Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm…”[Tr195] Huyện Nghi Lộc là một huyện phần lớn là sản xuất nông nghiệp, trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, tình hình kinh tế - xã hội
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NHA TRANG - NĂM 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sỹ "Giải pháp tạo việc làm cho người lao động nông thôn ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An" đã được triển khai nghiên cứu tại
huyện Nghi Lộc, Tỉnh Nghệ An Đề tài đã sử dụng nhiều nguồn thông tin liên quan khác nhau để phục vụ cho việc nghiên cứu, các nguồn thông tin đã được chỉ rõ nguồn gốc Ngoài ra nguồn số liệu điều tra thực tế ở địa bàn nghiên cứu đã được xử lý
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng cho bất cứ một học vị nào khác
Nghi Lộc, ngày 15 tháng 8 năm 2012
Người thực hiện
Nguyễn Đình Hùng
Trang 3Ngoài ra tôi còn nhận được sự giúp đỡ và cộng tác của các cá nhân và tập thể các phòng ban chuyên môn cơ quan HĐND-UBND huyện Nghi Lộc, UBND xã Nghi Văn, UBND xã Nghi Thái, UBND thị trấn Quán Hành và các hộ gia đình đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu, cũng như nghiên cứu thực hiện đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, với nguồn kiến thức có hạn, thời gian nghiên cứu không dài vì vậy đề tài nghiên cứu vẫn còn có những điều hạn chế Tác giả kính mong các thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và quý độc giả góp ý để tác giả hoàn thiện đề tài như mong muốn
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Nghi Lộc, ngày 15 tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Hùng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 9
1 Việc làm và các vấn đề liên quan đến việc làm 9
1.1 Việc làm 9
1.2 Thiếu việc làm 10
1.3 Thất nghiệp 11
1.4 Tạo việc làm 12
1.5 Việc làm mới 13
2 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động 14
2.1 Con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội và là yếu tố tạo ra lợi ích kinh tế – xã hội 14
2.2 Việc làm đối với người lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là yếu tố khách quan của người lao động 15
2.3 Việc làm là yêu cầu khách quan của xã hội 16
3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá tình hình việc làm của một quốc gia, một địa phương 17
4 Cơ sở thực tiễn cho vấn đề tạo việc làm cho người lao động nơng thơn Việt Nam 19
4.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm của người lao động nơng thơn Việt Nam 19 4.1.1 Tư liệu sản xuất 19
4.1.2 Nhân tố dân số 22
4.1.3 Nhân tố giáo dục và cơng nghệ 23
Trang 54.1.4 Chính sách lao động và việc làm trong xã hội 24
4.2 Tình hình lao động – việc làm nông thôn ở Việt Nam hiện nay 25
5 Kinh nghiệm của một số nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn27 5.1 Trung Quốc 27
5.2 Malaisia 29
6 Một số bài học rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn 30
Tóm tắt chương 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HUYỆN NGHI LỘC - NGHỆ AN 33
I Đặc điểm chung của huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 33
1 Điều kiện tự nhiên của huyện Nghi Lộc 33
1.1 Vị trí địa lý 33
1.2 Địa hình 34
1.3 Tài nguyên thiên nhiên 35
2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40
2.1 Văn hóa thông tin - thể dục thể thao 41
2.2 Văn hóa - giáo dục và đào tạo : 41
2.3 Y tế và Bảo vệ sức khỏe: 43
2.4 Giao thông: 43
2.5 Điện, nước: 43
2.6 Hệ thống bưu chính viễn thông: 44
2.7 Hệ thống tài chính – ngân hàng: 44
2.8 Khoa học – công nghệ: 44
2.9 Dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm: 44
2.10 Dịch vụ thương mại: 45
II Thực trạng việc làm của người lao động nông thôn huyện Nghi Lộc 47
1 Tình trạng việc làm của lực lượng lao động nông thôn tỉnh Nghệ An hiện nay47 2 Quy mô lao động nông thôn huyện Nghi Lộc 47
3 Chất lượng nguồn lao động nông thôn huyện Nghi Lộc 50
Trang 63.1 Về mặt thể lực 50
3.2 Về mặt trí lực 50
3.3 Thực trạng công tác đào tạo nghề 53
3.4 Thực trạng sử dụng nguồn lao động 54
3.4.1 Theo ngành kinh tế 54
3.4.2 Theo thành phần kinh tế 55
3.4.3 Theo khu vực 56
4 Thực trạng việc làm của hộ gia đình 64
4.1 Thực trạng lao động của hộ 64
4.2 Lĩnh vực lao động của hộ 66
4.3 Thu nhập của lao động 67
4.4 Cơ hội việc làm cho lao động nông thôn huyện Nghi Lộc 67
5 Một số chương trình giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện Nghi Lộc 68
Kết luận chương 2 70
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN NGHI LỘC 78
I Định hướng giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn huyện Nghi Lộc 78
1 Các quan điểm cơ bản về vấn đề tạo việc làm cho người lao động nông thôn ở Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 78
2 Những căn cứ, định hướng và mục tiêu chủ yếu để tạo việc làm cho người lao động nông thôn huyện Nghi Lộc trong thời gian tới 80
2.1 Những căn cứ chủ yếu để tạo việc làm cho người lao động nông thôn ở huyện Nghi Lộc trong thời gian tới 80
2.2 Định hướng tạo việc làm cho người lao động nông thôn ở huyện Nghi Lộc trong thời gian tới 81
2.2.1 Phát triển các ngành nghề ở nông thôn 81
2.2.2 Định hướng phát triển theo ngành 82
Trang 72.2.3 Định hướng phát triển theo vùng 83
2.3 Mục tiêu tạo việc làm cho người lao động nông thôn ở huyện Nghi Lộc trong thời gian tới 84
II Những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Nghi Lộc 85
1 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá 85
1.1 Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 85
1.2 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp 88
1.3 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ 90
2 Phát triển và đa dạng hoá các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn 92
2.1 Phát triển kinh tế hộ gia đình 92
2.2 Phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã 93
2.3 Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ 94
3 Giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn qua chương trình xúc tiến việc làm quốc gia 96
3.1 Tạo việc làm cho người lao động ở vùng nông thôn Nghi Lộc qua quỹ quốc gia giải quyết việc làm 96
3.2 Giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn qua các trung tâm dịch vụ việc làm 98
3.3 Tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn qua xuất khẩu lao động 100
4 Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho người lao động 102
4.1 Chấn chỉnh, kiện toàn hệ thống cơ sở dạy nghề ở Nghi Lộc 102
4.2 Thực hiện xã hội hóa dạy nghề ở Nghi Lộc 104
4.3 Đẩy mạnh công tác dạy nghề cho người lao động ở nông thôn 105
4.4 Mở rộng các hình thức liên kết đào tạo nghề cho người lao động ở nông thôn 108
4.5 Phát triển các hình thức hợp tác với các địa phương trên cả nước và quốc tế về giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn 110
4.6 Tăng cường quan hệ ký kết hợp đồng cung ứng lao động 110
Trang 84.7 Tăng cường hợp tác phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao
động 110
5 Các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế và nâng cao chất lượng nguồn lao động ở nông thôn 112
KIẾN NGHỊ 114
1 Đối với tỉnh: 114
2 Đối với địa phương: 114
KẾT LUẬN CHUNG 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 122
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Nghi Lộc giai đoạn 2009 - 2011 36
Bảng 2.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Nghi Lộc 40
Bảng 2.3 Số trường, lớp, giáo viên và học sinh phổ thơng ở huyện Nghi Lộc 42
Bảng 2.4 Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế trên địa bàn huyện 43
Bảng 2.5 Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động năm 2011 48
Bảng 2.6 Tình hình dân cư huyện Nghi Lộc năm 2011 49
Bảng 2.7 Trình độ văn hĩa của lao động huyện Nghi Lộc 51
Bảng 2.8 Trình độ chuyên mơn kỹ thuật 51
Bảng 2.9 Cơ cấu làm việc theo nhĩm ngành 55
Bảng 2.10 Việc làm chia theo thành phần kinh tế 56
Bảng 2.11 Nhân khẩu của hộ 64
Bảng 2.12 Lực lượng lao động của hộ 64
Bảng 2.13 Trình độ học vấn của lao động 65
Bảng 2.14 Trình độ chuyên mơn của lao động 66
Bảng 2.15 Cơ cấu sử dụng đất trong ngành nơng nghiệp 66
Bảng 2.16 Thu nhập của hộ 67
Bảng 2.17 Tỷ suất sử dụng thời gian lao động của các hộ điều tra năm 2011 71
Bảng 2.18 Sự thay đổi cơ cấu GDP và lao động 73
Bảng 2.19 Dân số huyện Nghi Lộc trong độ tuổi lao động 76
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CN : Công nghiệp
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
TTCN : Tiểu thủ Công nghiệp
GDP : Tổng sản phẩm Quốc nội
HTX : Hợp tác xã
KH, CN : Khoa học, công nghệ
CNKT : Công nhân kỹ thuật
NLN : Nông lâm nghiệp
KV : Khu vực
XDCB : Xây dựng cơ bản
TTCN – TMDV : Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại dịch vụ VAC : Vườn ao chuồng
UBND : Ủy ban nhân dân
ILO : Tổ chức lao động Quốc tế
CNH : Công nghiệp hóa
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội có tính toàn cầu, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Ngày nay, quan niệm về phát triển được hiểu đầy đủ là: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến
bộ, công bằng xã hội; phải xoá đói, giảm nghèo, giảm thiểu thất nghiệp…
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống một đời hạnh phúc” Tư tưởng của người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết việc làm cho người lao động
Phần lớn dân số Việt Nam hiện nay vẫn tập trung ở khu vực nông thôn (hơn 60 triệu dân) Sau gần 20 năm, tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn của Việt Nam vẫn chiếm hơn 70% Điều này cũng đồng nghĩa với việc, Việt Nam đã không đạt được các mục tiêu dân số đề ra cho giai đoạn 2001-2010 Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa vẫn đang tiếp tục được thực hiện, tuy vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động tương đối chậm
Lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện vẫn chiếm tỷ lệ lớn, chiếm tới 71,1% lực lượng lao động cả nước Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động chậm, trong khi gia tăng dân số tự nhiên vẫn tiếp tục, cùng với những rủi ro của nền kinh tế trong bối cảnh khủng hoảng đã và đang tạo ra những thách thức đối với vấn đề việc làm của khu vực này
Lực lượng lao động khu vực nông thôn hiện nay khá trẻ do có tỷ lệ các nhóm tuổi 15-29 chiếm tới 1/3 tổng dân số trong độ tuổi lao động Trong tương lai không xa, lực lượng này sẽ là động lực chính cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội nếu như chúng ta có những chiến lược tốt trong việc đào tạo, nâng cao chất lượng lao động, giải quyết việc làm… ngay từ bây giờ Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nhận định: “Tỷ
Trang 12trọng trong nông nghiệp còn quá cao Lao động thiếu việc làm và không có việc làm còn nhiều Tỷ lệ qua đào tạo rất thấp’’ [Tr166]
Thất nghiệp, thiếu việc làm đang và sẽ diễn biến rất phức tạp, cản trở quá trình vận động và phát triển kinh tế đất nước Vì vậy, tạo việc làm cho người lao động là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cho từng ngành, địa phương và từng gia đình Tạo điều kiện cho người lao động có việc làm, một mặt, nhằm phát huy tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ở nước ta cho sự phát triển kinh tế - xã hội, mặt khác, là hướng cơ bản để xoá đói, giảm nghèo có hiệu quả, là cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo động lực mạnh
mẽ thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản Bằng nhiều biện pháp, tạo ra nhiều việc làm mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động Khôi phục và phát triển các làng nghề… sớm xây dựng và thực hiện chính sách trợ cấp cho người lao động thất nghiệp” [Tr140,150] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và cho lao động nông thôn, nhất là các vùng nhà nước thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các cơ sở phi nông nghiệp Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, giảm nhanh tỉ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm…”[Tr195]
Huyện Nghi Lộc là một huyện phần lớn là sản xuất nông nghiệp, trình
độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, tình hình kinh tế - xã hội chưa thực sự phát triển, vấn đề lao động nông thôn dư thừa đang còn là những bất cập cần được giúp đỡ và giải quyết Xã hội ngày càng phát triển mạnh nhưng ở Nghi Lộc
Trang 13vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề việc làm nông thôn
Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp tạo việc làm cho người lao động nông thôn huyện Nghi Lộc” làm đề
tài luận văn thạc sĩ với mong muốn tìm ra những hướng đi thích hợp giải quyết vấn đề việc làm cho địa phương
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về việc làm của người lao động nông thôn huyện Nghi Lộc, để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tạo việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần cùng huyện Nghi Lộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Nghiên cứu dự báo về việc làm ở huyện Nghi Lộc trong thời gian tới
- Đề ra định hướng và một số giải pháp nhằm tạo việc làm cho người lao động nông thôn trên địa bàn huyện Nghi Lộc, đáp ứng được yêu cầu tình hình thực tế mà huyện đã đề ra
Câu hỏi đặt ra cho vấn đề nghiên cứu
- Một là, thực trạng lao động việc làm của huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ
An hiện nay như thế nào ?
- Hai là, làm thế nào giải quyết tốt việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Nghi Lộc?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình lao động – việc làm của người lao động nông thôn, các hộ, cộng đồng và các vùng nông thôn ở huyện Nghi Lộc
Trang 143.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài liên quan đến việc làm và vấn đề tạo việc làm cho người lao động nông thôn ở huyện Nghi Lộc trong khoảng thời gian từ năm 2009 – 2011 Nội dung nghiên cứu về việc làm là vấn đề rất rộng, vì vậy luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu về thực trạng việc làm của người lao động nông thôn ở huyện Nghi Lộc ảnh hưởng tới đời sống và phát triển sản xuất nông thôn, để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tạo việc làm cho người lao động nông thôn trên địa bàn huyện Nghi Lộc từ nay đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài lấy quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp luận của mình
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ta phương pháp nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động và phát triển và trong mối quan hệ biện chứng với các sự vật, hiện tượng khác
4.1.1 Chọn địa điểm nghiên cứu
- Chọn vùng nghiên cứu: Phân ra 3 vùng; vùng thấp, vùng giữa, vùng cao
- Chọn xã nghiên cứu: Huyện Nghi Lộc có 30 xã, thị trấn đề tài chọn những xã mang tính đặc trưng nhất của vùng
- Chọn hộ nghiên cứu: Chọn 5% - 10% số hộ trong xã và mang tính đặc trưng nhất của xã
4.1.2 Chọn mẫu điều tra
Áp dụng chọn mẫu ngẫu nhiên: Chọn địa điểm, chọn hộ, chọn ngành tiến hành lựa chọn từ các đơn vị điều tra trong vùng được chọn, mỗi đơn vị đại diện lấy ra 50 hộ, tổng số hộ điều tra là 150 hộ Trong đó tỷ lệ dân tộc, tôn giáo, tỷ lệ lao động có việc làm, không có việc làm trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Chọn hộ điều tra đại diện cho cả huyện theo tỷ lệ hộ giàu, trung bình, hộ nghèo và hộ thuần nông
Hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề, hộ ngành nghề kiêm dịch vụ buôn bán, hộ nông nghiệp kiêm dịch vụ buôn bán
Trang 154.2 Các phương pháp nghiên cứu
4.2.1.Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp điều tra thông tin thứ cấp (phương pháp thu thập số liệu gián tiếp)
Thu thập và tính toán từ những số liệu của các cơ quan thống kê Trung ương, Tỉnh, Huyện Nghi Lộc; các báo cáo chuyên ngành và những báo cáo khoa học đã được công bố, các tài liệu do các cơ quan tỉnh Nghệ An cung cấp (Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Cục thống kê), của huyện và các xã; những số liệu này chủ yếu được thu thập ở Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp, phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Phòng Tài nguyên - Môi trường
- Phương pháp điều tra thông tin sơ cấp thông qua phỏng vấn bằng phiếu điều tra (phương pháp thu thập số liệu trực tiếp):
+ Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Là phương pháp quan sát, khảo sát thực tế địa bàn nghiên cứu, thu thập thông tin qua phỏng vấn cán bộ địa phương, những hộ nông dân (lựa chọn theo tiêu thức)
+ Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA): Tiếp Xúc với người dân tại địa điểm nghiên cứu: Phỏng vấn cá nhân Phỏng vấn Người cung cấp thông tin chủ yếu Phỏng vấn theo nhóm Thảo luận nhóm có trọng tâm
Thông qua phương pháp này để hiểu biết thực trạng, những thuận lợi, khó khăn, nghiên cứu về việc làm của người lao động, từ đó đề xuất những giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động góp phần cho sự phát triển kinh tế nông thôn
+ Phương pháp điều tra: Nhằm thu thập số liệu về các yếu tố về đời sống vật chất, về việc làm, về hoạt động sản xuất, văn hóa tư tưởng, nghiên cứu của hộ nông dân thông qua phương pháp điều tra việc làm hộ nông dân khu vực nông thôn
Trang 164.2.2 Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu
Xử lý số liệu thông qua chương trình Excel hoặc một số phần mềm xử
lý số liệu chuyên biệt, phương pháp phân tích
* Phương pháp phân tích: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Phương pháp chung và tổng quát cho toàn bộ đề tài, sử dụng phương pháp Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử và các lý luận kinh tế học Với tất
cả các phương pháp phân tích, tổng hợp, suy diễn và quy nạp sẽ giúp xem xét, đánh giá các sự việc, hiện tượng trong mối quan hệ hệ thống, có liên quan quy luật, thực chất và bản chất của từng vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở lý luận, các phạm trù kinh tế học hiện nay trong đề tài còn sử dụng các quan điểm về lợi thế, tiềm năng, chi phí và kết quả, hiệu quả kinh tế
* Phương pháp so sánh: Dùng phương pháp so sánh để xem xét một số chỉ tiêu bằng cách dựa trên việc so sánh theo thời gian, theo ngành nghề, theo
độ tuổi lao động, theo cơ cấu kinh tế để xác định xu hướng mức biến động của chỉ tiêu phân tích, phân tích tài liệu được khoa học, khách quan
* Phương pháp dự báo thống kê: đề tài có sử dụng phương pháp thống
kê dùng để thu thập điều tra những tài liệu mang tính đại diện cao, phản ánh chân thực thiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu tính toán, nghiên cứu các chỉ tiêu được đúng đắn Các phương pháp phân tổ, số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân trong thống kê được vận dụng như là những phương pháp chủ yếu để nghiên cứu học tập
5 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Đã có nhiều nghiên cứu về nguồn nhân lực và phương pháp quản lý và
sử dụng nguồn nhân lực, đặc biệt là nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến việc làm của người lao động như:
Ngoài nước:
Tác phẩm “People Flows in Globalization” của Richard B Freeman (2006): nghiên cứu những yếu tố của toàn cầu hóa tạo điều kiện cho dòng người nhập cư từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển có xu
Trang 17hướng tăng lên Mục đích của dòng người nhập cư này chủ yếu nhằm cải thiện đời sống kinh tế, tiếp nhận kiến thức hiện đại, cơ hội học tập
Trong nước :
Chính sách đổi mới kinh tế – xã hội cho phép chuyển hướng quản lý từ
cơ chế tập trung, quan liêu sang cơ chế phi tập trung, định hướng thị trường Tuy nhiên vấn đề phát triển đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm cho người lao động thường chỉ mang màu sắc quản lý hành chính Nhà nước đưa ra chính sách, quy chế xác định nhiệm vụ và các tổ chức chỉ thuần tuý thực thi thụ động Với sự thay đổi cơ chế quản lý, bài toán về phát triển đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn vẫn còn là một thách thức cần có lời giải một cách thoả đáng
Đề tài Khoa học công nghệ (KHCN) cấp Nhà nước KX – 07 – 14 (1991 – 1995) do GS.TS Nguyễn An Lương làm chủ nhiệm “Cơ sở khoa học và những kiến giải để cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn và bảo vệ sức khoẻ người người lao động góp phần xây dựng nhân cách con người việt nam” (1995) đã cho thấy điều kiện làm việc thiếu thốn, thu nhập của người lao động còn rất thấp, bảo hộ lao động bất cập so với yêu cầu an toàn lao động và bảo vệ sưc khoẻ của người lao động Đề tài cũng đưa ra những kiến nghị, giải pháp cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao động
Bài báo "Giải quyết việc làm ở nông thôn và những vấn đề đặt ra", của
PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc (2003) đã đề cập đến những vấn đề cấp bách được đặt ra để giải quyết việc làm ở nông thôn Việt Nam
Luận án tiến sĩ của tác giả Hòang Tú Anh (2012) về “Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hòa Vang – Thành phố Đà Nẵng”; luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đỗ Thị Xuân Phương (2000), Phát triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm (qua thực tế ở Hà Nội), cũng đã nêu bật được những định hướng và giải pháp về tạo việc làm cho nông thôn trong bối cảnh của địa phương
Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong việc cung cấp lý luận về đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao
Trang 18động nói chung trên các lĩnh vực, các ngành, các vùng của nền sản xuất xã hội trong phạm vi cả nước Song đối với huyện Nghi Lộc chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về việc làm cho lao động nông thôn Vì vậy, việc nghiên cứu “Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Nghi Lộc” là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với địa phương
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài liệu giúp cho huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động nông thôn, nâng cao mức sống cho người dân, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo đến năm 2015 có cơ sở khoa học
Luận văn nghiên cứu và phản ánh khá toàn diện về việc làm, tạo việc làm cho người lao động nông thôn và tình hình phát triển sản xuất nông thôn
để tạo việc làm ở huyện Nghi Lộc Các giải pháp đưa ra có ý nghĩa thiết thực đối với tạo việc làm cho người lao động nông thôn cũng như đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội chung của huyện Nghi Lộc và các địa phương có điều kiện tương tự
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 phần chính: Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm cho người lao động Chương 2: Thực trạng việc làm của người lao động nông thôn huyện Nghi Lộc giai đoạn 2009 - 2011
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động nông thôn huyện Nghi Lộc
Trang 19CHƯƠNG 1
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
1 Việc làm và các vấn đề liên quan đến việc làm
1.1 Việc làm
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Như vậy, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội Song, con người chỉ trở thành động lực cho sự phát triển khi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập của họ không bị cấm và được thừa nhận là việc làm
* Có nhiều quan niệm về việc làm:
- “Việc làm là cơ sở vật chất để huy động nguồn nhân lực vào hoạt động sản xuất trong nền kinh tế quốc dân”
- “Việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tức là những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó” Cho dù có nhiều quan niệm về việc làm, song việc làm là dành cho con người và do con người thực hiện nó với các điều kiện vật chất, kỹ thuật tương ứng hay đó chính là nhu cầu sử dụng sức lao động của con người Theo Bộ Luật lao động
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động năm 2006 thì:
“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội” Trong đó các hoạt động được xác định
là việc làm bao gồm:
- Các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền mặt hoặc hiện vật
- Những công việc tự làm để tạo thu nhập cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công (bằng tiền mặt hoặc hiện vật) cho công việc đó
Trang 20* Việc làm được phân loại theo các mức độ sau:
- Theo mức độ đầu tư thời gian cho việc làm:
+ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác
+ Việc làm phụ là những việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sau việc làm chính
- Theo mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất và thu nhập + Việc làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu là mức độ sử dụng thời gian lao động, mức năng suất
và thu nhập Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động làm việc theo chế
độ (độ dài thời gian lao động ở Việt Nam hiện nay là 8 giờ/ngày)
+ Việc làm có hiệu quả là việc làm với năng suất, chất lượng cao Đối với tầm vĩ mô việc làm có hiệu quả còn là vấn đề sử dụng hợp lý nguồn lao động, tức là tiết kiệm được chi phí lao động, tăng năng suất lao động, bảo đảm chất lượng của các sản phẩm làm ra và tạo ra nhiều chỗ làm việc để sử dụng hết nguồn nhân lực
1.2 Thiếu việc làm
Khi nguồn lao động được huy động, sử dụng không hiệu quả thì tình trạng thiếu việc làm sẽ xảy ra, dẫn đến thu nhập người lao động thấp, giảm mức sống con người Đồng thời đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội, thậm chí tạo ra các xung đột rối loạn về mặt an ninh chính trị… Chính vì vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống, xoá đói giảm nghèo trở lên có ý nghĩa to lớn, được quan tâm trong các mô hình phát triển hiện nay ở mọi quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài
ý muốn của người lao động Họ phải làm việc nhưng không sử dụng hết thời gian theo quy định hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống khiến họ muốn tìm thêm việc làm bổ sung Như vậy, thiếu việc làm
Trang 21được hiểu là trạng thái việc làm không tạo điều kiện cho người tiến hành nó
sử dụng hết thời gian quy định và mang lại thu nhập thấp hơn mức tiền lương tối thiểu
Thiếu việc làm được thể hiện dưới hai dạng: Thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình
- Thiếu việc làm vô hình là trạng thái những người có đủ việc làm, làm
đủ thời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp Có thể nói, nguyên nhân của tình trạng này do dân số không ngừng tăng trong khi diện tích đất canh tác có nguy cơ thu hẹp làm dư thừa lao động Số người lao động trên một đơn vị diện tích tăng có nghĩa là thời gian sử dụng để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm Trên thực tế, họ vẫn làm việc nhưng sử dụng rất ít thời gian trong sản xuất do vậy thời gian nhàn rỗi nhiều
- Thiếu việc làm hữu hình chỉ hiện tượng lao động làm việc thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm, đang tìm kiếm thêm việc làm và sẵn sàng làm việc
1.3 Thất nghiệp
Gắn với khái niệm việc làm là khái niệm thất nghiệp Trong bất kỳ nền kinh tế nào dù có sử dụng lao động đến mức tốt nhất thì xã hội vẫn tồn tại thất nghiệp Thất nghiệp là hiện tượng mà người lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động muốn làm việc nhưng lại chưa có việc làm và đang tích cực tìm việc làm
Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau, thất nghiệp được chia thành các loại như sau:
- Xét về nguồn gốc thất nghiệp, có thể chia thành:
+ Thất nghiệp tạm thời: Xảy ra do thay đổi việc làm hoặc do cung cầu lao động không phù hợp
+ Thất nghiệp cơ cấu: Xuất hiện do không có sự đồng bộ giữa tay nghề
và cơ hội có việc làm khi động thái của nhu cầu và sản xuất thay đổi
+ Thất nghiệp do thời vụ: Xuất hiện như là kết quả của những biến động thời vụ trong các cơ hội lao động
Trang 22+ Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng sản lượng của nền kinh tế Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh, tổng giá trị sản xuất giảm dần dẫn tới hầu hết các nhà sản xuất giảm lượng cầu đối với các yếu tố đầu vào, trong đó có lao động Đối với loại thất nghiệp này, những chính sách nhằm khuyến khích để tăng tổng cầu thường mang lại kết quả tích cực
- Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp bao gồm:
+ Thất nghiệp tự nguyện là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao động
bỏ việc để tìm công việc khác tốt hơn hoặc chưa tìm được việc làm phù hợp với nguyện vọng
+ Thất nghiệp không tự nguyện là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao động chấp nhận làm việc ở mức tiền lương, tiền công phổ biến nhưng vẫn không tìm được việc làm
- Ở các nước đang phát triển, người ta chia thất nghiệp thành thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp vô hình
+ Thất nghiệp hữu hình xảy ra khi người có sức lao động muốn tìm kiếm việc làm nhưng không tìm được trên thị trường
+ Thất nghiệp vô hình hay còn gọi là thất nghiệp trá hình là biểu hiện chính của tình trạng chưa sử dụng hết lao động ở các nước đang phát triển
Họ là những người có việc làm trong khu vực nông thôn hoặc thành thị không chính thức nhưng việc làm đó có năng suất thấp, những người này đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào phát triển sản xuất
1.4 Tạo việc làm
Có thể hiểu tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình người lao động làm việc Người lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập cho riêng họ mà còn tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội Vì vậy, tạo
Trang 23việc làm không chỉ là nhu cầu chủ quan của người lao động mà còn là yếu tố khách quan của xã hội
Việc hình thành việc làm thường là sự tác động đồng thời giữa ba yếu tố:
- Nhu cầu thị trường
- Điều kiện cần thiết để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ:
+ Người lao động (sức lực và trí lực)
+ Công cụ sản xuất
+ Đối tượng lao động
- Môi trường xã hội: xét cả góc độ kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội Người ta có thể mô hình hoá quy mô tạo việc làm theo phương trình sau:
là những điều kiện kinh tế, xã hội, thông qua hệ thống các chính sách của Nhà nước như chính sách thu hút người lao động, qua việc phát triển các ngành nghề, chính sách vay vốn…
1.5 Việc làm mới
Việc làm mới cũng là những việc làm được pháp luật cho phép, đem lại thu nhập cho người lao động, nó được tạo ra theo nhu cầu của thị trường để sản xuất và cung ứng một loại hàng hoá dịch vụ nào đó cho xã hội Sự xuất hiện những việc làm mới là một yếu tố khách quan do hàng năm lực lượng lao động được bổ sung thêm cùng với tiến trình phát triển của dân số
Trang 24Khái niệm việc làm thường gắn với chỗ làm việc bởi vì mỗi công việc
cụ thể phải có môi trường làm việc nhất định Như thế việc làm tạo ra những chỗ làm việc mới cũng hàm ý với việc tạo ra việc làm mới Việc làm mới bao gồm những công việc đòi hỏi kỹ năng và những việc làm được tạo thêm cho người lao động Đối với những công việc mới này cần phải có sự thay đổi kỹ năng lao động thông qua đào tạo, còn đối với những việc làm được tạo thêm (tăng lượng cầu lao động) đồng nghĩa với việc tạo thêm những chỗ làm việc mà không yêu cầu phải thay đổi kỹ năng của người lao động
Như vậy, việc làm mới là phạm trù nói lên sự tăng lượng cầu
về lao động, nó được thể hiện dưới hai dạng: Những việc làm đòi hỏi kỹ năng lao động mới và những chỗ làm việc mới được tạo thêm, song không đòi hỏi sự thay đổi về kỹ năng của người lao động
Việc làm mới được tạo ra bằng nhiều cách: Tăng chi tiêu của Chính phủ cho các chương trình phát triển kinh tế – xã hội (tăng cầu lao động), giảm thuế để khuyến khích phát triển sản xuất từ đó tạo ra những việc làm mới Đối với người lao động, để tham gia được những việc làm mới phải không ngừng đào tạo nâng cao trình độ lao động của mình
2 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động
Việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia Bởi vậy, đấu tranh chống thất nghiệp và đảm bảo việc làm (có thu nhập) cho người lao động là thách thức lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng Để tạo việc làm và tự tạo việc làm không chỉ Đảng và Nhà nước mà bản thân người lao động phải thấy được sự cần thiết của tạo việc làm
2.1 Con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội và là yếu tố tạo ra lợi ích kinh tế – xã hội
Để thấy rõ vai trò của con người, Mác-Lênin đã nêu rõ: “Con người
là lực lượng sản xuất cơ bản nhất của xã hội Con người với sức lao động, chất lượng, khả năng, năng lực, với sự tham gia tích cực vào quá trình lao động, là yếu tố quyết định tốc độ phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật và xã hội” Ngày nay, để tồn tại và phát triển bản thân mỗi người không
Trang 25ngừng nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn, những kỹ năng cần thiết không thể thiếu được của người lao động
Xuất phát từ vai trò to lớn của con người trong lực lượng sản xuất cũng như trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy “ Chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng”
Chủ nghĩa Mác-Lênin coi: Trong tính hiện thực, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nghĩa là:
- Cần phải coi trọng con người như người lao động tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội
- Coi con người là nhà sáng tạo ra những ý tưởng mới, giải pháp mới
- Con người cần được thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần và
xã hội
Thực chất quan điểm này muốn chỉ ra, chính sách kinh tế – xã hội phải đảm bảo mức sống cao cho dân tộc, lối sống lành mạnh của sự phát triển toàn diện con người Mục tiêu của công cuộc đổi mới cũng là tạo ra ngày một tốt hơn điều kiện về vật chất, văn hoá tinh thần cho cuộc sống con người Một xã hội văn minh phát triển khi mỗi cá nhân, mỗi gia đình văn minh hơn, ấm no
có khả năng lao động tham gia vào nền sản xuất xã hội tức là mỗi người phải
có việc làm đầy đủ Mặt khác, phải nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nhằm khai thác triệt để tiềm năng của mỗi người nhằm đạt được việc làm hợp
lý và việc làm hiệu quả
Trang 26Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động không những tạo điều kiện
để người lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống mà còn làm giảm các tệ nạn xã hội, làm cho xã hội văn minh hơn
Khi nghiên cứu lý thuyết về sự phát triển, mọi người đều nhận thức rằng: Một trong những vấn đề cơ bản nhất trong cấu trúc của nó là phát triển nguồn lực, coi đó là đỉnh cao nhất, là mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình phát triển Điều này hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với nhận thức mới về phát triển con người Con người ở đây được xem xét trên hai khía cạnh thống nhất với nhau hay nói cách khác nó là hai mặt của một vấn đề được thống nhất trong mỗi con người
- Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần Như vậy, để tồn tại và phát triển, con người bằng sức lao động của mình, là yếu tố của quá trình sản xuất, là lực lượng sản xuất cơ bản nhất, tạo
Trong quá trình phát triển, con người vừa là đối tượng hưởng thụ, mặt khác lại là người cung cấp đầu vào quan trọng cho quá trình biến đổi sản xuất Hoạt động lao động ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của loài người, đó là một hoạt động thuộc về bản năng sinh tồn, con người chỉ có thể tồn tại, phát triển và hoàn thiện không ngừng thông qua lao động sản xuất
Do vậy, nhu cầu có việc làm là nhu cầu để con người tồn tại và phát triển, là yếu tố khách quan và chính đáng của người lao động
2.3 Việc làm là yêu cầu khách quan của xã hội
Lịch sử phát triển sản xuất loài người cho thấy, bất cứ một quốc gia nào, đều có nhu cầu sử dụng hợp lý nguồn lao động của mình, để khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế của đất nước Người lao động là một
Trang 27nguồn lực quan trọng, là một trong những yếu tố cơ bản để phát triển Mọi chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn trong lĩnh vực kinh tế phải tập trung phát huy cao độ khả năng của nguồn lực quan trọng đó Nếu có những sai phạm về chủ trương, chính sách và biện pháp thì nguồn lao động rất có thể trở thành gánh nặng, thậm chí gây trở ngại, tổn thất cho nền kinh tế
3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá tình hình việc làm của một quốc gia, một địa phương
Việc làm được đánh giá trên các quan điểm khác nhau Trên giác độ xã
hội, chất lượng việc làm được đánh giá trên khía cạnh phúc lợi xã hội Chất lượng việc làm dưới giác độ xã hội, yếu tố quan trọng là việc toàn dụng nhân công, mọi người đều có việc làm và có được việc làm phù hợp với luật pháp, việc làm nhân văn, việc làm tử tế v.v… Quan điểm từ phía doanh nghiệp, chất lượng việc làm được đánh giá trên khía cạnh khai thác sức lao động, nghĩa là người lao động phải làm việc có năng suất cao Với người lao động, chất lượng việc làm là lợi ích từ việc làm, gồm các yếu tố cơ bản là có thu nhập/tiền lương/tiền công cao (lợi ích từ việc làm lớn); các chế độ bảo đảm việc làm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế) và linh hoạt việc làm (luân chuyển); sự phù hợp với năng lực và sở thích cá nhân; và có các điều kiện phát triển (đào tạo, thăng tiến nghề nghiệp)
Theo tác giả Hoàng Tú Anh (2012), các chỉ tiêu đánh giá giải quyết việc làm cho nông thôn có thể kể đến :
- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng hướng nghiệp, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn : số lao động được tư vấn hướng nghiệp; số lao động đào tạo nghề, cơ cấu ngành nghề đào tạo; số lao động được giới thiệu việc làm; số lao động có việc làm thông qua đào tạo nghề; số lao động có việc làm thông qua giới thiệu việc làm
- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng giải quyết việc làm thông qua chính sách tín dụng nông thôn : nguồn vốn tín dụng giải quyết việc làm; số lao động được vay vốn; số lao động được giải quyết việc làm thông qua vay vốn
Trang 28- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng phát triển sản xuất, thu hút lao động nông thôn : số ngành nghề mới; số cơ sở sản xuất tăng thêm; số lao động được giải quyết việc làm từ các cơ sở mới
- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng xuất khẩu lao động : số cơ sở môi giới xuất khẩu lao động; số lao động được giải quyết việc làm qua xuất khẩu
Tổ chức Lao động quốc tế ILO (2008) đã khẳng định để có việc làm tốt hơn phải hướng tới việc làm bền vững Định nghĩa việc làm bền vững do ILO xây dựng và được cộng đồng quốc tế thông qua, đó là: “việc làm có năng suất chất lượng cho nam giới và nữ giới, trong điều kiện tự do, bình đẳng, an toàn
và nhân phẩm được tôn trọng” Việc làm bền vững gồm 6 yếu tố: (1) Cơ hội làm việc; (2) làm việc trong điều kiện tự do; (3) việc làm có năng suất; (4) công bằng; (5) an ninh việc làm và (6) bảo vệ nhân phẩm Hai yếu tố đầu tập trung vào tính sẵn có của việc làm, trong khi 4 yếu tố sau tập trung vào tình trạng, chất lượng của việc làm
Chất lượng việc làm gắn bó chặt chẽ với yếu tố “an ninh“ Khi đề cập
tới khái niệm an ninh (security) bao gồm những nội dung sau: (1) an ninh trị trường lao động (labor market security)- có đầy đủ việc làm và cơ hội làm
việc thông qua các chính sách vĩ mô đảm bảo có tỷ lệ việc làm cao; (2) an
ninh việc làm (employment security)- bảo vệ chống lại sự sa thải tùy tiện và
sự bền vững của việc làm trong nền kinh tế năng động; (3) an ninh nghề
nghiệp (job security)- nghề hay kỹ năng không có nguy cơ lạc hậu không được sử dụng; (4) an toàn lao động (work security)- bảo vệ chống lại tai nạn
và bệnh tật nơi làm việc thông qua các quy định về an toàn và sức khỏe, giới hạn về thời gian làm việc, thời điểm làm việc như làm việc vào ban đêm; (5)
An ninh về phát triển kỹ năng (skill reproduction security) – mở rộng cơ hội
học nghề và phát triển kỹ năng thông qua đào tạo và đào tạo nghề; (6) an ninh
về thu nhập (income security) – Đảm bảo thu nhập thường xuyên và tiếp cận
các lợi ích khác ngoài tiền lương, các khoản thu nhập tăng thêm (hoặc thu nhập thay thế), bảo vệ quyền lợi về thu nhập thông qua hệ thống tiền lương tối thiểu, chính sách an sinh xã hội, v.v ; (7) An ninh về tiếng nói của người
lao động (representation security) – bảo vệ tiếng nói của tập thể lao động
Trang 29thông qua tổ chức công đoàn độc lập, hiệp hội của người lao động và cơ quan
có thể đại diện cho quyền lợi của người lao động
4 Cơ sở thực tiễn cho vấn đề tạo việc làm cho người lao động nông thôn Việt Nam
4.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm của người lao động nông thôn Việt Nam
4.1.1 Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất trong sản xuất nông nghiệp là đất đai, vốn, máy móc, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực con người, nguồn lực sinh học và các phương tiện hoá học Trong đó, yếu tố vốn, đất đai, yếu tố sức lao động, công nghệ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới tạo việc làm
Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất Nó tham gia vào mọi quá trình sản xuất của xã hội nhưng tuỳ thuộc vào từng ngành cụ thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau Trong nông nghiệp, ruộng đất không chỉ tham gia với tư cách là yếu tố thông thường mà
là yếu tố tích cực của sản xuất, là tư liệu chủ yếu không thể thiếu, không thể thay thế được Bởi vì, đất đai trong nông nghiệp có đặc điểm:
Ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất là vô hạn Mỗi quốc gia có giới hạn diện tích đất khác nhau và tỷ lệ ruộng đất trong nông nghiệp ở mỗi quốc gia lại càng khác biệt nhau vì nó còn tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kỹ thuật của từng nước Với nước ta, mặc dù đất chật người đông nhưng tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm khá lớn là 9.345,4 nghìn ha chiếm 29,4% tổng diện tích đất cả nước; đất lâm nghiệp có rừng là 11.575,4 nghìn ha chiếm 35,15% tổng diện tích đất cả nước
so với diện tích đất ở chỉ chiếm 1,34% Tuy nhiên đất chưa sử dụng (có cả sông ngòi) vẫn còn 1.027,3 nghìn ha chiếm 30,4% Diện tích đất lớn cho phép khai thác theo cả chiều sâu và chiều rộng để mỗi đơn vị diện tích đất ngày càng đáp ứng nhiều sản phẩm theo yêu cầu của con người và thị trường thế giới Chính việc sử dụng đất hợp lý kết hợp với sử dụng nguồn lực con người sẽ tạo ra sự hài hoà cho việc giải quyết việc làm cho người lao động với việc tăng sản lượng nông, lâm, ngư nghiệp Ruộng đất có vị trí cố định và
Trang 30chất lượng không đồng đều, nó khác tư liệu sản xuất khác là không bị hao mòn, không bị đào thải khỏi quá trình sản xuất nếu sử dụng hợp lý
Như vậy, ruộng đất có ý nghĩa to lớn trong sản xuất nông nghiệp Mỗi một vùng có vị trí địa lý khác nhau Do vậy, để có việc làm cho người lao động nông thôn thì Đảng và Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích họ đồng thời đưa ra những giải pháp tăng sức sản xuất của ruộng đất, làm tăng số lần quay vòng của đất
Như vậy, ruộng đất có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất nông nghiệp Yếu
tố vốn và sức lao động là hai yếu tố quan trọng nhất của quá trình tạo việc làm, hai yếu tố này hợp thành năng lực sản xuất, sức lao động là khả năng trí lực, thể lực của con người Đó là tri thức, sức khoẻ, kỹ năng, kinh nghiệm, truyền thống, bí quyết công nghệ…
Theo C.Mác “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất hay tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong mỗi con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”
Nói đến sức lao động ta phải nói đến số lượng và chất lượng lao động Nếu một người lao động có sức khoẻ tốt, có đầu óc suy nghĩ thông minh, sáng tạo thì hẳn công việc mà họ được giao sẽ được hoàn thành tốt, sản phẩm
mà họ tạo ra đảm bảo yêu cầu chất lượng Để tạo việc làm cho người lao động thì sức lao động là yếu tố quan trọng nhất Mỗi công việc được thực hiện khi có con người và con người đó chỉ làm việc được khi có đủ sức lao động Ở nông thôn, thể lực của người lao động kém hơn so với người lao động của thành thị, kiến thức chuyên môn cũng như xã hội đều thấp do thu nhập chưa cao, việc tiếp cận thông tin kinh tế – khoa học xã hội chậm Điều
đó ảnh hưởng lớn đến việc làm của chính họ Chính vì vậy, tạo việc làm cho người lao động nông thôn cần phải cân nhắc tính toán kỹ nếu không sẽ gây tổn thất nặng nề và để tạo việc làm có hiệu quả cần thiết phải bồi dưỡng kiến thức cho họ Vốn trong sản xuất nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của
tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp Vốn sản xuất nông nghiệp mang đặc điểm sau:
Trang 31Căn cứ vào đặc điểm của tài sản có thể chia thành vốn cố định và vốn lưu động Do chu kỳ sản xuất dài và có tính thời vụ trong nông nghiệp nên một mặt làm cho sự tuần hoàn và luân chuyển của vốn chậm chạp, kéo dài thời gian lưu thông trong thời gian tương đối dài và làm cho vốn ứ đọng Mặt khác, sự cần thiết và có khả năng tập trung hoá về phương tiện kỹ thuật trên một lao động nông thôn so với nông nghiệp là cao hơn
Sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên việc sử dụng vốn gặp nhiểu rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn Một
bộ phận sản phẩm nông nghiệp không qua lĩnh vực lưu thông mà được chuyển trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp Do vậy, một phận vốn được thực hiện ở ngoài thị trường và được tiêu dùng trong nội bộ nông nghiệp khi vốn lưu động được khôi phục trong hình thái hiện vật
Đối với người nông dân, đặc biệt là những người dân nghèo thì vốn là yếu tố quan trọng và cần thiết để tiến hành sản xuất Để tạo việc làm cho người lao động, nguồn vốn được huy động chủ yếu từ trợ cấp, từ các quỹ, các
tổ chức tín dụng
Khi số lượng việc làm được tạo ra nhưng nó có được chấp thuận hay không còn tuỳ thuộc vào thị trường tiêu thụ Bởi vì, nếu sản phẩm sản xuất ra
mà không được thị trường chấp nhận thì quy mô lớn đến đâu, máy móc thiết
bị có hiện đại đến đâu thì đơn vị sản xuất cũng không thể tồn tại Do đó, khi tạo việc làm cho người lao động cần phải biết cung – cầu lao động trên thị trường, số người thiếu việc làm, số người không có việc làm để tạo việc làm cho người lao động vừa đủ
Ngoài các yếu tố đất đai, vốn, sức lao động, thị trường lao động, còn có yếu tố quan trọng nữa đó là hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật: hệ thống thuỷ lợi, hệ thống đường giao thông, điện, thông tin liên lạc, cơ sở chế biến… Hệ thống này là yếu tố gián tiếp góp phần tạo ra việc làm và nâng cao hiệu quả việc làm Việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở các cộng đồng dân cư sẽ tạo khả năng thu hút nhiều lao động trực tiếp và gián tiếp tạo môi trường phát triển việc làm trong từng cộng đồng
Trang 324.1.2 Nhân tố dân số
Dân số là yếu tố chủ yếu của quá trình phát triển, dân số vừa là chủ thể vừa là khách thể của xã hội, vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu dùng Vì vậy, quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội, ảnh hưởng đó là tích cực hay tiêu cực tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa tốc độ phát triển dân số với nhu cầu và khả năng phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước trong mỗi thời kỳ Do quy mô dân số lớn, tốc độ tăng cao đã làm quy mô số người trong độ tuổi lao động có khả năng tăng cao Quy mô dân số đông, nguồn lao động dồi dào, đó là sức mạnh của quốc gia, là yếu tố cơ bản để mở rộng và phát triển sản xuất Nhưng đối với nước ta – nước đang phát triển, khả năng mở rộng và phát triển sản xuất còn
có hạn, nguồn vốn, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu còn thiếu thốn, nguồn lao động đông và tăng nhanh lại gây sức ép về việc làm rất lớn Mỗi năm phải tạo thêm từ 1 triệu – 1,2 triệu chỗ làm việc chưa kể số sinh viên sắp ra trường, số người làm việc nội trợ thì số người chưa có việc làm hàng năm là rất lớn Ngoài ra, để đảm bảo đủ việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn
và tận dụng hết quỹ thời gian lao động cần có thêm hơn 7 triệu chỗ làm việc
Rõ ràng dân số đang tăng nhanh gây sức ép về việc làm rất lớn, mặc dù nguồn lao động dồi dào là nguồn lực lớn để phát triển kinh tế nhưng để tạo việc làm cho người lao động không phải đơn giản mà kéo theo đó là tài chính, tín dụng, tư liệu sản xuất… trong khi ngân sách nước ta còn hạn hẹp Ngay từ năm 2000 Đảng và Nhà nước ta đã có chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong đó nhân tố dân số đã được coi trọng
- Coi con người là mục tiêu và là động lực chính của sự phát triển Đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển hay còn gọi là chiến lược con người, lấy lợi ích của con người làm điểm xuất phát của mọi chương trình kế hoạch phát triển
- Nguồn nhân lực và con người Việt Nam – lợi thế và nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế – xã hội nước ta Tuy nhiên, khi nguồn lực này tăng lên quá nhanh mà chưa sử dụng hết lại là lực cản, gây sức ép về đời sống xã hội và việc làm
Trang 33- Đối với chính sách dân số, lao động và bảo trợ xã hội là nội dung hàng đầu trong việc đổi mới chính sách và công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước Các chính sách đó phải phát huy nguồn lực, về nguồn lực Việt Nam và con người Việt Nam hướng vào thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn Mặt khác, các chính sách đó phải phù hợp với những yêu cầu của quản lý kinh tế quốc dân, phù hợp với những điều kiện kinh tế – xã hội
cụ thể của đất nước
4.1.3 Nhân tố giáo dục và công nghệ
Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học
và công nghệ của đất nước đó, trình độ khoa học công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục Đã có rất nhiều bài học thất bại khi một nước nào đó
sử dụng công nghệ ngoại nhập tiên tiến trong khi tiềm lực khoa học công nghệ trong nước còn rất non yếu Sự non yếu thể hiện ở chỗ thiếu các chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ và quản lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề Điều đó đã ảnh hưởng tới việc áp dụng các thành tựu khoa học, không có sự lựa chọn nào khác hoặc là đào tạo các nguồn lực quý giá cho đất nước phát triển hoặc phải chịu sự tụt hậu so với thế giới
Giáo dục và đào tạo cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc và khi có trong tay kiến thức về xã hội, về trình độ chuyên môn người lao động sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp
Như vậy, giáo dục và đào tạo nhằm định hướng phát triển kinh tế – xã hội, trước hết cung cho xã hội một đội ngũ lao động đủ về số lượng, chất lượng và sau là phát huy hiệu quả để đảm bảo thực hiện xã hội: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Bên cạnh sự đảm bảo nguồn lực
về số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu công việc thì việc phát triển công nghệ là yếu tố quan trọng trong việc đưa đất nước trở thành nước công nghiệp Công nghiệp hoá với xu hướng tri thức hoá công nhân, chuyên môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc
Ngày nay, để công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn nói riêng và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung thì việc thiếu lao động có
Trang 34trình độ chuyên môn hoá cao và thừa lao động trình độ thấp rất nhiều gây ra sức ép việc làm lớn Nếu bên cạnh việc nâng cao trình độ cho người lao động
mà kết hợp với việc áp dụng thành tựu khoa học trong sản xuất thì sẽ tạo ra những chỗ làm việc hợp lý Ngược lại, nếu Nhà nước có những chính sách tạo việc làm cho người lao động mà họ thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức chuyên môn thì chương trình tạo việc làm sẽ không đạt hiệu quả nữa
4.1.4 Chính sách lao động và việc làm trong xã hội
Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội
Chính sách việc làm thực chất là một hệ thống các biện pháp có tác động mở rộng cơ hội để lực lượng lao động của toàn xã hội tiếp cận được việc làm Ngoài ra chính sách việc làm còn bao gồm các giải pháp trợ giúp các loại đối tượng đặc biệt (cho người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội, người hồi hương…) có cơ hội và đều được làm việc
Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội nhằm giải quyết một vấn đề xã hội vừa cấp bách hiện nay vừa cơ bản lâu dài ở mỗi nước là đảm bảo việc làm, đời sống cho lao động toàn xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn, nơi đang tồn tại tỷ người chưa có việc làm, thiếu việc làm khá cao Cũng như chính sách xã hội khác, chính sách việc làm cũng rất đa dạng, phong phú, có thể phân loại như sau:
- Nhóm chính sách chung có quan hệ và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lao động toàn xã hội: Chính sách về vốn, chính sách đất đai, chính sách thuế…
- Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, hình thức
và vùng có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường (chính sách phát triển kinh tế hộ, chính sách đổi mới xây dựng vùng kinh tế mới, chính sách khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống, chính sách
di dân tự do và hành nghề theo pháp luật, chính sách gia công xuất khẩu…)
Mặt khác, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường tình trạng thất nghiệp là điều khó tránh khỏi, đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập tổ
Trang 35chức Thương mại quốc tế (WTO) thì khả năng tìm việc làm đối với người lao động có trình độ thấp lại càng khó Để hạn chế thất nghiệp một mặt phải tạo chỗ làm việc mới; mặt khác phải tránh cho người lao động đang làm việc lâm vào thất nghiệp
Ngoài ra, phải có hệ thống bảo hiểm cho người lao động khi họ thất nghiệp Trong chính sách giải quyết việc làm, một nguyên tắc cơ bản cần phải được chú ý, đó là đảm bảo cho mọi người được tiếp cận với cơ hội làm việc, trên cơ sở Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có cơ hội chủ động tìm kiếm việc làm, chống tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, tránh thực hiện chủ nghĩa bình quân, chia đều việc làm với thu nhập thấp Đồng thời cũng chống việc coi nhẹ trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khiến cho tình trạng thất nghiệp trở thành vấn đề xã hội gay cấn Cần gắn tiêu chuẩn về mức thu hút lao động của doanh nghiệp trong chính sách khuyến khích hoặc hỗ trợ doanh nghiệp
Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, song phương thức và biện pháp tạo việc làm lại mang nội dung kinh tế, đồng thời liên quan đến những vẫn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ Vì thế bất cứ chính sách kinh tế nào của Nhà nước cũng đều có ảnh hưởng
và tác động đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động
4.2 Tình hình lao động – việc làm nông thôn ở Việt Nam hiện nay
Khu vực nông thôn của các nước đang phát triển thường có dân số tăng nhanh, cấu trúc dân số trẻ, nguồn lao động tăng với tốc độ hàng năm cao, Việt Nam cũng là nước có đặc điểm trên rất rõ Vì vậy khả năng đáp ứng nhu cầu việc của nền kinh tế luôn thấp hơn nhu cầu việc làm của lao động nông thôn
Ở Việt Nam, số việc làm tăng hàng năm ở nông thôn chỉ đáp ứng được dưới 60% nhu cầu Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp là lĩnh vực tạo việc làm truyền thống và thu hút nhiều lao động của cư dân nông thôn Tuy nhiên bị hạn chế bởi diện tích đất canh tác, vốn hạn hẹp và có xu hướng giảm dần do quá trình đô thị hoá và CNH đang diễn ra mạnh ở các địa phương Điều này
Trang 36đã hạn chế khả năng giải quyết việc làm ở nông thôn, và hậu quả ngày càng thiếu việc làm cho người lao động nông nghiệp, nếu lực lượng này không chuyển dần sang khu vực sản xuất khác
- Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và chi phối mạnh mẽ của quy luật sinh học và các điều kiện tự nhiên cụ thể của từng vùng, tiểu vùng như: Đất đai, khí hậu, thời tiết… Do đó mà tính thời vụ trong nông nghiệp rất cao, thu hút lao động không đều, trong trồng trọt lao động chủ yếu tập trung chủ yếu vào thời điểm gieo trồng và thu hoạch, thời gian còn lại là rỗi rãi, đó
là thời gian lao động “nông nhàn” trong nông thôn
Trong thời gian nông nhàn, một bộ phận lao động nông thôn chuyển sang làm các công việc phi nông nghiệp hoặc đi sang các địa phương khác làm việc để tăng thu nhập Tình trạng thời gian nông nhàn cùng với thu nhập thấp trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân đầu tiên gây nên hiện tượng
di chuyển lao động nông thôn từ vùng nay đến vùng khác, từ nông thôn ra thành thị, tạm thời hoặc lâu dài
- Trong nông thôn các hoạt động sản xuất nông nghiệp, và phi nông nghiệp (tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) thường bắt nguồn từ lao động của kinh tế hộ gia đình Các thành viên trong gia đình có thể chuyển đổi, thay thế để thực hiện công việc của nhau Vì vậy, việc chú trọng thúc đẩy việc phát triển các hoạt động khác nhau của kinh tế hộ gia đình là một những biện pháp tạo việc làm có hiệu quả
- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn là hoạt động phi nông nghiệp với một số nghề thủ công mỹ nghệ được lưu truyền từ đời này qua đời khác trong từng gia đình, từng dòng họ, từng làng xã, dần dần hình thành nên những làng nghề truyền thống, tạo ra những sản phẩm hàng hoá tiêu dùng độc đáo vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị văn hoá nghệ thuật đặc trưng cho từng cộng đồng, từng dân tộc
- Hoạt động dịch vụ nông thôn bao gồm những hoạt động cung ứng đầu vào cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và các mặt hàng nhu yếu phẩm cho đời sống dân cư nông thôn, là khu vực thu hút đáng kể lao động nông thôn và tạo ra thu nhập cao cho người lao động
Trang 37Nói chung, việc làm ở nông nghiệp, nông thôn thường là những công việc đơn giản, thủ công ít đòi hỏi tay nghề cao, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và công cụ cầm tay, dễ học hỏi, dễ chia sẻ Vì vậy, khả năng thu dụng lao động cao, nhưng sản phẩm làm ra thường chất lượng thấp, mẫu mã thường đơn điệu, năng suất lao động thấp, nên thu nhập bình quân của lao động nông thôn nói chung không cao, tỷ lệ đói nghèo ở nông thôn còn khá cao so với khu vực thành thị
Ở nông thôn, có một số lượng khá lớn công việc tại nhà không định thời gian như: Trông nhà, trông con cháu, nội trợ, làm vườn…có tác dụng tích cực hỗ trợ tăng thêm thu nhập cho gia đình, đã có những nghiên cứu thống kê cho thấy 1/3 quỹ thời gian của lao động làm các công việc phụ mang tính hỗ trợ cho kinh tế gia đình Thực chất đây cũng là việc làm có khả năng tạo thu nhập và lợi ích đáng kể cho người lao động
Thị trường sức lao động ở nông thôn thực tế đã có từ lâu nhưng kém phát triển Lao động thủ công, cơ bắp là chính Một số nơi chưa phát triển được ngành nghề, dẫn đến dư thừa lao động, nhất là vào thời gian nông nhàn, người lao động phải đi làm thuê ở vùng khác, xã khác hoặc ra đô thị tìm kiếm việc làm Những đặc điểm trên đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chủ trương chính sách và định hướng tạo việc làm ở nông thôn của Nhà nước Nếu có cơ chế và biện pháp phù hợp thích ứng sẽ góp phần giải quyết tốt mối quan hệ dân số - việc làm tại chỗ
5 Kinh nghiệm của một số nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
5.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1,3 tỷ dân nhưng gần 70% dân số vẫn còn ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới trên 10 triệu lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu giải quyết việc làm trở lên gay gắt hơn
Trước đòi hỏi bức bách đó, thực tế từ những năm 1978 Trung Quốc đã thực hiện mở cửa cải cách nền kinh tế, và thực hiện phương châm “Ly nông bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành”, do đó Trung Quốc đã thực hiện
Trang 38nhiều chính sách phát triển và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động ở nông thôn, rút ngắn sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, coi phát triển công nghiệp nông thôn là con đường để giải quyết vấn đề việc làm
Những kết quả ngoạn mục về phát triển kinh tế và giải quyết việc làm
ở Trung Quốc đạt được trong những năm đổi mới vừa qua đều gắn với bước
đi của công nghiệp nông thôn Từ thực tiễn phát triển công nghiệp nông thôn, giải quyết việc làm ở nông thôn Trung Quốc thời gian qua có thể rút ra một
số bài học kinh nghiệm sau:
- Thứ nhất: Trung Quốc thực hiện chính sách đa dạng hoá và chuyên
môn hoá sản xuất kinh doanh, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn, thực hiện phi tập thể hoá trong sản xuất nông nghiệp thông qua áp dụng hình thức khoán sản phẩm, nhờ đó khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn phát triển sản xuất cả nông nghiệp và mở các hoạt động phi nông nghiệp trong nông thôn
- Thứ hai: Nhà nước tăng thu mua giá nông sản một cách hợp lý, giảm
giá cánh kéo giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghiệp, qua đó tăng sức mua của người nông dân, tăng mạnh cầu cho các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp ở nông thôn Cùng với chính sách khuyến khích phát triển sản xuất đa dạng hoá theo hướng sản xuất những sản phẩm có giá trị kinh tế hơn, phù hợp yêu cầu của thị trường đã có ảnh hưởng lớn đối với thu nhập trong khu vực nông thôn Theo kết quả điều tra cho thấy thu nhập thực
tế bình quân đầu người ở khu vực nông thôn đã tăng lên Chính sức mua trong khu vực nông thôn tăng nhanh chóng đã làm tăng cầu về các hàng hoá tiêu dùng từ hàng thực phẩm và hàng hoá thiết yếu sang tiêu dùng những sản phẩm có độ co dãn theo thu nhập cao hơn Tăng thu nhập và sức mua của người dân nông thôn đã tạo ra cầu cho các doanh nghiệp công nghiệp ở nông thôn phát triển thu hút thêm lao động
- Thứ ba: Tạo môi trường thuận lợi để công nghiệp phát triển
- Thứ tư: Thiết lập một hệ thống cung cấp tài chính có hiệu quả cho
doanh nghiệp nông thôn, giảm chi phí giao dịch để huy động vốn và lao động cho công nghiệp nông thôn
Trang 39- Thứ năm: Duy trì và mở rộng mối quan hệ hai chiều giữa doanh
nghiệp nông thôn và doanh nghiệp nhà nước
5.2 Malaisia
Liên bang Malaysia có diện tích tự nhiên 329,8 nghìn km2, dân số 22,2 triệu người (vào năm 1998), mật độ dân số thưa chưa đến 70 người/km2 Hiện nay lao động đang được thu hút mạnh vào các ngành phi nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ) nên sức ép về dân số/đất đai là không lớn Hiện nay Malaysia không đủ lao động nên phải nhập khẩu lao động từ nước ngoài, nhưng trong thời gian đầu của quá trình công nghiệp hoá, Malaysia đã phải giải quyết vấn đề dư thừa lao động nông thôn như nhiều quốc gia khác Malaysia đã có kinh nghiệm tốt giải quyết lao động nông thôn làm biến nhanh tình trạng dư thừa lao động sang mức toàn dụng lao động và phải nhập thêm lao động từ nước ngoài Kinh nghiệm của Malaysia cho thấy:
- Thứ nhất: Thời gian đầu của quá trình CNH, Malaysia chú trọng phát
triển nông nghiệp trong đó đặc biệt chú trọng tới phát triển cây công nghiệp dài ngày Cùng với phát triển nông nghiệp, Malaysia tập trung phát triển công nghiệp chế biến, vừa giải quyết đầu ra cho sản xuất nông nghiệp vừa quyết việc làm việc làm và thu nhập cho người nông dân
- Thứ hai: Khai phá những vùng đất mới để phát triển sản xuất nông
nghiệp theo định hướng của Chính phủ để giải quyết việc làm mới cho lao động dưa thừa ngay trong khu vực nông thôn trong quá trình phát triển Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng và đầu tư đồng bộ vào cơ sở hạ tầng phúc lợi xã hội, kèm theo cung ứng vốn, vật tư, thông tin, hướng dẫn khoa học kỹ thuật…để người dân ổn định cuộc sống, phát huy chủ động sáng tạo của người dân và đầu tư sản xuất có hiệu quả, đồng thời gắn trách nhiệm giữa người dân và Nhà nước, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
- Thứ ba: Thu hút cả đầu tư trong nước và ngoài nước vào phát triển
công nghiệp mà trước hết là công nghiệp chế biến nhằm giải quyết lao động
và chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ
Trong thời gian này, Malaysia thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài bằng các chính sách ưu đãi Bằng các biện pháp này Malaysia đã giải quyết được vấn đề:
Trang 40+ Tạo việc làm cho số lao động dư thừa
+ Đào tạo công nhân nâng cao tay nghề và trình độ quản lý cho người lao động
+ Các công ty nước ngoài sẽ để lại cơ sở vật chất đáng kể khi hết thời hạn theo hợp đồng đã ký
- Thứ tư: Khi đất nền kinh tế đã đạt được mức toàn dụng lao động,
Malaysia chuyển sang sử dụng nhiều vốn và khai thác công nghệ hiện đại, thực hiện sự quan hệ giữa nghiên cứu khoa học công nghệ và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới, cung cấp lao động đã qua đào tạo cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng nông thôn
6 Một số bài học rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn
Từ sự phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động và giải quyết việc làm ở một số địa phương trong nước thời gian qua có thể rút ra bài học kinh nghiệm và vận dụng cho giải quyết việc làm, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta như sau:
- Nhà nước cần phải có những chính sách vĩ mô về vai trò quản lý nhà nước để chống thất nghiệp, thiếu việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động Từ đó đề ra những giải pháp và chính sách đúng đắn, đồng bộ, đồng thời đảm bảo được những điều kiện để thực thi Những giải pháp và chính sách đó hướng vào phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thực hiện bằng được phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết việc làm
- Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện: Đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với sự phát triển đa dạng các ngành nghề sử dụng nhiều lao động thu hút lao động, phân công lại lao động, tạo việc làm tại chỗ ở nông thôn
- Đa dạng hoá các hình thức giải quyết việc làm: Phát triển kinh tế -xã hội tạo việc làm, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp, nâng cao đời sống của nông dân, phát triển hệ thống dịch vụ và chất lượng tìm việc làm của người lao động Xã hội