1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt

76 498 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

56 Hình 3.4: Sinh trưởng về trọng lượng của tôm hùm Bông được ương nuôi trong ao đất với 2 loại thức ăn.. 60 Hình 3.6: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng của tôm hùm Bông được ươ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang đã quan tâm và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn TS Lê Anh Tuấn đã tận tình giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức

và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tập ở lớp Cao học Nuôi trồng Thủy sản khóa 2009 – 2011, trường Đại học Nha Trang

Xin cảm ơn tập thể cán bộ của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản – Đại học Nha Trang đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện đề tài

Xin cảm ơn dự án ACIAR và công ty Lucky Star Co., Ltd đã giúp đỡ hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật để tôi thực hiện được đề tài

Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè đã động viện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài

Lời cuối cùng, tôi xin được cảm ơn ba mẹ cùng những người thân trong gia đình tôi, đã luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể học tập cũng như hoàn thành đề tài

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Nguyễn Bá Thiên An

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I – TỔNG QUAN 3

1.1 Sơ lược các đặc điểm sinh học của đối tượng nghiên cứu 3

1.1.1 Hệ thống phân loại 3

1.1.2 Đặc điểm sinh thái và phân bố 4

1.1.3 Đặc điểm sinh học sinh trưởng và dinh dưỡng 8

1.2 Tình hình nghề nuôi tôm hùm 11

1.2.1 Tình hình nghề nuôi tôm hùm trên thế giới 11

1.2.2 Tình hình nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam 14

1.3 Dinh dưỡng và thức ăn của tôm hùm 16

1.4 Các khía cạnh kinh tế và môi trường của nghề nuôi tôm hùm trên thế giới và Việt Nam 22

1.4.1 Các khía cạnh kinh tế của nghề nuôi tôm hùm trên thế giới và Việt Nam 22

1.4.2 Các khía cạnh môi trường của nghề nuôi tôm hùm trên thế giới và Việt Nam 25

CHƯƠNG II – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 27

2.2.2 Phương pháp điều tra và thu số liệu về tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm Bông (P ornatus) ở tỉnh Khánh Hòa 29

2.3 Bố trí thí nghiệm và thu số liệu thử nghiệm ương nuôi tôm hùm Bông (P ornatus) trong ao đất phủ bạt 34

2.3.1 Nguồn tôm hùm Bông thí nghiệm 34

Trang 4

2.3.2 Nguồn nước nuôi tôm hùm Bông thí nghiệm 34

2.3.3 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 36

2.3.4 Chăm sóc và quản lý tôm hùm Bông ở các ao thí nghiệm 37

2.3.5 Thức ăn tươi 37

2.3.6 Thức ăn công nghiệp 38

2.3.7 Bố trí thí nghiệm 38

2.3.8 Phương pháp thu số liệu trong thử nghiệm ương nuôi tôm hùm trong ao đất phủ bạt bằng thức ăn công nghiệp 39

2.4 Phân tích và xử lý số liệu 40

CHƯƠNG III – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN 41

3.1 Tình hình nuôi thương phẩm tôm hùm Bông tỉnh Khánh Hòa 41

3.2 Tình hình sử dụng thức ăn, kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm Bông và thái độ của người nuôi tôm hùm đối với việc sử dụng thức ăn công nghiệp ở tỉnh Khánh Hòa 46

3.2.1 Tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm Bông ở tỉnh Khánh Hòa 46

3.2.2 Thái độ của người dân nuôi tôm hùm về việc sử dụng thức ăn công nghiệp cho nuôi tôm hùm lồng 48

3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của nghề nuôi tôm hùm Bông hiện nay ở tỉnh Khánh Hòa 49

3.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi tôm hùm Bông hiện nay ở tỉnh Khánh Hòa 50

3.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của nghề nuôi tôm hùm lồng lên môi trường ở tỉnh Khánh Hòa 53

3.4 Thử nghiệm ương nuôi tôm hùm Bông nuôi trong ao đất phủ bạt 54

3.4.1 Môi trường trong hệ thống ao nuôi thí nghiệm 55

3.4.2 Sinh trưởng của tôm hùm Bông được ương nuôi trong ao đất phủ bạt với hai loại thức ăn khác nhau 57

3.4.3 Tỷ lệ sống của tôm hùm Bông ương nuôi trong ao đất phủ bạt đối với 2 loại thức ăn khác nhau 61

CHƯƠNG IV – KẾT LUẬN & ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 63

4.1 Kết luận 63

4.2 Đề xuất ý kiến 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Phân bố số lượng lồng nuôi (lồng) và sản lượng tôm hùm nuôi lồng

(tấn/năm) tại Việt Nam qua các năm [11], [12]. 15

Bảng 1.2: Đặc điểm kinh tế và sinh học của các loài tôm hùm gai ở Việt Nam 23

Bảng 1.3: Hộ nuôi và tổng thu nhập hàng năm của các hộ nuôi tôm hùm ở 3 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận 25

Bảng 3.1: Tình hình chung nghề nuôi tôm hùm Bông tỉnh Khánh Hòa 41

Bảng 3.2: Thông tin chung về các hộ nuôi 42

Bảng 3.3: Thông tin chung về giống và thu hoạch năm 2010 43

Bảng 3.4: Thông tin chung về lồng nuôi 44

Bảng 3.5: Thông tin chung về kích thước, thời gian và mật độ các giai đoạn 45

Bảng 3.6: Thành phần các loại thức ăn, kỹ thuật cho ăn từng giai đoạn nuôi tôm hùm Bông ở tỉnh Khánh Hòa 47

Bảng 3.7: Cấu trúc chi phí sản xuất của hoạt động nuôi tôm hùm Bông ở tỉnh Khánh Hòa (n = 100) 50

Bảng 3.8: Chi phí thức ăn là cá tạp để sản xuất ra 1kg tôm hùm Bông nuôi lồng tỉnh Khánh Hòa 52

Bảng 3.9: Các chỉ tiêu về kinh tế ngành nuôi tôm hùm lồng ở tỉnh Khánh Hòa [50] 52

Bảng 3.10: Thành phần sinh hóa các loại thức ăn tươi nuôi tôm hùm ở Khánh Hòa [50] 53

Bảng 3.11: Lượng Nitơ thải vào môi trường của nghề nuôi tôm hùm tỉnh Khánh Hòa năm 2010 54

Bảng 3.12: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống ao ương nuôi thí nghiệm 55

Bảng 3.13: Các chỉ tiêu sinh trưởng về khối lượng tôm hùm Bông được ương nuôi trong ao đất phủ bạt với 2 loại thức ăn 59

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Chu kỳ sống của tôm hùm [10], [27] 4

Hình 1.2: Sơ đồ biểu diễn tỷ lệ phần trăm các loại thức ăn chủ yếu của tôm hùm Mỹ (Homarus americanus) ngoài tự nhiên [28] 11

Hình 1.3: Bốn loài tôm hùm Gai nuôi nhiều nhất ở Việt Nam 24

Hình 2.1: Sơ đồ khối phương pháp nghiên cứu 28

Hình 2.2: Lồng chìm nuôi tôm hùm ở tỉnh Khánh Hòa 29

Hình 2.3: Lồng nổi nuôi tôm hùm ở tỉnh Khánh Hòa 30

Hình 2.4: Hình ảnh tôm hùm Bông ương giống trước khi đem vào thí nghiệm 34

Hình 2.5: Qui trình xử lý nước để ương nuôi thí nghiệm 35

Hình 2.6: Các thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 36

Hình 2.7: Thức ăn tươi 38

Hình 2.8: Thức ăn công nghiệp 38

Hình 3.1: Thái độ của người nuôi tôm hùm trong việc sử dụng thức ăn công nghiệp để nuôi tôm hùm ở tỉnh Khánh Hòa(n = 100) 49

Hình 3.2: Hình ảnh ao đất phủ bạt nuôi tôm hùm Bông 56

Hình 3.3: Một số hình ảnh ao đất phủ bạt nuôi tôm hùm Bông bị lũ lụt 56

Hình 3.4: Sinh trưởng về trọng lượng của tôm hùm Bông được ương nuôi trong ao đất với 2 loại thức ăn 58

Hình 3.5: Sự tăng trưởng về trọng lượng của tôm hùm Bông được ương nuôi trong ao đất phủ bạt với 2 loại thức ăn khác tính theo phần trăm 60

Hình 3.6: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng của tôm hùm Bông được ương nuôi trong ao đất phủ bạt với 2 loại thức ăn 60

Hình 3.7: Hệ số chuyển đổi thức ăn của tôm hùm Bông ương nuôi trong ao đất phủ bạt đối với 2 loại thức ăn 61

Hình 3.8: Tỷ lệ sống tôm hùm Bông ương nuôi trong ao đất phủ bạt với 2 loại thức ăn 61

Trang 7

MỞ ĐẦU

Tôm hùm gai (Palinuridae) là một trong những đối tượng quan trọng của nghề nuôi biển trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Họ Palinuridae có 49 loài nhưng chỉ có 33 loài có giá trị kinh tế, trong đó

loài tôm hùm Bông (Panulirus ornatus) là một trong những loài được quan tâm

nhiều nhất, vì chúng là một trong những loài có thời gian phát triển của giai đoạn ấu trùng ngoài biển khơi ngắn nhất, sinh trưởng nhanh nhất và có giá trị kinh tế cao trên nhiều thị trường

Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm hùm được xem là bắt đầu từ năm 1992, ở tỉnh Khánh Hòa và hiện nay xác định đây là một đối tượng phát triển chủ lực của ngành Thủy sản do giá trị kinh tế và dinh dưỡng mà nó mang lại Nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam phát triển tập trung ở các tỉnh ven biển miền Nam Trung bộ: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, đã mang lại nhiều lợi nhuận cho người nuôi Trong 7 loài tôm hùm gai phân bố ở Việt Nam, tôm hùm Bông là loài được người nuôi tập trung nuôi nhiều nhất

Sự phát triển mạnh mẽ của nghề nuôi tôm hùm trong những năm gần đây đã cho thấy, đây là một nghề có hiệu quả kinh tế cao nhưng còn nhiều rủi ro Nguyên nhân: quy trình nuôi chưa hoàn thiện; nguồn giống còn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên; quá trình nuôi còn phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện thời tiết của tự nhiên; dịch bệnh, Để nghề nuôi tôm hùm có thể phát triển bền vững và có hiệu quả hơn, các nhà khoa học Việt Nam cần phải kết hợp với người nuôi tôm hùm và các nhà khoa học thế giới tìm hiểu và giải quyết các vấn đề trên

Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc nghiên cứu chuyên sâu hơn về điều kiện môi trường sống, các loại thức ăn và kỹ thuật cho ăn ở từng giai đoạn phát triển, hiệu quả kinh tế và môi trường của nghề nuôi tôm hùm Bông là vấn đề hết sức cấp thiết Nó sẽ là cơ sở để hoàn thiện quy trình nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề này

Được sự đồng ý và cho phép của trường Đại học Nha Trang và khoa Nuôi trồng Thủy sản, tôi thực hiện đề tài:

“Tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm

tôm hùm Bông (Panulirus ornatus Fabricius, 1798) tại Khánh Hòa và thử

nghiệm ương nuôi tôm hùm Bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt.”

Với các nội dung nghiên cứu sau:

1 Tình hình nuôi thương phẩm tôm hùm Bông ở Khánh Hòa

Trang 8

2 Tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm

hùm Bông

3 Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của hoạt động nuôi tôm hùm Bông

4 Thử nghiệm ương nuôi tôm hùm Bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ

bạt

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm dữ liệu khoa học về đặc điểm môi trường sống, đặc điểm dinh dưỡng của tôm hùm Bông, hiệu quả kinh tế và môi trường của nghề nuôi tôm hùm Bông và là cơ sở để hoàn thiện quy trình nuôi tôm hùm Bông ở tỉnh Khánh Hòa

Trang 9

Họ tôm hùm Gai (Palinuridae) có 49 loài thuộc 8 giống nhưng chỉ có 33 loài thuộc 3 giống (Panulirus, Palinurus và Jasus) có ý nghĩa kinh tế quan trọng trong

công nghiệp khai thác tôm hùm của thế giới, như: loài Panulirus marginatus ở vùng biển quần đảo Hawaii, loài Panulirus pascuensis ở vùng biển quần đảo Easter, loài Panulirus japonicus ở Đài Loan, [42] Các giống loài thường gặp trong họ này

được chia thành 3 nhóm theo vùng sinh thái rõ rệt: vùng biển nhiệt đới, vùng biển cận nhiệt đới và vùng biển ôn đới [41], [49]

Ở Việt Nam, vùng phân bố của 17 loài tôm hùm đã được mô tả [8] Đặc biệt, vùng biển miền Trung – Việt Nam (thuộc vùng biển khí hậu nhiệt đới), rất phong phú về thành phần giống loài tôm hùm, với họ Palinuridae có 7 loài thuộc giống Panulirus và 1 loài thuộc giống Linuparus; họ Synaxidae có 1 loài thuộc giống Scyllarides, 2 loài thuộc giống Ibacus và 1 loài thuộc giống Thenus [3]

Trong nhóm tôm hùm gai được nuôi phổ biến ở Việt Nam hiện nay, tôm hùm Bông (tôm hùm Sao, tôm hùm Hèo) là loài có giá trị thương phẩm cao nhất Và sau đây là vị trí phân loại của tôm hùm Bông:

Trang 10

Giới Động Vật (Animalia)

Ngành Chân Đốt (Arthropoda)

Lớp Giáp Xác (Crustacea)

Bộ Mười Chân (Decapoda)

Họ Tôm Hùm Gai (Palinuridae)

Giống Panulirus Loài Panulirus ornatus (Fabricius, 1798)

Tên Việt Nam: tôm hùm Bông, tôm hùm Sao và tôm hùm Hèo

Tên tiếng Anh: ornate spiny lobster, ornate rock lobster, tiger lobster

1.1.2 Đặc điểm sinh thái và phân bố

Phân bố của tôm hùm được quyết định bởi tính di truyền và quá trình thích nghi của loài với các điều kiện tự nhiên, môi trường ở từng vùng biển Tôm hùm gai

có chu kỳ sống rất phức tạp và trải qua nhiều lần thay đổi thích nghi với các môi trường sống khác nhau, nghĩa là mỗi giai đoạn sống chúng gắn với một điều kiện sinh thái nhất định và tạo ra những quần thể riêng biệt

Theo Phillips (2004), mô tả vòng đời phát triển của tôm hùm nói chung như sau:

Hình 1.1: Chu kỳ sống của tôm hùm [5], [27]

Theo các tác giả, Marx & Hermkind (1985) và Hermkind & Butler (1986) đã thống nhất phân chia chu kỳ sống của tôm hùm theo 5 thời kỳ chủ yếu: thời kỳ ấu

ẤU TRÙNG PHYLLOSOMA HẬU ẤU TRÙNG PUERULUS

Trôi nổi theo dòng nước nhờ sóng, gió

và dòng chảy

Theo dòng nước di chuyển vào vùng gần

bờ

Đi vào thềm lục địa

và sống ổn định ở vùng gần bờ

Sinh trưởng

và phát triển

ở vùng rạn

TÔM CON GIAI ĐOẠN LARVAE

Trang 11

trùng phyllosoma, thời kỳ hậu ấu trùng puerulus, thời kỳ tôm con (juvenile), thời kỳ tiền trưởng thành (immature) và thời kỳ thành thục (mature) [17]

Giai đoạn phát triển từ ấu trùng đến con non được chia làm 9 giai đoạn tương đương 2 thời kỳ: thời kỳ ấu trùng phyllosoma và thời kỳ hậu ấu trùng puerulus Thời kỳ ấu trùng phyllosoma bao gồm 5 giai đoạn, từ giai đoạn phyllosoma 01 đến phyllosoma 05 Thời kỳ hậu ấu trùng puerulus từ giai đoạn 06 đến giai đoạn 09 Thời gian cần thiết cho giai đoạn ấu trùng của các loài tôm hùm gai nhiệt đới là

khác nhau: với loài P cygnus, thời gian cần thiết cho quá trình phát triển ấu trùng ước tính khoảng 9 – 11 tháng (Phillips và ctv., 1979); với loài P ornatus thời gian

cần thiết cho quá trình phát triển ấu trùng ước tính khoảng 4 – 7 tháng [42]

 Thời kỳ ấu trùng phyllosoma: Tên phyllosoma có nguồn gốc từ

tiếng Hy Lạp, “phyllos” có nghĩa là lá, “soma” có nghĩa là cơ thể Ở thời kỳ này,

toàn thân ấu trùng trong suốt, có chiều dài cơ thể 1 – 2 mm, phát triển thông qua quá trình lột xác và sự tăng lên về kích thước [42] Hầu như trong suốt thời kỳ này,

ấu trùng sống trôi nổi trong tầng mặt như những sinh vật phù du từ những vùng biển không quá xa bờ đến những vùng biển khơi nhờ sóng, gió và các dòng hải

lưu, [12] Kết quả điều tra nghiên cứu loài P cygnus cho thấy, ấu trùng

phyllosoma sau khi nở ra đã có tập tính di cư thẳng đứng ở lớp nước tầng mặt của vùng nước gần bờ ra vùng biển Ấn Độ Dương, nhờ sức gió của lớp nước bề mặt chúng đã di chuyển đi với tốc độ khoảng 5.25km/ngày Những nghiên cứu về ấu

trùng phyllosoma loài P argus trong vùng biển phía Đông – Nam Florida cho thấy,

cả 3 thời kỳ ấu trùng phyllosoma đều phân bố trong lớp nước bề mặt, nhưng có sự khác nhau về cách thức phân bố thẳng đứng tùy thuộc và sự phát triển cá thể ở mỗi vùng mà ấu trùng đã thích nghi [51]

Ở Việt Nam, trên cơ sở phân tích những kết quả nghiên cứu về dòng chảy dọc biển Việt Nam đã cho thấy rằng ấu trùng phyllosoma tôm hùm bị phát tán bởi hệ thống các dòng chảy biển mùa hè, chúng luôn di chuyển và hoàn toàn phụ thuộc vào các điều kiện thuỷ văn môi trường biển khơi [5], [12], [13]

 Thời kỳ hậu ấu trùng puerulus: hậu ấu trùng đã bắt đầu sống

định cư và đạt chiều dài cơ thể khoảng 30mm [42] Nghiên cứu về thời kỳ này, Phillips (1975), Calinski & Lyons (1983), Phillips & Mac Millan (1987), Nishida và

Trang 12

CTV (1990) đã đưa ra những giả thuyết rất đặc trưng về đặc tính phân bố Ngay sau khi biến thái thành hậu ấu trùng puerulus, toàn thân hậu ấu trùng vẫn trong suốt nhưng có khả năng bơi lội tự do Chúng có xu hướng di chuyển vào những vùng biển nông có điều kiện sinh thái thuận lợi nhờ vào hệ thống cảm nhận phức tạp trên anten 2 và các lông cứng, hậu ấu trùng đã có khả năng định hướng những tín hiệu liên quan đến đường bờ biển Môi trường phân bố của hậu ấu trùng puerulus phụ thuộc vào điều kiện sinh thái của các vịnh, vũng hoặc đầm Song, đa số là những vùng biển ít sóng gió; nguồn thức ăn phong phú đa dạng; đáy bùn – cát, trầm tích hạt mịn hoặc có nhiều rong che phủ; với hàm lượng các chất hữu cơ cao Thời kỳ này, hậu ấu trùng thích bám trên rong, trên đá, ví dụ: thời kỳ hậu ấu trùng

puerulus loài P argus thường gặp trong vùng có rong đỏ (Laurencia spp), hoặc của loài P interruptus và P japonicus trong các hốc, lỗ nhỏ Theo các tác giả, ở thời kỳ

hậu ấu trùng puerulus môi trường sinh thái thích hợp là yếu tố quan trọng hơn cả nguồn thức ăn [44]

 Thời kỳ tôm hùm con (juvenile): Sau khi lột xác và biến thái,

hậu ấu trùng puerulus trở thành tôm hùm con với màu sắc và hình thái rất giống tôm trưởng thành, nhưng sống định cư trong các vũng, vịnh, đầm, ven biển Khác với các giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng, tôm hùm con sống ổn định hơn và thường tập trung ở các vùng rạn san hô trong các vũng, vịnh, đầm, với độ sâu phân bố dao động trong khoảng 0,5 – 5m Bắt đầu thời kỳ này, tập tính sống bầy đàn của tôm hùm đã thể hiện rất rõ Chúng thường nấp trong các khe, kẽ đá hoặc bám vào những hõm, lỗ nhỏ của các ghềnh đá

Những yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phân bố thời kỳ tôm hùm con của tôm hùm gai đã được Berry (1971) đưa ra khi nghiên cứu tôm hùm ở vùng ven biển phía Đông Châu Phi, bao gồm: nhiệt độ nước, độ mặn, độ đục, độ sâu, hàm lượng oxy hòa tan, loại đáy, sự dao động của thủy triều và vùng địa lý George

& Main (1967), cho rằng nhiệt độ nước là một trong những tham số sinh thái quan trọng, bị chi phối bởi độ sâu và vĩ độ đã quyết định phân bố của các giống trong họ Palinuridae

Hầu hết các loài thuộc giống Panulirus sống ở vùng nước ấm, nhiệt độ dao động từ 20 – 300C, trung bình khoảng 250C Đó là những vùng thềm lục địa, vĩ

Trang 13

độ thấp khoảng từ 35 – 100 Và từ thời kỳ này, nguồn thức ăn là một trong những yếu tố chính quyết định môi trường sống của chúng [12], [3836]

 Thời kỳ tiền trưởng thành (immature): Khi đạt đến thời kỳ tiền

trưởng thành, đa số tôm hùm gai có tập tính sống theo bầy đàn Theo George & Kensler (1970), các loài tôm hùm thuộc giống Panulirus thường gặp ở vùng biển xích đạo của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và mỗi loài chiếm cứ một vùng

địa lý rất rõ ràng [37] Và cụ thể, theo George (1974): loài P penicillatus sống ở vùng rạn xa bờ, nơi thường bị sóng biển xô đập mạnh; loài P longipes thích sống phía trên mặt rạn, nhiều ánh sáng và hàm lượng oxy hòa tan cao hay loài P versicolor dường như chỉ tìm thấy dưới những lớp đá ngầm có dòng chảy thủy triều

mạnh;

 Thời kỳ trưởng thành (mature): có thể nói thời kỳ này là một

bước ngoặt đáng chú ý trong đặc tính phân bố của tôm hùm, chúng có xu hướng di chuyển có định hướng ra khỏi các đầm, vũng, vịnh, để đến các vùng rạn sâu hơn với những điều kiện sinh thái thuận lợi cho sự phát triển và sinh sản của loài Theo Mckoy & Leachman (1982), Mac Diarmid (1985), Lipcius & Herrnkind (1987), các tiến trình sinh sản của tôm hùm có liên quan chặt chẽ với các yếu tố sinh thái như chu kỳ ánh sáng và nhiệt độ, cụ thể: thời gian chiếu sáng dài và nước ấm lên đã làm tăng khả năng cặp đôi và sự phát triển buồng trứng của các cá thể; đặc biệt nhiệt độ cao làm tăng đáng kể tỷ lệ lột xác ở con trưởng thành; ảnh hưởng đến cả sự thụ tinh cho trứng ở các con cái; Và trong thời kỳ này, tôm hùm thường sống trong các rạn ngầm và rạn ghềnh có độ sâu trên 10m đến khoảng 35 – 50m, thường là vùng rạn ven bờ và các hải đảo, nền đáy là đá tảng, san hô và cát bùn

Ở Việt Nam, tôm hùm thường phân bố ở khu vực ven bờ từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan; và con giống thường phân bố chính ở vùng biển miền Trung từ tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Bình Thuận [33], chúng là nhóm tôm hùm đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới [7], [18] Về đặc điểm phân bố của nhóm tôm hùm Panulirus ở Việt Nam thường thấy: ở vùng biển ven bờ, tôm hùm thường sống rải rác ở các rạn đá có

độ sâu từ 50m nước trở vào bờ

Tôm hùm Bông (P ornatus) là loài có kích thước lớn nhất trong nhóm

Panulirus, kích thước có thể đạt đến 10kg/cá thể [49] và thường sống ở độ sâu từ 25 – 30m nước trong các rạn đá hay san hô xa bờ

Trang 14

Kết quả nghiên cứu về phân bố của tôm hùm trong thời kỳ thành thục sinh dục của Nguyễn Thị Bích Thuý cho thấy hiện tượng di cư sinh sản ra những vùng

rạn có độ sâu lớn hơn 10m nước, tôm hùm Bông (P ornatus) di cư ra sâu hơn các

loài khác (30m nước) [11]

1.1.3 Đặc điểm sinh học sinh trưởng và dinh dưỡng

1.1.3.1 Đặc điểm sinh học sinh trưởng

Sinh trưởng của tôm hùm đặc trưng bởi quá trình lột xác, qua đó có sự tăng lên về kích thước và trọng lượng (Aiken, D.E., 1980) Chu kỳ lột xác của mỗi loài tôm hùm phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ nước, ánh sáng, độ mặn, thức ăn, và các yếu tố nội tại của cơ thể như: sự điều tiết của các hormon lột xác hay hormon ức chế lột xác, Các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau Chu kỳ lột xác của các loài hay giữa các giai đoạn phát triển của từng loài không giống nhau Ở giai đoạn tôm con (chiều dài giáp đầu ngực (CL)

khoảng 8 – 13 mm), thời gian giữa 2 lần lột xác của tôm hùm Bông (P ornatus) và tôm hùm Xanh (P homarus) khoảng 8 – 10 ngày, tôm hùm Sỏi (P stimpsoni)

khoảng 15 – 20 ngày Còn ở giai đoạn tôm trưởng thành (63 – 68 mm CL) thời gian giữa 2 lần lột xác tương ứng là khoảng 40 – 50 ngày [8] Đồng thời, qua mỗi lần lột xác kế tiếp thì tỷ lệ phần trăm tăng chiều dài giáp đầu ngực giảm xuống [11], [31]

Mô tả về quá trình lột xác để tăng trưởng ở tôm hùm của một số tác giả như Schwabe và CTV (1952); Berry (1977) và Aiken (1980) cho thấy quá trình lột xác diễn ra chỉ trong vòng 10 phút, có khi chỉ mất 3 phút Quá trình lột xác diễn ra nhờ khả năng tách ra của lớp vỏ chitin phần đầu ngực và phần thân bụng Sau lột xác khả năng phục hồi cơ thể của tôm hùm cũng rất nhanh Cũng theo các tác giả trên, quá trình lột xác được chia ra làm 2 pha: pha chủ động và pha bị động [12]

Theo Przibram & Megusar (1912), trọng lượng của tôm hùm tăng lên gấp đôi và kích thước tăng lên 1,26 mm sau mỗi lần lột xác trong điều kiện thuận lợi (môi trường và thức ăn) Tuy nhiên, nghiên cứu của Kurata (1962) khi kiểm tra lại kết quả trên và đã khẳng định kết quả trên chỉ đúng với giai đoạn con non (juvenile)

trên loài tôm hùm Mỹ (Homarus americanus)

Sự biểu hiện mối tương quan giữa trọng lượng và chiều dài cơ thể ở nhiều loài giáp xác (bao gồm cả tôm hùm) đã được Kurata (1962) và Mauchline (1967) thiết lập bằng phương trình đường thẳng có dạng:

Trang 15

Ln+1 = a + b×Ln

 Ln: chiều dài cơ thể trước lột xác

 Ln+1: chiều dài cơ thể sau lột xác

 a, b: hệ số phụ thuộc vào sự tăng kích thước sau lột xác

Đồng thời, tác giả cũng tìm ra những điểm chuyển trên dạng phương trình liên quan đến chu kỳ sống của tôm hùm từ giai đoạn ấu trùng đến tôm con, tôm con đến pha thành thục sinh dục [18]

Cooper & Uzmann (1977) bằng phương pháp đánh dấu và thu mẫu 60.000 con tôm hùm đã khám phá ra đường cong sinh trưởng thực nghiệm trùng khớp với phương trình sinh trưởng của Von Bertalanffy:

Lt = L0×(e k×[t-t0] )

 t: tuổi

 Lt: chiều dài giáp đầu ngực tại tuổi t

 L0: chiều dài giáp đầu ngực tối đa của cá thể

 K: hệ số mà Lt đạt tới chiều dài giáp đầu ngực tối đa

 t0: tuổi mà tại đó Lt = 0 [25]

Một số yếu tố môi trường và sinh thái cũng có liên quan mật thiết đến sinh trưởng, phát triển của tôm hùm, như: nhiệt độ nước, ánh sáng, độ mặn, hàm lượng oxy hòa tan, thức ăn, tập tính sống bầy đàn và sự tái tạo các phần phụ Ví dụ: nhiệt

độ nước thay đổi đột ngột khoảng 3 – 50C có thể gây tử vong cho tôm con; trong điều kiện không có ánh sáng thì chu kỳ lột xác của tôm sẽ kéo dài, hoạt động bắt mồi giảm, màu sắc tự nhiên mất dần, tôm phát triển không bình thường; khi độ mặn giảm đột ngột khoảng 8 – 10 ppt, tôm con sẽ chết hàng loạt; ở độ mặn 20 – 25 ppt kéo dài 3 – 5 ngày sẽ gây hiện tượng chết từ từ ở tôm con [15] Giai đoạn trưởng thành khi độ mặn giảm xuống 20 ppt, tôm hùm rất yếu và không bắt mồi [8]

Trong các nghiên cứu về sinh trưởng ở tôm hùm, tuy vẫn còn rất nhiều vấn

đề cần phải tranh luận, như: tốc độ sinh trưởng đực, cái và các nghiên cứu chưa thể khẳng định được rõ ràng con đực sinh trưởng tốt hơn con cái hay ngược lại; cũng như trong cùng một loài ở các vùng phân bố khác nhau thì có sự khác nhau về tốc

độ sinh trưởng,

Trang 16

1.1.3.2 Đặc điểm sinh học dinh dưỡng

Tôm hùm là loài động vật ăn tạp, chúng bắt mồi vào ban đêm, các loại thức

ăn chủ yếu được sử dụng như: tôm, cua, cá, thân mềm, các loài giáp xác nhỏ khác, đặc biệt là các loại mồi sống di chuyển chậm như sò, ốc, giáp xác đang lột xác [12], [13] Khi nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng của tôm hùm gai nói riêng

và tôm hùm nói chung, các nhà khoa học thường đề cập đến 3 vấn đề chính: tập tính tìm và chọn lọc thức ăn; cách thức ăn thức ăn; tiêu hóa thức ăn Mỗi khía cạnh này liên quan chặt chẽ với đặc điểm hình thái, đặc điểm cấu tạo của cơ quan tiêu hóa và đặc tính di truyền của loài Cụ thể:

Cấu tạo cơ quan bắt mồi và hệ thống tiêu hóa: Hầu hết các loài trong

giống Panulirus đều có các cơ quan cảm nhận khá hoàn thiện để giúp tôm hùm thích nghi trong hoạt động sống như tìm nơi ở, phát hiện kẻ thù, , đặc biệt là các hoạt động tìm kiếm mồi hàng ngày Đôi mắt kép với cuốn mắt dài khoảng 10 – 12 mm ở

cá thể trưởng thành đã giúp chúng có thể nhìn khắp 4 phía; đôi anten 2 dài gấp đôi

cơ thể, có phân đốt và kết hợp với các gai nhỏ bên trên bề mặt đã giúp cho tôm hùm

có khả năng phát hiện mồi từ xa rất tốt Cơ quan bắt mồi chủ yếu là miệng và 2 đôi chân bò thứ nhất, thứ hai

Hệ thống tiêu hóa của tôm hùm có cấu tạo tương đối đơn giản và được chia thành 3 phần: ruột trước, ruột giữa và ruột sau

Tập tính bắt mồi và thành phần thức ăn: cũng như đa số các loài giáp xác

khác, tôm hùm thường đi kiếm ăn và ăn mồi nhiều vào chiều tối

Khả năng đồng hóa thức ăn của tôm hùm tương đối thấp, Nguyễn Tác An &

CTV đã thí nghiệm và tính mức độ tiêu hóa thức ăn của tôm hùm Sỏi (P stimpsoni)

cho thấy chúng chỉ sử dụng 7 – 10% lượng thức ăn ăn vào để tăng trọng cơ thể; còn lại là phục vụ cho các hoạt động sống khác: quá trình thành thục, sinh sản, Đây là

cơ sở để giải thích sự chậm lớn của loài này so với các loài tôm hùm khác [1]

Tôm hùm sinh trưởng và phát triển nhờ nguồn năng lượng cung cấp từ thức

ăn Song tùy theo loài và các giai đoạn phát triển mà phổ thức ăn của chúng cũng thay đổi khác nhau Nghiên cứu về phổ thức ăn của tôm hùm, Elner & Campbell (1987) cho rằng, ở dạ dày của tôm hùm có tới 65 loài sinh vât, nhưng chiếm ưu thế là: thân mềm , một số loài cá, giáp xác,

Trang 17

Hình 1.2: Sơ đồ biểu diễn tỷ lệ phần trăm các loại thức ăn chủ yếu của tôm

hùm Mỹ (Homarus americanus) ngoài tự nhiên [28]

1.2 Tình hình nghề nuôi tôm hùm

1.2.1 Tình hình nghề nuôi tôm hùm trên thế giới

Trên thế giới, tôm hùm bắt đầu được nghiên cứu vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII, khi nghề khai thác bắt đầu phát triển mạnh Tuy nghiên, thời gian đầu, các nghiên cứu chỉ tập trung vào các hướng như: mô tả đặc điểm hình thái, phân loại và phân bố của một số loài phổ biến ở vùng biển Ấn Độ Dương [14]

Đến những năm 60 của thế kỷ XX, do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và nhu cầu xã hội ngày càng tăng đã thúc đẩy các nhà khoa học chú trọng đến việc nghiên cứu nguồn lợi và phát triển nuôi tôm hùm với các hình thức nuôi chủ yếu: nuôi nâng cấp tôm hùm từ nguồn khai thác tự nhiên [19], [21]; nuôi khép kín từ giai đoạn ấu trùng đến trưởng thành [31] và sản xuất ấu trùng tôm hùm rồi thả xuống biển [40]

Hiện nay, trên thế giới các loài tôm hùm được nuôi phổ biến thuộc 2 họ, đó

là họ tôm hùm càng (Nephropidae) và họ tôm hùm gai (Palinuridae) Và một số loài

như: Homarus americanus, Homarus gammarus thì việc nghiên cứu và sản xuất

giống đã thành công vì thời gian phát triển của ấu trùng ngắn (khoảng 3 tuần), nhưng do tập tính ăn thịt lẫn nhau của chúng ở giai đoạn sống đáy nên việc nuôi thương phẩm các loài này gặp nhiều khó khăn ngoại trừ nuôi quảng canh Còn đối với các loài thuộc giống Panuslirus thì ngược lại, thời gian phát triển ấu trùng rất dài (6 – 12 tháng, tùy thuộc vào loài) làm cho quá trình nghiên cứu và sản xuất giống gặp rất nhiều khó khăn Do vậy, nuôi tôm hùm thuộc giống Panulirus cho đến

Trang 18

nay chủ yếu sử dụng nguồn giống đánh bắt từ tự nhiên Và sau đây là tình hình nuôi tôm hùm ở một số quốc gia trên thế giới:

*Mỹ: là quốc gia đã thực hiện được việc nuôi khép kín vòng đời loài tôm

hùm Homarus americanus từ những năm 70 của thế kỷ XX Quốc gia này đã sản

xuất thành công giống và đáp ứng được nhu cầu nuôi thương phẩm loài tôm hùm này Tuy nhiên, sản lượng nuôi của loài này chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp so với khai thác ngoài tự nhiên, các nguyên nhân chính là do nhu cầu về dinh dưỡng, công nghệ sản xuất thức ăn tôm, dịch bệnh và các quy trình nuôi thương phẩm vẫn chưa hoàn thiện Trong suốt thập niên 90, những công trình nghiên cứu về quy trình công nghệ nuôi tôm hùm thâm canh đã có những đóng góp rất lớn để thúc đẩy nghề nuôi tôm hùm ở Mỹ phát triển mạnh mẽ [5], [37], [44], [45]

*Na–uy: là quốc gia đã cho đẻ và thả ấu trùng tôm hùm Châu Âu (Homarus

gammarus) ra tự nhiên để bảo vệ nguồn lợi của đối tượng này Cho đến thập niên

80 nghề nuôi tôm hùm thương phẩm từ con giống tự nhiên ở quốc gia này vẫn chưa phát triển do luật pháp không cho phép thu giữ tôm hùm chưa đạt cỡ khai thác Năm

1989, Trung tâm nghiên cứu biển Na-uy thực hiện chương trình nghiên cứu nuôi tôm hùm từ nguồn giống tự nhiên và đã thu được một số kết quả nhất định vào năm

2004 Từ đó, nhiều cá nhân và công ty đã đầu tư nuôi tôm hùm từ nguồn giống khai thác tự nhiên và làm cho nghề nuôi này từng bước phát triển tại Na-uy [5], [37]

*Úc và Niu-zi-lân: có 7 loài tôm hùm thuộc 2 giống Panulirus and Jasus

được tìm thấy ở các vùng biển xung quanh Úc [39], ở vùng biển Niu-zi-lân thì chỉ

có 2 loài là: Jasus edwardsii và Jasus verrauxi [23] Và đây là những quốc gia có

các chương trình bảo vệ nguồn lợi tôm hùm rất tốt và việc nuôi tôm hùm theo phương thức dựa vào tự nhiên phát triển vì những quy chế quản lý chặt chẽ của chính phủ về dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và nguồn lợi Tuy nhiên, trong một vài năm gần đây, tại Úc đã có những chương trình nghiên cứu phát triển nuôi tôm hùm với nguồn giống tự nhiên Năm 2000, tại Bang Tas-ma-ni-a chính quyền đã cho phép khai thác 350.000 con giống tự nhiên/năm với điều kiện sau một năm phải phóng thích 25% lứa đánh bắt đầu tiên Việc nuôi thương phẩm tôm hùm bông

(Panulirus ornatus) từ nguồn giống tự nhiên đang được sự quan tâm rất lớn từ cộng

đồng dân bản địa của eo biển Tores và các phần khác thuộc phía bắc Úc [5], [5153]

Trang 19

*Phi-líp-pin: là một trong những nước có nghề nuôi tôm hùm phát triển

mạnh và sớm ở khu vực Đông Nam Á Tại vùng Guiuan, nhiều trang trại nuôi tôm hùm được thiết lập từ những năm trước thập niên 70 của thế kỷ XX Và đến những năm đầu thập niên 90, nghề nuôi tôm hùm đã lan rộng ra các vùng khác như Basilan, phía tây của đảo Mindanao khi mà ngư dân được Cục nghề cá và nguồn lợi thuỷ sản (BFAR) chuyển giao phổ biến quy trình công nghệ tiến tiến để thực hiện ương tôm hùm đạt hiệu quả, đặc biệt tôm hùm con sau khi ương nuôi đạt kích cỡ thị trường (<150 g/con) để bán sống sang Đài Loan tiếp tục nuôi thương phẩm Tuy nhiên, đến tháng 02/1992, nước này đã phải cấm xuất khẩu tôm hùm con sang Đài Loan vì tình trạng thiếu con giống phục vụ cho nghề nuôi trong nước và đến năm

1993 Phi-líp-pin đã phải nhập con giống từ In-đô-nê-xi-a và một số nước khác để nuôi Sau đó tình trạng khan hiếm tôm hùm giống đã xảy ra và ảnh hưởng rất lớn đến nghề nuôi tôm hùm của quốc gia này [32]

*Ma-lay-si-a: là quốc gia nuôi tôm hùm gai mới chỉ đang phát triển và

không sôi động như một số nước trong khu vực Đông Nam Á Một số nơi như Bang Sabah ở trung tâm vịnh Darvel, Kudat và ở Kinarut ương nuôi tôm con trong lồng nổi, nuôi giữ tôm lớn trong bè và cả trong bể xi măng Con giống được thu gom từ các đảo và những nước láng giềng như Phi-líp-pin và In-đô-nê-xi-a Ở vịnh Darvel, lồng nuôi tôm hùm được đặt ở độ sâu 10 – 20 m nước; thức ăn chủ yếu là cá tạp,

ngày cho tôm ăn 1 – 2 lần; những loài được nuôi chủ yếu là Panulirus longipes, Panulirus versicolor và Panulirus ornatus [24]

Bên cạnh đó, Nhật Bản, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Sing-ga-po là những quốc gia Châu Á cũng có nghề nuôi tôm hùm bằng lồng (bè) khá phát triển ở quy mô nông

hộ Các loài nuôi chủ yếu như : Panulirus japonicus ở Nhật Bản, Panulirus ornatus, Panulirus homarus, Panulirus longipes, Panulirus versicolor ở Sing-ga-po, Ấn Độ

và In-đô-nê-xi-a, và tổng sản lượng nghề nuôi các loài này có đóng góp lớn vào tổng sản lượng tôm hùm của các quốc gia này

Tóm lại, chúng ta có thể thấy: nghề nuôi tôm hùm đã đóng góp đáng kể vào sản lượng tôm hùm của thế giới và đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần vào việc phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước khu vực châu Á Một số nước đã, đang bảo vệ và quản lý nguồn lợi tôm hùm rất tốt cũng đang có xu hướng phát triển nuôi nâng cấp vì tôm hùm có giá trị cao về kinh tế

Trang 20

1.2.2 Tình hình nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam

Với đường bờ biển dài 3.260 km, hơn 4.000 đảo và nhiều vũng vịnh giúp bảo

vệ chống lại sóng và gió, Việt Nam có tiềm năng rất lớn cho nghề nuôi trồng thủy sản ở biển [3334]

Điểm mốc khởi đầu nghiên cứu về tôm hùm ở Việt Nam được đánh dấu bằng chuyến khảo sát của Serence và các cộng tác viên vào năm 1937 ở vùng biển Nam

Trung Bộ, đã xác định có 3 loài tôm hùm gai thuộc giống Panulirus là: Panulirus homarus, Panulirus longipes và Panulirus penicillatus [4648] Tuy vậy, việc nghiên cứu về nuôi tôm hùm ở Việt Nam mới được bắt đầu từ những năm cuối của thập niên 80 của thế kỷ XX, khi sản lượng khai thác tôm hùm ngoài tự nhiên có dấu hiệu suy giảm Khởi đầu là việc nghiên cứu kỹ thuật nuôi nâng cấp một số loài tôm hùm

có giá trị kinh tế ở ven biển miền Trung vào năm 1991 [10] Nguyễn Văn Chung và

các cộng sự, đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của tôm hùm Sỏi (P stimpsoni) làm cơ sở để xác định kỹ thuật nuôi đối tượng này ở vùng biển tỉnh

Quảng Bình và Quảng Trị [2] Theo tác giả Hồ Thu Cúc & cộng sự nghiên cứu kỹ thuật nuôi tôm hùm trong lồng và trong ao đất ở vùng ven biển tỉnh Khánh Hòa từ

đó làm cơ sở cho việc phát triển nghề nuôi tôm hùm lồng ở đây [12]

Và ở Việt Nam, nghề nuôi tôm hùm lồng có thể xem là xuất phát ở tỉnh Khánh Hòa từ năm 1992, sau đó từ năm 2000 đã lan rộng đáng kể ra các vùng Nam – Trung Bộ, cụ thể là từ Đà Nẵng đến Bình Thuận, nhưng nhiều nhất vẫn là Khánh

Hòa và Phú Yên [33] Và một số loài được nuôi chính, như: tôm hùm Bông (P ornatus), tôm hùm Xanh (P homarus), tôm hùm Sỏi (P stimpsoni) và tôm hùm Đỏ (P longipes) [6], [1616] Tuy nhiên, nuôi chủ yếu vẫn là loài tôm hùm bông (P ornatus) bởi chúng có tốc độ tăng trưởng nhanh, kích cỡ lớn, màu sắc tươi sáng và

có giá trị xuất khẩu cao [12] Số lượng lồng nuôi và sản lượng tôm hùm nuôi qua các năm gần đây được thể hiện ở Bảng 1

Trang 21

Bảng 1.1: Phân bố số lượng lồng nuôi (lồng) và sản lượng tôm hùm nuôi

lồng (tấn/năm) tại Việt Nam qua các năm [6], [7]

Tên địa

Phương 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009

9380 11500 14980 16647 23420 25418 29206 27100 27000 20829 Khánh

Hòa (561) (550) (765) (985) (1655) (1100) (1142) (863) (712) (600)

8065 8335 8885 15529 19020 18220 18400 22505 19414 17427 Phú

Yên (102) (161) (177) (424) (647) (764) (750) (461) (388) (235)

200 290 450 410 555 350 130 120 130 150 Ninh

Thuận (20) (30) (40) (45) (50) (45) (25) (16) (18) (27)

130 ( * ) 180 ( * ) - 120 ( * ) - - 1800 ( * ) - - - Bình

cộng (685) (743) (982) (1454) (2352) (1914) (1917) (1340) (1118) (862)

con ương nuôi (nghìn con) [5]

Sản lượng tôm hùm thu hoạch trong 3 năm từ 2004 – 2006 tại các tỉnh Nam Trung Bộ (chủ yếu là Khánh Hòa và Phú Yên) đạt gần 2.000 tấn/năm, doanh thu trên 1.000 tỷ đồng/năm và là nguồn thu nhập chính cho hơn 15.000 người tham gia trực tiếp, hàng chục ngàn người làm dịch vụ cung ứng: lưới, vật liệu làm lồng, giống, cung cấp thức ăn, thuốc chữa bệnh, sửa chữa máy phát điện, máy bơm,….[5]

Nghề nuôi tôm hùm lồng ở Việt Nam đã phát triển đáng kể trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến năm 2006, và tổng sản lượng của các tỉnh Nam Trung Bộ đạt hơn 1.900 tấn Tuy nhiên, do bệnh “tôm hùm Sữa” xuất hiện cuối năm 2006, làm cho ngành sản xuất này suy giảm một cách nhanh chóng Và năm 2007 số lượng lồng nuôi các tỉnh Nam Trung Bộ khoảng hơn 52.600 lồng, nhưng sản lượng ước chỉ đạt khoảng 1.400 tấn (diện tích khoảng 11.500 ha), chiếm hơn 99% số lượng lồng nuôi tôm hùm cả nước Như vậy, số lượng lồng nuôi tôm hùm lồng năm

2007 có tăng lên nhưng sản lượng tôm nuôi lại giảm thấp hơn so với năm 2006 Điều này là do bệnh dịch tôm hùm xảy ra trên diện rộng (hầu hết các tỉnh có nuôi tôm hùm lồng) và đã gây thiệt hại hơn 161 tỷ đồng cho người nuôi tôm hùm lồng tại đây vào năm 2007 [5], [3334]

Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm hùm lồng (bè) ở Việt Nam đã mang lại một nguồn thu đáng kể rất rõ Tuy nhiên, nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam còn gặp không ít những khó khăn như nguồn giống, thức ăn và đặc biệt là vấn đề bệnh dịch

Trang 22

thường xuyên xảy ra Tất cả những khó khăn này đã và đang ảnh hưởng đến nghề nuôi tôm hùm lồng ở Việt Nam Do đó, cần có những nghiên cứu để giải quyết những khó khăn trên, đồng thời phải tăng cường sự quản lý để phát triển bền vững nghề nuôi này nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho ngư dân vùng ven biển

1.3 Dinh dưỡng và thức ăn của tôm hùm

Hiểu biết những gì con vật thích ăn trong tự nhiên là một hướng dẫn hữu ích khi nghiên cứu về dinh dưỡng của một loài Theo Joll & Phillips (1986), Booth & Kittaka (1994), Barkal & CTV (1996), Cox & CTV (1997), Griffiths & CTV (2000), Mayfield & CTV (2000) và Goni & CTV (2001), phân tích các chất trong ruột của tôm hùm gai đã cho thấy có rất nhiều loại thức ăn, như: động vật thân mềm (các loài thuộc nhóm thân mềm 2 mảnh vỏ, các loài thuộc nhóm động vật chân bụng, các loài ốc, ), động vật giáp xác (các loài cua, các loài tôm nhỏ, ),giun nhiều tơ, động vật da gai, và thỉnh thoảng vẫn bắt gặp một số loài rong tảo [5254]

Nhu cầu dinh dưỡng của một sinh vật được hiểu theo nhiều nghĩa, nhưng hầu hết trong thực nghiệm về khẩu phần ăn cho sinh vật thì nhu cầu dinh dưỡng là nhu cầu tối ưu cho sinh trưởng, phát triển của sinh vật [4], [9], [3436]

Đối với tôm hùm Châu Mỹ, đã có một số nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của các tác giả: Kanazawa (1980), Conklin (1980), Conklin &ctv (1983)… Kanazawa (1980) nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và khẩu phần ăn của tôm hùm gai trong mối liên quan hiểu biết về tôm hùm Châu Mỹ D Abramo & ctv (1997) đưa ra thông tin về dinh dưỡng của một số loài giáp xác, trong đó có tôm hùm Bông

(P ornatus) [4], [9], [3436]

Đối với tôm hùm gai, đặc biệt các loài thuộc họ Panulirus và Jasus, trong hơn một thập kỷ trở lại đây, các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của các loài

như: Panulirus ornatus, Panulirus japonicus, P cygnus và Jasus edwardsii, đã

được các nhà khoa học thuộc các dự án quan tâm nghiên cứu và đặc biệt là nghiên cứu để phát triển ngành công nghiệp chiến biến thức ăn khô dạng viên [5254]

Nhu cầu Protein và năng lượng

Nhu cầu protein của sinh vật là lượng protein tối thiểu có trong thức ăn nhằm thỏa mãn nhu cầu các amino acid của sinh vật để giúp nó đạt được tăng trưởng tối

đa Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein bao gồm: năng lượng trong thức ăn,

Trang 23

chất lượng và loại thức ăn sử dụng, trạng thái sinh lý của động vật, môi trường nuôi dưỡng, lượng thức ăn hàng ngày của chúng

Đối với động vật thủy sản, nhu cầu protein thường cao hơn so với động vật trên cạn, nguyên nhân chính là: các động vật thủy sản thường là các loài động vật biến nhiệt và đa phân chúng có tập tính bắt mồi là động vật sống trong tự nhiên

Mức protein tối ưu cho tôm hùm châu Mỹ đã được báo cáo ở nhiều mức rất khác nhau là: 60%, 53% và 30,5% [22]

Tốc độ tăng trưởng tốt nhất của con giống Homarus americanus ở mức 18%

protein đối với khẩu phần kết hợp casein và bột đuôi tôm, hoặc 23% khi casein là

nguồn protein Tuy nhiên đối với loài Hormarus gammarus sẽ sinh trưởng bình

thường với khẩu phần chứa ít nhất 35% protein [26]

Trong một nghiên cứu phối hợp ở Úc, Glencross & CTV (2001), Smith & CTV (2003) và Ward & CTV (2003) đã thử nghiệm kiểm tra tốc độ tăng trưởng và

tỷ lệ sống của tôm hùm con (trọng lượng <4gr/cá thể) thuộc 3 loài Panulirus ornatus, P cygnus, Jasus edwardsii đối với các mức protein thô khác nhau (từ 35%

đến 60%, ở sáu nghiệm thức) kết hợp với 2 mức lipid tổng số (6% và 10%) trong thức ăn viên, đã đưa ra kết luận: tỷ lệ sống của các lô thí nghiệm đều tốt (>75%) và tốc độ tăng trưởng thì tăng theo một đường cong tương đương với sự tăng lên về hàm lượng protein thô nhưng vẫn có liên quan đến mức lipid tổng số Bên cạnh đó,

các kết luận cụ thể với từng loài như sau: Với loài P.cygnus, theo Glencross & CTV

(2001), tốc độ tăng trưởng tốt nhất ở nghiệm thức có hàm lượng protein thô là 55%;

Với loài P ornatus, theo Smith & CTV (2003), tốc độ tăng trưởng tốt nhất xuất hiện ở 2 nghiệm thức có hàm lượng protein thô là 47% và 53%; Và với loài Jasus edwardsii, theo Ward & CTV (2003), tốc độ tăng trưởng cao nhất cũng xuất hiện ở

2 nghiệm thức có mức protein thô là 33 - 35% và 42 - 47% [5254]

Thí nghiệm với các mức protein khác nhau (từ 35% đến 60%) kết hợp với

mức lipid tổng số là 9% trong thức ăn viên đối với loài Jasus edwardsii (trọng

lượng cá thể tương đương 70gr/cá thể), đã cho thấy tỷ lệ tăng trưởng của tôm hùm con của loài này tăng tỷ lệ thuận với mức tăng của protein thô, nhưng với mức protein thô lớn hơn 50% thì tỷ lệ tăng trưởng này ở các lô nghiệm thức là không khác nhau [5254]

Trang 24

Nhu cầu Lipid

Lipid tổng số chứa trong một khẩu phần là tổng lượng phospholipid, sterol

và lipid trung tính

Một thành phần quan trọng nhất của lipid trong dinh dưỡng của động vật là triacylglycero (TAG) hay triglycerides và phospholipid (PL) Đối với các động vật thủy sinh sống trong môi trường nước mặn ngoài 2 thành phần trên sterol (hay steroid) đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng cho giáp xác

Nguồn lipid trong thức ăn cung cấp cho cá và giáp xác cung cấp các acid béo (FA), đặc biệt là các acid béo cần thiết (EFA) Các acid béo cần thiết (EFA), là những acid béo mà cơ thể không tự tổng hợp được phải lấy từ thức ăn; EFA rất cần cho trao đổi chất tế bào (để tổng hợp các prostaglandins và các thành phần tương tự), để duy trì cấu trúc màng tế bào Lipid cũng có vai trò như là dung môi để hòa tan và hấp thu một số vitamin tan trong chất béo (A, D, K, E ) và carotenoid (sắc tố) Lipid đóng vai trò là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể

Các sản phẩm tiêu hóa lipid sau khi được vận chuyển đến gan và được sinh tổng hợp lại bởi gan sẽ kết hợp với protein, cholesterol tự do để hình thành dạng lipoprotein Lipoprotein là thành phần chính của noãn hoàng vì vậy vào thời kỳ phát dục, đặc biệt vào thời kỳ sinh sản lipoprotein được huy động để hình thành buồng trứng [2]

Smith & cộng sự (2003) đã sử dụng thức ăn viên của tôm He Nhật Bản

Penaeus japonicus (chứa khoảng 12% lipid) làm thức ăn cho Tôm Hùm Bông thì

thấy tôm sinh trưởng rất tốt

* Phospholipid

Conklin & ctv (1980) đã chỉ ra rằng tỷ lệ sống của con giống H.americaus

được nâng cao đáng kể khi bổ sung 7,5% lecithin đậu lành trong khẩu phần ăn Thiếu lecithin trong khẩu phần thức ăn cho tôm hùm thì tỷ lệ chết của tôm cao vì tôm sẽ lột xác không hoàn toàn [27] Tuy nhiên, tôm hùm có thể tự tổng hợp phospholipid khi trong khẩu phần ăn của chúng có các acid béo thiết yếu và nguồn protein không tinh khiết [11] Teshima & ctv (1983) đã nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng lecithin lên sự sinh trưởng của tôm he Nhật Bản, kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng và hiệu quả thức ăn sẽ giảm khi thức ăn được bổ xung dưới 3% lecithin [47] Hiệu quả của lecithin ảnh hưởng bởi nguồn protein trong thức ăn, khi nguồn

Trang 25

protein cung cấp cho tôm tương ứng với protein của cơ thể tôm thì lecithin sẽ thể hiện rõ tác dụng thúc đẩy tăng trưởng của tôm [28]

* Sterol

Sterol trong khẩu phần ăn là nhu cầu thiết yếu đối với nhóm giáp xác vì nhóm này không tổng hợp được chất này Castell và ctv (1976) cho rằng nhu cầu

cholesterol trong khẩu phần ăn của con giống H americanus là 0,5% [21] Nhưng

D’Abramo & ctv (1984) lại cho rằng với khẩu phần chứa 0,12% là thích hợp cho tôm sinh trưởng bình thường, tỷ lệ sống cao [29]

Với 0,2% cholesterol trong khẩu phần ăn sẽ nâng cao sinh trưởng đối với con

giống Homarus sp [19]

Trong khi đó hàm lượng cholesterol tối ưu cho một số loài tôm he dao động trong khoảng 0,2 – 2,0% [36]

* Acid béo thiết yếu

Theo Zandee (1967) thì hai loài Homarus gammarus và Panulirus japonicus

không có khả năng tái tổng hợp linolenic acid, linoleic acid, eicosapentaenoic và docosahexanoic từ acetate Do vậy, những acid béo này là những chất cần thiết bổ sung vào khẩu phần ăn của tôm hùm

Castell và Covey (1976) cho rằng dầu gan cá tuyết có mức acid béo không

no bão hòa đa (n – 3) và acid béo không no bão hòa cao phân tử cao hơn dầu ngũ cốc, kết quả là tôm hùm châu Mỹ được ăn thức ăn có bổ sung dầu gan cá tuyết và tôm cũng sinh trưởng tốt hơn Ngoài ra các tác giả trên cũng cho rằng bổ sung 5% dầu gan cá tuyết vào khẩu phần cho ăn của tôm sẽ có lợi hơn 10% [21]

Tuy nhiên số lượng về nhu cầu acid béo thiết yếu chưa được trình bày Nhu cầu này đối với tôm he đã được nghiên cứu chi tiết và có thể được sử dụng để làm

cơ sở nghiên cứu nhu cầu acid béo thiết yếu cho tôm hùm Theo D’Abramo & cộng

sự (1997), thức ăn chứa 6% lipid tổng số có nguồn gốc từ biển đã cung cấp số lượng acid béo thiết yếu tương xứng nhu cầu của tôm hùm [28]

* Khoáng

Nhu cầu chất khoáng đối với tôm hùm chưa được nghiên cứu xác định rõ ràng Còn đối với tôm he thì nhu cầu này trong khẩu phần ăn là: Cu: 40 mg/kg; Selen: 0,001 mg/kg; Zn: 20 mg/kg; Mg: 10 mg/kg [28] Có thể lấy đây là một trong những căn cứ nghiên cứu tiến hành cho tôm hùm

Trang 26

* Vitamin

Một lượng hỗn hợp vitamin chiếm 0,62% và vitamin C (Stay C) chiếm 0,1% chất khô sẽ đảm bảo lượng mất đi tối thiểu của vitamin này trong suốt quá trình sản xuất thức ăn viên [36] Kết quả này có thể dùng làm dự đoán tốt để bổ sung vitamin cho khẩu phần ăn của tôm hùm

* Caroteniod

Nhiều loại carotenoid được tìm thấy trong bộ vỏ của Panulirus japonicus,

bao gồm: β – carotene, echinenone, canthaxanthin, astaxanthin Astaxanthin là carotenoid đặc trưng và phổ biến nhất trong giáp xác Giáp xác không thể tổng hợp được carotenoid nên chúng cần được cung cấp vào trong thức ăn Carotenoid được tôm hùm hấp thụ một cách hiệu quả [29] Trong nuôi tôm he bằng việc cung cấp một khẩu phần gồm 30 – 70 ppm astaxanthin trong suốt quá trình nuôi thì màu sắc bình thường có thể được duy trì [40] Đối với tôm hùm chưa có dữ liệu về nhu cầu hàm lượng carotenoid thiết yếu

Acid amin tự do và một số các phân tử peptide có tác dụng như chất dẫn dụ Những chất này phổ biến trong bột cá, bột tôm, bột mực và bột các loại động vật thân mềm khác Chất dẫn dụ thiên nhiên này có thể bổ sung từ 1 – 5% lượng thức

ăn [1]

* Những nghiên cứu về thức ăn cho tôm hùm

Nguồn thức ăn tươi được sử dụng cho nuôi tôm hùm bao gồm những động vật không xương sống khác nhau hoặc kết hợp các loại động vật không xương sống này (vẹm, bào ngư, ghẹ, cua…) với thịt cá [45] Theo Jame và cộng sự, vẹm là một loại thức ăn tốt cho tôm hùm trong điều kiện nuôi nhốt ở New Zealan [34] Theo

D’Abramo thức ăn tự nhiên của tôm hùm giống các loài H americanus, P homarus

là Artemia salina, cua (Cancer irroratus), vẹm, cầu gai, cá và một số loài rong biển

[28]

Trang 27

Ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thức ăn tươi cho

tôm hùm Bông (Panulirus ornatus) Lê Anh Tuấn và cộng sự (2000), nghiên cứu về

thức ăn và khẩu phần ăn cho tôm hùm lồng Những loại thức ăn ưa thích của tôm hùm bao gồm: động vật có vỏ giáp, động vật thân mềm Trong số những loài cá tạp thì tôm hùm thích ăn các loài cá mối, cá liệt, cá sơn Hệ số thức ăn là 28 – 29 Đối với tôm nhỏ cho ăn 3 – 4 lần/ngày, cho ăn nhiều vào ban đêm, cá được cắt thành nhiều miếng nhỏ, động vật thân mềm thì bỏ vỏ Đối với tôm có kích thước lớn (>400 g/con) thì cho ăn 2 lần/ngày, không cần cắt nhỏ cũng như loại bỏ vỏ động vật thân mềm Cho tôm ăn nhiều trước khi lột xác, trong vài tháng cuối của chu kỳ nuôi, khẩu phần giáp xác và động vật thân mềm được tăng lên trong khi cá tạp giảm xuống [48]

Nghiên cứu ảnh hưởng của các chủng loại thức ăn khác nhau (đơn hoặc kết hợp) đến tỷ lệ sống của tôm hùm giống cho thấy: đối với thức ăn đơn, sau 150 ngày ương nuôi, lô thí nghiệm cho ăn thịt giáp xác có tỷ lệ sống cao hơn (88,89%) lô cho

ăn thịt động vật thân mềm (78,89%) và lô cho ăn thịt cá (60,00%) Đối với thức ăn kết hợp cũng sau 150 ngày ương nuôi, lô thí nghiệm cho ăn giáp xác + thân mềm cho tỷ lệ sống cao nhất (96,66%) tiếp theo là lô cho ăn giáp xác + thân mềm + cá (92,22%) và đến lô cho ăn giáp xác + cá ( 90,00%) [36]

Nghiên cứu mô hình nuôi kết hợp tôm hùm và vẹm, kết quả cho thấy tôm hùm cho ăn vẹm sống có tỷ lệ sống cao hơn tôm hùm cho ăn các loại thức ăn tươi được đánh bắt [30]

Nghiên cứu về thức ăn tổng hợp cho tôm hùm Bông nói riêng và tôm hùm

nói chung còn rất hạn chế Một số nghiên cứu gần đây chủ yếu là trên các loài P japonicus, P cygnus, P ornatus, H gammarus, Jasus edwardsii

Thức ăn tổng hợp chứa bột đậu nành được bổ sung chất dẫn dụ đã được sử dụng cho tôm hùm ăn trong điều kiện nuôi thả ở Bahamas và Caribe [20] Matsumo

và ctv (1973) nghiên cứu cho tôm hùm Nhật Bản P japonicus ăn thức ăn viên ẩm

của cá hồi, kết quả đạt được đã cho tôm sinh trưởng tốt sau hơn 8 tháng nuôi

Theo Jones (2001), Bertra và cộng sự (1988) công thức thức ăn viên cho tôm

he Nhật Bản (P japonicus) có thể sử dụng để thử nghiệm cho tôm hùm Bông (P ornatus) và tôm hùm Châu Âu (H gammarus) Khẩu phần này chứa khoảng 55%

protein thô, 12% lipid tổng số, 19,5 MJ/kg năng lượng thô Tuy nhiên, so sánh tốc

Trang 28

độ tăng trưởng của tôm hùm cho ăn bằng thức ăn này và thức ăn tươi không được công bố Trong dự án phát triển thức ăn viên cho tôm hùm của Viện nghiên cứu

biển CSIRO, các nghiên cứu viên đã thử nghiệm cho tôm hùm Bông (P ornatus) ăn

thức ăn viên với các mức protein và lipid khác nhau Kết quả cho thấy tôm hùm cho

ăn khẩu phần 50% protein cho tăng trưởng nhanh nhất, có sự khác nhau không đáng

kể về tốc độ tăng trưởng của tôm ở các mức lipid 6% và 10% Thí nghiệm khác so sánh tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm cho ăn khẩu phần tối ưu ở trên (50% protein : 10% lipid) và tôm cho ăn thức ăn viên của tôm he Nhật Bản (64% protein : 12,2% lipid ) Kết quả là lô cho ăn thức ăn của tôm he Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng (2,0%/ngày) và tỷ lệ sống 100% cao hơn lô cho ăn thức ăn tổng hợp tự chế biến (tốc

độ tăng trưởng 1,0%/ngày và tỷ lệ sống 80%) [50]

Những nguyên liệu chính đã được dùng để sản xuất thức ăn tổng hợp cho tôm hùm trong điều kiện nuôi trong bể gồm: bột tôm hoặc bột đầu tôm: 1 – 30%, bột cá tổng hợp: 8 – 12%, bột cá thu: 4 – 19%, bột đậu nành: 3%, lecithin đậu nành:

1 – 10%, cám gạo: 6 – 20%, bột mì: 5% [28]

Ở Việt Nam nghiên cứu cho tôm hùm Bông (P ornatus) giai đoạn giống ăn

thức ăn tổng hợp của tôm Sú (thức ăn CP), kết quả là sau 60 ngày nuôi tôm đã chết hoàn toàn [10]

Kích cỡ và hình dạng thức ăn tổng hợp cho tôm hùm được sử dụng ở dạng viên cứng như là thức ăn trong nuôi tôm he, hoặc dạng viên ẩm [36] Tính chất vật

lý của thức ăn ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi và lượng thức ăn được sử dụng của tôm hùm chưa được nghiên cứu Brown & ctv (1995) đã sử dụng bánh đậu nành đã được nén có kích thước 30mm x 75mm x 300mm để làm thức ăn cho tôm hùm nuôi

ở Caribbean Thức ăn viên được thiết kế cho tôm he Nhật bản P japonicus nhìn

chung có kích thước là đường kính 3mm, dài 6mm còn chưa có thông tin nào công

bố về hình dạng và kích cỡ viên thức ăn tối ưu cho tôm hùm [20]

1.4 Các khía cạnh kinh tế và môi trường của nghề nuôi tôm hùm trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 Các khía cạnh kinh tế của nghề nuôi tôm hùm trên thế giới và Việt Nam

Trang 29

Ngành công nghiệp tôm hùm trên thế giới thường tập trung chính vào khai thác, các nghiên cứu phân tích về khía cạnh kinh tế tập trung vào hoạt động khai thác hơn là hoạt động nuôi [30]

Trên thế giới, tôm hùm gai thường được xuất khẩu dưới 3 loại sản phẩm chính: còn sống, tươi và đông lạnh, Việt Nam thường xuất khẩu dạng sản phẩm tôm hùm sống, và thị trường chính là Trung Quốc (41%), Hồng Kông (32%) và Đài Loan (26%) Tuy nhiên, thị trường nội địa trong những năm gần đây cũng tăng lên đáng kể, đặc biệt là các thành phố lớn: thành phố Hồ Chí Minh và Hà Hội [34]

Hoạt động nuôi tôm hùm lồng được đánh giá là một hoạt động sinh lợi cao các vùng biển ven bờ Việt Nam [16]

Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm hùm lồng đã phát triển và trở thành một ngành công nghiệp có có tiềm năng Bên cạnh những đóng góp về mặt kinh tế cho những địa phương vùng ven biển miền Nam – Trung bộ Việt Nam, ngành công nghiệp này

đã tạo ra một số vấn đề liên quan đến môi trường các vùng biển này, điều thể hiện

rõ nhất là việc sử dụng các loại thức ăn tươi sống làm thức ăn để nuôi đối tượng này

đã gây ra những ảnh hưởng nhất định đến môi trường tự nhiên của các vùng biển này [4547]

Trong bảy loài tôm hùm gai được xác định ở Việt Nam, có bốn loài có tốc độ tăng trưởng nhanh, kích thước lớn, màu sắc tươi sáng và có giá trị xuất khẩu cao, cụ

thể: tôm hùm Bông (P ornatus), tôm hùm Xanh (P homarus), tôm hùm Sỏi (P stimpsoni) và tôm hùm Đỏ (P longipes)

Bảng 1.2: Đặc điểm kinh tế và sinh học của các loài tôm hùm gai ở Việt Nam

thương mại

Giá trị thương phẩm (USD/kg)

Tôm hùm Bông

(P ornatus)

Nhanh (>1kg/18 tháng)

Tôm hùm Xanh

(P homarus)

Trung bình (0,35 – 0,4kg/18tháng)

Tôm hùm Sỏi (P stimpsoni);

Tôm hùm Đỏ (P longipes)

Chậm (0,25 – 0,35kg/18tháng)

(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2007)

Trong nhóm tôm hùm trên, tôm hùm Bông và tôm hùm Xanh là 2 loài được nuôi nhiều nhất và ước tính khoảng hơn 40%

Trang 30

Hình 1.3: Bốn loài tôm hùm Gai nuôi nhiều nhất ở Việt Nam

Nghiên cứu về khía cạnh kinh tế của ngành nuôi tôm hùm gai ở việt Nam, Nguyễn Thị Ý Ly (2009), đã đưa ra “chuỗi giá trị kinh tế” của ngành này, theo đó chuỗi giá trị thành 5 gồm phần: thành phần đầu tiên của chuỗi giá trị là những người ngư dân đánh bắt tôm hùm con; thành phần thứ hai của chuỗi giá trị là những người thu mua và bán giống, những người này sẽ mua tôm hùm giống từ các ngư dân, lưu giữ khoảng vài ngày (1 – 3 ngày) sau đó bán lại cho thành phần thứ ba của chuỗi; thành phần thứ ba của chuỗi giá trị là những người sẽ mua tôm hùm giống từ những người thu mua, họ sẽ tiếp tục ương thêm một thời gian nữa (tùy theo thị trường) rồi

sẽ bán cho những người nuôi thương phẩm tôm hùm; thành phần thứ tư trong chuỗi giá trị chính là những người nuôi thương phẩm tôm hùm, tại đây, tôm hùm sẽ được nuôi lên đạt kích thước thương phẩm rồi bán cho người các thương nhân thu mua và xuất khẩu tôm hùm

Theo Nguyễn Thị Ý Ly (2009), sau khi điều tra các hộ nuôi ở 3 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, dựa trên thu nhập là chỉ thị, thì lợi nhuận của ngành nuôi tôm hùm là rất cao, thu nhập trung bình hàng năm 32.602 USD/năm (thấp nhất

là 3.000USD/năm và cao nhất là 167.619USD/năm)

Trang 31

Bảng 1.3: Hộ nuôi và tổng thu nhập hàng năm của các hộ nuôi tôm hùm ở 3

tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận

(USD) Tỉnh

(Nguồn: Nguyễn Thị Ý Ly, 2009)

Khi nghiên cứu về mặt kinh tế - sinh học của nghề nuôi tôm hùm gai ở Việt Nam, Elizabeth H Petersen và Trương Hà Phương (2010), các trang trại nuôi tôm hùm gai ở Việt Nam có lợi nhuận, với tỷ suất lợi nhuận trung bình là 1,44 và thu nhập trung bình khoảng 262 triệu VND/năm (15.000USD/năm) Mức đầu tư sản xuất ngành này cao hơn các ngành khác trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản [29]

Khi nghiên cứu thử nghiệm thức ăn viên cho tôm hùm gai (tôm hùm Bông

(P ornatus) & tôm hùm Xanh (P homarus)), ở vịnh Bình Ba, Khánh Hòa, Việt

Nam, Lại Văn Hùng và CTV, đã đưa ra được kết quả thông qua bảng 1.6

Với việc sử dụng thức ăn viên, người nuôi tôm hùm có thể tiết kiệm khoảng 213.120VND (11USD) và 220.080VND (11,34USD) để sản xuất 1kg tôm hùm Bông và tôm hùm Xanh (theo thứ tự tương đương) [35]

Về khía cạnh kinh tế, nghề nuôi tôm hùm là một nghề có lợi nhuận cao, nhưng các nghiên cứu về lĩnh vực này còn rất ít Cần tập trung nghiên cứu thêm về lĩnh vực này để làm tiền đề cho phát triển sản xuất và quả lý đối với ngành công nghiệp này

1.4.2 Các khía cạnh môi trường của nghề nuôi tôm hùm trên thế giới và Việt Nam

Do nghề tôm hùm trên thế giới chỉ tập trung vào các hoạt động khai thác, vì thế, các nghiên cứu về khía canh môi trường đối với nghề nuôi tôm hùm trên thế giới rất ít được quan tâm

Ở Việt Nam, khi nghiên cứu về khía cạnh môi trường của nghề nuôi, Lê Anh Tuấn (2004), sau khi áp dụng “mô hình cân bằng khối” đã chỉ ra nghề nuôi tôm hùm lồng là hoạt động chính gây ra ô nhiễm vùng biển Xuân Tự, Khánh Hòa (tổng

Trang 32

lượng Nitơ tích tụ trên 150 tấn/năm) Từ đó, dẫn đến các vấn đề về bệnh và làm giảm tốc độ sinh trưởng của đối tượng nuôi

Theo Lại Văn Hùng và CTV (2010), nghề nuôi tôm hùm theo truyền thống của Việt Nam thường sử dụng “cá tạp” như: ốc, vẹm xanh, các loài nhuyễn thể, các loài giáp xác nhỏ, cá mối, cá sơn, làm thức ăn cho tôm hùm, chính điều này đã góp phần làm suy giảm chất lượng môi trường và xuất hiện bệnh gây những ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề nuôi tôm hùm [35]

Bên cạnh đó, Lại Văn Hùng và CTV đã tính toán và xác định để sản xuất 1kg tôm hùm Bông hay tôm hùm Xanh, nếu sử dụng thức ăn là cá tạp sẽ thải vào môi trường xung quanh khoảng 15kg chất thải rắn

Vậy, nghề nuôi tôm hùm là một hoạt động gây ra những tác động rất lớn đối với môi trường Nhưng các nghiên cứu thì lại rất ít, chúng ta cần phải quan tâm hơn

để giúp tác động cải thiện môi trường đối với các vùng nuôi tôm hùm ở Việt Nam

Trang 33

CHƯƠNG II – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:Tôm hùm Bông (Panulirus ornatus)

 Thời gian nghiên cứu:Từ tháng 05/2010 đến tháng 03/2011

 Địa điểm nghiên cứu:

o Địa điểm điều tra và thu thập thông tin: Điều tra các vùng nuôi tôm hùm lồng thuộc tỉnh Khánh Hòa

o Địa điểm bố trí các thí nghiệm: Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản – Đại học Nha Trang (Mỹ Thanh, Cam Ranh, Khánh Hòa)

2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu gồm có 2 nội dung: điều tra tình hình sử dụng thức ăn và

kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm Bông (P ornatus) ở tỉnh Khánh

Hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm Bông trong ao đất phủ bạt bằng thức ăn công nghiệp

Trang 34

Hình 2.1: Sơ đồ khối phương pháp nghiên cứu

Tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn

trong nuôi thương phẩm tôm hùm Bông ở tỉnh

Khánh Hòa

Điều tra và thu thập số liệu (sơ

cấp và thứ cấp)

Xử lý số liệu

Thử nghiệm nuôi tôm hùm Bông bằng thức

ăn công nghiệp trong ao đất phủ bạt

Ao 01: Thức ăn công nghiệp

Ao 02: Thức ăn tươi

Theo dõi & thu thập số liệu (sinh trưởng, sử dụng thức ăn, môi trường & các chỉ tiêu kinh tế)

Nội dung nghiên cứu

Kết luận & đề xuất ý kiến

Trang 35

2.2.2 Phương pháp điều tra và thu số liệu về tình hình sử dụng thức ăn

và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm Bông (P ornatus) ở tỉnh

Khánh Hòa

Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp người dân nuôi tôm hùm lồng ở tỉnh Khánh Hòa Việc phỏng vấn trực tiếp người nuôi tôm hùm lồng đã được tiến hành dựa trên phiếu câu hỏi được xây dựng sẵn nhằm đạt được mục đích điều tra

Nguồn số liệu thứ cấp là các số liệu đã tổng hợp về phân bố vùng nuôi tôm hùm lồng, số hộ nuôi và số lượng lồng nuôi được thu thập từ các cơ quan liên quan:

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Khánh Hòa, Trung tâm Khuyến nông

và Khuyến ngư tỉnh Khánh Hòa, Chi cục Thủy sản tỉnh Khánh Hòa, các Phòng kinh

tế của huyện: Vạn Ninh, Ninh Hòa, Cam Ranh, Ủy ban Nhân dân phường Vĩnh Nguyên Thông qua các số liệu trên làm cơ sở để xác định: vùng điều tra, phân bố

số mẫu điều tra (dựa trên nguyên tắc chọn mẫu ngẫu nhiên)

Hình 2.2: Lồng chìm nuôi tôm hùm ở tỉnh Khánh Hòa

Trang 36

Hình 2.3: Lồng nổi nuôi tôm hùm ở tỉnh Khánh Hòa

*Phương pháp tính chi phí giống

CS = SR × SC × PS

 CS: chi phí giống

 SR: mật độ giống thả/lồng

 SC: số lồng thả giống của 1 hộ

 PS: giá con giống

*Phương pháp tính chi phí thức ăn

CF = SR × SC × Sr × FCR × PF

 CF: chi phí thức ăn

 Sr: tỷ lệ sống

 FCR: hệ số thức ăn của tôm hùm

 PF: Giá trung bình 1kg thức ăn của tôm hùm

Trang 37

*Phương pháp tính chi phí lao động

 Cm: chi phí thuốc

Cm = (SCT/10) × 100,000(*) × NoM (*): chi phí thuốc cho 10 lồng nuôi/ tháng

*Tổng các chi phí sản xuất theo vụ

CT = CS + CF + CL + CO + CM

 CM: chi phí phát sinh (5% của CT)

*Tổng các chi phí sản xuất theo năm

Ct = (CT×12)/n

 Ct: Tổng các chi phí sản xuất theo năm

*Trung bình giá các loại thức ăn tươi

PFtb(t) = ∑PFi/100

 PFtb(t): trung bình giá các loại thức ăn tươi

Trang 38

 PFi: giá loại thức ăn i

*Giá thức ăn tươi cho tôm hùm nuôi lồng ở tỉnh Khánh Hòa

 PF:: giá thức ăn tươi cho nuôi tôm hùm lồng ở tỉnh Khánh Hòa

 PFtb(t)(f): giá thức ăn tươi trung bình của cá

 PFtb(t)(c): giá thức ăn tươi trung bình của giáp xác

 PFtb(t)(m): giá thức ăn tươi trung bình của nhuyễn thể

 PFtb(t)(o): giá thức ăn tươi trung bình của các loại khác

*Chi phí thức ăn để sản xuất 1kg tôm hùm Bông ở tỉnh Khánh Hòa

 WH: trọng lượng tôm lúc thu hoạch

 PH: giá tôm lúc thu hoạch

*Tổng thu nhập theo năm

Tr = (TR×12)/n

 Tr: Tổng thu nhập theo năm

 n: Thời gian của một vụ nuôi (trung bình là 17)

*Lợi nhuận theo vụ

NR = TR - CT

 NR: Lợi nhuận theo vụ

PF = [PFtb(t)(f)×40%] + [PFtb(t)(c)×15%] + [PFtb(t)(m)×30%] + [PFtb(t)(o)×15%]

Ngày đăng: 06/03/2015, 11:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tác An. 1992. Năng suất sinh học của tôm hùm Sỏi (P. stimpsoni). Báo cáo khoa học, Viện Hải Dương học, 1 – 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh học của tôm hùm Sỏi (P. "stimpsoni)
2. Nguyễn Văn Chung. 1993. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và nuôi tăng trọng tôm Hùm tại Quảng Bình, Quảng Trị, Báo cáo khoa học, Viện Hải Dương học, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và nuôi tăng trọng tôm Hùm tại Quảng Bình, Quảng Trị
3. Nguyễn Văn Chung &amp; Phạm Thị Dự. 1995. Danh mục Tôm biển Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học &amp; Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục Tôm biển Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học & Kỹ thuật
4. Nguyễn Quang Hạnh. 2010. “Ảnh hưởng của các loại thức ăn, điều kiện chiếu sáng khác nhau lên sinh trưởng, phát dục của Tôm Hùm Bông (Panulirus ornatus, Fabricius, 1798) nuôi trong bể”, Luận văn Thạc sỹ Thủy sản, Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Hạnh. 2010. "“Ảnh hưởng của các loại thức ăn, điều kiện chiếu sáng khác nhau lên sinh trưởng, phát dục của Tôm Hùm Bông (Panulirus ornatus, Fabricius, 1798) nuôi trong bể”
5. Võ Văn Nha. 2010. Nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở tôm hùm Bông (Panulirus ornatus Fabricius, 1798) nuôi lồng tại vùng biển Khánh Hòa và các biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Văn Nha. 2010. "Nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở tôm hùm Bông (Panulirus ornatus" Fabricius", 1798) nuôi lồng tại vùng biển Khánh Hòa và các biện pháp phòng trị
6. Võ Văn Nha. 2005. “Nghiên cứu một số bệnh thường gặp do vi khuẩn, ký sinh trùng gây ra ở tôm hùm Bông (P. ornatus) nuôi lồng ở vùng biển Phú Yên, Khánh Hòa và biện pháp phòng trị” Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài, Viện Nghiên cứu Thủy sản III, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Văn Nha. 2005. “"Nghiên cứu một số bệnh thường gặp do vi khuẩn, ký sinh trùng gây ra ở tôm hùm Bông (P. ornatus) nuôi lồng ở vùng biển Phú Yên, Khánh Hòa và biện pháp phòng trị
7. Võ Văn Nha.2007. Nghiên cứu xây dựng giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi tôm Hùm, Báo cáo tổng kết Khoa học &amp; Kinh tế, 153 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Văn Nha.2007. "Nghiên cứu xây dựng giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi tôm Hùm
8. Võ Văn Nha. 2009. Nuôi tôm hùm thương phẩm và một số biện pháp phòng trị bệnh ở tôm nuôi. Bộ Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư quốc gia. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 84 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Văn Nha. 2009. "Nuôi tôm hùm thương phẩm và một số biện pháp phòng trị bệnh ở tôm nuôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
9. Mai Như Thủy. 2006. “Thức ăn cho tôm hùm Bông (Panulirus ornatus) tại Khánh Hòa và bước đầu thử nghiệm sản xuất thức ăn viên phục vụ ương tôm giống giai đoạn 10 – 20 Gram”, Luận văn Thạc sỹ Thủy sản, Đại học Thủy sản, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mai Như Thủy. 2006. “"Thức ăn cho tôm hùm Bông (Panulirus ornatus) tại Khánh Hòa và bước đầu thử nghiệm sản xuất thức ăn viên phục vụ ương tôm giống giai đoạn 10 – 20 Gram
10. Nguyễn Thị Bích Thúy. 1993. Nghiên cứu kỹ thuật nuôi nâng cấp một số loài tôm Hùm có giá trị kinh tế ở ven biển miền Trung, Đề tài nghiên cứu cấp nhà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kỹ thuật nuôi nâng cấp một số loài tôm Hùm có giá trị kinh tế ở ven biển miền Trung
11. Nguyễn Thị Bích Thúy. 1994. Một số đặc điểm sinh học của tôm hùm trong thời kỳ thành thục sinh dục. Báo cáo khoa học, 23 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học của tôm hùm trong thời kỳ thành thục sinh dục
12. Nguyễn Thị Bích Thúy. 1998. Nghiên cứu các đặc điểm sinh học nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi tôm Hùm ở vùng ven biển miền Trung Việt Nam, Luận án Tiến sĩ khoa học Sinh học, Viện Hải Dương học, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các đặc điểm sinh học nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi tôm Hùm ở vùng ven biển miền Trung Việt Nam
13. Nguyễn Thị Bích Thúy. 2003. Điều tra kỹ thuật khai thác tôm hùm giống và thí nghiệm ương nuôi tôm hùm Bông (Panulirus ornatus) ở vùng biển tỉnh Phú Yên, Báo cáo Khoa học, Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản III, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra kỹ thuật khai thác tôm hùm giống và thí nghiệm ương nuôi tôm hùm Bông (Panulirus ornatus) ở vùng biển tỉnh Phú Yên
14. Nguyễn Thị Bích Thúy. 2004. Một số dẫn liệu về ảnh hưởng của các điều kiện môi trường lên sự sinh trưởng của tôm con (juvenile) tôm hùm Bông (Panulirus ornatus) ở vùng biển miền Trung, Việt Nam. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học công nghệ (1994 – 2004), Viện NCNTTS 3. NXB Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh, 73-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dẫn liệu về ảnh hưởng của các điều kiện môi trường lên sự sinh trưởng của tôm con (juvenile) tôm hùm Bông (Panulirus ornatus) ở vùng biển miền Trung, Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh
15. Vũ Trung Tạng &amp; Nguyễn Đình Mão. 2006. Khai thác và sử dụng bền vữngđa dạng sinh học thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh, 146 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác và sử dụng bền vữngđa dạng sinh học thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh
16. Lê Anh Tuấn, Nguyễn Trọng Nho &amp; John Hambrey. 2000. “Hiện trạng nuôi lồng ở biển tại Việt Nam”, Báo cáo của hội thảo khoa học về nuôi lồng ở biển, trường Đại học Thủy sản, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng nuôi lồng ở biển tại Việt Nam
18. Viện Hải Dương học Nha Trang. 2002. Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản vùng ven bờ Cù Mông – Xuân Đài (Phú Yên) giai đoạn 2001-2010, Sở Thủy sản, UBND Tỉnh Phú Yên, 75 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản vùng ven bờ Cù Mông – Xuân Đài (Phú Yên) giai đoạn 2001-2010
19. Aiken, D. E. &amp; Waddy, S. L. 1976. Controlling growth and reproduction in the American lobster. Proc. Annu. Meet – World Maric, Soc.7, 415 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Controlling growth and reproduction in the American lobster
20. Aiken, D. E. 1980. Molting and growth. In the biology and management of lobster. Vol 1: Physiology and behavior (Ed By J.S Cobb &amp; B.F Phillips), Academic Press, New York, 91-147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Molting and growth
21. Aiken, D. E. &amp; Waddy, S. L. 1995. “Aquaculture”, Biology of the lobster Homarus americanus, Academic Press, Inc, 153 – 175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Aquaculture”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Chu kỳ sống của tôm hùm [5], [27]. - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Hình 1.1 Chu kỳ sống của tôm hùm [5], [27] (Trang 10)
Hình 1.2: Sơ đồ biểu diễn tỷ lệ phần trăm các loại thức ăn chủ yếu của tôm - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Hình 1.2 Sơ đồ biểu diễn tỷ lệ phần trăm các loại thức ăn chủ yếu của tôm (Trang 17)
Bảng 1.1: Phân bố số lượng lồng nuôi (lồng) và sản lượng tôm hùm nuôi - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Bảng 1.1 Phân bố số lượng lồng nuôi (lồng) và sản lượng tôm hùm nuôi (Trang 21)
Bảng 1.2: Đặc điểm kinh tế và sinh học của các loài tôm hùm gai ở Việt Nam - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Bảng 1.2 Đặc điểm kinh tế và sinh học của các loài tôm hùm gai ở Việt Nam (Trang 29)
Hình 1.3: Bốn loài tôm hùm Gai nuôi nhiều nhất ở Việt Nam - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Hình 1.3 Bốn loài tôm hùm Gai nuôi nhiều nhất ở Việt Nam (Trang 30)
Hình 2.1: Sơ đồ khối phương pháp nghiên cứu - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Hình 2.1 Sơ đồ khối phương pháp nghiên cứu (Trang 34)
Hình 2.2: Lồng chìm nuôi tôm hùm ở tỉnh Khánh Hòa. - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Hình 2.2 Lồng chìm nuôi tôm hùm ở tỉnh Khánh Hòa (Trang 35)
Hình 2.3: Lồng nổi nuôi tôm hùm ở tỉnh Khánh Hòa - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Hình 2.3 Lồng nổi nuôi tôm hùm ở tỉnh Khánh Hòa (Trang 36)
Hình 2.6: Các thiết bị và dụng cụ thí nghiệm. - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Hình 2.6 Các thiết bị và dụng cụ thí nghiệm (Trang 42)
Hình 2.7: Thức ăn tươi  2.3.6. Thức ăn công nghiệp - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Hình 2.7 Thức ăn tươi 2.3.6. Thức ăn công nghiệp (Trang 44)
Hình 2.8: Thức ăn công nghiệp  2.3.7. Bố trí thí nghiệm - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Hình 2.8 Thức ăn công nghiệp 2.3.7. Bố trí thí nghiệm (Trang 44)
Bảng 3.4: Thông tin chung về lồng nuôi - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Bảng 3.4 Thông tin chung về lồng nuôi (Trang 50)
Hình 3.1: Thái độ của người nuôi tôm hùm trong việc sử dụng thức ăn công nghiệp - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Hình 3.1 Thái độ của người nuôi tôm hùm trong việc sử dụng thức ăn công nghiệp (Trang 55)
Bảng 3.7: Cấu trúc chi phí sản xuất của hoạt động nuôi tôm hùm Bông ở tỉnh - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Bảng 3.7 Cấu trúc chi phí sản xuất của hoạt động nuôi tôm hùm Bông ở tỉnh (Trang 56)
Bảng 3.10: Thành phần sinh hóa các loại thức ăn tươi nuôi tôm hùm ở Khánh Hòa - tình hình sử dụng thức ăn và kỹ thuật cho ăn trong nuôi thương phẩm tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) tại khánh hòa và thử nghiệm ương nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn viên trong ao đất phủ bạt
Bảng 3.10 Thành phần sinh hóa các loại thức ăn tươi nuôi tôm hùm ở Khánh Hòa (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w