Tuy nhiên, là đối tượng nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài, cộng với việc quản lý chưa tốt nên trong quá trình nuôi cá tầm thường xuất hiện các dấu hiệu bệnh như: xuất huyết trên thân, gốc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
LÊ PHƯỚC THUẦN
NGHIÊN CỨU BỆNH DO VI KHUẨN VÀ NẤM GÂY RA TRÊN CÁ TẦM (Acipenser spp.) NUÔI TẠI LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS VÕ THẾ DŨNG
TS NGUYỄN HỮU DŨNG
NHA TRANG - NĂM 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do chính bản thân tôi thực hiện dưới sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của TS Võ Thế Dũng –Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản 3 và TS Nguyễn Hữu Dũng – Trường đại học Nha Trang cùng các anh, chị thuộc phòng Công nghệ sinh học – Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản 3
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả
Lê Phước Thuần
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Khoa Nuôi Trồng Thuỷ Sản, Khoa đào tạo sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ban lãnh đạoViện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản 3, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian, trang thiết bị, cơ sở thí nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự chỉ dẫn tận tình, chu đáo của cán bộ hướng dẫn TS Võ Thế Dũng và TS Nguyễn Hữu Dũng đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn về phương pháp nghiên cứu và báo cáo khoa học
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của các anh, chị phòng Công nghệ Sinh học Viện nghiên cứu NTTS-3, các bạn, các em sinh viên trong quá trình thực hiện luận văn và sự truyền đạt những kiến thức quý báu của các thầy, cô giảng viên đã tham gia giảng dạy khoá học
Cuối cùng, cho phép tôi được bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên khích lệ tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả
Lê Phước Thuần
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Sơ lược về hình thái phân loại, phân bố, đặc điểm sinh học, sinh sản và giá trị của họ cá tầm Acipenseridae: 4
1.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố của cá tầm: 4
1.1.2 Đặc điểm sinh học, sinh sản cá tầm: 5
1.1.3 Giá trị cá tầm: 7
1.2 Tình hình nuôi cá tầm trên Thế giới và Việt Nam: [1] 10
1.2.1 Tình hình nuôi cá tầm trên Thế giới: 10
1.2.2 Tình hình nuôi cá tầm ở Việt Nam: 11
1.2.3 Nuôi cá tầm ở Lâm Đồng: 16
1.3 Tình hình nghiên cứu dịch bệnh trên cá tầm: 18
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới: 18
1.3.1.1 Bệnh do vi khuẩn: 18
1.3.1.2 Bệnh do nấm: 23
1.3.1.3 Bệnh do virus: 26
1.3.1.4 Bệnh do ký sinh trùng: 28
1.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: 30
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu: 31
2.2 Dụng cụ, thiết bị nghiên cứu: 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 31
2.3.1 Sơ đồ khối nghiên cứu: 32
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh do vi khuẩn: 33
2.3.2.1 Phương pháp nuôi cấy, phân lập và định danh vi khuẩn: 33
Trang 52.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu độ nhạy kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh 35
2.3.2.3 Phương pháp gây cảm nhiễm vi khuẩn gây bệnh: 36
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu bệnh do nấm: 37
2.3.3.1 Môi trường nuôi cấy nấm: 38
2.3.3.2 Phương pháp nuôi cấy và phân loại nấm: 38
2.4 Phương pháp xử lý số liệu: 39
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Nhận xét chung về hiện trạng nghề nuôi cá tầm nói riêng và nuôi cá nước lạnh nói chung tại Lâm Đồng: 40
3.2 Một số bệnh thường gặp trên cá tầm nuôi thương phẩm tại Lâm Đồng xuất hiện trong thời gian nghiên cứu: 41
3.2.1 Bệnh xuất huyết, lở loét: 42
3.2.2 Bệnh sưng miệng: 43
3.2.3 Bệnh cá bơi quay, mất định hướng: 44
3.3 Kết quả kiểm tra tổng thể các mẫu cá thu được: 44
3.4 Kết quả nghiên cứu tác nhân gây bệnh trên cá tầm nuôi thương phẩm: 46
3.4.1 Bệnh do vi khuẩn: 46
3.4.1.1 Kết quả thu mẫu: 46
3.4.1.2 Kết quả phân lập và định danh vi khuẩn: 46
3.4.1.3 Đặc điểm một số loài vi khuẩn phân lập được: 51
3.4.1.4 Tính nhạy cảm của các loài vi khuẩn có tần số bắt gặp cao đối với một số kháng sinh thông dụng: 56
3.4.1.5 Thí nghiệm cảm nhiễm: 58
3.4.2 Bệnh do nấm: 66
3.4.2.1 Kết quả thu mẫu: 66
3.4.2.2 Kết quả phân lập và định danh nấm: 68
3.4.2.3 Kết quả cảm nhiễm nấm: 71
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 83
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Cá tầm Nga Russian Sturgeon Acipenser gueldenstaedtii Brandt & Ratzeburg, 1833 4
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 32
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu bệnh do vi khuẩn 33
Hình 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm cảm nhiễm bệnh do vi khuẩn 36
Hình 2.4: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu bệnh do nấm 37
Hình 3.1: Nuôi cá trong ao nước chảy ở Giang Ly 41
Hình 3.2: Nuôi cá tầm trong lồng ở hồ Tuyền Lâm 42
Hình 3.3: Cá tầm bị bệnh xuất huyết 43
Hình 3.4: Cá tầm bị bệnh sưng miệng 43
Hình 3.5: Đồ thị biểu diễn TSBG các mẫu cá tầm 46
Hình 3.6: Cá tầm chết không có dấu hiệu 46
Hình 3.7: Sơ đồ biểu thị tần số bắt gặp các loài VK trên cá tầm bị xuất huyết, lở loét 48
Hình 3.8: Đồ thị biểu thị tần số bắt gặp các loài VK trên cá tầm bị sưng miệng 49
Hình 3.9: Đồ thị biểu thị TSBG các loài VK trên cá tầm bơi quay, mất định hướng 51
Hình 3.10: Khuẩn lạc Aeromonas hydrophyla (độ phóng đại 100x) 52
Hình 3.11: Kết quả định danh Aeromonas hydrophyla bằng test API-20E 52
Hình 3.12: Khuẩn lạc Bukholderia cepacia 52
Hình 3.13: Khuẩn lạc Serratia odorifera 53
Hình 3.14: Khuẩn lạc Enterobacter sakazakii 53
Hình 3.15: Khuẩn lạc Hafnia alvei 54
Hình 3.16: Khuẩn lạc Streptococcus sp 54
Hình 3.17: Kháng sinh đồ của các loài VK phân lập từ cá tầm bệnh 58
Hình 3.18: Bể TN cảm nhiễm cá tầm 59
Hình 3.19: Đồ thị biểu diễn tỷ lệ chết của cá tầm cảm nhiễm Streptococcus sp .60
Hình 3.20: TN cảm nhiễm VK Streptococcus sp lên cá tầm khỏe 61
Hình 3.21: Đồ thị biểu diễn tỷ lệ chết của cá tầm cảm nhiễm Aeromonas hydrophyla 63 Hình 3.22: TN cảm nhiễm VK Aeromonas hydrophyla lên cá tầm khỏe 63
Hình 3.23: Đồ thị biểu diễn tỷ lệ chết của cá tầm cảm nhiễm Pseudomonas cepacia 66
Hình 3.24: TN cảm nhiễm VK Pseudomonas cepacia lên cá tầm khỏe 66
Hình 3.25: Cá tầm bị lở loét được phân tích sự cảm nhiễm nấm 67
Hình 3.26: Khuẩn lạc nấm N1 trên môi trường PDA 68
Hình 3.27 : Nấm Saprolegnea sp phân lập từ cá tầm 69
Hình 3.28: Đồ thị biểu diễn tỷ lệ chết của cá tầm cảm nhiễm Saprolegnia sp 72
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 1.1: Giá trị dinh dưỡng của thịt cá tầm 8
Bảng 1.2: Thành phần dinh dưỡng của Caviar 9
Bảng 1.3: Các loài nấm được tìm thấy trên cá tầm [32] 25
Bảng 3.1: Phân bố mẫu cá tầm thu 44
Bảng 3.2: Các thông số về số lượng, chiều dài, khối lượng mẫu thu 45
Bảng 3.3: Tần số bắt gặp các mẫu cá tầm thu 45
Bảng 3.4: Tần số bắt gặp các loài VK trên cá tầm bị xuất huyết, lở loét 47
Bảng 3.5: Tần số bắt gặp các loài VK trên cá tầm bị sưng miệng 49
Bảng 3.6: Tần số bắt gặp các loài VK trên cá tầm bơi quay, mất định hướng 50
Bảng 3.7: Đặc điểm sinh hóa của một số loài VK phân lập được bằng test API-20E 55
Bảng 3.8: Kết quả kháng sinh đồ của một số loài VK có TSBG cao 56
Bảng 3.9: Kết quả thí nghiệm cảm nhiễm VK Streptococcus sp lên cá khỏe .59
Bảng 3.10: Kết quả thí nghiệm cảm nhiễm VK Aeromonas hydrophyla lên cá khỏe 62
Bảng 3.11: Kết quả thí nghiệm cảm nhiễm VK Pseudomonas cepacia lên cá khỏe 65
Bảng 3.12: Tổng thể các mẫu cá tầm được kiểm tra bệnh nấm 67
Bảng 3.13: TSBG nấm trên cá tầm bệnh 68
Trang 9MỞ ĐẦU
Cá nước lạnh gồm cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) và cá tầm (Acipencer sp.)
được du nhập vào Việt Nam từ đầu năm 2005 Đối với cá tầm, đây là loài cá quý, có giá trị dinh dưỡng cao, sản phẩm từ cá tầm được ưa chuộng trên thị trường quốc tế, đặc biệt là trứng cá tầm được xếp vào loại thực phẩm hiếm và cao cấp Trong nỗ lực nhằm
đa dạng hóa thành phần loài trong nuôi trồng thủy sản, thì cá tầm là đối tượng nuôi mới, nhiều tiềm năng phát triển cho ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi
cá nước lạnh nói riêng
Với điều kiện môi trường tự nhiên thích hợp, vài năm trở lại đây, việc nuôi thử nghiệm cá tầm ở Việt Nam đã được tiến hành ở nhiều khu vực miền núi, nơi có khi hậu ôn hòa Con cá tầm lần đầu tiên được nuôi thử nghiệm ở lòng hồ Nà Hang (Tuyên Quang) nhưng số lượng không nhiều, chỉ vài ngàn con Sau đó được nuôi mở rộng ra
về cả quy mô và diện tích ở các lòng hồ thủy điện như hồ Tuyền Lâm, Đà Lạt (Lâm Đồng), hồ Thuỷ điện Đa Mi (Bình Thuận), hồ thủy điện Vĩnh Sơn (Bình Định), hồ thủy điện Buôn Tu Srah (Daklak), hồ Cấm Sơn (Bắc Giang), Văn Chấn và hồ Thác Bà Tại Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng cho kết quả rất khả quan Tốc độ tăng trưởng của cá nuôi ở Việt Nam nhanh hơn so với các nơi khác trên thế giới Kết quả đã khẳng định điều kiện tự nhiên của những địa phương này hoàn toàn phù hợp và rất khả thi trong việc mở rộng mô hình ở quy mô công nghiệp
Đây là những đối tượng mới nên những nghiên cứu về chúng trên thế giới mà đặc biệt là ở Việt Nam còn chưa nhiều Các nghiên cứu lại thường tập trung vào hoàn thiện quy trình sản xuất giống, nuôi thương phẩm mà chưa có nhiều nghiên cứu về tình hình dịch bệnh và quản lý sức khỏe cho cá nuôi Cho nên nguy cơ bệnh trên cá và bùng phát thành dịch là luôn có thể xảy ra
Tại Lâm Đồng Từ tháng 9/2006, cá tầm bắt đầu được đưa vào nuôi thử nghiệm
và phát triển Đây là đối tượng có thể thích nghi và phát triển tốt tại một số địa phương trong tỉnh (hồ Tuyền Lâm, Giang ly, Lâm Hà, Di Linh…) mở ra triển vọng mới cho phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng là tỉnh có tiềm năng lớn cho phát triển nghề nuôi cá tầm do có điều kiện khí hậu mát mẻ, thủy văn phù hợp; nhiệt độ dao động từ 15–230C, trung bình 190C; lượng mưa khá lớn, trung bình 1.654 mm/năm; độ ẩm cao 86%
Trang 10Tuy nhiên, là đối tượng nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài, cộng với việc quản lý chưa tốt nên trong quá trình nuôi cá tầm thường xuất hiện các dấu hiệu bệnh như: xuất huyết trên thân, gốc vây, miệng, lở loét, cá bơi quay, không định hướng, , khi giải phẩu bên trong thì thấy nội quan bị tổn thương, ruột sưng, xuất hiện nhiều chất dịch trong cơ thể… đây là những dấu hiệu bệnh lý chính của bệnh do vi khuẩn và có thể là nấm gây ra trên các đối tượng NTTS
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng ta có thể thấy rằng những nghiên cứu về các tác nhân gây bệnh trên cá tầm đang được nuôi đồng thời đưa ra cơ sở khoa học cho việc phòng và trị bệnh cho loài cá nhiều tiềm năng này là vô cùng cần thiết
Chính vì thế được sự đồng ý của Hội đồng xét duyệt đề cương luận văn cao học chuyên ngành NTTS trường Đại học Nha Trang, Viện nghiên cứu NTTS-3 và các thầy
cô, cán bộ hướng dẫn, tôi đã thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra trên cá tầm (Acipenser spp.)
nuôi tại Lâm Đồng.”
Mục tiêu của đề tài:
Xác định được dấu hiệu bệnh lý, thành phần tác nhân là vi khuẩn và nấm gây bệnh trên cá tầm nuôi để làm cơ sở cho việc nghiên cứu phòng trị bệnh sau này
Nội dung
- Điều tra một số bệnh thường gặp trên cá tầm
- Mô tả các dấu hiệu bệnh lý thường gặp
- Xác định tác nhân ký sinh gây bệnh trên cá tầm là vi khuẩn và nấm
- Đề xuất các biện pháp phòng và trị bệnh do các tác nhân này gây ra
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn:
Ý nghĩa khoa học:
- Lần đầu tiên thực hiện một nghiên cứu về vi khuẩn và nấm gây bệnh ở cá tầm nuôi tại Việt Nam
- Bổ sung thành phần vi khuẩn và nấm gây bệnh trên cá ở Việt Nam
- Làm cơ sở cho các nghiên cứu phòng trị bệnh trên cá tầm
Ý nghĩa thực tiễn:
- Giúp người nuôi hiểu và nhận biết dấu hiệu của đàn cá bị nhiễm bệnh nói chung
và bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra nói riêng
Trang 11- Phần nào xác đinh được nguyên nhân, mùa vụ xuất hiện bệnh, giúp nâng cao được nhận thức cũng như sự chủ động trong công tác quản lý môi trường và dịch bệnh trên đàn cá tầm nuôi
- Có biện pháp phòng và xử lý khi có xuất hiện bệnh trên đàn cá nuôi, góp phần nâng cao hiệu quả nuôi và giảm được những thiệt hại do dịch bệnh gây ra
-
Học viên thực hiện
Lê Phước Thuần
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về hình thái phân loại, phân bố, đặc điểm sinh học, sinh sản và giá trị của họ cá tầm Acipenseridae:
1.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố của cá tầm:
Hệ thống phân loại cá tầm:
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii Bộ: Acipenseriformes Họ: Acipenseridae
Giống: Acipenser (Linnaeus, 1758)
Tên tiếng Anh: Sturgeon
Hình 1.1: Cá tầm Nga Russian Sturgeon
Acipenser gueldenstaedtii Brandt & Ratzeburg, 1833
(Nguồn: http://www.biolib.cz )
Cá tầm thuộc họ Acipenseridae, cá có thân dài và thuôn, là loài di cư, di chuyển nhiều và thường xuyên thay đổi vùng sinh thái Cá tầm thuộc nhóm cá cổ, có nguồn gốc ôn đới Cá xuất hiện trên trái đất khoảng hơn 100 triệu năm trước và hiện chia làm
4 chủng loại khác nhau gồm 30 loài, các loài thường gặp nhất là cá tầm trắng, cá tầm mũi ngắn, cá tầm sao, Beluga và Sterlet Vài loài có toàn bộ vòng đời ở nước ngọt, có loài sống ngoài biển khơi nhưng bơi ngược trở về sông để đẻ trứng Cá tầm là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất và sống lâu nhất, có con sống đến hơn 150 tuổi Cá 12 tuổi dài chừng 1,2m và cá 20 tuổi chừng 1,8m Con lớn nhất được tìm thấy đến nay có khối lượng hơn 1 tấn và dài trên 4m
Trang 13Cá tầm thuộc loài cá xương sụn, vảy tấm, thân cá hình ống, thuôn dài, được phủ bởi 5 hàng xương gai - vảy xương: 1 hàng trên lưng, 2 hàng ở 2 bên sườn và 2 bên bụng Giữa những dãy vảy xương có những tấm bản hình sao lớn nhỏ xen kẽ nhau Đường bên có từ 29-50 chiếc vảy xương Da dày, nhám và không vảy, màu sắc thay đổi tùy loài, tuổi và tùy vùng sinh thái Miệng cá nhỏ ở phía dưới, không răng Mũi dài nhọn, có 4 râu dài, hình trụ cứng ở phía dưới trước miệng dùng để tìm mồi Vây lưng lùi về phía sau, lỗ hậu môn mở ra ở gần vây bụng Ðuôi cá dạng chẻ đôi, phần trên của vây đuôi có vảy sọc và dài hơn phần dưới nhiều
Trong tự nhiên cá chỉ phân bố ở vùng Bắc Bán Cầu và thường gặp tại Bắc Ðại Tây Dương, Bắc Thái Bình Dương, Vùng Biển Caspian, Biển Ðen, tại nhiều sông và
hồ như sông Delaware, Rhin, Garonne, Elbe, Volga, Danube và hồ Ladoga
Cá tầm là loài di cư nên chúng di chuyển nhiều và dễ thích nghi với các điều kiện sinh thái khác nhau, lợi dụng đặc điểm này, nhiều nước ở Châu Âu, châu Mỹ và Châu Á đã nhập cá về nuôi và rất thành công Các loài được nuôi phổ biến hiện nay là
cá tầm Nga, cá tầm Siberi, cá tầm trắng, cá tầm mũi ngắn, cá tầm sao, Beluga và Sterlet Cá tầm phân bố ở các thủy vực nước ngọt, ven biển hoặc các hồ nội địa chủ yếu ở các nước ôn đới như: Nga, Azerbaijan, Kazakhstan, Turkmenistan, Iran, Ukraine, Bulgaria,Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, một số nước châu Âu và Bắc Mỹ
1.1.2 Đặc điểm sinh học, sinh sản cá tầm:
Cá tầm là loài cá ăn thịt, sống và kiếm mồi trong môi trường nước mát (lợ, ngọt), sạch Với chiếc mõm hình nêm, chúng sục sạo lớp đáy bùn mềm và bắt mồi bằng cơ quan xúc giác nhạy cảm (râu) Trong tự nhiên cá có tập tính bắt mồi ở tầng đáy, thức ăn khoái khẩu của cá tầm là các loài động vật đáy: nhuyễn thể, cá tầng đáy, giáp xác, ốc, giun
Cách thức bắt mồi của cá: do cấu tạo cơ quan bắt mồi của cá nằm ở phía dưới, miệng cá phía dưới, cá không đớp mồi mà dùng 4 râu, môi nhận biết thức ăn rồi há miệng thật rộng và đưa miệng dài ra như cái ống, hút thức ăn vào Cá tầm thường bắt tìm thức ăn vào ban đêm
Trong tự nhiên, khi còn nhỏ thành phần thức ăn chính của chúng là nhuyễn thể, giun ít tơ, ấu trùng muỗi, ấu trùng các côn trùng và tôm tép nhỏ… Khi cá trưởng thành thức ăn của chúng là cá nhỏ, tôm và những động vật nhỏ trong nước…
Trang 14Trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá có chiều dài 3,05 cm (7-10 ngày sau khi trứng nở) cá bắt đầu ăn mồi, thức ăn chủ yếu là các côn trùng, động vật phù du như Copepoda, Cladocera, giun ít tơ Từ những năm 1989 công trình nghiên cứu thức ăn cho cá thành công đã mở ra triển vọng lớn cho nghề nuôi cá tầm trên thế giới
Đối với cá tầm mới nở cho cá ăn thức ăn tươi sống cá lớn nhanh và tỷ lệ sống cao hơn các loại thức ăn khác (cám nhỏ và cá tạp…) Thức ăn tươi sống dùng phổ biến hiện nay là các loại giun đốt (trùn chỉ, trùn quế) Đối với cá giống và cá trưởng thành cho ăn thức ăn nhân tạo thuận tiện hơn nhiều trong quá trình chăm sóc và quản
lý so với sử dụng thức ăn tươi sống
Tốc độ lớn của cá bột rất nhanh, nhưng người ta hiện vẫn chưa rõ là những con
cá con ở lại vùng nước ngọt bao lâu trước khi di cư ra biển Sau khi đạt tới tuổi trưởng thành 2-4 năm thì tốc độ tăng trưởng của chúng dường như là chậm lại rất nhiều, mặc
dù vẫn còn tiếp tục trong vài năm Phần lớn cỡ cá khai thác được trong tự nhiên khoảng 15-20 kg, đôi khi cá 10-12 năm tuổi khối lượng đạt 20-30 kg
Cá tầm sống khỏe, ít bệnh tật, phát triển nhanh trong môi trường nước ngọt, lạnh, sạch hàm lượng ô xy hòa tan trong nước trên 5 mg/l, pH thích hợp cho cá khoảng 7.0-8.5, nhiệt độ tối ưu cho cá tầm sinh trưởng là từ 15 đến 260C, chúng có thể sống được khi nhiệt độ cao hơn, nhưng khả năng tăng trưởng kém, nếu nhiệt độ cao kéo dài
có thể gây chết hoặc phát triển dịch bệnh Riêng cá tầm Nga có thể thích nghi và sống khỏe mạnh được trong điều kiện nhiệt độ nước khắc nghiệt hơn (10-290C) Với sự can thiệp của con người bằng công nghệ, cá tầm có thể sống được ở 310C, nhưng trên 310C
cá sẽ bỏ ăn, sinh bệnh xuất huyết, lở loét, hoại tử, và ở nhiệt độ nước trên 330C cá sẽ chết hàng loạt
Phân biệt đực cái có ý nghĩa rất quan trọng trong kỹ thuật nuôi cá tầm Người ta thường phải nuôi riêng cá đực và cá cái để có chế độ chăm sóc khác nhau Tuy nhiên hầu hết các loài cá tầm đều rất khó phân biệt theo hình thái ngoài, nhất là khi cá chưa phát dục đầy đủ Người nuôi chuyên nghiệp ở Nga có thể căn cứ vào màu sắc cá
trưởng thành để phân biệt Một số loài như cá tầm mõm ngắn (A brevirostrum), cá tầm Đại tây dương (A oxyrinchus oxyrinchus) và cá tầm trắng (A transmontanus) có
thể căn cứ hình dạng lỗ niệu sinh dục cá trưởng thành để phân biệt đực cái đạt độ chính xác đến 82% Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu nhằm xác định sớm giới tính
Trang 15của cá tầm nhưng kết quả chưa thực sự chưa rõ ràng và ít có khả năng áp dụng vào thực tế sản xuất
Cá tầm thành thục ở giai đoạn 4-6 năm tuổi hoặc hơn nữa Do tuổi phát dục cá
tầm rất muộn và cá đực phát dục sớm hơn cá cái một vài năm, nên việc nuôi cá bố mẹ
rất tốn kém và phải chờ đợi lâu Khi cá bố mẹ đến tuổi thành thục đòi hỏi phải trải qua
thời gian mùa đông nhất định thì buồng trứng mới chuyển sang giai đoạn IV và cho đẻ
được Cá đẻ không liên tục, khoảng cách giữa các lần đẻ là 1-2 năm Trong tự nhiên,
cá có thời gian thành thục chậm hơn rất nhiều, thành thục sớm hay muộn phụ thuộc rất
nhiều vào yếu tố môi trường và hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn Vào mùa đông,
nhiệt độ nước hạ xuống cũng là lúc tuyến sinh dục của cá cũng bắt đầu phát triển
mạnh Nhiệt độ thích hợp nhất cho tuyến sinh dục của cá phát triển là 8-120C
Theo các chuyên gia Trung Quốc, cá tầm có thể thành thục trong môi trường
nước ngọt như các loài cá truyền thống khác với thời hạn ngắn hơn (5 năm) Trung
bình cá cái nặng 15-20 kg có thể cho 10-20 vạn trứng Trong sinh sản nhân tạo năng
suất trứng bình quân là 10.000 trứng/kg cá cái, 1kg trứng có khoảng 40.000 hạt trứng
Kích thước trứng lớn nhất 3,5mm, nhỏ nhất 2,8mm, trung bình 3,1mm Trứng cá tầm
có hình tròn hoặc hình bầu dục, có màu xám hoặc màu xám đen Trứng cá thành thục
là trứng có đường kính 3.1mm trở lên, có độ bóng và đàn hồi
Ở Nga thì việc cho cá đẻ nhân tạo đã đạt được rất nhiều thành công và có ý
nghĩa rất to lớn trong quá trình khôi phục, phát triển nguồn lợi tự nhiên và nghề nuôi
cá tầm thương phẩm hàng đầu thế giới
1.1.3 Giá trị cá tầm:
Hiện nay, cá tầm được Thế giới biết đến và ghi nhận là dòng thực phẩm cao
cấp, quý hiếm với 2 sản phẩm chính có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao là thịt cá tầm
và trứng cá đen… Thịt cá tầm thuộc loại đặc sản, thơm ngon và trứng cá tầm đen là
món ăn cao cấp thuộc hạng “cao lương mỹ vị” Cá có thịt trắng, dai, vị béo ngậy có thành phần dinh dưỡng cao, dễ hấp thu và dễ tiêu hóa
Trang 16Bảng 1.1: Giá trị dinh dưỡng của thịt cá tầm
Thành phần dinh dưỡng (chứa trong 90 gram cá) Cá tươi Cá hung khói
- Calories
- Chất béo - Bão hòa (saturated)
- Monounsaturated
- Polyunsaturated - Tỷ lệ Calories từ chất béo - Cholesterol - Sodium
- Chất đạm
- Vitamin A (IU)
- Thiamine (B1) ( mg)
- Riboflavine (mg)
- Niacin (mg)
- Pyridoxine (mg)
- Folic acid (mcg)
- Vitamin B12 (mcg)
- Calcium (mg)
- Sắt (mg)
- Magnesium (mg)
- Potassium (mg)
- Kẽm (mg)
89 3.4 g 0.8 g 1.8 g 0.4 g 35% 51 mg
46 mg
14 g
593 IU 0.06 mg 0.06 mg 7.10 mg 0.17 mg 12.8 mcg 1.9 mcg 11.1 mg 0.6 mg 29.8 mg
241 mg 0.4 mg
147 3.7 g 0.9 g 2.0 g 0.4 g
23 %
68 mg
628 mg
27 g
795 IU 0.08 mg 0.08 mg 9.40 mg 0.23 mg 17.0 mcg 2.5 mcg 14.4 mg 0.8 mg 40.0 mg
322 mg 0.5 mg
Trong số các món ăn đặc sản của Nga, món được toàn thế giới biết đến nhiều nhất có lẽ là trứng cá tầm hay Caviar Ðược xem là món ăn đặc biệt dành cho người giàu sang và giới quyền thế Caviar, tiếng Anh hay Caviare, tiếng Pháp, phát xuất từ tiếng Thổ Nhĩ Kỳ khavyar để chỉ trứng (roe) ướp muối của nhiều loại cá tầm khác nhau Caviar phải luôn luôn trữ ở 00C Giá lạnh sẽ làm hư cấu trúc tế bào, và nhiệt độ cao hơn sẽ làm hỏng trứng
Trang 17Caviar của Nga còn phân loại tùy theo loài cá:
- Sevruga caviar: Trứng nhỏ, hạt màu xậm, đường kính 2.5 mm mùi rất nặng
- Osetr caviar: Hạt màu nâu, đường kính 3mm, vị như “đậu”
- Beluga caviar: Hạt lớn nhất 3-4 mm, màu xám nhạt, đắt giá nhất
Bảng 1.2: Thành phần dinh dưỡng của Caviar
Thành phần dinh dưỡng (chứa trong 1 thìa canh) Hàm lượng
Caviar ăn chung với khoai tây hấp là món ăn chính của ngư phủ vùng Caspian,
và dân đánh cá vùng này được nổi tiếng là có tuổi thọ cao nhất tại Nga
Trang 181.2 Tình hình nuôi cá tầm trên Thế giới và Việt Nam: [1]
1.2.1 Tình hình nuôi cá tầm trên Thế giới:
Bắt đầu từ năm 1869, ở thành phố Simbiec trên sông Volga nay là thành phố Ulianovscơ hai người là Ovxianhicov và Penxam lần đầu tiên đã thụ tinh nhân tạo cá
Acipencer ruthenus thành công Năm 1870 trứng thụ tinh nhân tạo và cá bột của loài
này đã được gửi sang Scotlen Năm 1874 chúng lại được gửi sang Đức Điều này đánh dấu công trình đầu tiên trên thế giới về sinh sản nhân tạo cá tầm [1]
Cho dù còn gặp không ít khó khăn, nghề nuôi cá tầm ở Nga vẫn được phát triển Năm 1919 ở Astrakhan xuất bản tài liệu hướng dẫn sinh sản nhân tạo cá tầm Năm
1924 phát triển nghề nuôi ở Rostov-na-Đônu Năm 1929 phát triển nghề nuôi cá tầm ở Kuban Thời gian đầu người ta nuôi chúng trong ao và nghiên cứu tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên có bổ sung cá tạp Kết quả sau 2 năm con lai besta đạt khối lượng 800g (Popova et al, 1997) [65]
Năm 1979, Smoljanov, I.I [70], hoàn thiện kỹ thuật cho đẻ 2 loài cá steliat (A ruthenus) và cá tầm Siberi hoàn toàn sống trong điều kiện nước ngọt Sau này kỹ thuật
đã được áp dụng ở một số nước như Pháp, Mỹ, Nhật, Đức và Ba Lan Kỹ thuật được
sử dụng nhiều nhất để nuôi cá thịt là sử dụng cá lai nhằm tận dụng ưu điểm của con bố
và con mẹ Một thí dụ điển hình là sử dụng cá besta, là con lai giữa cá đực steliat (A ruthenus) và cá cái Beluga (Huso huso) Cá này sinh trưởng nhanh và thành thục sớm
Ở Bắc Mỹ có 8 loài cá tầm phân bố, bắt gặp nhiều nhất là cá tầm trắng (A transmontanus), cá tầm hồ (A fluvescens), cá tầm mũi ngắn (A brevirostrum) và cá tầm vàng (Scaphirhynchus albus) [1]
Nghề nuôi cá tầm Trung Quốc bắt đầu từ khoảng năm 1996, đến năm 2000 mỗi năm sản xuất được trên 10 triệu con giống và 3.000-5.000 tấn thịt Các loài cá nuôi chủ
yếu là cá tầm Amua (A schrenckii), cá tầm Amua lai, cá tầm Siberi (A baerii), cá steliat (A Ruthenus), cá tầm Trung Hoa (A sinensis) và cá tầm Thìa (Polyodon spathula) Trong số này 3 loài đầu chiếm sản lượng trên 90% Hiện nay Trung Quốc
đã tự sản xuất 100-200 triệu cá giống/năm, nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu của chính họ, vì thế, Trung Quốc phải nhập khẩu khoảng 5-10 triệu trứng đã thụ tinh hàng năm Trung Quốc tự sản xuất chủ yếu là cá tầm Amua và cá tầm lai giữa Amua
và cá Beluga (Huso huso)
Trang 19Việc sản xuất trứng cá tầm Trung Quốc vẫn còn phụ thuộc nhiều vào đàn cá tự
nhiên nên sản lượng không nhiều Cá nhập khẩu chủ yếu là cá tầm osetra (Acipenser persicus), beste của Nga và cá tầm Thìa Mỹ (Polyodon spathula) Tuy nhiên số lượng
nhập khẩu không nhiều do thủ tục giấy tờ và vận chuyển phức tạp
Có thể nói trước năm 2000 nghề nuôi cá tầm của Trung Quốc hoàn toàn tập trung vào sinh sản nhân tạo sản xuất ra cá giống thả ra môi trường để bảo vệ nguồn lợi
Ba đối tượng đặc hữu là cá tầm Trung Quốc (Psephurus gldius), cá tầm Trung Hoa (A sinensis) và cá tầm Dương Tủ (A dabryanus) thuộc đối tượng bảo vệ cấp quốc gia
Phương pháp chủ yếu là bắt cá bố mẹ ngoài bãi đẻ cho thụ tinh nhân tạo và ương lên giống rồi thả lại tự nhiên Việc cho đẻ nhân tạo cá tầm Trung Hoa dễ hơn 2 đối tượng kia Tuy vậy, mãi tới năm 2001 sinh sản nhân tạo loài cá này vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân do tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá bột rất thấp[1]
Sau chiến tranh thế giới thứ hai nghề nuôi cá tầm được phát triển trở lại ở Liên
Xô cũ và có những bước phát triển vượt bậc Nhưng từ năm 2000 sản lượng cá tầm nuôi của Trung Quốc đã vượt lên đứng đầu thế giới
Nghề nuôi cá tầm thế giới bắt đầu phát triển từ khoảng năm 1995 Sau 2-3 năm sản lượng cá nuôi tăng lên nhanh chóng Từ năm 2003 trở lại đây sản lượng cá tầm tăng lên đột ngột do Trung Quốc, Chi Lê và một số nước công nghiệp phát triển như Tây Ban Nha, Đức, Ý tham gia vào thị trường này
Hiện nay, nước có nghề nuôi cá tầm gồm: Áo, Azerbaijan, Bỉ, Bulgaria, Chi Lê, Estonia, Pháp, Đức, Hungary, Italia, Latvia, Ba Lan, Rumania, Slovenia, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Ukraine, Nga, Hoa Kỳ, Uruguay
Các loài cá nuôi chủ yếu gồm: cá tầm trắng, cá tầm Siberi, cá Steliat, cá Beluga, Beste, cá tầm sông Đanup, cá tầm Nga, cá tầm Ship…
1.2.2 Tình hình nuôi cá tầm ở Việt Nam:
Các loài cá nước lạnh như cá hồi, cá tầm đã được các nước Nga, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Ba Lan, Ý, Đức, Mỹ… nuôi từ rất lâu và cho nhiều kết quả khả quan Ở VN, thông qua đầu tư của Nhà nước, nỗ lực của các tổ chức KH-CN, các tổ chức, cá nhân, đến nay nhóm cá tầm, cá hồi đã du nhập vào nước ta và trở thành đối tượng nuôi mới ở nhiều vùng, góp phần tạo công ăn việc làm cho một bộ phận cư dân miền núi
Trang 20Tuy nhiên, phát triển cá tầm, cá hồi tại VN vẫn mang tính tự phát, chưa có luận
cứ làm cơ sở cho việc phát triển hai nhóm đối tượng này một cách bền vững tại các vùng có tiềm năng
Ở Việt Nam, đề tài thử nghiệm di giống và nuôi cá tầm Nga được thực hiện đầu tiên năm 2000 tại Đà Lạt do TS Nguyễn Quốc Ân, Viện Nghiên cứu NTTS-3 chủ trì Tuy nhiên, do qui định của CITES, nước Nga cấm nghiêm ngặt việc xuất trứng cá tầm nên đề tài đã dừng lại vì không nhập được trứng thụ tinh về ương ấp Năm 2003-2004, Viện nghiên cứu NTTS-1 thông qua dự án hợp tác với Phần Lan đã đưa được trứng cá tầm Siberi và cá tầm Nga về nuôi thử nghiệm tại Sapa thành công
Từ năm 2005, Viện Nghiên cứu NTTS-1 đã khởi động dự án nhập công nghệ sản xuất giống, đề án nuôi thử nghiệm cá nước lạnh tại Thác Bạc (Sa Pa, Lào Cai), sau
đó chuyển vào nuôi thử nghiệm tại tỉnh Lâm Đồng vào năm 2007 Đến nay, phong trào nuôi cá nước lạnh đã phát triển mạnh trên 21 tỉnh, điển hình là Lào Cai, Lâm Đồng, Lai Châu, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La
Tháng 4/2006, Viện NCNTTS-3 thử nghiệm nuôi ở Đà Lạt một số ít cá tầm cỡ lớn (2 kg/con) nhập về từ Sapa Cá thích nghi tốt với điều kiện khí hậu ở đây và có tốc
độ tăng trưởng rất nhanh Đến tháng 8 /2008 đạt khối lượng 10-15 kg/con Từ đó nhiều doanh nghiệp, cá nhân đã mở rộng mô hình nuôi cá tầm và bước đầu đã thành công
Hàng loạt trại nuôi đã xuất hiện với số lượng và quy mô ngày càng tăng ở các tỉnh vùng Đông Bắc, Tây Bắc Tại hồ Thác Bà, Yên Bái, cá tầm được nuôi trong lồng
1 năm đạt cỡ 3-4 kg Tuy nhiên, có thời kỳ trong năm nhiệt độ nước cao, có thể làm cá chết Đến nay, đã phát triển nuôi quy mô lớn theo hình thức nuôi lồng trên hồ chứa nhưng chưa có quy hoạch cụ thể, chưa có quy trình nuôi chuẩn, phong trào muôi vẫn mang tính tự phát
Đối với lĩnh vực nghiên cứu và du nhập nuôi các loài cá nước lạnh, từ năm
2002 Nhà nước đã sớm quan tâm, đầu tư nghiên cứu, nhập công nghệ phục vụ phát triển nuôi cá tầm, đã có hàng loạt dự án nhập công nghệ, đề tài nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá tầm được phê duyệt
Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Thủy sản, đến nay có 22 tỉnh đang nuôi cá hồi, cá tầm, tập trung lớn ở các tỉnh như: Lào Cai, Lai Châu, Bình Thuận, Lâm Đồng và nhiều tỉnh có diện tích tiềm năng lớn như Sơn La, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ
Trang 21Diện tích có thể nuôi được cá tầm ở Tây Nguyên rất lớn, đặc biệt nuôi tại các hồ chứa với khoảng 54.000ha Trong khi đó, diện tích thích hợp để nuôi cá hồi ở Tây Nguyên chỉ khoảng 250ha Đây chính là tiềm năng của Tây Nguyên nếu phát triển nuôi cá tầm, có thể nuôi thương phẩm hoặc nuôi để lấy trứng
Trên thực tế hiện nay, không chỉ ở các tỉnh vùng cao phía Bắc có nhiệt độ lạnh quanh năm hay các tỉnh Tây Nguyên mà ngay cả một số vùng như Thanh Hóa, Nghệ
An, Thừa Thiên Huế… hay thậm chí các tỉnh Duyên hải miền Trung đều có những vùng có khí hậu thích hợp với nuôi cá tầm, ví như: Trên hồ Đa Mi, tỉnh Bình Thuận, Cty cá tầm Việt Nam và Cty cổ phần cá tầm long Đạ Mi đã đầu tư nuôi cá tầm rất thành công trong 30 lồng với 23.000 con trên diện tích 30ha
Tháng 11-2011 thành lập cơ sở nuôi trồng thứ 5 tại tỉnh Đắk Lắk, được đánh giá
là trại nuôi Cá tầm có quy mô lớn nhất khu vực Đông Nam Á
Đối với lĩnh vực nghiên cứu và du nhập nuôi các loài cá nước lạnh, từ năm
2002, Nhà nước đã sớm quan tâm, đầu tư nghiên cứu, nhập công nghệ phục vụ phát triển nuôi cá tầm, đã có hàng loạt dự án nhập công nghệ, đề tài nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá tầm được phê duyệt Đến nay đã xây dựng đàn cá phục
vụ nghiên cứu sinh sản nhân tạo, nuôi lấy trứng và đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đã bước đầu làm chủ công nghệ ương cá giống, nuôi thương phẩm cá tầm Đến nay đã bước đầu làm chủ công nghệ ương cá giống, nuôi thương phẩm, tuy nhiên kết quả chưa ổn định, chưa làm chủ công nghệ sinh sản nhân tạo, sản xuất trứng
Thông qua đầu tư của Nhà nước, tư nhân và với sự hỗ trợ của các tổ chức, chuyên gia quốc tế, đến nay Việt Nam đã nhập được cá tầm Siberi, cá tầm Trung Hoa,
cá tầm Nga (A.gueldenstaedtii), cá tầm Đức (hay cá tầm Beluga) (Huso huso), cá tầm
lai (lai giữa 2 loài A.ruthenus x Huso huso)
Trong lĩnh vực nghiên cứu, lưu giữ và sản xuất giống nhân tạo, hiện nay, Viện Nghiên cứu NTTS-1 đang lưu giữ khoảng 60 cặp cá tầm Siberi bố mẹ (Khối lượng trung bình 15kg/con), và 20 con cá tầm Trung hoa bố mẹ, trọng lượng trung bình khoảng 12kg/ con
Hiện vẫn chưa chủ động việc sản xuất giống cá tầm, đề tài nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo mới được tiến hành tại Viện nghiên cứu NTTS-1 Dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá tầm Trung hoa đã thu được một số kết quả, đã bắt đầu cho sinh sản được một đợt tại Sapa, tuy nhiên hiện quy trình công nghệ không được tiếp tục
Trang 22thực hiện Bên cạnh đó, công ty cá tầm phương Bắc cũng đã có được những kết quả sinh sản nhân tạo cá tầm ban đầu, tuy nhiên đây cũng mới là những thử nghiệm chưa
có những số liệu công bố chính thức
Hiện nay, đang thực hiện khảo nghiệm quy trình ấp trứng cá tầm đã thụ tinh và ương từ cá bột lên cá tầm giống; quy trình ấp trứng cá tầm Đức (hay cá tầm Beluga) (Huso huso) đã thụ tinh và ương từ cá bột lên cá giống, khảo nghiệm cá tầm Nga
(Acipenser gueldenstaedtii) giai đoạn nuôi thương phẩm, khảo nghiệm quy trình ấp trứng cá tầm Sterlet (Acipenser ruthenus) đã thụ tinh và ương từ cá bột lên cá giống
Các loài cá tầm đang được nuôi ở Việt Nam:
Hiện trên thế giới, cá tầm có 2 họ là họ cá tầm (Acipenseridae) và họ cá tầm Thìa (Polyodontidae), trong đó có 6 chi và 30 loài khác nhau
Tuy nhiên, hiện nay theo thống kê chỉ có 4 loài chính là cá tầm Nga (Acipenser gueldenstaedtii), cá tầm Siberi (A Baerii), cá tầm Ý (A Naccarii), cá tầm Sterlet (A Ruthenus) và 1 con lai giữa loài cá Beluga (Huso huso) được nuôi phổ biến ở Việt
Nam vì chất lượng thương phẩm tốt, năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế cao
Đặc điểm một số loài cá tầm đang được nuôi chủ yếu ở Việt Nam
Cá tầm Sterlet
Tên khoa học: Acipenser ruthenus (Linnaeus, 1758)
Tên tiếng Anh: Sterlet Sturgeon
Loài cá tầm Sterlet sống ở biển Caspian, Biển Đen, Azov, Baltic, di cư vào các sông như Volga, Đa-nup để sinh sản hàng năm Cá tầm Sterlet là loài cá tầm cỡ nhỏ nhất trong họ cá tầm, con lớn nhất nặng 16 kg, dài từ 100-125 cm Nguồn thức ăn chủ yếu của cá là động vật đáy như giáp xác, giun, ấu trùng côn trùng, nhuyễn thể Cá
có tuổi thọ từ 22-25 năm Tuổi thành thục của cá cái từ 3-7 năm và cá đực từ 5-12 năm Sức sinh sản từ 15000-44000 trứng/cá mẹ Thời gian sinh sản từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 6 khi nhiệt độ nước dao động từ 12-170C Cá tầm Sterlet được dùng để tạo con lai như:
Trang 23Tên tiếng Anh: Russian Sturgeon
Cá tầm Nga phân bố chủ yếu ở Azerbaijan, Bulgaria, Georgia, Iran, Kazakhstan, Romania, Nga, Thổ Nhĩ kỳ và Ukraine Cá có mõm ngắn, tù, râu tròn nằm gần cuối mõm, môi dưới bị gián đọan Cá ở sông Volga đi vào sông từ tháng 3 sau khi băng tan và bắt đầu quá trình di cư kéo dài đến tháng 11 Cá đực ở sông Volga thành thục từ 8-14 tuổi, cá cái từ 10-15 tuổi Loài cá này có thể lớn cỡ 190 cm nặng 23
kg Cá tầm Nga không thể sinh sản và thành thục sớm nên trong tự nhiên quần đàn của chúng rất nhỏ, được xếp vào sách đỏ thế giới ở mức báo động đỏ
Cá tầm Siberi
Tên khoa học: Acipenser baerii Brandt, 1833
Tên tiếng Anh: Siberian Sturgeon
Loài này diện khắp các lưu vực sông lớn Xibia chảy hướng bắc vào biển Kara, biển Laptev và biển Đông Xibia, bao gồm sông Ob, sông Yenisei (cấp nước cho hồ Baikal qua sông Angara) sông Lena và sông Kolyma Nó cũng được tìm thấy ở Kazakhstan và Trung Quốc ở sông Irtysh một nhánh chính của sông Ob Cá tầm Siberi
cá tầm thường nặng khoảng 65 kg và có sự khác nhau về kích thước giữa các vùng sống khác nhau Trọng lượng tối đa là 210 kg Như với tất cả các loài khác, cá tầm Sibericó tưởi thọ lên đến 60 năm và chậm đạt tới thành thục sinh dục (con đực 11-24 năm, con cái 20-28 năm) Chúng đẻ trứng trong dòng sông suối chảy mạnh trên đá hoặc sỏi nền Tại Việt Nam, các loài cá này đang được nuôi trong 2 loại hình là trong
ao nước chảy và lồng trên hồ chứa Ở cả 2 loại hình, mật độ nuôi tùy thuộc vào kích cỡ
và lượng ôxy hòa tan tự nhiên trong nước, có thể đạt 30 kg/m3
Cá tầm Beluga (Huso Huso)
Tên khoa học: Huso huso Linnaeus , 1758
Tên tiếng Anh: European sturgeon hoặc Beluga
Đây là loài cá tầm thuộc chi Huso trong họ Acipenseridae của bộ Acipenseriformes, chúng có tập tính bơi ngược dòng sông để đẻ trứng Theo đó, loài này đôi khi được ví giống như cá biển, tuy nhiên, hầu hết các nhà khoa học xem xét là
cá sông Nó được tìm thấy chủ yếu trong lưu vực biển Caspi và biển Đen, đôi khi cũng tìm thấy ở biển Adriatic Cá tầm Beluga có kích thước lớn, tối đa dài 6 mét, nhưng lớn khá chậm và muộn phát dục, thông thường kích thước cá cái lớn hơn cá đực khoảng 20% Chúng có thể sống tới 150 năm
Trang 24 Cá tầm Ý
Tên khao học: Acipenser Naccarii Bonaparte, 1836
Tên tiếng Anh: Adriatic Sturgeon
Loài cá tầm này phân bố chủ yếu ở Phía Nam Châu Âu, đặc biệt là vùng nước ngọt ở khu vực phía Bắc nước Ý trong lưu vực của các con sông lớn như Adige, Brenta, Bacchiglione, Livenza, Piave, Tagliamento, và Po Arlati và các cộng sự năm
1988 đã cho sinh sản thành công loài này trong điều kiện nhân tạo, mù vụ sinh sản của chúng ngoài tự nhiên là vào khoảng tháng 5-7 hằng năm, cá đẻ trứng trong nước ngọt sau 1 thời gian sinh trưởng ở vùng cử sông, xảy ra trong vùng đáy cát hoặc bùn ở độ sâu 10-40m
1.2.3 Nuôi cá tầm ở Lâm Đồng:
Năm 2003-2004, Viện NCNTTS-1 thông qua dự án hợp tác quốc tế với Phần Lan đã đưa được trứng cá tầm Siberi và cá tầm Nga về nuôi thử tại Sapa thành công Năm 2005, một số giống cá đã chuyển vào nuôi ở Đà Lạt thành công, đó là cơ sở để các doanh nghiệp mở rộng qui mô Năm 2007-2008, công ty cá tầm Việt Nam đã sản xuất được gần 100 tấn cá tầm tại hồ Tuyền Lâm và Đa Nhim, Lâm Đồng, đem lại nguồn thu đáng kể
Thực hiện quyết định 1045/QĐ- UBND ngày 22/3/2006 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc “Phê duyệt đề án nuôi thử nghiệm cá nước lạnh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng”, mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu là tận dụng những vùng có khí hậu lạnh để nuôi
cá, đồng thời tạo môi trường thuận lợi nhất để thu hút vốn đầu tư, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh tế của vùng và phát triển du lịch-dịch vụ Với mục tiêu và nhiệm vụ của đề
án được UBND tỉnh giao, từ tháng 4/2006 đến nay, sở NN & PTNT Lâm Đồng đã chủ trì phối hợp với Viện NCNTTS-1, trạm nghiên cứu thực nghiêm Quảng Hiệp- Đức Trọng thuộc Viện NCNTTS-3 và các công ty TNHH SX TM và DV Hoàng Phố TP.HCM, công ty cổ phần Hà Quang Tp.HCM đã triển khai thực hiện các nội dung đề
án được duyệt, sau 2 năm thực hiện đề án nuôi cá nước lạnh có kết quả như sau:
Nuôi lồng bè trên hồ Tuyền Lâm –TP Đà Lạt, gồm 2 đợt vận chuyển từ Sapa
và Hải Dương về Hồ Tuyền Lâm với số lượng 20 cá tầm Nga với khối lượng 2,5kg, được nuôi trong 1 lồng Với điều kiện sinh thái phù hợp, khả năng thích nghi và sinh trưởng nhanh, bình quân tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt, tăng 400-600g/tháng, có con đạt 700-1.000g/tháng Hiện nay khối lượng bình quân đạt 14,5kg/con, cá lớn có con đạt 20kg/con
Trang 251,4-Khu ao nuôi cá nước chảy tại tiểu khu 91, thôn Klong Klanh, xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương nằm trong thượng nguồn suối nước lạnh Đa Mưng Tổng diện tích nuôi thử nghiệm 3 ha, với 4 dãy gồm 27 ao, một khu ương cá bột lên cá giống 1200m2
Do vốn của UBND tỉnh Lâm Đồng và công ty TNHH SX-TM Hoàng Phố TP HCM tham gia đầu tư nuôi thử nghiệm và hiện nay cho kết quả rất tốt
Sử dụng đập tràn dự phòng của hồ Tuyền Lâm triển khai kế hoạch nhập trứng
cá tầm Nga và triển khai công nghệ ấp nở, ương nuôi cá bột, cá giống để phát triển cá tầm thương phẩm hàng hóa trên địa bàn Lâm Đồng
Dựa vào sự thành công trong quá trình ấp nở, ương nuôi cá bột, thương phẩm, của cá tầm Nga, Siberi trạm nghiên cứu thực nghiệm nuôi cá Quảng Hiệp kết hợp với trung tâm nghiên cứu quốc gia đã thử nghiệm ương nuôi cá tầm Trung Hoa từ Trung Quốc với số lượng 600 con có khối lượng trung bình 1g/con
Ngoài ra trạm nghiên cứu thực nghiệm Quảng Hiệp còn nhập cá tầm Siberi về nuôi thương phẩm trong ao đất theo hình thức nuôi công nghiệp, bước đầu đã thu kết quả như mong đợi Bên cạnh đó, vì cá tầm là đối tượng có giá trị kinh tế nên có một số công ty đã và đang triển khai ấp trứng, ương nuôi cá bột, nuôi thương phẩm trên toàn tỉnh Lâm Đồng
Cuối năm 2007, được sự hướng dẫn của các chuyên gia Nga, Công ty Hà Quang (Lâm Đồng) đã cho ấp nở 2 đợt 3 giống cá tầm là cá tầm Nga, cá tầm Siberi và cá tầm Sterlet với tổng số cá con là 100.000 con
Tháng 3/2008, với sự giúp đỡ của chuyên gia Ukraina, Viện NCNTTS-1 đã phối hợp với Viện Nghiên cứu NTTS-3 ấp nở với số lượng lớn trứng cá tầm, ương được khoảng 300.000 con giống tại thôn Klong Klanh xã Đạ Chais, Lạc Dương (Lâm Đồng) Tỉ lệ nở đạt khoảng 70% và tỉ lệ ương đến cá cỡ 10-15 cm khoảng 50%
Theo kết quả điều tra về môi trường tự nhiên của Viện NCNTTS-3, tại vùng quy hoạch nuôi thả cá nước lạnh của tỉnh Lâm Đồng trên địa bàn các huyện, thành (trừ
3 huyện phía Nam) có 45 hồ chứa nước thủy lợi và 2 suối tự nhiên (suối Bướm và suối nước lạnh Đam Rông) có đủ các điều kiện về diện tích lưu vực, mực nước dâng bình thường, nhiệt độ và hiện trạng xung quanh thủy vực để nuôi thả cá nước lạnh (cá hồi,
cá tầm) với quy mô tương đối lớn
Trong 45 hồ chứa nước này có nhiều hồ có lưu vực và dung tích lớn như hồ Suối Vàng, hồ KaLa, hồ Đạ Ròn, hồ Tuyền Lâm… Nếu khai thác có hiệu quả các hồ
Trang 26chứa này để nuôi thả cá nước lạnh, sản xuất nông nghiệp của tỉnh sẽ có bước đột phá trong vài năm tới
Theo thống kê của Hiệp hội Cá nước lạnh Lâm Đồng, tính đến đầu năm 2012 trên địa bàn tỉnh đã có 35 dự án nuôi thả cá nước lạnh đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký 1.082 tỷ đồng Đã có 12 dự án và 13 cơ sở sản xuất thực hiện đầu tư với khoảng 120 tỷ đồng vốn
1.3 Tình hình nghiên cứu dịch bệnh trên cá tầm:
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới:
1.3.1.1 Bệnh do vi khuẩn:
Bệnh ở cá bao gồm các bệnh do vi khuẩn, bệnh do virus, sinh vật đơn bào, bệnh nấm và bệnh do môi trường Trong số đó, bệnh do vi khuẩn là nguyên nhân gây ra các tổn thất nghiêm trọng ở các trại nuôi cá Ngày nay, hầu hết các các vi khuẩn gây bệnh phổ biến là vi khuẩn Gram âm, tuy nhiên, vẫn còn có nhiều loại vi khuẩn Gram dương
của cá, bao gồm cả loài Streptococcus Các liên cầu nhiễm trùng thường gây ra tỷ lệ tử
vong cao và kéo dài một thời gian dài (Yanong và Francis-Floyd, 2006) [76]
Báo cáo phân tích rủi ro tình hình nuôi cá tầm ở Mỹ (Karen và CS, 2001) [45] cho thấy tác nhân vi khuẩn gây bệnh cho cá tầm phân lập được từ cá bệnh bao gồm các
loài Aeromonas hydrophila, A sobria, Pseudomonas spp., Edwardsiella tarda, Yersinia ruckeri, Streptococcus spp và một trường hợp là Flavobacterium columnariae Trong số đó A hydrophila, A sobria và Pseudomonas spp là thường
thấy nhất Chúng thường là tác nhân cơ hội gắn liền với các điều kiện khác như cá bị
ức chế, môi trường không phù hợp Một số nghiên cứu đã phân lập được F columnariae từ cá tầm vịnh Mexico (A oxyrinchus desotoi) là rất đáng quan tâm vì họ
cho rằng loài này kháng với bệnh columnaris, nhưng thực tế cho thấy loài cá này đã bị bệnh columnaris Mặc dù đây là loài vi khuẩn chỉ ký sinh ở các cơ quan bên ngoài nhưng độc lực của nó có thể gây chết cá Ngoài ra sự xuất hiện bất thường của
Streptococcus spp trên cá tầm vịnh ở Mexico cũng là một mối quan tâm Hầu hết streptococcus gây bệnh cho cá tầm được cho là lây lan từ loài giun Lumbriculus variegatus làm thức ăn cho cá tầm Cá bị bệnh này có thể chết tới 90% chỉ trong vài
ngày, cá còn sống có thể trị khỏi bệnh bằng erythromycin (Reed, 1993) [68]
Edwardsiella tarda cũng đã phân lập được từ cá tầm Đại Tây Dương, vi khuẩn
này có thể gây chết 50% quần đàn, dùng kháng sinh oxytetracycline để trị cho thấy có
Trang 27hiệu quả (Francis et al 1993)[36] Theo Karen, 2001 đã phân lập được Yersinia ruckeri từ não của cá tầm Nga Cá bệnh bơi lung tung không định hướng và cho thấy
dấu hiệu liên quan tới bệnh thần kinh trong vài tuần bị nhiễm bệnh [45]
Nghiên cứu trên Acipenser baeri cho thấy loài này rất nhạy cảm với Yersinia ruckeri, Vibrio anguillarum và Flexibacter columnaris (Brun et al, 1991) Cá tầm trắng (A transmentanous) được thông báo mẫn cảm với Myxobacteriosis,
Columonaris, Costia, nấm ngoại ký sinh (Conte et al, 1988.) Trích dẫn từ báo cáo của Srani, Mosahab, 2007, khi nghiên cứu bệnh trên cá tầm ở Iran [17]
Bauer và cộng sự (2002) thông báo vi khuẩn Flavobacterium johnsonae like
bacteria là tác nhân gây thiệt hại lớn cho cá con (3- 4 gam/con) Bệnh xảy ra vào mùa xuân khi nhiệt độ dưới 160C [23]
Athanassopoulou và CS (2004) đã phát hiện ra vi khuẩn Aeromonas hydrophila
và A caviae gây bệnh và góp phần làm cá A gueldestaedtii chết nhanh Nguyên nhân
là cá bị nhiễm virus từ trước nên bị yếu và vi khuẩn đã xâm nhập gây bệnh [22]
Trong số các loài Aeromonas thì phổ biến nhất là Aeromonas hydrophila Vi
khuẩn này phổ biến ở nước ngọt Chúng xuất hiện thường xuyên trong đường tiêu hóa
cá, và là tác nhân cơ hội một khi nguồn nước nuôi bị xấu đi (Aoki, 1999; Cipriano, 2001; Dixon B.A.,1993)[20][31][34], chúng trở thành tác nhân gây nhiễm trùng máu, bệnh lở loét hay “bệnh Đỏ” (Guz, 2004)[38] do độc tố vi khuẩn phát tán ở nhiều bộ phận khác nhau trên cơ thể cá làm chết với số lượng đáng kể Dịch bệnh thường gắn liền với sự thay đổi điều kiện môi trường, chẳng hạn như do căng thẳng, mật độ dày, nhiệt độ đột ngột thay đổi, chất lượng nước kém, nitrit và carbon dioxide cao (Aoki, 1999; Yildiz, 2005) [76]
Aeromonas hydrophila được tìm thấy trên cá tầm trắng ở thượng lưu sông
Columbia, đây là vi khuẩn thường thấy trong các thủy vực nước ngọt và là tác nhân gây bệnh cho nhiều loài cá khác Bệnh thường xảy ra khi nuôi mật độ quá cao làm cá
bị ức chế, suy giảm hệ miễn dịch, chất lượng nước kém, thiếu dinh dưỡng Khi cảm
nhiễm A hydrophila lên cá khỏe nuôi trong điều kiện đầy đủ oxy, dinh dưỡng, và môi
trường nuôi thích hợp không thấy dấu hiệu của bệnh như xuất huyết, lở loét Khi phát hiện cá bị nhiễm bệnh có thể dùng kháng sinh Terramicin (Oxytetracycline) để điều trị
sẽ có hiệu quả (Sherry Guest, 2004)[69] Li et al (2008)[49], cũng đã phân lập được
Aeromonas hydrophila từ cá tầm Siberian nuôi ở Trung Quốc Thí nghiêm LC50-50%
Trang 28là 5.62x105 cfu/mL, cho thấy chúng có độc lực hơi mạnh đối với cá tầm Siberi Đây là
vi khuẩn gram âm, kích thước 1-1,2μm x 2,1-2,4μm xung quanh có lông nhung bao phủ, có khả năng dung huyết mạnh (β-haemolytic) trên môi trường thạch máu thỏ (rabbit blood agar) Chúng nhạy cảm mạnh với cefoperazone và cravit, nhạy vừa với
10 loại kháng sinh bao gồm tobramycin, norfloxacin, sulperazone, kanamycin, gentamycin, fortum, vancomycin, neomycina, polymyxin B và lomefloxacin
Cá tầm đại tây dương mẫn cảm với Aeromonas salmonicida, tác nhân gây bệnh u
nhọt ở cá - furunculosis Vi khuẩn này lây lan chủ yếu theo trục ngang và có thể gây chết đối với cá tầm cỡ 40g khi nuôi chung với cá hồi bị nhiễm bệnh này Cá bệnh trở nên lờ đờ, chán ăn có thể xuất hiện các đốm đỏ như máu trên cơ thể và trên vây, xuất hiện những u nhọt riêng biệt trên một số cơ quan và trên bề mặt cơ thể (Post, 1987) [66].Những biểu hiện khác của bệnh như phồng rộp và lồi, xuất huyết lỗ niệu sinh dục
Cá bị mất màu trở nên tối sẫm, vùng lưng và phía đầu màu nhạt hơn Bơi lội không bình thường khó giữ thăng bằng, bơi lờ đờ gần mặt nước Bệnh có thể trị khỏi bằng kháng sinh như oxytetracycline (Sherry Guest, 2004) [69]
Khi nhiệt độ nước xuống dưới 10oC thì một số cá tầm con bị mắc phải hội chứng phồng rộp bóng hơi (hyper-inflated swim bladder syndrome), cá mất dần khả năng giữ thăng bằng, bơi nghiêng, bụng hơi phồng lên, có lúc bơi ngửa gần mặt nước và cố gắng lật cơ thể lại như vị trí bình thường Tác nhân chính gây hội chứng này vẫn chưa
xác định chính xác Tuy nhiên đã phân lập được vi khuẩn Bacteriodes sp từ ruột của
cá bị bệnh Vi khuẩn này sinh H2S như là sản phẩm thải của quá trình trao đổi chất, có thể là nguyên nhân gây chướng bụng nếu chúng sinh ra quá nhiều khí này Theo đó khí được sinh ra quá mức sẽ dồn ngược lên thực quản chạy vào bóng hơi mang theo vi khuẩn làm cho bóng hơi cũng căng phồng lên Có thể điều trị bệnh bằng oxytetracycline (Jerre W Mohler, 2003) [43]
Cao Hai Peng và CS, 2007, đã phân lập được 5 loài vi khuẩn trên một số loài cá
tầm lai (cá đực Huso huso với cá cái Acipenser ruthenus và cá tầm kaluga-Huso dauricus), trong đó có 2 loài được cho là tác nhân gây bệnh là Aeromonas punctata subsp.caviae và Plesiomonas shigelloides Cả 2 loài này đều là vi khuẩn gram âm,
hình que, dương tính với phản ứng oxydase, chúng rất nhạy với kháng sinh cefoperazone, tobramycin, ceftriaxone, cefotaxime, netilmicin và necmycin [29]
Trang 29Năm 2009, Wuming Yang và Aihua Li phân lập được cầu khuẩn Gram dương
Streptococcus dysgalactiae gây bệnh trên cá tầm A schrenckii với các biểu hiện bụng
phình, mang nhợt nhạt, da chuyển sang vàng, gan bị sưng, đường ruột tích dịch Tác giả đã tiến hành cảm nhiễm ngược lại cá khỏe và kết quả cho thấy cá bắt dầu chất sau 24-72h ở nồng độ 4.108 cfu/ml với các hiện tượng như đã nêu ở trên Bệnh thường xuất hiện vào tháng 6-10, nguyên nhân có thể là do nuôi cá với mật độ cao, thức ăn không đảm bảo chất lượng, nguồn nước bị ô nhiêm Đây là báo cáo đầu tiên thể hiện sự liên
quan gữa S dysgalactiae với tỷ lệ tử vong của cá tầm A schrenckii [75]
Về con đường lây truyền, các tác giả Madsen và Dalsgaard (1999) [54],
Madetoja và cộng sự (2000) [53] đều cho biết Flavobacterium dễ dàng lây truyền
theo chiều ngang giữa cá và cá thông qua nước Tuy nhiên, việc bệnh thường xảy ra trong những tuần tuổi đầu tiên khiến các nhà khoa học nghi ngờ rằng vi khuẩn có thể được truyền từ cha mẹ đến cá con qua trứng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra được ái lực giữa vi khuẩn với chất dịch buồng trứng càng chứng minh kết luận này
Hiện nay, vẫn chưa có phương pháp điều trị hiệu quả bệnh do Flavobacterium
mặc dù vaccine đã được sản xuất Kích cỡ cá nhiễm bệnh rất nhỏ là nguyên nhân khiến hiệu quả vaccine bị giảm đi Phương pháp điều trị bệnh này khác nhau giữa các vùng địa lí, nhưng nhìn chung, việc sử dụng hóa chất như nifurpirinol (nitrofuran), Sulfonamides hoặc kháng sinh oxytetracyline là tương đối hiệu quả Thế nhưng, một vấn đề nữa đặt ra là phải kiểm soát mức độ tồn dư của kháng sinh và hóa chất này trong cơ thịt cá chẳng hạn như chất bị cấm nitrofuran Từ năm 2000 -2006, tại Thổ Nhĩ
Kỳ, với phương pháp tắm bằng oxy già kết hợp điều trị kháng sinh florfenicol (15 mg kg/ngày trong vòng 7 ngày) đã đem lại hiệu quả tốt (Carson và CS, 1993) [30]
Hai loài phụ của loài Streptococus dysgalactiea là Streptococcus dysgalactiae subsp.dysgalactiae được tìm thấy trên gan của cá tầm nuôi trong hồ nước chảy ở Bắc Kinh, Trung Quốc và Streptococcus dysgalactiae subsp.equisimilis được tìm thấy
trong tim của cá nuôi lồng trên hồ chứa ở Hebei-Trung Quốc Cả hai phụ loài này đều mọc được ở các thang nhiệt độ là 20, 28, và 37oC nhưng không mọc ở 10 và 45oC, chúng mọc trên môi trường bổ sung 1%, 2% và 3% NaCl nhưng không mọc ở môi trường chứa 6.5% NaCl, gram dương hình cầu kết thành chuỗi, khả năng dung huyết yếu (α-haemolytic) Độc tính của chúng đã được kiểm tra bằng cách cho cảm nhiễm ngược lên cá khoẻ Đặc điểm hình thái và kết quả sinh hóa của loài vi khuẩn phân lập
Trang 30lại từ cá cảm nhiễm nhân tạo đều giống với kết quả trước đó Tuy nhiên độc lực của vi khuẩn mọc ở 37oC mạnh hơn ở 28oC Kết quả thử kháng sinh đồ cho thấy cả hai đều nhạy với penicillin, ampicillin, amoxicillin, piperacillin, norfloxacin, enrofloxacin, levofloxacin và nhạy vừa đối với erythromycin nhưng kháng lại cefazolin và gentamicin (Pan Hou Jun và CS, 2009) [63]
Theo Marcu và cộng sự, 2010 ổ dịch đầu tiên của Vibriosis liên kết với pasteurelosis ở cá tầm đã xuất hiện ở phía tây nam khu vực của Ru-ma-ni trong điều kiện mật độ nuôi cao, các dấu hiệu lâm sàng đầu tiên của bệnh là chán ăn, tiếp theo là
sự xuất hiện của xuất huyếtvây, đuôi, mang và vỏ bụng Tác giả đã tìm thấy sự hiện
diện của vi khuẩn Vibrio alginolyticum và Photobacterium spp (trước đây là Pasteurella spp) bọn này nhạy cảm cao với fluorfenicol [55]
Hai ổ dịch xảy ra vào mùa thu năm 2007 và 2008 trên cá tầm Nga Acipencer gueldenstaedtii nuôi tại Thổ Nhĩ Kỳ xuất hiện sau khi mưa lớn kèm theo một sự thay
đổi đột ngột về nhiệt độ nước và tăng chất rắn lơ lửng Cá tầm bắt đầu xuất hiện hiện tượng loét, xuất huyết và loét da bề mặt, đặc biệt là ở phía bên bụng bao gồm cả vây ngực và vùng chậu Cá bị hôn mê, cơ thể tiết ra nhiều chất nhầy cùng với đó là sự xuất hiện như những chấm màu xám nhạt trên da Trong nghiên cứu này, nguyên nhân chết
của cá tầm được xác định là do VK Flavobacterium johnsoniae, chúng đóng vai trò
như vi khuẩn nhiễm trùng cơ hội Mầm bệnh xuất hiện trong điều kiện khi có một sự thay đổi đột ngột nhiệt độ nước hoặc các yếu tố gây stress môi trường khác (Suheyla Karatas và cộng sự, 2010) [44] Các đặc điểm sinh học của vi khuẩn và dấu hiệu bệnh
do vi khuẩn gây ra cũng đã được mô tả trong các nghiên cứu trước (Buller, 2004; Carson et al., 1993) [27], [30] Nghiên cứu này cũng cho thấy bệnh gây chết rải rác và thường xuất hiện trong điều kiện đặc biệt như sự thay đổi đột ngột nhiệt độ nước, gia tăng các chất hữu cơ lơ lửng trong nước và các yếu tố gây ức chế cho cá
Hầu hết các vi khuẩn gây bệnh là gram âm, hiếu khí hay hiếu khí tùy tiện, thuộc
các giống như Vibrio, Yersinia, Pasteurella và Edwarsiella Bệnh do Vibrio thường
xảy ra trên cá nước mặn nhưng đôi khi lại gây bệnh trên cả các loài cá nước ngọt Dịch bệnh có thể gây chết hơn 50% đàn cá nuôi Bệnh dịch gây chết nghiêm trọng ở cá tầm
Siberi (A Siberian) nuôi xảy ra vào tháng 2 năm 2010 ở phía Tây nước Ý với các biểu
hiện như mắt lồi, lờ đờ, sung huyết, xuất huyết trên vây và miệng Hai loài vi khuẩn
phân lập được từ gan và thận của cá bị bệnh được định danh là Vibrio alginolyticus và
Trang 31Pasteurella spp dựa vào các đặc điểm hình thái tế bào, nhuộm gram, hình dạng khuẩn
lạc và các phản ứng sinh hóa Kết quả thử kháng sinh đồ cho thấy hai loài này đều nhạy cảm với florfenicol, amoxiclav và cloramphenicol, kháng lại erythromycin
Riêng Vibrio alginolyticus kháng lại với cephalotin, gentamicin và enrofloxacin còn Pasteurella spp lại nhạy với 3 loại kháng sinh này (Luminiła Costinar, 2010) [51]
1.3.1.2 Bệnh do nấm:
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các loài nấm gây bệnh trên nhiều loài cá khác nhau Tuy nhiên sự hiện diện và gây bệnh của những loài nấm rất khác biệt theo từng vùng địa lý, có những loài ký sinh gây bệnh trên loài cá này nhưng vô hại đối với loài cá khác
Ở cá nước ngọt, bệnh do nấm gây ra đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước công bố Các nghiên cứu về hội chứng lở loét ở cá (Epizootic ulcerative syndrome-EUS) cho thấy hơn 100 loài cá mắc bệnh này, trong đó cá nước ngọt là chủ yếu Nhiều tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn… đã được báo cáo, trong đó nhiều
báo cáo cho thấy nấm Aphanomyces invadans là một trong những tác nhân chính gây
triệu chứng lở loét cá ở Nhật, Úc và một số nước Châu Á [50]
Trong tài liệu về hội chứng lở loét ở cá tại chương trình dự án phát triển của FAO khẳng định rằng: Nấm luôn luôn đựơc coi là có vai trò quan trọng trong nguyên nhân tổng hợp của hội chứng dịch bệnh lở loét Những giống nấm có liên quan với các
biểu hiện của dịch bệnh lở loét như Saprolegnia, Achlya, Aphanomyces, tuy nhiên là
phổ biến nhất có liên quan đến lở loét ở da Những cá mới có dấu hiệu sớm của bệnh hoặc ở giai đoạn vết thương đang lành thì khó có thể phân lập được nấm
Cá tầm bị nhiễm nấm do họ saprolegniaceae, bao gồm các loài thuộc giống Saprolegnia, Achyla, Dictyuchus Hệ sợi nấm có màu trắng như các sợi cotton hoặc có
màu hơi xám phát triển trên bề mặt cơ thể cá và cả trên mang cá Saprolegnia hay các
loài nấm khác gây bệnh thường chỉ là tác nhân thứ cấp khi cá bị ảnh hưởng bởi môi trường, nhân tố gây ức chế, trầy da, thiếu dinh dưỡng hoặc bị nhiễm vi khuẩn, virus,
ký sinh trùng Saprolegnia được tìm thấy trong tất cả các giai đoạn phát triển của cá tầm bao gồm cả trứng Đàn cá ngoài tự nhiên rất dễ bị nhiễm nấm trong điều kiện đánh bắt vì cá bị trầy xước, tổn thương do đánh bắt và vận chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển trong 2-3 ngày sau khi đánh bắt (Francis et al 1993) [36]
Trang 32Theo nghiên cứu của Czeczuga et al., 1995 trong sinh sản nhân tạo cá tầm gặp phải vấn đề lớn đó là trứng cá tầm ấp không nở (70-90% bị hư) do bị nhiễm nấm Tác giả đã tìm thấy 42 dạng động bào tử và đính bào tử của nấm trên trứng của sáu loài cá
tầm Trong đó trứng của cá tầm Huso huso và Acipenser guldenstadti là ít bị nấm ký
sinh nhất Bốn loài còn lại tìm thấy rất nhiều bào tử nấm (14-16 dạng/loài) Trong số
42 dạng nấm tìm thấy thì chỉ có 9 loài (Achlya bisexualis, A.hypogyna, A.klebsiana, Saprolegnia ferax, S.mixta, S.monoica, S parasitica, S.declina và leptolegnia caudata)
là đã được thông báo trước đây, còn 33 loài còn lại là hoàn toàn mới được tìm thấy
trên cá tầm Trong số đó loài nấm thường tìm thấy là Leptomitus lacteus (thấy trên tất
cả các loài cá tầm nghiên cứu) và saprolegnia parasitica (thấy xuất hiện trên 5 loài), Saprolegnia shikotsuensis (thấy xuất hiện trên 4 loài) Sự phát triển của nấm trên trứng
cá phụ thuộc vào chất lượng nước ở từng dạng thủy vực khác nhau Đa số phát triển trên trứng cá ở trong các ao, vì có sự khác nhau về thành phần các hợp chất trong nước Điều đó cũng cho thấy rằng mức độ nhiễm nấm của trứng cá phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nước dùng để ương ấp, mà đặc biệt là các chất dinh dưỡng và các chất bẩn có trong nước [32]
Athanassopoulou và cộng sự (2004) [22] thông báo nấm Saprolegnia sp gây
bệnh cho cá tầm Nga, tuy nhiên kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh chỉ ở mức 5% và cường độ nhiễm ở mức nhẹ Ghomi và cộng sự (2007) cho biết dùng ozone và Ôxy già
có thể phòng và trị bệnh nấm cho trứng cá tầm trong quá trình ấp nở, các tác giả cho biết, tỷ lệ nở của trứng khi được phòng và trị nấm tăng lên 16,1%
Nấm men Candida sp được tìm thấy trong ruột của cá tầm vịnh (A oxyrinchus desotoi) nuôi tại Florida, là nguyên nhân làm cá chết rải rác trong suốt tháng 4 và 5
năm 1998 (Francis et al 1999) [35] Cá bị nhiễm nấm được 3-6 tuần tuổi, cá thường tập trung ở đáy bể, đuôi cong lại về phía đầu tạo hình vòng cung Giải phẩu cá thấy trong ruột thức ăn vẫn không tiêu hóa được Có thể điều này giúp cho nấm phát triển mạnh hơn trong ruột cá Ngoài ra còn các yếu tố khác có khả năng làm gia tăng sự nhiễm nấm như chất hữu cơ quá nhiều trong ao nuôi, nhiệt độ thay đổi đột ngột và nhân tố gây ức chế cho cá
Trang 33Bảng 1.3: Các loài nấm được tìm thấy trên cá tầm [32]
Achlya ambisexualis Raper X
Achlya americana Humphrey X X
Achlya bisexualis coker et couch X X
Achlya colorata PringSheim X
Achlya diffusa Harvey et johnson X X X
Achlya glomerata Coker X
Achlya hypogyna Oembberton X X X
Achlya megasperma Humphrey X
Achlya oligacantha de Bary X
Achlya orion Coker et Couch X X
Achlya polyandra Hildebrand X
Achlya racemosa Hildebrand X
Achlya radiosa Maurizio X
Achlya treleaseana Kauffman X X
Allomyces anomalus Emerson X X
Allomyces arbuscula Butler X
Aplanes androgynus Humphrey X X
Blastocladiopsis parva Sparrow X X
Calyptralegnnia achlydoides Coker X
Dictyuchus sterilis Coker X X X
Trang 34Isoachlya anisospora Coker X X
Isoachlya monilifera Kauffman X
Isoachlya toruloides Kauffman X
Leptolegnia caudata de Bary X X
Leptomitus lacerus Agardh X X X X X X
Pythiopsis cymosa de Bary X
Pythium artotrogus de Bary X
Saprolegnia australis Elliott X X X
Saprolegnia diclina Humphrey X
Saprolegnia monoica Pringsheim X
Saprolegnia parasitica Coker X X X X X
Saprolegnia shikotsuensis Hatai et al X X X X
Saprolegnia unispora Seymour X
Thraustotheca clavata Humphrey X
Zoopage phanera Drechsler X
Candida albicans Berkhout
Trong đó bệnh WSIV được biết đến nhiều nhất và thường xảy ra nhất Virus này ký sinh ở lớp biều mô của da và mang có thể gây chết hơn 90% ở cá nhỏ hơn 1 tuổi (LaPatra et al., 1999) [48] Dấu hiệu thường thấy ở cá khi bị nhiễm virus này là cá
Trang 35hô hấp khó khăn, mất khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu, cá có thể bị nhiễm thêm tác nhân thứ cấp là nấm WSIV được thông báo là xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau bao gồm vùng hạ lưu sông Columbia và sông Kootenay và có khả năng lây lan cho đàn cá ngoài tự nhiên Để giảm thiểu sự lây nhiễm của bệnh người ta khử trùng trứng trước khi ấp, chỉ thả cá khi đã được 1 tuổi ra tự nhiên, giảm nguy cơ bị ức chế và tránh nuôi ở mật độ quá cao
White sturgeon adenovirus-WSAV thường thấy trên các tế bào ở ruột và làm cá
lờ đờ, chán ăn và bị chết đói Các nỗ lực đầu tiên để nuôi cấy virus này trên các dòng
tế bào của cá tầm trắng (Acipenser transmontanus), cá Lepomonis macrochirus, cá L nebulosus, Pimepales promelas, cá da trơn và cá hồi tuyết đều thất bại (Hedrick et al.,
1985) [41] Tuy nhiên các thử nghiệm gần đây đã thành công khi nuôi cấy WSAV trên
tế bào lách của cá tầm Sự lây lan và phát sinh bệnh do virus này đối với các loài cá khác hiện vẫn chưa rõ
Vẫn còn nhiều hạn chế về hiểu biết đối với hai dạng herpes virus và papova-like virus Herpes virus thường thấy trên cá và cá là ký chủ đặc hiệu WSHV type 1 thường gây nhiễm ở cá tầm con (nhỏ hơn 10cm), có khả năng gây tổn thất lớn cho nghề nuôi
cá tầm vì tỷ lệ chết lớn Chúng lây nhiễm qua da và theo miệng vào cơ thể cá WSHV type 2 nhiễm trên cá tầm cỡ lớn hơn so với type 1, gây nên những tổn thương, làm da phồng rộp tạo điều kiện cho các tác nhân khác xâm nhập và làm bệnh nghiêm trọng hơn (MWH, 2003) [58] Theo Mohler, 2003 cá tầm trắng con và tiền trưởng thành bắt
ở phía bắc California nhạy cảm với virus này Cá cỡ 17g khi phơi nhiễm virus thì 3%
bị chết, 17% cá sống sót mang virus này suốt đời Cá bệnh chết có các dấu hiệu như tổn thương xuất huyết và lở loét bề mặt ở lưng và vùng bụng, đặc biệt là xuất huyết xung quanh miệng Đối với papova-like virus gây bệnh trên cá tầm hoang dã thì không cho thấy dấu hiệu bên ngoài nào đáng chú ý nhưng những tổn thương nhỏ đã được tìm thấy trên mang, gan, lách, thận qua kính hiển vi điện tử Cơ chế phát sinh và lan truyền cho các loài cá khác hiện vẫn chưa xác định được đối với ba loại virus này
Hai loại bệnh do virus làm chết cá hồi cũng đã được nghiên cứu trên cá tầm: IHNV-Infectious Hematopoietic Necrosis Virus và IPNV-Infectious Pancreatic Necrosis Virus IHNV là một trong những bệnh gây chết nhiều ở cá hồi giống, chúng lây lan theo cả trục dọc (từ mẹ sang con) và trục ngang (từ cá này sang cá khác) và có thể lây lan thông qua ký sinh trùng (như copepod) Thử nghiệm cảm nhiễm virus này
Trang 36trên cá tầm cho thấy virus gây chết ở cá con, nhưng cá lớn hơn thì không thấy bị chết
và nuôi chung với cá hồi cũng không thấy lây lan bệnh cho cá hồi Hơn nữa khi cho cá tầm ăn cá hồi bị nhiễm cũng không thấy dấu hiệu của bệnh và cũng không lan truyền bệnh cho cá hồi nuôi chung Điều đó cho thấy việc nuôi chung cá tầm lớn có thể giảm việc lan truyền bệnh IHNV cho cá hồi (LaPatra et al., 1995) [48]
IPNV gây bệnh trên cá hồi giống gây hoại tử các tế bào tuyến tụy và các cơ quan khác như gan Các dòng tế bào cá tầm khi phơi nhiễm với IPNV thì không nhạy đối với virus này Cá tầm giống khi phơi nhiễm trong môi trường có virus và được tiêm vào xoang bụng với nồng độ cao virus thì cũng không có bằng chứng rõ ràng để chứng minh có sự lan truyền virus, mặc dù IPNV đã tìm thấy trên một con cá tầm được tiêm sau 34 ngày, nhưng không phát hiện được virus khi kiểm tra lại sau 47 và 54 ngày Mặc dù nồng độ tiêm cao đã được dùng trong thử nghiệm trên nhưng vẫn không
có ghi nhận nào về trường hợp cá chết, hay sự hoành hành của bệnh [18]
Cá tầm Nga (Acipenser gueldenstaedii) là loài rất nhạy cảm đối với bệnh do
nodavirus và bệnh dị hình cột sống khi cá có khối lượng cơ thể hơn 500 g Cá nuôi trong hệ thống nước chảy khi đạt kích cỡ này bắt đầu có dấu hiệu bất thường ở xương sống và ngày càng rõ ràng hơn Phân tích mô bệnh học đối với cá bệnh nuôi tại Ai Cập
và Canada đều không thể kết luận gì về nguyên nhân của sự dị dạng cột sống Hiện nay vẫn chưa có thông tin đầy đủ về bệnh này Sau một thời gian bị bệnh cá có thể bị
bơi nghiêng, bỏ ăn, nằm ngửa và dễ dàng bị nhiễm tác nhân thứ cấp là Aeromonas hydrophila Một số loài cá tầm khác khỏe mạnh, phát triển bình thường và không có
biểu hiệu di dạng cột sống, khi phơi nhiễm với bệnh quan sát thấy cá lờ đờ, lật ngửa cơ thể ra nằm bất động tựa như chết, tuy nhiên cá vẫn có thể sống sót trong một thời gian dài mặc dù không ăn được Qua kiểm tra cũng không có phát hiện ký sinh trùng hay các tổn thương nào Phân tích PCR từ mô não cá có dấu hiệu bệnh như trên cho kết quả giống với mẫu nodarvirus dương tính đối chứng [22]
1.3.1.4 Bệnh do ký sinh trùng:
Năm 1967, theo nghiên cứu của Hoffman, đã phát hiện 5 loại ký sinh trùng trên
cá tầm nuôi ở sông Columbia, 3 loài sán lá (Nitzschia quadritestes, Tubulovesicula lindbergi, Cestrahelmins rivularis) một loài sán dây (Amphilina bipuctata) và một loài giun tròn (Cystoopsis acipenseri) Trong đó loài T lindbergi bắt gặp nhiều hơn trên cá
nước mặn, chúng ký sinh trên cá tầm có thể là lây từ cá hồi di cư đi đẻ từ biển vào và
Trang 37mang theo chúng Bốn loài còn lại (Nitzschia quadritestes, Cestrahelmins rivularis, Amphilina bipuctata, Cystoopsis acipenseri) bắt gặp nhiều hơn trên cá tầm [42]
Theo Mokhayer, 1943 đã mô tả được một số loài KST trên cá tầm của bờ biển
Iran từ biển Capian và Sefidroud Rostami đã báo cáo có sự xuất hiện của Amphilina foliacea trong cá tầm Còn Niak và cộng sự mô tả Trichodina ký sinh trên cá tầm vào
năm 1970 [60] Golvan và Mokhayer (1973) báo cáo ba loài giun đầu gai Và hơn 60 loài KST đã được phát hiện từ cá tầm của vùng Azon, biển đen và biển Caspian, trong
đó có 27 loài được định danh gồm: Protozoa, 1 Coelenterata, 2 Monogenea, 4 Digenea: 2 ấu trùng và 2 trưởng thành, 1 Cestodaria, 3 Cestoda, 7 Nematoda: 3 ấu trùng và 4 trưởng thành, 4 Acanthocephala, 1 Annelida và 2 Crustacea [67]
Theo báo cáo của Appy năm 1978, ông kiểm tra ký sinh trùng từ cá tầm Đại
Tây Dương ở sông Saint John, Canada đã phát hiện sán lá Nitzchia sturionis ký sinh trên mang của cá tầm con Giun tròn Truttaedacnitis sphaerocephala và giun đầu móc Echinorhynchus gadi tìm thấy trên cá trưởng thành [21] Ngoài ra còn phát hiện thấy giáp xác ký sinh là Dichelesthium oblongum và Argulus sp ký sinh trên mang, và sán
lá Deropristis hispida ký sinh trên mang cá (Murawski, 1977) [57] Mặt khác, nghiên cứu của Post năm 1987 đã tìm thấy Chilodonella sp., Trichodina sp., Hexamita sp., Ichthyoboda sp và Ichthyopthirius multifiliis trên cá tầm Đại Tây Dương và chúng có
thể gây chết hơn 50% quần đàn cá chỉ trong 4 ngày [66]
Kiểm tra tổng số 182 mẫu của hai loài cá tầm gồm Acipenser stellatus và Acipenser persicus, đã phát hiện được 4 loài KST gồm: Sphaerocephala Cucullanus
(Nematoda: Cucullanidae) và Skrjabinopsolus semiarmatus (Digenea:
Acanthocolpidae), được tìm thấy ở cả hai loài, và Leptorhynchoides plagicephalus
(Acanthocephala: Rhadinorhynchidae) và Foliacea Amphilina (Cestodaria:
Amphilinidae), chỉ tìm thấy trong A stellatus Các ký sinh trùng phổ biến nhất là C sphaerocephala và S semiarmatus trong A persicus và A stellatus, tương ứng [52]
KST Cystoopsis acipenseri tìm thấy trên cá tầm trắng ở sông Columbia, Oregon
và sông Fraser, British Columbia Hiện vẫn chưa biết rõ bằng cách nào mà ký sinh trùng này ký sinh được trên cá tầm, có thể là do cá tầm ăn phải một loài nào đó là ký
chủ trung gian vì C acipenseri đã tìm thấy trên một số loài giáp xác Sau khi vào trong
ruột cá chúng chui qua thành ruột di chuyển ra phía ngoài hình thành bào nang và trưởng thành ở phía dưới da tạo nên các u lồi, phồng rộp dưới da Hầu hết ký sinh
Trang 38trùng ở cá lây lan trực tiếp từ cá này sang cá khác hoặc qua ký chủ trung gian Hiện
vẫn chưa có nhiều thông tin về ba loài ký sinh trùng còn lại (Nitzschia quadritestes, Cestrahelmins rivularis, Amphilina bipuctata) [66]
Từ năm 2002-2003, P Cakić và cộng tác viên đã nghiên cứu KST trên cá
Sterlet (Acipenser ruthenus ) trên sông Danube của vùng Belgrade Có tất cả 517 mẫu
của các loại cá Sterlet ở các độ tuổi khác nhau (từ 0+ đến 1+) đã được kiễm tra thì có
342 (66,15%) mẫu đã phát hiện KST trong tổng số mẫu thu được Trong đó có 13 loài KST gồm: bốn loài Trematoda, 1 loài Cestoda, bốn loài Nematoda, bốn loài Acanthocephala [62]
Theo Bazari Moghaddam và các cộng sự, 2010 khi nghiên cứu ký sinh trùng
trên cá tầm con đã phát hiện Trichodina reticulata và sán lá song chủ Diplostomum spathaceum ký sinh trên cá Cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm tăng lên theo thời gian nuôi
và có thể tăng do nhiệt độ nước tăng và nồng độ các chất hữu cơ trong nước [24] 1.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:
Năm 2011, trên tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Võ Thế Dũng và
cộng sự đã công bố có 3 loài ký sinh trùng Trichodina spp, Ichthyophthyius multifiliis
và Gyrodactylus spp; 6 loài vi khuẩn Aeromonas hydrophyla, Pseudomonas cepacia, Enterobacter sakazakii, Vibrio cholarae, Serratia odorifera Và một loại nấm Saprolegnea sp được tìm thấy trên 27 mẫu cá tầm bị bệnh xuất huyết [3], [4], [5]
Trang 39CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: cá tầm nuôi tại Lâm Đồng gồm:
Acipenser baerii baerii: cá tầm Siberi Acipenser gueldenstaedtii: cá tầm Nga
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2011 đến 6/2012
Địa điểm nghiên cứu:
Thu mẫu tại một số trại nuôi cá tầm ở tỉnh Lâm Đồng
Phân tích mẫu tại phòng sinh học thực nghiệm - VNC NTTS-3 2.2 Dụng cụ, thiết bị nghiên cứu:
Thiết bị: Buồng cấy vô trùng, tủ ấm, tủ lạnh, tủ sấy dụng cụ, nồi hấp tiệt trùng, kính hiển vi điện tử, kính hiển vi soi nổi
Dụng cụ:
- Bộ dụng cụ dùng trong giải phẫu mẫu cá
- Bộ dụng cụ dùng trong phòng thí nghiệm nghiên cứu bệnh do vi khuẩn và nấm
- Và các dụng cụ cần thiết khác
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp điều tra bệnh xuất hiện trên cá tầm nuôi thương phẩm:
Địa điểm và phương pháp thu thập số liệu:
Địa điểm thu tại cá traị nuôi cá tầm ở một số vùng của tỉnh Lâm Đồng
Thu mẫu phải có dấu hiệu bệnh lý rõ ràng
Khi thu mẫu kết hợp ghi chép các thông tin về ngày tháng, địa điểm, loài cá, nguồn giống, cách chăm sóc quản lý và các biểu hiện của môi trường nuôi
Không thu mẫu cá đã chết
Trang 40 Phương pháp thu mẫu cá:
- Tiến hành thu mẫu hằng tháng Mẫu được thu trực tiếp tại các ao/lồng nuôi
- Dùng vợt thu những con có dấu hiệu bị bệnh: yếu, vây đuôi mòn cụt, xuất huyết, tụ huyết trên gốc vây, sưng miệng…
- Mẫu được giữ trong túi ở mức nhiệt độ 18-200C, cung cấp đủ ôxi
- Sau đó mẫu được chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích
Phương pháp kiểm tra mẫu:
- Mẫu được đưa về PTN cần phải được xử lý ngay
- Cân đo, ghi nhận các thông số cần thiết của mẫu
- Quan sát và ghi nhận tất cả các dấu hiệu bất thường trên cơ thể cá
- Tiến hành kiểm tra sự nhiễm KST, nấm và vi khuẩn
- Tất cả các dụng cụ giải phẫu, dụng cụ thu và giữ mẫu đều được tiệt trùng và sát trùng bằng cồn 70%
2.3.1 Sơ đồ khối nghiên cứu:
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra trên cá tầm
(Acipenser spp.) nuôi tại Lâm Đồng
Mô tả các dấu hiệu bệnh lý
Nghiên cứu tác nhân gây
bệnh