LỜI CAM ĐOAN Tôi là Lê Thị Thu Hà, là học viên lớp cao học CHNTTS2012-3, chuyên ngành Nuôi trồng Thủy sản, tôi xin cam đoan: Đề tài “Nghiên cứu một vài đặc điểm sinh học sinh sản và thử
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ THỊ THU HÀ
NGHIÊN CỨU MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN
VÀ THỬ NGHIỆM SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ SỌC NGỰA
Danio rerio (F.HAMILTON, 1822) NUÔI TẠI KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ THỊ THU HÀ
NGHIÊN CỨU MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN
VÀ THỬ NGHIỆM SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ SỌC NGỰA
Danio rerio (F.HAMILTON, 1822) NUÔI TẠI KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Phạm Quốc Hùng
Khánh Hòa - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lê Thị Thu Hà, là học viên lớp cao học CHNTTS2012-3, chuyên ngành
Nuôi trồng Thủy sản, tôi xin cam đoan: Đề tài “Nghiên cứu một vài đặc điểm sinh
học sinh sản và thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá sọc ngựa Danio rerio
(F.Hamilton, 1822) nuôi tại Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
nội dung trong luận văn là do tự bản thân tôi tiến hành bố trí thí nghiệm, thu thập và phân tích kết quả Các tài liệu tham khảo và kết quả nghiên cứu của các tác giả khác được sử dụng trong luận văn này với mục đích phân tích và so sánh đã được trích dẫn đầy đủ, minh bạch và đúng các nguồn công bố Toàn bộ nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn đều đảm bảo tính trung thực, có đủ độ tin cậy và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Lê Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều người Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Quốc Hùng và TS
Lê Minh Hoàng, những người đã định hướng và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Viện Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang, những người đã dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quãng thời gian qua
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, những người luôn bên cạnh giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin dành sự biết ơn to lớn đến gia đình và người thân đã luôn bên tôi, động viên giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn trong cuộc sống cũng như trong học tập
Xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 5 năm 2014
Học viên
Lê Thị Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Môt số đặc điểm sinh học của cá sọc ngựa Danio rerio (F.Hamilton, 1822) 3
1.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái 3
1.1.2 Phân bố và môi trường sống 4
1.1.2.1 Phân bố 4
1.1.2.2 Môi trường sống 5
1.1.3 Dinh dưỡng 6
1.1.4 Sinh sản 7
1.1.5 Các giai đoạn phát triển phôi 8
1.1.5.1 Giai đoạn phôi nang – Blastula 9
1.1.5.2 Giai đoạn phôi vị _Gastrula 11
1.1.5.3 Quá trình hình thành cơ quan 11
1.1.5.4 Giai đoạn ấu trùng sớm 13
1.2 Những nghiên cứu về cá sọc ngựa tại Việt Nam và trên thế giới .13
1.2.1 Trên thế giới 13
1.2.2 Ở Việt Nam 15
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Địa điểm, thời gian 17
2.2 Đối tượng nghiên cứu 17
2.3 Vật liệu nghiên cứu 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
2.4.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 17
2.4.2 Bố trí thí nghiệm 18
Trang 62.4.2.1 Chăm sóc cá bố mẹ 18
2.4.2.2 Phương pháp cá bố mẹ sinh sản 19
2.5 Thu thập số liệu 20
2.5.1 Nghiên cứu một vài đặc điểm sinh học sinh sản 20
2.5.2 Thử nghiệm sinh sản nhân tạo 21
2.5.2.1 Tỷ lệ thụ tinh (FR) .21
2.5.2.2 Tỷ lệ nở (HR) 21
2.5.2.3 Quan sát sự phát triển của phôi .21
2.5.2.4 Đánh giá chất lượng ấu trùng 21
2.6 Xử lý số liệu 22
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Một vài đặc điểm sinh học sinh sản 23
3.1.1 Phân biệt cá đực, cá cái 23
3.1.2 Các giai đoạn phát triển của buồng trứng 23
3.1.3 Ảnh hưởng của thức ăn lên hệ số thành thục (GSI) 25
3.1.4 Ảnh hưởng của thức ăn lên sức sinh sản tương đối và sức sinh sản tuyệt đối 26
3.2 Thử nghiệm sinh sản nhân tạo 27
3.2.1 Chăm sóc cá bố mẹ 27
3.2.2 Tuyển chọn cá bố mẹ cho sinh sản 28
3.2.3 Bố trí thí nghiệm cho cá đẻ 28
3.2.4 Các giai đoạn phát triển của phôi 29
3.2.5 Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở 32
3.2.6 Ảnh hưởng của thức ăn lên khả năng vận động của ấu trùng 33
3.2.7 Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống của ấu trùng cá sọc ngựa 33
3.2.8 Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài 34
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
4.1 Kết luận 36
4.2 Kiến nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GSI : Gonado somatic Index (hệ số thành thục)
AF : Sức sinh sản tuyệt đối
RF : Sức sinh sản tương đối
FR : Tỷ lệ thụ tinh
HR : Tỷ lệ nở
ppt : Part per thousand
BW : Khối lượng toàn bộ cơ thể
GW : Khối lượng tuyến sinh dục
SGRL : Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài
SGRW : Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng
TLS : Tỷ lệ sống
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số đặc điểm thủy lý, thủy hóa 6
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng thức ăn tổng hợp sử dụng trong thí nghiệm 19
Bảng 3.1 Sức sinh sản của cá sọc ngựa khi cho ăn 3 loại thức ăn khác nhau 26
Bảng 3.2 Quá trình phát triển phôi cá sọc ngựa 30
Bảng 3.3 Kết quả tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở 32
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hình dạng ngoài của cá sọc ngựa 4
Hình 1.2 Phân bố của cá sọc ngựa trong tự nhiên 5
Hình 1.3 (A) Phôi sau vài phút được thụ tinh (B) Phôi giai đoạn 1 tế bào 8
Hình 1.4 Phôi cá sọc ngựa dưới kính hiển vi đảo ngược 9
Hình 1.5 Mô hình phôi cá sọc ngựa giai đoạn phôi nang với 3 lớp tế bào 10
Hình 1.6 Phôi cá sọc ngựa giai đoạn phôi nang 10
Hình 1.7 Mô hình phôi cá sọc ngựa giai đoạn phôi vị: 9 giờ và 10 giờ sau khi thụ tinh 11
Hình 1.8 Các cơ quan trong cơ thể cá sọc ngựa 12
Hình 1.9 Miệng phát triển và bắt đầu hình thành sắc 13
Hình 1.10 Các công trình công bố liên quan đến cá sọc ngựa từ những năm 1970 – 2008 Số lượng các công trình bắt đầu gia tăng mạnh từ những năm 1990 và vẫn có khuynh hướng tăng cho đến nay 15
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
Hình 2.2 Bể nuôi cá sọc ngựa bố mẹ thí nghiệm 19
Hình 2.3 Bể cho cá đẻ 20
Hình 3.1 Hình dạng cá đực 23
Hình 3.2 Hình dạng cá cái 23
Hình 3.3 Biến động hệ số thành thục của cá sọc ngựa 25
Hình 3.4 Hình ảnh một số giai đoạn phát triển của phôi 31
Hình 3.5 Số lần xoay thân của cá trong 1 phút 33
Hình 3.6 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của cá 34
Hình 3.7 Ảnh hưởng của thức ăn lên SGRL (%/ngày) 34
Hình 3.8 Ảnh hưởng của thức ăn lên chiều dài của ấu trùng cá sọc ngựa 35
Trang 10MỞ ĐẦU
Cá sọc ngựa Danio rerio (F.Hamilton, 1822), là đối tượng cá cảnh phổ biến thuộc
họ cá Chép Cyprinidae Cá có các đặc điểm hình thái và màu sắc độc đáo, có thể nuôi riêng hoặc nuôi kết hợp với các loài cá cảnh khác trong bể cá cảnh Với nhu cầu tiêu thụ cá cảnh ngày càng tăng như hiện nay, trong khi nguồn cung cấp cá cảnh chủ yếu dựa vào khai thác từ tự nhiên, đã đặt ra nhiều mối quan tâm đối với các nhà khoa học, quản lý và bảo tồn Nuôi trồng thủy sản được xem là giải pháp hữu hiệu nhất để giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực lên nguồn lợi tự nhiên và phát triển bền vững ngành công nghiệp này
Ngoài ra, cá sọc ngựa Danio rerio còn là đối tượng thí nghiệm quan trọng trong
các nghiên cứu về di truyền học, thần kinh học và y học [42] Cá sọc ngựa trở thành
mô hình chính trong các nghiên cứu về độc chất học, sinh học thần kinh, sinh học phát triển và sinh học phân tử [55] Mỗi con cái có thể đẻ 50 – 200 trứng/ ngày, cá thụ tinh ngoài giúp dễ dàng quan sát và thao tác trên phôi ngay sau khi được thụ tinh, phôi phát triển nhanh chóng, đạt độ trong suốt hoàn hảo cho phép ghi lại hình ảnh thực trong quá trình phát triển cơ quan [9] Nhờ vào những ưu điểm trên nên cá sọc ngựa được coi là
sự lựa chọn hàng đầu cho các nghiên cứu về ảnh hưởng của độc tố lên sưu phát triển phôi [14]
Tuy nhiên, các nghiên cứu sinh học sinh sản trên cá sọc ngựa Danio rerio ở Việt
Nam còn rất hạn chế đã gây cản trở trong việc mở rộng phát triển đối tượng này tương ứng với tiềm năng
Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài “Nghiên cứu một vài đặc điểm sinh học
sinh sản và thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá sọc ngựa Danio rerio (F.Hamilton,
1822) nuôi tại Khánh Hòa” được thực hiện nhằm góp phần xây dựng quy trình sản
xuất giống nhân tạo cá Danio rerio
Mục tiêu của đề tài:
- Xác định được một số đặc điểm sinh học sinh sản cá sọc ngựa Danio rerio nuôi
tại Khánh Hòa
- Nắm được quy trình sinh sản nhân tạo cá sọc ngựa Danio rerio nuôi tại Khánh
Hòa
Trang 11 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản chủ yếu của cá sọc ngựa Danio rerio
nuôi tại Khánh Hòa: Phân biệt đực cái, các giai đoạn phát triển của buồng trứng, hệ số thành thục, sức sinh sản tuyệt đối, sức sinh sản tương đối
- Thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá sọc ngựa: chăm sóc cá bố mẹ, sự phát triển của phôi, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, khả năng vận động của ấu trùng, tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài, tỷ lệ sống của ấu trùng cá
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp những dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học sinh sản, thử nghiệm sinh sản, làm cơ sở cho
các công trình nghiên cứu khác về cá sọc ngựa Danio rerio
- Ý nghĩa thực tiễn: Xác định một số đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm
sinh sản nhân tạo cá sọc ngựa Danio rerio
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Môt số đặc điểm sinh học của cá sọc ngựa Danio rerio (F.Hamilton, 1822)
1.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái:
Cá sọc ngựa Danio rerio là loài cá nước ngọt nhiệt đới, thuộc họ cá Chép
Cyprinidae [37] Loài cá này được mô tả lần đầu tiên ở thế kỷ 19 bởi bác sĩ phẫu thuật Francis Hamilton Ông đã cho xuất bản một báo cáo về các loài cá này, theo đó nó được tìm thấy ở sông Hằng và các nhánh của sông Hằng vào năm 1822 Trong nghiên cứu của mình, Francis Hamilton đã phát hiện được 10 loài cá thuộc giống Danio
Trong đó, loài cá sọc ngựa Danio rerio đã được phân vào chi Brachydanio [54] Đến
năm 1991, Barman lại phân Danio và Barachydanio thành 2 giống khác nhau tuy nhiên ông không chỉ ra được đặc điểm riêng biệt của từng giống [6]
Các nghiên cứu đầu tiên dựa trên việc nghiên cứu sinh học phân tử để phân loại được tiến hành năm 1993 bởi Meyer và các cộng sự Trong nghiên cứu của mình, ông
đã tiến hành phân tích DNA 16S và 12S của 9 loài cá khác nhau thuộc giống Danio Từ kết quả phân tích của mình, Meyer và các cộng sự đã kết luận Danio là một giống riêng
biệt, và gồm 2 loài có đặc điểm thân dầy (Danio rerio) và thân mỏng (Barachydanio
rerio) [36, 57] Kết quả này cũng trùng với kết quả trong các nghiên cứu sinh học phân
tử sau này được thực hiện bởi Mc Clure (năm 1999), Parichy và Johnson (năm 2011) [34, 40] Tuy nhiên,vào năm 2002, Sanger và McCune kết hợp nghiên cứu sinh học phân tử và nghiên cứu hình thái học nhằm đã đưa ra một kết quả hoàn toàn trái ngược,
theo đó tồn tai hai loài Danio rerio và Barachydanio rerio khác nhau [43]
Bề mặt hai bên của cá Danio rerio có những sọc vằn chạy dọc phần thân và vây nên
được gọi với tên là cá sọc vằn hay cá sọc ngựa Không giống như nhiều loài của họ cá chép Cyprinidae, kích thước của cá sọc vằn nhỏ hơn nhiều, cá trưởng thành có chiều dài
từ 3-5 cm Cá sọc ngựa được thuần từ tự nhiên có thể sống từ 3 - 5 năm, trong nghiên cứu năm 1991 của Talwar, ông đã tìm thấy cá thể có tuổi thọ lên đến 5,5 tuổi [52]
Trang 13Loài: Danio rerio (F.Hamilton, 1822) [39]
Hình 1.1 Hình dạng ngoài của cá sọc ngựa [61]
Tên tiếng Anh: Zebrafish
Tên tiếng Việt: Cá sọc ngựa, cá ngựa vằn
1.1.2 Phân bố và môi trường sống
1.1.2.1 Phân bố
Trong tự nhiên, cá sọc ngựa phân bố ở Ấn Độ và Nam Á, chủ yếu tại lưu vực sông Hằng và sông Brahmaputra ở phía đông bắc Ấn Độ, Bangladesh và Nepal Những nghiên cứu hóa thạch của loài cá này cũng cho thấy sự hiện diện của loài cá này ở Indus, Cauvery, Pennar, Godavari và lưu vực sông Mahanadi Ngoài ra, kết quả nghiên
cứu của Streisinger năm 1981 đã chỉ ra sự phân bố của loài cá này cũng có trên lưu
Trang 14vực sông Krishnavà ở các bang Rajasthan, Gujarat và Andra Pradesh (lưu vực sông đổ
ra biển Ả Rập) cũng như phía Bắc Myanmar và Sri Lanka [6]
Hình 1.2 Phân bố của cá sọc ngựa trong tự nhiên [4]
1.1.2.2 Môi trường sống
Trong nghiên cứu của Engeszer và các cộng sự tiến hành năm 2007, ông cho rằng ngoài môi trường tự nhiên, cá sọc ngựa sinh trưởng và phát triển trong những môi trường nước nhiệt có độ khoảng từ 24,6-38,6oC [21] Hwang và các cộng sự (năm 1995) cho rằng 28,5oC là nhiệt độ tối ưu cho sự sinh và phát triển của cá sọc ngựa [27]
Đây là loài sống đáy, thường được tìm thấy ở những nơi có dòng nước tĩnh hoặc nước chảy chậm, đặc biệt là các con mương gần ruộng lúa [28, 49, 51] Tuy nhiên, vẫn thấy loài cá này ở các con suối mà chủ yếu ở phần hạ lưu hay phổ biến trong các khe suối nhỏ [13], nơi có tốc độ dòng chảy chậm [35] Cá sọc ngựa sống ở vùng nước nông, độ sâu khoảng 30 cm, nơi ít tán cây, thực vật thủy sinh, nền đáy thường là bùn hoăc là bùn sỏi, do đó phần lớn cá tập trung ở vùng bãi bồi hơn là ven các con sông
Trang 15Bảng 1.1 Một số đặc điểm thủy lý, thủy hóa
Địa điểm Độ trong
(cm)
pH Độ mặn
(ppt)
Độ sâu (cm)
Nhiệt độ (oC)
Nguồn tham khảo
India, Uttar Pradesh >35 8.2 Không
thu được
Không thu được
27 [34]
India, Uttar Pradesh >35 8 Nt Nt 32 [34] India, West Bengal >35 7.9 Nt Nt 34 [34] Bangladesh
Trang 16những loài sinh sản ấu trùng trong nước, đặc biệt là ruồi và muỗi, do đó cá sọc ngựa được xem là có vai trò trong việc kiểm soát muỗi [18] Cá sọc ngựa ăn thức ăn ở cả 3 tầng nước: tầng mặt, tầng giữa và tầng đáy Bên cạnh đó, có sự biến động về thành phần thức ăn trong tự nhiên theo các mùa trong năm ở loài cá này Trong một nghiên cứu của Spence và các cộng sự, dựa trên việc lấy mẫu trong 12 tháng, thành phần chế
độ ăn của cá sọc ngựa có sự khác biệt rõ ràng giữa các mùa [46]
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, sau 3 ngày tuổi, cá tiêu hóa hết noãn hoàng
Từ 4 – 8 ngày tuổi, thức ăn ưa thích của cá sọc ngựa là rotifera, ngoài ra có thể thay thế thức ăn rotifer bằng lòng đỏ trứng gà vẫn cho tỉ lệ sống cao (90 – 94%) nhưng dễ làm đục nước, khó chăm sóc Từ 8 – 15 ngày tuổi, ngoài rotifera cỡ lớn cá còn
ăn moina cỡ nhỏ, kết hợp cả 2 sẽ cho kết quả cao nhất với tỉ lệ sống (86 – 90%) Từ 15 – 30 ngày tuổi cho ăn moina và trùn chỉ [1].
1.1.4 Sinh sản
Trong thời gian đầu phát triển, tuyến sinh dục của cá đực và cá cái đều giống nhau, chưa phân biệt được con đực, con cái Chỉ có thể phân biệt được con đực, con cái khi cá đạt chiều dài cơ thể 10 - 15mm, tương đương với 5 - 7 tuần sau khi cá nở Tuyến sinh dục của con đực phát triển hoàn chỉnh vào khoảng tháng thứ 3 (lúc này cơ thể cá đạt chiều dài 12 - 17mm), tùy thuộc vào điều kiện môi trường và điều kiện chăm sóc [15, 32]
Chu kỳ sinh sản của cá ngắn, một cá thể đạt đến độ tuổi trưởng thành và tham gia sinh sản lần đầu khi đạt 3 tháng tuổi Sinh sản của cá xảy ra khi có những biến đổi của nhiệt độ Trong tự nhiên, mùa vụ sinh sản hằng năm của cá bắt đầu vào mùa mưa
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, giống cá sọc ngựa thuần chủng được nuôi quanh năm, và khả năng sinh sản của nó phụ thuộc nhiều vào thức ăn [4] Ngoài ra, sự thành thục sinh dục có liên quan mật thiết tới kích thước cơ thể cá hơn là tuổi của cá
Cá sọc ngựa hoang dã và cá thuần có kích thước thành thục tương tự nhau mặc dù tốc
độ tăng trưởng khác nhau [20] Eaton and Farley đã chỉ ra rằng: cá sọc ngựa thuần chủng được nuôi ở 25oC sẽ thành thục sau 75 ngày, khi con cái đạt chiều dài 24,9mm
và con đực dài 23,1mm Và cá sọc ngựa hoang dã được nuôi trong phòng thí nghiệm cũng thành thục sinh dục khi chiều dài cơ thể đạt 23,1mm [45]
Trang 17Trong suốt thời gian đẻ, con đực luôn bơi theo con cái [20] và một con cái có thể đẻ vài trăm trứng 1 đợt đẻ Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng: chu kỳ sinh sản của con cái kéo dài 4 - 5 ngày [3, 53] Và con cái chỉ đẻ trứng khi có sự xuất hiện và tiếp xúc với con đực
Cá sọc ngựa đẻ trứng rời, có đường kính khoảng 0.7mm Trứng cá màu trong suốt, phần noãn hoàng được cô lập thành phần riêng biệt Trứng của loài cá này được thụ tinh và phát triển bên ngoài môi trường, sau khi đẻ ra thì lắng xuống đáy và không cần sự chăm sóc của cá bố mẹ Những trứng không được thụ tinh thì không trải qua các giai đoạn phân chia tế bào [31] Theo nghiên cứu của Lee và các cộng sự năm
1999, ông cho rằng trong khoảng 48 - 72 giờ sau khi thụ tinh ở nhiệt độ 28.5oC thì cá
nở, thời gian nở dài hay ngắn là tùy thuộc vào độ dày của màng tế bào trứng và sự vận động của phôi thai Một cơ thể cá cái có thể cho khoảng 100 - 200 trứng cho một lần sinh sản, thời gian cá thành thục trong thời gian 3 tháng [23]
1.1.5 Các giai đoạn phát triển phôi
Quá trình phát triển phôi được kích thích bởi ánh sáng và chu kỳ sáng tối tự nhiên của cá là 14 giờ sáng: 10 giờ tối Trứng cá sọc ngựa nhỏ (đường kính khoảng 0,5 – 0,6 mm trước khi được thụ tinh), có noãn hoàng lớn Bao xung quanh trứng là một lớp ngoại tế bào gọi là vỏ noãn hoàng, và bên ngoài lớp vỏ này là một màng đệm cứng [11]
Hình 1.3 (A) Phôi sau vài phút được thụ tinh (B) Phôi giai đoạn 1 tế bào [62]
Cá sọc ngựa thụ tinh ngoài Sau giai đoạn bắt cặp ngắn, cá cái đẻ trứng và cá đực tưới tinh trùng lên trứng Tinh trùng cá được giải phóng ra môi trường nước và xâm nhập vào trứng qua lỗ khổng trên màng đệm Tinh trùng đầu tiên gặp bề mặt
Trang 18trứng sẽ bám vào các vi nhung mao trên bề mặt trứng Các vi nhung mao kéo dài để tạo nón thụ tinh trong khi tinh trùng dung hòa với màng trứng, lỗ khổng sau đó sẽ đóng lại ngăn chặn hiện tượng nhiều tinh trùng xâm nhập Khoảng 12 phút sau thụ tinh, màng đệm ngấm nước căng hoàn toàn, lúc này đường kính của trứng có thể tăng lên tới 1mm Phôi phát triển toàn diện trong 96 giờ ở 28,5oC (Hình 1.4) Các giai đoạn phát triển khác nhau của phôi là công cụ cung cấp chính xác cho việc nghiên cứu sự phát triển Bởi vì những phôi khác nhau sẽ phát triển theo những tỷ lệ khác nhau [11]
Hình 1.4 Phôi cá sọc ngựa dưới kính hiển vi đảo ngược [63]
1.1.5.1 Giai đoạn phôi nang – Blastula
Giai đoạn phôi nang bắt đầu từ khoảng 2 giờ 15 phút đến 5 giờ 30 phút sau khi trứng được thụ tinh (hoặc được tính từ lần phân cắt thứ 7) ở 28,5oC Trong giai đoạn phôi nang sớm, đĩa phôi có dạng quả bóng, các tế bào tiếp tục phân chia đạt trên 128 tế bào, và trở nên đồng bộ, tạo nhiều lớp tế bào phôi (blastomere) Khi bước vào lần phân cắt thứ 9, phôi đi vào giai đoạn chuyển giao phôi nang giữa (mid-blastula transition), chu kỳ tế bào kéo dài, các tế bào trong phôi bì tạo thành 3 lớp phân biệt Lớp đầu tiên (hình thành trong lần phân cắt thứ 9 và 10) được gọi là lớp hợp bào noãn hoàng (yolk syncytial layer – YSL) Lớp này được tạo ra khi các tế bào xung quanh rìa phôi bì (blastoderm) dung hợp với noãn hoàng bên dưới, tạo thành vòng nhân Vòng nhân dịch chuyển hợp nhất với các nhân từ vùng rìa phôi bì cuối cùng tạo thành một lớp nhân hoàn chỉnh nằm dưới phôi bì Sau đó, các tế bào ngoài cùng của phôi bì thiết lập tạo lớp vỏ dày là EVL (enveloping layer) Lớp thứ ba là lớp tế bào ở giữa EVL và YSL (lớp deep cells) Lớp tế bào ở giữa sẽ tạo thành thể phôi Lớp EVL sau đó hình thành chu bì (periderm) để bảo vệ phôi phát triển Lớp YSL sẽ kéo các tế bào bao phủ
Trang 19noãn hoàng, quá trình bao phủ bắt đầu xảy ra vào giai đoạn phôi nang muộn và diễn ra
trong suốt giai đoạn phôi vị [11] (Hình 1.5)
Hình 1.5 Mô hình phôi cá sọc ngựa giai đoạn phôi nang với 3 lớp tế bào [60]
Blastoderm: phôi bì, Enveloping:, Internal yolk suncytial layer: thể phôi, Yolk syncytial nuclci: tế bào ở giữa, External yolk syncytial layer: hợp bào noãn hoàng,
Microtubules: ống dẫn nhỏ
Giai đoạn phôi nang là giai đoạn các gene của phôi được kích hoạt (trước đó các gene bị kiểm soát thông qua các tín hiệu được tích trữ trong trứng trong suốt giai đoạn hình thành trứng) (mRNA từ mẹ) Sự kích hoạt bộ gene của phôi được gọi là sự chuyển giao sang giai đoạn phôi nang giữa và được bắt đầu tại lần phân chia tế bào thứ mười [14]
Hình 1.6 Phôi cá sọc ngựa giai đoạn phôi nang [59]
(A) Phôi nang sớm
(B) Phôi nang giữa
Trang 20(C) Phôi nang muộn
1.1.5.2 Giai đoạn phôi vị _Gastrula
Ở 28,5oC, giai đoạn phôi vị bắt đầu từ khoảng 5 giờ 30 phút tới 10 giờ sau khi
trứng được thụ tinh, phôi bì trải rộng được khoảng một nửa noãn hoàng (bao phủ
50%) Các tế bào ở rìa phôi bì bắt đầu hướng vào trong và trải rộng trên đỉnh YSL Kết
quả tạo ra hai lớp bên trong các tế bào, lớp ngoại phôi bì ở trên (epiblast) và lớp nội bì
ở dưới (hypoblast) Lớp ngoại phôi bì tạo thành ngoại bì (lớp mầm tạo biểu bì của da
và hệ thần kinh); lớp nội bì tạo thành trung phôi bì (lớp mầm tạo cơ, xương, và hệ tuần
hoàn, thận, hệ sinh sản và tuyến sinh dục) và nội bì (lớp mầm tạo hệ tiêu hóa và ruột)
Khi phôi bì hoàn tất quá trình bao phủ noãn hoàng, đầu và chồi đuôi được hình
thành Phôi bước vào giai đoạn hình thành các cơ quan [11]
Hình 1.7 Mô hình phôi cá sọc ngựa giai đoạn phôi vị: 9 giờ và 10 giờ
sau khi thụ tinh [9]
1.1.5.3 Quá trình hình thành cơ quan
Sự hình thành cơ quan diễn ra nhanh, hầu hết những kết cấu cơ quan thô sơ
được hình thành trong 24 giờ phát triển Đối với phôi gà, ở 38oC, sau 24 giờ mới chỉ
hình thành được hệ thần kinh và 4 cặp đốt sống, nhưng đối với phôi cá sọc ngựa, ở
nhiệt độ 28,5oC đã hình thành được đầy đủ 30 cặp đốt sống, tim đập và tạo sắc tố ở
mắt và da [11]
Trang 21Hình 1.8 Các cơ quan trong cơ thể cá sọc ngựa [62]
Giai đoạn phân đốt sống (Segmentation): Cặp đốt sống đầu tiên tạo thành sau
10 giờ phát triển, và từ đó sau mỗi nửa giờ sẽ hình thành thêm một cặp mới Điều này
có nghĩa là trong vòng vài giờ, ta có thể quan sát một vài cặp đốt sống
Ống thần kinh: Giống như đốt sống, hệ thần kinh cũng được tạo thành Đĩa thần kinh xuất hiện trong 10 giờ cũng giống như cặp đốt sống đầu tiên (giai đoạn chồi) Sau
đó đĩa thần kinh gấp lại vào trong tạo thành ống thần kinh (13 giờ), và sau đó là đường thần kinh (16 giờ) Đường thần kinh tạo lỗ hình thành nên ống thần kinh lõm (bắt đầu lúc 18 giờ, khi phôi đạt 18 đốt sống) Vùng não vào lúc này có thể bắt đầu được xác định là những chỗ sưng phồng phân biệt gọi là đốt thần kinh (neuromere) Khi đạt 18 giờ, có 10 đốt thần kinh theo thứ tự từ trước tới sau, 3 đốt đầu tiên tương ứng với não cùng, não trung gian, não giữa và 7 đốt cuối cùng tương ứng với não sau
Hình thành vòm hầu họng (Pharyngeal): Sau 24 giờ, phôi bắt đầu phản ứng với
sự đụng chạm và sự tạo thành sắc tố trở nên rõ rệt Trong vùng hầu họng, hàm và nắp mang được tạo thành từ hai vòm hầu họng đầu tiên và các vòm họng sau đó cũng được hình thành rõ rệt (cũng được gọi là vòm mang tạo thành mang)
Đường viền bên: Hệ thống đường viền bên gồm một loạt các đường ống chứa cấu trúc cảm ứng gọi là khối thần kinh giác quan (neuromast), để phát hiện những chuyển động chậm trong nước và do đó sẽ thông tin cho cá về đối thủ trong phạm vi
Trang 22gần Khi đạt giai đoạn 18 đốt sống, nó bắt đầu di chuyển trong biểu bì, di chuyển giữa hai đốt sống sau mỗi giờ và tới đuôi khi được 40 giờ
Nở: Phôi thoát nang trong vòng 48 – 72 giờ Trong suốt quá trình thoát nang, phôi tiếp tục tăng trưởng theo cùng tỷ lệ với các giai đoạn trước Quá trình hình thành hình thái của nhiều cơ quan đã khá hoàn thiện và chậm hơn đáng kể ngoại trừ ruột và các cơ quan có liên quan Có thể dễ dàng quan sát sự phát triển nhanh của vây ngực, hàm và mang [14]
1.1.5.4 Giai đoạn ấu trùng sớm
Vào ngày thứ 3 sau khi nở, ấu trùng cá sọc ngựa hoàn thiện hầu hết quá trình phát sinh hình thái và tiếp tục tăng trưởng nhanh Có nhiều thay đổi xảy ra trong suốt những ngày kế tiếp như bong bóng căng phồng, miệng tiếp tục phát triển, các dải sắc
tố sáng dần và kéo dài, noãn hoàng ở bụng cũng kéo dài ra Các ống ruột tập trung nhiều ở bụng và có thể quan sát được dễ dàng Khác với giai đoạn phôi, ấu trùng ở giai đoạn sớm bắt đầu bơi một cách linh hoạt và cử động hàm, vây ngực và mắt Những
phát triển này giúp cá đáp ứng trốn thoát kẻ thù, hô hấp và tìm thức ăn [11]
Hình 1.9 Miệng phát triển và bắt đầu hình thành sắc [11]
1.2 Những nghiên cứu về cá sọc ngựa tại Việt Nam và trên thế giới
1.2.1 Trên thế giới
Từ lâu cá sọc ngựa (Danio rerio) được sử dụng để nghiên cứu sự đa dạng trong
nhiều lĩnh vực sinh học thủy sản Trong hai mươi năm trở lại đây, cá sọc ngựa được coi là một mô hình động vật xương sống nổi bật dùng cho những nghiên cứu về di truyền, phát triển Qua nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã rút được những ưu điểm mang tính thực tiễn như khả năng sinh sản cao, kích thước cơ thể nhỏ, chu kỳ sinh sản ngắn, phôi trong suốt có thể quan sát dễ dàng, tập tính theo đàn, đo độc tố trong môi trường thủy sinh, sự điều hòa áp suất thẩm thấu, tính tương đồng trong di truyền với con người [30] Chúng đã góp phần không nhỏ trong việc nghiên cứu về bệnh và sự
Trang 23phát triển trên người Ngoài ra chúng còn được đánh giá cao như là những mô hình dùng cho nghiên cứu hành vi tập tính, sinh lý cá và đo độc tố trong môi trường thủy sinh
Cá sọc ngựa là loài cá cảnh phổ biến, nó được sử dụng làm mô hình trong nghiên cứu sinh học phát triển từ nhiều năm nay [11] Nổi bật phải kể đến nghiên cứu của Streisinger vào năm 1981, ông là người tiên phong trong việc áp dụng di truyền sinh học phân tử trên cá sọc ngựa để nghiên cứu về quá trình phát triển phôi của động vật
có xương sống [50]
Cá sọc ngựa là loài có xương sống đầu tiên được sử dụng để nghiên cứu về đột biến gen [25] Những nghiên cứu này tiến hành năm 1996 tại Boston [17] và Tübingen [26], đã tạo ra được hơn 4000 đột biến và do đó dẫn đến việc xác định được hơn 400 kiểu gen khác nhau kiểm soát sự phát triển của động vật có xương sống.Cá sọc ngựa ngày càng trở thành đối tượng quan trọng trong các nghiên cứu sinh học của lĩnh vực y học [16, 44]
Các thí nghiệm được tiến hành trên bộ gen của cá sọc ngựa thay vì thực hiện trực tiếp trên con người đã cho ra những kết quả tích cực, nhằm hiểu rõ thêm về tác nhân và những biểu hiện của một số loại bệnh nguy hiểm trên người do những thay đổi trên bộ gen gây ra Các phương pháp tiếp cận di truyền theo chiều thuận và di truyền ngược đã được sử dụng trong cá sọc ngựa nhằm giải thích những mô hình đột biến do gen gây ra trên cơ thể người Nghiên cứu như vậy có thể xác định các gen tương tác để tạo ra mô hình đa gen ở bệnh cho người giúp xác định các loại thuốc để điều trị
Sử dụng cá sọc ngựa trong mô hình phát triển: Phương pháp tiếp cận di truyền
đã được sử dụng trong cá sọc ngựa để xác định vai trò của gen liên quan đến sự phát triển của vật có xương sống cơ quan, mô và tế bào Một số ví dụ bao gồm phát triển hệ thống tim mạch [41] các nội bì, tế bào thần kinh vận động và các cấu trúc sọ mặt [22, 56] có liên quan đến cấu trúc của cá
Ngoài ra, cá sọc ngựa còn được sử dụng làm sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước MG Akande, L Norrgren và O Stefan (năm 2010) đã sử dụng cá sọc ngựa làm vật chỉ thị đánh giá chất lượng nước của một nhà máy xử lý nước thải ở Thụy Điển Cá đưc, cá cái trưởng thành được bố trí tiếp xúc với nguồn nước thải trong 22 ngày Và sau đó tiến hành theo dõi khả năng sinh sản, khả năng thụ tinh của cá Kết
Trang 24quả nghiên cứu: Khi cá tiếp xúc với nguồn nước đã được loại bỏ trầm tích thì cho kết quả sinh sản và thụ tinh cao hơn so với các đối chứng (cá tiếp xúc với nước thải chưa được loại bỏ trầm tích) Cá tiếp xúc với nguồn nước được xử lý bằng phương pháp lọc sinh học và lọc ozone thì khả năng sinh sản giảm [5]
Ngày nay, cá sọc ngựa được sử dụng chủ yếu trong sinh học phân tử, sinh học thần kinh và các nghiên cứu di truyền Gần đây nó đã được đưa vào nghiên cứu bệnh ung thư, thử nghiệm các loại thuốc Một trong những lý do cá sọc ngựa được sử dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm là chi phí thấp chỉ bằng 1/1000 lần so với việc sử dụng chuột bạch [24]
Trong các nghiên cứu gần đây, số lượng các nghiên cứu ứng dụng cá sọc ngựa ngày càng tăng Hiện nay ước tính có khoảng 5.000 nhà nghiên cứu làm trong 450 phòng thí nghiệm trên toàn thế giới làm việc với cá sọc ngựa [55]
Gần đây, nhiều nhóm nghiên cứu đã công bố những nghiên cứu về lịch sử tự nhiên, dinh dưỡng, tập tính sinh sản của cá sọc ngựa Số công trình nghiên cứu trên cá sọc ngựa ngày càng tăng
Hình 1.10 Các công trình công bố liên quan đến cá sọc ngựa từ những năm 1970 –
2008 Số lượng các công trình bắt đầu gia tăng mạnh từ những năm 1990 và vẫn có
khuynh hướng tăng cho đến nay [49]
1.2.2 Ở Việt Nam
Năm 2009, nhóm nghiên cứu của Thạc Sĩ Phan Kim Ngọc, Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên Tp Hồ Chí Minh công bố đã chuyển gene phát sáng gfp từ sứa
Trang 25sang cá sọc ngựa thành công bằng kỹ thuật bắn gene với khoảng cách 6, 9, 12 cm (Lê Thành Long, 2009)
Năm 2011, Nguyễn Thị Hạnh Tiên và cộng sự thuộc trường đại học Nông Nghiệp 1 Hà Nội và đại học Ghent – Bỉ, đã tiến hành khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình kết nối các đốt sống và tạo dị tật xương sống ở cá sọc ngựa
Năm 1994, Nguyễn Hoàng Kiến Giang, sinh viên ngành nuôi trồng thủy sản trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã khảo sát một số đặc điểm sinh học và
sinh sản của cá sọc ngựa (Brachydanio rerio)
Năm 2009, Nguyễn Thị Thu Giang, sinh viên trường Đại học Nông Lâm Tp
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu việc sử dụng cá sọc ngựa làm mô hình động vật thủy sinh dùng để “Đánh giá tác động của Cadmium lên quá trình phát triển của cá sọc ngựa
(Danio rerio) ở giai đoạn phôi, ấu trùng và cá trưởng thành”
Ở Việt Nam, ngoài các công trình công bố đã nêu ở trên thì không có công trình nào công bố về loài cá này Vì thế, nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử
nghiệm sinh sản nhân tạo cá sọc ngựa Danio rerio nhằm cung cấp thông tin và cơ sở
dữ liệu về loài cá này ở Việt Nam Ngoài ra nghiên cứu còn góp phần vào việc xây
dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo cá Danio rerio
Trang 26CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian:
- Địa điểm bố trí thí nghiệm: Phòng thí nghiệm sinh học nghề cá – Viện nuôi trồng thủy sản, Trường Đại Học Nha Trang
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2013 đến tháng 6/2014
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Cá sọc ngựa Danio rerio (F.Hamilton, 1822)
Cá sọc ngựa được thu mua tại các cửa hàng cá cảnh trên địa bàn Nha Trang – Khánh Hòa
Cá sọc ngựa bố mẹ được thu mua tại các tiệm cá cảnh trên địa bàn Nha Trang
có độ tuổi từ 2 tháng tới 2 tháng rưỡi Được cho ăn bằng 3 loại thức ăn: tổng hợp, tổng hợp + trùn chỉ, trùn chỉ Sau 2-3 tuần tiến hành kiểm tra Khi thấy phần lớn trứng đạt đến giai đoạn IV thì bố trí thí nghiệm sinh sản
2.3 Vật liệu nghiên cứu:
Vật liệu chính nghiên cứu bao gồm: cá sọc ngựa bố mẹ, thức ăn công nghiệp, trùn chỉ, bộ đồ giải phẫu, cân điện tử, máy sục khí, kính hiển vi
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Trang 27Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.4.2 Bố trí thí nghiệm
2.4.2.1 Chăm sóc cá bố mẹ
Cá bố mẹ được bố trí riêng biệt vào sáu ô trong bể kính Ở mỗi ô, có 30 cá thể,
và sục khí 24/24 giờ, các yếu tố môi trường được kiểm soát như nhau
Có 3 nghiệm thức:
Nghiệm thức 1: Cho cá bố mẹ ăn thức ăn tổng hợp
Nghiệm thức 2: Cho cá bố mẹ ăn kết hợp thức ăn tổng hợp và trùn chỉ
Nghiệm thức 3: Cho cá bố mẹ ăn trùn chỉ
Đặc điểm sinh học sinh sản
Sự phát triển của phôi
Nghiên cứu một vài đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sản xuất nhân
tạo cá sọc ngựa Danio rerio (Hamilton, 1822) nuôi tại Khánh Hòa
Thử nghiệm sinh sản nhân tạo
- Phân biệt đực cái
cá bố mẹ
Xác định:
- Tỷ lệ thụ tinh
- Tỷ lệ nở
- Khả năng vận động của ấu trùng
- Tỷ lệ sống
- SGRL
Phân tích số liệu, kết luận và đề xuất ý kiến
Ảnh hưởng của 3 loại thức ăn: 1 Tổng hợp
2 Tổng hợp + trùn chỉ
3 Trùn chỉ
Trang 28Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng thức ăn tổng hợp sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn giành cho cá kiểng nhỏ của hãng Kao Kui, sản xuất theo công nghệ Đài Loan
Hình 2.2 Bể nuôi cá sọc ngựa bố mẹ thí nghiệm
2.4.2.2 Phương pháp cho cá bố mẹ sinh sản
Chuẩn bị bể cho đẻ: Cá được bố trí đẻ trong các bể kính (22cm × 12 cm × 15cm, dài × rộng × cao) Bể đẻ bọc kín bằng túi nilon đen để tránh ánh sáng chiếu vào Xếp 2 lớp bi ve tròn cao 3cm xuống đáy, để tránh trường hợp cá bố mẹ sẽ ăn trứng sau khi đẻ ra
Ở mỗi lô thí nghiệm, tiến hành chọn ra 5 cặp cá bố mẹ: Chọn những con cá cái
có bụng to, bơi khỏe; cá đực chọn con to, bơi khỏe
Trang 29Hình 2.3 Bể cho cá đẻ
2.5 Thu thập số liệu
2.5.1 Nghiên cứu một vài đặc điểm sinh học sinh sản
Xác định giới tính cá bố mẹ: Bằng cách quan sát hình dạng, màu sắc cơ thể cá
Khi cá thành thục, bụng cá cái to, mềm hơn cá đực Nếu vuốt dọc theo lườn bụng cá
cái có trứng chảy ra ngoài
Quan sát sự phát triển của buồng trứng
Bằng cách giải phẫu và quan sát trên kính hiển vi Các giai đoạn phát triển của buồng trứng và tinh sào cá sọc ngựa được xác định dựa vào hình thái bên ngoài, và mô
tả theo thang 6 bậc theo phương pháp của G.V Nickolski (1963) [38] và OF Sakun &
NA Butskaia (1968) [2] làm tiêu chuẩn để xác định độ chín của tuyến sinh dục cá cái
Xác định GSI, AF, RF
Hệ số thành thục (GSI): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng tuyến sinh dục và
khối lượng toàn bộ cơ thể cá hay khối lượng cơ thể cá đã bỏ qua nội quan, được tính bằng công thức:
Trong đó: GW là khối lượng tuyến sinh dục (g)
BW là khối lượng cơ thể cá (g)
Sức sinh sản tuyệt đối (AF): Là toàn bộ số trứng trong buồng trứng ở giai
đoạn IV Được xác định theo phương pháp thể tích và được tính trên cơ sở đếm số lượng tế bào trứng ở giai đoạn IV Bằng cách lấy toàn bộ tuyến sinh dục ngâm trong formol 10% Sau đó tách rời trứng khỏi màng của phần tuyến sinh dục Rửa nhẹ và hút
Trang 30đi các tạp chất lơ lửng Sau đó cho vào ống chia độ, tính thể tích theo phương pháp pha loãng và đếm trứng bằng buồng đếm động vật
Sức sinh sản tương đối (RF): Là tỷ số giữa sức sinh sản tuyệt đối của một cá
thể với khối lượng (tính bằng gam) toàn thân
=Xác định số lượng trứng ở buồng trứng bằng cách lấy 3 mẫu ở 3 phần khác nhau (đầu, giữa, cuối) của buồng trứng với khối lượng ≤ 1g/mẫu Đếm tất cả các trứng
có trong mẫu, lấy trung bình số trứng/1g buồng trứng Kết quả này dùng để tính sức sinh sản tuyệt đối và tương đối
2.5.2 Thử nghiệm sinh sản nhân tạo
2.5.2.1 Tỷ lệ thụ tinh (FR):
Tỷ lệ thụ tinh (%) = Số trứng thụ tinh
Tổng số trứng thu mẫu× 100
2.5.2.2 Tỷ lệ nở (HR): Tỷ lệ nở là tỷ lệ phần trăm giữa số lượng cá bột nở ra trên
tổng số trứng đã được thụ tinh Để xác định tỷ lệ nở, trứng sau khi được thụ tinh được chuyển vào cốc 250ml và được sục khí nhẹ Sau khi cá nở hoàn toàn, đếm số cá trong các cốc thí nghiệm, tính tỷ lệ nở (HR) theo công thức:
HR(%) = Số cá nở ra
Tổng số trứng được thụ tinh× 100
2.5.2.3 Quan sát sự phát triển của phôi: Việc thu trứng được tiến hành ngay sau khi
cá đẻ 15 – 20 phút (đảm bảo quá trình thụ tinh xảy ra)
Dụng cụ thí nghiệm:
Lọ nhựa thể tích 3-5 L
2 dây và đá sục khí
Pipet hoặc dụng cụ lấy trứng để quan sát, lam kính, hộp lồng
Kính hiển vi, máy ảnh
Nước ngọt
Lấy mẫu trứng cá đã thụ tinh: Cứ sau 30 phút thu mẫu trứng 1 lần để xác định các giai đoạn phát triển của phôi bằng kính hiển vi, ghi hình bằng máy ảnh kỹ thuật số Thời gian phát triển phôi được tính từ lúc trứng thụ tinh cho tới khi trứng nở
2.5.2.4 Đánh giá chất lượng ấu trùng