TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ LĂNG NHA Hemibagrus wyckioi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU
VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA
CÁ LĂNG NHA (Hemibagrus wyckioides Fang & Chaux, 1949) GIAI
ĐOẠN TỪ 15 NGÀY TUỔI ĐẾN 75 NGÀY TUỔI, ƯƠNG TRONG GIAI
ĐẶT TRONG AO ĐẤT TẠI KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHA TRANG – 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU
VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA
CÁ LĂNG NHA (Hemibagrus wyckioides Fang & Chaux, 1949) GIAI
ĐOẠN TỪ 15 NGÀY TUỔI ĐẾN 75 NGÀY TUỔI, ƯƠNG TRONG GIAI
ĐẶT TRONG AO ĐẤT TẠI KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 606270 LUẬN VĂN THẠC SĨ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LƯU THỊ DUNG
NHA TRANG - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chính tác giả đã trực tiếp thực hiện Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Mọi sự giúp đỡ trong luận văn này đã được tác giả cảm ơn và các thông tin trích trong luận văn đều được tác giả trích rõ nguồn gốc
Tác giả
NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tác giả xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Nha Trang và công ty TNHH Thủy Sản Tây Nguyên đã tạo điều kiện, hỗ trợ cho tác giả thực hiện luận văn này Xin được gửi lời biết ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Nuôi Trồng Thủy Sản - trường Đại học Nha Trang và các thầy cô ngoài trường đã tạo điều kiện, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Lưu Thị Dung và TS Phan Đinh Phúc đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và đóng góp ý kiến để tác giả hoàn thành luận văn
Xin được gửi lời cảm ơn tới toàn thể anh em ở trại thực nghiệm của công ty TNHH Thủy Sản Tây Nguyên và gia đình cô Tuyết Anh ở Diên Xuân, Diên Khánh đã giúp đỡ, hỗ trợ cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn các anh chị trong lớp cao học NTTS 2007, 2009, bạn bè
và gia đình đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
PHẦN 1: TỔNG LUẬN 3
1.1 Đặc điểm sinh học của cá lăng nha 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm sinh thái 3
1.1.3 Đặc điểm hình thái 3
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
1.1.5 Đặc điểm sinh sản 4
1.1.6 Tập tính sống 5
1.2 Tình hình nghiên cứu cá lăng nha trên thế giới 5
1.2.1 Nghiên cứu về di truyền 5
1.2.2 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lăng nha 6
1.2.3 Nghiên cứu nuôi thương phẩm 8
1.3.Tình hình nghiên cứu cá lăng nha trong nước 9
1.3.1 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo 9
1.3.2 Nghiên cứu nuôi thương phẩm 11
1.4 Sơ lược về nhu cầu dinh dưỡng của cá 13
1.4.1 Nhu cầu protein 13
1.4.2 Nhu cầu amino acid 14
1.4.3 Nhu cầu về lipid 14
1.4.4 Nhu cầu acid béo thiết yếu của cá 15
1.4.5 Nhu cầu Carbohydrate của cá 16
1.4.6 Nhu cầu vitamine và chất khoáng của cá 17
1.4.7 Nhu cầu năng lượng của cá 17
Trang 6PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 18
2.2 Đối tượng nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp luận 18
2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 19
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 26
3.2.1 Ảnh hưởng của các loại thức ăn lên tốc độ sinh trưởng của cá lăng nha theo thời gian 29
3.2.2 Ảnh hưởng thức ăn lên tỷ lệ sống cá lăng nha theo thời gian 43
3.3 Ảnh hưởng của mật độ lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng nha theo thời gian 45
3.3.1 Ảnh hưởng của mật độ lên tốc độ sinh trưởng của cá lăng nha theo thời gian 45
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ lên tỷ lệ sống cá lăng nha theo thời gian 53
3.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lăng nha ở các thí nghiệm 54
3.4.1 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lăng nha ở thí nghiệm 1 54
3.4.2 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lăng nha ở thí nghiệm 2 56
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 58
4.1Kết luận 58
4.2 Đề xuất ý kiến 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO a PHỤ LỤC d
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CRD: Completely Random Design - Thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn
CTV: Cộng tác viên
CV(l): Coefficient of Variation (length) - Hệ số phân đàn theo chiều dài
CV(w): Coefficient of Variation (weight) - Hệ số phân đàn theo khối lượng
DLG: Daily Length Gain - Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình/ ngày về chiều dài
DWG: Daily Weight Gain - Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình/ ngày về khối lượng
FCR: Feed Conversion Ratio - Hệ số chuyển hóa thức ăn
Lt-gain: Length Gain - Tỷ lệ gia tăng về chiều dài
NT: Nghiệm thức
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
NTĐC: Nghiệm thức đối chứng
SGRl: Specific Growth Rate of Length - Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài
SGRw: Specific Growth Rate of Weight - Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về khối lượng
TNS: Thể nhiễm sắc
UP: Uni-president
Wt-gain: Weight Gain - Tỷ lệ gia tăng về khối lượng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các nhu cầu amino acid của cá [12] 14
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 26
Bảng 3.2 Chiều dài và khối lượng trung bình ban đầu của cá lăng nha ở thí nghiệm 1 29
Bảng 3.3 Các chỉ tiêu sinh trưởng của cá lăng nha ở thí nghiệm 1 30
Bảng 3.4 Khối lượng cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 1 33
Bảng 3.5 Tốc độ sinh trưởng về khối lượng cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 1 34
Bảng 3.6 Chiều dài cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 1 35
Bảng 3.7 Tốc độ sinh trưởng về chiều dài cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 1 36
Bảng 3.8 Hệ số phân đàn của cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 1 37
Bảng 3.9 Kết quả phân tích thành phần sinh hóa của 3 loại thức ăn thí nghiệm 39
Bảng 3.10Thành phần protein có trong vật chất khô của thức ăn [4] 39
Bảng 3.11Protein khẩu phần cho cá lăng nha trong thí nghiệm 40
Bảng 3.12 Lipid, Glucid khẩu phần cho cá lăng nha trong thí nghiệm 40
Bảng 3.13 Kết quả phân tích chỉ tiêu acid béo của thức ăn thí nghiệm 41
Bảng 3.14Tỷ lệ UFA và SFA có trong Lipid của thức ăn thí nghiệm 41
Bảng 3.15 Kết quả phân tích thành phần acid béo thiết yếu trong thức ăn thí nghiệm 42
Bảng 3.16 Tỷ lệ acid béo thiết yếu trong Lipid của thức ăn thí nghiệm 42
Bảng 3.17 Khẩu phần Omega 3 và Omega 6 cung cấp cho cá lăng nha thí nghiệm 42
Bảng 3 18 Tỷ lệ sống của cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 1 43
Bảng 3.19 Chiều dài và khối lượng ban đầu của cá lăng nha trong thí nghiệm 2 45
Bảng 3.20 Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá lăng nha ở thí nghiệm 2 46
Bảng 3.21 Khối lượng cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 2 48
Bảng 3.22 Tăng trưởng về khối lượng cá lăng nha ở thí nghiệm 2 49
Bảng 3.23 Chiều dài cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 2 50
Bảng 3.24 Tăng trưởng chiều dài cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 2 51
Bảng 3.25 Sự phân đàn của cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 2 52
Bảng 3.26 Tỷ lệ sống của cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 2 53
Bảng 3.27 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lăng nha ở thí nghiệm 1 55
Bảng 3.28 Hạch toán chi phí thức ăn 56
Bảng 3.29 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lăng nha ở thí nghiệm 2 56
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Cá lăng nha 4
Hình 1.2: Phân biệt cá lăng nha đực và cái 4
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 19
Hình 2.2: Hệ thống giai thí nghiệm 19
Hình 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 20
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 21
Hình 2.5: Cá tạp 22
Hình 2.6: Thức ăn công nghiệp 22
Hình 2.7: Trùn quế 23
Hình 3.1: Đồ thị biến động nhiệt độ nước trong quá trình thí nghiệm 26
Hình 3.2: Đồ thị biến động pH nước trong quá trình thí nghiệm 27
Hình 3.3: Đồ thị biến động hàm lượng oxy hòa tan trong quá trình thí nghiệm 28
Hình 3.4: Đồ thị biến động hàm lượng NH3/NH4+ trong quá trình thí nghiệm 28
Hình 3.5: Đồ thị ảnh hưởng của thức ăn lên khối lượng và chiều dài cá lăng nha 30
Hình 3.6: Đồ thị ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ sinh trưởng của cá lăng nha 31
Hình 3.7: Đồ thị ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ gia tăng chiều dài và khối lượng cá lăng nha 32
Hình 3.8: Đồ thị ảnh hưởng của thức ăn lên khối lượng cá lăng nha theo thời gian 33
Hình 3.9: Đồ thị ảnh hưởng của các loại thức ăn lên tốc độ tăng trưởng về khối lượng cá lăng nha theo thời gian 34
Hình 3.10: Đồ thị ảnh hưởng của thức ăn lên chiều dài cá lăng nha theo thời gian 35
Hình 3.11: Đồ thị ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ sinh trưởng chiều dài cá lăng nha theo thời gian 36
Hình 3.12: Đồ thị ảnh hưởng của thức ăn lên hệ số phân đàn theo chiều dài cá lăng nha theo thời gian 38
Hình 3.13: Đồ thị ảnh hưởng của thức ăn lên hệ số phân đàn theo khối lượng cá lăng nha theo thời gian 38
Hình 3.14: Đồ thị ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống của cá lăng nha theo thời gian 44
Hình 3.15: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên khối lượng và chiều dài cá lăng nha 46
Hình 3.16: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên tốc độ sinh trưởng cá lăng nha 47
Trang 10Hình 3.17: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên tỷ lệ gia tăng về khối lượng và chiều dài cá lăng nha 47 Hình 3.18: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên khối lượng cá lăng nha theo thời gian 48 Hình 3.19: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên tốc độ sinh trưởng về khối lượng cá lăng nha theo thời gian 49 Hình 3.20: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên chiều dài cá lăng nha theo thời gian 50 Hình 3.21: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên tăng trưởng chiều dài cá lăng nha theo thời gian 51 Hình 3 22 Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên hệ số phân đàn theo chiều dài cá lăng nha theo thời gian 52 Hình 3.23 Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên hệ số phân đàn theo khối lượng cá lăng nha theo thời gian 53 Hình 3.24 Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên tỷ lệ sống của cá lăng nha theo thời gian 54 Hình 3.25 Đồ thị ảnh hưởng của các loại thức ăn lên hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lăng nha 55 Hình 3.26 Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên hệ số chuyển đổi thức ăn cá lăng nha 57
Trang 11MỞ ĐẦU
Cá lăng nha là loài cá da trơn thuộc họ Bagridae Cá sống trong các thủy vực
nước ngọt và lợ nhẹ thuộc khu hệ cá nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở vùng lưu vực sông
Mê Kông Ở Việt Nam, cá lăng nha phân bố nhiều ở vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Cá lăng nha có giá trị dinh dưỡng và giá trị thương phẩm cao Thịt cá trắng, nhiều nạc, dai, giòn và có hương vị đặc trưng Hiện nay sản lượng cá lăng nha cung ứng cho thị trường còn hạn chế [1]
Để đáp ứng nhu cầu của thị trường đồng thời bảo vệ nguồn lợi cá lăng nha thì việc nghiên cứu nhằm tăng sản lượng cá lăng nha là rất cần thiết Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã cho sinh sản nhân tạo thành công cá lăng nha
và chuyển giao công nghệ cho một số tỉnh vùng Nam Bộ như An Giang, Đồng Nai Đây là khu vực có điều kiện thuận lợi cho cá lăng nha sinh trưởng và phát triển Ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên thì cá lăng nha cũng được nuôi thử nghiệm tại Đăk Lăk, Kon Tum và Bình Định Trong quá trình nuôi còn gặp khó khăn ở giai đoạn ương
cá từ 20 ngày tuổi tới 40 ngày tuổi Tỷ lệ sống ở giai đoạn này thấp Khánh Hòa là một tỉnh thuộc miền Trung, có nghề Nuôi Trồng Thủy Sản phát triển mạnh Tuy nhiên cá lăng nha vẫn là đối tượng nuôi mới tại tỉnh này Với mục đích đa dạng hóa đối tượng nuôi cho khu vực miền trung như tỉnh Khánh Hòa thì cần phải có hướng nghiên cứu
sâu hơn vào giai đoạn ương từ cá hương lên cá giống nhằm đạt mục tiêu“Tăng tốc độ sinh trưởng và tăng tỷ lệ sống cho cá”
Đạt được mục tiêu trên sẽ có ý nghĩa lớn trong việc cải thiện chất lượng con giống, cung cấp được cỡ giống cho phù hợp với các hình thức nuôi thương phẩm khác nhau( nuôi trong ao đất, lồng bè…), đảm bảo nguồn giống ổn định, nâng cao năng suất
và hiệu quả, đa dạng hóa đối tượng nuôi
Xuất phát từ vấn đề trên và được sự đồng ý của khoa Nuôi Trồng Thủy Sản,
trường Đại học Nha Trang tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng các loại thức ăn khác nhau và mật độ nuôi lên tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá lăng
nha (Hemibagrus wyckioides) giai đoạn từ 15 ngày tuổi đến 75 ngày tuổi, ương
trong giai đặt trong ao đất tại Khánh Hòa”
Đề tài thực hiện với những nội dung sau:
Trang 12- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau (cá tạp, thức ăn công nghiệp, trùn quế) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng nha giai đoạn ương từ 15 ngày tuổi đến 75 ngày tuổi
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi (mật độ 200 con/m2, 250 con/m2, 300 con/m2) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng nha giai đoạn ương từ 15 ngày tuổi đến 75 ngày tuổi
Trang 13PHẦN 1: TỔNG LUẬN
1.1 Đặc điểm sinh học của cá lăng nha
1.1.1 Hệ thống phân loại
Cá lăng nha (Hemibagrus wyckioides Chaux & Fang, 1949) là loài cá nước ngọt
và có hệ thống phân loại như sau:
Ngành: Chordata Bateson, 1885-chordates
Ngành phụ: Vertebrata Cuvier,1812 Vertebrates
Loài: Hemibagrus wyckioides (Fang & Chaux, 1949)[35]
Và có các tên tương tự: Macrones wyckioides (Fang & Chaux, 1949), Mystus wyckioides (Fang & Chaux, 1949), Mystus aubentoni (Desoutter, 1975)
Tên tiếng Anh là Asian Redtail Catfish
1.1.2 Đặc điểm sinh thái
Cá lăng nha (Hemibagrus wyckioides Fang & Chaux, 1949) là loài cá nhiệt đới
phân bố ở châu Á, đặc biệt là các nước thuộc lưu vực sông Mê Kông như miền Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan [36] Ở Việt Nam chúng phân bố rộng rãi trong các thủy vực nước ngọt, lợ nhẹ ở miền Nam Các nghiên cứu về khu hệ
cá sông ngòi ở Tây Nguyên cũng đã xác định sự có mặt của loài cá này Cá thường sống ở những con sông lớn, ở các độ sâu khác nhau, nơi có đáy đá [31] Chúng di cư đến vùng ngập lụt suốt mùa nước lớn từ tháng 7 đến tháng 10[29]
Một số yếu tố môi trường nước thích hợp cho cá sinh sống là: pH từ 6 ÷ 8,2 và tốt nhất là 6 ÷ 7,6 Nhiệt độ từ 19 ÷ 290C và độ cứng từ 5 ÷ 250H [37] Hàm lượng Oxy hòa tan từ 3 mg/l trở lên Độ trong từ 20 ÷ 40 cm [1]
1.1.3 Đặc điểm hình thái
Đầu có dạng hình nón, hơi dẹp đứng, đỉnh đầu nhám [14] Miệng cá hơi rộng Mắt trung bình và nằm gần đỉnh đầu Thân cá thuôn dài, có màu xám hoặc nâu sáng, ánh xanh lục nhạt Phần bụng có màu trắng [38] Đuôi cá dẹp ngang Màng mang tách
Trang 14khỏi eo mang và phần lớn tách rời nhau Răng lá mía nằm trên một dãy cong Xương chẩm không kéo dài đến gốc trước xương vây lưng [31] Cá lăng nha có 4 đôi râu, đôi râu hàm trên dài đến gốc vây hậu môn, đôi râu
hàm dưới dài đến vây ngực, đôi râu mũi ngắn
chưa đến mắt, đôi râu cằm ngắn hơn râu hàm
dưới và chưa đến vây ngực Vây ngực mang
gai cứng và có răng cưa ở phía sau [14] Vây
lưng có 1 tia cứng nhẵn và 7 ÷ 8 tia mềm Vây
hậu môn có 12 ÷ 14 tia mềm [29] Số tia vây
bụng là 6 ÷ 7 Vây mỡ ngắn và không kết dính với vây hậu môn [14] Cá con có vây đuôi trắng, nhưng khi đạt kích thước 15cm vây đuôi sẽ có màu đỏ tươi sáng [26] Vây bụng màu vàng nhạt, các vây khác màu đỏ nhạt [14] Đây là loài cá có kích thước lớn nhất trong họ Kích thước cá phổ biến khoảng 50 cm, lớn nhất đến 70 cm [31], có con nặng đến 86 kg với chiều dài 130 cm [37] Cá 2 tuổi có khối lượng khoảng 2 ÷ 2,5 kg/con
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lăng nha thuộc nhóm cá dữ với cấu tạo bộ máy tiêu hóa điển hình là miệng rộng, hàm có răng sắc nhọn và có dạ dày lớn Ngoài tự nhiên ấu trùng cá khi nở ra có kích thước tương đối lớn (7mm) với khối noãn hoàng to Cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng khoảng 2 ÷ 3 ngày đầu Ngày thứ 3 cá bắt đầu ăn thức ăn ngoài chủ yếu là moina Thức ăn của cá trưởng thành là côn trùng, tôm, cua [28] và cá [29] Trong điều kiện nuôi nhốt có thể cho cá ăn trai, tôm, cá, giun đất và thức ăn viên công nghiệp của các loài cá da trơn khác [38]
1.1.5 Đặc điểm sinh sản
Cá lăng nha không di cư sinh sản, cá sinh sản tại nơi cư trú [29] Mùa vụ sinh sản quanh năm Cá lăng nha rất dễ phân
biệt đực cái Cá đực có gai sinh dục
dài và đầu mút nhọn Cá cái có lỗ
sinh dục dạng tròn và hơi lồi, có mầu
hồng khi thành thục sinh dục
Ở cá lăng nha cái trong quá trình
rụng trứng cá có đặc tính hút nước từ
môi trường ngoài vào trong xoang
Hình 1.2: Phân biệt cá lăng nha đực và cái
Hình 1.1: Cá lăng nha
Trang 15bụng ở mức độ khác nhau theo từng cá thể Cá cái có mức độ hút nước thấp trong khi rụng trứng sẽ cho tỉ lệ thụ tinh cao và ngược lại, cá có mức độ hút nước cao trong khi rụng trứng sẽ cho tỉ lệ thụ tinh thấp [5]
1.1.6 Tập tính sống
Cá lăng nha sống thành từng đàn hoạt động ở tầng đáy, thích trú ẩn trong các bụi cây, hốc đá, thích yên tĩnh Cá bắt mồi về ban đêm Cá thích sống nơi nước chảy nhẹ, tuy nhiên vẫn sống tốt trong nước tĩnh [1] Chúng di cư tới vùng nước lớn từ tháng 7 đến tháng 10 [38]
1.2 Tình hình nghiên cứu cá lăng nha trên thế giới
1.2.1 Nghiên cứu về di truyền
Nguồn gen tốt là yếu tố quan trọng liên quan đến kết quả nuôi trồng So với cá
lăng vàng (Hemibagrus nemurus) các nghiên cứu về đặc điểm di truyền của cá lăng
nha còn rất ít Thawat Donsakul đã nghiên cứu nhiễm sắc thể ở 4 loài cá lăng:
Hemibagrus nemurus, H wyckii, H wyckioides và H singaringan ở Thái Lan Kết quả
như sau:
- Cá lăng vàng H nemurus có số nhiễm sắc thể lưỡng bội là 58 Kiểu nhân gồm
có 14 đôi có thể nhiễm sắc (TNS) tâm giữa, 4 đôi có TNS tâm gần giữa, 10 đôi có TNS tâm ở gần mút và 1 đôi có TNS tâm ngọn Số nhánh là 94
- Cá lăng H wyckii có số nhiễm sắc thể lưỡng bội là 62 Kiểu nhân có 17 đôi có
TNS tâm giữa, 5 đôi có TNS tâm gần giữa, 4 đôi có TNS tâm gần mút và 5 đôi có TNS tâm ngọn Số nhánh là 104
- Cá lăng H singaringan có số nhiễm sắc thể lưỡng bội là 56 Kiểu nhân có 12
đôi có TNS tâm giữa, 7 đôi có TNS tâm gần giữa, 5 đôi có TNS tâm gần mút và 4 đôi
có TNS tâm ngọn Số nhánh là 94
- Cá lăng nha H wyckioides có số nhiễm sắc thể lưỡng bội là 58 Kiểu nhân có
12 đôi có TNS tâm giữa, 5 đôi có TNS tâm gần giữa, 3 đôi có TNS tâm gần mút và 9 đôi có TNS tâm ngọn Số nhánh là 92
Kết quả cho thấy cá lăng nha có số nhiễm sắc thể lưỡng bội là tương đồng với cá lăng vàng nhưng kiểu nhân của các TNS là khác nhau [24]
Bên cạnh nghiên cứu về nhiễm sắc thể còn có nghiên cứu về hiệu suất di truyền các đặc điểm liên quan đến giá trị kinh tế của cá lăng nha do Supattra Uraiwan và ctv
thực hiện Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu suất di truyền và mối tương
Trang 16quan di truyền liên quan đến giá trị kinh tế của cá lăng nha khi nuôi trong 24 ao bê tông 20 m2 Thí nghiệm được tiến hành tại Viện Di Truyền Thủy Sản Quốc Gia Thái Lan từ tháng 6/1999 - 7/2000 12 gia đình cùng huyết và 6 gia đình bán đồng huyết được chọn để đánh giá các thông số di truyền Hệ số di truyền trung bình về chiều dài
và khối lượng cá ở 30, 90, 180, 270, 330 và 360 ngày tuổi là thấp đến vừa phải dao động từ 0,01 ± 0.00 đến 0,580 ± 0.22 Hệ số di truyền trung bình về tỷ lệ tăng trưởng tại 30, 90, 180 và 270 ngày tuổi là dao động từ 0,07 ± 0,19 đến 0,59 ± 0,32 Các đặc điểm khác như tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ sống, % thịt và tỷ lệ hoán chuyển thức ăn
có hệ số di truyền dao động từ 0,06 ± 0,10 đến 0,34 ± 025 Mối tương quan di truyền
có thể di truyền trung bình dao động từ 0,36 đến 1,04 là được tìm thấy ở những đặc điểm: Chiều dài và khối lượng, tỷ lệ tăng trưởng của cá ở 90 và 270 ngày tuổi; chiều dài hoặc khối lượng, % thịt và tỷ lệ sống của cá 30 ngày tuổi Mối tương quan di truyền không có khả năng di truyền có giá trị trung bình từ -0,03 đến -0,69 được tìm thấy ở tỷ lệ tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn Hiệu suất di truyền từ thấp đến trung bình của một số đặc điểm liên quan đến giá trị kinh tế của cá lăng nha cho thấy
có thể ứng dụng các kỹ thuật chọn lọc để cải thiện tính di truyền của các đặc điểm này Mối tương quan di truyền có khả năng di truyền ở một vài đặc điểm cho thấy việc lựa chọn một đặc điểm sẽ mang lại kết quả cho chính đặc điểm đó Ví dụ: nếu chọn lọc được áp dụng cho tỷ lệ tăng trưởng tại thời điểm cá 90 ngày tuổi thì có thể tìm thấy mối tương quan di truyền về tỷ lệ tăng trưởng ở cá 270 ngày tuổi [34]
1.2.2 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lăng nha
Philippe Cacot (2007) đã tiến hành nghiên cứu cho sinh sản và ương nuôi cá lăng nha 28 con cá lăng nha cái có nguồn gốc từ sông Mê Kông được lựa chọn, đưa vào nuôi trong ao 10 tháng trước khi tiến hành cho sinh sản nhân tạo Kết quả kích thích sinh sản sử dụng kích dục tố GnRHa với liều tiêm 100 µg/kg cho 16 con cái có tỷ lệ rụng trứng là 100% Quá trình rụng trứng xảy ra sau khi tiêm 17 giờ Sức sinh sản trung bình đạt 14.700 trứng/kg cá cái Khối lượng cá cái trung bình là 4,1 kg/con Tinh dịch được nặn trực tiếp từ túi tinh Túi tinh được cắt từ con đực Tỷ lệ nở là 61% Từ
số cá bột sản xuất ở thí nghiệm trên, Philippe Cacot đã tiến hành thí nghiệm ương cá bột lên cá giống Giai đoạn đầu ương trong bể đến 15 ngày tuổi, giai đoạn tiếp theo ương trong ao Bể kính ương cá có thể tích 300 l (200 x 50 x 30 cm) với mật độ ương
200 con/l cho tỷ lệ sống đạt 80% Cá ương trong bể nhựa nhỏ có thể tích 3,5 l với mật
Trang 17độ thả 50 con/l có tỷ lệ sống 91% sau 21 ngày ương Cho cá ăn Moina từ 5 ÷ 10 ngày đầu sau đó cho ăn thức ăn viên khô cỡ nhỏ (51% protein) Trong suốt thời gian cho cá
ăn thức ăn viên nước trong bể được lọc bằng máy lọc, không bổ sung nước mới Moina được sản xuất trong bể bê tông (6 m3) với phương pháp nước xanh từ phân bón (ure, NPK, phân gà và vôi) Moina được thu hoạch từ ngày thứ 7 sau khi bón phân Thời gian ương cá trong ao là 1,5 tháng Mật độ ương là 50 ÷ 100 con/m2 Thức ăn sử dụng là thức ăn viên ẩm (33% protein) và sau đó là thức ăn viên khô (28% protein) Sau thời gian ương cá sống gần như 100% với sức sinh trưởng tốt Khối lượng thân lần lượt đạt 0,25; 0,5; 1,5; 3 và 5 g sau 20, 30, 40, 50 và 60 ngày ương [23]
Amornsakun (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc trì hoãn cho ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng nha bột Thí nghiệm bỏ đói được tiến hành trong bể thể tích 15 lít (thể tích nước là 10 lít) với 3 lần lặp lại, 200 con cá bột mới nở được giữ không cho ăn Cá bột chết nhiều tại 146 giờ và chết hoàn toàn sau 190 giờ tại nhiệt độ nước 27 ÷ 300C Ảnh hưởng của việc trì hoãn cho ăn được bố trí 6 thí nghiệm: (D0) Cho ăn ngay sau khi nở; (D1) cho ăn từ ngày thứ nhất; (D2) cho ăn từ ngày thứ 2; (D3) cho ăn từ ngày thứ 3; (D4) cho ăn từ ngày thứ 4 và (D5) cho ăn từ ngày thứ 5 Thức ăn ban đầu cho cá lăng nha bột là Moina với mật độ 5 - 10 con/ml Sau 8 ngày thí nghiệm (tính từ khi cá nở) tỷ lệ sống trung bình ở các lô thí nghiệm là: (D0) 92,5%; (D1) 91,0%; (D2) 90,0%; (D3) 90,0%; (D4) 85,0% và (D5) 76,6% Tỷ lệ sống trung bình của cá bột ở thí nghiệm D4 và D5 thấp hơn có ý nghĩa thống kê (P<0,01) so với các thí nghiệm D0, D1, D2 và D3 Tỷ lệ sống trung bình là không khác nhau có ý nghĩa (P<0,01) ở các lô D0, D1, D2 và D3 Chiều dài trung bình của cá bột ở các lô D0, D1, D2, D3, D4 và D5 lần lượt là 3,25; 3,05; 3,03; 2,85; 2,85 và 2,63 cm Chiều dài trung bình của cá bột ở lô D0 là lớn hơn có ý nghĩa (P<0.01) so với cá bột ở các lô D1, D2, D3, D4 và D5 Kết quả của thí nghiệm này cho thấy việc cho cá lăng nha bột ăn Moina trong 3 ngày đầu sau khi nở là đảm bảo cho tỷ lệ sống và sức sinh trưởng của cá [22] Sithong Lesongpao và Somphan Philavong thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Cá Nội Đồng và Nuôi Các Loài Cá Bản Địa Sông Mê Kông tại Somboon đã nghiên cứu thử nghiệm ương cá lăng nha trong lồng với 3 loại thức ăn khác nhau Nuôi
cá lăng nha trong lồng nhằm tăng tỷ lệ sống và giảm chi phí đầu vào thông qua việc sử dụng các thức ăn sẵn có như nuôi giun đất và sử dụng ốc làm thức ăn Sử dụng 9 lồng ương có thể tích là (2x3x2 m) đặt trong ao đất với 3 công thức thức ăn là: T1 100%
Trang 18thức ăn viên, T2 50% thức ăn viên và 50% giun đất, T3 50% thức ăn viên và 50% ốc
Để kích thích sự thèm ăn của cá, che 30 % bề mặt lồng Mật độ nuôi 300 con/lồng, cá
1 tháng tuổi, cỡ 1gr Sau 4 tháng nuôi cá có hình dạng giống cá trưởng thành, đuôi và vây có màu đỏ FCR của T1=3,46, T2=3,18, T3=3,11 do đó hiệu quả kinh tế sẽ theo thứ
tự là T3>T2>T1 Tỷ lệ sống của T1, T2, T3 lần lượt là 94%, 97%, 96% Cuối cùng khối lượng của cá theo T1, T2, T3 lần lượt là 64, 68 và 72 gr Sự sai khác có ý nghĩa giữa T1với T2, T3 (p<0,05) Ương cá lăng nha trong ao đất cũng là một sự lựa chọn bằng việc
áp dụng kỹ thuật được đề cập bên trên nhằm tăng tỷ lệ sống và giảm chi phí, đạt kết quả tốt hơn về chỉ tiêu tăng trưởng của cá [39]
1.2.3 Nghiên cứu nuôi thương phẩm
Wisanuporn Ratanatrivong & CTV đã tiến hành nghiên cứu nuôi cá lăng nha trong bể bê tông nước chảy tại Trung Tâm Phát Triển Nghề Cá Nội Đồng Phitsanulok
từ tháng 6 ÷ 12/1996 Mục đích của thí nghiệm này là nghiên cứu sinh trưởng, tỷ lệ sống, sản lượng và giá thành sản xuất khi nuôi cá lăng nha Thí nghiệm được tiến hành trong bể bê tông 70 m2 có nước chảy liên tục với thức ăn sử dụng là thức ăn viên 35% protein trong 6 tháng Mật độ thí nghiệm là 10, 20 và 40 con/m3 với 2 lần lặp lại Chiều dài và khối lượng trung bình ban đầu là 6,41 ± 1,0 cm và 2,41 ± 0,26 g Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng của cá lăng nha ở các lô thí nghiệm là khác nhau có ý nghĩa (p>0,05) Mật độ nuôi cho tăng trưởng nhanh nhất là 10 con/m3 Kết quả thu hoạch: Cá đạt chiều dài 25,09 ± 1,59, 23,06 ± 1,75 và 20,44 ± 1,66 cm; khối lượng 117,87 ± 21,76, 82,57 ± 16,15 và 52,49 ± 10,63 g; % tăng trọng là 4.790,9 ± 357,37, 3.325,9 ± 17,31 và 2.078,0 ± 462,41%; tăng trọng hàng ngày là 0,62 ± 0,047, 0,43 ± 0,002 và 0,27 ± 0,060 g/ngày; tỷ lệ tăng trưởng riêng là 2,10 ± 0,039, 1,91 ± 0,002 và 1,66 ± 0,117%/ngày; và tỷ lệ tăng trưởng riêng là 0,047 ± 0,0007, 0,044 ± 0,0002 và 0,039 ± 0,0022 cm/ngày tại các mật độ 10, 20 và 40 con/m3 lần lượt Tỷ lệ sống và hệ
số chuyển đổi thức ăn (FCR) của cá lăng nha ở các mật độ thử nghiệm 10, 20 và 40 con/m3 là khác nhau có ý nghĩa (p>0,05), tỷ lệ sống trung bình là 96,2 ± 0,38, 93,7 ± 1,26 và 90,0 ± 7,45%, và FCR là 3,6 ± 0,32, 4,05 ± 0,230 và 4,6 ± 0,74, lần lượt Sản lượng thu hoạch lần lượt đạt 64 ± 5,82, 86,3 ± 4,91, 102,4 ± 16,54 kg/bể Giá thành sản xuất lần lượt là 99,39; 121,94; 162,76 baht/kg (1baht = 550 VND) Thí nghiệm nuôi cá lăng nha tại mật độ 10 con/m2 cho sức sinh trưởng nhanh nhất và giá thành thấp nhất[33]
Trang 19Sukhawadee Kasisuwan & CTV ở Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Nghề Cá Nội Đồng Songkhla - Thái Lan đã tiến hành nghiên cứu tỷ lệ thức ăn phù hợp khi nuôi
cá lăng nha trong lồng Hiệu quả của 4 mức cho ăn khác nhau được thử nghiệm là: 12,
9, 6 và 3% khối lượng thân/ngày Cá được nuôi trong lồng đặt trong ao Cá giống có khối lượng thân trung bình ban đầu 3,46 ± 0,61 g là được thả ở mật độ 50 con/lồng Cá được cho ăn 2 lần/ngày Sau 12 tuần nuôi, kết quả đạt được ở mức cho ăn 12, 9, 6 và 3% khối lượng thân/ngày như sau: Khối lượng thân trung bình cuối cùng là 50,81 ± 0,71; 40,52 ± 4,72; 37,34 ± 1,45 và 26,75 ± 1,41 g; tỷ lệ tăng trưởng riêng là 3,20 ± 0,02; 2,92 ± 0,14; 2,84 ± 0,04 và 2,43 ± 0,06 %/ngày; tỷ lệ chuyển đổi thức ăn là 3,46
± 0,32; 2,76 ± 0,18; 1,58 ± 0,01 và 1,07±0,15; tỷ lệ sống là 80,67 ± 3,06; 79,33 ± 5,03; 82,00 ± 3,46 và 68,67 ± 7,57 % Kết quả này cho thấy mức cho ăn 12% khối lượng thân/ngày cho sức sinh trưởng tốt nhất (p<0.05) Sức sinh trưởng của cá khác nhau không có ý nghĩa ở tỷ lệ thức ăn 9% và 6% (p>0.05) nhưng lại lớn hơn cá cho ăn với lượng 3% (p<0.05) Tỷ lệ sống giữa các mức thức ăn 12, 9 và 6% khác nhau không có
ý nghĩa thống kê (p>0.05) Tỷ lệ cho ăn 3 % cho tỷ lệ sống thấp nhất (p<0.05) Như vậy, tỷ lệ thức ăn phù hợp nhất cho sinh trưởng là 12% và 6% là tỷ lệ thức ăn có giá thành sản xuất thích hợp [25]
1.3.Tình hình nghiên cứu cá lăng nha trong nước
1.3.1 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo
Thạc sĩ Ngô Văn Ngọc và nhóm nghiên cứu thuộc Khoa Thủy sản – Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công 4 loài cá lăng
gồm có cá lăng vàng (Hemibagrus nemurus Valenciennes, 1839), cá lăng hầm (Hemibagrus filamentus Chang và Faux, 1949), cá lăng nha (Hemibagrus wyckioides Chang và Faux, 1949) và cá lăng nghệ (Hemibagrus sp.) [17]
Đề tài: “Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá lăng nha” đã được khoa Thủy Sản - trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh tiến hành từ tháng 04/2002 đến tháng 04/2005 Đàn cá lăng nha được mua từ hồ Trị An (Đồng Nai) Cá được thuần dưỡng và nuôi vỗ trong ao đất với thức ăn là 50% cá tạp và 50% thức ăn công nghiệp hiệu Greenfeed Kích dục tố sử dụng trong sinh sản nhân tạo cá lăng nha ở NT-I là HCG và NT-II là LH-RHa Mỗi nghiệm thức chia làm 3 lô theo liều lượng kích dục tố
và lặp lại nhiều lần vào các thời điểm khác nhau Đối với cá cái sử dụng phương pháp tiêm nhiều lần, thời gian tiêm cá đực cùng lúc với liều quyết định của cá cái Áp dụng
Trang 20phương pháp gieo tinh bán khô, trứng được khử dính bằng phương pháp Carbamide và
ấp trong bình weis Kết quả nuôi vỗ cá lăng nha bố mẹ cho thấy, cùng một mật độ (0,5 kg/m2) và chế độ cho ăn, cá nuôi vỗ trong ao có diện tích 1.200 m2 đạt tỷ lệ thành thục 90% và hệ số thành thục cao hơn nhiều so với cá nuôi trong ao 300 m2 đạt tỷ lệ thành thục 60% So với cá lăng vàng hệ số thành thục của cá lăng nha thấp hơn song đường kính trứng cá lăng nha là 1,9 ÷ 2,1 mm lớn hơn đường kính trứng cá lăng vàng sau thụ tinh (1,17÷1,32 mm) Vì vậy, sức sinh sản thực tế của cá lăng nha (8.240 ÷ 12.500 trứng/kg cá cái) thấp hơn so với cá lăng vàng (126.364 ÷ 142.000 trứng/kg cá cái) [6] Kết quả cũng cho thấy, HCG và LH-RHa đều có tác dụng kích thích sự rụng trứng của
cá lăng nha ở liều: HCG: 4.000 IU/kg cá cái, còn LH-RHa: 120 µg/kg cá cái Sự khác biệt về thời gian hiệu ứng giữa 2 loại kích dục tố này không có ý nghĩa thống kê (P < 0,01), dao động từ 9 ÷ 11 giờ tính từ lúc tiêm liều quyết định Tỷ lệ rụng trứng ở cả 2 nghiệm thức là 100% (lô 2, 3) và 70% của LH-RHa và 80% của HCG (lô 1) Quá trình nghiên cứu cũng cho thấy, tỷ lệ thụ tinh của cá lăng nha phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng buồng tinh và mức độ hút nước vào khoang bụng của cá cái trong quá trình rụng trứng chứ không phụ thuộc vào loại kích dục tố Cá cái có mức độ hút nước thấp trong khi rụng trứng sẽ cho tỷ lệ thụ tinh cao và ngược lại Đặc điểm này hoàn toàn khác với các loài cá khác Thời gian phát triển phôi dao động từ 22 ÷ 24 giờ ở nhiệt độ 29 ÷ 310C Thí nghiệm ương cá bột lên cá giống được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn I: Ương trong bể composite với mật độ 4.000 con/m3(NT I) và 6.000 con/m3 (NT II) từ 3
÷ 6 ngày tuổi, thức ăn là Moina và trùn chỉ; giai đoạn II: Ương trong giai (NT I) hoặc
ao đất (NT II) từ 6 ÷ 27 ngày tuổi với mật độ 640 con/m3, thức ăn là trùn chỉ về sau thay dần bằng cá tạp (hấp chín) và thức ăn viên (32% protein) Khác với cá lăng vàng mới nở có kích thước 4 mm, cá lăng nha mới nở có kích thước rất lớn (7 mm) với bọc noãn hoàng rất to Cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài từ 3 ngày tuổi Vì kích cỡ lớn nên thức ăn thích hợp ban đầu là Moina trong khi đó cá lăng vàng 2 ngày tuổi ăn Artemia [6] Kết quả, giai đoạn I, ở mật độ ương 4.000 con/m3 cá đạt tỷ lệ sống 90,8% (kích cỡ: 1,8 ± 0,3 cm và 0,1 ± 0,05 g/con) và ở mật độ 6.000 con/m3 tỷ lệ sống đạt 88,6% (kích cỡ: 1,7 ± 0,3 cm và 0,091 ± 0,06 g/con) Phân tích ANOVA thì chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống của cá ở 2 nghiệm thức khác nhau không có ý nghĩa (p<0,05) Ở giai đoạn II, sau 8 lần ương cho thấy chiều dài và khối lượng bình quân của cá ương trong giai đặt trong ao đất (4,2 ± 0,4 cm; 1,05 ± 0,12 g/con) là thấp hơn có ý nghĩa
Trang 21thống kê (P<0,05) so với cá ương trực tiếp trong ao (5 ± 0,4 cm; 1,26 ± 0,1 g/con) Tuy nhiên, tỷ lệ sống của cá ương trong giai (70 ± 10%) là cao hơn trong ao đất (60 ± 12%) nhưng cá dễ mắc bệnh hơn Như vậy, kết quả ương nuôi cá lăng nha ở giai đoạn
I cho thấy ở cả hai nghiệm thức cá đều phát triển tốt và có sức sống cao Tuy nhiên, để nâng cao năng suất nên ương cá với mật độ 6.000 con/m3 Kết quả ương giai đoạn II cho phép kết luận cá ương trong ao đất là khỏe và lớn nhanh hơn cá ương trong giai Việc ương cá trong giai có thể áp dụng nhằm tận dụng mặt nước song phải đảm bảo chất lượng nước ao nuôi [5]
Năm 2006, Chi Cục Bảo Vệ Nông Lâm Thủy Sản Đồng Nai cũng đã thực hiện thành công đề tài: “Nghiên cứu quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá lăng nha trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” Theo kết quả của đề tài, cá lăng nha sinh sản theo hình thức thụ tinh nhân tạo cho kết quả khá tốt, sức sinh sản thực tế từ 8.000 ÷ 21.050 trứng/kg cá cái Cá ương trong giai có tốc độ tăng trưởng chậm hơn cá ương trong ao đất nhưng tỷ lệ sống lại cao hơn nhiều với thức ăn sử dụng là trùn chỉ và thay thế dần bằng thức ăn viên
1.3.2 Nghiên cứu nuôi thương phẩm
Theo “Kỹ thuật nuôi cá lăng nha thương phẩm” của Thạc sĩ Ngô Văn Ngọc - Khoa Thủy sản -Trường Đại học Nông lâm – TP HCM, để nuôi cá lăng nha đạt hiệu quả, người nuôi có thể nuôi theo hình thức thâm canh (trong ao đất và bè) hoặc bán thâm canh (ao đất) Tuy nhiên cá lăng nha nuôi trong bè lớn nhanh hơn cá nuôi trong
ao Thời gian nuôi từ 1 ÷ 2 năm Sau 1 năm nuôi, khối lượng cá đạt 0,7 ÷ 1 kg/con Năm thứ 2, cá đạt khối lượng 2 ÷ 2,5 kg/con Mật độ thả giống 8 ÷ 10 con/m2 đối với nuôi thâm canh, 4 ÷ 5 con/m2 đối với nuôi bán thâm canh và nuôi bè 60 ÷ 80 con/m3 Nguồn nước dùng để nuôi cá Lăng nha phải có chất lượng tốt như: Độ pH từ 6 ÷ 8 (tốt nhất 6,5 ÷ 7,5); oxy hòa tan trên 3mg/l; độ trong từ 30 ÷ 40cm; độ mặn 0 ÷ 5 %o ; hàm lượng NH3 dưới 0,01mg/l Ngoài nuôi đơn, cá lăng nha có thể nuôi ghép với một số loài cá khác (cá mè, cá trôi, cá chép, cá rô phi…) với tỷ lệ cá lăng nha chiếm 20 ÷ 30% trong tổng đàn Trong ao nuôi đơn nên thả thêm khoảng 3 ÷ 5% cá rô phi thường để bổ sung thức ăn tươi sống cho cá Thức ăn cho cá có thể là cá tạp, tự chế hoặc thức ăn viên nổi Trong điều kiện nuôi nhốt, từ tháng thứ 8 trở đi cá tăng trọng rất nhanh
Từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2008, Thạc sĩ Ngô Văn Ngọc nghiên cứu “Xác định khẩu phần ăn thích hợp cho cá lăng nha” Đề tài nhằm xác định khẩu phần ăn
Trang 22thích hợp cho cá sự tăng trưởng và sự sống cá lăng nha, làm cơ sở cho việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào nuôi thương phẩm loại cá này Thí nghiệm được thực hiện trong hệ thống tuần hoàn khép kín gồm 20 bể composite dung tích 200l/bể (kể cả 5 bể nuôi dự trữ để bổ sung cá hao hụt trong thời gian đầu thí nghiệm) Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức thức ăn, lặp lại 3 lần NTĐC: 100% cá tạp xay nhuyễn, NT I: 75% cá tạp xay nhuyễn + 25% thức ăn viên, NT II: 50% cá tạp xay nhuyễn + 50% thức ăn viên,
NT III: 25% cá tạp xay nhuyễn + 75 % thức ăn viên, NT IV: 100 % thức ăn viên Mỗi
bể thả 60 con cá giống cỡ 5,17 cm, khối lượng 1,9 g Kết quả thu được khối lượng trung bình của cá lăng nha ở các NT khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05) Khối lượng trung bình của NT I (75% cá tạp xay nhuyễn + 25 thức ăn viên) là lớn nhất (26,39 ± 0,42g), khác nhau có ý nghĩa thống kê so với các NT còn lại (P<0,05) Khối lượng trung bình của cá NTĐC (100% cá tạp xay nhuyễn) và NT II (50% cá tạp xay nhuyễn + 50% thức ăn viên) sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05) Tuy nhiên, khối lượng trung bình của 2 nghiệm thức này lớn hơn một cách có ý nghĩa về thống kê so với khối lượng trung bình của cá ở NT III (25% cá tạp xay nhuyễn + 75% thức ăn viên) và NT IV (100% thức ăn viên) Trong tất cả các nghiệm thức thì khối lượng trung bình của cá lăng nha ở NT IV đạt giá trị thấp nhất (12,03 ± 0,48g) so với các nghiệm thức còn lại Tăng trưởng về chiều dài của cá ở các nghiệm thức cũng tương tự như tăng trưởng về khối lượng Qua phân tích ANOVA, chiều dài trung bình của cá sau khi kết thúc thí nghiệm cũng có sự khác nhau có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (P<0,05), trừ NTĐC và NT II khác nhau không có ý nghĩa về thống kê Tỷ lệ sống của cá lăng nha ở các nghiệm thức đều trên 90% và khác biệt không có ý nghĩa
về mặt thống kê [7]
Theo Trung Tâm Khuyến Ngư và Giống Thủy Sản An Giang, ở giai đoạn đầu (từ dưới 6 tháng tuổi), cá lăng nha phát triển bình thường như các loài cá lăng khác, nhưng sau đó (khi cá nặng khoảng 300g/con trở lên) cá tăng trọng rất nhanh Thời gian nuôi tương đối kéo dài (từ 1÷1,5 năm mới đạt hiệu quả cao) Trong điều kiện nuôi bằng thức ăn viên kết hợp cá tạp, sau 10 tháng nuôi cá đạt khối lượng từ 1÷1,4 kg/con Trong quá trình nuôi cần chú ý cá có thể bị ngợp vào buổi sáng sớm (nuôi ao) và lúc nước đứng (nuôi bè) do cá lăng nha không thở được khí trời Tuy vậy, Trung Tâm cũng khuyến cáo, dù áp dụng hình thức nuôi nào, người nuôi cũng nên thực hiện đúng các biện pháp kỹ thuật từ khâu chuẩn bị, thả giống, cho ăn đến khâu chăm sóc Với sự
Trang 23thành công của đề tài sinh sản nhân tạo và ương giống cá lăng nha, tỉnh An Giang đã phê duyệt đề tài “Nuôi thương phẩm cá lăng nha tại tỉnh An Giang” do Trung tâm Khuyến Ngư & Giống Thuỷ Sản An Giang cùng Khoa Thủy Sản - Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện Đề tài tập trung xây dựng qui trình
và chuyển giao qui trình nuôi cá lăng nha thương phẩm trong bè tại An Giang, đa dạng hóa và bảo vệ nguồn lợi cá nước ngọt bản địa có giá trị kinh tế cao, bảo tồn tính đa dạng sinh học và lưu giữ nguồn gen thuần trong thủy vực tự nhiên [16]
Từ tháng 11/2007, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III đã thực hiện đề
tài: ‘‘Nghiên cứu xây dựng quy trình nuôi cá lăng nha (Hemibagrus wyckioides Fang
& Chaux, 1949) thương phẩm bằng hình thức nuôi ao và lồng ở Kon Tum’’ Kết quả bước đầu cho thấy cá lăng nha sinh trưởng tốt trong ao đất và trong lồng Thức ăn thích hợp để nuôi cá là thức ăn chế biến Mật độ thả thích hợp khoảng từ 4 ÷ 6 con/m2
ao đất [8]
Tỉnh Bình Định đã di nhập nuôi thử nghiệm cá lăng nha từ năm 2007 tại Trại Nuôi Trồng Thủy Sản Mỹ Châu với số lượng 1200 con cá cỡ 2÷3 g/con Sau 1 năm nuôi cá đạt trung bình khoảng 500 g/con [15]
1.4 Sơ lược về nhu cầu dinh dưỡng của cá
1.4.1 Nhu cầu protein
Protein là hợp chất hữu cơ cao phân tử chủ yếu để xây dựng nên các tổ chức mô, các tổ chức cơ quan của cơ thể động vật, hình thành nên các vật chất có hoạt tính sinh học cao Protein chiếm 70÷75% vật chất khô của cơ thể Cơ thể không thể hấp thu protein qua thành ruột mà trước hết protein được các enzyme protease phân cắt thành các amino acid Các amino acid là các đơn phân có thể hấp thu qua thành ống tiêu hóa,
đi vào máu và được máu vận chuyển đến các tổ chức mô và các cơ quan Tại đây nó được sử dụng vào hai mục đích chủ yếu là chức năng sinh trưởng (tổng hợp nên các cơ quan mới) và chức năng duy trì (thay thế các cơ quan già cỗi) Mặt khác trong một số trường hợp protein còn sử dụng vào mục đích năng lượng
Nhu cầu protein là lượng protein tối thiểu trong thức ăn nhằm làm thỏa mãn nhu cầu về amino acid để đạt được tốc độ tăng trưởng tối đa Cá có một nhu cầu về hỗn hợp khá cân bằng của các amino acid thiết yếu và không thiết yếu hơn là có một nhu cầu về protein được hiểu theo cách thông thường [12].Vì vậy nhu cầu protein một số đối tượng sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như năng lượng thức ăn, thành phần amino acid
Trang 24của thức ăn và khả năng tiêu hóa được của loại thức ăn protein đó Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein như:
- Kích thước và tuổi cá: Ở giai đoạn ấu trùng và giống nhỏ thì nhu cầu protein cao hơn so với giai đoạn giống lớn và trưởng thành Nhu cầu protein ước tính của
cá giống của nhiều loài dao động từ 30 đến 56% của khẩu phần
- Các yếu tố sinh thái: Nhiệt độ nước là yếu tố sinh thái quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến nhu cầu protein Khi nhiệt độ tăng lên thì nhu cầu protein trong thức
ăn cũng tăng lên Ngoài ra còn có yếu tố độ mặn, pH, hàm lượng oxy hòa tan trong nước
- Mức năng lượng có trong thức ăn: Khi năng lượng trong thức ăn không đáp ứng
đủ thì một phần protein sẽ được sử dụng vào mục đích năng lượng
- Chất lượng thức ăn và loại thức ăn: loại thức ăn tốt là phải có thành phần sinh hóa acid amin tương đồng với đối tượng và cá có khả năng tiêu hóa tốt
1.4.2 Nhu cầu amino acid
Có 20 loại amino acid thường gặp trong protein thức ăn và trong cơ thể động vật, trong đó có 10 amino acid không thể thay thế đối với động vật nói chung
Bảng 1.1 Các nhu cầu amino acid của cá [12]
Nhu cầu thay đổi tùy thuộc vào lượng cysteine trong khẩu phần
b Nhu cầu thay đổi tùy thuộc vào lượng tyrosine trong khẩu phần
1.4.3 Nhu cầu về lipid
Lipid là hợp chất hữu cơ không tan trong nước nhưng tan được trong dung môi hữu cơ Chức năng chính của lipid ở động vật hoặc là làm các phân tử tích trữ năng
Amino acid Nhu cầu (g/100g protein)
Trang 25lượng ở mức cao hoặc là làm các thành phần của các màng tế bào Có 5 lớp lipid chính: các acid béo, các triglyceride (mỡ), các phospholipid, các steroid và các sphingolipid
Nhìn chung 10÷20% lipid trong các khẩu phần của cá cho các tốc độ sinh trưởng tối ưu mà không tạo ra một cơ thể quá béo (Cowey và Sargent, 1979) Khả năng sử dụng lipid như một nguồn năng lượng phổ biến thì có sự khác nhau giữa các loài Chẳng hạn như khi cá hồi cầu vồng được cho ăn các khẩu phần có các hàm lượng lipid
là 5÷20% và các hàm lượng protein là 16÷48% Tỷ lệ protein tối ưu đối với lipid được phát hiện là 35% protein và 18% lipid (Takeuchi và ctv, 1978a, b) Tuy nhiên cá chép cho ăn các khẩu phần ăn có mức protein cố định 32%, có lipid thay đổi từ 5÷15% và
có sự giảm tương ứng hàm lượng carbohydrate đã không cho thấy sinh trưởng tăng lên hoặc các hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn (Takeuchi và ctv, 1979)
Cá bỏ đói thường sử dụng nguồn dự trữ lipid như là một nguồn năng lượng hơn
là sử dụng protein và carbohydrate Cũng có bằng chứng cho thấy sự huy động lipid ở
cá bị bỏ đói có tính chọn lọc, trong đó các acid béo ít bão hòa và ngắn hơn (C18 và C16) được huy động trước tiên (Sargent và ctv,1989)
1.4.4 Nhu cầu acid béo thiết yếu của cá
Acid béo thiết yếu là những acid béo rất cần thiết cho động vật thủy sản, nhưng
cơ thể động vật không tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn [3] Động vật thủy sản có khả năng sinh tổng hợp palmitic acid (C16:0) từ nguồn acetate (nguồn acetate chủ yếu
từ glucose) Acid palmitic là tiền chất của các acid béo no và acid béo không no [12]
Để tạo ra các acid béo no khác bằng cách chúng kéo dài hay thu ngắn chuỗi carbon (tạo myristic hay stearic acid) Để tạo ra các acid béo không no 1 nối đôi họ n5, n7, n9, chúng có khả năng gắn thêm nối đôi vào palmitic, myristic hay stearic acid tại các vị trí n5, n7, n9 Ngược lại một số acid béo không no, không thể sinh tổng hợp nếu như tiền chất không có trong thức ăn Các thí nghiệm chứng tỏ linolenic acid (18:3n3) va linoleic (18:2n6) rất quan trọng đối với cá và là tiền chất tổng hợp các acid béo khác thuộc họ n3 và n6 bằng cách kéo dài thêm hai đơn vị carbon hay tăng số nối đôi lên nhịp CH=CH-CH2-CH=CH về phía đầu methyl Như vậy, có thể thấy ở động vật thủy sản linoleic acid và linolenic là hai acid béo thiết yếu Những linoleic va linolenic này được gọi tên là PUFA(polyunsaturated fatty acid) Những acid béo trong 2 họ trên có chuỗi carbon dài trên 20 như 20:3n3, 22:4n3, 20:2n6, 22:3n6 được gọi tên là HUFA [3]
Trang 26Nhiều nghiên cứu cho thấy vai trò các acid béo thiết yếu rất quan trọng trong biến dưỡng Acid béo thiết yếu họ n3 ảnh hưởng quyết định đến tỷ lệ sống của động vật ở giai đoạn ấu trùng, giai đoạn giống nhỏ Acid béo thiết yếu họ n6 ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng của ấu trùng và giống nhỏ Các acid béo thiết yếu là thành phần cấu tạo chính của phospholipid cấu tạo nên màng cơ bản và chất vận chuyển lipoprotein, giúp sự hấp thụ lipid Acid béo có vai trò như chất nền, cho việc sinh tổng hợp các hormone như: prostaglandin và các hợp chất như leukotrien, tromboxane Các hợp chất tác động lên hệ thần kinh mạch máu, tiêu hóa và cơ quan sinh sản Quan trọng nhất nó ảnh hưởng đến sinh sản ( kích thích rụng trứng) và điều hòa áp lực thẩm thấu ở mang [3] Đối với những loài thủy sản nước ngọt thì có thiên hướng về nhu cầu acid béo họ n6 Đối với giáp xác, cá biển thì có nhu cầu n3 cao hơn Tất cả các loài cá được nghiên cứu cho đến nay dường như cần các C18:3n3 ở mức khoảng 1 ÷ 2% của khẩu phần theo khối lượng khô Nhu cầu này có thể giảm đi thông qua việc cho ăn các n3 PUFA mạch dài hơn như C20:5n3, C22:5n3 hoặc C22:6n3 đến khoảng 0,5% của khẩu phần theo khối lượng khô [12] Tỷ số n6/n3 còn giảm theo nhiệt độ Cá xứ lạnh
có nhu cầu acid béo họ n3 cao hơn và nhu cầu acid béo họ n6 thấp hơn cá xứ nhiệt đới Tóm lại mỗi loài cá có nhu cầu acid béo thiết yếu khác nhau, tùy thuộc yếu tố môi trường khác nhau và cấu tạo cơ thể
1.4.5 Nhu cầu Carbohydrate của cá
Carbohydrate là hợp chất hữu cơ được sử dụng vào mục đích cung cấp năng lượng thức ăn đáng kể cho các loài cá ăn tạp và ăn thực vật Carbohydrate không phải
là thành phần dinh dưỡng cần thiết trong thức ăn thủy sản và động vật thủy sản không
có nhu cầu carbohydrate trong thức ăn như các acid amin và các acid béo thiết yếu Tuy nhiên khi thiếu nguồn năng lượng này trong thức ăn các động vật thủy sản sẽ sử dụng protein và lipid làm nguồn năng lượng Carbohydrate là nguồn cung cấp năng lượng rẻ tiền Trong các nhóm thức ăn carbohydrate thì tinh bột được động vật nói chung và động vật thủy sản nói riêng sử dụng nhiều nhất Chất xơ là thành phần không tiêu hóa được và được động vật bài tiết ra ngoài Nhưng chất xơ lại có vai trò là nền cho quá trình lên men của vi sinh vật và chính các vi sinh vật là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng [3]
Trang 271.4.6 Nhu cầu vitamine và chất khoáng của cá
Vitamine là hợp chất hữu cơ mà cơ thể có nhu cấu với khối lượng rất nhỏ nhưng giá trị sinh học thì vô cùng to lớn Vitamine có tác dụng tăng cường quá trình trao đổi chất trong cơ thể, tăng cường quá trình tiêu hóa, hấp thụ thức ăn, làm cho quá trình sử dụng thức ăn triệt để hơn, hiệu quả hơn Nhu cầu về các vitamine ở các loài cá khác nhau thay đổi rất lớn theo tập tính ăn thông thường và theo khả năng tổng hợp vitamine của chúng
Chất khoáng hay các nguyên tố vô cơ, cần cho động vật để duy trì nhiều quá trình chuyển hóa của chúng và để cung cấp vật liệu cho các thành phần cấu trúc chủ yếu chẳng hạn như xương Không phải tất cả các nguyên tố được sử dụng trong quá trình chuyển hóa là cần phải có trong khẩu phần của động vật Khoáng cần cho sự chuyển hóa bình thường có thể được chia thành hai nhóm, các khoáng đa lượng và khoáng vi lượng Các khoáng đa lượng được yêu cầu với những lượng lớn như Ca, P,
Mg, Na, K, Cl, S Các khoáng vi lượng được yêu cầu với những lượng nhỏ như : Fe, I,
Mn, Cu, Zn, Se, Cr Nhìn chung các nhu cầu khẩu phần về các chất khoáng là rất ít được biết đến bởi vì sự khó khăn trong việc phát hiện ra các khẩu phần thiếu hụt chất khoáng và nhu cầu để giải phóng hết các dự trữ chất khoáng trong mô ra
1.4.7 Nhu cầu năng lượng của cá
Năng lượng được định nghĩa như khả năng làm việc Động vật có nhu cầu năng lượng trong tất cả các giai đoạn của quá trình sống Nhu cầu năng lượng tùy thuộc từng loài, từng giai đoạn phát triển, trạng thái sinh lý và đặc biệt phụ thuộc vào điều kiện sinh thái của môi trường Các nguồn năng lượng bao gồm từ protein, carbohydrate và lipid
Trang 28PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Trại Thực Nghiệm Công ty TNHH Thủy Sản Tây Nguyên, xã Khánh Đông, huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa
Huyện Khánh Vĩnh nằm ở phía tây của tỉnh Khánh Hòa, địa hình chủ yếu là đồi núi thấp xen kẽ bình nguyên và thung lũng Khí hậu có 2 mùa là mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa ngắn khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 âm lịch Lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm Nhiệt độ trung bình hằng năm khá cao khoảng 26,70C Từ tháng 1 đến tháng 8 có thể coi là mùa khô thời tiết thay đổi dần, những tháng đầu mùa trời mát, nhiệt độ từ 17÷250C nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trời nóng nhiệt độ có thể tới 34÷38 0C Con sông Cái có độ dài 79 km bắt nguồn từ Hòn Gia Lê cao 1.812m thuộc vùng núi cao phía Tây của tỉnh chảy qua Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Nha Trang rồi đổ ra biển Lưu vực có lượng mưa bình quân 1.750 m3 Sông có lưu lượng bình quân 55,7 m3/giây Lưu lượng mùa khô là 7,32 m3/giây Đây là con
sông lớn nhất và có lượng nước rồi dào nhất của tỉnh
Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 5/2010 tới tháng 5/2011
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Cá lăng nha (Hemibagrus wyckioides Chaux & Fang, 1949) giai đoạn cá 15 ngày
tuổi ương đến 75 ngày tuổi
Nguồn cá giống: từ trại cá giống Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
Vận chuyển cá: Cá được đóng bao oxy (3 lớp bao nilon bên trong và 1 lớp bao
dứa bên ngoài) Thời gian vận chuyển 10÷11h Sau khi vận chuyển cá vẫn khỏe, đảm
bảo yêu cầu tiến hành thí nghiệm
2.3 Phương pháp luận
2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Trang 292.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Hệ thống thí nghiệm
Gồm 2 thí nghiệm, mỗi thí nghiệm có 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Các thí nghiệm được bố trí trong giai đặt trong ao đất (diện tích 500 m2, sâu 1,5m).Giai có thể tích 1,4 m3 (1 m x 1m x 1,4m) Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn( CRD)
Kết luận và đề xuất ý kiến
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức
ăn khác nhau lên tốc độ sinh trưởng và tỷ
Thức ăn trùn quế
Mật độ
300 con/m2
Mật độ
250 con/m2
Mật độ
200 con/m2
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau và mật độ ương lên
tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng nha giai đoạn 15 ngày tuổi đến
75 ngày tuổi
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.2 Hệ thống giai thí nghiệm
Trang 30Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn (cá tạp, thức ăn công
nghiệp, trùn quế) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng nha giai đoạn từ 15 đến 75 ngày tuổi
Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức với 3 loại thức ăn khác nhau:
- Chọn ngẫu nhiên 1800 con từ 5000 con cá lăng nha 15 ngày tuổi
- Mật độ ương trong thí nghiệm 1 là 200 con/m2 Sơ đồ bố trí giai thí nghiệm như sau:
6
(lô 2.3)
5 (lô 2.2)
3 (lô 1.3)
1 (lô 1.1)
7 (lô 3.1)
9 (lô 3.3)
2 (lô 1.2)
8 (lô 3.2)
4 (lô 2.1)
Chọn cá lăng nha khỏe mạnh
(15 ngày tuổi)
NT1
Thức ăn cá tạp
NT2 Thức ăn công nghiệp
NT3 Thức ăn trùn quế
Lô
1.2
Lô 1.3
Lô 2.2
Lô 2.3
Lô 3.1
Lô 3.2
Đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn (cá tạp, thức ăn công nghiệp, trùn quế) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng
nha từ 15 đến75 ngày tuổi
Lô
1.1
Lô 2.1
Lô 3.3
Hình 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1
Trang 31Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của các mật độ khác nhau (300 con/m2, 250 con/m2, 200 con/m2) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng nha giai đoạn ương từ 15 đến 75 ngày tuổi
Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức với mật độ nuôi như sau:
- Chọn ngẫu nhiên 2250 con từ 3200 con cá lăng nha 15 ngày tuổi được mua từ trại
cá giống ở Củ Chi Mật độ thả mỗi giai theo sơ đồ bố trí thí nghiệm Sơ đồ bố trí giai thí nghiệm như sau:
- Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 2 là cá tạp
3
(lô 1.3)
8 (lô 3.2)
4 (lô 2.1)
7 (lô 3.1)
6 (lô 2.3)
5 (lô 2.2)
1 (lô 1.1)
9 (lô 3.3)
2 (lô 1.2)
Chọn cá lăng nha khỏe mạnh
Lô 2.2
Lô 2.3
Lô 3.1
Lô 3.2
Đánh giá ảnh hưởng mật độ (300 con/m2, 250 con/m2, 200 con/m2) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng nha từ 15÷75 ngày
tuổi
Lô
1.1
Lô 2.1
Lô 3.3
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2
Trang 32Chế độ chăm sóc và quản lý:
- Chuẩn bị thức ăn:
o Thức ăn cá tạp được chia theo khẩu phần ăn từng ngày, đựng trong túi nilon Các túi này được đặt trong hộp nhựa đậy kín nắp và bảo quản trong tủ lạnh Nhiệt độ bảo quản 0oC Thời gian bảo quản tối đa 3 ngày Trước khi cho ăn,
cá được hấp chín Chờ đến khi cá nguội thì bổ sung vitamin C và khoáng chất Sau 10 phút cho các chất thấm vào thức ăn rồi mang cho cá ăn
Hình 2.5: Cá tạp
o Thức ăn công nghiệp: sử dụng thức ăn chuyên dụng cho cá tra, basa của công ty Uni-president, đây là loại thức ăn nổi Vì tập tính cá lăng nha sống đáy nên thức ăn được chuyển từ dạng nổi sang dạng chìm Trước tiên phải làm mềm thức ăn Cứ 100 g thức thêm 20 g nước, đảo đều cho thức ăn thấm nước Bổ sung vitamin C và khoáng chất, chất kết dính (bột mì, bột gòn, agar) trộn đều và nặn thành viên lớn
Hình 2.6: Thức ăn công nghiệp
o Thức ăn trùn quế được rửa sạch, giai đoạn đầu cắt nhỏ, giai đoạn sau cho ăn nguyên con
Trang 33Tháng thứ 2, cá được cho ăn 2 lần/ngày Sáng cho ăn 2/5 khẩu phần, chiều cho
ăn 3/5 khẩu phần Buổi sáng cho ăn lúc 5h, chiều cho ăn lúc 17h
- Quản lý môi trường ao nuôi và theo dõi sức khỏe cá
Trong 3 tuần đầu định kỳ 5 ngày thay giai 1 lần, các tuần tiếp theo định kỳ 1 tuần thay giai 1 lần
* Xác định các yếu tố môi trường
- Đo nhiệt độ nước bằng nhiệt kế, độ chính xác 1oC
- Đo độ pH, DO, hàm lượng NH3/NH4+ bằng các Test pH, Test O2, Test NH3/NH4+được sản xuất tại Đức
Trang 34- Các yếu tố môi trường được đo vào lúc 7h và 14h Nhiệt độ, pH theo dõi hằng ngày
DO và hàm lượng NH3/NH4+ 3 ngày/lần
* Xác định tốc độ tăng trưởng
- Mẫu cá được cân, đo 15 ngày/lần Số lượng mẫu kiểm tra từng giai là 30 con
- Đo chiều dài cá bằng giấy kẻ ôly
- Cân khối lượng cá bằng cân điện tử có độ chính xác tới 0,01 g
- Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài của cá ( SGRl: Specific Growth Rate of Length)
- Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về khối lượng của cá ( SGRW : Specific Growth Rate of Weight )
- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình/ngày về chiều dài của cá ( AGRl:
Average Growth Rate of Length)
- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình/ngày về khối lượng của cá (AGRw: Average Growth Rate of Weight)
(g/ngày)
- Tỷ lệ gia tăng về chiều dài cá (% chiều dài) (Lt-gain: Length gain)
- Tỷ lệ gia tăng về khối lượng cá (% khối lượng) (Wt-gain : Weight gain)
Trong đó: L1, L2: chiều dài cá tương ứng ở thời điểm T1, T2 W1, W2 : khối lượng cá tương ứng ở thời điểm T1, T2
* Hệ số phân đàn (CV: Coefficient of Variation)
- Hệ số phân đàn theo chiều dài (%)
- Hệ số phân đàn theo khối lượng (%)
Trang 35
Trong đó: S(l), S(w) là độ lệch chuẩn về chiều dài và khối lượng
Xtb(l), Xtb(w) là giá trị trung bình về chiều dài và khối lượng
Phân tích Protein bằng phương pháp Kjeldahl
Phân tích Lipid bằng phương pháp chiết xuất với Ether
Phân tích chất Tro bằng phương pháp nung trong lò ở nhiệt độ 500oC
Phân tích Glucid bằng phương pháp:
+ Xác định thành phần chất xơ bằng phương pháp chiết xuất với dung dịch axit, sau đó là bazo pha loãng
+ Xác định các thành phần đường hòa tan = Tổng khối lượng mẫu – Tổng khối lượng (nước, chất tro, protein, lipid, chất xơ)
Phân tích và xử lý sô liệu bằng phần mềm Excel và phần mềm SPSS 15.0, phân tích phương sai một yếu tố ANOVA với độ tin cậy 95% để đánh giá ảnh hưởng các loại thức ăn, mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Dùng phương pháp Tukey để
so sánh sự khác nhau giữa các nghiệm thức
Trang 36PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm
Cả hai thí nghiệm được bố trí cùng thời điểm và cùng điều kiện Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm như sau
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm
15/03 25/03 04/04 14/04 24/04 04/05 14/05
Nhiệt độ ( o C)
Ngày
Nhiệt độ 7h Nhiệt độ 14h
Hình 3.1: Đồ thị biến động nhiệt độ nước trong quá trình thí nghiệm
Dựa vào đồ thị ta thấy trong 9 ngày đầu nhiệt độ nước tăng dần từ 26 ÷ 29oC Từ ngày thứ 10 tới ngày thứ 21 có sự biến động lớn về nhiệt Ngày thứ 10 nhiệt độ đột ngột giảm xuống 25oC vào buổi sáng và 26oC vào buổi chiều Nhiệt độ tiếp tục giảm
và duy trì trong khoảng 23 ÷ 24oC từ ngày thứ 12 tới ngày thứ 17 Ngày thứ 20, 21 nhiệt độ đột ngột tăng lên 30 ÷ 32oC, tiếp tục duy trì nhiệt độ này cho tới ngày thứ 27
Trang 37Những ngày sau đó nhiệt độ ổn định trong khoảng 29 ÷ 31oC Cá được ương vào giữa tháng 3, thông thường đây là thời điểm thích hợp cho việc ương nuôi nhưng từ cuối năm 2010 tới đầu năm 2011 khí hậu lạnh hơn những năm trước, mưa nhiều và gây ra
sự biến đổi nhiệt độ đột ngột Nhiệt độ cao hạ xuống thấp, rồi lại tăng cao gây hiện tượng cá bị sốc nhiệt và chết nhiều Theo bảng 3.1 thì nhiệt độ trung bình của nước trong ao vào buổi sáng và buổi chiều lần lượt là 28,3 ± 0,26oC và 29,1 ± 0,28 oC Như vậy nhiệt độ nước trong quá trình thí nghiệm vẫn nằm trong khoảng giới hạn thích hợp
cho cá sinh trưởng và phát triển
pH nước
Bảng 3.1 cho thấy pH nước trong quá trình thí nghiệm là 7,3 ÷ 7,8 Theo yêu cầu
về độ pH của nước nuôi cá lăng nha là 6 ÷ 8,2 Như vậy pH nước trong ao nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá lăng nha
Hình 3.2: Đồ thị biến động pH nước trong quá trình thí nghiệm
Hàm lượng Oxy hòa tan
Theo bảng 3.1 hàm lượng oxy hòa tan trong nước ao nuôi là 5 ÷ 6 mg/l, thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá lăng nha Trong một tháng đầu của quá trình ương do không có sục khí nên hàm lượng oxy hòa tan vào khoảng 5 ÷ 5,5 mg/l Tháng thứ 2 hàm lượng oxy hòa tan trong nước duy trì ở mức 5,5 ÷ 6 mg/l Sự biến động hàm lượng oxy trong nước được thể hiện như sau:
Trang 38Hình 3.3: Đồ thị biến động hàm lượng oxy hòa tan trong quá trình thí nghiệm
Hàm lượng NH 3 /NH 4 +
Theo kết quả kiểm tra hàm lượng NH3/NH4+ dao động từ 0,1 ÷ 0,3 mg/l, hàm lượng này là mức trung bình không ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cá lăng nha Hàm lượng NH3/NH4+ có sự tăng dần cho tới cuối đợt ương, do nước ao nuôi không được thay trong quá trình ương Sự biến động hàm lượng NH3/NH4+ được thể hiện như sau
Hình 3.4: Đồ thị biến động hàm lượng NH3/NH4+ trong quá trình thí nghiệm
Nhìn chung kết quả đo đạc các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH, DO,
NH3/NH4+ đều nằm trong giới hạn thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá lăng nha