Đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà” được xuất phát từ đòi hỏi thực tế, đáp ứng một phần các yêu cầu cấp thiết của việc phát triể
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN QUANG HUY
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH KHÁNH HOÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN QUANG HUY
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả Các số liệu
và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
NGUYỄN QUANG HUY
Trang 4Quý thầy cô Trường Đại học Nha Trang
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của:
Cán bộ Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Khánh Hoà
Đã giúp tác giả hoàn thành Luận văn này
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ xi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ QUẢN LÝ KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC 5
1.1 Khái quát về tài nguyên nước 5
1.1.1 Khái niệm chung tài nguyên nước 5
1.1.2 Các yếu tố tự nhiên hình thành tài nguyên nước 5
1.1.2.1 Khí hậu 6
1.1.2.2 Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng 6
1.1.2.3 Lớp phủ thực vật 7
1.1.2.4 Lũ lụt 8
1.1.3 Ảnh hưởng của biến động khí hậu tới tài nguyên nước 9
1.1.4 Tác động nhân sinh tới tài nguyên nước 9
1.14.1 Tác động trực tiếp 9
1.1.4.2 Tác động gián tiếp 10
1.1.5 Tài nguyên nước thực trạng khai thác và quản lý 10
1.1.5.1 Tài nguyên nước 10
1.1.5.2 Số lượng nước 11
1.1.5.3 Chất lượng nước 12
1.1.5.4 Các hệ sinh thái thuỷ sinh 13
1.2 Quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước 14
1.2.1 Nhu cầu, phương thức khai thác nước và hệ quả 14
1.2.1.1 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong sản xuất nông nghiệp 14
1.2.1.2 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong sản xuất công nghiệp 15
1.2.1.3 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong đô thị 16
Trang 61.2.1.4 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong thuỷ điện 17
1.2.1.5 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong giao thông thuỷ 17
1.2.1.6 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong thuỷ sản 18
1.2.1.7 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong nông thôn 18
1.2.1.8 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong du lịch và giải trí 19
1.2.2 Quản lý tổng hợp nguồn nước 19
1.2.2.1 Quản lý tổng hợp nguồn nước 19
1.2.2.2 Quản lý tài nguyên nước theo lưu vực 22
1.2.2.3 Giám sát lượng nước và chất lượng nước 23
1.2.2.4 Công cụ kinh tế trong quản lý nguồn nước 23
1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước 25
1.3.1 Kinh nghiệm các nước phát triển 25
1.3.2 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển 27
1.3.3 Bài học kinh nghiệm quản lý về tài nguyên nước 33
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHAI THÁC, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HOÀ 35
2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hoà 35
2.1.1 Vị trí địa lý 35
2.1.2 Đặc điểm địa hình, 36
2.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng 37
2.1.3.1 Đặc điểm địa chất 37
2.1.3.2 Đặc điểm thổ nhưỡng 37
2.1.4 Đặc điểm khí hậu 38
2.1.5 Đặc điểm thủy văn 43
2.1.6 Dân cư, cơ sở hạ tầng 44
2.1.6.1 Dân cư 44
2.1.6.2 Cơ sở hạ tầng 45
2.1.7 Kinh tế, xã hội 48
2.1.7.1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 48
2.1.7.2 Phương hướng phát triển kinh tế 49
2.2 Đặc điểm tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà 53
2.2.1 Tài nguyên nước mưa 53
2.2.1.1 Tình hình quan trắc và tài liệu mưa 53
Trang 72.2.1.2 Đặc trưng mưa 54
2.2.2 Tài nguyên nước mặt 54
2.2.2.1 Tài nguyên nước lưu vực sông Cái Nha Trang 55
2.2.2.2 Tài nguyên nước sông Dinh Ninh Hoà 55
2.2.2.3 Lưu vực sông Đồng Điền - Vạn Ninh 55
2.2.2.4 Lưu vực sông Tô Hạp 56
2.2.3 Chất lượng nước trên các sông chính 57
2.2.3.1 Chất lượng nước trên các sông, suối 57
2.2.3.2 Chất lượng nước tại các hồ chứa đập dâng 58
2.2.4 Tài nguyên nước dưới đất 58
2.2.4.1 Đặc điểm nước dưới đất 58
2.2.4.2 Chất lượng nước dưới đất 60
2.3 Thực trạng quản lý khai thác sử dụng và xả thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà 61
2.3.1 Hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước 61
2.3.1.1 Hiện trạng khai thác nước cho sinh hoạt 61
2.3.1.2 Hiện trạng khai thác nước cho công nghiệp 65
2.3.1.3 Hiện trạng khai thác nước cho thuỷ điện 67
2.3.1.4 Hiện trạng khai thác nước cho Nông nghiệp 68
2.3.1.5 Hiệu quả sử dụng tài nguyên nước 74
2.3.2 Tình hình xả thải và nguồn nước 76
2.3.2.1 Tình hình xả thải vào nguồn nước tại khu đô thị, dân cư tập trung 76
2.3.2.2 Tình hình xả thải vào nguồn nước tại khu công nghiệp, khai khoáng 77
2.3.3 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà.82 2.3.3.1.Tình hình tổ chức, nhân sự làm công tác quản lý nhà nước và hỗ trợ kỹ thuật, nghiệp vụ về quản lý tài nguyên nước và môi trường 82
2.3.3.2 Triển khai xây dựng chủ trương, chính sách, chương trình quản lý tài nguyên nước 84
2.3.3.3 Tình hình thực hiện các dự án, đề án bảo vệ môi trường và tài nguyên nước 86
2.3.3.4 Kết quả thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt, xử lý vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên nước 86
Trang 82.3.3.5 Thực trạng công tác cấp phép, kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử lý
vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên nước 87
2.3.3.6 Đội ngũ cán bộ quản lý nguồn nước tại địa phương còn thiếu 89
2.3.3.7 Công tác đầu tư về cấp nước sinh hoạt và nước thải 90
2.4 Kết quả khảo sát về công tác quản lý và sử dụng tài nguyên nước của tỉnh Khánh Hoà 92
2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý và sử dụng tài nguyên nước của tỉnh Khánh Hoà 94
2.5.1 Những thành tựu đạt được trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài ngưyên nước 94 2.5.2 Các vấn đề còn tồn tại trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước 95
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HOÀ 101
3.1 Phương hướng quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước tỉnh Khánh Hoà 101
3.1.1 Nguyên tắc phân bổ tài nguyên nước để khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước.101 3.1.1.1 Nguyên tắc phân bổ 101
3.1.1.2 Phân vùng sử dụng nước 101
3.1.2 Phương hướng khai thác sử dụng bền vững tài nguyên nước mặt 102
3.1.2.1 Phương hướng khắc phục ô nhiễm nguồn nước 102
3.1.2.2 Phương hướng phục hồi và bảo vệ các nguồn nước suy thoái và cạn kiệt 103
3.1.2.3 Phương hướng khai thác sử dụng bền vững tài nguyên nước dưới đất 104
3.2 Các nhiệm vụ và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý khai thác và sử dụng bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà 105
3.2.1 Những nhiệm vụ chủ yếu 105
3.2.1.1 Tăng cường bảo vệ nguồn nước và bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh 105
3.2.1.2 Bảo đảm tính bền vững, hiệu quả trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước 105
3.2.1.3 Phát triển bền vững tài nguyên nước 107
3.2.1.4 Giảm thiểu tác hại do nước gây ra 107
3.2.1.5 Nâng cao tri thức, tăng cường năng lực trong lĩnh vực tài nguyên nước 108
3.2.2 Các giải pháp thực hiện 108
Trang 93.2.2.1 Hoàn thiện năng lực quản lý - giám sát 1083.2.2.2 Hoàn thiện yếu tố liên quan đến kỹ thuật - vật tư - tài chính 1143.2.2.3 Hoàn thiện yếu tố liên quan nguồn nhân lực 1173.2.2.4 Hoàn thiện yếu tố liên quan đến sự trao đổi thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, đào tạo 118KẾT LUẬN 120TÀI LIỆU THAM KHẢO 123PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Phân phối lượng mưa tháng trung bình nhiều năm các trạm (mm) 40
Bảng 2.2: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm (0C) 40
Bảng 2.3: Độ ẩm tương đối của không khí trung bình tháng, năm trên (%) 41
Bảng 2.4: Bốc hơi trung bình tháng năm nhiều năm trên lưu vực (mm) 41
Bảng 2.5: Tốc độ gió trung bình tháng, năm nhiều năm các trạm (m/s) 42
Bảng 2.6: Thống kê những cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến Khánh Hoà 43
Bảng 2.7: Đặc trưng chế độ dòng chảy sông, suối tỉnh khánh Hòa 43
Bảng 2.8: Thống kê chi tiết về diện tích, dân số tỉnh Khánh Hoà 45
Bảng 2.9: Danh sách các trạm đo mưa trên các lưu vực và vùng phụ cận 53
Bảng 2.10: Lượng mưa trung bình nhiều năm 54
Bảng 2.11: Tổng hợp tài nguyên nước tỉnh Khánh Hoà 56
Bảng 2.12: Hiện trạng sử dụng nước của đô thị và thị xã, thị trấn 63
Bảng 2.13: Số lượng các công trình cấp nước cho các điểm dân cư nông thôn 63
Bảng 2.14: Số lượng các công trình cấp nước cho các điểm dân cư nông thôn 63
Bảng 2.15: Tình hình khai thác sử dụng nước dưới đất 65
Bảng 2.16: Hiện trạng khai thác nước của công trình thủy điện 67
Bảng 2.17: Tổng hợp diện tích tưới sau quy hoạch 68
Bảng 2.18: Tổng hợp công trình hiện trạng 72
Bảng 2.19: Tổng hợp nhu cầu sử dụng nước 73
Bảng 2.20: Lĩnh vực hoạt động của các KCN, khu kinh tế ở Khánh Hoà 77
Bảng 2.21: Danh sách các văn bản phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước 84
Bảng 2.22 Tổng hợp phí bảo vệ môi trường 86
Bảng 2.23: Kết quả thu phí đối với nước thải sinh hoạt 87
Bảng 2.24: Tình hình kiểm tra, thanh tra và xử phạt tỉnh Khánh Hoà 89
Bảng 2.25 Thống kê mô tả các biến 92
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Biểu đồ 2.1: Dân số Khánh Hòa từ năm 2008 - 2012 44
Trang 12DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
QLKTCTTL Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
Trang 13DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Phân phối lượng mưa tháng trung bình nhiều năm các trạm (mm) 40
Bảng 2.2: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm (0C) 40
Bảng 2.3: Độ ẩm tương đối của không khí trung bình tháng, năm trên (%) 41
Bảng 2.4: Bốc hơi trung bình tháng năm nhiều năm trên lưu vực (mm) 41
Bảng 2.5: Tốc độ gió trung bình tháng, năm nhiều năm các trạm (m/s) 42
Bảng 2.6: Thống kê những cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến Khánh Hoà 43
Bảng 2.7: Đặc trưng chế độ dòng chảy sông, suối tỉnh khánh Hòa 43
Bảng 2.8: Thống kê chi tiết về diện tích, dân số tỉnh Khánh Hoà 45
Bảng 2.9: Danh sách các trạm đo mưa trên các lưu vực và vùng phụ cận 53
Bảng 2.10: Lượng mưa trung bình nhiều năm 54
Bảng 2.11: Tổng hợp tài nguyên nước tỉnh Khánh Hoà 56
Bảng 2.12: Hiện trạng sử dụng nước của đô thị và thị xã, thị trấn 63
Bảng 2.13: Số lượng các công trình cấp nước cho các điểm dân cư nông thôn 63
Bảng 2.14: Số lượng các công trình cấp nước cho các điểm dân cư nông thôn 63
Bảng 2.15: Tình hình khai thác sử dụng nước dưới đất 65
Bảng 2.16: Hiện trạng khai thác nước của công trình thủy điện 67
Bảng 2.17: Tổng hợp diện tích tưới sau quy hoạch 68
Bảng 2.18: Tổng hợp công trình hiện trạng 72
Bảng 2.19 Tổng hợp nhu cầu sử dụng nước 73
Bảng 2.20: Lĩnh vực hoạt động của các KCN, khu kinh tế ở Khánh Hoà 77
Bảng 2.21: Kết quả phân tích mẫu nước thải của các bệnh việc tỉnh Khánh HòaError! Bookmark not defined. Bảng 2.22: Danh sách các văn bản phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước 84
Bảng 2.23 Tổng hợp phí bảo vệ môi trường 86
Bảng 2.24: Kết quả thu phí đối với nước thải sinh hoạt 87
Bảng 2.25: Tình hình kiểm tra, thanh tra và xử phạt tỉnh Khánh Hoà 89
Biểu đồ 2.1: Dân số Khánh Hòa từ năm 2008 – 2012 44
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu cho cuộc sống và con người không có nước không có sự sống Chúng ta cần nước sạch cho sinh hoạt, bảo vệ sức khoẻ và vệ sinh Nước cần cho sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp
và các ngành kinh tế khác Nước còn cần cho sự phát triển thuỷ điện và giao thông thuỷ Nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự trong lành và bền vững của môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của vùng, khu vực, lãnh thổ; mặt khác nước cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường Đối với tỉnh Khánh Hòa tài nguyên nước lại càng quan trọng hơn trong điều kiện địa hình đặc thù ven biển với núi cao ở phía Tây chuyển xuống đồng bằng thung lũng sông nhỏ, hẹp, các lưu vực sông ngắn và dốc thêm vào đó là chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội hiện tại cũng như trong tương lai của tỉnh Khánh Hòa, nhu cầu về nguồn nước phục vụ ăn uống sinh hoạt, các hoạt động dịch vụ - du lịch, sản xuất công nghiệp, tưới tiêu nông nghiệp là rất cấp bách Tuy nhiên trong một thời gian dài việc nhận thức chưa đầy đủ
về ý nghĩa và tầm quan trọng của nước đối với đời sống, sức khoẻ và sự phát triền bền vững của tỉnh Khánh Hoà chưa chú trọng quản lý và bảo vệ tài nguyên nước dẫn đến tài nguyên nước của tỉnh có những biểu hiện suy thoái cả về số lượng lẫn chất lượng; tình trạng ô nhiễm nguồn nước, thiếu nước, khan hiếm nước đã xuất hiện ở nhiều nơi
và đang có xu hướng gia tăng; tình hình sử dụng tài nguyên nước lãng phí, kém hiệu quả, thiếu quy hoạch, thiếu tính liên ngành còn phổ biến Trong khi đó nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế không ngừng gia tăng về số lượng và đòi hỏi cao hơn về chất lượng Vì vậy, để có dữ liệu về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh làm cơ sở cho việc quản lí, quy hoạch khai thác sử dụng hợp lí các nguồn nước, trong những năm gần đây UBND tỉnh Khánh Hòa đã cho triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu, đánh giá tài nguyên nước
Trước tình hình đó, để từng bước bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng chống tác hại do nước gây ra phải có chiến lược phát triển có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên này, đòi hỏi chúng ta phải đánh giá được thực trạng và diễn biến của nguồn nước, hiện trạng khai thác, sử dụng Từ đó đề ra phương hướng
Trang 15quản lý, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước tỉnh Khánh Hoà theo hướng tổng hợp, hiệu quả và bền vững là rất cấp thiết
Đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà” được xuất phát từ đòi hỏi thực tế, đáp ứng một phần các yêu cầu cấp
thiết của việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và khu vực miền Trung
2 Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài luận văn
- Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của luận văn là đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên nước trên địa bàn Khánh Hòa, trên cơ sở đó nhằm tìm kiếm các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác này đối với tỉnh Khánh Hòa
+ Không tính toán trữ lượng về tài nguyên nước của tỉnh Khánh Hoà
- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2010 - 2013
4 Các phương pháp nghiên cứu
- Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong nghiên cứu kinh tế như thu thập dữ liệu thứ cấp, phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp phân tích và so sánh
Trang 16- Phương pháp kế thừa, thu thập, thống kê: Tiếp cận đối tượng nghiên cứu, tiếp cận hệ thống và tiếp cận công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến nội dung nghiên cứu trong đề tài
- Phương pháp chuyên gia và tiếp cận cộng đồng: lấy ý kiến đóng góp của các nhà chuyên môn, nhà quản lý
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm, đặc trưng chủ yếu về
số lượng, chất lượng nguồn tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà
- Phản ánh được thực trạng quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà
- Đề xuất các giải pháp trong quản lý nguồn nước, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường trên địa bàn
tỉnh Khánh Hoà và giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của đội ngũ cán
bộ, công chức làm việc trong ngành tài nguyên nước tại tỉnh Khánh Hòa
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay nhà nước ban hành một số loại văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch có liên quan đến tài nguyên nước; một số đề tài kỹ thuật chuyên sâu về tình hình ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước và cảnh báo về biến đổi khí hậu và đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ tài nguyên nước
Trong thời gian qua đã có một số đề tài, dự án điều tra, đánh giá và đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh nói chung và trong các lưu vực sông nội tỉnh nói riêng như: Dự án: Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tại các vùng ven biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa; Báo cáo
tổng kết đề tài (Nguyễn Thế Biên chủ nhiệm, năm 2006): “Đánh giá cân bằng nước và
định hướng sử dụng bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường nước ở Khánh Hòa”; Báo
cáo tổng kết dự án (PGS TS Nguyễn Thanh Sơn chủ nhiệm, năm 2012): "Quy hoạch tổng thể cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Khánh Hòa (giai đoạn
2000 - 2010)” của Trung tâm Nước sinh hoạt & Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Khánh Hòa; “Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Khánh Hòa” hàng năm của UBND tỉnh Khánh Hòa; “Báo cáo kết quả giám định chất lượng môi trường nước tỉnh Khánh Hòa” của Viện Hải dương học Nha Trang Tuy nhiên, các nghiên cứu và điều tra đó
mới phần lớn tập trung vào đánh giá trữ lượng và cân bằng giữa cung cầu, hoặc tập
Trang 17trung vào các lưu vực sông chính (Sông Cái Nha Trang, Sông Cái Ninh Hòa, ), chưa
có một dự án điều tra quy mô trên toàn tỉnh về chất lượng và trữ lượng các nguồn nước mặt phục vụ cấp nước cho dân sinh cũng như các hoạt động kinh tế xã hội hoặc số liệu
đã thiếu tính cập nhật đặc biệt trong giai đoạn phát triển với tốc độ cao như hiện nay Việc hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên nước, gồm: các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; thông tin tổng hợp về tài nguyên nước; khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phân tích, đánh giá hiện trạng, xác định các vấn đề ưu tiên cần tập trung giải quyết, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện về công tác quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách khoa học
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận mục lục và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tài nguyên nước và quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà
Chương 3: Phương hướng nhiệm vụ và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC
VÀ QUẢN LÝ KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC
1.1 Khái quát về tài nguyên nước
1.1.1 Khái niệm chung tài nguyên nước
Nước là một loại tài nguyên quí giá và được coi là vĩnh cửu Không có nước thì không có sự sống trên hành tinh của chúng ta Nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thuỷ sản v.v Do tính chất quan trọng của nước như vậy nên UNESCO lấy ngày 23/3 làm ngày nước thế giới
Tài nguyên nước là lượng nước trong sông, ao hồ, đầm lầy, biển và đại dương
và trong khí quyển, sinh quyển Trong Luật Tài nguyên nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: "Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Nước có hai thuộc tính cơ bản đó là gây lợi và gây hại Nước là nguồn động lực cho mọi hoạt động kinh tế của con người, song nó cũng gây ra những hiểm hoạ to lớn không lường trước được đối với con người Những trận lũ lớn có thể gây thiệt hại về người và của thậm chí tới mức có thể phá huỷ cả một vùng sinh thái Tài nguyên nước là một thành phần gắn với mức độ phát triển của xã hội loài người tức là cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ mà tài nguyên nước ngày càng được bổ sung trong ngân quỹ nước các quốc gia Thời kỳ nguyên thuỷ, tài nguyên nước chỉ bó hẹp ở các khe suối, khi con người chưa có khả năng khai thác sông, hồ và các thuỷ vực khác Chỉ khi kỹ thuật khoan phát triển thì nước ngầm tầng sâu mới trở thành tài nguyên nước Và ngày nay với các công nghệ sinh hoá học tiên tiến thì việc tạo ra nước ngọt từ nước biển cũng không thành vấn đề lớn Tương lai các khối băng trên các núi cao và các vùng cực cũng nằm trong tầm khai thác của con người và nó là một nguồn tài nguyên nước tiềm năng lớn
1.1.2 Các yếu tố tự nhiên hình thành tài nguyên nước
Tự nhiên là một hệ thống mà mỗi thành tố của nó là một bộ phận không thể thiếu của toàn thể, có những mối quan hệ phức tạp với phần còn lại của hệ thống, tương tác
đa chiều với chúng Mỗi thành tố có thể vừa là tác nhân, vừa là hệ quả tác động của của một hoặc một số yếu tố khác trong hệ thống Việc tách ra các mối quan hệ đơn
Trang 19nhất, một chiều để xem xét là rất khó khăn và việc nghiên cứu các mối quan hệ đơn nhất thường chỉ có tính lý thuyết Tuy nhiên nó cho phép đánh giá được về mặt lý thuyết vị trí của mỗi yếu tố trong hệ thống và cung cấp cơ sở cho một số nghiên cứu giản lược nào đó Dưới đây chỉ trình bày tác động đơn của từng yếu tố hình thành dòng chảy
1.1.2.1 Khí hậu
Sông ngòi là sản phẩm của khí hậu Yếu tố khí hậu có ảnh hưởng quyết định tới tài nguyên nước là bức xạ Mặt Trời, nhiệt độ, mưa và gió Các yếu tố này một mặt trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành cán cân nước khu vực, mặt khác tác động gián tiếp tới lượng và chất nước thông qua các quá trình phong hoá, thành tạo địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, phát triển thảm thực vật, hệ sinh thái Bức xạ Mặt Trời là yếu tố cấp năng lượng chính cho quá trình hình thành chế độ nhiệt và điều kiện tự nhiên thích hợp đối với sự sống trên Trái Đất
Các nhiễu động thời tiết, đặc biệt là các nhiễu động động lực có vai trò đặc biệt trong hình thành lũ lớn gây hệ quả nghiêm trọng tới môi trường và dân sinh Phân bố mưa theo thời gian và không gian quyết định phân bố của lượng nước khu vực theo thời gian và không gian Dạng phân phối mưa quyết định dạng phân phối của dòng chảy Cường độ và diễn biến mưa có ảnh hưởng tới lượng thấm thực tế, từ đó quyết định độ lớn của dòng chảy mặt, đặc điểm và quy mô các trận lũ Theo một số tác giả, mức biến động gradien lượng mưa theo độ cao 20 - 300mm/100m gây ra biến động gradien dòng chảy ở mức 5 - 40mm/100m theo độ cao Trong các vùng giáng thuỷ lỏng, mùa lũ trên sông thường bắt đầu chậm hơn bắt đầu mùa mưa 1 - 2 tháng Mưa là yếu tố ảnh hưởng lớn tới chất lượng nước các thuỷ vực Mưa rửa sạch bầu khí quyển, hoà tan nhiều khí làm độ pH của nước giảm, thành phần và tính chất của nước phân hoá Hạt mưa có động năng nên trực tiếp công phá bề mặt đất Mưa sinh dòng mặt hoà tan, xói mòn mặt đất và chuyển tải sản phẩm phong hoá, xói mòn đi xa Mưa càng lớn, nguy cơ hình thành dòng chảy sườn dốc càng lớn, động năng càng cao, xói mòn càng mạnh Trong thực tế, xói mòn chỉ xuất hiện khi mưa vượt quá ngưỡng xói mòn theo cường độ (25 mm/giờ) Việt Nam có khoảng 40% lượng mưa rơi với cường độ trên ngưỡng xói mòn [11]
1.1.2.2 Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng
Yếu tố địa hình ảnh hưởng đáng kể tới tài nguyên nước là độ cao, hình dạng, mức độ cắt xẻ bề mặt, độ dốc và độ dài sườn dốc Địa hình làm cho các yếu tố khí hậu
Trang 20phân hóa mạnh theo chiều ngang và chiều thẳng đứng Theo chiều ngang, các dãy núi tạo ra những đường phân chia khí hậu và đường chia nước Theo chiều thẳng đứng, càng lên cao nhiệt độ và bốc hơi giảm, còn mưa tăng bên phía sườn đón gió ẩm Điều này có thể dẫn đến hình thành những khác biệt sâu sắc trong địa hình, cảnh quan, thảm thực vật và tài nguyên nước giữa hai phía sườn núi Tại Việt Nam, khi mưa tăng 20 - 300mm trên 100m tăng cao thì dòng chảy tăng 5 - 40mm; tính trung bình lượng dòng chảy tăng 16% trên 100m tăng cao Địa hình bằng phằng hạn chế tiêu thoát nước, thuận lợi cho việc kéo dài thời gian duy trì lớp nước trên mặt, tăng thấm Địa hình âm thuận lợi cho tích luỹ trầm tích và chứa nước, tạo cơ chế điều tiết tự nhiên dòng chảy
lũ Địa hình cắt xẻ mạnh thuận lợi cho tiêu thoát nước và tăng mật độ sông Địa hình dương, độ dốc, độ dài sườn dốc lớn thuận lợi cho tiêu thoát nước và xói mòn bề mặt, dẫn đến gia tăng cực đoan dòng chảy lỏng và rắn
Ngoài quá trình xói mòn các phần tử bở rời, tác động của nước trên sườn dốc trong những điều kiện nhất định về độ dốc và trạng thái kết cấu của khối vật chất, còn gây ra những hiện tượng đặc biệt như sụt lở, trượt đất, đất chảy làm thay đổi địa hình
và tăng cường nguồn cấp phù sa cho sông Địa chất thổ nhưỡng có ảnh hưởng tới nước mặt, nước dưới đất cả về chế độ, lượng và chất do nó quyết định: Mức độ bền vững của bề mặt chống xói mòn, hoà tan Đặc điểm vật chất cuốn theo Khả năng thấm, chứa, giữ
và cấp nước của đất đá Thế nằm và độ sâu của các tầng chứa nước dưới đất, từ đó quyết định đặc điểm quan hệ thuỷ lực giữa các thuỷ vực mặt với ngầm và ngầm với nhau
1.1.2.3 Lớp phủ thực vật
Vai trò của lớp phủ thực vật trong quá trình hình thành tài nguyên nước thể hiện
ở chỗ: che phủ, ngăn không cho mặt đất chịu tác động trực tiếp của mưa, bức xạ gây phong hoá bở rời, bảo vệ đất chống xói mòn và giảm dòng rắn từ lưu vực vào sông Làm cho đất tơi xốp, có cấu tượng, bền vững trước các tác động xói mòn, giữ ẩm đất
và tăng thấm tạo ra tăng điều tiết dòng chảy theo mùa Điều hoà vi khí hậu, duy trì độ
ẩm hợp lý trong đất và không khí Khả năng bảo vệ đất của lớp phủ thực vật phụ thuộc vào loại cây, tuổi cây, mật độ cây, đặc điểm quá trình khai thác sử dụng và tăng theo
sự tăng độ dày tán lá, thời gian che phủ, độ phì của đất Bộ rễ bảo vệ đất chống xói mòn do nó tạo khe nứt cho nước thấm qua và tạo bề mặt ghồ ghề, cản trở không cho dòng mặt sinh nhiều, chảy nhanh, chảy thẳng theo hướng sườn dốc và xói mạnh Theo Khanbecôp, trong vùng thừa ẩm, độ che phủ thực vật thích hợp nhất là 60%, vùng khô
Trang 21- 25% Theo FAO, lưu vực có độ che phủ <20% bị xem là nghèo kiệt, <30% là dưới ngưỡng an toàn sinh thái Theo Nguyễn Quang Mỹ, ở Việt Nam, đất rừng tự nhiên độ dốc 15 – 2o, độ che phủ >80%, bị xói mòn 4 tấn/ha/năm, vùng cây bụi, cây ăn quả, độ che phủ 40 - 60%, bị xói mòn 64 tấn/ha/năm, đất lúa và hoa màu có độ dốc 3 - 8o, độ che phủ <10% trên đất bị xói mòn 107 tấn/ha/năm [11]
1.1.2.4 Lũ lụt
Lũ là hiện tượng mực nước sông dâng lên trong khoảng thời gian nhất định, do tăng cường cấp nước cho sông ở mức cao và nhanh, tăng lưu lượng, gây nên hiện tượng: tăng mạnh vận tốc và động năng của dòng nước, dẫn đến làm cho chúng có khả năng tải cát cao, chuyển vận theo dòng nước một lượng phù sa, đất đá lớn, hoặc có khả năng phá huỷ bờ đáy tự nhiên cũng như các công trình nhân tạo trong vùng nước chảy
Tăng nhanh mực nước dẫn đến tràn bờ gây lụt Nguyên nhân tăng cấp nước sinh lũ lụt có thể là: tự nhiên, do mưa lớn tập trung, có tính quy luật Nhân tạo, do xả chủ động qua công trình ngăn dòng, hoặc do vỡ đập, không có tính quy luật Lũ được phân loại như sau:
Lũ nhỏ: đỉnh lũ thấp hơn đỉnh trung bình nhiều năm
Lũ vừa: đỉnh lũ đạt mức trung bình nhiều năm
Lũ lớn: đỉnh lũ cao hơn đỉnh trung bình nhiều năm
Lũ đặc biệt lớn: có đỉnh cao hiếm thấy trong thời kỳ quan trắc
Mực nước lên càng cao thì nguy cơ lụt càng lớn và giải pháp công trình ngăn ngừa, nếu có thể, càng tốn kém, khó khăn Lưu lượng nước càng lớn thì động năng phá hoại của dòng nước càng lớn và mức độ gây ngập khi tràn bờ càng cao Thời gian duy trì mực nước cao càng lớn thì nguy cơ tổn thất và rủi ro càng cao do khả năng chịu đựng của tự nhiên và khả năng đối phó của con người hạn chế Thông thường, một số loại cây có thể chịu được mức ngập nhất định trong một thời hạn nào đó, chỉ khi ngập kéo dài chúng mới bị tổn hại Trong những trận lũ kéo dài mọi dự trữ nhân lực vật lực, lương thực, nước sạch có nguy cơ không đủ dùng Hệ thống đê điều ngăn lũ bằng đất không chịu được ngập lâu Lũ lụt còn gây nên những biến động lòng sông phức tạp như lở bờ, cắt dòng, đổi cửa, gây hệ quả xấu cho kinh tế xã hội khu vực Mức độ ác liệt của lũ lụt gia tăng khi: thay đổi điều kiện hình thành dòng chảy trên lưu vực theo hướng tăng cường dòng mặt (như tăng tốc độ chảy truyền trên sườn dốc, giảm thấm, thu hẹp dung tích điều tiết tự nhiên của các địa hình trũng) và tăng cường dòng vật
Trang 22chất cuốn theo Xuất hiện các công trình thu hẹp mặt cắt hoạt động của dòng nước, giảm chiều rộng và tăng độ sâu dòng nước Xây dựng công trình làm giảm mật độ lưới sông, tăng độ dốc mặt nước (như nắn thẳng dòng, cắt dòng ) Dâng nước hạ lưu cản trở quá trình chảy xuôi dòng, như nước vật, triều cường, bão
1.1.3 Ảnh hưởng của biến động khí hậu tới tài nguyên nước
Sự biến đổi của khí hậu toàn cầu đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước Theo đánh giá bước đầu, vào khoảng năm 2070, với kịch bản nhiệt độ không khí tăng thêm 2,5 - 4,50C, lượng dòng chảy sông ngòi cũng sẽ biến đổi tuỳ theo mức độ biến đổi của lượng mưa, nếu lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17 - 53% đối với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 2,50C và giảm 26 - 90% với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 4,50C Mức độ biến đổi mạnh nhất xẩy ra ở Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ Ngoài ra, trái đất nóng lên sẽ làm cho nước biển có thể dâng cao thêm 0,3 - 1,0 m và do đó nhiều vùng thấp
ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển Nếu nước biển dâng 1m, diện tích ngập lụt là 40.000km2, chủ yếu
ở đồng bằng sông Cửu Long, 1700 km2 vùng đất ngập nước cũng bị đe doạ và 17 triệu người
sẽ chịu hậu quả của lũ lụt [10]
Cuối cùng, sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước cũng như sự khan hiếm nguồn nước
sẽ càng trầm trọng nếu không có các biện pháp quản lý tốt tài nguyên nước Cũng vì lẽ
đó mà người ta cho rằng, khủng hoảng nước hiện nay không chỉ do nước quá ít không
đủ để thoả mãn nhu cầu của con người mà còn do sự quản lý nguồn nước quá kém gây nên hàng tỷ người và môi trường gánh chịu hậu quả của lũ lụt
1.1.4 Tác động nhân sinh tới tài nguyên nước
1.14.1 Tác động trực tiếp
Tác động trực tiếp tới tài nguyên nước là các hoạt động thuộc loại sau: thay đổi quy luật phân phối tài nguyên nước theo không gian, như đào sông chuyển dòng, tưới tiêu, dẫn chuyển nước từ nơi này đến nơi khác Thay đổi một số thành phần trong cán cân nước khu vực theo thời đoạn, như điều tiết dòng chảy bằng hồ chứa nhân tạo, tăng diện tích tưới làm mở rộng diện tích mặt nước làm tăng thấm, tăng bốc hơi Thay đổi đặc trưng hình thái và thuỷ lực thuỷ vực, như thu hẹp, mở rộng lòng sông, nắn thẳng hoặc uốn cong khúc sông, dẫn tới thay đổi chế độ dòng chảy, tăng giảm vận tốc và động năng dòng nước, thay đổi tương tác dòng nước lòng sông, thay đổi sức tải cát và hàm lượng phù sa sông Xả chất gây ô nhiễm
Trang 231.1.4.2 Tác động gián tiếp
Những hoạt động của con người gián tiếp dẫn tới thay đổi điều kiện hình thành dòng chảy là: thay đổi khí hậu, thời tiết Biến động khí hậu toàn cầu làm thay đổi quy luật hình thành mưa, bão, hạn hán gia tăng rủi ro liên quan tới nước Thay đổi đặc điểm bề mặt lưu vực như: phá rừng, canh tác nông nghiệp không hợp lý trên đất dốc gây biến động nghiêm trọng chế độ dòng chảy lỏng và rắn, đặc biệt là gia tăng các hiện tượng cực đoan như lũ lụt, hạn hán, tăng dòng chảy phù sa Thay đổi đặc điểm địa hình như tăng (giảm) độ dốc, độ cao dẫn đến làm thay đổi chế độ dòng chảy, tăng (giảm) cực đoan dòng chảy Đô thị hoá, bê tông hoá, bỏ đất hoang hoá là những quá trình dẫn đến giảm thấm nghiêm trọng, tạo ra cực đoan trong chế độ dòng chảy như tăng dòng chảy lũ, giảm dòng chảy kiệt
1.1.5 Tài nguyên nước thực trạng khai thác và quản lý
1.1.5.1 Tài nguyên nước
- Sông ngòi
Việt Nam có 2372 sông với chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính Tổng diện tích các lưu vực sông là 1.167.000km2, trong đó, phần lưu vực nằm ngoài lãnh thổ là 835.422km2, chiếm 72%
Nếu phân loại theo diện tích lưu vực thì có 13 sông có diện tích lưu vực lớn hơn 10.000km2, bao gồm: 9 sông chính (Hồng, Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã, Cả,
Vu Gia - Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và sông Cửu Long) và 4 sông nhánh (Đà, Lô, Sê San, Srê Pôk) Trong 13 sông chính, sông nhánh lớn đó, có 10 sông liên quốc gia, với phần diện tích lưu vực ở ngoài nước gấp 3,3 lần phần lưu vực ở trong nước Tổng diện tích lưu vực 9 sông chính nêu trên xấp xỉ 93% tổng diện tích lưu vực của toàn bộ hệ thống sông,phần lưu vực nằm trong lãnh thổ xấp xỉ 77% tổng diện tích nước ta
- Hồ, ao, đầm, phá tự nhiên, hồ chứa nước nhân tạo
Nước ta có nhiều hồ, ao, đầm, phá tự nhiên nhưng chưa được thống kê đầy đủ Trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, nhiều hồ, ao bị san lấp, ước tính tổng diện tích hồ, ao cả nước hiện còn khoảng 150 nghìn ha Các hồ lớn bao gồm: Hồ Lak (diện tích mặt hồ khoảng10km2), Ba Bể (5,0km2), Hồ Tây (4,46km2), Biển Hồ (2,2km2) Vùng cửa sông ven biển miền Trung có một số đầm, phá, vụng lớn như: đầm Thị Nại, phá Tam Giang, phá Cầu Hai, vụng Xuân Đài trong đó, lớn nhất là phá Cầu Hai (diện tích 216 km2)
Trang 24Tổng dung tích trữ nước của các hồ chứa nước ước tính khoảng 26 tỷ m3, trong
đó tổng dung tích trữ nước của các hồ chứa thuỷ điện khoảng 19 tỷ m3 Trong số hàng nghìn hồ chứa nước, có 6 hồ dung tích trên 1tỷ m3/hồ (hồ Thác Bà, 2.940 triệu m3; Hoà Bình, 9.450 triệu m3; Trị An, 2.760 triệu m3; Thác Mơ, 1.310 triệu m3; Yaly, 1.040 triệu m3 và Dầu Tiếng, 1.450 triệu m3) Đa số các hồ chứa thủy lợi có dung tích trữ nước dưới 10 triệu m3
- Tầng chứa nước dưới đất
Nước ta có tiềm năng nước dưới đất tương đối lớn, nhưng mức độ chứa nước dưới đất ở các tầng phân bố rất khác nhau Các tầng có mức độ chứa nước phong phú bao gồm: các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích bở rời ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ; các tầng chứa nước khe nứt trong thành tạo phun trào Bazan ở Tây Nguyên Các tầng có mức độ chứa nước trung bình gồm: các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích bở rời ở ven biển miền Trung và các tầng chứa nước khe nứt, hang động trong các thành tạo đá vôi ở vùng Đông Bắc và vùng miền núi phía Bắc Các loại đất đá khác có mức độ chứa nước kém hơn, phân bố rải rác ở khu vực miền núi và trung du
1.1.5.2 Số lượng nước
- Tài nguyên nước mưa
Việt Nam có lượng mưa trung bình nhiều năm là 1940mm, với tổng lượng 640
tỷ m3/năm, thuộc số quốc gia có lượng nước mưa vào loại lớn trên thế giới Lượng mưa phân bố rất không đều theo không gian và thời gian Lượng mưa tập trung trong 4-5 tháng mùa mưa, chiếm 75-85% tổng lượng mưa năm, trong khi lượng mưa 7-8 tháng mùa khô chỉ chiếm 15-25%
- Tài nguyên nước mặt
Tổng lượng nước mặt trên lãnh thổ nước ta khoảng 830-840 tỷ m3/năm, trong
đó, lượng nước sinh ra ở phần lãnh thổ Việt Nam khoảng 310-315 tỷ m3/năm, chiếm khoảng 37%; lượng nước từ nước ngoài chảy vào khoảng 520-525 tỷ m3/năm, chiếm 63% Tương tự như lượng mưa, tài nguyên nước mặt phân bố không đều theo thời gian Sự phân bố không đều của mưa và dòng chảy là nguyên nhân chủ yếu gây ra hạn hán, thiếu nước trong mùa khô và lũ, lụt, úng ngập trong mùa mưa Mưa lớn, dòng chảy mặt lớn còn gây ra xói mòn bề mặt lưu vực và lũ quét, lũ bùn đá ở nhiều nơi
Tài nguyên nước phân bố giữa các vùng cũng rất khác nhau Những khu vực cần nhiều nước, như các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ,
Trang 25tài nguyên nước không nhiều (khoảng 39% tổng lượng của cả nước), trong khi đó, tài nguyên nước ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long rất lớn (khoảng 61%), nhưng nhu cầu khai thác, sử dụng nước chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với tài nguyên nước của vùng
- Tài nguyên nước dưới đất
Việc điều tra, tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất tiến hành chưa được nhiều, mới đạt khoảng 15% diện tích lãnh thổ nước ta, chủ yếu ở một số vùng kinh tế quan trọng Tổng trữ lượng nước dưới đất các cấp tại các khu vực đã được nghiên cứu, đánh giá: cấp A khoảng 735 nghìn m3/ngày; cấp B khoảng 813 nghìn m3/ngày; cấp C1 và C2
khoảng 18.452 nghìn m3/ngày Tổng trữ lượng tiềm năng của các tầng chứa nước trên toàn lãnh thổ, chưa kể phần hải đảo, ước tính khoảng 2000m3/s, tương ứng khoảng 63
tỷ m3/năm
Trữ lượng nước dưới đất lớn nhất là ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ; khá nhiều là ở Tây Nguyên và ít hơn ở vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc, ven biển Nam Trung Bộ
Công tác quan trắc động thái nước dưới đất có vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định nguồn hình thành cũng như xác định trữ lượng động tự nhiên Tuy nhiên, hiện mới chỉ được tiến hành ở đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên, với mật độ mạng lưới quan trắc còn thưa
Trang 26Phủ Lý đã nhiều lần phải ngừng hoạt động Trên sông Cầu, ở khu vực thành phố Thái Nguyên, lượng nước thải có lúc chiếm tới 15% lượng nước sông trong mùa kiệt làm cho nguồn nước sông bị ô nhiễm nghiêm trọng, không thể khai thác để cấp nước cho sinh hoạt
Về cơ bản, chất lượng nước dưới đất đáp ứng được các yêu cầu sử dụng, bao gồm cả cấp nước sinh hoạt Tuy nhiên, ở một số vùng do khai thác sử dụng nước dưới đất thiếu quy hoạch, quá mức cho phép nên đã gây ra nhiễm bẩn, nhiễm mặn và mực nước bị hạ thấp lớn, thậm chí khó hồi phục, điển hình là ở các thành phố, đô thị lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Nguyên và một số khu vực ở đồng bằng sông Cửu Long
1.1.5.4 Các hệ sinh thái thuỷ sinh
Hệ sinh thái nước ngọt ở Việt Nam rất đa dạng, phong phú về hệ thực vật và hệ động vật, bao gồm: thực vật nổi, rong, các loài cây, cỏ ngập nước, động vật không xương sống và cá Ước tính tổng cộng có: 20 loài rong nước ngọt; 1402 loài tảo; 782 loài động vật không xương sống; 547 loài cá và 52 loài cua và một số loài đặc hữu (riêng cá nước ngọt có 60 loài đặc hữu) Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do việc xây dựng các công trình trên sông không có các hạng mục tạo điều kiện thuận lợi cho việc di cư của cá, với chế độ vận hành không chú ý đầy đủ đến nhu cầu nước để bảo đảm sự phát triển lành mạnh của các hệ sinh thái thủy sinh, khai thác nước trên quy
mô lớn đã làm thay đổi chế độ vận chuyển phù sa, chất dinh dưỡng (chuỗi thức ăn), chế độ thủy văn của các hệ thống sông đã làm cho môi trường sống trong sông, tính
đa dạng sinh học của các loài thuỷ sinh cùng với tính tích cực của các đầm lầy và các đồng bằng cửa sông bị biến động và suy thoái Vì vậy, đã làm mất đi nhiều loài thuỷ sinh, kể cả một số loài có hiệu ích kinh tế lớn và làm lan truyền dịch bệnh; sản lượng đánh bắt cá tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng ở tất cả các khu vực đồng bằng, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long; nhiều loài động vật và thực vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng hay trở nên hiếm, trong đó có các loài được liệt kê trong Sách đỏ
Hệ sinh thái nước lợ, nước mặn ở nước ta cũng rất phong phú, đa dạng, thể hiện
rõ các đặc tính nhiệt đới, hỗn hợp, ít đặc hữu và đặc tính khác biệt theo vùng Cho đến nay, đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật biển, bao gồm: 537 loài thực vật nổi; 667 loài rong biển; 657 loài động vật nổi; khoảng 6.000 loài động vật đáy; 225
Trang 27loài tôm; 2.038 loài cá, gần 300 loài san hô Ngoài ra, còn có khoảng 50 loài rắn biển
và một số loài tảo độc hại
Việt Nam có nhiều khu vực đầm lầy nước ngọt và nước lợ, mặn Những đầm lầy chủ yếu nằm ở châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và dọc theo 3260km bờ biển
Mặc dù có nhiều vùng đầm lầy đạt tiêu chuẩn “Đầm lầy có tầm quan trọng quốc tế’,
nhưng mới chỉ có Khu bảo tồn Xuân Thủy được đưa vào trong Công ước Ramsar
Diện tích rừng ngập mặn đã suy giảm đáng kể, đặc biệt trong thời gian gần đây khi ở hầu hết các tỉnh ven biển đều phát triển mạnh diện tích nuôi trồng thuỷ sản, nhất
là nuôi tôm Diện tích rừng ngập mặn giảm nhiều nhất ở đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng Trong gần năm thập kỷ qua, diện tích rừng ngập mặn đã giảm 80%
1.2 Quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước
1.2.1 Nhu cầu, phương thức khai thác nước và hệ quả
1.2.1.1 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong sản xuất nông nghiệp
Các công trình thuỷ lợi đã có đóng góp to lớn phục vụ nông nghiệp, phát triển rộng khắp, có hiệu quả và ngày càng ổn định, đảm bảo tưới, tiêu nước đi đôi với cải tạo đất lầy thụt, chua phèn, nhiễm mặn, bạc mầu, phục vụ thâm canh, tăng vụ ở hầu hết các vùng trọng điểm nông nghiệp Việc mở rộng và nâng cao các hệ thống tưới đã góp phần đưa tổng sản lượng lương thực của cả nước tăng nhanh và ổn định từ 16 triệu tấn (1986) lên gần 40 triệu tấn hiện nay, đưa nước ta trở thành quốc gia có tỷ lệ diện tích được tưới và thâm canh vào loại cao trong khu vực và trở thành một trong những nước xuất khẩu lương thực hàng đầu trên thế giới
Đây là các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết tạo điều kiện thực hiện phương châm: “đất, nước, khí hậu thời tiết nào, có cây trồng, vật nuôi ấy” Các hệ thống thuỷ lợi sau khi bảo đảm tưới lúa cho các đồng bằng lớn đã bắt đầu kết hợp phục vụ cây trồng khác và các yêu cầu khác như cấp nước sinh hoạt, du lịch, thuỷ sản
Ngành Thủy lợi đã xây dựng hàng ngàn hồ chứa lớn nhỏ để trữ và cấp nước tưới cho nông nghiệp và các mục đích khác Đến nay, cả nước có: 75 hệ thống thủy lợi lớn; gần 2.000 hồ chứa dung tích trên 0,2 triệu m3/hồ; hơn 5.000 cống tưới, tiêu lớn; trên 10.000 trạm bơm lớn và vừa có tổng công suất bơm 24,8 triệu m3/h, hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ Hiện nay, hệ thống công trình thủy lợi đã bảo đảm tưới trực tiếp cho 3,45 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho 1,13 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn
Trang 28mặn 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp, tạo nguồn cấp nước nuôi trồng thuỷ sản ở một số khu vực và tạo nguồn cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp ở một số đô thị và khu vực nông thôn
Hiện nay, việc sử dụng nước dưới đất cho sản xuất nông nghiệp còn ở quy mô
hộ gia đình bằng hình thức khoan, đào giếng để lấy nước tưới (chủ yếu là tưới cà phê ở Tây Nguyên) Theo số liệu thống kê sơ bộ, riêng khu vực Tây Nguyên, hiện có hàng trăm nghìn giếng khoan, giếng đào đang khai thác nước dưới đất kết hợp với nguồn nước mặt của hơn 1.000 hồ chứa vừa và nhỏ để tưới cho trên 450.000ha đất trồng cà phê và hàng trăm ngàn ha các loại cây trồng khác Ước tính tổng lượng nước dưới đất dùng để tưới hàng năm trên 1,1 tỷ m3 [8]
Mặc dù cấp nước trong nông nghiệp đã đạt được những thành tựu to lớn nêu trên, nhưng trong giai đoạn tới cần chú trọng các biện pháp tiết kiệm nước, nâng cao hiệu quả sử dụng nước của các công trình; sử dụng nước đa mục tiêu, điều hoà, phân
bổ nguồn nước cho các mục đích sử dụng khác; cấp nước theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp; thực hiện chính sách xã hội hoá trong cung cấp các dịch vụ nước
1.2.1.2 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong sản xuất công nghiệp
Cấp nước công nghiệp đã góp phần quan trọng, bảo đảm các điều kiện để phát triển ngành công nghiệp với nhịp độ cao, mở rộng quy mô và phân bố lại các lĩnh vực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Nước ta hiện có trên 180 khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế tập trung được xây dựng trên tổng diện tích hơn 50 nghìn ha Các khu công nghiệp, chế xuất chủ yếu gần các đô thị lớn, do vậy nguồn cung cấp nước thường do các công ty cấp nước chịu trách nhiệm Một số ít khu công nghiệp và phần lớn xí nghiệp công nghiệp có hệ thống cấp nước riêng (chủ yếu là sử dụng nguồn nước dưới đất)
Ước tính, tổng lượng nước sử dụng trong sản xuất công nghiệp hiện nay khoảng 7,7 tỷ m3/năm Xét theo tính chất công nghiệp, hiện có 3 ngành đứng hàng đầu trong
sử dụng nước là hoá chất, phân bón, xà phòng, tiêu thụ khoảng 850.000 m3 /ngày Xét theo cơ cấu nguồn nước, hơn 86% là nước mặt (kể cả các hồ chứa lớn), hơn 11% là nước dưới đất và chưa đầy 2% nước biển (sản xuất muối) [8]
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước yêu cầu bảo đảm số lượng, chất lượng của nguồn nước và những đòi hỏi ngày càng cao về tính ổn định, đặc biệt là
ở các khu công nghiệp
Trang 291.2.1.3 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong đô thị
Việt Nam có 708 đô thị với dân số 21,59 triệu người (chiếm 26,3% dân số toàn quốc) Cấp nước đô thị có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của môi trường đô thị, được ưu tiên cao trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước Trong thời gian qua, cấp nước đô thị có tốc độ phát triển cao, đến nay có 61 trên tổng số 64 thành phố, thị xã là tỉnh lỵ đã có hệ thống cấp nước tập trung hoàn chỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu cấp nước sinh hoạt, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện có trên 240 nhà máy cấp nước đô thị với tổng công suất thiết kế là 4,59 triệu m3/ngày, công suất khai thác thực tế khoảng 3,49 triệu m3/ngày, trong đó, 66% khai thác nguồn nước mặt và 34% khai thác nguồn nước dưới đất Nước dưới đất là nguồn chủ yếu để cấp nước ở nhiều địa phương; bên cạnh đó, một số địa phương khác thì nước mặt lại là nguồn cung cấp chủ yếu và nhiều địa phương sử dụng cả nguồn nước mặt và nước dưới đất để cấp nước đô thị
Tổng công suất thiết kế của các nhà máy cấp nước đô thị có thể bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho người dân sống ở đô thị Tuy nhiên, do các hệ thống cấp nước đô thị vừa cấp nước sinh hoạt, vừa cấp nước cho các nhu cầu sản xuất, kinh doanh khác
và do kết cấu hạ tầng hệ thống cấp nước cũ, lạc hậu và thiếu đồng bộ nên các hệ thống cấp nước đô thị chưa phát huy hết công suất (trung bình đạt khoảng 76% so với công suất thiết kế), cộng với tỷ lệ thất thoát nước lớn (trung bình khoảng 35%) nên trên thực
tế, tỷ lệ dân số ở đô thị được cấp nước còn thấp, trung bình đạt khoảng 60% (ở các đô thị lớn trung bình đạt 75 - 85%) và lượng nước cấp thực tế hàng ngày trung bình đạt khoảng 80 -100 lít/người/ngày (ở các đô thị lớn đạt 110 - 130 lít/người/ngày)
Các đô thị nhỏ hiện đang có nhu cầu tương đối lớn về cấp nước Tuy nhiên, khả năng đáp ứng rất hạn chế, chỉ có khoảng 34% thị trấn có hệ thống cấp nước tập trung
và cũng chỉ có khoảng 55% dân số được hưởng dịch vụ cấp nước với lượng nước cấp trung bình khoảng 60 - 80 lít/người/ngày [8]
Tốc độ đô thị hoá nhanh đòi hỏi bảo đảm cấp nước ổn định cả về số lượng lẫn chất lượng, điều hoà, phân bổ lại nguồn nước, khai thác hài hoà, hợp lý giữa các loại nguồn nước, đặc biệt là nước dưới đất; tăng cường xã hội hoá trong cấp nước đô thị
Trang 301.2.1.4 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong thuỷ điện
Phát triển thuỷ điện đã đem lại những hiệu ích kinh tế, xã hội to lớn, góp phần quan trọng trong bảo đảm cân đối nhu cầu năng lượng của đất nước Trong lĩnh vực công nghiệp, lượng nước sử dụng cho ngành năng lượng điện lực chiếm tỷ trọng rất lớn so với các ngành công nghiệp khác Tuy nhiên, nước dùng trong thuỷ điện lại là dạng sử dụng nước không hoặc ít tiêu hao và trong trường hợp có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành sử dụng nước trên phạm vi lưu vực thì nó lại còn tạo điều kiện cấp nước cho các ngành khác
Hiện nay, cả nước đã có 10 nhà máy thuỷ điện lớn đang hoạt động với tổng công suất lắp máy là 4.080 MW, sản lượng điện hàng năm 17 tỷ KWh và đã lắp đặt, đưa vào vận hành hơn 400 trạm thủy điện vừa với tổng công suất khoảng 65MW, điện
năng tương ứng khoảng 130-162 triệu KWh
Tổng dung tích các hồ chứa của 10 nhà máy thuỷ điện lớn hiện có đạt trên 19 tỷ
m3, nếu chỉ tính dung tích hữu ích, đạt 13,5 tỷ m3 Đây là nguồn dự trữ nước quan trọng để điều hoà, cấp nước cho các mục đích khác [8]
Tuy nhiên, vai trò quan trọng của các hồ chứa thuỷ điện chưa được đặt đúng tầm trong lĩnh vực tài nguyên nước, hệ thống các hồ chứa nước lớn đã bắt đầu làm thay đổi chế độ thuỷ văn, lòng dẫn ở vùng châu thổ và vùng cửa sông, chưa phát huy hết vai trò quan trọng hàng đầu trong việc điều hoà, phân phối nguồn nước giữa mùa
lũ và mùa kiệt, chủ động phòng, chống lũ, phát triển vận tải thuỷ
1.2.1.5 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong giao thông thuỷ
Vận tải thuỷ có vai trò quan trọng trong giao thông vận tải ở nước ta, chiếm vị trí hàng đầu ở đồng bằng sông Cửu Long Hệ thống vận tải thuỷ ngày càng phát triển,
có tác dụng to lớn trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế
Vận tải đường sông chiếm tỷ trọng 25-30% về tấn và tấn - km, 10-15% về hành khách và hành khách - km trong tổng khối lượng vận tải toàn ngành giao thông vận tải Trong những năm trước đây, phương tiện vận tải đều có trọng tải dưới 100 tấn, mớn nước đa số dưới 1,5m Hiện nay, phương tiện vận tải tự hành phát triển mạnh về tải trọng và chủng loại, mớn nước lớn hơn 2m Sản lượng vận tải tăng trưởng hàng năm từ 10% đến 15% [8]
Trang 31Mặc dù các hoạt động giao thông thuỷ không tiêu hao nước, nhưng trong thời gian tới, cần chú trọng bảo đảm duy trì mực nước để đủ độ sâu chạy tầu; không chia cắt tuyến vận tải khi xây dựng công trình trên sông; bảo đảm giao thông thuỷ quốc tế
tự do và thuận tiện trên sông Tiền, sông Hậu
1.2.1.6 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong thuỷ sản
Thuỷ sản phát triển mạnh, có hiệu quả ở cả ba vùng sinh thái nước ngọt, nước
lợ, nước mặn, đã góp phần to lớn tạo công việc và cải thiện được đời sống cho hàng chục vạn lao động ở vùng khó khăn Cấp nước nuôi trồng thuỷ sản đã góp phần quan trọng phát triển ngành thuỷ sản, trở thành một trong những ngành xuất khẩu quan trọng, đưa lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước
Hiện nay, cả nước có 904,9 nghìn ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, trong đó: nuôi nước ngọt là 268,6 nghìn ha, chiếm 30% và nuôi nước lợ, nước mặn là 636,3 nghìn ha, chiếm 70% so với tổng diện tích nuôi trồng Trong diện tích nuôi trồng nước ngọt thì nuôi cá là chủ yếu, chiếm tới 96%; trong diện tích nuôi trồng nước lợ, mặn thì nuôi tôm là chủ yếu, chiếm gần 94% tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn Với lượng nước sử dụng trung bình khoảng 10.000m3/ha/năm thì tổng lượng nước sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản hàng năm ước tính trên 9 tỷ m3 (bao gồm cả nước ngọt dùng để pha loãng trong nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ), chỉ đứng sau nhu cầu sử dụng nước trong nông nghiệp [8]
Tuy nhiên, việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở nhiều nơi còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch Nước dưới đất bị khai thác quá mức phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, chủ yếu cho nuôi tôm nước lợ, nuôi tôm trên cát ven biển và các dịch vụ đi kèm
đã dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, gia tăng xâm nhập mặn, suy giảm nguồn nước, thiếu nước nghiêm trọng ngay cho mục đích sinh hoạt chứ chưa nói tới các nhu cầu khác
1.2.1.7 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong nông thôn
Cải thiện điều kiện cấp nước nông thôn đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, có vai trò quan trọng hàng đầu trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo Cấp nước sinh hoạt nông thôn nay đã trở thành hạng mục trong kế hoạch quốc gia và phát triển như một phong trào mang tính xã hội
Cả nước hiện có khoảng 36,7 triệu trên tổng số 60,44 triệu người dân nông thôn được cấp nước sinh hoạt, bằng 60,7% so với tổng số dân nông thôn Nguồn nước để cấp nước sinh hoạt nông thôn chủ yếu được khai thác từ nguồn nước dưới đất Ước
Trang 32tính hiện nay cả nước có hàng chục vạn giếng khoan đang khai thác nguồn nước dưới đất để cấp nước sinh hoạt cho nhân dân ở khu vực nông thôn
Tỷ lệ dân số nông thôn được cấp nước sinh hoạt lớn nhất là ở vùng Đông Nam
Bộ (66,7%), đồng bằng sông Hồng (65,1%), đồng bằng sông Cửu Long (62,1%), thấp nhất là ở vùng Tây Nguyên (48,5%) và vùng Tây Bắc (46,1%) Hiện còn nhiều vùng thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng, đặc biệt là trong mùa khô như: vùng núi cao phía Bắc, Tây Nguyên, vùng núi khu vực các tỉnh Miền Trung, trong đó các tỉnh Nam Trung Bộ là những địa phương khó khăn nhất về nguồn nước trong mùa khô [8]
Gia tăng dân số, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, công nghiệp hoá nông thôn đang đặt ra những yêu cầu lớn hơn đối với khai thác, sử dụng tài nguyên nước ở khu vực nông thôn nhằm bảo đảm: tỷ lệ cấp nước sinh hoạt theo mục tiêu đề ra; giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt, khan hiếm nước, ô nhiễm nguồn nước mặt, nước dưới đất ở khu dân cư tập trung; thực hiện chính sách ưu tiên cấp nước sinh hoạt, xoá đói, giảm nghèo
1.2.1.8 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong du lịch và giải trí
Ngành du lịch đang phát triển nhanh chóng Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng mạnh trong thời gian qua: năm 2013 đạt 7,512 triệu lượt người, tăng 10,6% so với năm 2012 số và dự kiến năm 2015, ngành du lịch sẽ đón 3,2 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam Số khách nội địa năm 2013 cũng đã tăng gấp 7,7% so với năm 2012 Để phục vụ phát triển du lịch, hàng loạt khách sạn, khu giải trí, công viên nước đã và đang tiếp tục được xây dựng Đồng thời, ngành du lịch cũng đang tăng cường khai thác các mô hình du lịch sinh thái liên quan trực tiếp tới nước như: sông, suối tự nhiên; các hồ chứa nước tự nhiên, nhân tạo
Trong phát triển du lịch, lượng nước yêu cầu không lớn so với các ngành khác nhưng đòi hỏi chất lượng cao đồng thời du lịch cũng là hoạt động gây ô nhiễm nguồn nước nếu không được quản lý tốt
1.2.2 Quản lý tổng hợp nguồn nước
1.2.2.1 Quản lý tổng hợp nguồn nước
Quản lý tổng hợp nguồn nước là giải pháp tích cực do Liên Hợp Quốc đưa ra để quản lý và sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên nước Quản lý tổng hợp nguồn nước được định nghĩa là quá trình đẩy mạnh sự hợp tác phát triển và quản lý nước, đất cùng các nguồn tài nguyên khác có liên quan, nhằm tối đa hoá phúc lợi xã hội - kinh tế một
Trang 33cách công bằng mà không phải hy sinh tính bền vững của các hệ sinh thái Nó có thể bao gồm cả việc giảm một số lợi ích kinh tế nào đó để bảo vệ tự nhiên cho thế hệ tương lai, hoặc duy trì và phát triển giá trị của nước đối với xã hội Quản lý tổng hợp nguồn nước dựa trên quan điểm cho rằng nước là một phần nội tại của hệ sinh thái, một nguồn tài nguyên thiên nhiên và một hàng hoá kinh tế xã hội mà số lượng cũng như chất lượng của nó quyết định bản chất của việc sử dụng Như vậy nguồn nước phải được bảo vệ, có tính đến chức năng của hệ sinh thái nước và mức độ sẵn có của nguồn lực, nhằm thoả mãn những nhu cầu về nước cho các hoạt động của con người Nước là một trong những yếu tố sống còn cho sự sống, tăng trưởng và phát triển Việc quản lý một cách bền vững nguồn lực có hạn này cần phải tính đến một diện rộng các yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường sinh thái
Quản lý tổng hợp nguồn nước là một quá trình thông qua đó các yếu tố này được kết hợp lại với nhau, cho phép ra quyết định ở tất cả các cấp trong khuôn khổ của việc lập kế hoạch tổng thể và điều phối chung giữa tất cả các ngành, các lĩnh vực trong
xã hội Nguyên tắc Dublin - Rio quản lý tổng hợp nguồn nước: Nguyên tắc sinh thái: nước sạch là nguồn tài nguyên hữu hạn, dễ bị tổn thương, cần cho sự sống, phát triển
và môi trường Do đó tiếp cận sử dụng tổng hợp phải tính đến các thành phần cán cân nước, hoạt động phát triển và tác động tại mỗi vùng thượng hạ lưu, sử dụng đa mục đích, liên kết đa ngành, gắn kết xã hội loài người và thiên nhiên
Quản lý tổng hợp có đặc điểm là: cấp đa dạng, đối tượng đa dạng, công cụ đa dạng Quản lý tổng hợp nguồn nước có thể áp dụng được ở mọi cấp độ ra quyết định: địa phương, lưu vực sông, quốc gia, quốc tế Tuy nhiên, mức độ phức tạp về chính trị
và pháp lý của việc ra quyết định cũng tăng theo sự tăng cấp độ quyết định Xét cho cùng, các phương án chiến lược phát triển và quyết định có liên quan đến việc sử dụng nguồn nước phải được biến thành chính sách cụ thể về quy hoạch, phân bổ và quản lý nguồn nước Những chính sách này hướng đến quản lý tổng hợp nguồn nước tại một quốc gia hay lưu vực sông theo một tầm trung và dài hạn, bằng cách: 1- Gắn chính sách nguồn nước với tổng thể phát triển kinh tế xã hội (ví dụ: vấn đề đô thị hoá ); 2- Tạo nền tảng cho sự tham gia và hành động của tất cả các bên có liên quan (ví dụ: các
tổ chức lưu vực, sự tham gia của người sử dụng và mức phí mà họ phải trả, hợp đồng, các biện pháp khuyến khích bảo tồn và sử dụng hiệu quả nguồn nước )
Trang 34Quản lý tổng hợp nguồn nước phụ thuộc vào quan hệ hợp tác và đối tác ở tất cả các cấp, từ cá nhân đến các tổ chức xã hội và quốc tế, dựa trên những cam kết cũng như nhận thức rộng rãi hơn của xã hội đối với nhu cầu về an ninh nước và quản lý bền vững nguồn nước Để đạt được quản lý tổng hợp nguồn nước cần phải có những chính sách nhất quán cấp quốc gia, vùng để vượt qua được tình trạng phân lẻ, manh mún, có được thể chế tổ chức minh bạch, có trách nhiệm cao tại tất cả các cấp Phạm vi quản lý tổng hợp nguồn nước và các yếu tố môi trường liên quan đến nước bao gồm:
Quản lý tổng hợp tất cả các nguồn nước
Quản lý tổng hợp tất cả các ngành dùng nước
Quản lý cả lượng và chất, kiểm soát và hạn chế ô nhiễm
Quản lý cả cung và cầu một cách tiết kiệm, hiệu quả
Quản lý sử dụng nước trong mối liên quan đến sử dụng đất và hệ sinh thái lưu vực Quản lý tổng hợp việc khai thác và sử dụng nước ở cả thượng và hạ lưu, hạn chế mâu thuẫn sử dụng nước giữa các vùng này
Những thành tố cơ bản của quản lý tổng hợp nguồn nước là:
Những chính sách tốt về nước (dựa trên các mục tiêu phát triển tổng thể, đóng góp đầu vào của các bên có liên quan và các nhà tài trợ ) Khuôn khổ pháp lý, thể chế, điều tiết thích hợp Sự tham gia của các bên có liên quan, nhất là phụ nữ Quan điểm truyền thống
về nước (văn hoá, tôn giáo ) Giá trị của nước (kinh tế, xã hội và môi trường)
Phân bổ công bằng nguồn nước Ra quyết định ở cấp thấp nhất có thể Phân cấp trách nhiệm quản lý và phân phối nước cũng như các dịch vụ khác về hệ sinh thái
Phương thức tiếp cận khoa học kỹ thuật công nghệ tốt
Hệ thống dữ liệu thông tin và cơ sở tri thức
Công cụ phân tích đánh giá giá trị kinh tế của nước
Khuôn khổ giám sát và thực thi
Năng lực của tổ chức và cán bộ
Quản lý xung đột
Công cụ quản lý tài nguyên nước bao gồm:
Các văn bản luật pháp quốc tế và quốc gia, quy định quyền hạn và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên nước khác nhau, kể cả các văn bản pháp luật liên quan đến những thành tố khác của môi trường và tài nguyên, có quan hệ mật thiết với tài nguyên nước Hệ
Trang 35thống đo đạc, dữ liệu cơ sở về mạng lưới thuỷ văn, chế độ nước và kết quả nghiên cứu của thuỷ văn học, hồ học, hồ chứa học, khí tượng học, địa chất thuỷ văn Thiết chế giám sát và cơ sở dữ liệu về chất lượng nước Tiêu chuẩn chất lượng nước và tiêu chuẩn dùng nước Công cụ kinh tế quản lý nguồn nước Chiến lược và các chương trình kế hoạch phát triển
1.2.2.2 Quản lý tài nguyên nước theo lưu vực
Quản lý nguồn nước theo lưu vực là một cấp độ trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước Quản lý nước theo lưu vực nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hợp lý tài nguyên trên cơ sở hiểu biết và tôn trọng các quy luật tự nhiên hình thành tài nguyên nước trong một lưu vực cụ thể Trong quản lý tài nguyên nước theo lưu vực, đơn vị địa
lý để thực hiện quản lý không phải là địa giới hành chính mà là toàn bộ lưu vực sông Thông qua hoạt động của bộ máy quản lý lưu vực, tất cả các hoạt động sử dụng và bảo
vệ tài nguyên được xem xét một cách thống nhất và hợp lý Đối với một lưu vực sông gồm nhiều đơn vị hành chính thì việc quản lý thống nhất theo lưu vực sông sẽ tạo cơ
sở thuận lợi để giải quyết các mối quan hệ hay những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình sử dụng hay quản lý tài nguyên giữa các vùng khác nhau Quản lý tổng hợp lưu vực sông không chỉ giới hạn trong phạm vi quản lý tài nguyên nước, mà còn liên quan đến mọi khía cạnh của việc quản lý và sử dụng các tài nguyên liên quan khác trên lưu vực như đất, rừng, hệ sinh thái, hoạt động của con người Về mặt nguyên tắc, trong quản lý phát triển theo lưu vực cần xây dựng các dự án phát triển khai thác được tối đa tiềm năng thế mạnh và hạn chế tới mức thấp nhất các rủi ro bất lợi có thể có của từng vùng Thượng du là vùng sinh thuỷ và năng lượng nên mọi chương trình phát triển đều phải tính đến việc hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ gây tổn thương các điều kiện hình thành dòng chảy và phát sinh tai biến trượt lở, lũ lụt Việc phát triển thuỷ điện ở thượng lưu sẽ cho hiệu quả kinh tế tối ưu nhất so với các khu vực còn lại Hạ du là vùng nhận và tiêu nước, địa hình bằng phẳng, mật độ dân cư và đầu tư kinh tế cao, thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình kinh tế, nhưng cần ưu tiên cho những mục tiêu thoát nước nhanh, hạn chế lũ lụt dài ngày và dùng nước tiết kiệm để hạn chế thiệt hại
do thiếu nước dùng Nhu cầu cấp nước của toàn lưu vực phải được tính trên cơ sở cân bằng với khả năng tái tạo về lượng và chất của tài nguyên
Tuy nhiên, có một số nhiệm vụ chung mà trong quản lý lưu vực sông đều phải thực hiện, đó là: Lập quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước lưu vực
Trang 36sông và theo dõi việc thực hiện quy hoạch Phối hợp với các cơ quan hữu quan của các
bộ, ngành và địa phương trong việc điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước của lưu vực sông Phối hợp với các đơn vị hành chính các cấp để giải quyết tranh chấp
về tài nguyên nước nảy sinh trên lưu vực Ngoài ra, tùy theo hình thức, một số tổ chức lưu vực sông có thể tham gia trực tiếp vào chức năng thiết kế, thi công và quản lý các công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên lưu vực Theo UNESCO, việc chi tiết hoá kế hoạch tổng hợp cho những lưu vực rộng đa quốc gia là khó có khả năng Ví
dụ Uỷ ban hạ lưu sông Mê Công mới chỉ hoạt động trong phạm vi liên quan đến thu thập số liệu và lập kế hoạch Quản lý tổng hợp có cơ hội thành công lớn hơn ở những lưu vực nhỏ hơn
1.2.2.3 Giám sát lượng nước và chất lượng nước
Mục tiêu của giám sát lượng nước là đo đạc lượng nước, nghiên cứu chế độ và biến động tài nguyên nước, nghiên cứu các quy luật chi phối sự hình thành tài nguyên nước Đây là lĩnh vực thuộc nhiệm vụ và khả năng của thuỷ văn học, hồ học, hồ chứa học, địa chất thuỷ văn và một số ngành dùng nước như thuỷ lợi, năng lượng, giao thông
Giám sát chất lượng nước là các hoạt động nhằm mục tiêu đánh giá chất lượng nước nền và theo dõi biến động chất lượng nước trong quá trình khai thác sử dụng Giám sát chất lượng nước được triển khai tuỳ theo mục đích, nhu cầu và khả năng về nhân lực, kỹ thuật, tài chính Việc đo đạc các chỉ tiêu chất lượng nước và tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước được quy ước đưa vào nội dung môn học về ô nhiễm môi trường, do đó luận văn không đề cập sâu Tuy nhiên, cần lưu ý là việc nghiên cứu, ghi chép kỹ lưỡng các đặc điểm hình thái, động lực của thuỷ vực, cũng như điều kiện khí hậu, đặc điểm lưu vực, nguồn cấp nước, nguồn thải, vùng và phương thức tiêu nước giúp chúng ta định ra được số điểm đo ít nhất và lý giải được những bất thường của kết quả phân tích
1.2.2.4 Công cụ kinh tế trong quản lý nguồn nước
Các công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lý nguồn nước để phân phối công bằng hợp lý nguồn nước, đảm bảo phục vụ phát triển và bảo tồn trữ lượng nước, bảo
vệ chất lượng nước, làm giảm thiểu các tác động bất lợi tới nguồn nước Các công cụ kinh tế đa mục tiêu theo định hướng thị trường trong quản lý nguồn nước gồm: Cấp giấy phép, thu phí và tiền phạt, định giá nước và thu tiền dùng nước Cấp giấy phép, là công cụ đơn giản, ít tốn chi phí quản lý, nhưng thường gặp khó khăn trong việc giám
Trang 37sát thực thi, không có tác động hiệu quả đối với việc khuyến khích một hành vi cụ thể
và không mang lại nguồn thu Phí và tiền phạt, là công cụ đơn giản, có thể dễ định hướng để khuyến khích những thay đổi hành vi cụ thể, nhưng tốn nhiều chi phí hơn, khó giám sát thực thi và không mang lại nhiều nguồn thu
Quản lý tổng hợp nguồn nước một cách hiệu quả sẽ nội hoá tất cả các tác động hướng ngoại trong một khu vực, đòi hỏi người quản lý phải đánh giá được các tác động ở vùng hạ lưu như những chi phí cơ hội Đây là trung tâm của công tác quản lý lưu vực sông Giá trị đối với người sử dụng là giá trị thu được từ việc dùng nước cho một mục đích cụ thể duy nhất Giá trị hệ thống là tổng giá trị tạo ra được bởi một đơn
vị nước khi nó chảy qua hệ thống sông Giá trị hệ thống là tổng hợp tất cả những giá trị đối với người sử dụng theo một cách thức sử dụng nước cụ thể, cộng chi phí cơ hội và các tác động hướng ngoại Xem xét những thay đổi giá trị hệ thống trong những phương án quản lý khác nhau có thể giúp cho các nhà quản lý đánh giá tính hiệu quả tương đối của chúng, trong khi đó các giá trị đối với người sử dụng cho chúng ta thông tin về việc phân bổ chi phí và lợi ích nhằm đánh giá mức độ công bằng trong mỗi phương án
Phân bổ nguồn nước và mô hình tăng trưởng, phát triển: Việc phân bổ nguồn nước là điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo đã được chấp nhận rộng rãi, nhưng tác động của sự phân bổ nguồn nước giữa các ngành với nhau trong cơ cấu kinh tế, tăng trưởng và mô hình phát triển còn ít được cân nhắc đến Các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ thường có những nhu cầu dùng nước có tính cạnh tranh Việc phân bổ nước thế nào cho các lĩnh vực đó sẽ, hoặc là tạo điều kiện thuận lợi, hoặc hạn chế sự tăng trưởng tương đối của chúng, dẫn đến những nền kinh
tế rất khác nhau trong tầm trung hạn, với những phúc lợi khác nhau Cũng tương tự, những khuyến khích cho việc sử dụng nước trong nội ngành ở từng lĩnh vực sẽ có tác động đến phúc lợi, tăng trưởng và bình đẳng Ví dụ trong nông nghiệp, sự cân bằng giữa một nền nông nghiệp tự cung tự cấp truyền thống (thường nhằm vào những đối tượng rất nghèo và tạo thêm cho họ nhiều cơ hội việc làm) và sản xuất công nghệ cao (tạo ra những giá trị gia tăng lớn cho một nhóm nhỏ hơn) sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá trị của sản xuất nông nghiệp và việc phân bổ những lợi ích đó
Trang 381.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia về quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước 1.3.1 Kinh nghiệm các nước phát triển
- Kinh nghiệm của Pháp
Cộng hoà Pháp quản lý tài nguyên nước theo nguyên tắc người sử dụng nước và người gây ô nhiễm nguồn nước phải trả tiền Nguyên tắc được đề ra là “mỗi giọt nước được cung cấp, mỗi giọt nước thải ra đều phải đóng tiền” để sử dụng vào việc cấp nước và xử lý ô nhiễm nguồn nước Giá thành của một mét khối nước được tính chi tiết gồm:
(1) Giá cơ bản để sản xuất một mét khối nước sạch, giá này do đơn vị sản xuất nước sạch quyết định trên cơ sở giá thành sản xuất;
(2) Chi phí đầu tư cho việc thoát nước, xử lý nước thải sau khi sử dụng, giá này
do đơn vị thoát nước quy định trên cơ sở chi phí đầu tư;
(3) Thuế tài nguyên nước do Nhà nước (Bộ Tài chính) quy định;
(4) Phí ô nhiễm nguồn nước do Uỷ ban từng lưu vực sông quy định hàng năm căn cứ trên mức độ ô nhiễm tính trên cơ sở số lượng dân cư, mật độ khu công nghiệp, làng nghề… Giá nước ở Cộng hoà Pháp được tính đầy đủ cả 4 khoản chi phí trên nhằm
có đủ nguồn kinh phí để xử lý ô nhiễm, cung cấp nước sạch cho nhân dân
Cơ quan luu vực sông được Nhà nước giao thu phí ô nhiễm nước và thuế tài nguyên nước và được sử dụng số kinh phí này để phục vụ cho quản lý, xử lý ô nhiễm nước và hỗ trợ các địa phương xây dựng các công trình công cộng về tài nguyên nước Uỷ ban lưu vực sông là cơ quan quyết định mức phí ô nhiễm nước hàng năm cho nên giá nước hàng năm có thay đổi tuỳ thuộc vào mức độ ô nhiễm của từng lưu vực sông và lưu vực sông nào càng ô nhiễm thì giá nước càng cao
Công tác đào tạo nguồn nhân lực về nước ở Pháp được coi trọng và đã được đầu tư thoả đáng về cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật, vì vậy, chất lượng đào tạo cao Người học được thực hành trên hệ thống công nghệ hiện đại, vừa nắm được lý thuyết, vừa có tay nghề thực tế, sau khi ra trường có thể làm việc ngay tại các cơ sở quản lý, sản xuất, kinh doanh về ngành nước
Lưu vực sông Seine- Normandie nằm ở phía Tây Bắc nước Pháp, gồm khoảng 97.000km2 Việc thực hiện quy hoạch lưu vực sông bắt đầu từ năm 1968, áp dụng hoàn toàn luật nước của Pháp năm 1964 với mục đích:
Trang 39- Đảm bảo cung cấp đủ nước cho dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội trên lưu vực;
- Đảm bảo an toàn và khả năng phát triển của nguồn cung cấp nước;
- Bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên có trên lưu vực sông;
- Nâng cao hiệu quả các công trình trên sông;
- Xử lý ô nhiễm và phục hồi các vùng đất ngập nước
Từ năm 1966, Pháp tổ chức các cơ quan quản lý Tài nguyên môi trường cho 6 lưu vực sông trên toàn lãnh thổ với mỗi lưu vực sông có Cục lưu vực có vai trò:
- Định hướng và khuyến khích các hộ dùng nước sử dụng hợp lý tài nguyên nước thông qua các công cụ kinh tế
- Khởi xướng và cung cấp thông tin cho các dự án (nhưng không phải là chủ đầu tư hoặc làm thay cho hộ dùng nước), chăm lo cho việc thống nhất các lợi ích địa phương, lợi ích cá biệt với lợi ích chung trong việc khai thác tài nguyên nước [28]
- Kinh nghiệm của Australia
Quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên lưu vực sông dựa theo đạo luật nước của Australia cùng sự góp sức của các bên tham vấn với mục đích:
Quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông sẽ là tiền đề cho việc thực hiện quản
lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Murray - Darling nhằm bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông và sự phát triển kinh tế xã hội phù hợp với lợi ích quốc gia;
Sông Muray - Darling là con sông dài thứ 4 trên thế giới (3.780 km) với diện tích lưu vực khoảng 1 triệu km2
Cơ cấu tổ chức: năm 1986, Austalia đã thành lập Hội đồng liên bộ lưu vực sông Muray - Darling gồm các bộ trưởng phụ trách tài nguyên đất, nước và môi trường của liên bang và các bang New South Weles, South Austalia, Victoria và Queensland (mỗi bang 3 người)
Chức năng của Hội đồng là: xem xét vấn đề về chính sách sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên nước, đất và môi trường của lưu vực Muray - Darling; đề xuất và xem xét các biện pháp nhằm sử dụng hiệu quả và bền vững các tài nguyên đó Hội đồng có quyền đưa ra các quyết định liên quan đến toàn bộ lưu vực thông qua nguyên tắc đồng thuận Hội đồng dựa vào chính quyền liên bang để thi hành các quyết định đó
Hiện nay, Hội đồng liên bộ lưu vực sông Muray - Darling đang hoạt động có hiệu quả và được nhiều nước tham khảo [28]
Trang 401.3.2 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển
- Kinh nghiệm của Brazil
Năm 1934 Luật tài nguyên nước đầu tiên của Brazil ra đời, sau khi sửa đổi một
số trong dự thảo năm 1907, Luật tài nguyên nước của Brazil là văn bản pháp quy đầu tiên để thực hiện quản lý Nhà nước về tài nguyên nước và nó được áp dụng trong hơn
60 năm Luật tài nguyên nước của Brazil đưa ra đảm bảo việc sử dụng miễn phí của nước cho những nhu cầu cuộc sống cơ bản và phát triển kinh tế - xã hội Ví dụ điển hình trong quản lý tài nguyên nước ở Brazil là việc thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên lưu vực sông São Francisco
Việc thực hiện các hành động khắc phục hậu quả chiến lược thống nhất theo SAP - São Francisco và vùng ven biển của nó là một cột mốc quan trọng và thiết yếu trong việc thực hiện Luật tài nguyên nước ở Brazil Không chỉ thực hiện, dự án đã tạo thành một trường hợp nghiên cứu thành công và sẽ được nhân rộng ở tất cả các lưu vực sông chính ở Brazil
Các hệ thống sông São Francisco bao gồm các sông, cửa sông và ven biển Hệ thống này là điển hình của nhiều hệ thống sông quan trọng nhất và quan trọng trên thế giới, về quy mô và sự phức tạp của nó và chia sẻ nhiều vấn đề nghiêm trọng đối mặt bởi hệ thống sông khác, chẳng hạn như ô nhiễm nguồn nước ở cửa sông, cũng như các xung đột về nước Một cách tiếp cận tích hợp với quy hoạch và quản lý lưu vực sông São Francisco đã cung cấp một trường hợp nghiên cứu cơ bản liên tục phù hợp với cách tiếp cận đến nguồn nước quốc tế của nó bao gồm các hoạt động liên ngành, tích hợp các nhu cầu sinh thái và phát triển và áp dụng một phân tích toàn diện về năng lực thực của môi trường nước
Thúc đẩy việc tăng cường của một cơ quan lưu vực sông là cơ chế hoạt động cho tài nguyên nước và quy định bảo đảm tính bền vững kinh tế phát triển tài nguyên nước; [28]
- Kinh nghiệm của Trung Quốc
Ở Trung Quốc, trách nhiệm quản lý tài nguyên nước thuộc về các ban ngành ở cấp độ địa phương và quốc gia Ở cấp độ quốc gia:
- Bộ Tài nguyên nước chịu trách nhiệm quản lý nước mặt, tập trung vào định lượng nguồn nước
- Bộ Bảo vệ môi trường (trước kia là cơ quan bảo vệ môi trường quốc gia, SEPA) chịu trách nhiệm quản lý chất lượng nước