1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh

99 349 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 751,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, ngành Hải quan Việt Nam đang phấn đấu mở rộng ứng dụng hải quan điện tử đối với tất cả các Cục, Chi cục Hải quan trên cả nước và áp dụng với các loại hình hàng hóa nhằm hiện đạ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ TRÍ DŨNG

THÚC ĐẨY VIỆC SỬ DỤNG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ CHO CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2014

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Sự cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, đường lối đổi mới cùng với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu to lớn Trong bối cảnh Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hội nhập kinh tế quốc tế thì nhiệm vụ của ngành Hải quan Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp, phải đối mặt với nhiều vấn đề nổi cộm Trong điều kiện

đó, cải cách hiện đại hóa về Hải quan, phù hợp với định hướng phát triển của Hải quan thế giới và khu vực là một yêu cầu bức thiết

Triển khai ứng dụng thủ tục hải quan điện tử là một trong những chiến lược cải cách hành chính và hiện đại hóa Hải quan Sau những năm triển khai thực hiện thí điểm và mở rộng đã tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về thủ tục hải quan điện tử, chuyển đổi từ phương thức quản lý hải quan thủ công sang phương thức quản lý hải quan hiện đại; là tiền đề để triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và góp phần thúc đẩy phát triển thương mại điện tử

Hiện nay, ngành Hải quan Việt Nam đang phấn đấu mở rộng ứng dụng hải quan điện tử đối với tất cả các Cục, Chi cục Hải quan trên cả nước và áp dụng với các loại hình hàng hóa nhằm hiện đại hóa ngành hải quan đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu Đẩy mạnh thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong bối cảnh hiện nay chính là giải pháp để thực hiện Nghị quyết số 30c/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh

tế, đảm bảo an sinh xã hội; Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 [2], [5]

Mặt khác, một trong những điều kiện về áp dụng chế độ ưu tiên cho doanh nghiệp (Theo Thông tư số 86/2013/TT-BTC ngày 27/6/2013 quy định về việc áp dụng chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về Hải quan đối với doanh nghiệp đủ điều kiện) là điều kiện về thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử: Tại thời điểm cơ quan hải quan xem xét đánh giá, thẩm định, doanh nghiệp đã thực hiện thủ tục hải quan điện tử với cơ quan hải quan, thủ tục thuế điện tử với cơ quan thuế Doanh nghiệp có hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu trao đổi dữ

Trang 3

liệu điện tử giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan [10] Do vậy, doanh nghiệp để được hướng các chính sách ưu tiên thì phải thực hiện tốt các chủ trương về việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử

Tuy nhiên, ngành Hải quan Việt Nam cũng như Cục Hải quan Hà Tĩnh và các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu đang phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức và cần có những giải pháp tích cực nhằm đẩy mạnh ứng dụng Hải quan điện tử

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Thúc đẩy việc sử dụng thủ tục Hải quan

điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại Cục Hải Quan Hà Tĩnh” được triển khai thực hiện

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định khung phân tích (cơ sở lý luận và thực tiễn) nhằm đánh giá thực trang áp dụng thủ tục Hải quan điện tử tại Việt Nam

- Đánh giá thực trạng của việc áp dụng thủ tục Hải quan điện tử của các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hà Tĩnh, nhằm rút ra các mặt mạnh, các hạn chế và nguyên nhân của chúng

- Đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy việc sử dụng thủ tục Hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hà Tĩnh, quy trình thủ tục Hải quan điện tử, các bài học kinh nghiệm thực hiện thủ tục Hải quan điện tử tại Cục Hải quan thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, và một số nước châu Á, cũng như các chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng TT HQĐT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Hoạt động thực hiện thủ tục Hải quan điện tử tại Cục Hải quan Hà Tĩnh và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh từ tháng 10 năm 2010 đến hết tháng 12 năm 2013

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của luận văn bao gồm phương pháp tổng hợp lý luận

và thực tiễn nhằm xây dựng khung phân tích của luận văn

Trang 4

Để đánh giá hiện trạng, luận văn sử dụng kết hợp cả 2 nguồn dữ liệu thứ cấp và

sơ cấp Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ đơn vị nơi nghiên cứu và các nguồn tài liệu khác liên quan đến quản lý ngành Hải quan trong thời gian từ 2010 đến 2013 Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi điều tra đối với 60 doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu có phát sinh thủ tục tại Cục Hải quan Hà Tĩnh

Bảng câu hỏi khảo sát được xây dựng dựa trên với kỹ thuật lấy ý kiến chuyên gia trong ngành và phỏng vấn sâu các doanh nghiệp nhằm khám phá các khía cạnh liên quan đến việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hà Tĩnh

5 Tính mới của đề tài:

Đối với các nước trên thế giới, thương mại điện tử, hải quan điện tử là những lĩnh vực đã xuất hiện từ lâu và diễn ra thường xuyên Tuy nhiên, đối với Việt Nam đây

là những lĩnh vực chỉ mới bắt đầu hình thành trong những năm gần đây Trước đây cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực hải quan điện tử như sau:

a Nguyễn Thanh Long, luận văn thạc sỹ, thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cục hải quan thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng và giải pháp 2006

Luận văn đã khẳng định được vai trò quan trọng của thủ tục hải quan điện tử đối với kế hoạch cải cách hiện đại hóa ngành Hải quan theo chủ trương của Chính phủ,

và đã phân tích được những đóng góp của thủ tục hải quan điện tử vào việc thúc đẩy tăng kim ngạch XNK, tăng nguồn thu NSNN

Bên cạnh đó, luận văn cũng đã nêu ra được những tồn tại, bất cập và hạn chế trong việc triển khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử thời gian qua tại Việt Nam nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Thông qua đó, cùng với việc phân tích kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và khu vực Asean trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử, luận văn xây dựng các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế

đó và nâng cao hiệu quả của hải quan điện tử thành phố Hồ Chí Minh

b Trần Thị Duyên, luận văn thạc sỹ “Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại Chi Cục Hải quan Gia Thụy” Học Viện Tài Chính, 2010

Luận văn đã xây dựng được lý luận cơ bản về thủ tục hải quan điện tử và thủ tục hải quan điện tử đối với hàng kinh doanh và đã tìm hiểu được tình hình thực tiễn

về việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử đối với hàng kinh doanh tại Chi cục hải quan

Trang 5

Gia Thụy cùng với những vấn đề còn tồn tại Từ đó, đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại Chi Cục hải quan Gia Thụy

c Chu Quang Luân, luận văn thạc sỹ, “Hoàn thiện dịch vụ hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An”, năm 2011

Luận văn đã đưa ra cái nhìn khái quát với những vấn đề cơ bản của dịch vụ hải quan điện tử Phân tích, đánh giá thực trạng những thuận lợi, khó khăn, cũng như kết quả và những tồn tại, hạn chế trong việc triển khai dịch vụ HQĐT tại Cục Hải quan Nghệ An trong thời gian qua thông qua việc nghiên cứu các loại dịch vụ liên quan đến hải quan điện tử như: Tra cứu điện tử, tư vấn hải quan trực tuyến, giải đáp thắc mắc, thanh toán điện tử, khai hải quan điện tử, thông quan điện tử Khách thể là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hành khách, người khai hải quan, người nộp thuế, đại lý hải quan tại Cục Hải quan Nghệ An Từ đó xây dựng các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, hoàn thiện dịch vụ hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An, đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa của toàn ngành

Các tài liệu nói trên chủ yếu xuất phát từ quan điểm, góc nhìn của cơ quan Hải quan để xây dựng các giải pháp giúp cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan điện

tử một cách có hiệu quả nhất, đáp ứng yêu cầu cải cách hiện đại hóa hải quan Còn trong đề tài nghiên cứu này, luận văn xuất phát từ quan điểm, góc nhìn từ phía doanh nghiệp để có thể giúp cơ quan hải quan nhận thấy được nhu cầu và yêu cầu của doanh nghiệp đối với loại hình thủ tục này, nêu lên những hạn chế tồn tại trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại Hà Tĩnh khiến doanh nghiệp XNK chưa thực sự cảm thấy thuận lợi trong việc áp dụng Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp tháo gỡ vướng mắc, triển khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử có chất lượng hơn

6 Bố cục của đề tài:

- Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo đề tài này được bố cục làm

ba chương:

Chương I: Khái quát chung về thủ tục hải quan điện tử

Chương II: Thực trạng sử dụng thủ tục hải quan điện tử của các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hà Tĩnh những năm qua

Chương III: Giải pháp thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hà Tĩnh

Trang 6

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

1.1 Khái quát về Hải quan điện tử

1.1.1 Khái niệm về hải quan điện tử

Hải quan điện tử là một bước tiến quan trọng trong công cuộc cải cách hiện đại hóa ngành Hải quan Hải quan các nước tùy theo đặc điểm, mức độ phát triển của đất nước khi tiến hành triển khai hải quan điện tử để đưa ra quan điểm, mô hình riêng của mình trong việc xây dựng và phát triển về hải quan điện tử Trên thực tế, hiện nay chưa có quan điểm thống nhất về Hải quan điện tử Tuy nhiên có thể định nghĩa hải quan điện tử như sau:

Theo nghĩa hẹp: Hải quan điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin để xử lý thông quan tự động

Theo nghĩa rộng: Hải quan điện tử là một môi trường trong đó cơ quan hải quan

áp dụng các phương pháp, phương tiện, trang thiết bị hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin để điều hành hoạt động của mình và cung cấp các dịch vụ và thông quan hải quan cho người khai hải quan, phương tiện, hành khách xuất nhập cảnh và các bên có liên quan khác [18]

1.1.2 Đặc điểm của Hải quan điện tử

Hải quan điện tử là lĩnh vực xuất hiện từ lâu tại các quốc gia trên thế giới Đối với Việt Nam, chúng ta chỉ bắt đầu tiếp cận với lĩnh vực này vào năm 2005 Do sự khác biệt trong môi trường kinh tế - xã hội, các quốc gia có sự khác nhau trong việc thực hiện, triển khai hải quan điện tử Nhưng nhìn chung tại các quốc gia thì hải quan điện tử có những đặc điểm sau [17]:

Áp dụng công nghệ thông tin một cách tối đa, phù hợp với trình độ phát triển công nghệ thông tin của ngành và của quốc gia

Việc chia sẻ thông tin, dữ liệu với các bên liên quan được thực hiện qua các hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử

Cung cấp các dịch vụ thông quan điện tử cho người khai hải quan như dịch vụ khai hải quan điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, dịch vụ thông quan điện tử

Trong công tác kiểm tra, kiểm soát hải quan có sự hỗ trợ của các thiết bị hiện đại như máy soi container, hệ thống camera quan sát, giám sát, cân điện tử…

Trang 7

1.2 Khái quát về thủ tục Hải quan và thủ tục Hải quan điện tử

- Phương tiện vận tải bao gồm phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường sông xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh

Đối tượng làm thủ tụchải quan bao gồm: Hàng kinh doanh xuất nhập khẩu

Hàng tạm xuất nhập khẩu; Hàng tạm nhập tái xuất; Quà biếu; Hàng hóa xuất khẩu theo đường bưu điện; hàng hóa trên phương tiện vận tải; Hàng hóa xuất hập khẩu bằng phương thức thương mại điện tử; Hàng quá cảnh; Hàng chuyển cửa khẩu; Tài sản di chuyển; Hành lý của người xuất nhập cảnh; Hàng hóa của KCX, Kho ngoại quan, Khu mậu dịch tự do

Người tiếp nhận và thực thi nghiệp vụ hải quan là các nhân viên hải quan

1.2.1.2 Nguyên tắc thực hiện:

Thủ tục hải quan được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau [1]:

- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, phải được làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan, vận chuyển theo đúng tuyến đường, qua cửa khẩu theo quy định của Pháp luật

Trang 8

- Kiểm tra hải quan phải thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá việc chấp hành pháp luật của chủ hàng, mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan để đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

- Hàng hóa, phương tiện vận tải được thông quan sau khi đã làm thủ tục hải quan

- Thủ tục hải quan phải được thực hiện công khai, nhanh chóng, thuận tiện và theo đúng quy định của pháp luật

- Việc bố trí nhân lực, thời gian làm việc phải đáp ứng yêu cầu của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh

1.2.2 Thủ tục Hải quan điện tử:

1.2.2.1 Khái niệm:

Theo điều 3 thông tư số 222/2009/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện thí điểm thủ tục Hải quan điện tử: Thủ tục Hải quan điện tử là thủ tục Hải quan được thực hiện bằng các phương tiện điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải quan [8]

1.2.2.2 Quy trình các bước của thủ tục hải quan điện tử như sau:

Các bước thực hiện thủ tục Hải quan điện tử tại Việt Nam như sau [19.b]:

- Bước 1: Doanh nghiệp thực hiện khai tờ khai hải quan điện tử, tờ khai trị giá (nếu có) theo đúng tiêu chí và khuôn dạng chuẩn và gửi tới hệ thống tiếp nhận thông tin của cơ quan hải quan Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan trên cơ sở hồ sơ hải quan điện tử do doanh nghiệp tự khai báo và gửi tới trụ sở hải quan thông qua hệ thống mạng internet (điện tử), ra quyết định thông quan, quyết định kiểm tra hải quan dựa trên kết quả phân tích thông tin từ cơ sở dữ liệu của hải quan và các nguồn thông tin khác Máy tính sẽ tự động phân luồng hàng hóa (luồng xanh, luồng vàng, luồng đỏ) công chức hải quan sẽ kiểm tra và phê duyệt quyết định phân luồng đó rồi thông báo kết quả cho doanh nghiệp

+ Luồng xanh: đối với lô hàng mà cơ quan hải quan chấp nhận thông tin khai hải quan và tiến hành thông quan

+ Luồng vàng: đối với lô hàng cần kiểm tra hồ sơ giấy (kiểm tra chi tiết hồ sơ) + Luồng đỏ: đối với hàng phải kiểm tra thực tế hàng hóa

Trang 9

Theo quy định, hàng hóa xuất khẩu được khai điện tử chậm nhất là tám giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh; hàng hóa nhập khẩu phải được khai trước khi hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời gian 30 ngày kể từ ngày hàng hóa đến cửa khẩu; thông tin khai hải quan điện tử có giá trị làm thủ tục hải quan trong 15 ngày, kể

từ ngày cơ quan hải quan chấp nhận thông tin khai hải quan điện tử

- Bước 2: Doanh nghiệp nhận thông tin phản hồi từ cơ quan hải quan về số tờ khai hải quan, kết quả phân luồng và thực hiện một trong các nội dung sau:

+ Luồng Xanh: Miễn kiểm tra hồ sơ giấy và miễn kiểm tra thực tế hàng hóa

Lô hàng được cơ quan hải quan chấp nhận thông quan thì chuyển sang bước 4

+ Luồng vàng: Kiểm tra hồ sơ hải quan Nếu được yêu cầu sửa đổi, bổ sung

hồ sơ hải quan thì doanh nghiệp thực hiện theo yêu cầu và xuất trình hồ sơ giấy để cơ quan hải quan kiểm tra Nếu lô hàng được chấp nhận thông quan thì thực hiện tiếp bước 4, nếu cơ quan hải quan yêu cầu kiểm tra thực tế hàng hóa thì chuyển sang bước 3

- Bước 3: - Luồng đỏ: Doanh nghiệp xuất trình hồ sơ giấy và hàng hóa để cơ quan hải quan kiểm tra

- Bước 4: Doanh nghiệp in tờ khai trên hệ thống của mình để đi lấy hàng

Sơ đồ trình tự thủ tục Hải quan điện tử tại Việt Nam

( Nguồn: Tổng cục Hải quan)

Trang 10

1.2.2.3 Đặc điểm cơ bản của thủ tục Hải quan điện tử:

Thủ tục hải quan điện tử có một số đặc điểm cơ bản như sau [19.c]:

a Thủ tục hải quan được thực hiện bằng các phương tiện điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải quan, hạn chế tối đa sự can thiệp của con người, đảm bảo sự nhanh chóng, thuận tiện, chính xác

b Hồ sơ hải quan điện tử bảo đảm sự toàn vẹn, có khuôn dạng chuẩn và có giá trị pháp lý như hồ sơ hải quan giấy Xử lý hồ sơ hải quan thông qua phần mềm xử lý

dữ liệu tờ khai

c Thực hiện các quy định về việc người khai hải quan được tự khai, tự nộp thuế

và các khoản thu khác Áp dụng hình thức nộp hàng tháng đối với lệ phí làm thủ tục hải quan Mục đích của các quy định này nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc khai báo của người khai điện tử, khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh, chấp hành tốt pháp luật hải quan

d Để được tham gia thủ tục hải quan điện tử thì các doanh nghiệp phải đăng

ký và được cơ quan Hải quan chấp nhận tham gia thủ tục hải quan điện tử, cấp mật mã, mật khẩu tham gia hệ thống, nối mạng với máy tính với Hải quan hoặc sử dụng dịch

vụ của Đại lý làm thủ tục Hải quan điện tử

e Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan trên cơ sở hồ sơ hải quan điện

tử do doanh nghiệp gửi tới Trên cơ sở áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro, máy tính sẽ tự phân luồng xanh, vàng, đỏ, sau đó cơ quan hải quan duyệt phân luồng, quyết định thông quan dựa trên hồ sơ điện tử do doanh nghiệp khai, thông báo số tờ khai

để doanh nghiệp in ra mang đến các cửa khẩu cảng – nơi có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu làm thủ tục thông quan hàng hóa hoặc ra quyết định kiểm tra hải quan dựa trên kết quả phân tích thông tin từ cơ sở dữ liệu của hải quan và các nguồn thông tin khác

f Việc kiểm tra sau thông quan do Chi cục Hải quan điện tử thực hiện trên

cơ sở phân tích, xử lý thông tin theo kỹ thuật quản lý rủi ro từ cơ sở dữ liệu, chứng

từ giấy thuộc bộ hồ sơ hải quan và các thông tin của các bộ phận nghiệp vụ khác, của

cơ quan, cá nhân và tổ chức hải quan các nước

g Áp dụng thủ tục hải quan điện tử không phải là thôi hậu kiểm mà chính là việc chuyển từ hình thức tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên các quy định về quản lý rủi ro, giúp cho Hải quan và Doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian cũng như

Trang 11

giảm được chi phí trong quá trình thông quan, nếu doanh nghiệp tiến hành thông quan

có vi phạm sẽ được xử lý ở khâu kiểm tra sau thông quan

1.2.2.4 Các chức năng của thủ tục hải quan điện tử:

Áp dụng mô hình thủ tục hải quan điện tử vào thực tế cho thấy rất nhiều chức năng, thuộc tính ưu việt của mô hình này Sau đây là một số chức năng cơ bản của hải quan điện tử [17, 18]:

- Chức năng khai hải quan điện tử:

-Chức năng thanh toán điện tử:

- Chức năng thông quan điện tử:

- Chức năng kết nối, trao đổi thông tin giữa hải quan với hải quan, giữa hải quan với các Bộ, Ban, Ngành

1.2.2.5 Một số thuật ngữ trong thủ tục hải quan điện tử [8]:

- Phương tiện điện tử: là toàn bộ các phương tiện có liên quan đến công nghệ điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự

- Thông điệp dữ liệu điện tử hải quan: Là thông tin được tạo ra, gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử theo định dạng chuẩn để thực hiện thủ tục hải quan điện tử

- Hồ sơ hải quan điện tử bao gồm tờ khai hải quan điện tử và các chứng từ theo quy định đi kèm tờ khai, chứng từ hải quan điện tử có giá trị để làm thủ tục hải quan điện tử như chính chứng từ đó thể hiện ở dạng văn bản giấy

- Chứng từ hải quan điện tử: được tạo thành từ các thông điệp dữ liệu theo một tiêu chuẩn được quy định thống nhất được sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan điện

tử bao gồm tờ khai hải quan điện tử, bản lược khai điện tử, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, hóa đơn thương mại và các chứng từ điện tử khác Chứng từ hải quan điện

tử có giá trị để làm thủ tục hải quan điện tử như chính chứng từ đó thể hiện ở dạng văn bản giấy

- Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan: Là hệ thống thông tin do Tổng cục Hải quan quản lý tập trung, thống nhất, sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan điện tử

Hệ thống do Tổng cục hải quan quản lý

- Khai hải quan điện tử: là việc tạo, gửi, nhận, lưu trữ thông tin liên quan đến việc xuất nhập khẩu được khai báo hải quan bằng phương tiện điện tử

Trang 12

- Hệ thống khai hải quan điện tử: Là hệ thống thông tin do người khai hải quan quản lý, sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan điện tử

- Tờ khai hải quan điện tử: Là chứng từ hải quan điện tử bao gồm các tiêu thức

do Bộ Tài Chính quy định để sử dụng làm thủ tục hải quan điện tử, làm căn cứ cho các hoạt động quản lý Nhà nước khác có liên quan

- Người khai hải quan điện tử: là những người trực tiếp khai hải quan điện tử, bao gồm: Chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Người được chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ủy quyền theo quy định của Luật doanh nghiệp; Tổ chức được chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ủy thác

- Chữ ký điện tử: Là dấu hiệu ở dạng từ được tạo ra bởi một phương tiện điện tử

đi kèm với thông điệp điện tử để xác định người sở hữu thông điệp đó

- Trung tâm truyền nhận chứng từ hải quan điện tử: là nơi đảm bảo cung cấp các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, kết nối trao đổi thông tin điện tử giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khai báo hải quan và cơ quan hải quan

- Lệnh thông quan điện tử: Là lệnh do hệ thống xử lý dữ liệu hải quan thông báo cho phép hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh sau khi đã hoàn thành các thủ tục hải quan cần thiết

- Đưa hàng hóa về bảo quản: Là việc cơ quan hải quan cho phép hàng hoá đang trong quá trình làm thủ tục thông quan được đưa ra khỏi khu vực giám sát hải quan khi

đã đáp ứng các điều kiện về giám sát hải quan do Tổng cục Hải quan quy định hoặc giao cho người khai hải quan tự bảo quản nguyên trạng hàng hóa chờ thông quan 1.2.2.6 Căn cứ pháp lý của thủ tục Hải quan điện tử:

- Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật số 42/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan

- Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005

và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH10 ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012

Trang 13

- Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 về giao dịch điển tử trong lĩnh vực tài chính

- Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 Về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử

- Quyết định số 50/2005/ QĐ-BTC ngày 19/7/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính về Quy trình thực hiện thí điểm thủ tục Hải quan điện tử đối với hàng hóa Xuất khẩu, nhập khẩu

- Quyết định số 103/2009/QĐ-TTG ngày 12/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ

- Nghị định số 87/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại

Ngoài ra, còn có một số văn bản liên quan đến quản lý chất lượng dịch vụ công, đó là:

- Nghị quyết 38-CP ngày 4/5/1994 của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức

- Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” ở các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương được ban hành theo

- Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/6/2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước

- Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành phê duyệt Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọi tắt là Đề án 30)

- Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính

Trang 14

nhà nước ở địa phương thay thế cho Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg nhằm hoàn thiện hơn nữa việc thực hiện cơ chế “một cửa” cho phù hợp với từng loại thủ tục hành chính

1.2.2.7 Lợi ích của việc áp dụng Hải quan điện tử:

a) Đối với Hải quan:

Việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử đem lại nhiều lợi ích cho cơ quan hải quan có thể kể đến như sau [19.n]:

- Quy trình thủ tục hải quan điện tử đơn giản, hài hòa, thống nhất và phù hợp với chuẩn mực quốc tế Đây là yếu tố rất quan trọng góp phần giảm thời gian thông quan, chi phí và thủ tục hành chính, giấy tờ cho doanh nghiệp, giảm thời gian đi lại khai báo, doanh nghiệp được chủ động khai báo, lựa chọn thời gian, địa điểm khai báo thích hợp, không phải chờ đợi đầy đủ chứng từ, làm quen với tác phong làm việc mới, tăng sức cạnh tranh và tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, thống nhất và hấp dẫn cho doanh nghiệp

- Thủ tục hải quan điện tử giúp nâng cao chất lượng cán bộ hải quan với trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ cao và tinh thần phục vụ doanh nghiệp văn minh, lịch sự,

có kỷ cương kỷ luật và trung thực, giảm tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ hải quan, giảm

tỷ lệ kiểm tra thực tế theo chủ quan của công chức hải quan Việc này sẽ làm giảm phiền hà, sách nhiễu cho doanh nghiệp

- Với việc thực hiện thủ tục hải quan hiện đại, trong thời gian tới, doanh nghiệp Việt Nam sẽ dễ dàng tiếp cận và thuận lợi hơn trong việc thực hiện thông lệ, chuẩn mực quốc tế Đây là một yếu tố rất quan trọng khi doanh nghiệp có quan hệ hợp tác làm ăn với nước ngoài và mở rộng thị trường quốc tế

b) Đối với doanh nghiệp:

Việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử đã mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như sau [19.n]:

- Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử sẽ giúp giảm chi phí và tiết kiệm thời gian và nhân lực cho doanh nghiệp do doanh nghiệp chỉ cần khai thông tin tờ khai điện

tử và gửi đến cơ quan hải quan, không phải đến cơ quan hải quan cửa khẩu để làm thủ tục đăng ký tờ khai hải quan (khai báo hải quan) Nếu hàng hoá thuộc luồng xanh (hàng hoá miễn kiểm tra thực tế) thì doanh nghiệp chỉ cần hoàn thành thủ tục qua mạng và thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu Đối với hàng hoá thuộc luồng vàng và

Trang 15

đỏ thì thủ tục cũng không quá phức tạp Như vậy, doanh nghiệp sẽ chủ động được trong việc giao nhận hàng hóa trên cửa khẩu, giúp giảm chi phí và tiết kiệm thời gian

và nhân lực cho doanh nghiệp, đồng thời tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp

- Với việc các quy định, chính sách liên quan được công bố trên webiste Hải quan Việc này giúp cho doanh nghiệp chủ động trong các hoạt động xuất nhập khẩu của mình, trong đó làm thủ tục hải quan

- Đối với những doanh nghiệp là thương nhân ưu tiên đặc biệt còn được hưởng những lợi ích như được sử dụng tờ khai hải quan tạm để giải phóng hàng; được hoàn thành thủ tục thông quan trên cơ sở sử dụng tờ khai điện tử một lần/01 tháng cho tất cả hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thường xuyên với cùng một đối tác, cùng một loại hình xuất khẩu, nhập khẩu, đã được giải phóng hàng theo các tờ khai tạm; được kiểm tra hồ

sơ hoặc kiểm tra thực tế hàng hoá tại trụ sở của thương nhân ưu tiên đặc biệt hoặc tại địa điểm khác do thương nhân ưu tiên đặc biệt đăng ký, được cơ quan hải quan chấp nhận; được thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong thời gian 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần

1.2.2.8 Những điểm khác biệt giữa thủ tục hải quan điện tử và thủ tục Hải quan truyền thống

Trang 16

Có thể tóm lược sự khác biệt giữa thủ tục hải quan truyền thống với thủ tục hải quan điện tử như sau:

Sự khác biệt giữa thủ tục hải quan truyền thống và thủ tục hải quan điện tử

Nội dung Thủ tục hải quan truyền

có giá trị như hồ sơ thông thường nếu đáp ứng các điều kiện nhất định

Người khai có thể khai báo bất cứ ở đâu nếu có mạng internet, sau đó gửi các thông tin qua mạng Internet đến hệ thống thông tin tiếp nhận điện tử của

cơ quan hải quan

Cách thức

xử lý thông

tin

Trực tiếp xử lý từng chứng

từ kèm theo tờ khai hải quan,

so sánh, đối chiếu, kiểm tra tính chính xác, thống nhất của nội dung khai báo

Hệ thống thủ tục hải quan điện tử trực tiếp kiểm tra, đối chiếu một cách tự động (hoặc bán tự động) đối với các chỉ tiêu thông tin

Xử lý thông tin điện tử, phản hồi trực tiếp vào hệ thống (CNTT) khai báo của người khai hải quan bằng các thông điệp điện tử

Trang 17

Như vậy, thủ tục hải quan điện tử không phải là một ưu đãi về thuế hay về thủ tục mà là thay đổi phương pháp quản lý từ thủ công quản lý các lô hàng xuất nhập khẩu sang quản lý bằng các trang thiết bị hiện đại Với cách làm này, cơ quan hải quan

có thể chuyển từ việc kiểm tra, kiểm soát từng lô hàng sang quản lý toàn bộ thông tin

về quá trình hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Điều đó không chỉ góp phần tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại và hạn chế thất thu thuế, mà còn góp phần giảm sự ách tắc trong quá trình làm thủ tục thông quan hàng hóa khiến cho hàng hóa phải bị lưu kho tại cảng hoặc cửa khẩu, tốn thêm chi phí, thời gian, còn cơ quan Hải quan cũng phải vất vả khi tiến hành thông quan thủ công một khối lượng hàng hóa khổng lồ như hiện nay

1.3 Sự cần thiết của việc áp dụng thủ tục Hải quan điện tử

1.3.1.Khối lượng công việc cần được thực hiện tăng lên nhanh chóng

Theo thống kê của Tổng Cục Hải quan Việt Nam, tính đến hết tháng 12 năm

2012 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt gần 228,37 tỷ USD, tăng 12,1

so với kết quả thực hiện của năm 2011

Biểu đồ 1 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại hàng hoá

của Việt Nam giai đoạn 2005-2012

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Theo số liệu của Tổng Cục Hải quan thì tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm

2012 của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt mức 60,04

Trang 18

tỷ USD, tăng 33,8 so với năm trước và chiếm 55,9 tổng trị giá xuất khẩu của cả nước, và tổng kim ngạch nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp này trong năm 2012 đạt 59,94 tỷ USD, tăng 22,7 so với năm 2011 và chiếm 52,7 tổng trị giá nhập khẩu của Việt Nam

Biểu đồ 2 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và cán cân thương mại theo

tháng của 7 tháng năm 2012 và 7 tháng năm 2013

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Theo số liệu thống kê trên thì khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng mạnh, cùng với đó, khối lượng công việc của ngành Hải quan cũng trở nên lớn hơn, và nếu thủ tục Hải quan được thực hiện bằng phương thức truyền thống thì sẽ tốn nhiều thời gian và công sức, chi phí… để có thể hoàn thành được công việc của ngành Trước vấn đề sử dụng thủ tục Hải quan điện tử trở nên cần thiết hơn bao giờ hết

1.3.2 Yêu cầu hội nhập và xu hướng phát triển của Hải quan thế giới

Có thể nói rằng trong những năm đầu của thế kỷ XXI Hải quan thế giới đã phải đối mặt với yêu cầu rất mâu thuẫn ngày càng tăng từ xu thế toàn cầu hóa thương mại

Trang 19

Một mặt, Hải quan phải làm tốt nhiệm vụ đảm bảo an ninh và kiểm soát hiệu quả dây chuyền cung ứng quốc tế, mặt khác, tạo thuận lợi hơn nữa cho thương mại hợp pháp Thế kỷ XXI cũng đã đặt ra những thách thức rất lớn đối với Hải quan thế giới đó là sự toàn cầu hóa thương mại, các nguyên tắc quản lý mới và sự gia tăng các mối nguy hiểm xuyên quốc gia Trong bối cảnh đó, xu hướng phát triển của Hải quan thế giới hiện nay là ứng dụng Công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý để hướng tới mục tiêu xây dựng và thực hiện một bộ chính sách, thủ tục tích hợp đảm bảo an ninh và an toàn cũng như tạo thuận lợi cho thương mại và nguồn thu quốc gia [h] Hiện nay hầu hết hải quan các nước trên thế giới đều thực hiện ứng dụng hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu nhằm xây dựng mục tiêu mà tổ chức Hải quan thế giới WCO đã đề ra tại phiên họp hội đồng tháng 6 năm 2008 là “ Hải quan thế kỷ XXI – tăng cường sự tăng trưởng và phát triển thông qua thuận lợi hóa thương mại và

an ninh biên giới” và mục tiêu “tăng cường tính chuyên nghiệp của cơ quan hải quan” được WCO nhấn mạnh tại hội nghị lần thứ 8 được tổ chức tại Saint Petersburg, Liên Bang Nga tháng 9 năm 2013 vừa qua Vì vậy, khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới, thương mại quốc tế phát triển thì việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử là một điều tất

yếu [19.k]

1.3.3 Sự phát triển của thương mại điện tử

Có thể nói rằng trong quá trình phát triển công nghệ thông tin, thương mại điện

tử (TMĐT) đang đóng một vai trò thiết yếu và vô cùng quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới và trong thời kỳ hội nhập của đất nước - theo nhận định của các chuyên gia kinh tế - thì sự phát triển của TMĐT trở thành một xu thế tất yếu Sự ra đời của TMĐT đã làm cho mô hình kinh doanh trên toàn cầu thay đổi đáng kể TMĐT đã trở thành một công cụ quan trọng cho thương mại quốc tế và đang có xu hướng phát triển rất nhanh cùng với mức độ cạnh tranh của loại hình này trở nên ngày càng gay gắt

Năm 2003, theo báo cáo của Bộ Thương mại, Việt Nam "mới bắt đầu đi những bước đầu tiên trên con đường tơ lụa mới" Năm 2006 là năm đầu tiên lĩnh vực này được pháp luật thừa nhận chính thức Sau năm năm triển khai kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT (2006-2010), nước ta đã có 60 DN lớn áp dụng TMĐT (70 thiết lập website, 95 nhận đơn đặt hàng qua các phương tiện điện tử, 96 sử dụng thư điện tử

Trang 20

thường xuyên cho mục đích kinh doanh); 80 DN vừa và nhỏ; 10 hộ gia đình đã tham gia TMĐT và ứng dụng TMĐT trong mua sắm hàng hóa [15]

Chính phủ đã xây dựng kế hoạch phát triển TMĐT giai đoạn 2011-2015 với mục tiêu lớn hơn và tầm nhìn xa hơn, đó là TMĐT phải được sử dụng phổ biến và đạt được mức tiên tiến trong các nước ASEAN, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và quốc gia

Với sự phát triển của loại hình kinh doanh thương mại này, đòi hỏi công tác quản lý, kiểm tra, giám sát của cơ quan Hải quan phải có sự thay đổi thích nghi Trong

xu hướng hội nhập kinh tế thế giới, sự thay đổi thích nghi đó phải đơn giản, hài hòa, gọn nhẹ, giảm thiểu tối đa chi phí và thời gian trong công việc, và việc sử dụng thủ tục Hải quan điện tử ra đời đã đáp ứng được yêu cầu nói trên của các quốc gia

1.3.4 Do yêu cầu nhiệm vụ của ngành Hải quan

Đứng trước công cuộc đổi mới, hội nhập ngày càng sâu rộng của đất nước đòi hỏi các lĩnh vực quản lí Nhà nước, trong đó có Hải quan, phải đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào hoạt động quản lý nhà nước của mình để vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa bảo đảm hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước về hải quan Ðồng thời, phải tiếp tục cải cách, hiện đại hóa, đổi mới hơn nữa, nâng cao năng lực cán bộ, công chức và cải thiện cơ sở pháp lý, cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, v.v Một trong những bước đi quan trọng của ngành Hải quan thời gian qua là công tác cải cách, hiện đại hóa Hải quan, trong đó việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử được xác định là trọng tâm của vấn đề này

Tại các quốc gia Hải quan là lực lượng đứng ở các cửa khẩu, các địa đầu biên giới, không chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ thu thuế xuất nhập khẩu, mà còn là công cụ của Nhà nước để kiểm tra, kiểm soát xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, trực tiếp giám sát việc thực hiện các thoả thuận ưu đãi thương mại của Chính phủ với bên ngoài, qua

đó phát hiện, ngăn chặn và chống buôn lậu, gian lận thương mại, góp phần bảo vệ xã hội và cộng đồng [19.f] Trong bối cảnh nguồn nhân lực của ngành Hải quan có hạn

mà thủ đoạn lừa đảo của các đối tượng ngày càng tinh vi, đứng trước các vấn đề trên đòi hỏi ngành Hải quan phải có sự cải cách và hiện đại hóa Hải quan Trong Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 448/QĐ-TTg ngày 25-3-2011) cũng đã xác định rõ mục tiêu: Xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan

Trang 21

đơn giản, hài hòa đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin,

xử lí dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lí rủi ro, đạt trình độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á Xây dựng lực lượng Hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia,

an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức,

kế hoạch phát triển công nghệ thông tin quốc gia đã được xây dựng như: Kế hoạch tin học hóa quốc gia (1980-1985); Kế hoạch công nghệ thông tin quốc gia (1986 -1991); Chương trình đảo quốc thông minh (1992 – 2000); Chương trình Infocomm thế kỷ 21 (2000-2003) Như vậy có thể nói rằng Singapore là một trong những các quốc gia tiên phong trong việc đầu tư để xây dựng CPĐT [19.a]

Song song với việc đầu tư xây dựng CPĐT, suốt thời gian qua Singapore cũng rất chú trọng công tác hiện đại hóa ngành Hải quan và đã xác định rằng cần không

Trang 22

ngừng tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức để áp dụng công nghệ mới trong chiến lược tự động hóa thủ tục hải quan Hệ thống tự động hóa của Hải quan Singapore được xây dựng và vận hành theo mô hình xử lý tập trung, gồm 2 hệ thống chính là hệ thống front-end và hệ thống back-end Hệ thống front-end sử dụng mạng TradeNet do Công ty CrimsonLoigc xây dựng và quản lý vận hành Hệ thống mạng Trade Net là hệ thống trao đổi dữ liệu quốc gia để xử lý các thông tin và chứng từ giữa các bên tham gia hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử, được xây dựng thành công vào tháng 12 năm 1986 và đến năm 1989 hệ thống này chính thức đi vào hoạt động tại Singapore TradeNet được xây dựng nhằm mục đích giảm thời gian, chi phí cho việc trao đổi và

xử lý các thông tin dữ liệu giữa các thành viên trong cộng đồng thương mại và các cơ quan Chính Phủ Bên cạnh đó, hệ thống này còn cung cấp dịch vụ khai báo Hải quan điện tử, rút ngắn thời gian xử lý số liệu, giảm bớt lượng chứng từ trong giao dịch và giải phóng hàng trong thời gian nhanh nhất Các đối tượng tham gia hệ thống TradeNet bao gồm: Hải quan, cảng vụ, sân bay, cơ quan vận tải bằng đường biển, cơ quan vận tải bằng đường hàng không, trong đó hệ thống của Hải quan phải kết nối với các cơ quan liên quan để trao đổi thông tin nhằm kiểm tra thông tin khai báo trên tờ khai của doanh nghiệp Hệ thống tự động hóa của Hải quan Singapore là một mắt xích trong một hệ thống thương mại điện tử tổng thể, liên quan đến nhiều cơ quan quản lý khác nhau Các giao dịch của Hải quan là các giao dịch điện tử sử dụng chứng chỉ số được thống nhất quản lý và cấp phát bởi Chính phủ Singapore và theo Luật Giao dịch điện tử của Singapore [19.j]

b) Thái Lan:

Năm 1998 Hải quan Thailand đã thực hiện chiến lược hiện đại hóa Hải quan bằng việc triển khai thí điểm hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) để kiểm soát tất cả các hoạt động thương mại Hải quan bằng cách sử dụng hệ thống máy tính hiện đại để thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu Hệ thống này đã được mở rộng thành Hải quan điện tử đối với hàng nhập khẩu và được triển khai đầy đủ tại các cảng biển, sân bay trên toàn quốc vào năm 2000

Để thực hiện chiến lược đã đề ra, trước tiên Thái Lan đã đầu tư để phát triển

cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin, xây dựng hai trung tâm dữ liệu tại văn phòng chính và cảng biển Bangkok Seaport, trang bị hơn 2000 trạm làm việc Hải quan

Trang 23

Thái Lan đã áp dụng hệ thống quản lý tự động Hải quan đối với hoạt động xuất khẩu tại các cảng biển và sân bay, nhằm giảm tối đa số lượng hồ sơ thủ tục và rút ngắn thời gian thông quan [16]

Trong những năm gần đây, Hải quan Thái Lan chuyển trọng tâm từ trao đổi dữ liệu điện tử EDI để sử dụng hệ thống mở sẽ cho phép trao đổi thông tin điện tử bằng nhiều phương tiện khác nhau với tất cả các khách hàng của mình (cả mậu dịch và phi mậu dịch), các đối tác (các cơ quan ban ngành khác thuộc chính phủ, song phương và

đa phương với các nước) và công chức Dự án này yêu cầu thiết kế lại của tất cả các ứng dụng máy chủ hiện có của khách hàng để sử dụng một chương trình dựa trên Web,

áp dụng ebXML (sử dụng Ngôn ngữ eXtensible Markup) làm tiêu chuẩn Để xây dựng trên sự thành công trước đó, Hải quan Thái Lan đã thực hiện một thế hệ mới của hệ thống máy tính tự động hóa Hải quan, được gọi là "Hải quan điện tử" Nếu chương trình cũ là trao đổi dữ liệu điện tử EDI, các bước như thẩm định, phân loại và đánh giá mặt hàng, doanh nghiệp đã được xử lý bởi các cán bộ Hải quan thì khi chuyển sang chương trình Hải quan điện tử đã loại bỏ bất kỳ sự can thiệp của công chức, cán bộ hải quan, đó là tất cả các thủ tục từ nộp tờ khai Hải quan, quyết định phân luồng, kiểm tra thực tế hàng hóa, phân công kiểm hóa…được xử lý một cách tự động

c) Philippin:

Hải quan Philippin đã áp dụng Công nghệ thông tin trong công tác quản lý Hải quan vào năm 1990 và đến năm 1995 mới tiến hành khảo sát và xây dựng kế hoạch công nghệ thông tin nhằm mục đích cải cách tin học hóa hệ thống hải quan để phục

vụ chiến lược tự động hóa quy trình thủ tục Hải quan và đến năm 1999 thì hệ thống vận hành hải quan tự động ACOS (Automated Customs Operations System) của Hải quan Philippin cơ bản hoàn thành với sự hỗ trợ về tài chính của Ngân hàng Thế giới (WB) [12]

Sau khi hoàn thành xây dựng hệ thống ACOS đã được Hải quan Philippin thực hiện thí điểm tại một số cảng đối với mặt hàng xuất khẩu, sau đó triển khai áp dụng với các mặt hàng nhập khẩu ACOS cho phép thực hiện các thủ tục hải quan từ lúc khai báo hải quan đến khi xuất hàng ra khỏi kho cảng thông qua 6 hệ thống phần mềm,

đó là:

- Hệ thống khai hồ sơ hải quan điện tử (Electronic Manifest System)

Trang 24

Với hệ thống này, doanh nghiệp có thể chuyển bộ chứng từ dưới dạng số hoá tới Hải Quan theo mẫu có s n qua thiết bị SITA (Societe Internationale de Telecommunications Aeronautiques) nếu hàng hoá đó được vận chuyển bằng đường hàng không và qua đĩa mềm hoặc email nếu là đường biển thay vì phải đến trụ sở hải quan để xuất trình hồ sơ như thông thường

- Hệ thống mã hoá dữ liệu đầu vào (Electronic Entry Encoding System)

Với hệ thống này, doanh nghiệp có các lựa chọn sau để mã hóa dữ liệu nhằm xử

+) Tự làm tại văn phòng của mình thông qua hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử EDI (Electronic Data Interchange) EDI không kết nối trực tiếp với Cục Hải Quan mà thông qua mạng liên lạc thương mại VANs (commercial communications networks of Value-Added Network) Mạng này hoạt động 24/24 giờ và 7/7 ngày

- Hệ thống tính thuế(Assessment Module)

Sau khi các dữ liệu đã được nhập vào hệ thống vận hành hải quan tự động, hệ thống tính thuế sẽ tự động tính toán số thuế và phí mà doanh nghiệp ngoại thương phải nộp

- Hệ thống thu thuế và phí (Collection system)

Sau khi các thủ tục trên đã hoàn tất, hệ thống thu thuế và phí sẽ vào cuộc, , bao quát toàn bộ các khâu của quá trình thu thuế, phí: từ lúc doanh nghiệp nộp thuế trước tại một ngân hàng được ủy quyền tới lúc những số liệu này được đối chiếu với

số liệu mà hệ thống đánh giá đưa ra, cũng như khi khoản thuế và phí được quyết định chuyển tới kho bạc nhà nước

- Hệ thống chọn lọc (Selectivity System)

Một khâu quan trọng trong qui trình thủ tục hải quan là kiểm tra hàng hoá và chứng từ Nhờ có hệ thống chọn lọc công việc kiểm tra của cán bộ hải quan Philippines đã giảm đi rất nhiều Hệ thống này đối chiếu các dữ liệu đã được nhập vào với 18 tiêu chí kiểm tra Kết quả là cán bộ hải quan sẽ có một danh sách bao gồm

Trang 25

những chuyến hàng được thông quan mà không phải kiểm tra thực tế hàng hoá, các chuyến hàng chỉ phải kiểm tra chứng từ mà không cần phải kiểm tra hàng hoá và những chuyến hàng phải kiểm tra trên cả hai phương diện

- Hệ thống trực tuyến giải phóng hàng khỏi cảng

Sau khi kiểm tra, cơ quan hải quan phải ra quyết định có cho hàng hoá thông quan hay không và đuợc hỗ trợ bởi hệ thống trư c tuyến giải phóng hàng khỏi cảng (On-line Release System)

Để thực hiện cải cách hệ thống hải quan như đã nêu trên, Philippines đã phải

bỏ ra gần 27 triệu USD, phần lớn là chi phí cho phần cứng và phần mềm và đổi lại đất nước này đã gặt hái được những thay đổi rõ rệt về chất lượng dịch vụ hải quan với “ba không” – không giấy tờ, không xếp hàng, không tiền mặt, các doanh nghiệp

có thể giảm chi phí đáng kể về thủ tục hải quan và Chính phủ có thể đẩy lùi những tiêu cực trong ngành Hải quan và tối đa hóa doanh thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu [13] Đi cùng với việc xây dựng hệ thống tự động hóa, hải quan Philippin cũng xây dựng các văn bản pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử và đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng sự đổi mới trong công tác quản

lý của Hải quan

d) Hàn Quốc

Hiện nay hải quan Hàn quốc được đánh giá là cơ quan hải quan hiện đại với

100 hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện thông qua thủ tục hải quan điện

tử Các hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử của Hải quan Hàn quốc đã được kết nối với hầu hết các đơn vị có liên quan như hãng tàu, ngân hàng, cơ quan quản lý chuyên ngành để cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý hải quan và thông quan hàng hoá Ở Hàn Quốc, Hải quan là cơ quan tiên phong ứng dụng hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) ra cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc đã bắt đầu xây dựng hệ thống thông quan tự động vào năm 1980 và bắt đầu ứng dụng hệ thống này đối với mặt hàng xuất khẩu vào năm 1994 và đến năm 1996 thì mặt hàng nhập khẩu được ứng dụng hệ thống này và hệ thống EDI chính thức được Hàn Quốc áp dụng cho công tác quản lý hàng hóa kho ngoại quan và xử lý các vấn đề liên quan đến công tác hoàn thuế vào năm 1997 Có thể nói rằng chính nhờ việc áp dụng các thành tựu kỹ thuật hiện đại như công nghệ thông tin, kỹ thuật quản lý rủi ro Hải quan Hàn Quốc

đã đảm đương một cách có hiệu quả cho các hoạt động kinh tế xuất nhập khẩu cho một

Trang 26

nền kinh tế đứng thứ 12 trên thế giới vào năm 2012 theo bảng xếp hạng của ngân hàng thế giới WB được công bố trong tháng 7 năm 2013 [19.l]

Hải quan Hàn quốc khi thực hiện và triển khai các chương trình hiện đại hoá đều dựa rất nhiều vào nội lực kết hợp với chặt chẽ với các công ty tin học trong nước như Samsung, KT Net Cũng như hải quan các nước, hải quan Hàn quốc cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện đại hoá, như: Gặp nhiều rủi ro vì một số doanh nghiệp lợi dụng chính sách tạo điều kiện thuận lợi trong làm thủ tục hải quan điện tử của hải quan, sự ngăn cản chống đối của một số bộ phận nhân viên không muốn hiện đại hoá vì mục đích cá nhân, bất đồng về chức năng, nhiệm vụ của các đơn

vị trong Tổng cục, sự phối hợp với các cơ quan chính phủ khác trong quá trình thực hiện

Để giải quyết vấn đề nêu trên, Hải quan Hàn Quốc đã đưa ra nhiều biện pháp khắc phục như: trong giai đoạn đầu chọn lựa những doanh nghiệp tin cậy tham gia việc sử dụng các chứng từ điện tử, hỗ trợ về kỹ thuật cho các cơ quan liên quan nhằm đảm bảo khả năng điện tử hoá giữa các cơ quan cân bằng nhau, xây dựng các chính sách và công cụ để đảm bảo an ninh thông tin thương mại của doanh nghiệp

Với sự quyết tâm cao, sự ủng hộ của các bên có liên quan, Hải quan Hàn Quốc

đã xây dựng được hệ thống tự động hóa của Hàn quốc vận hành theo mô hình tập trung Toàn bộ hệ thống được vận hành tập trung tại một trung tâm xử lý dữ liệu đặt tại

cơ quan Hải quan Trung ương Deajoon được vận hành 24/24 Các địa điểm làm thủ tục hải quan (Customs House) kết nối với hệ thống thông qua mạng diện rộng và chạy chương trình tại trung tâm xử lý để thực hiện thủ tục hải quan điện tử Hệ thống tự động hóa của Hải quan Hàn quốc kết nối với đơn vị truyền nhận chứng từ điện tử (hay còn gọi là VAN) KT-NET để trao đổi chứng từ điện tử với các bên liên quan như người vận tải, giao nhận, ngân hàng, chủ hàng, kho ngoại quan, cơ quan quản lý nhà nước quản lý chuyên ngành để cấp giấy phép, cảnh sát, hải quan các nước Hệ thống được thiết kế dựa trên công nghệ trao đổi dữ liệu điện tử EDI ( ứng dụng chuẩn UN/EDIFACT nhưng có sửa đổi lại cho phù hợp với yêu cầu đặc thù của hải quan Hàn quốc) Ngoài ra để đảm bảo sự vận hành thông suốt của hệ thống trong trường hợp có thảm họa (động đất, khủng bố ) Hải quan Hàn quốc xây dựng thêm một trung tâm dự phòng, phục hồi hệ thống được trang bị đầy đủ thiết bị như trung tâm chính tại Deajoon và vận hành song song với hệ thống chính [19.g]

Trang 27

1.4.2.Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Hải Quan Việt Nam

Thủ tục Hải quan điện tử được thực hiện tại rất nhiều quốc gia trên thế giới

và trong khu vực Asean, đã đạt được nhiều kết quả khả quan với những đặc thù riêng Có thể nói đây là những kinh nghiệm quý báu để Hải quan Việt Nam triển khai thủ tục Hải quan điện tử của mình

1.4.2.1 Mô hình thực hiện

Mô hình thủ tục Hải quan điện tử của các nước đều gồm 3 thành phần

- Người khai báo: Cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, đại lý Hải quan

- Cơ quan hay tổ chức truyền nhận dữ liệu (VAN): Là tổ chức trung gian kết nối khách hàng với cơ quan Hải quan

- Cơ quan Hải quan: Để triển khai thủ tục Hải quan điện tử được tốt, hầu hết các nước đều lựa chọn phương án thiết lập các Trung tâm dữ liệu Trung ương và các Hải quan vùng

1.4.2.2 Phương pháp thực hiện

Hầu hết các nước đều triển khai thí điểm các mô hình trước khi chính thức

áp dụng thực hiện Trong thời gian thí điểm, Thái Lan đã lựa chọn các doanh nghiệp chấp hành tốt Luật Hải Quan và thí điểm tại hệ thống sân bay Bangkok Đối với Malaysia, trước khi triển khai trên toàn quốc, quốc gia này cũng đã thí điểm tại một khu vực với tất cả loại hình xuất nhập khẩu và ở Philippin, mô hình

đã được thí điểm với mặt hàng xuất khẩu tại một cảng, sau đó là đối với mặt hàng nhập khẩu trước khi áp dụng rộng rãi ở các cảng khác

1.4.2.3 Mức độ thực hiện

Việc thực hiện dịch vụ Hải quan điện tử có thể ở 3 mức độ khác nhau:

- Các chứng từ khai điện tử thay thế toàn bộ hồ sơ giấy phải nộp (Singapore, Hàn quốc)

- Các chứng từ khai điện tử không thay thế hoàn toàn cho bộ hồ sơ giấy, người khai vẫn có trách nhiệm nộp hồ sơ khai điện tử để làm thủ tục thông quan (đa số các nước đang áp dụng hệ thống thông quan tự động thực hiện theo phương pháp này)

- Sau khi khai Hải quan điện tử, người khai vẫn phải nộp hồ sơ giấy và trên cơ sở đó cơ quan Hải quan làm thủ tục hải quan tiếp theo (Hải quan Philliippin)

Trang 28

1.4.2.4 Điều kiện thực hiện

- Có đầy đủ cơ sở pháp lý để triển khai các dịch vụ Hải quan điện tử trong toàn ngành nói chung và Cục Hải quan Hà Tĩnh nói riêng

- Nguồn nhân lực thực hiện (bao gồm Hải quan, đại lý Hải quan, Doanh nghiệp) phải phù hợp và đủ khả năng đáp ứng yêu cầu công việc Riêng đội ngũ cán bộ, công chức Hải quan các nước đều chú trọng xây dựng lực lượng chuyên gia giỏi, cử đi đào tạo tại WCO và các nước phát triển trên thế giới

Kết luận cuối chương 1

Những vấn đề đặt ra tại chương I đã nêu tổng quan về Hải quan điện tử và thủ tục Hải quan điện tử, vai trò và sự cần thiết phải thực hiện thủ tục Hải quan điện tử tại Việt Nam trong điều kiện phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, khối lượng công việc thực hiện ngày càng tăng với sự gia tăng nhanh chóng của khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và lượng hành khách xuất nhập cảnh Việc thực hiện thủ tục Hải quan điện tử vừa phải đảm bảo tạo thuận lợi tối đa cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vừa phải đảm bảo tuân thủ pháp luật Hải quan và pháp luật của tổ chức thế giới mà Việt Nam là thành viên Những lợi ích mà thủ tục Hải quan điện tử mang lại là hết sức thiết thực đối với doanh nghiệp và Hải quan, giảm thiểu các thủ tục hành chính, chi phí thời gian Tuy nhiên do mới kết thúc thời gian thí điểm và đang trong giai đoạn đầu chính thức triển khai nên quá trình thực hiện cũng có những thuận lợi, khó khăn nhất định Những vấn đề này sẽ được đánh giá, làm rõ hơn qua thực tế triển khai thủ tục HQĐT tại Cục Hải quan Hà Tĩnh

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU

TẠI CỤC HẢI QUAN HÀ TĨNH NHỮNG NĂM QUA

2.1 Giới thiệu về Cục Hải quan Hà Tĩnh

2.1.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cục Hải quan Hà Tĩnh

Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh là tổ chức trực thuộc Tổng Cục Hải quan có chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Quyết định số 1027/QĐ/BTC ngày 11/5/2010 của

Bộ Tài chính và các quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn hoạt động của Hải quan; có chức năng giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quản lý nhà nước về Hải quan, thực thi Luật Hải quan và các pháp luật khác liên quan trên địa bàn

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan Hà Tĩnh

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan Hà Tĩnh

Nguồn: Cục Hải quan Hà Tĩnh

Trang 30

2.2 Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn thời gian qua

2.2.1 Giới thiệu sơ lược về tỉnh Hà Tĩnh

- Vị trí địa lý tỉnh Hà Tĩnh:

Hà Tĩnh là tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, với diện tích 6.019km, dân số 1,3 triệu người Có thể nói rằng Hà Tĩnh tọa lạc ở vị trí khá quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Với các trục giao thông Bắc – Nam (Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt) và Đông – Tây (Quốc lộ 8A, đường 12 qua cửa khẩu Chalo – Quảng Bình) đã kết nối Hà Tĩnh với các tỉnh trong nước và các tỉnh thuộc nước bạn Lào và Thái Lan Hà Tĩnh có 145km đường biên giới phía Tây với nước bạn Lào, đi qua 08 xã biên giới thuộc các huyện Hương Sơn, Hương Khê và Vũ Quang, tiếp giáp với tỉnh Boolikhamxay và Khămmuộn của nước CHDCND Lào Khu vực biên giới chủ yếu là vùng núi cao, địa hình phức tạp, kinh tế chưa phát triển, hệ thống giao thông còn nhiều khó khăn [11]

- Các cửa khẩu và khu kinh tế trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh:

Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, khu kinh

tế Vũng Áng, Cửa khẩu phụ Đá Gân, các lối mở Bản Giàng, xã Hương Lâm, huyện Hương Khê, lối mở Kim Quang, xã Hương Quang, huyện Vũ Quang Trong đó, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo tọa lạc trên hành lang kinh tế Đông Tây, được xác định là loại hình khu phi thuế quan, với định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực: Thương mại, du lịch, dịch vụ và công nghiệp chế biến, gia công lắp ráp hàng dân dụng Khu kinh tế Vũng Áng với hạt nhân là cảng biển nước sâu tốt nhất Bắc Trung

Bộ và miền Bắc và trung tâm công nghiệp thép lớn nhất cả nước; được đánh giá là 1 trong 5 khu kinh tế trọng điểm của cả nước [19.p]

2.2.2 Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh thời gian qua

Vấn đề khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra vào năm 2008 đã kéo theo sự suy thoái của các quốc gia, trong đó có Việt Nam Giai đoạn 2010 - 2013 là những năm mà nền kinh tế Việt Nam nỗ lực phục hồi Chính những yếu tố đó đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động xuất nhập khẩu của cả nước nói chung và của tỉnh

Hà Tĩnh nói riêng Theo số liệu của Cục Hải quan Hà Tĩnh, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2010 đến 2013 như sau:

Trang 31

Bảng 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Tỉnh Hà Tĩnh (2010-2013)

Nguồn: Cục Hải quan Hà Tĩnh

Trong bối cảnh nói trên hoạt động Xuất nhập khẩu và thu ngân sách trên địa bàn cũng không thể không đối mặt với những khó khăn Tính đến thời điểm 31/12/2013, tổng kim ngạch XNK đạt 2,04 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 742,5 triệu USD (giảm 62,7 ), kim ngạch nhập khẩu đạt 1,3 tỷ USD (giảm 20,5% so với cùng kỳ năm trước) Trong năm 2013, số thu NSNN của Cục Hải quan Hà Tĩnh đạt 1.138,8 tỷ đồng, vượt 13,8 so với chỉ tiêu 1000 tỷ đồng, tăng 15,8 so với số thu cùng kỳ năm 2012 (983,6 tỷ đồng) [19.q]

2.3 Thực trạng thực hiện thủ tục Hải quan điện tử tại Hà Tĩnh

2.3.1 Sơ lược lộ trình thực hiện thủ tục Hải quan điện tử tại Việt Nam

Căn cứ những nội dung của TTHQĐT trong Quyết định 149/2005/QĐ-TTg, ngành Hải quan đã xác định chi tiết các nội dung nổi bật của TTHQĐT trong giai đoạn thí điểm này, bao gồm:

- Khai báo và tiếp nhận thông tin qua phương tiện điện tử

- Xử lý thông tin khai hải quan tự động;

- Áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro để đánh giá độ tuân thủ và phân luồng hàng hóa dựa trên bộ tiêu chí quản lý rủi ro và hồ sơ tuân thủ DN;

- Ra quyết định thông quan dựa trên việc phân tích thông tin với sự hỗ trợ của

hệ thống xử lý dữ liệu điện tử

Trong quá trình thực hiện, các đơn vị thí điểm đều áp dụng Quy trình TTHQĐT với 5 bước cơ bản là: Tiếp nhận; Kiểm tra tờ khai; Phân luồng tờ khai; Duyệt phân luồng; Chấp nhận thông quan và xác nhận thực xuất, thực nhập Trong quy trình trên

Trang 32

này, bước phân luồng là nơi quyết định xem hàng hóa thuộc luồng Xanh, luồng Vàng hay luồng Đỏ, trong đó: Luồng Xanh, chấp nhận thông quan trên cơ sở thông tin tại tờ khai điện tử; Luồng Vàng, phải kiểm tra các chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan trước khi thông quan; Luồng Đỏ, kiểm tra thêm thực tế hàng hóa trước khi thông quan [7]

Ngày 19 tháng 7 năm 2005 Bộ Tài chính ban hành Quyết định số BTC quy định về quy trình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Việc thí điểm chia thành 2 giai đoạn như sau: Từ tháng 10/2005-11/2009 tại Chi cục Hải quan điện tử - Cục Hải quan thành phố Hải Phòng và Chi cục Hải quan điện tử Thành phố Hồ Chí Minh Từ 2009 đến hết năm 2012, triển khai tại

50/2005/QĐ-13 Cục hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, mở rộng ứng dụng tới các DN cùng với mở rộng các loại hình hàng hóa [4] Ngày 02/01/2013, sau thời gian triển khai thí điểm, Tổng cục hải quan đã công bố chính thức triển khai thủ tục hải quan điện tử trong phạm vi toàn quốc

- Giai đoạn I (2005-2009) – thí điểm hẹp:

Trong giai đoạn này việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử trên cả nước đạt kết quả là hơn 1500 DN tham gia; Thông quan cho trên 1.100 tờ khai; Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) thu được thông qua việc thực hiện TTHQĐT trong giai đoạn này đạt xấp xỉ 12.300 triệu USD; Tổng thuế hải quan thu được với loại hình thủ tục hải quan này đạt xấp xỉ 10.602 tỷ đồng (riêng năm 2008 đạt xấp xỉ 4.492 tỷ đồng)

Tính đến 31/12/2006, tại hai Chi Cục Hải quan điện tử nói trên đã thực hiện bằng thủ tục hải quan điện tử cho 215 doanh nghiệp với lưu lượng trung bình đạt 90 tờ khai/ngày Tổng số tờ khai đã thông quan điện tử khoảng 21.000 tờ khai với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 1.734 triệu USD, thu NSNN đạt xấp xỉ 1.541 tỷ đồng Kim ngạch XNK đối với hàng hóa làm thủ tục tại Chi cục Hải quan điện tử Hải Phòng các năm 2007, năm 2008, năm 2009 chiếm lần lượt 3,65 , 4,54 , 10,95 trên tổng kim ngạch XNK đối với hàng hóa làm thủ tục tại Cục Hải quan Hải phòng; Kim ngạch XNK đối với hàng hóa làm thủ tục tại Chi cục Hải quan điện tử Hồ Chí Minh các năm

2007, năm 2008, năm 2009 chiếm lần lượt 7,3 , 8,32 , 9,86 trên tổng kim ngạch XNK đối với hàng hóa làm thủ tục tại Cục Hải quan Hồ Chí Minh

Trang 33

Bảng 2.2 Kết quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử trên cả nước giai đoạn thí

điểm theo Quyết định số 50/2005/QĐ-BTC

Chỉ tiêu Thành phố Hải Phòng Thành phố Hồ Chí Minh

9/2005

- 12/200

6 2007 2008 2009

10/2005 -

Ghi chú: Tỷ lệ so với tổng số các loại hình đã triển khai Nguồn: Bộ Tài Chính

Tỷ lệ phân luồng tại Hải Phòng: luồng Xanh: 67 ; Vàng: 10 ; Đỏ: 23 , tại

TP Hồ Chí Minh: luồng Xanh: 39 ; Vàng: 49 ; Đỏ: 12 ; Thời gian thông quan trung bình đối với các lô hàng luồng Xanh là 5 - 10 phút, luồng Vàng từ 20 - 30 phút, luồng Đỏ phụ thuộc vào thời gian kiểm tra hàng hóa

Trang 34

- Giai đoạn II (12/2009-12/2012) - thí điểm mở rộng:

Bảng 2.3 Kết quả thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử trên cả nước theo

Quyết định số 103/2009/ QĐ-TTg

Cục Hải quan thực hiện TTHQĐT 21 61,80%

Chi cục thực hiện TTHQĐT 102 89,47%

Doanh nghiệp thực hiện TTHQĐT 41.952 88,40%

Tổng số tờ khai thực hiện TTHQĐT (triệu tờ

khai)

3,86 95,90%

Tổng kim ngạch XNK (tỷ USD) 250,4 95,56%

Ghi chú: Tỷ lệ so với tổng số các loại hình đã triển khai Nguồn: Bộ Tài Chính

Ở giai đoạn này, ngoài 02 Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh và Hải phòng, dự kiến ban đầu sẽ có thêm 08 Cục Hải quan khác tham gia Tuy nhiên, theo số liệu của

Bộ Tài Chính thì trên thực tế số đơn vị tham gia ngay từ đầu giai đoạn này đã là 10 Cục Hải quan, đến cuối giai đoạn lên tới 21 Cục Hải quan (chiếm trên 61 tổng số Cục Hải quan trong cả nước), nếu tính theo số Chi cục Hải quan thì tỷ lệ tham gia còn cao hơn (lên tới trên 89 ) Số DN thực hiện TTHQĐT đạt gần 42.000 đơn vị Đặc biệt, so với tổng số cả nước, số tờ khai TTHQĐT và tổng kim ngạch XNK qua phương thức điện tử đều đạt trên 95 Tỷ lệ phân luồng Xanh, Vàng, Đỏ lần lượt đạt là: 40,6%, 43,2%, 6,1%

- Giai đoạn thực hiện chính thức cả nước:

Căn cứ pháp lý để chính thức thực hiện TTHQĐT là Nghị định số

87/2012/NĐ-CP ngày 23/10/2012 của Chính phủ Sau một thời gian ngắn thực hiện TTHQĐT trên phạm vi cả nước, kết quả bước đầu đạt được trên toàn hệ thống rất đáng ghi nhận như sau [29]:

+ Toàn bộ 34/34 Cục Hải quan tỉnh, thành phố đã triển khai thực hiện với 147/170 chi cục

+ Tất cả 34 Cục đều triển khai Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử phiên bản mới (phiên bản 4.0)

+ Các loại hình XNK chủ yếu thực hiện TTHQĐT là kinh doanh; gia công; sản xuất xuất khẩu; đầu tư

Trang 35

+ Đã có 49.900 doanh nghiệp (DN) tham gia, chiếm 96 trong tổng số 51.979

DN thực hiện thủ tục hải quan

+ Trong năm 2013, cả nước có 5,4 triệu tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu được thực hiện qua TTHQĐT, chiếm 93,2 tổng số tờ khai trên cả nước

+ Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa thực hiện theo thủ tục hải quan điện tử ước tính đạt 252,8 tỷ USD, tăng 25 so với cùng kỳ năm trước và chiếm 96 tổng trị giá XNK

Có thể nói rằng việc thực hiện TTHQĐT cùng với những kết quả nêu trên đã góp phần đẩy nhanh tiến độ cải cách hiện đại hóa ngành Hải quan trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc vừa tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại vừa đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước của cơ quan Hải quan Quá trình thực hiện TTHQĐT những năm qua tuy đã

có những cải tiến, điều chỉnh, bổ sung cả về hình thức và nội dung trong từng bước, từng giai đoạn, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại [19.b]

Một là, thủ tục hải quan điện tử thực chất chỉ là một phương thức thực hiện và chỉ có thể phát huy được hiệu quả tối đa nếu các chế độ quản lý hải quan được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế và năng lực thực hiện của các cơ quan liên quan được đảm bảo Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện TTHQĐT thời gian qua ở nước ta cơ bản vẫn dựa trên các chế độ quản lý hải quan hiện hành được quy định tại Luật Hải quan

và một số Luật khác có liên quan Do đó, vẫn chịu sự tác động của các hạn chế do Luật Hải quan hiện hành mang lại

Hai là, hệ thống công nghệ thông tin để phục vụ cho việc thực hiện TTHQĐT của cả cơ quan Hải quan cũng như của doanh nghiệp hoạt động chưa thực sự ổn định, còn phát sinh nhiều các lỗi về đường truyền mạng gây ra những ảnh hưởng trong quá trình thông quan hàng hóa Bên cạnh đó, cơ sở vật chất của các cửa khẩu cảng biển, cảng hàng không, đường bộ của Việt Nam chưa được đầu tư đồng bộ, còn manh mún, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả chung của việc thực hiện TTHQĐT Ngoài ra, việc triển khai chữ ký số còn nhiều bất cập do hạn chế của các cơ quan chứng thực làm hạn chế khả năng sử dụng chứng từ điện tử an toàn để thay thế chứng từ giấy theo tinh thần của Quyết định 103/2009/QĐ-TTg [7]

Bên cạnh đó, có thể nói rằng việc thực hiện TTHQĐT thời gian qua vẫn chỉ tập trung chủ yếu vào trong quy trình thông quan hàng hóa Việc triển khai TTHQĐT trong việc tiếp nhận, xử lý các thông tin về lược khai hàng hóa trước thông quan chưa

Trang 36

được tiến hành đồng bộ và mới ở trong giai đoạn ban đầu Việc triển khai cơ chế một cửa quốc gia tại các Bộ, Ngành mới chỉ dừng ở giai đoạn nghiên cứu, chuẩn bị về mặt pháp lý mà chưa được thực hiện trên thực địa cũng làm hạn chế hiệu quả tổng thể của TTHQĐT nói chung

Ngoài ra, do công tác chuẩn hóa danh mục quản lý chuyên ngành và những hạn chế của việc trao đổi thông tin giữa các Bộ, Ngành với cơ quan Hải quan nên mức độ

tự động hóa của Hệ thống TTHQĐT chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra

2.3.2 Quá trình thực hiện thủ tục Hải quan điện tử tại Hà Tĩnh

2.3.2.1 Cơ hội và thách thức đối với việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử ở Cục Hải quan Hà Tĩnh

2.3.2.1.1 Cơ hội

a Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại thế giới

Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày 07/11/2006 đồng nghĩa với việc công tác quản lý của Việt Nam nói chung và của ngành Hải quan Việt Nam nói riêng phải triển khai thực hiện hàng loạt các cam kết có liên quan trong WTO Có thể nói đây chính là dịp để Hải quan Việt Nam thực hiện một cách đồng bộ và đầy đủ những cam kết quốc tế về hải quan, với những chuẩn mực và thông lệ tiên tiến nhất của thế giới

Bên cạnh đó, với việc gia nhập WTO, Hải quan Việt Nam sẽ có cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác với hải quan các nước, tăng cơ hội hợp tác nhiều mặt và học tập kinh nghiệm quản lý hải quan hiện đại của các nước và của các tổ chức quốc tế Thông qua

đó, Hải quan Việt Nam sẽ có cơ hội để tăng cường và nâng cao khả năng quản lý của mình, bắt kịp các yêu cầu quản lý hải quan hiện đại Việc này hết sức có ý nghĩa đối với tiến trình hiện đại hóa của Hải quan Việt Nam nói chung và quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam nói riêng [k]

Mặt khác, với sự bùng nổ phát triển công nghệ thông tin một cách mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực của khoa học và đời sống như hiện nay thì việc ứng dụng những tiến bộ đó vào sản xuất kinh doanh cũng là một điều tất yếu Có thể nói rằng thương mại điện tử với nhiều ưu thế nổi bật đang có xu hướng thay thế dần phương thức kinh doanh cũ Điều này dẫn đến các phương thức quản lý cũng phải có sự thay đổi phù hợp với xu thế của thời đại

Trang 37

b Sự quan tâm của Chính phủ trong việc phát triển CNTT ở Việt Nam

Chính phủ Việt Nam đang trên đường thực hiện các chủ trương, chính sách, biện pháp để đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cũng đã xác định công nghệ thông tin là một trong những động lực quan trọng nhất góp phần phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước

Chính phủ Việt Nam cũng đã đặt ra mục tiêu và kế hoạch đưa Việt Nam thành một đất nước công nghệ thông tin tiên tiến vào năm 2020 Vì vậy, trong năm 2010 Chính phủ đã triển khai “Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT và truyền thông” và ban hành Chương trình hành động về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, ứng dụng CNTT để hiện đại hóa các lĩnh vực hạ tầng kinh tế - xã hội và xây dựng kết cấu hạ tầng thông minh cho sự phát triển hiện đại [11]

c Quyết tâm của Chính phủ và nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong việc cải cách thủ tục hành chính

Ngày 08 tháng 11 năm 2011, Chính phủ đã ra Nghị Quyết ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 với các mục tiêu đặt ra là:

- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước

- Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính

- Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước

- Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước

Trang 38

Để triển khai thực hiện một cách có hiệu quả các mục tiêu mà Chính phủ đề ra trong việc cải cách thủ tục hành chính, ngày 29/02/2012 UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng

đã ra Quyết định Ban hành chương trình tổng thể cải cách Hành chính Nhà Nước Tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2012 - 2020 Một trong những mục tiêu mà UBND tỉnh Hà Tĩnh đặt ra trong Quyết định này là “Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng nguồn nhân lực có trình độ, phẩm chất, năng lực và chuyên sâu; tiến tới xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu của công dân, tổ chức, doanh nghiệp; quản lý Nhà Nước theo hướng Chính Phủ điện tử”

Trong Nghị Quyết và Quyết định nói trên, Chính phủ và UBND Tỉnh Hà Tĩnh đều chú trọng đến nhiệm vụ hiện đại hóa nền hành chính Theo đó, Chính Phủ đã đặt

ra nhiệm vụ “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong hoạt động

cơ quan hành chính Nhà nước” để đạt mục tiêu đến năm 2020 có 90 các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc; bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan; hầu hết các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện UBND Tỉnh Hà Tĩnh cũng đề ra nhiệm vụ tiếp tục đổi mới phương thức làm việc

và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước để đạt mục tiêu bảo đảm sự hài lòng của các tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của Cơ quan hành chính Nhà nước đạt mức trên 90 vào năm 2020

Ngoài ra, trong bối cảnh triển khai công cuộc cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã xác định trọng tâm của công tác cải cách thủ tục hành chính ngành Hải quan là cải cách thủ tục hải quan theo hướng đơn giản hóa, áp dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại thông qua việc nội luật hóa các chuẩn mực, thông lệ và các cam kết quốc tế, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin (CNTT) [26.f, 26.g]

2.3.2.1.2 Thách thức

- Áp lực về tạo điều kiện tối đa cho việc cho hoạt động thương mại quốc tế và tạo môi thuận lợi để thu hút đầu tư sẽ rất lớn Vì lúc này ngành Hải quan Việt Nam vừa phải đảm bảo tạo thuận lợi cho thương mại nhưng không buông lỏng công tác

Trang 39

quản lý và đảm bảo an ninh Điều đó có nghĩa là ngành Hải quan phải tăng cường áp dụng các nghiệp vụ hải quan hiện đại sao cho vừa đảm bảo khả năng kiểm soát nhưng lại không cản trở hoạt động thương mại

- Áp lực về nguồn nhân lực với thói quen làm việc lâu năm theo kiểu thủ công Gia nhập WTO cũng có nghĩa là khối lượng công việc nhiều lên, tính chất công việc cũng phức tạp hơn và công việc diễn ra trong môi trường quản lý hiện đại, đòi hỏi cao

về trình độ cán bộ Để thực hiện được những yêu cầu này ngành Hải quan cần tập trung công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ công chức hải quan

- Áp lực về sự thiếu đồng bộ trong các văn bản, cơ chế chính sách trong ngành hải quan và giữa các văn bản quản lý nhà nước về hải quan với các bộ ngành khác, thiếu sự nhất quán giữa các văn bản thực hiện trong nước với hệ thống các quy định phải tuân thủ của WTO…

- Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp cũng gặp những khó khăn

và thách thức không nhỏ khi thực hiện thủ tục Hải quan điện tử đó là: Các doanh nghiệp cũng phải “tính toán” kỹ trong việc đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, hệ thống trang thiết bị về công nghệ thông tin; cân nhắc việc đầu tư nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ hoặc tuyển dụng cán bộ phục vụ cho thực hiện thủ tục hải quan điện tử

2.3.2.2 Định hướng phát triển, cải cách hiện đại hóa của Cục Hải quan Hà Tĩnh hướng đến năm 2020

2.3.2.2.1 Quan điểm về cải cách, hiện đại hóa Cục Hải quan Hà Tĩnh

Trước hết, cải cách hiện đại hóa Cục Hải quan Hà Tĩnh phải phù hợp với xu thế chung của ngành Hải quan Việt Nam, với định hướng, quy hoạch phát triển của chính quyền địa phương, đồng thời phù hợp với chiến lược cải cách nền hành chính quốc gia của Chính phủ

Trong quá trình chuẩn bị gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới WTO, Hải quan Việt Nam đã triển khai thực hiện các biện pháp nhằm cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý Hải quan với định hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Và sau khi đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức này, Hải quan Việt Nam đã xác định định hướng tạo thuận lợi cho thương mại trong chiến lược cải cách, hiện đại hóa ngành Hải quan

Trang 40

Cục Hải quan Hà Tĩnh - trong lộ trình thực hiện Kế hoạch cải cách, phát triển

và hiện đại hóa - phấn đấu trở thành một cục Hải quan phát triển theo hướng hiện đại hóa, tin học hóa Theo đánh giá của ông Nguyễn Thiện - Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh – trong những năm qua Cục Hải quan Hà Tĩnh là đơn vị triển khai có hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan theo định hướng và tinh thần chỉ đạo của Tổng Cục Hải quan Việt Nam và UBND tỉnh Hà Tĩnh Cũng theo ông Thiện thì đây còn là một trong những đơn vị đi đầu trong công tác cải cách thủ tục hành chính tại Hà Tĩnh, đóng góp không nhỏ vào việc cải thiện hình ảnh và chỉ số PCI ( Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là bảng xếp hạng thường niên, được Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) thực hiện cùng phòng Thương mại Mỹ và Phòng Thương mại châu Âu) của tỉnh Hà Tĩnh thời gian qua

Thứ hai, cải cách hiện đại hóa theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiện đại hơn, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa, tuân thủ các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, thúc đẩy sản xuất trong nước, thu hút đầu tư nhưng cũng phải đảm bảo yêu cầu quản lý Nhà nước

về Hải quan chặt chẽ, đúng pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ và chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân tham gia

Thứ ba, tập trung tối đa các nguồn lực và huy động trí tuệ toàn Cục cho việc cải cách và hiện đại hóa một cách có trọng tâm, trọng điểm

2.3.2.2.2 Định hướng

2.3.2.2.2.1 Định hướng chung

Mục tiêu chung của ngành Hải quan đến năm 2020 được nêu tại Quyết định 448/QĐ-TTg là xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung, đạt trình độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á Xây dựng lực lượng Hải quan đạt trình

độ chuyên nghiệp, chuyên sâu có trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo

vệ lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân [9]

Ngày đăng: 06/03/2015, 10:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Tường Linh, 2013, “Hải quan 85 nước đang sử dụng ASYCUDA hình thành”, tháng 8, trang 39, Tạp chí thế giới vi tính, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải quan 85 nước đang sử dụng ASYCUDA hình thành
13. Hồng Nhật, 2013, “Cải cách Hải quan ở Philippin”, tháng 8, trang 29, Tạp chí thế giới Vi tính, Sở khoa học và công nghệ Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách Hải quan ở Philippin
14. TS. Nguyễn Hồng Vân, Tạp chí Khoa học công nghệ Hàng Hải, số 30 – 04/2012, “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong hoạt động giao nhận hàng hóa ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong hoạt động giao nhận hàng hóa ở Việt Nam
15. TS. Đồng Xuân Thụ, Báo Bắc Giang điện tử, 24/12/2012, “Phát triển thương mại điện tử - Xu thế tất yếu của thời kỳ hội nhập” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thương mại điện tử - Xu thế tất yếu của thời kỳ hội nhập
16. Nguyễn Thanh Long, 2006, “Thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải pháp”, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải pháp
17. Chu Quang Luân, 2011, “Hoàn thiện dịch vụ Hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An”, trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện dịch vụ Hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An
1. Luật Hải quan được Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, sửa đổi bổ sung ngày 14 tháng 5 năm 2005 Khác
2. Nghị quyết số 30c/ NQ-CP Ban hành chương trình tổng thể cải cách Nhà Nước giai đoạn 2011-2020 Khác
3. Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử Khác
4. Quyết định số 50/2005/QĐ-BTC ban hành Quy định quy trình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Khác
5. Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 6. Quyết định số 52/2007/QĐ-BTC về việc ban hanh quy định thí điểm thủ tục hải quan điện tử Khác
7. Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg về việc ban hanh quy định thí điểm thủ tục hải quan điện tử Khác
8. Thông tư 222/2009/TT-BTC hướng dẫn về thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử 9. Quyết định số 448/ QĐ-Ttg về việc phê duyệt chiến lược phát triển hải quan đến năm 2020 Khác
10. Thông tư 86/ 2013/ TT-BTC về việc áp dụng chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan đối với doanh nghiệp đủ điều kiện Khác
11. Báo cáo số 459/ BC-UBND Báo cáo tình hình thực hiện các quy định về quản lý thương mại biên giới (Báo cáo làm việc với Đoàn công tác Ban chỉ đạo Thương mại biên giới Trung Ương) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan Hà Tĩnh - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan Hà Tĩnh (Trang 29)
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu của Tỉnh Hà Tĩnh (2010-2013)  T - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu của Tỉnh Hà Tĩnh (2010-2013) T (Trang 31)
Bảng 2.2. Kết quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử trên cả nước giai đoạn thí - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
Bảng 2.2. Kết quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử trên cả nước giai đoạn thí (Trang 33)
Bảng 2.3. Kết quả thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử trên cả nước theo - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
Bảng 2.3. Kết quả thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử trên cả nước theo (Trang 34)
Bảng 2.4. Kết quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan Hà Tĩnh - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
Bảng 2.4. Kết quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan Hà Tĩnh (Trang 42)
Bảng  2.5.  Tổng  hợp  ý  kiến  đánh  giá  của  DN  về  việc  quy  trình  thực  hiện - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
ng 2.5. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về việc quy trình thực hiện (Trang 46)
Bảng 2.6. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về Tiến trình cải cách, hiện đại hóa Hải - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
Bảng 2.6. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về Tiến trình cải cách, hiện đại hóa Hải (Trang 47)
Bảng 2.7. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về Thái độ của Cán bộ hải quan - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
Bảng 2.7. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về Thái độ của Cán bộ hải quan (Trang 48)
Bảng 2.8. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về Mối quan hệ giữa Hải quan và - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
Bảng 2.8. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về Mối quan hệ giữa Hải quan và (Trang 49)
Bảng 2.9. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về sự thuận tiện giải quyết trong thực - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
Bảng 2.9. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về sự thuận tiện giải quyết trong thực (Trang 51)
Bảng 2.10. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về mức độ thuận lợi cho DN - thúc đẩy việc sử dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại cục hải quan hà tĩnh
Bảng 2.10. Tổng hợp ý kiến đánh giá của DN về mức độ thuận lợi cho DN (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w