình nước Nga trước cách mạng: (thảo luận nhóm)
- Nhóm 1+2: Quan sát những hình ảnh sau và hoàn thành phiếu học tập về
tình hình nước Nga trước cách mạng (kinh tế, chính trị)
+ Nhóm 1 – chính trị:
Hình 1: Lược đồ Đế quốc Nga đầu thế kỉ XX
Hình 2: Nga hoàng Nicôlai II
Hình 3: Phụ nữ tiễn chồng ra mặt trận
Hình 4: Những người lính Nga ngoài mặt trận
+ Nhóm 2 – kinh tế:
Hình 1: Nông dân Nga trước cách mạng
Hình 2: Nhà ở của nông dân Nga
Hình 3: Nạn đói 1917
+ Nhóm 3: Dựa vào tình hình kinh tế, chính trị nêu những mâu thuẫn chủ
yếu trong xã hội Nga trước cách mạng? Mâu thuẫn nào là cơ bản nhất cần giải quyết ?
+ Nhóm 4: Nguyên nhân bùng nổ cách mạng.
Giáo viên cho học sinh ngồi theo nhóm, dựa vào sách giáo khoa rút ra nội dung chính, chuyển thành từ khóa và hình ảnh minh họa Bằng cách dạy truyền thống, khi thảo luận nhóm chỉ một vài em hoạt động hoặc cũng có thể cả nhóm làm việc (thảo luận cặp đôi) Nhưng do chưa xác định được nội dung trọng tâm
vì vậy dễ lan man, lạc đề Với sơ đồ tư duy, bằng việc xây dựng hình ảnh trung tâm, các nhánh chính phụ thông qua màu sắc giúp học sinh định hướng và cứ thế phát triển ý tưởng ra xung quanh Cứ làm việc như vậy, học sinh sẽ biết cách tự
Trang 17vận động tìm tòi kiến thức Sơ đồ tư duy không chỉ là công cụ ghi chú tối ưu mà còn là công cụ gợi mở, kích thích quá trình học hỏi của trẻ.
Sau ít phút thảo luận, học sinh báo cáo, thuyết trình về sơ đồ tư duy
Giáo viên có thể chỉ bất kì hoặc nhóm cử đại diện lên báo cáo Qua hoạt động này giáo viên vừa biết rõ hiểu biết của các em vừa rèn luyện khả năng thuyết trình trước đám đông, giúp các em tự tin mạnh dạn hơn Sau khi đại diện của từng nhóm trình bày, giáo viên yêu cầu nhóm khác nhận xét, cá nhân bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ về kiến thức và cấu trúc (có sự hỗ trợ của giáo viên) Cuối mỗi nhánh chuẩn bị chuyển sang nhánh khác (ý khác), giáoviên sử dụng câu chốt cuối mục nhằm khắc sâu kiến thức
Nhánh cấp 3
2 Từ Cách mạnh tháng Hai đến Cách mạng tháng Mười:
Giáo viên cho học sinh đọc nhanh sách giáo khoa trang 49-50 và tóm tắt diễn biến bằng sơ đồ (biểu diễn sự đi lên của cách mạng)
Giáo viên tiếp tục nêu câu hỏi:
+ Cách mạng tháng Hai đã thực hiện được những nhiệm vụ gì ?
+ Giáo viên khai thác tranh, đoạn phim, truyện kể nhằm làm tiết học thêm sinh động
Sau khi hoàn thành Cách mạng tháng Hai, giáo viên lập bảng so sánh và yêu cầu học sinh hoàn thành, từ đó rút ra tính chất và ý nghĩa của cách mạng
Nội dung Các cuộc CMTS trước Cách mạng tháng Hai
Nội dung này giáo viên khai thác như Cách mạng tháng Hai Cuối nhánh
3, giáo viên sử dụng câu hỏi nhận thức (nêu từ đầu tiết học); yêu cầu học sinh trả lời qua đó biết khả năng tiếp thu và hiểu bài của học sinh
Tương tự như trên, nhánh này hoàn thành đến nhánh khác Kết thúc bài học cũng là lúc kiến thức tổng quát của bài được trình bày một cách sáng tạo, sinh động trên sơ đồ tư duy ngay tại lớp
Trang 18* Qua tiết dạy sử dụng sơ đồ tư duy trong suốt tiết học (giáo viên và học sinh cùng tạo lập sơ đồ ngay tại lớp), bản thân tôi rút ra một số bài học.
- Tốn nhiều thời gian, công sức Giáo viên rất vất vả vì quá nhiều thao tác, nhiều khái niệm, kiến thức mới phải làm rõ
- Hiệu quả chưa cao, một số kiến thức trọng tâm chưa làm rõ (không đủ thời gian)
- Hình ảnh, từ khóa học sinh sử dụng đơn điệu, chưa cô đọng chưa thể hiện được sự sáng tạo của các em
Vậy để đạt được hiệu quả bằng dạng bài này, ta cần lưu ý một vài điểm sau
- Chọn những tiết có dung lượng bài học thật ngắn
- Ít khái niệm mang tính lí luận, trừu tượng
- Yêu cầu học sinh chuẩn bị trước ở nhà mỗi em một sơ đồ tư duy, đến từng nội dung cần thảo luận, các em đối chiếu với bạn để lựa chọn sơ đồ tối ưu nhất; đồng thời tiết kiệm được thời gian chờ các em vẽ lại và chúng ta có thể sửa ngay trên sơ đồ
Trang 205.3.2 Sử dụng sơ đồ tư duy để khai thác kiến thức mới
Vận dụng trong Bài 12 – Tiết 15 : NƯỚC ĐỨC GIỮA HAI CUỘC CHIẾN
TRANH THẾ GIỚI ( 1918 – 1939)
Rút kinh nghiệm từ Bài 9 - Tiết 12 : CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA
NĂM 1917 VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN
XÔ (1921 – 1941).
Tôi chọn Cách 2: Sử dụng sơ đồ tư duy trong suốt tiết học (học sinh lập sơ đồ
ở nhà)
Bước 1: Giáo viên nêu câu hỏi kiểm tra bài cũ cũng là cách liên hệ dẫn dắt
vào bài mới
Nguyên nhân, đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 – 1933)?
Hậu quả?
Bước 2: Nêu câu hỏi định hướng nhận thức