1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long chi nhánh khánh hoà

110 511 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

là một điều cấp thiết, đồng thời cũng cần phải có biện pháp chiến lược bền vững nhằm tạo được vị thế, nâng cao năng lực cạnh tranh cho Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hoà trong

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

-

VÕ THU HÀ

HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KIÊN LONG CHI NHÁNH

KHÁNH HOÀ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Khánh Hòa – Năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

-

VÕ THU HÀ

HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KIÊN LONG CHI NHÁNH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giảng viên Trường Đại học Nha Trang đã truyền đạt những kiến thức quý báo, tạo môi trường tốt cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu

Để hoàn thành được Luận văn này, tác giả gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Vinh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này

Để có được những số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài, tác giả chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp là cán bộ tín dụng của Ngân hàng TMCP Kiên Long, các chuyên gia là quản lý các phòng ban, đơn vị của Ngân hàng TMCP Liên Long – Chi nhánh Khánh Hoà

Sau cùng tác giả không quên nói lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn bè đã ủng hộ, hỗ trợ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn !

Tác giả

Võ Thu Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đề tài “Hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hoà” là công trình nghiên cứu độc lập và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thị Thanh Vinh

Các thông tin, số liệu nghiên cứu trong luận văn là chính xác, trung thực

Đề tài này chưa được nghiên cứu, báo cáo trong các công trình nghiên cứu trước đây

Tác giả xin cam đoan những vấn đề nêu trên là hoàn toàn đúng sự thật Nếu sai, tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

Võ Thu Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5

1.1 Khái niệm và vai trò của tín dụng 5

1.1.1 Khái niệm về tín dụng và tín dụng khách hàng cá nhân 5

1.1.1.1 Khái niệm về tín dụng 5

1.1.1.2 Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân 5

1.1.1.3 Đặc trưng khách hàng cá nhân 7

1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng 8

1.2 Rủi ro tín dụng và tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại 10

1.2.1 Rủi ro tín dụng 10

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá rủi ro 11

1.2.3 Rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân 13

1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro 14

1.3.1 Nguyên nhân khách quan 14

1.3.2 Nguyên nhân chủ quan 16

1.4 Công tác quản trị rủi ro tín dụng 20

1.4.1 Quản trị rủi ro tín dụng 21

1.4.2 Công cụ QTRRTD theo nguyên tắc chung của UB giám sát Ngân hàng Basel 21

1.5 Các kinh nghiệm về hạn chế rủi ro tín dụng của các Ngân hàng Thương mại trong và ngoài nước 24

1.5.1 Kinh nghiệm của một số ngân hàng trong nước 24

Trang 6

1.5.2.Kinh nghiệm của một số ngân hàng nước ngoài 25

Kết luận Chương 1 29

Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG CHI NHÁNH KHÁNH HÒA 30

2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa 30

2.1.1 Vài nét về Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa 30

2.1.2 Các hoạt động cơ bản tại Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa 32

2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa 35

2.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng 35

2.2.1.1 Công tác chỉ đạo điều hành 44

2.2.1.2 Quy trình và các sản phẩm tín dụng 47

2.2.1.3 Thực trạng hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân 54

2.2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng 56

2.2.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng rủi ro tín dụng ở Chi nhánh 56

2.2.2.2 Cơ cấu dư nợ và nợ quá hạn 59

2.2.2.3 Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng 61

2.3 Điều tra khảo sát về nguyên nhân rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân ở Chi nhánh 63

2.3.1 Phương pháp khảo sát 63

2.3.2 Kết quả khảo sát 64

2.3.3 Thảo luận 68

2.4 Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa 69

2.4.1 Những mặt được 69

2.3.2 Những mặt chưa được 70

Kết luận Chương II 71

Chương III: HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG CHI NHÁNH KHÁNH HOÀ 72

3.1.Chiến lược và định hướng hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Chi nhánh 72

Trang 7

3.1.1 Mục tiêu phát triển tín dụng khách hàng 72

3.1.2 Định hướng hạn chế rủi ro tín dụng 73

3.2 Một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hoà 75

3.2.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng 75

3.2.2 Thực hiện tốt quy trình tín dụng 76

3.2.3 Phân tán rủi ro 77

3.2.4 Tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát, giám sát tín dụng 79

3.2.5 Pháp luật về giao dịch đảm bảo 82

3.2.6 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro 85

3.2.7 Tổ chức phòng ngừa rủi ro 89

3.2.8 Nâng cao hiệu quả của bộ phận xử lý nợ 91

3.2.9 Nâng cao trình độ và năng lực của cán bộ tín dụng 92

3.3 Một số kiến nghị 94

3.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa 94

3.3.2 Kiến nghị đối với cán bộ tín dụng 94

3.3.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 8

ROA Doanh lợi trên tổng tài sản

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 – Dư nợ của khách hàng cá nhân giai đoạn 2010-2013 33

Bảng 2.2 – Dư nợ cho vay phân theo đối tượng vay vốn 35

Bảng 2.3 – Dư nợ phân theo nhóm qua các năm 36

Bảng 2.4 – Dư nợ cho vay trong hạn phân theo thời hạn vay vốn 38

Bảng 2.5 – Tình hình cho vay có TSBĐ và không có TSBĐ qua các thời điểm 39

Bảng 2.6 – Dư nợ cho vay từ nhóm 2 đến nhóm 4 41

Bảng 2.7 – Dư nợ nhóm 3 đến nhóm 4 qua các thời điểm 43

Bảng 2.8 – Dư nợ của khách hàng cá nhân giai đoạn 2010 - 2013 54

Bảng 2.9 – Dư nợ theo nhóm của khách hàng cá nhân 60

Bảng 2.10 – Kết quả khảo sát khách hàng cá nhân 64

Bảng 2.11 – Kết quả khảo sát nhân viên tín dụng 67

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 – Sơ đồ tổ chức của phòng Quản lý rủi ro 62

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 – Dư nợ cho vay phân theo đối tượng vay vốn 36

Biểu đồ 2.2 – Dư nợ cho vay trong hạn phân theo đối tượng vay vốn 39

Biểu đồ 2.3 – Dư nợ cho vay có TSBĐ và không có TSBĐ qua các thời điểm 40

Biểu đồ 2.4 – Dư nợ cho vay từ nhóm 2 đến nhóm 4 41

Biểu đồ 2.5 – Trích lập dự phòng dư nợ nhóm 2 từ năm 2010 - 2013 42

Biểu đồ 2.6 – Trích lập dự phòng dư nợ nhóm 3 đến nhóm 4 qua các thời điểm 43

Biểu đồ 2.7 – Dư nợ nhóm 5 qua các thời điểm 44

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Thế giới và Việt Nam đang và sẽ tiếp tục đối diện với nhiều vấn đề lớn, phức tạp, kéo dài và liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội, cả cấp vĩ mô và

vi mô Bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu những năm gần đây đã và đang đòi hỏi chúng ta tìm kiếm những giải pháp phù hợp để giải quyết, sớm đưa nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi sự khủng hoảng và phát triển bền vững

Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán mà còn

có những quan hệ xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp nước ngoài Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay, v.v đối với các doanh nghiệp Tín dụng là một trong những hoạt động quan trọng, góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ luân chuyển tiền tệ trong nền kinh tế, tạo cơ chế phân tích vốn một cách có hiệu quả Tín dụng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ, góp phần mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế

Doanh nghiệp và ngân hàng có mối quan hệ biện chứng với nhau, nó tác động qua lại và tương trợ lẫn nhau Tuy nhiên, đối tượng kinh doanh của doanh nghiệp và ngân hàng là hai loại hình khác nhau, do vậy sự rủi ro giữa chúng hoàn toàn khác nhau Nếu doanh nghiệp, rủi ro có thể làm suy yếu, thậm chí bị phá sản và xóa tên doanh nghiệp đó thì đối với ngân hàng thương mại với đối tượng kinh doanh của nó

là tiền tệ nên rủi ro không chỉ làm suy yếu, phá sản mà nó còn có tính dễ lây lan giữa các ngân hàng thương mại với nhau làm tổn thương đến cả hệ thống ngân hàng

Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hoà khai trương tại tỉnh Khánh Hoà từ ngày 12/07/2008, qua hơn 5 năm hình thành và phát triển, Kienlongbank Khánh Hoà đã dần có vị thế tương đối tốt trên thị trường tài chính – ngân hàng tại Khánh Hoà Cũng giống như các ngân hàng TMCP khác hiện nay vấn đề nợ xấu tăng cao đang làm đau đầu các nhà lãnh đạo, Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hoà cũng không ngoại lệ Như vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là làm thế nào để có biện pháp mang tính hiệu quả cao để phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong tín dụng nói chung và tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng

Trang 12

là một điều cấp thiết, đồng thời cũng cần phải có biện pháp chiến lược bền vững nhằm tạo được vị thế, nâng cao năng lực cạnh tranh cho Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hoà trong thời gian đến.

Xuất phát từ thực tế trên, tác giả chọn đề tài “Hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài hướng đến những mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

a Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại

b Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa thời gian qua

c Khảo sát ý kiến chuyên gia và khách hàng về nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cá nhân ở Chi nhánh

d Đề xuất giải pháp hạn chế và quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa hướng tới sự phát triển bền vững của chi nhánh

3 Đối tượng nghiên cứu

Rủi ro đối với tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa, các nguyên nhân của nó

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng cá nhân nói riêng tại Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa Số liệu được thu thập cho giai đoạn

từ năm 2011-2013 Điều tra khảo sát được thực hiện từ tháng 1/2014 đến 3/2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đã đề ra ở trên luận văn sử dụng phương pháp sau;

- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích - tổng hợp số liệu: dựa trên số liệu báo cáo của ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long Chi nhánh Khánh Hoà

Trang 13

- Phương pháp chuyên gia; xin ý kiến các chuyên gia (các cán bộ lãnh đạo các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn thành phố Nha Trang) để xây dựng bản câu hỏi

và các biện pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng cá nhân

- Phương pháp điều tra xã hội học; xây dựng bản câu hỏi và lấy ý kiến từ khách hàng và cán bộ tín dụng về nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cá nhân

6 Đóng góp của đề tài

Về mặt lý luận:

Làm rõ nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cá nhân tại ngân hàng thương mại

cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hoà và làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về tín dụng nói chung và tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng

Về mặt thực tiễn:

Đánh giá năng lực quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng đối với khách hàng

cá nhân của Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa trong thời điểm hiện nay, làm cơ sở đề xuất các biện pháp cho lãnh đạo nhằm hạn chế rủi ro trong thời gian đến

7 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Vấn đề tín dụng từ trước tới nay đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, có thể điểm qua các hướng sau;

Thứ nhất; hướng nghiên cứu sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Có thể kể đến các công trình sau: Võ Văn Dũng, Võ Thu Hà (2012), Một vài biện pháp phòng ngửa rủi ro trong tín dụng ngân hàng, Kỷ yếu hội

thảo khoa học, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tr 358-363; Trần Trung Tường

(2011), Quản trị tín dụng của các Ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Ngân Hàng Thành

phố Hồ Chí Minh; … Các nghiên cứu đã đưa ra một số ý kiến nhằm tăng cường tính bền vững trong họat động ngân hàng thương mại hiện nay, mục tiêu của các nghiên cứu nhằm tìm ra những nguyên nhân, những tồn tại dẫn đến rủi ro tín dụng ngân hàng cũng như đề ra giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng Về phương pháp nghiên cứu, các nghiên cứu đã phân tích đánh giá dựa vào các báo cáo của công tác tín dụng, năng lực quản trị rủi ro, năng lực hoạt động và công nghệ của

các ngân hàng thương mại

Trang 14

Thứ hai; Nghiên cứu về sự rủi ro tín dụng và các giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng của các ngân hàng có thể kể đến các công trình sau: Mai Thị Trúc Ngân (2007), Giải pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam Chi nhánh 2 Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Thân Thị Thanh Thảo (2010), Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh

Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng; Nguyễn Ngọc

Lê Ca (2011), Giải pháp phát triển tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ

Chí Minh; … Các luận văn đã nêu tính cấp thiết của việc phòng ngừa và hạn chế rủi

ro tín dụng cũng như hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích, đánh giá các tiêu chí về rủi ro, năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng Đồng thời bằng phương pháp chuyên gia, các nghiên cứu đã điều tra, khảo sát, lấy ý kiến các nhà quản lý, các chuyên gia, cán bộ tín dụng của các ngân hàng về các giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng

Các nhà khoa học đã đi tìm nguồn gốc dẫn đến rủi ro trong tín dụng ngân hàng và đã đưa ra các giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề đặt ra Tuy nhiên

vấn đề “Hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long Chi nhánh Khánh Hoà” là vấn đề mới và chưa được đề cập

trong các công trình nghiên cứu trước đây

8 Kết cấu của luận văn:

Chương 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa

Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa

Chương 3: Hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG

1.1.1 Khái niệm về tín dụng và tín dụng khách hàng cá nhân

1.1.1.1 Khái niệm tín dụng

Có thể khẳng định rằng tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là “credo” (tin tưởng, tín nhiệm) là một phạm trù xuất hiện khá lâu đời, tồn tại và gắn liền với các hình thái kinh tế- xã hội nhất định Tín dụng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, đầu tiên

nó được thể hiện dưới dạng cho vay bằng hiện vật Qua quá trình phát triển của lịch sử tín dụng cũng có những chuyển biến mạnh mẽ thông qua hình thức vay mượn bằng tiền mặt Tuy đã xuất hiện hàng ngàn năm trong lịch sử nhưng đến nay khái niệm tín dụng vẫn chưa có sự thống nhất Sở dĩ có tình trạng này là do sự tiếp cận khác nhau về tín dụng mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa khác nhau

Xét trên góc độ chuyển dịch t ừ quỹ c h o va y thì tín dụng là sự chuyển dịch quỹ cho vay từ người cho vay sang người đi vay

Xét trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể

Xét ở góc độ tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì tín dụng được hiểu là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác

1.1.1.2 Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân

Tín dụng cá nhân là một hình thức tín dụng mà đối tượng vay vốn là cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng hay phục vụ sản xuất, kinh doanh cá nhân

Theo định nghĩa trên thì tín dụng khách hàng cá nhân có những đặc điểm như:

- Về đối tượng: là khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh cá thể bao gồm người

buôn bán nhỏ, công nhân viên chức, nông dân, v.v hoặc là đại diện của hộ gia đình

mà các thành viên có đủ năng lực pháp luật và hành vi dân sự trong hộ gia đình ủy quyền thay mặt hộ gia đình ký hợp đồng tín dụng

Trang 16

- Về thời hạn tín dụng: thông thường là những khoản vay trung và dài hạn, cá

biệt có những khoản vay lên tới 20 năm

- Về quy mô: khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn Các khoản tín

dụng cấp cho khách hàng cá nhân nhỏ hơn so với cấp tín dụng doanh nghiệp Phần lớn khách hàng cá nhân tìm đến ngân hàng khi đã có số vốn nhất định và chỉ bổ sung phần thiếu Do đối tượng vay là tất cả các cá nhân trong xã hội với nhu cầu hết sức đa dạng nên tổng quy mô các khoản tín dụng cá nhân là tương đối lớn Lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn cho vay đối với doanh nghiệp Vì việc xác định thẩm định và xét duyệt hồ sơ đối với khách hàng cá nhân thường tốn nhiều thời gian và chi phí hơn doanh nghiệp Tuy số lượng các khoản vay đối với khách hàng cá nhân rất lớn nhưng quy mô những khoản vay nhỏ dẫn đến việc ngân hàng thường đặt ra mức lãi suất cao hơn so với cho vay doanh nghiệp Nguồn trả nợ của khách hàng cá nhân thường được trích dần từ lương, khoản thu nhập định kỳ hàng tháng hoặc từ hoạt động kinh doanh cá nhân khác Các khoản tín dụng cá nhân thường tiềm ẩn nhiều rủi ro ca o nhất đối với ngân hàng do thông tin

cá nhân thường không được cung cấp đầy đủ gây khó khăn trong việc thẩm định và quyết định cho vay đối với tín dụng cá nhân Mặt khác, tình hình tài chính của cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc hay sức khoẻ của họ Các thông tin tài chính cá nhân thường không rõ ràng và minh bạch như báo cáo tài chính được kiểm toán của doanh nghiệp

Để phân loại tín dụng cá nhân, người ta có thể phân chia thành nhiều hình thức khác nhau dựa trên các căn cứ cụ thể như sau:

* Căn cứ vào mục đích cho vay Tín dụng đối với người sản xuất và lưu

thông hàng hoá: là loại cấp tín dụng cho các đơn vị kinh doanh để tiến hành sản xuất, lưu thông hàng hoá Nguồn trả nợ của hoạt động này là kết quả hoạt động kinh doanh Vì vậy, ngân hàng cần phải có đầy đủ các thông tin cần thiết về khách hàng của mình và về phương án sản xuất kinh doanh của họ Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hoá có giá trị và sử dụng lâu dài như máy giặt, điều hoà, tủ lạnh, v.v Trong trường hợp này, nguồn trả nợ là thu nhập trong tương lai của người vay

Trang 17

* Căn cứ vào thời hạn cho vay chúng ta có tín dụng ngắn, trung và dài hạn

Tín dụng ngắn hạn có thời hạn cho vay đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các chi tiêu ngắn hạn của cá nhân Trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam thì khoản vay ngắn hạn chiếm

tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ Tín dụng trung hạn có thời hạn cho vay từ 13 tháng đến 60 tháng, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh Tín dụng dài hạn có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn

* Căn cứ theo phương thức cho vay người ta chia thành các hình thức cho vay

như hạn mức, từng lần, trả góp, bằng sổ tiết kiệm Cho vay theo hạn mức là hình thức n gân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu vốn cho các khách hàng cá nhân thực hiện phương án sản xuất kinh doanh có nhu cầu vốn thường xuyên Cho vay từng lần là hình thức áp dụng cho những khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng không thường

xuyên, thời hạn ngắn (có thời gian tối đa là 1 năm) Cho vay trả góp là hình thức

ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận trước số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc chia ra để trả theo các kỳ hạn trong thời gian vay Hình thức cho vay này thường áp dụng cho những khách hàng có nguồn thu ổn định, thời hạn

cho vay trung hoặc dài hạn (thời gian từ 1 năm trở lên) Cho vay cầm cố bằng sổ

tiết kiệm, kỳ phiếu hoặc giấy tờ khác trị giá bằng tiền do các tổ chức tín dụng khác phát hành đối với những khách hàng là chủ sở hữu hợp pháp giấy tờ trị giá bằng tiền đó Bên cạnh đó còn có các loại hình cho vay bán lẻ khác

1.1.1.3 Đặc trưng khách hàng cá nhân

Các nghiên cứu về tín dụng khách hàng cá nhân cho thấy có ba đặc trưng sau:

- Thứ nhất, đặc trưng về khoản vay: các khoản vay đối với khách hàng cá nhân thường là các khoản có giá trị nhỏ, nhưng số lượng các khoản vay là rất lớn

- Thứ hai, đặc trưng về chất lượng khoản vay: tín dụng đối với khách hàng cá nhân có độ rủi ro thấp hơn so với tín dụng đối với các tổ chức kinh doanh Thời hạn cho vay đối với khách hàng cá nhân ngắn hơn so với tín dụng cấp cho các công ty, các tổ chức kinh doanh, v.v chính vì thế , độ rủi ro cũng ít

Trang 18

hơn, chất lượng khoản vay thường là khá tốt Tuy nhiên các khoản cho vay đối với các khách hàng cá nhân chỉ có chất lượng tốt khi không có những biến cố từ phía khách hàng Bên cạnh đó các khoản vay thường có tính rủi ro cao nên nó được các ngân hàng áp dụng mức lãi suất cao nhất trong bảng lãi suất cho vay áp dụng đối với các khoản vay trong các NHTM

- Thứ ba, đặc trưng về thời hạn khoản vay của khách hàng cá nhân thường có thời gian ngắn hơn so với tín dụng cấp cho các công ty Thời hạn của các khoản vay chủ yếu là ngắn hạn, một phần là trung hạn và một phần rất nhỏ là dài hạn nếu khách hàng vay để kiên cố lại nhà cửa, chuồng trại chăn nuôi hay mua nhà, ôtô tùy theo khấu hao của tài sản cố định Điều đó có thể giải thích được phần nào vì sao trong các NHTM hình thức tín dụng khách hàng cá nhân là hình thức với mức lãi suất cao nhất

1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là mắc xích quan trọng nhằm kết nối giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế Ngân hàng cùng một lúc đóng hai vai trò căn bản họ vừa là người cho vay nhưng cũng là người đi vay Khi đóng vai là người cho vay, ngân hàng cấp tín dụng cho các chủ thể kinh tế, các cá nhân bằng việc thiết lập các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, v.v Khi đóng vai trò là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các chủ thể kinh tế, các cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn

Tín dụng ngân hàng có vai trò gián tiếp, trong đó ngân hàng là trung gian tín dụng giữa những người tiết kiệm và những người cần vốn để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng Vì vậy, tín dụng ngân hàng thực sự là công cụ hữu hiệu giúp nhà nước phát triển kinh tế Điều này được thể hiện qua 3 vai trò chủ yếu sau đây:

- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển Ngân hàng nơi tập trung khối lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội vì vậy kịp thời cung ứng vốn cho các

cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, giúp cho quá trình sản xuất được diễn ra một cách liên tục, không bị gián đoạn và ngày càng phát triển hơn Mặt khác, với mục tiêu sản xuất và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đối với từng doanh nghiệp thì yêu cầu về nguồn vốn là một trong những quan tâm hàng đầu được đặt

ra Bởi thế, để đẩy mạnh tiến độ sản xuất thì không chỉ trông chờ vào vốn tự có mà

Trang 19

doanh nghiệp phải biết tận dụng những dòng vốn trong xã hội, ngân hàng sẽ là nơi đáp ứng sự khát vốn của doanh nghiệp Vốn ngân hàng luôn chiếm vị trí đáng kể trong kết cấu vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp Vì vậy có thể nói rằng tín dụng ngân hàng luôn là trợ thủ đắc lực cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, là người bạn đường trong tiến trình phát triển kinh tế

- Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định tiền tệ và giá cả Thông qua việc huy động và phân phối lại nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội tín dụng ngân hàng là công cụ đắc lực giúp nhà nước ổn định được nguồn tiền lưu thông Với những phương thức giao dịch không dùng tiền mặt, tư vấn cho khách hàng, tín dụng ngân hàng đã góp phần giảm một lượng lớn tiền mặt lưu thông trong thị trường, giúp thị trường tài chính luôn bình ổn Mặt khác, với sự trợ giúp của tín dụng ngân hàng, sản phẩm làm

ra ngày càng nhiều, đáp ứng cho nhu cầu của xã hội, do đó giúp cho giá cả hàng hóa được ổn định

- Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xã hôi Quy trình sản xuất ổn định, nhịp nhàng và liên tục sẽ tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng đủ nhu cầu cho xã hội, từ đó góp phần ổn định đời sống cho người lao động Nền kinh tế phát triển trong môi trường ổn định về tiền tệ là điều kiện nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội, rút ngắn sự chênh lệch giữa các giai cấp trong xã hội Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống ổn định, ai cũng có công ăn việc làm, ai cũng có thể tự nuôi sống bản thân, tự đứng vững trong cuộc sống đó là tiền đề quan trọng để ổn định trật tự xã hội

Ngoài ra tín dụng còn có vai trò quan trọng trong việc mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế nước ngoài Trong điều kiện hiện nay, sự phát triển kinh tế của một quốc gia luôn gắn liền với thị trường thế giới, kinh tế “đóng” đã nhường bước cho kinh tế “mở” Vì vậy, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền nền kinh tế của các nước với nhau Hơn nữa, tín dụng ngân hàng còn cung ứng vốn để tài trợ cho các hoạt động ngoại thương

Qua đây ta thấy được tầm quan trọng của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh

tế là rất lớn

Trang 20

1.2 RỦI RO TÍN DỤNG VÀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Rủi ro tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bên cạnh việc đầu tư ngày càng mở rộng, nhu cầu về vốn ngày càng lớn thì mức độ rủi ro trong tín dụng ngày càng cao Nguồn thu nhập chính của các NHTM nói chung, ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long nói riêng (NHTMCPKL) từ lãi suất mà người đi vay sẽ thanh toán cho ngân hàng, phần khác là từ hoạt động trao đổi các món vay hoặc từ việc bảo đảm và cung cấp các dịch vụ tương tự Nguồn thu nhập này phụ thuộc chủ yếu vào doanh số và lãi suất cho vay Tuy nhiên, trên thực tế không có gì đảm bảo chắc chắn rằng tiền vay và tiền lãi sẽ được người vay hoàn trả đúng hạn và đầy đủ Sự rủi ro này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng đó lại là sự rủi ro mang tính thường xuyên mà các ngân hàng thường gặp khi cho vay Sự rủi ro này là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại của cả một ngân hàng

Để khắc phục được rủi ro đó trước hết chúng ta phải hiểu bản chất của rủi ro tín dụng là gì?

Theo Thomas P.Fitch: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của Ngân Hàng” [34]

Theo Hennie Van Gruening – Sonja Brajovic Bratanovic: “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động Ngân Hàng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn

là không hoàn trả toàn bộ Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của Ngân Hàng” [33]

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống Đốc

Ngân Hàng Nhà Nước: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” (sau đây gọi tắt là “rủi ro”) là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không

có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [32]

Trang 21

Từ các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như:

Rủi ro tín dụng là tiềm ẩn có thể gây tổn thất về vốn và thu nhập cho ngân hàng phát sinh khi đối tác không đáp ứng được một phần hoặc toàn bộ các điều khoản của Hợp đồng tín dụng hay không thực hiện đầy đủ như đã thỏa thuận theo các điều khoản của Hợp đồng tín dụng

Do quan hệ tín dụng được hiểu theo hai chiều là đi vay và cho vay, vì vây, cũng cần phải hiểu rủi ro tín dụng theo hai chiều đó là rủi ro trong cho vay và rủi ro trong hoạt động đi vay

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng

Để đánh giá một cách chính xác mức độ rủi ro tín dụng của các NHTM nói chung và NHTMKL nói riêng chúng ta cần phải dựa trên một số chỉ tiêu đánh giá

cụ thể sau:

- Nợ quá hạn: là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá

hạn Nợ quá hạn xảy ra khi khách hàng không thể trả được nợ khi đến hạn thỏa thuận ghi trong hợp đồng giữa ngân hàng và khách hàng Khi khách hàng không trả nợ đúng kỳ hạn toàn bộ khoản nợ trong hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn

- Phân loại nợ: Theo thông tư số 15/2010/TT-NHNN ngày 16/6/2010 Quy

định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý cho vay trong hoạt

động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ, căn cứ vào thực trạng tài chính của

khách hàng hoặc thời hạn thanh toán nợ gốc và lãi vay, tổ chức tài chính quy mô nhỏ thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm như sau:

Nhóm 1 – Nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm: Các khoản nợ trong hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày

Nhóm 2 - Nợ cần chú ý, bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu

Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến

180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

Trang 22

Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ mất vốn, bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai

Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ

cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn

Nợ xấu (Non-performing loan ratio) (NPL): là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và

5

Chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ x 100%

Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt, nhưng ngược lại không thể đánh giá rằng khi chỉ số này vượt quá tiêu chuẩn chung của ngành thì là xấu Để có thể đánh giá được một cách chính xác hơn

về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng ta cần phải đánh giá kèm theo chỉ tiêu vòng quay của các khoản nợ quá hạn này, khả năng giải quyết các khoản nợ quá hạn Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn cao mà khả năng giải quyết nợ quá hạn hay vòng quay của các khoản nợ quá hạn cao thì khả năng ngân hàng gặp rủi ro tín dụng sẽ rất thấp Và ngược lại, ngân hàng sẽ gặp rủi ro tín dụng

Chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (%) = x 100

Đây là chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng cũng như chất lượng tín dụng tại ngân hàng Giới hạn cho phép tại một NHTM đối với tỷ lệ nợ quá hạn là ≤ 5%, tỷ lệ nợ xấu ≤ 3%, chỉ tiêu này càng lớn thể hiện chất lượng tín dụng càng kém và ngược lại

Chỉ tiêu: Tỷ lệ khách hàng quá hạn trên tổng số khách hàng

Tỷ lệ KH quá hạn trên tổng số khách hàng (%) = x 100

Tỷ lệ này cho thấy chất lượng khách hàng Tỷ lệ này cao chứng tỏ chất

Trang 23

lượng khách hàng không tốt, khả năng xảy ra rủi ro tín dụng cao

1.2.3 Rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân

Rủi ro tín dụng cá nhân là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng cá nhân vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi

Rủi ro tín dụng cá nhân diễn ra trong quá trình ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân Khi thực hiện một hoạt động tài trợ nào thì ngân hàng đều cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn cao nhất Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy an toàn Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng nào tài ba có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra trong tương lai

Khả năng hoàn trả tiền vay của nhiều khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng Do vậy rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan, chỉ có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ Sau khi phân tích

kỹ khả năng có thể xảy ra các rủi ro, ngân hàng phải biết chấp nhận rủi ro, như vậy chấp nhận rủi ro cũng có nghĩa là mạo hiểm nhưng không phải liều lĩnh, thiếu cân nhắc tính toán Do vậy rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược chung của ngân hàng

Người ta thống kê rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trường hợp đối với nợ lãi

và nợ gốc Đó là việc không thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạn hoặc không thu đủ vốn Tuỳ trường hợp mà ngân hàng hạch toán vào các khoản mục theo dõi khác nhau như lãi treo hoặc nợ quá hạn Khi không thu được lãi đúng hạn, nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và chỉ đưa vào mục lãi treo phát sinh Nếu ngân hàng không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoản mục lãi treo đóng băng, trừ những trường hợp ngân hàng miễn giảm lãi đó cho khách hàng Còn khi không thu được vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát sinh Tuy nhiên, khoản này vẫn chưa thể coi là khoản mất mát hoàn toàn của ngân hàng có thể vì lý do nào đó khách hàng chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam kết trong hợp đồng Nếu như khoản này ngân hàng không thể thu hồi được thì lúc này ngân hàng coi như gặp rủi ro tín dụng ở mức độ cao vì đã phát sinh

Trang 24

khoản nợ không có khả năng thu hồi

Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, các hình thức đó luôn chuyển biến cho nhau, mà kết quả cuối cùng là nợ không có khả năng thu hồi Khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào các nguy cơ xảy ra rủi ro như lãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro thực sự nên thường được xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học

1.3 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN RỦI RO

Như chúng ta đã biết hiện nay trong tổng số tài sản của ngân hàng thương mại Việt Nam, khoản mục tín dụng vẫn chiếm một tỷ trọng rất cao Chính vì thế, trong tổng lợi nhuận của các ngân hàng thì lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng cũng rất lớn trong đó thì rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi

ro do nguyên nhân khách quan; rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan Ngoài ra, khi rủi ro tín dụng xảy ra, một trong những cứu cánh của ngân hàng đấy chính là nguồn tài sản đảm bảo Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân mà có nhiều lúc tài sản đảm bảo của khách hàng không còn đủ khả năng để chi trả khoản gốc và lãi vay cho ngân hàng thì rủi ro còn xảy ra đối với tài sản đảm bảo

1.3.1 Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân thứ nhất là do xuất phát từ ảnh hưởng của suy thoái kinh tế trong nước và trên thế giới Sự suy thoái của kinh tế được thể hiện qua các chỉ số

như lạm phát tăng trong nhiều kỳ liên tiếp, sự biến động của nội tệ, lãi suất không

ổn định, lạm phát tăng cao, v.v Kéo theo đó là giá cả của các loại hàng hóa lưu thông trên thị trường cũng tăng theo Sự biến động của hàng hóa nói chung làm cho

tư liệu sản xuất cũng tăng theo, quá trình đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ của người đi vay nói chung, khách hàng cá nhân nói riêng Sự suy thoái về kinh tế kéo theo nạn thất nghiệp tăng cao, trong lúc giá cả sinh hoạt tăng nhanh nhưng tiền lương vẫn nằm im tại chỗ thậm chí có xu hướng giảm xuống, v.v tất cả các điều đó tác động đến việc trả nợ của của người đi vay đối với ngân hàng đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

Nguyên nhân thứ hai là do xuất phát từ ảnh hưởng của văn hoá xã hội Khi sản

Trang 25

xuất bất kỳ một hàng hóa nào đó thì một trong những công việc đầu tiên của nhà sản xuất là nghiên cứu thị trường tiêu thụ Thực ra của việc nghiên cứu này là nghiên cứu văn hóa tiêu dùng của khách hàng Tuy nhiên phong tục tập quán của người tiêu dùng không phải là cố định mà nó có sự biến đổi theo thời gian và phụ thuộc vào điều kiện lịch sử Trong xã hội Việt Nam hiện nay sự thay đổi đó lại càng diễn ra nhanh chóng

và mạnh mẽ, đó là sự thay đổi giữa cái truyền thống và hiện đại Nếu một khách hàng nào không có sự nắm bắt kịp thời mức độ thay đổi đó sẽ gặp khó khăn trong khả năng trả nợ của mình, thậm chí có thể dẫn tới phá sản, điều đó sẽ trực tiếp, hoặc gián tiếp gây khó khăn cho ngân hàng trong hoạt động cho vay

Nguyên nhân thứ ba là do ảnh hưởng của môi trường chính trị pháp luật Bất

kỳ một ngành kinh doanh nào đều chịu sự giám sát của pháp luật, tuy nhiên việc kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành kinh doanh chịu sự giám sát chặt chẽ nhất của luật pháp Pháp luật chặt chẽ sẽ mang lại cho ngân hàng một loạt các

cơ hội mới cũng như thách thức mới Điều này được thể hiện rõ trong hoạt động tín dụng Sự thiếu chính xác trong việc dự đoán, tìm hiểu môi trường luật pháp trong hoạt động tín dụng cũng đẩy ngân hàng vào tình trạng rủi ro, như dự đoán sai khu vực kinh tế được ưu tiêu đầu tư, hay bị hạn chế đầu tư, v.v dẫn đến tình trạng sai lầm trong chính sách huy động vốn và trong chính sách cho vay

Có thể nói ràng môi trường chính trị, pháp luật ở đây không chỉ bó gọn trong phạm vi Luật các tổ chức tín dụng, mà còn liên quan tới Luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, v.v và cũng không chỉ bó gọn trong phạm vi một quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế nhất là trong điều kiện kinh tế hội nhập như hiện nay Đồng nghĩa với đó là rủi ro sẽ không còn là ở mỗi ngành ngân hàng mà lan tới tầm quốc gia, khu vực Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các yếu tố pháp lý là điều kiện đảm bảo cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Nhưng cũng chính vì vậy, nếu môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh thiếu đồng bộ cũng sẽ gây ra khó khăn, bất lợi cho cả người đi vay và ngân hàng Cơ chế, chính sách, quy hoạch của Nhà nước, của chính quyền các cấp thay đổi cũng có thể dẫn đến rủi ro khi khách hàng sử dụng vốn vay của khách hàng

Nguyên nhân thứ tư là môi trường địa lí Các vùng địa lí khác nhau có những

đặc điểm khác nhau như tài nguyên khoáng sản, vị trí địa lý, thời tiết khí hậu, giao

Trang 26

thông, địa hình, tập quán, văn hóa, v.v ảnh hưởng đến mặt hàng kinh doanh nói chung và sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng nói riêng Chính những điều kiện

đó hình thành các tụ điểm dân cư, trung tâm thương mại, du lịch hoặc trung tâm sản xuất, v.v Rủi ro trong hoạt động tín dụng do môi trường địa lí mang đến rất khó có thể nắm bắt, dự đoán và nếu có thể dự đoán dược thì cũng sẽ bị tổn thất rất cao như

sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự khan hiếm nguồn tài nguyên, v.v Bên cạnh đótình trạng môi trường, các vấn đề về xử lý phế thải, ô nhiễm, các ràng buộc xã hội

về môi trường, v.v đều có tác động nhất định đến tín dụng ngân hàng

1.3.2 Nguyên nhân chủ quan

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan mà chúng tôi đã đề cập ở trên còn

có những nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro trong tín dụng

- Nguyên nhân thứ nhất, rủi ro do các nguyên nhân đến từ phía khách hàng Có thể

khẳng định rằng đối tượng đi vay của ngân hàng không ai khác chính là khách hàng Khi vay được vốn từ ngân hàng thì đối tượng trở thành chủ thể sử dụng nguồn vốn vay Xét trên góc độ tâm lý của các chủ thể khách hàng thì ai cũng mong muốn sử dụng nguồn vốn đúng mục đích để sinh lợi nhằm hoàn lại vốn cho ngân hàng, chi trả các chi phí và mở rộng kinh doanh Tuy nhiên, trên thực tế không phải chủ thể nào cũng sử dụng nguồn vốn có hiệu quả mà ngược lại có thể thua lỗ thậm chí là mất trắng Các chủ thể sử dụng nguồn vốn không hiệu quả này lại là một trong số các nguyên nhân chính gây nên rủi ro trong tín dụng Thực tiễn cho thấy khả năng xảy ra rủi ro tín dụng xuất phát từ phía khách hàng là phổ biến nhất bởi khách hàng

là người trực tiếp sử dụng vốn vay Ở đây chúng tôi trình bày một số nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng xuất phát từ khách hàng cá nhân như sau:

Thứ nhất là do khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, đầu tư vào các hoạt

động rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không có thiện chí trong việc trả nợ vay Đa số các

khách hàng khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án trả nợ cụ thể, khả thi Ngân hàng sẽ xem xét phương án đó mới đưa ra quyết định cho vay Tuy vậy, dù không được mong đợi, nhưng rủi ro vẫn luôn hiện diện trong mọi quyết định đầu tư của khách hàng và có thể biến những “giấc mơ ngọt ngào với những con đường trải đầy hoa” của khách hàng trở thành “quả đắng” Tùy theo mức độ nặng hay nhẹ mà rủi ro có thể gây ra những thiệt hại về tài chính nhất định, hay thậm chí có thể đẩy

Trang 27

khách hàng vào tình trạng khánh kiệt, dẫn đến phá sản

Bên cạnh nhiều khách hàng luôn có trách nhiệm để thanh khoản cho ngân hàng thì vẫn còn đó một số khách hàng thiếu trách nhiệm, không có thiện chí thanh toán nợ cho ngân hàng Nguyên nhân là do khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, đầu tư vào các hoạt động rủi ro cao dẫn đến thua lỗ, thậm chí một số khách hàng cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản Sự thiếu trách nhiệm

và sự suy đồi về đạo đức của một số khách hàng đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của nhiều khách hàng khác Một số khách hàng do chậm trả lãi một vài tháng nên họ có suy nghĩ họ đã mất uy tín đối với ngân hàng, nếu họ trả hết nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ không cho vay nữa Một khi ngân hàng không cho vay nữa thì họ sẽ không có vốn để tiếp tục đầu tư nên mặc dù có tiền nhưng họ nhất định không trả, cố tình để cho khoản nợ bị quá hạn luôn Trong trường hợp này ý chí trả nợ của khách hàng là rất kém, không có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng

Thứ hai là xuất phát từ khả năng tư duy kinh doanh của khách hàng còn non

kém nên hiệu quả kinh doanh không cao Có nhiều khách hàng vay vốn nhằm mục

đích mở rộng quy mô kinh doanh, quá trình thực hiện họ tập trung đầu tư phát triển

tư liệu sản xuất, không chú ý đến việc phát triển sức lao động và đổi mới cách quản

lý Trong lúc quy mô kinh doanh ngày càng mở rộng thì phương thức quản lý vẫn

xơ cứng dẫn đến sự rủi ro Đa số các khách hàng có sự quản lý rất đơn giản, phương thức quản trị chủ yếu theo nguyên tắc thuận tiện dẫn đến nguy cơ rủi ro cao Các quyết định thường mang tính chủ quan, chủ yếu dựa vào ý chí, kinh nghiệm của cá nhân nên dễ mắc sai lầm Chưa chú trọng đến các hoạt động phân tích, đánh giá, kiểm tra, giám sát, v.v nên không phát hiện kịp thời các sai lầm, do vậy hậu quả của quyết định sai lầm thường rất nặng nề và khó sửa chữa

Ngoài ra, còn có một số khách hàng bị lừa đảo trong kinh doanh hoặc đối tác của họ gặp rủi ro thì ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc thu nợ đúng hạn Đối với những khoản vay tiêu dùng: do đa số những khoản vay tiêu dùng đều

có thời hạn trên 1 năm, thời gian trả nợ dài nên những dự tính trong tương lai của khách hàng có thể gặp khó khăn do các nguyên nhân bất khả kháng như: Do tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, hoặc mâu thuẫn trong gia đình, người vay bị thất

Trang 28

nghiệp, v.v tất các các nguyên nhân đó đều ảnh hưởng đến thu nhập thường xuyên của khách hàng

Thứ ba là khách hàng cố tình cung cấp sai thông tin để lừa ngân hàng Bên

cạnh rất nhiều khách hàng minh bạch trong quá trình cung cấp thông tin cá nhân và tài sản sở hữu thì vẫn còn đó một số lượng không nhỏ khách hàng cố tình cung cấp sai sự thật về thông tin và tài sản thuộc chủ sở hữu gây khó khăn lớn cho việc thẩm định năng lực tài chính của khách hàng đối với cán bộ ngân hàng trong quá trình thẩm định Độ tin cậy về năng lực tài chính, tính đúng đắn của thông tin khách hàng

là “thước đo” mang tính thủ tục, không thể thiếu khi tiếp cận vốn của ngân hàng Tuy nhiên, một số khách hàng cố ý lừa ngân hàng thông qua việc cung cấp những thông tin không chính xác, hay cung cấp thông tin không đầy đủ, che giấu thông tin về bản thân như: quyền sở hữu tài sản, cố ý đưa ra số liệu sai sự thật, phản ánh không đúng thực trạng sản xuất kinh doanh và tình hình thu nhập của khách hàng Những món cho vay trên cơ sở những thông tin giả như vậy dễ đưa đến rủi ro cho ngân hàng

- Nguyên nhân thứ hai là rủi ro xuất hiện từ phía ngân hàng cho vay Ngoài

những nguyên nhân xuất phát từ phía người vay, từ môi trường khách quan có thể gây ra tình trạng rủi ro tín dụng, còn có những nguyên nhân chủ quan từ phía các ngân hàng:

* Ngân hàng không có chính sách cho vay rõ ràng, không phù hợp với thực trạng nền kinh tế Chính sách cho vay của ngân hàng dành cho khách hàng là kim

chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng Một khi chính sách cho vay thống nhất, rõ ràng, đầy đủ và đúng đắn sẽ giúp cán bộ tín dụng xác định được nhiệm vụ của mình, nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng Ngược lại khi chính sách cho vay không đầy đủ, không phù hợp với thực trạng nền kinh tế và khả năng của ngân hàng thì sẽ làm cho hoạt động tín dụng đi lệch lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng gây nên rủi ro tín dụng cho ngân hàng Một số ngân hàng chưa xây dựng được chiến lược quản trị rủi ro có khả năng thích ứng được với tình hình biến động của thị trường, đặc biệt là sự biến động theo xu hướng xấu Do vậy, với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong những năm gần đây cộng với sự biến động của kinh

tế thị trường đã tạo ra một môi trường không thuận tiện cho sự kiểm soát rủi ro tín

Trang 29

dụng gặp nhiều khó khăn Danh mục tín dụng của nhiều ngân hàng trong thời gian qua đã bị sự chi phối của thị trường Ngân hàng chưa xây dưng được cho mình danh mục tín dụng phù hợp với khả năng chịu đựng rủi ro của mình

* Chất lượng đội ngũ thấp, phẩm chất đạo đức kém của một số cán bộ ngân hàng Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy đội ngũ nhân sự của các ngân hàng

thương mại có trình độ chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ, kỹ năng nghề còn hạn chế Nguyên nhân của thực trạng đó bắt nguồn từ việc tuyển chọn nhân sự, một số nhân

sự khi tuyển vào có chuyên môn nhưng thiếu khả năng thực tiễn, một số khác có khả năng thực tiễn nhưng không nắm vững chuyên môn Nguyên nhân đó dẫn đến việc phân tích thông tin, đánh giá khách hàng trong quá trình xác nhận thông tin, điều tra, thẩm định còn mang tính hời hợt, chủ quan duy ý chí làm cho việc tham mưu và quyết định cấp tín dụng kém chất lượng, hiệu quả thấp Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng,

sự hạn chế trong khả năng phân tích thẩm định phương án; kiến thức thị trường, kiến thức xã hội hạn chế có thể dẫn đến khi cho vay mà không đánh giá được liệu

dự án hay phương án đó có khả thi không

* Sự thả lỏng việc giám sát và quản lý nguồn vốn sau khi vay của ngân hàng đối với khách hàng Việc giám sát và quản lý nợ sau khi cho vay cũng là một trong

những công cụ hữu ích góp phần giảm thiểu rủi ro tín dụng Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo được hoàn trả Đây cũng là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay không những để tuân thủ các điều khoản đã đề ra trong hợp đồng tín dụng đã ký mà còn là điều kiện để tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng kinh doanh Cán bộ tín dụng là người nắm rõ nhất tình hình của khách hàng của mình, việc kiểm tra sau khi vay chính là cơ hội để chia sẻ, tâm sự, tư vấn với khách hàng, để hiểu thêm họ đang cần gì và ngân hàng có thể giúp được gì cho họ Tuy nhiên, do tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của một số cán bộ tín dụng, cũng như do hệ thống quản lý thông tin của cá nhân, doanh nghiệp còn lạc hậu, không cung cấp kịp thời những thông tin mà ngân hàng yêu cầu, vì vậy, công tác kiểm tra sau vẫn chưa được thực hiện tốt Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức

Trang 30

cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả

* Sự phối hợp giữa các ngân hàng chưa chặt chẽ Hiện nay có nhiều khách

hàng cùng một lúc cầm tài sản đi thế chấp nhiều ngân hàng để vay vốn, mà các ngân hàng vẫn không phát hiện ra điều đó cho thấy sự hợp tác giữa các ngân hàng để hạn chế rủi ro chưa thực sự hiệu quả Trong quản trị tài chính, khả năng trả

nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó Sự phối hợp không chặt chẽ giữa các ngân hàng dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả các ngân hàng

Bên cạnh những nguyên nhân trên thì còn có những nguyên nhân khác như; nguyên nhân ngân hàng quá chú trọng về lợi tức, đặt mong muốn về lợi tức cao hơn các khoản cho vay lành mạnh, do vậy rủi ro của khoản vay càng cao Nguyên nhân xuất phát từ sự cạnh tranh không lành mạnh với các ngân hàng khác để mong muốn

có tỷ trọng cho vay nhiều hơn Cạnh tranh không lành mạnh ở đây có thể hiểu rằng ngân hàng đã bỏ qua một số bước kiểm định các khoản cho vay, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng Nguyên nhân rủi ro do ngân hàng thiếu một cơ chế theo dõi, quản lý rủi ro, thiếu hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc các ngành nghề, địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, chưa đủ các tiêu thức để đo lường rủi ro, rủi ro tối

đa cho phép chấp nhận đối với từng khách hàng, nhóm khách hàng thuộc các ngành khác nhau

1.4 CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

Ngân hàng là một trong những lĩnh vực đối mặt với nhiều rủi ro nhất, các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và gây tổn thất cho hệ thống Ngân hàng thương mại Vì vậy, để tồn tại và phát triển không một ngân hàng nào không xây dựng cho mình hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả

1.4.1 Quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro chính là quá trình các NHTM áp dụng các nguyên lí, các phương pháp và kinh nghiệm quản trị kinh doanh của NHTM ở các quốc gia phát triển vào

Trang 31

hoạt động kinh doanh của mình, thực thi chiến lược, chính sách quản lý và kinh doanh để giám sát, phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp rủi ro trong hoạt động tín dụng đầu tư và các hoạt động kinh doanh khác để giảm thiểu tổn thất thiệt hại cho ngân hàng, nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh và uy tín của NH trên thương trường

1.4.2 Công cụ quản trị rủi ro tín dụng theo nguyên tắc chung của Ủy ban giám sát Ngân hàng Basel

Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập

kỷ 80 Hiệp định Basel II ra đời tháng 12/2006 thay thế cho Hiệp định vốn ngân hàng quốc tế (Basel I) được thực hiện từ năm 1988 do Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel xây dựng nhằm hỗ trợ các ngân hàng quản lý rủi ro hiệu quả hơn Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng Các nguyên tắc tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

- Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp (3 nguyên tắc): Hội đồng quản trị

phải thực hiện phê duyệt định kỳ chính sách rủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro…) Ban tổng giám đốc có trách nhiệm thực hiện các định hướng mà Hội đồng quản trị phê duyệt và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát

nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư Các ngân hàng cần xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm của mình

- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc): Các ngân hàng phải hoạt

động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh được xác định rõ ràng Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro khác nhau nhưng vẫn có thể theo dõi được trên sổ sách kế toán kinh doanh, nội

Trang 32

bảng và ngoại bảng Ngân hàng cần có quy trình rõ ràng trong việc phê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửa đổi, gia hạn, tái cơ cấu, tái tài trợ cho các khoản tín dụng hiện tại Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên

- Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10 nguyên tắc): Các ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối

với các danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng, cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng khoản tín dụng, bao gồm mức độ đầy đủ của dự phòng và dự trữ Khuyến khích ngân hàng phát triển và sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích để đo lường được rủi ro tín dụng trong mọi hoạt động nội và ngoại bảng; phải có hệ thống theo dõi cơ cấu và chất lượng của toàn bộ danh mục đầu tư tín dụng; cần có hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề Các chính sách rủi ro tín dụng của ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn đề

Bên cạnh đó, Basel II cũng sử dụng khái niệm “3 trụ cột” để giúp các ngân hàng thương mại hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro:

- Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốn bắt

buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng

- Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II

cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà

Trang 33

ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk)

Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát:

 Thứ nhất, các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó

 Thứ hai, các giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này

 Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định

 Thứ tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu

- Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích

đáng theo nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này

1.5 CÁC KINH NGHIỆM VỀ HẠN CHẾ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

Cùng với những thời cơ và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là diễn biến phức tạp và nguy cơ khủng hoảng tín dụng và kinh tế thế giới đang tăng cao, vấn đề nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất có thể những nguy cơ tiềm ẩn gây nên rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại đang và ngày càng trở nên cấp thiết

Trang 34

1.5.1 Kinh nghiệm của một số ngân hàng trong nước

Thông qua việc nghiên cứu và tiếp cận với các ngân hàng chúng tôi thấy, hiện nay các ngân hàng trong nước đã có những chiến lược nhằm hạn chế rủi ro, bước đầu đã có những thành công nhất định, ở luận văn này chúng tôi xin trình bày một

số kinh nghiệm của một ngân hàng tiêu biểu

Kinh nghiệm về hạn chế rủi ro tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNN&PTNT) Để hạn chế rủi ro tại NHNN&PTNT đã thực hiện các biện pháp như:

- Tổ chức bộ máy chặt chẽ, quy trách nhiệm cho từng bộ phận cụ thể, thường xuyên thanh, kiểm tra các hoạt động tại ngân hàng

- Thực hiện thu thập thông tin khách hàng một cách đầy đủ như phỏng vấn trực tiếp khách hàng, đi thăm thực địa và nghiên cứu kỹ thị trường, v.v

- Thực hiện chấm điểm và phân loại khách hàng để đánh giá

- Bảo đảm tiền vay và chịu trách nhiệm với quyết định của mình

- Thực hiện việc kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay

- Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

- Thiết lập tổ xử lý rui ro tín dụng nhằm kịp thời xử lý khi có sự cố xẩy ra Sau khi thực hiện các biện pháp trên NHNN&PTNT đã đạt được những kết quả nhất định trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong tín dụng

Kinh nghiệm về hạn chế rủi ro tại ngân hàng công thương (NHCT) được thực hiện như sau:

- Hoạch định chiến lược, các quy định của ngân hàng Thực hiện cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ tín dụng đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, nhất quán và linh hoạt nhằm thích ứng với sự biến động của môi trường kinh tế, tăng sức cạnh tranh, đẩy mạnh phát triển tín dụng lành mạnh hạn chế rủi ro

- Điều tra lựa chọn khách hàng nhằm tạo nền tảng ổn định và phát triển vững chắc hoạt động tín dụng

- Phân tích giải quyết cho vay Trước khi quyết định cho vay NHCT luôn chú trọng đến việc thu thập thông tin khách hàng thông qua nhiều kênh khác nhau làm

cơ sở để đối chiếu, sàng lọc các kênh thông tin đáng tin cậy, phân tích thẩm định

Trang 35

pháp lý đối với người vay, người bảo lãnh khoản vay Đánh giá thực chất khả năng tài chính của khách hàng để quyết định cho vay

- Giám sát, kiểm tra xử lý quá trình cho vay Phải thực hiện đầy đủ các căn cứ

và khẳng định được khách hàng đã sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả Trong trường hợp khách hàng có những biểu hiện bất thường ảnh hưởng đến khả năng trả nợ NHCT sẽ có giải pháp cấp thiết là thu hồi vốn vay để hạn chế mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra

- Xử lý khi có rủi ro xuất hiện, trong trường hợp khách hàng nợ quá hạn, nợ gia hạn lớn hoặc nợ gia hạn nhiều lần, tình hình tài chính yếu kém thì NHCT sẽ đẩy nhanh việc xử lý tài sản để thu hồi các khoản nợ

1.5.2 Kinh nghiệm của một số ngân hàng ngoài nước

Kinh nghiệm của các ngân hàng thương mại tại Trung Quốc Hoạt động tín dụng tại

Trung Quốc cho thấy các khoản Nợ xấu của ngân hàng thương mại tại nước này thường xuất phát từ những nguyên nhân như:

- Dư nợ tín dụng tăng quá nhanh, trong khi cho vay những lĩnh vực ngoài thị trường truyền thống và dựa vào thế chấp, người bảo lãnh, danh tiếng (là những nguồn trả nợ thứ yếu) mà không đánh giá nguồn trả nợ chính

- Trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng có nhiều hạn chế so với tiêu chuẩn

- Coi nhẹ các tiêu chuẩn an toàn tín dụng, như cho vay với kỳ vọng tài sản hình

thành từ vốn vay sẽ có giá trị cao (tuy nhiên tình trạng sốt và giảm giá nhà đất nghiêm trọng ở Thượng Hải gần đây đã làm cho sự kỳ vọng vô nghĩa, giá bất động sản sụt giảm, trị giá thế chấp không đủ bù đắp khoản vay, thanh khoản kém, nguy cơ không trả được nợ là rất lớn); Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản thế chấp quá cao; Cho vay đảm bảo bằng chính cổ phiếu ngân hàng mình; Cơ cấu khoản vay kém hiệu quả, cho vay quá khả năng chi trả; Không văn bản hóa thỏa thuận cụ thể

về mục đích và cách sử dụng khoản vay, kế hoạch nguồn trả nợ

- Sự giám sát sau giải ngân kém, không giám sát thỏa đáng các khoản cho vay xây

dựng, như đi thực địa, tiến độ rút vốn vay, thanh tra, v.v Không có chứng từ địa chỉ giao dịch với khách hàng vay, hồ sơ pháp lý không đầy đủ; Không thu thập, xác

Trang 36

minh và phân tích các báo cáo trong suốt kỳ hạn hiệu lực khoản vay; Không nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo như chu kỳ luân chuyển tồn kho và khoản phải thu chậm lại, chu kỳ các khoản phải trả dài ra và phát sinh lỗ ròng trong kinh doanh Nhận biết và xử lý sớm, hiệu quả các nguyên nhân trên là điều kiện quan trọng nhất

để giảm thiểu rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Trung Quốc

Kinh nghiệm của Mỹ Thực tế hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại

ở Mỹ cho thấy, để việc kiểm soát rủi ro tín dụng hiệu quả cần các biện pháp như:

- Nuôi dưỡng một mối quan hệ lâu dài và tổng hợp với bên đi vay và phục

vụ mọi nhu cầu về tài chính của họ Kết quả là những người cho vay sẽ hiểu nhiều hơn về tình hình tài chính của khách hàng và có được lợi nhuận khi bán các sản phẩm tài chính đa dạng, trong khi đó bên vay sẽ có được một nguồn hỗ trợ lâu dài cùng với dịch vụ tín dụng

- Nhấn mạnh việc thẩm định khoản vay hơn là việc kiểm soát khoản vay.Việc cắt giảm hoặc làm tắt trong quá trình thẩm định sẽ dẫn đến khoản nợ xấu Thêm vào đó, cho vay các khoản nợ có rủi ro sẽ không đáng nếu tính đến khối lượng công việc phải thực hiện để khoản vay không bị quá hạn Hơn nữa, cần đánh giá đúng tình trạng của từng bên vay hơn là câu nệ vào các phương pháp và công thức tự động, ví dụ như chấm điểm tín dụng Chấm điểm tín dụng, căn cứ vào công thức có sẵn để đo lường và tiên đoán về mức độ rủi ro của các khách hàng tiềm năng, được thiết kế để cải tạo quy trình thẩm định khoản vay Mặc

dù chấm điểm tín dụng theo cách truyền thống thường được sử dụng cho vay tiêu dùng, khi dựa vào đó để duyệt khoản tín dụng thẻ hoặc tín dụng để mua ô tô, họ

là khách hàng tiềm năng trong một chuỗi khách hàng 8/9 đơn vị cho vay được nghiên cứu, tuy nhiên, lại không sử dụng chấm điểm tín dụng cho khách hàng nhỏ, chủ yếu vì họ cho rằng không có nhiều tương quan giữa quá khứ tín dụng của bên vay, như được đo lường trong hệ số tín nhiệm, với hoạt động của khách hàng này trong tương lai Mặc dù có một số đơn vị cho vay sử dụng chấm điểm tín dụng cho tín dụng tiêu dùng, họ tin rằng cho vay doanh nghiệp nhỏ có quá nhiều những đặc tính riêng rất khó được phân tích thông qua một hệ thống tự động Hơn thế nữa, chấm điểm tín dụng có thể loại trừ mất các khách hàng tiềm năng tốt, những khách hàng không có đủ số lượng năm có lãi, số năm có lãi tối thiểu là một tiêu chí để

Trang 37

xác định dự án khả thi trong tương lai

- Tránh sử dụng những đơn vị môi giới, vì các đơn vị môi giới không có

động cơ để đem lại các khoản vay có chất lượng cao hơn do họ được trả không căn cứ vào chất lượng khoản vay

- “Thực chứng hơn thực cung”, nghĩa là cần yêu cầu bên vay phải chứng tỏ

được kinh nghiệm của mình trong kinh doanh, yêu cầu bên vay cung cấp thế chấp cả tài sản cá nhân và tài sản doanh nghiệp cho dù là tài sản đảm bảo có cần thiết hay không để tạo ra động lực về tâm lý cho bên vay đối với khoản vay

- Tập trung quyết định cho vay để bảo đảm tính thống nhất và kiểm soát Mặc dù các bên cho vay nhỏ hoặc lớn có thể khác nhau về phương pháp xem xét khoản vay, cả hai đều yêu cầu có ít nhất một cán bộ, không phải là cán bộ thẩm định khoản vay, để xem xét lại khoản vay và đưa ra quyết định phê duyệt cuối cùng Kết cấu này loại bỏ việc ra quyết định phê duyệt cuối cùng từ nhiều cán bộ rải rác mà tập trung việc phê duyệt vào một cán bộ hoặc một nhóm để đảm bảo tính thống nhất, kiểm soát và hiệu quả trong thẩm định khoản vay

- Yêu cầu cán bộ cho vay phải có trách nhiệm với khoản vay họ cho vay Quyết

định tín dụng chỉ tốt khi thông tin trình bày, việc phân tích phải đầy đủ, đa số các đơn

vị cho vay đều tin vào trách nhiệm của cán bộ cho vay Mặc dù không có đơn vị nào nhấn mạnh về việc phạt các cán bộ khi có nợ khó đòi, trong đa số trường hợp các cán

bộ cho vay phải hỗ trợ việc thu hồi các khoản vay khó đòi

- Áp dụng hệ số tín nhiệm cho các khoản vay mới và thẩm định lại hệ số này

theo định kỳ trong suốt thời hạn của khoản vay Ngân hàng cần có một hệ thống chấm hệ số tín nhiệm hoặc có kế hoạch để tạo ra một chương trình chấm điểm.Trong một chương trình điển hình, một khoản vay mới sẽ được áp dụng một giá trị bằng số thể hiện mức rủi ro vào thời điểm thẩm định khoản vay.Trong suốt thời gian vay vốn, con số này có thể được duyệt lại căn cứ vào lịch sử trả nợ của bên vay và các yếu tố khác Khi có trục trặc được tìm ra, cần có cách để nhận ra

và theo dõi các khoản nợ xấu Hệ thống này khác với chấm điểm tín dụng, được sử dụng trước đó để ra quyết định vay vốn

- Xác định nợ xấu sớm và tăng cường các nỗ lực thu hồi nợ rất mạnh mẽ;

luôn theo dõi để xác định sớm những dấu hiệu của khoản vay xấu trong tương

Trang 38

lai Cách tốt nhất để xác định sớm các dấu hiệu là luôn giữ mối liên hệ với khách hàng, không đợi cho đến khi khoản vay trở nên quá hạn Sự tích cực xác định và tìm kiếm khả năng thu hồi các khoản nợ chỉ trong vài ngày kể từ khi khoản vay bị trễ có thể làm giảm thời gian cần có tiêu tốn vào các động tác thu hồi nợ và cho phép các bên cho vay điều chỉnh thời hạn trả nợ hoặc giải quyết các vấn đề khác của bên vay sớm

- Tuy nhiên, thực tế ngân hàng Mỹ cho thấy, việc đề xuất đúng lối ra cho các

khoản nợ xấu là quan trọng hơn việc thu hồi nợ Việc tất toán khoản nợ xấu chỉ nên xem xét khi đó là cách cuối cùng để thu hồi khoản vay có vấn đề, vì thu hồi có thể hiệu quả hơn thông qua việc tiếp tục trả nợ của một khách hàng vẫn đang hoạt động hơn là phải tất toán tài sản Đến nay đã có tới 117 ngân hàng Mỹ thuộc diện

“có vấn đề” (theo công bố của Federal Deposit Insurance Corporation – Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ FDIC) và hơn 10 ngân hàng Mỹ bị phá sản Nguyên nhân là do các ngân hàng mất khả năng thanh khoản do danh sách các khoản nợ khó thu hồi tăng cao, dùng huy động tiền gửi cho vay bất động sản đồng nghĩa với việc lấy ngắn nuôi dài, không thẩm định nguồn trả nợ, cho vay dưới chuẩn, đến khi giá bất động sản tụt dốc không phanh, các khoản nợ không thu hồi được, ngân hàng mất khả năng chi trả các khoản tiết kiệm đến hạn, tình hình kinh tế khủng hoảng, các khách hàng rơi vào tình cảnh khó khăn phá sản, các khoản đầu tư của ngân hàng cũng từ đó thua lỗ, v.v Từ cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ, cho thấy nguyên nhân xuất phát phần lớn từ việc quản lý kiểm soát khoản vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán còn yếu kém, chất lượng tín dụng không được coi trọng, có nhiều khoản cho vay dưới chuẩn, không thẩm định kỹ trước khi cho vay, sử dụng nguồn huy động ngắn hạn để đầu tư vào những khoản dài hạn như bất động sản nên không tránh khỏi rủi ro mất khả năng thanh toán và không thu hồi được nợ Đó cũng là bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam khi rơi vào tình trạng tương tự

Từ những kinh nghiệm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại một số ngân hàng trong nước và trên thế giới sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan hơn trong việc tìm ra các giải pháp tối ưu cho việc hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng

cá nhân tại NHTMCP KL chi nhánh Khánh Hòa

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Có thể khẳng định rằng, rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và mang tính thường xuyên nhất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Rủi ro tín dụng tồn tại ở nhiều khía cạnh, hình thái, cung bậc khác nhau, sự rủi ro được tiềm ẩn trong một quá trình bao gồm trước, trong và sau khi cho vay nó được biểu hiện ra bên ngoài là ngân hàng không không thu hồi được vốn, nợ quá hạn, nợ khó đòi, thậm chí là mất vốn, v.v

Cơ sở lý thuyết của chương 1 đã khái quát các vấn đề cơ bản về tín dụng, rủi ro tín dụng, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng, v.v để làm tiền đề cho các chương tiếp theo

Trang 40

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG CHI NHÁNH KHÁNH HÒA

2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG CHI NHÁNH KHÁNH HÒA

2.1.1 Vài nét về Ngân hàng Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa

Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kiên Long, tên viết tắt là Kienlong Bank, tên giao dịch quốc tế Kien Long Commercial Joint -Stock Bank, mã giao dịch Swift: KLBKVNVX được thành lập ngày 27 tháng 10 năm 1995, trụ sở chính đặt tại 98-108A Cách Mạng Tháng Tám, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Đến cuối năm 2013, sau 18 năm hoạt động, Kienlong Bank đã trở thành một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản đạt trên 18.000 tỷ đồng, vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng, dư nợ cho vay 9.683 tỷ đồng, tổng huy động vốn 14.751 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế tăng trưởng bình quân 172,88%/ năm Kienlong Bank hiện có 2.776 nhân sự, trong đó có 1.276 cộng tác viên phục

vụ khách hàng tại 95 Chi nhánh và Phòng giao dịch ở 25 tỉnh thành trong cả nước Trong quá trình hoạt động, Kienlong Bank luôn chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách của Nhà nước Thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội theo đúng quy định của pháp luật Chấp hành tốt mọi quy định của ngành để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, tích cực huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để cung ứng vốn cho nền kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế tỉnh nhà Từ những thành quả đạt được, Ngân hàng Kiên Long đã nhận được nhiều bằng khen của UBND tỉnh, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam Đặc biệt trong năm 2007 Ngân hàng Kiên Long được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam ký Quyết định số 1224/2007/QĐ-CTN (ngày 26/10/2007), về việc tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho Ngân hàng TMCP Kiên Long vì đã

có thành tích xuất sắc trong công tác từ năm 2002 đến năm 2006, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc

Năm 2006 Kienlong Bank đã mạnh dạn chuyển đổi mô hình hoạt động thành Ngân hàng đô thị và đổi tên thành Ngân hàng TMCP Kiên Long (Quyết định số

Ngày đăng: 06/03/2015, 10:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Hồ Diệu (2002), Quản trị ngân hàng, Nxb Thống kê, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng
Tác giả: Hồ Diệu
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2002
[3]. Nguyễn Hải Đăng (2011), Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Chi nhánh Vũng Tàu. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế.TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Chi nhánh Vũng Tàu
Tác giả: Nguyễn Hải Đăng
Năm: 2011
[4]. Nguyễn Thị Thu Hà (2009), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2009
[5]. Phan Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Thảo (2002), Ngân hàng thương mại: Quản trị và nghiệp vụ, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại: Quản trị và nghiệp vụ
Tác giả: Phan Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Thảo
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2002
[6]. Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung (2009), Tiền tệ - Ngân hàng, Nxb Thống kê, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ - Ngân hàng
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2009
[7]. Trần Huy Hoàng (2007), Quản trị ngân hàng thương mại, Nxb lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Trần Huy Hoàng
Nhà XB: Nxb lao động xã hội
Năm: 2007
[8]. Đào Duy Huân (2006), Quản trị chiến lược trong toàn cầu hóa kinh tế, Nxb Thống kê, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị chiến lược trong toàn cầu hóa kinh tế
Tác giả: Đào Duy Huân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2006
[9]. Nguyễn Minh Kiều (2007), Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, Nxb Thống kê, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
Tác giả: Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
[10]. K. Mark (1978), Mác – Ăng Ghen toàn tập, NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác – Ăng Ghen toàn tập
Tác giả: K. Mark
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1978
[11]. Nguyễn Thị Mùi (2008), Quản trị ngân hàng thương mại, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2008
[12]. Nguyễn Văn Ngọc, Phương pháp nghiên cứu trong kinh & Nghiên cứu Marketing, Giáo trình Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong kinh & Nghiên cứu Marketing
[14]. Lê Văn Tề, Nguyễn Văn Hà (2005), Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ
Tác giả: Lê Văn Tề, Nguyễn Văn Hà
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
[15]. Lê Trung Thành (2002), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Giáo trình Đại học Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Tác giả: Lê Trung Thành
Năm: 2002
[16]. Lê Phương Thảo (2010), Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam
Tác giả: Lê Phương Thảo
Năm: 2010
[17]. Trương Quang Thông (2010), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Trương Quang Thông
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2010
[18]. Lê Văn Tri (2005), Luật các tổ chức tín dụng, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật các tổ chức tín dụng
Tác giả: Lê Văn Tri
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
[19]. Nguyễn Thị Ngọc Trang (2007), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống kê, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tài chính
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Trang
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
[20]. Lê Văn Tư (2004), Ngân hàng thương mại, NXB Tài chính TẠP CHÍ WEBSITE, CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại
Tác giả: Lê Văn Tư
Nhà XB: NXB Tài chính TẠP CHÍ WEBSITE
Năm: 2004
[21]. Võ Văn Dũng, Võ Thu Hà (2012), Một vài biện pháp phòng ngửa rủi ro trong tín dụng ngân hàng, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tr 358-363 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài biện pháp phòng ngửa rủi ro trong tín dụng ngân hàng
Tác giả: Võ Văn Dũng, Võ Thu Hà
Năm: 2012
[22]. Ngô Hướng (2012), Hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay và những vấn đề cần quan tâm, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tr 29-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay và những vấn đề cần quan tâm
Tác giả: Ngô Hướng
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2:  Dư nợ cho vay phân theo đối tượng vay vốn tại ngân hàng năm  2010 - 2013 - hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long chi nhánh khánh hoà
Bảng 2.2 Dư nợ cho vay phân theo đối tượng vay vốn tại ngân hàng năm 2010 - 2013 (Trang 45)
Bảng  2.4:  Dư  nợ  cho  vay  trong  hạn  phân  theo  thời  hạn  vay  vốn  từ  năm - hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long chi nhánh khánh hoà
ng 2.4: Dư nợ cho vay trong hạn phân theo thời hạn vay vốn từ năm (Trang 48)
Bảng 2.5: Tình hình dư nợ cho vay có tài sản đảm bảo và không có tài sản  bảo đảm qua các thời điểm từ năm 2010 - 2013 - hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long chi nhánh khánh hoà
Bảng 2.5 Tình hình dư nợ cho vay có tài sản đảm bảo và không có tài sản bảo đảm qua các thời điểm từ năm 2010 - 2013 (Trang 49)
Bảng 2.7: Dư nợ từ nhóm 3 đến nhóm 4 qua các thời điểm - hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long chi nhánh khánh hoà
Bảng 2.7 Dư nợ từ nhóm 3 đến nhóm 4 qua các thời điểm (Trang 53)
Bảng 2.8 : Dư nợ của Khách hàng cá nhân giai đoạn 2010- 2013 - hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long chi nhánh khánh hoà
Bảng 2.8 Dư nợ của Khách hàng cá nhân giai đoạn 2010- 2013 (Trang 64)
Bảng 2.9: Dư nợ theo nhóm của khách hàng cá nhân từ năm 2010 - 2013 - hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long chi nhánh khánh hoà
Bảng 2.9 Dư nợ theo nhóm của khách hàng cá nhân từ năm 2010 - 2013 (Trang 70)
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của phòng quản lý rủi ro - hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long chi nhánh khánh hoà
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của phòng quản lý rủi ro (Trang 72)
Bảng 2.10 KẾT QUẢ KHẢO SÁT KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN   số - hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long chi nhánh khánh hoà
Bảng 2.10 KẾT QUẢ KHẢO SÁT KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN số (Trang 74)
Bảng 2.11  KẾT QUẢ KHẢO SÁT NHÂN VIÊN TÍN DỤNG  Số - hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long chi nhánh khánh hoà
Bảng 2.11 KẾT QUẢ KHẢO SÁT NHÂN VIÊN TÍN DỤNG Số (Trang 77)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w