nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan về thực trạng đội ngũ tríthức, tạo cơ sở hình thành cho những chính sách phù hợp, góp phầnthắng lợi sự nghiệp đổi mới của tỉnh nhà.Với tính cấp
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trí thức có mặt trong mọi xã hội và luôn có vị trí, vai trò đặc biệt đốivới sự phát triển kinh tế, xã hội của mọi quốc gia Thế giới hiện nay đangchuyển mình từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, đó là quátrình chuyển đổi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào vốn và tài nguyên thiênnhiên sang nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức của con người Đó là nềnkinh tế trong đó sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức như là một độnglực chủ yếu của sự tăng trưởng, tạo ra của cải việc làm trong tất cả cácngành kinh tế Sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tri thức là một bướcnhảy vọt về chất của lực lượng sản xuất và nền văn minh nhân loại Tỷ trọngcủa của cải tri thức trong tài sản của quốc gia này cũng tăng lên nhanhchóng Vai trò cốt lõi là tri thức và công nghệ trong mối quan hệ hữu cơ vớiđội ngũ trí thức ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển củamỗi quốc gia, dân tộc
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta luôn coi tríthức là một lực lượng cách mạng Điều này được thể hiện nổi bật trong tưtưởng của Hồ Chí Minh về vị trí và vai trò của trí thức trong cách mạng ViệtNam Hồ Chủ Tịch luôn nhấn mạnh trí thức là tài sản quý báu của quốc gia,của dân tộc Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đấtnước Việt Nam không thể thiếu được lực lượng trí thức Tư tưởng này đượcthể hiện trong chính sách của Đảng ta: trí thức là vốn quý của dân tộc,không có trí thức mới hợp tác với công nông thì cách mạng không thể thànhcông và sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thểthành công được Tại Đại Hội VII (1991) Đảng ta đã khẳng định: “…Trongcách mạng dân tộc dân chủ, vai trò của trí thức đã quan trọng, trong xâydựng chủ nghĩa xã hội vai trò của trí thức càng quan trọng Giai cấp công -nông không có đội ngũ trí thức của mình và bản thân giai cấp công – nông
Trang 2không dần được trí thức hóa thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội”.Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức, trong quá trìnhlãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định trí thức làmột trong những động lực của cách mạng, là một thành viên trong khốiliên minh với giai cấp công nhân và giai cấp nông dân Vì vậy, ngay từngày đầu thành lập, Đảng ta đã quan tâm vận động cách mạng tầng lớp tríthức yêu nước.
Nước ta đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong quá trình hội nhậpvới thế giới theo xu thế toàn cầu hóa Mốc đánh dấu thời kì đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII(1996), khi nước ta tuyên bố kết thúc chặng đường đầu tiên của thời kì quá
độ lên chủ nghĩa xã hội Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ratrước mắt chúng ta những yêu cầu, đòi hỏi, trong đó yêu cầu đặc biệt quantrọng là phát triển nguồn lực con người – yếu tố vừa giữ vai trò như độnglực, phương tiện để đạt được mục đích, vừa đồng thời là mục đích hướng tớicủa cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Xây dựng và phát triển đội ngũ tríthức là một phần quan trọng, không thể thiếu của yếu tố nguồn lực conngười Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng vàNhà nước ta luôn khẳng định con người, khoa học và công nghệ là hai độnglực trực tiếp của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nghị quyết Hội nghị Trungương 2 khóa VIII của Đảng đánh giá: “ Đội ngũ cán bộ khoa học và côngnghệ có bước trưởng thành, được tập hợp, có thêm điều kiện để phát huykhả năng và cống hiến cho sự nghiệp chung Đây là một yếu tố quan trọngcho sự phát triển của đất nước” Từ đó có thể đi tới khẳng định vai trò quantrọng của trí thức đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Những thành tựu đạt được của đất nước, có sự đóng góp của mỗi conngười, mỗi địa phương và cộng đồng dân tộc Trong tính tất yếu đó, toànĐảng, toàn dân tỉnh Hải Dương cùng góp sức người, sức của, trí tuệ, quyếttâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước
Trang 3Hải Dương là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có vịtrí chiến lược về kinh tế, chính trị Cùng với sự phát triển của đất nước, HảiDương đang có những bước đi mạnh mẽ phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội của địa phương Hải Dương không chỉ được biết đến là vùng đấtgiàu truyền thống “ngàn năm văn hiến” với những di tích lịch sử văn hóanổi tiếng như Côn Sơn – Kiếp Bạc, với những làng nghề truyền thốngcùng những đặc sản như bánh đậu xanh ở thành phố Hải Dương, bánh gai
ở Ninh Giang, vải thiều Thanh Hà…mà ngày nay Hải Dương còn đượcbiết đến như một vùng kinh tế khởi sắc và hứa hẹn sự phát triển mạnh mẽ
về mọi mặt
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tỉnh HảiDương luôn có những đóng góp xứng đáng với vai trò trọng điểm của mình.Hải Dương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, GDP tăng trưởng bình quânhàng năm là 10,5% Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, tốc độđầu tư nhanh với tổng số vốn đăng kí cho đến nay là 20500 tỷ đồng…
Về giáo dục đào tạo, Hải Dương cũng có nhiều thành tích đáng tựhào, hàng năm số lượng sinh viên trúng tuyển cao đẳng và đại học ở tốp đầu
cả nước Số lượng thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư tương đối cao Tuynhiên, trong quá trình phát triển của mình Hải Dương vẫn còn những hạnchế, yếu kém về chất lượng nguồn nhân lực cũng như lực lượng sản xuất.Đời sống nhân dân một số nơi vẫn còn chịu ảnh hưởng của các phong tụctập quán cổ hủ, lạc hậu Bên cạnh đó, một số chương trình về văn hóa,
xã hội triển khai còn chậm và thiếu hiệu quả Sự phát triển giữa các lĩnhvực kinh tế, văn hóa, xã hội chưa được hài hòa, vùng xa trung tâm chưađược đầu tư đúng mức Nghiên cứu khoa học công nghệ mới chỉ giảiquyết được vấn đề trước mắt còn thiếu tính chiến lược Trong các ngành,các lĩnh vực còn thiếu chuyên gia giỏi, việc đào tạo, quy hoạch, sử dụngđội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế Vì thế chưa phát
Trang 4nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan về thực trạng đội ngũ tríthức, tạo cơ sở hình thành cho những chính sách phù hợp, góp phầnthắng lợi sự nghiệp đổi mới của tỉnh nhà.
Với tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn trong quá trình phát triển ở tỉnhHải Dương tôi chọn đề tài “Vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh Hải Dươngtrong sự nghiệp đổi mới hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề trí thức đối với sự phát triển của đất nước đã có nhiều tác giả,công trình nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập đến nội dung này Tuy nhiênđối với tỉnh Hải Dương các bài viết và công trình nghiên cứu về đội ngũ tríthức còn hạn chế về số lượng
Thứ nhất, một số công trình nghiên cứu chung về trí thức được in thành sách:
- Ngô Huy Tiếp (Chủ biên), (2008), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trên cơ sở một số vấn đề chung về trí thức, vai trò, đặc điểm và quan niệm
về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ trí thức, các tác giả đãnêu lên thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức, qua đó
đề xuất một số giải pháp cơ bản đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đốivới đội ngũ trí thức
- Ngô Thị Phượng, (2007), Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác
giả đã đề cập một cách chi tiết vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xãhội và nhân văn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và làm sáng tỏ nhữnghạn chế và nguyên nhân trong thực hiện vai trò của đội ngũ trí thức Qua đótác giả nêu lên những quan điểm và giải pháp phát huy vai trò của đội ngũtrí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới
- Nguyễn Đắc Hưng (2005), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trong cuốn sách này, tác
Trang 5giả đã nghiên cứu về khái niệm trí thức, nguồn gốc hình thành, vị trí và vaitrò của đội ngũ trí thức Việt Nam Từ đó tác giả đã trình bày một số vấn đềhạn chế đang đặt ra đối với đội ngũ trí thức nước nhà và đề xuất một sốphương hướng xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức.
- Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới
ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trên cơ sở nghiên cứu, phân
tích một cách chi tiết về vị trí, vai trò và thực trạng nguồn lực trí tuệ của đấtnước Từ đó tác giả xây dựng hệ thống các giải pháp thiết thực, cấp báchnhằm phát huy có hiệu quả nguồn lực này trong thời kì đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
- Nguyễn Văn Sơn, (2002), Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời
kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tác giả đã trình bày những nội dung cơ bản về trí thức giáo dục đại học – bộphận đặc thù của trí thức Việt Nam Đồng thời cũng nêu lên một cách chitiết thực trạng cơ cấu và chất lượng trí thức giáo dục đại học có cơ cấu hợp
Thứ hai, một số luận án, luận văn, đề tài, bài báo trên các tạp chí nghiên cứu vấn đề trí thức.
Đề tài cấp Nhà nước: “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn
2011 – 2020” ( mã số KX.04.16/06 – 10 ) do PGS.TS Đàm Đức Vượng chủ
Trang 6sự nghiệp đổi mới đất nước Luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội Lê Hồng Phong (2009), Vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh Quảng Bình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học
viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Đỗ Thị Thạch,
Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
Tạp chí Lý luận chính trị, số 6/2008 Nguyễn Đức Bách, suy ngẫm và nhậnthức về vấn đề trí thức Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2008 Trần Văn Toàn,
Sự hình thành tầng lớp trí thức hiện đại Tạp chí Lý luận chính trị, số
9/2008 Lê Văn Dũng, phát huy vai trò lực lượng trí thức quân đội trong xâydựng và bảo vệ Tổ Quốc, Tạp chí Cộng Sản, số 24/2008
Thứ ba, một số công trình nghiên cứu và bài viết đề cập đến nguồn nhân lực trí thức ở tỉnh Hải Dương.
Nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của trí thức đối với sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của cả nước nói chung và tỉnh HảiDương nói riêng, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã thực hiệnnhiều công trình nghiên cứu cấp tỉnh có liên quan đến lực lượng lao động,nguồn nhân lực chất lượng cao như:
Đề tài: “Một số giải pháp tạo việc làm và giải quyết lao động dư thừa
ở nông thôn tỉnh Hải Dương” do TS.Nguyễn Hữu Cát, quyền trưởng ban
kinh tế tỉnh ủy Hải Dương chủ nhiệm
Đề tài: “Thực trạng và giải pháp để thu hút, sử dụng có hiệu quả sinh viên đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh” do TS Phạm Trung Thanh – Hiệu trưởng trường Cao Đẳng Sư
Phạm Hải Dương chủ nhiệm
Đề tài: “Điều tra trình độ nghề của người lao động ở một số địa phương, ngành và đề xuất một số giải pháp đào tạo nhân lực ở tỉnh Hải Dương” do TH.S Hoàng Văn Đoạt – Phó giám đốc Sở Giáo dục - đào tạo
tỉnh Hải Dương chủ nhiệm
Trang 7Để phát huy hơn vai trò của nguồn nhân lực con người, đặc biệt là độingũ trí thức tỉnh Hải Dương cần thiết phải được nghiên cứu một cách đầy
đủ, hoàn thiện, phù hợp trong điều kiện thực tiễn hiện nay nhằm phát huyhiệu quả các thế mạnh của tỉnh trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa,hiện đại hóa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khóa luận đề cập đến đội ngũ trí thức ở tỉnh Hải Dươnghiện nay
3.2 Khóa luận nghiên cứu đội ngũ trí thức có trình độ từ cao đẳng,đại học trở lên ở tỉnh Hải Dương
4 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận
4.1 Mục đích của khóa luận
Đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức của tỉnh Hải Dương hiện nay và
từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai tròtrí thức tỉnh Hải Dương trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
4.2 Nhiệm vụ của khóa luận
Từ mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ làm sáng tỏ các vấn đề sau:
- Lí luận chung về trí thức, đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức
- Thực trạng của đội ngũ trí thức tỉnh Hải Dương hiện nay
- Phương hướng, giải pháp xây dựng và phát huy vai trò của trí thứctỉnh Hải Dương trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận dựa trên những phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật củaNhà nước, những chủ trương, nghị quyết…của tỉnh Hải Dương làm phươngpháp luận Bên cạnh đó trong từng vấn đề, khóa luận sử dụng linh hoạt cácphương pháp lôgic – lịch sử, phân tích – tổng hợp, so sánh, khái quát và kế
Trang 8thừa có chọn lọc, tham khảo các số liệu thống kê của cơ quan nhà nước vàtỉnh Hải Dương.
6 Đóng góp về khoa học của khóa luận
Khóa luận góp phần làm rõ vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam nóichung và vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh Hải Dương nói riêng Qua khóaluận ta thấy rõ được thực trạng tình hình phát triển của đội ngũ trí thức tỉnhHải Dương, những ưu điểm cần phát huy và những nhược điểm cần phảilàm rõ, khắc phục Khóa luận cũng đã vạch ra được những giải pháp để thựchiện tăng cường về số lượng cũng như nâng cao chất lượng của đội ngũ tríthức tỉnh Hải Dương
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,mục lục, nội dung khóa luận gồm 3 chương
Trang 9CHƯƠNG I TRÍ THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC TRONG
SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA
1.1 Trí thức và những đặc điểm lao động sáng tạo của trí thức
1.1.1 Quan niệm về trí thức
Thuật ngữ trí thức xuất hiện sớm trong lịch sử xã hội loài người, từkhi có sự phân công lao động xã hội, một bộ phận người tách khỏi lao độngchân tay, để sử dụng lao động trí óc Tuy vậy thuật ngữ này chỉ thực sự trởthành thông dụng và phổ biến vào khoảng thời gian vào nửa sau thế kỷ XIXđến nay, khi vai trò của trí thức được biểu hiện rõ nét là nhân tố không thểthiếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Thuật ngữ “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là intelligentianghĩa là thông minh, có trí tuệ, hiểu biết và suy nghĩ
Tuy nhiên, tùy từng giai đoạn lịch sử cụ thể trong quá trình phát triểncủa nhân loại, của mỗi quốc gia và dưới những góc độ nghiên cứu khácnhau, mà có nhiều định nghĩa về trí thức Khái niệm này xuất hiện gắn liềnvới một lực lượng lao động đặc biệt trong xã hội – đó là lao động trí óc, màlực lượng này tùy thuộc vào điều kiện lịch sử xã hội, vào giai cấp nắmquyền lãnh đạo xã hội nên nó tác động rất lớn đến sự biến đổi và phát triểncủa lực lượng trí thức Do đó, trí thức là một phạm trù có tính lịch sử xã hội
Các nhà kinh điển sáng lập và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa họcnhư C.Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin và Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâmđến trí thức Điều đó đã khẳng định được tầm quan trọng và vai trò của tríthức đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người
Trong thời đại của mình, C.Mác và Ph Ăngghen đã quan tâm nghiêncứu đến tầng lớp trí thức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Theocác ông khi xã hội phát triển thì trí thức sẽ trở thành một lực lượng đông đảo
Trang 10Kế thừa và phát triển các tư tưởng của C.Mác và Ph Ăngghen, trongđiều kiện mới khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã giànhđược chính quyền và bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi có sựđóng góp to lớn của nguồn lực trí tuệ, V.I.Lênin – nhà lý luận thiên tài, lãnh
tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới đã đặc biệtquan tâm đến việc xây dựng và sử dụng tầng lớp trí thức Ông đã định nghĩa
về trí thức như sau: “Tôi dùng chữ trí thức, giới trí thức…là những danh từ
có nghĩa bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi mà còn baohàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nóichung, các đại biểu của lao động trí óc, khác với những đại biểu của laođộng chân tay”[ 33; tr.372]
Qua định nghĩa này, có thể nhận thấy rằng, xét về mặt đặc thù laođộng thì có sự khác nhau căn bản giữa lao động trí óc và lao động khác ởchỗ, đối với tầng lớp trí thức thì họ là người sản sinh, tích lũy, chuyểntải và đưa những tri thức khoa học đó đi sâu vào thực tiễn đời sống xãhội Trong khi đó, các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác vị trí của họ chủyếu là sản xuất vật chất và phục vụ việc sản xuất Như vậy, Lênin đã lấytính chất và nội dung lao động của trí thức là lao động trí óc, với trình
độ học vấn của họ để làm cơ sở phân biệt trí thức với những người laođộng chân tay nói chung
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm của C.Mác vàPh.Ăngghen, V.I.Lênin về vấn đề trí thức, tiếp thu tinh hoa văn hóa của dântộc và trí tuệ thời đại, qua thực tiễn xây dựng và sử dụng đội ngũ trí thứctrong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã định nghĩatrí thức trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” như sau:
“Trí thức là hiểu biết Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một làhiểu biết sự đấu tranh sinh sản Khoa học tự nhiên do đó mà ra Hai là hiểubiết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội Khoa học xã hội do đó mà ra.Ngoài hai cái đó không có trí thức nào khác Một người học xong đại học,
Trang 11có thể gọi là trí thức Song y không biết cày ruộng, không biết làm công,không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác Nói tóm lại côngviệc thực tế y không biết gì cả Thế là y chỉ có trí thức một nửa Trí thứccủa y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn Y muốn là mộtngười trí thức hoàn toàn thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” [29, tr 235].
Cũng theo quan điểm Hồ Chí Minh, người có trình độ học vấn và mụcđích hành động là những biểu hiện cơ bản, quan trọng, từ đó để đánh giámột người có phải là trí thức hay không Theo Người, ngoài tri thức ra thìphải có “ đạo đức cách mạng ” có tài phải có đức, nếu như người có tài màkhông có đức, tham ô hủ hóa thì có hại cho đất nước Ngược lại nếu có đứckhông có tài, thì theo người như “ ông Bụt ngồi trong chùa ” không giúp gì
có ích cho ai
Ngày nay khi trình độ lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, cùngvới nó là sự tăng nhanh lực lượng đội ngũ trí thức, đã tác động đến các xuhướng khác nhau khi đưa ra khái niệm trí thức
Có quan điểm cho rằng trí thức là những người lao động trí óc nóichung hoặc đó là những nhà tư tưởng, nhà bác học, nhà phát minh sáng chếkhoa học Nếu quan niệm như vậy thì không thể hiểu đơn giản khi cho cứlàm nghề lao động trí óc thì sẽ được xem là trí thức Như theo quan niệmcủa Lênin, trí thức không bao gồm tất cả những người lao động trí óc mà chỉbao gồm những người có học thức và là đại diện của những người lao độngtrí óc Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, nếu có học thức mà xa rời thựctiễn thì chỉ là trí thức một nửa mà thôi Điều này thực tế đã chứng minh,những người lao động trí óc giản đơn không thể coi là trí thức Hay chỉ giớihạn những nhà tư tưởng, nhà bác học hay nhà khoa học thì khó có thể đánhgiá nhìn nhận và thấy được vị trí vai trò của đội ngũ có học vấn, trí thức ởcấp độ khác đối với sự phát triển của đất nước và xã hội Trong khi đó, đội
Trang 12cũng hết sức phức tạp và luôn có sự kế thừa, phong phú và đa dạng Nếu chỉgiới hạn đối tượng trí thức như vậy sẽ không phát huy hết vai trò của cáctầng lớp khác trong xã hội.
Vì thế việc xác định trí thức là ai có vai trò quan trọng trong việc xácđịnh vai trò công tác lãnh đạo và tổ chức đối với đội ngũ cán bộ này, do vậycần hiểu đúng hơn về trí thức và đưa ra định nghĩa bao quát đầy đủ, phảnánh những đặc điểm cơ bản của trí thức Điều này được thể hiện qua cácquan điểm sau :
Đại từ điển Bách khoa Liên Xô ( 1985) viết: “ Trí thức là tầng lớpnhững người làm nghề lao động chủ yếu là lao động phức tạp, sáng tạo, pháttriển và truyền bá văn hóa”
Từ điển Bách khoa triết học tiếng Nga (1983): Trí thức là tầng lớpnhững người làm nghề lao động phức tạp và thường có học vấn cao tươngứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hóa
Từ điển tiếng Nga (1991): “ Trí thức – đó là những người có học vấn
và có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, văn hóa vàđang làm nghề lao động phức tạp
Trong từ điển Bách khoa triết học tiếng Nga (1983) định nghĩa: “Tríthức là tầng lớp những người làm nghề lao động phức tạp và thường có họcvấn cao tương ứng, có chức năng sáng tạo và phổ biến văn hóa”
Đối với Việt Nam, Từ điển Chủ nghĩa xã hội khoa học, nhà xuất bản
Sự thật, Hà Nội, xuất bản năm 1986 đã xác định: “Trí thức là một nhóm xãhội bao gồm những người chuyên làm nghề lao động phức tạp và có học vấnchuyên môn cần thiết cho nghành lao động đó”.[28, tr.360]
Qua các định nghĩa trên chúng ta thấy rằng, mỗi định nghĩa đều cómặt hợp lý nhưng chưa thể xem là đã hoàn chỉnh và cần được thực tiễn kiểmnghiệm để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện Tuy nhiên các định nghĩa về tríthức nói trên đều có những điểm chung, thống nhất đó là nó đã xác định
Trang 13được nội hàm khái niệm trí thức dựa trên cơ sở đặc trưng là lao động trí óc,
có trình độ học vấn cao và chuyên môn sâu
Trong điều kiện và tình hình thực tiễn hiện nay, quan niệm về trí thứcđang có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau Tuy nhiên tùy từng giai đoạn lịch
sử cụ thể, tùy góc độ tiếp cận khác nhau, để có những quan niệm khác nhau
về trí thức Trên cơ sở đó Đảng ta trong quan niệm về trí thức luôn xuất phát
từ nền tảng tư tưởng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh Vì vậy từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đã coitrọng việc đào tạo trí thức phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp đổimới đất nước, vì thế đã đề ra nhiều chủ trương chính sách nhằm đào tạo, sửdụng, đãi ngộ đội ngũ trí thức nước nhà Điều đó được thể hiện rõ nét trongcác nghị quyết, như Nghị quyết Trung ương bốn khóa VII về vấn đề giáo dục
và đào tạo, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; Nghị quyết Trungương hai khóa VIII Trên cơ sở tổng kết về mặt lý luận và thực tiễn trong quátrình cách mạng giải phóng dân tộc, quá trình xây dựng đất nước trong thời
kỳ đổi mới, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X “Vềxây dựng đội ngũ trí thứctrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đạihóa đất nước” Đảng ta đã ra Nghị quyết, trong đó chỉ rõ: “Trí thức là nhữngngười lao động trí óc, có trình độ học vấn cao và chuyên môn nhất định, cónăng lực tư duy độc lập, sáng tạo và truyền bá làm giàu tri thức, tạo ra nhữngsản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội.” [12, tr.81]
Qua định nghĩa nêu trên, có thể nhận thấy khái niệm trí thức cơ bảnvẫn dùng để chỉ những người lao động trí óc và có học vấn cao Tuy nhiênnội hàm của khái niệm đã đưa ra những tiêu chí cụ thể hơn Từ đó có thểnhận thấy rằng, nếu một người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao,nhưng trong lao động đó không có tính sáng tạo, không truyền bá và làmgiàu tri thức, không tạo ra những sản phẩm vật chất hay tinh thần có giá trịcho xã hội thì người đó không thể coi là trí thức
Trang 14Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay, đòihỏi người trí thức phải biết sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ranhững sản phẩm có ích cho xã hội, không chỉ thuần túy về mặt tài năng màcòn cả về mặt đạo đức, nhân cách Bên cạnh năng lực chuyên môn sâu,người trí thức cần thiết phải có đạo đức tốt, nhân cách trong sáng, mới tạo ranhững sản phẩm hướng đến các giá trị nhân văn, tiến bộ vì sự phát triểnchung của con người Đó mới thực sự là những người trí thức chân chínhtrong xã hội nước ta hiện nay, là những người đem trí tuệ, tài năng, trí lựccủa mình phụng sự Tổ quốc, nhân dân Đây chính là biểu hiện của mối quan
hệ giữa đức và tài trong mỗi con người, đạo đức định hướng cho người tríthức sử dụng tri thức của mình hướng tới các giá trị nhân văn, nhân đạo cao
cả vì lợi ích hoà bình chung của nhân loại
1.1.2 Những đặc điểm lao động sáng tạo của trí thức
Thứ nhất : Lao động của đội ngũ trí thức là lao động trí óc phức tạp,
là sự sáng tạo những tri thức khoa học mới, tiến bộ và hữu ích
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động của mìnhtác động vào điều kiện tự nhiên, nhằm khai thác, cải tạo tự nhiên theo nhữngphương thức nhất định Phương thức mà con người sử dụng trong các thờiđại và ngay trong một thời đại cũng khác nhau Họ có thể tác động một cáchtrực tiếp hoặc gián tiếp tới tự nhiên thông qua lao động chân tay hoặc laođộng trí óc
Lao động của trí thức là một dạng lao động sáng tạo bằng trí óc Laođộng trí óc là một trong những cách thức mà một bộ phận trong xã hội sửdụng để tác động đến tự nhiên một cách gián tiếp Lao động trí óc xuất hiện
là kết quả của sự phân công lao động xã hội và phát triển của lực lượng sảnxuất Sự xuất hiện lao động trí óc dẫn đến sự ra đời của một tầng lớp xã hộiđặc biệt trong xã hội – tầng lớp trí thức Tuy nhiên, lao động trí óc là lĩnhvực tương đối rộng, bao gồm lao động trí óc giản đơn và lao động trí ócphức tạp Chúng phân biệt với nhau ở mức độ hao phí năng lượng thần kinh
Trang 15trung ương trong quá trình làm việc Lao động trí óc phức tạp cần sự hao phínăng lượng thần kinh trung ương cao hơn để thực hiện các hoạt động phứctạp của tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…vềnhững sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội thành lý luận, thành tri thứckhoa học mới Còn lao động trí óc giản đơn chỉ là những hoạt động lặp đilặp lại nhiều lần và dần trở thành thói quen, phản xạ Lao động trí óc giảnđơn thường không tạo ra tri thức khoa học mới mà chỉ tạo ra những tri thứckinh nghiệm thông thường Vì vậy, không phải tất cả những người lao độngtrí óc đều là trí thức, mà chỉ là những người lao động trí óc phức tạp mới cókhả năng trở thành người trí thức.
Lao động trí óc phức tạp là yếu tố phân biệt trí thức với những giaicấp và tầng lớp khác trong xã hội Giữa lao động trí óc và lao động chân taytuy có sự khác biệt với nhau nhưng không tách rời hoặc đối lập mà có sựthống nhất với nhau Bởi vì, bất cứ hoạt động lao động nào cũng có sự thamgia của đầu và tay con người: “Một người riêng rẽ không thể tác động đến tựnhiên nếu không vận động các bắp thịt của mình dưới sự kiểm soát bằng bộnão của mình Cũng như trong hệ thống tự nhiên, đầu và tay gắn với nhau,thì trong quá trình lao động, lao động trí óc và lao động chân tay cũng kếthợp lại với nhau”
Lao động của đội ngũ trí thức thường mang tính sáng tạo cao Laođộng sáng tạo phát hiện ra những đặc tính, những mối liên hệ bản chất của
sự vật hiện tượng Vì thế những sản phẩm lao động sáng tạo của trí thứcphải bao hàm tri thức mới, thể hiện tính cách mạng trong lao động sáng tạocủa người trí thức Tính sáng tạo trong lao động của trí thức còn gắn liền vớikết quả trong hoạt động của thực tiễn
Tính sáng tạo của lao động trí thức sẽ đem lại những nội dung, sảnphẩm khoa học mới, tiến bộ, có tính ứng dụng vào thực tiễn cao Lao độngsáng tạo của trí thức còn có khả năng dự báo về tương lai và đưa ra những
Trang 16xã hội Chính vì thế, tính sáng tạo trong lao động của đội ngũ trí thứccòngắn liền vấn đề đạo đức nhân cách Người trí thức bên cạnh tài năng, nănglực chuyên môn của mình cần phải có đạo đức nhân cách trong sáng mới cóthể tạo ra những sản phẩm trí tuệ mang tính nhân văn cao cả, vì sự phát triểnnhân loại Một người có trí tuệ, nhưng sản phẩm của họ tạo ra, đi ngược lạilợi ích chung của nhân loại, dân tộc, vi phạm đạo đức và phục vụ cho chínhlợi ích cá nhân, hay một nhóm người, thì đó là tri thức không chân chính
Như vậy cái mới trong lao động sáng tạo khoa học còn phải thể hiệntính hữu ích cho xã hội Đây chính là mục đích cần đạt tới của người tríthức Cái mới phải phục vụ cho nhu cầu phát triển của đời sống xã hội conngười, nhưng cái mới đó phải mang tính nhân văn, hướng tới những giá trịcao đẹp của đời sống con người
Thứ hai : Lao động sáng tạo của trí thức đòi hỏi phải có một hệ thống kiến thức cơ bản và kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành đồng thời phải
có phương pháp tư duy khoa học phù hợp với đối tượng nghiên cứu
Trí thức trước hết để phục vụ cho công việc lao động sáng tạo củamình thì phải có một hệ thống kiến thức cơ bản làm nền tảng hiểu biết để cóthể nghiên cứu những tầng kiến thức sâu hơn, đó là cơ sở nền tảng của sựhiểu biết mà bất kỳ một người trí thức nào cũng cần có và lĩnh hội đầy đủ.Bên cạnh đó, đã là một người trí thức thì cần phải có kiến thức chuyên sâu
về chuyên ngành, đó là phải nắm vững và hiểu biết cặn kẽ kiến thức chuyênngành để phục vụ cho công tác nghiên cứu tìm tòi
Khi trí thức đã tìm ra được vấn đề thúc đẩy cần phải nghiên cứu thìphải có một phương pháp tư duy khoa học đúng đắn phù hợp với đối tượngnghiên cứu Điều này là rất quan trọng đối với công tác nghiên cứu, bởi nếu
áp dụng một phương pháp tư duy, phương pháp nghiên cứu không phù hợpthì có khi không đạt được kết quả như mong muốn mà còn phản tác dụng.Một khi đã có phương pháp tư duy khoa học phù hợp với đối tượng nghiêncứu và áp dụng đúng đắn sáng tạo trong suốt quá trình nghiên cứu thì sẽ đạt
Trang 17được kết quả như mong muốn, thậm chí còn thu được kết quả nhanh hơn dựkiến ban đầu Điều đó nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp tư duykhoa học đúng đắn và sự lựa chọn của những người trí thức.
Thứ ba: Lao động sáng tạo của trí thức không chỉ đòi hỏi sự vận động của tư duy và sức mạnh của lý trí mà còn phải có tình cảm (cảm hứng), lòng say mê khoa học
Cảm hứng và lòng say mê khoa học là hai yếu tố để làm lên thànhcông và những dấu ấn đậm nét của bất kỳ một người trí thức nào khi nghiêncứu khoa học Đó là điều quan trọng mà mỗi người trí thức cần phải cótrong suốt quá trình hoạt động khoa học của mình Cảm hứng đó có thể lấyngay từ những điều bình dị tồn tại xung quanh cuộc sống hay công việchàng ngày, cũng có khi phải đi tìm hay tác động để nảy sinh Nguồn cảmhứng mà người trí thức tìm thấy hay cảm nhận được sẽ là một động lực tolớn để họ nghiên cứu, tìm tòi, đào sâu suy nghĩ và trong một số trường hợp
nó sẽ trở thành nguồn cảm hứng bất tận đối với với sự nghiệp nghiên cứukhoa học của một người trí thức
Cần phải khẳng định rằng, tình cảm và lòng say mê nghiên cứu khoahọc là yếu tố quan trọng tạo nét riêng tư cũng như sự thành công của bất kỳngười trí thức nào khi lao động sáng tạo
Thứ tư : Sản phẩm lao động của trí thức là tri thức khoa học mới trên
cơ sở kế thừa cái cũ nhưng không lặp lại, thường mang đậm dấu ấn cá nhân
Tri thức khoa học liên quan chặt chẽ với tri thức kinh nghiệm, xuấtphát từ tri thức kinh nghiệm nhưng khác nhau về chất so với tri thức kinhnghiệm Tri thức kinh nghiệm chỉ phản ánh bề ngoài hoặc từng mặt rời rạccủa sự vật hiện tượng, từ những hoạt động hàng ngày, lặp đi lặp lại, xuấtphát từ nhận thức cảm tính Còn tri thức khoa học phản ánh bản chất, quyluật của sự vật hiện tượng, phản ánh những mối liên hệ của sự vật hiệntượng trong thế giới khách quan Tri thức khoa học là kết quả của quá trình
Trang 18thông qua hoạt động lao động của tầng lớp trí thức – lao động trí óc phứctạp Sản phẩm lao động của tầng lớp trí thức chính là những tri thức khoahọc Sản phẩm này có đặc điểm: tồn tại ở dạng tinh thần, mới, có tính kếthừa nhưng không lặp lại, có giá trị xã hội cao Vì vậy, lao động của trí thức
là lao động mang tính sáng tạo rõ nét
Tri thức khoa học rất đa dạng, phong phú, có thể xem xét ở các lĩnh vựckhác nhau: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học côngnghệ, khoa học liên ngành Mỗi lĩnh vực đó lại có nhiều chuyên ngành khácnhau: toán học, văn học, vật lí, sinh học, hóa học, địa lý, chính trị, xã hội học,lịch sử, tâm lý xã hội…Chúng ta có thể xem xét tri thức khoa học thông quacác loại hình: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng hay triển khai Tri thứckhoa học được kết tinh ở nhiều dạng sản phẩm khác nhau: các học thuyết, lýthuyết khoa học, các đề án thiết kế, kế hoạch, các tác phẩm văn học nghệ thuật,giáo trình, bài giảng, bài báo…Các dạng sản phẩm, chuyên ngành khoa họctrên đều phản ánh sâu sắc một vấn đề của tự nhiên, của đời sống xã hội nênnhiều khi không thể nhận biết ngay một cách dễ dàng giá trị của các công trìnhkhoa học Có những công trình nhiều năm sau mới được thừa nhận và mớiđược ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống
Kết quả lao động của trí thức thường mang đậm dấu ấn cá nhân:Trong thực tế, không phải không có sản phẩm trí tuệ là kết quả chung củamột nhóm người, của một tập thể các nhà khoa học, của một đơn vị nghiêncứu Tuy nhiên, dù là sản phẩm của một cá nhân hoặc là sản phẩm của nhiềungười thì tính sáng tạo cá nhân vẫn thường được thể hiện rõ, nhất là cáccông trình khoa học của cá nhân Có khi chỉ cần nhắc đến một thành tựu nào
đó là người ta đã có thể nhớ ra hoặc nhắc ngay tên tác giả, người khai sinh
ra nó Nền y học, sử học, toán học, khoa học công nghệ… của đất nước gắnliền với tên tuổi của rất nhiều trí thức lớn
Thứ năm : Trí thức là người luôn có thói quen lật lại vấn đề
Trang 19Trí thức là người luôn có thói quen lật lại vấn đề, do chính thói quenđào sâu suy nghĩ, để tìm ra những cái mới, cái sáng tạo và đúng đắn nhất,bởi vậy trí thức thường hay có ý kiến phản biện Trong xã hội cũng nhưtrong mỗi đơn vị, những ý kiến phản biện mang tính xây dựng đều có giá trị,
ít nhất cũng giúp người được phản biện cân nhắc, bổ sung, hoàn thiện chủkiến của mình Nhưng ý kiến phản biện, nhất là những ý kiến quá thẳngthắn, dễ gây phản ứng tiêu cực, vì vậy người phản biện cũng cần chọn cáchnói, cách phản ứng thích hợp, thời điểm nói thích hợp để tính thuyết phụccủa ý kiến mình được cao hơn
Thói quen lật lại vấn đề nhiều khi khiến người trí thức lật lại cả ý kiếncủa mình Tự phản biện mình là một thói quen tốt, thể hiện thái độ thực sựcầu thị, tuy nhiên nếu trước bất kỳ việc gì cũng cân đi nhắc lại mà khôngdám hành động thì sẽ thành nhu nhược, do dự, thiếu quyết đoán
Mặc dù hay lật lại vấn đề nhưng khi đã tin điều gì một cách có căn cứthì trí thức thường rất trung thành với niềm tin của mình
1.2 Vai trò của trí thức trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, trí thức có vai tròrất lớn C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trên cơ sở tổng kết lịch sử xã hội loàingười và thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng của lịch sử phong tràocộng sản và công nhân quốc tế đã đánh giá cao vai trò, vị trí của tầng lớp tríthức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong xu thế phát triển của nhânloại nói chung và của nền kinh tế tri thức hiện nay nói riêng, lao động trí ócngày càng chiếm ưu thế Nhiều quá trình sản xuất đòi hỏi người sản xuấtphải có trình độ tri thức, chuyên môn cao, làm việc theo phương thức sángtạo Do vậy, tầng lớp trí thức đang phát triển rất nhanh chóng và chắc chắn
sẽ trở thành bộ phận dân cư lớn có vai trò và sức ảnh hưởng mạnh mẽ đếndiễn biến chính trị, kinh tế, xã hội Song vai trò của trí thức đối với tiến bộ
xã hội không chỉ thể hiện trong lĩnh vực sáng tạo ra của cải vật chất, mà còn
Trang 20những quan điểm mới trong quá trình cải tạo và phát triển không ngừng thếgiới tự nhiên, xã hội và cả bản thân con người.
Tất cả những cái đó khẳng định vai trò to lớn của trí thức – các đạibiểu sáng tạo của loài người đối với tiến bộ xã hội và vai trò đó được thểhiện cụ thể như sau:
1.2.1 Trí thức là lực lượng đi đầu, có vai trò quan trọng, quyết định
sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Thực tiễn đã chứng minh, sự phát triển của nền kinh tế xã hội hiệnđại, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước cần phải có những con người hiện đại Đội ngũ trí thức có vai trò vàtrách nhiệm lớn lao trong việc đổi mới sự nghiệp giáo dục – đào tạo nhằmnâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo ranhững con người có năng lực cao và phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng chonhu cầu lao động hiện nay
Đồng thời để có một đội ngũ trí thức và có nguồn nhân lực trí tuệ caođáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, trước hết phải xây dựngđược nền giáo dục hướng vào mục tiêu: “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài” Thời đại ngày nay nếu thiếu tài năng trí tuệ sẽ không
có sự phát triển bền vững Tài nguyên trí tuệ nằm ngay trong chính mỗi conngười và đặc biệt là nằm trong kho tàng tri thức của nhân loại, mà trí thức làkết tinh những giá trị trí tuệ tiêu biểu của toàn dân tộc cũng như của toànnhân loại Mà cuộc chạy đua giữa các quốc gia trong thế kỉ XXI này là cuộcchạy đua trên lĩnh vực giáo dục, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo ra đội ngũnhân tài để xây dựng đất nước Bởi vậy, đội ngũ trí thức ngày càng có vaitrò đặc biệt quan trọng, nó là đội ngũ nắm giữ nhiệm vụ phát triển sự nghiệpgiáo dục đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Trang 211.2.2 Trí thức là lực lượng đi đầu trong việc đề xuất xây dựng những luận cứ khoa học cho việc soạn thảo xây dựng các nghị quyết đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Đại hội VI (1986) của Đảng đã chính thức thông qua đường lối đổimới toàn diện đất nước Đường lối đó không ngừng được hoàn thiện và bổsung ở các nghị quyết và các văn kiện của Đảng trong hơn hai mươi nămqua Đó thực sự là kết tinh của trí tuệ và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàndân và toàn quân ta, trong đó có sự góp phần không nhỏ của đội ngũ trí thứctrên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…
Đổi mới toàn diện đất nước thực sự là một cuộc cách mạng, là yêu cầutất yếu, đòi hỏi Đảng phải tập hợp và phát huy mọi nguồn lực, trong đó nguồnlực trí thức có vai trò rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh khoa học – côngnghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp như trong giai đoạn hiện nay.Khi xây dựng phương hướng, chiến lược phát triển đất nước thời kì đổi mới,Đảng ta đã đánh giá đúng vai trò của trí thức khoa học Đây là cơ sở quan trọng
để xác định đúng vai trò, vị trí của trí thức dân tộc trong thời kì mới Đại hội VIcủa Đảng đã khẳng định: “Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là bảo đảmquyền tự do, sáng tạo Đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho năng lựcđược sử dụng đúng và phát triển…” Việc khẳng định và đề cao vai trò của độingũ trí thức trong thời kì mới đã được thống nhất và xuyên suốt trong các kìĐại hội của Đảng Đặc biệt Đại hội IX của Đảng (2011) – Đại hội đưa đất nướcbước vào thế kỉ mới – đã nhấn mạnh: “phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng đúng vàđãi ngộ xứng đáng các tài năng ” Phát huy năng lực của trí thức trong việcthực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu của Nhà nước và xây dựngđường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật
Trong những năm qua, nhiều trí thức đã trực tiếp tham gia vào việcchuẩn bị những quyết sách của Đảng và Nhà nước Nhiều ý kiến đóng góp
bổ ích cho việc hoạch định chiến lược và chính sách có căn cứ chính xáchơn Trong bầu không khí sinh hoạt dân chủ của cả nước, hoạt động của đội
Trang 22luận, tranh luận, lấy ý kiến đóng góp…để có những kiến giải lý luận vàphương án cải biến thực tiễn khả thi, hiệu quả và phù hợp nhất Vì vậy,trong việc xây dựng và hoàn thiện Cương lĩnh, đường lối, chính sách, phápluật, hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhànước đều có sự đóng góp tích cực của đội ngũ trí thức.
1.2.3 Trí thức là lực lượng trực tiếp góp phần duy trì, xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Vai trò của đội ngũ trí thức tất nhiên không chỉ thể hiện trong lĩnh vựcsáng tạo ra của cải vật chất mà cả trong lĩnh vực sáng tạo ra các giá trị củađời sống tinh thần Công cuộc đổi mới của đất nước đã hướng toàn bộ độingũ trí thứcphát huy lao động sáng tạo trên khắp các lĩnh vực của đời sống
xã hội, ra sức khắc phục tình trạng nghèo đói về trí tuệ, thông tin…Khoahọc và công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật trong quần chúng nhân dânlao động trên khắp cả nước, mở mang tri thức, giao lưu văn hóa, tiếp thunhững tinh hoa văn hóa mới của nhân loại góp phần làm cho đời sống tinhthần của nhân dân ngày càng trở lên phong phú và trong sáng
Văn hóa – văn nghệ là bộ phận khăng khít của sự nghiệp đổi mới.Nhiệm vụ trung tâm của nó là góp phần xây dựng một nền văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng và bồi dưỡng con người ViệtNam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, nhân cách ngang tầm với những đòi hỏicủa sự ghiệp đổi mới toàn diện đất nước Để thực hiện nhiệm vụ ấy, ngườitrí thức trên mặt trận văn hóa phải thực sự là các chiến sĩ tiên phong, qua cáctác phẩm của mình, góp phần khẳng định những giá trị cao đẹp của conngười Việt Nam, của chế độ xã hội chủ nghĩa, của đất nước, của dân tộc.Đồng thời tích cực phê phán những nhân tố văn hóa tiêu cực, cản trở conđường phát triển của đất nước Là những người đại diện cho trí tuệ dân tộc,đội ngũ trí thức đã góp phần duy trì và phát triển những truyền thống vănhóa tốt đẹp của dân tộc, tích cực tham gia công tác xây dựng nếp sống mới,gia đình văn hóa mới; chống những tàn dư văn hóa cũ, độc hại; bài trừ hủ
Trang 23tục lạc hậu, mê tín, dị đoan, những tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng đến thuầnphong mỹ tục của người Việt Nam, hướng con người đến những giá trị chân
- thiện - mỹ Người trí thức trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật là nhữngngười trực tiếp tham gia phát triển và phổ biến văn hóa, giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới; bảo tồn các
di tích lịch sử, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể để giáo dục nhân dân
về lòng yêu nước và tự hào dân tộc, về truyền thống lịch sử và văn hóa.Đồng thời tiếp tục sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới thể hiện được tầm caocủa thời đại và chiều sâu của truyền thống; đấu tranh chống xu hướng bảothủ và xu hướng mất gốc, hư vô chủ nghĩa
1.2.4 Trí thức là lực lượng có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa toàndiện đất nước Đây là một công cuộc có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triểncủa đất nước, là nhiệm vụ trung tâm của thời kì đổi mới Đứng trước nhiệm
vụ và yêu cầu lớn lao đó đòi hỏi đội ngũ các nhà khoa học phải đóng vai tròđộng lực, đi đầu trong việc nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học vàcông nghệ, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ ở nhiều lĩnh vực khác nhau.Trong quản lý sản xuất, họ là những người thực hiện đổi mới cơ chế quản lý,góp phần tổ chức lại và hướng dẫn các lực lượng lao động khác đưa tiến bộkhoa học vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.Người làm công tác khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trêncác lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng, triển khai công nghệ tiên tiến và cácdịch vụ khoa học công nghệ khác Hơn ai hết, họ phải có trách nhiệm khôngngừng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của mình để tiếp thu và vậndụng sáng tạo các tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới, biếtkết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để đẩy mạnh quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 24Theo định hướng đã được xác định trong Đại hội lần thứ X của Đảng, đểđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta cần phải “tranh thủ những cơhội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với việc phát triểnkinh tế tri thức Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế vàcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển mạnh các ngành kinh tế vàcác sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức”.
Như vậy với đường lối gắn liền công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nềnkinh tế tri thức, phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, tăng cường pháttriển giáo dục và đào tạo thì việc trí thức hóa nguồn lực lao động sẽ diễn ramạnh mẽ trên phạm vi toàn xã hội cũng như trong mọi lực lượng tham giavào quá trình sản xuất, không phân biệt thành phần xã hội Hơn lúc nào hết,đội ngũ trí thức phải phát huy vai trò to lớn của mình trong quá trình đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhiệm vụ chính trị
cơ bản là phát huy vai trò động lực của khoa học và công nghệ trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đi đầu trong việc nghiên cứu,ứng dụng các kĩ thuật tiến bộ và công nghệ mới, đồng thời đổi mới cơ chếquản lý sản xuất kinh doanh, góp phần tổ chức và hướng dẫn phong tràoquần chúng lao động tiến công vào khoa học, công nghệ, phát huy sángkiến, cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất để nâng cao năng suất lao động vàhiệu quả kinh tế Mở rộng và tăng cường năng lực hoạt động sáng tạo củangười lao động trong quá trình sản xuất nhằm vừa tăng thêm cơ hội tìmkiếm việc làm, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp, vừa tạo ra sự pháttriển nhanh và bền vững cho xã hội, nhờ đó tạo ra những khả năng thực tế đểcon người phát triển toàn diện
1.2.5 Vai trò của đội ngũ trí thức trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở nước ta
Chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức là một tất yếu khách quan,mang tính toàn cầu của mọi nền kinh tế trong đó có nền kinh tế nước ta
Trang 25Theo UNDP – APDIP 2004: “nền kinh tế tri thức là nền kinh tế sửdụng có hiệu quả tri thức cho phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm cả việckhai thác kho tri thức toàn cầu, cũng như làm chủ và sáng tạo tri thức chonhu cầu riêng của mình”.
Qua hơn 20 năm đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường và hộinhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu
to lớn, tốc độ tăng trưởng thuộc loại cao nhất trên thế giới, kết hợp tốt tốc
độ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; là nước có thành tích giảmnghèo nhanh ở tốp đầu trên thế giới, đời sống nhân dân được nâng cao rõrệt Tuy vậy chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và tính cạnh tranh của nềnkinh tế còn rất thấp, còn chứa đựng nhiều yếu tố phát triển không bềnvững và đặc biệt là đang có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước khác,trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang chuyển tiếp từ xã hội côngnghiệp sang xã hội thông tin và trí thức
Tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chủ yếu là do vốn, với tỷ lệ là64%, nhân tố năng suất tổng hợp chỉ đóng góp có 19% Cơ cấu kinh tế vẫncòn nặng về nông nghiệp và khai thác tài nguyên, trong GDP tỷ lệ nôngnghiệp còn chiếm khoảng 20%, dịch vụ chỉ đạt 38% Tỷ lệ dịch vụ thấp nhưthế đã nói lên tính hiệu quả của nền kinh tế…Khái quát lại, nền kinh tế ViệtNam còn đang là nền kinh tế dựa chủ yếu vào tài nguyên và lao động, hiệuquả và chất lượng tăng trưởng thấp, giá trị do tri thức tạo ra không đáng kể;chưa khơi dậy và phát huy khả năng sáng tạo của con người
Sự chuyển mạnh sang hướng phát triển dựa trên tri thức gắn liền với pháthuy vai trò của đội ngũ trí thức trở thành yêu cầu cấp thiết không thể trì hoãn Bỏ
lỡ thời cơ lớn Việt Nam sẽ tụt hậu xa hơn và đó là hiểm hoạ của dân tộc
Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta không có nghĩa là chuyển ngaysang các nghành công nghệ cao để có cơ cấu kinh tế như các nước phát triển
đã đạt tới, mà là thực thi chiến lược phát triển dựa vào tri thức, thực chất làvận dụng tri thức mới vào tất cả các ngành kinh tế
Trang 26Nhiệm vụ trung tâm là sử dụng tri thức mới của thời đại kết hợp vớisáng tạo tri thức mới để nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngtăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ hàm lượng tri thức cao, giá trịtăng cao:
- Một là, đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệpnông thôn
- Hai là, đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp vàdịch vụ
- Ba là, tập trung các điều kiện để phát triển nhanh có chọn lọc cácngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao
Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta đòi hỏi tiến hành một công cuộcđổi mới mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc hơn nữa nền – một công cuộc đổi mớitrên tất cả các lĩnh vực:
- Đổi mới căn bản cách thức phát triển kinh tế
- Đổi mới các doanh nghiệp
- Đổi mới giáo dục đào tạo
- Đổi mới các hoạt động khoa học công nghệ: Nâng cao năng lựckhoa học công nghệ quốc gia, đồng thời xây dựng hệ thống đổi mới quốcgia, gắn kết chặt chẽ khoa học công nghệ với sản xuất kinh doanh, nhanhchóng biến tri thức thành giá trị, đẩy nhanh tốc độ đổi mới của nền kinh tế
và từng doanh nghiệp
- Đổi mới thể chế, chính sách, tổ chức quản lý Thể chế chính sáchphải nhằm tạo lập một không gian thuận lợi (môi trường) cho các quá trìnhđổi mới, nói cách khác là thiết lập hệ thống đổi mới quốc gia hữu hiệu Đó
là điều kiện tối cần thiết, là khâu then chốt để đưa nền kinh tế nước ta tiếnnhanh vào nền kinh tế tri thức
Tất cả những công việc trên không thể thiếu bàn tay và trí óc của độingũ trí thức nước nhà Nếu thiếu đi sự đóng góp của đội ngũ trí thức nướcnhà thì không thể có sự thành công của sự nghiệp đổi mới như hiện nay
Trang 27CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀ VAI TRÒ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
Ở TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1 Điều kiện về lịch sử hình thành, tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương ảnh hưởng đến sự phát triển đội ngũ trí thức của tỉnh
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Hải Dương
Hải Dương là một vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóalâu đời Đây là một vùng đất có chứa những thành tựu văn minh của nhândân ta từ xa xưa trong lịch sử, bởi vậy nó có giá trị lịch sử văn hóa rất cao
Dựa vào kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho thấy Hải Dương là vùngđất có từ lâu đời, trải qua những biến động của lịch sử về hành chính, HảiDương có những thay đổi về tên gọi, về địa giới
Đời Hùng Vương xưa, Hải Dương là bộ Dương Tuyền; thời Hánthuộc quận Giao Chỉ; thời nhà Đông Ngô thuộc Giao Châu; nhà Đường đặtHải Môn trấn, lại gọi là Hồng Châu
Nhà Đinh chia làm đạo; nhà Tiền Lê và nhà Lý cũng chia theo nhà Đinh.Nhà Trần đổi làm 4 lộ; Hồng Châu thượng và Hồng Châu hạ, NamSách thượng và Nam Sách hạ
Năm Quang Thái thứ 10 (1397), vua Trần Thuận Tông đổi làm trấnHải Đông
Thời kì thuộc Minh (1407 – 1427), Hải Dương thuộc hai phủ LạngGiang và Tân An
Nhà hậu Lê: Năm Thuận Thiên (1428 – 1433) vua Lê Thái Tổ chothuộc Đông Đạo
Khoảng niên hiệu Diên Ninh (1454 - 1459) vua Lê Nhâm Tông chialàm 2 lộ: Nam Sách thượng và Nam Sách hạ
Trang 28Năm Quang Thuận thứ 7(1446) vua Lê Thánh Tông đặt thừa tuyênNam Sách; năm 1469 đổi làm thừa tuyên Hải Dương; năm Hồng Đức thứ 21(1479) đổi làm xứ.
Khoảng giữa năm Hồng Thuận (1510 – 1516) vua Lê Tương Dực đổilàm trấn
Nhà Mạc lấy Nghi Dương làm Dương Kinh, trích phủ Thuận An ởKinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình ở SơnNam cho lệ thuộc vào Dương Kinh
Khoảng niên hiệu Quang Hưng (1578 – 1599) vua Lê Thế Tông đổilàm trấn theo nguyên như cũ
Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) vua Lê Hiến Tông chia làm 4 đạo:Thượng Hồng, Hạ Hồng, Đông Triều và An Lão
Nhà Tây Sơn đem phủ Kinh Môn thuộc Yên Quảng
Năm 1802, vua Gia Long đem Kinh Môn thuộc về trấn cũ và lệ thuộcvào Bắc Thành
Năm 1804, vua Gia Long, dị sở Hải Dương được chuyển từ Mao Điền
về tổng Hàn Giang, đặt trên vùng đất cao thuộc ngã ba sông Thái Bình vàsông Sặt với mục tiêu trấn thành án ngữ vùng biên ải phía đông Kinh đôThăng Long, chính vì vậy có tên gọi là Thành Đông – nghĩa là tòa thành ởphía đông
Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi Thượng Hồng làm phủ BìnhGiang, Hạ Hồng làm phủ Ninh Giang, còn hai đạo Đông Triều và An Lãothì đặt làm hai huyện, năm Minh Mạng thứ 12 (1831) chia thành một hạt độclập và đổi làm tỉnh Hải Dương gồm 5 phủ 19 huyện
Năm 1887, thực dân Pháp tách một số huyện ven biển của HảiDương, đặt thành tỉnh Hải Phòng, đến 1906 đổi thành tỉnh Kiến An
Năm 1968, Hải Dương sáp nhập với Hưng Yên thành tỉnh HảiHưng Trải qua những thay đổi và biến động của điều kiện kinh tế xã hội
và trước yêu cầu của sự phát triển, đến tháng 1/1997 tỉnh Hải Dương
Trang 29được tái lập; tháng 8/1997 thị xã Hải Dương được nâng cấp thành thànhphố Hải Dương Từ 1997 đến nay, tỉnh Hải Dương có 11 huyện là huyệnCẩm Giàng, Bình Giang, Gia Lộc, Thanh Miện, Ninh Giang, Nam Sách,Thanh Hà, Tứ Kỳ, Kim Thành, Kinh Môn, và Chí Linh và 1 thành phố làthành phố Hải Dương.
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm ở tọa độ địa
lý 20 độ 43 phút đến 21 độ 14 phút vĩ độ Bắc, 106 độ 03 phút đến 106 độ 38phút kinh độ Đông, trung tâm chính là thành phố Hải Dương cách Hà Nội60km về phía Tây; cách Hải Phòng 45 km về phía Đông; phía Bắc giáp cáctỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang; phía Tây giáp với tỉnh Hưng Yên, phía Nam giápvới tỉnh Thái Bình; phía Đông giáp với thành phố Hải Phòng Theo quihoạch năm 2007, Hải Dương sẽ nằm ở vùng thủ đô với vai trò là một trungtâm công nghiệp
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1662 km2, chiếm 0,26% tổng diện tích
tự nhiên cả nước
Về hệ thống giao thông đường bộ, Hải Dương có các đường quốc lộsau chạy qua: Quốc lộ 5 từ Hà Nội chạy tới Hải Phòng, phần chạy ngangqua giữa tỉnh Hải Dương dài 44,8 km; Quốc lộ 18 chạy từ Hà Nội qua BắcNinh, Hải Dương đến vùng than và cảng Cái Lân của tỉnh Quảng Ninh.Phần đường chạy qua Chí Linh dài 20 km; Quốc lộ 37 phần chạy qua HảiDương dài 65,2 km, Quốc lộ 10 dài 0,9 km là đường cấp III đồng bằng;đường cao tốc từ Hà Nội tới Hải Phòng ( đường 5 mới ) đã hoàn thành
Về hệ thống đường sắt có tuyến Hà Nội – Hải Phòng chạy song songvới đường 5, vận chuyển hàng hóa, hành khách qua 2 ga trong tỉnh HảiDương; tuyến Kép – Bãi Cháy chạy qua Chí Linh, là tuyến đường vậnchuyển hàng nông, lâm, thổ sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngoàiqua cảng Cái Lân, cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh này
Trang 30Đường thủy có 16 tuyến sông chính nối với các sông nhỏ dài 400km;các loại tàu, thuyền trọng tải 500 tấn có thể qua lại Cảng Cống Câu côngsuất 300.000 tấn/năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hóa bằngđường thủy một cách thuận lợi.
Về đường hàng không: hiện tại đang có nghiên cứu xây dựng cảnghàng không quốc tế lớn nhất đến nay tại Hải Dương, nhằm thay thế sân bayNội Bài, và là sân bay lớn nhất Đông Nam Á
Vị trí địa lý thuận lợi và hệ thống giao thông trên đã tạo điều kiện rấtthuận lợi cho Hải Dương giao lưu kinh tế với các tỉnh, thành phố trong cảnước và quốc tế Hải Dương sẽ có cơ hội tham gia phân công lao động trêntoàn vùng Bắc Bộ, đặc biệt là trao đổi hàng hóa với các tỉnh, thành thuộcvùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Đại bộ phận tỉnh là đồng bằng, vùng núi và trung du chiếm 11% diệntích tự nhiên toàn tỉnh, vùng đồng bằng chiếm 89% diện tích tự nhiên toàntỉnh Điểm cao nhất cao 818 m, điểm thấp nhất là 0,5 m với độ cao trungbình là 1,5 – 2 m so với mực nước biển
Khí hậu Hải Dương mang tính chất nhiệt đới gió mùa Mưa bão xuấthiện vào các tháng 7, 8, 9 có xuất hiện gió lốc và có mưa đá Lượng mưatrung bình hàng năm là 1450 – 1550mm, nhiệt độ trung bình hàng năm là
23, 40ºC Hàng năm có các tháng lạnh nhất vào tháng 12, 1, 2 Tần suấtsương muối thường vào các tháng 12 và tháng 1
Tỉnh Hải Dương có 84.900 ha đất tự nhiên, diện tích đất nông nghiệpchiếm 64,1%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng chiếm 10,77%; diện tích đấtchuyên dùng là 16,1%; diện tích đất ở chiếm 6,7% và diện tích đất chưa sửdụng chiếm 7,5%
Trên địa bàn tỉnh có 10 loại khoáng sản như than đá, quặng sắt, thủyngân…khoáng sản là nguyên vật liệu xây dựng và nguyên liệu làm sành sứnhư đá vôi, sét, đất chịu lửa; khoáng sản kim loại như quặng sắt, than đá
Trang 31Dựa trên cơ sở những điều kiện về tự nhiên đã tạo cho tỉnh HảiDương những thế mạnh về giao thông vận tải và những điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế xã hội Nó trở thành nền tảng cho sự phát triển nôngnghiệp và công nghiệp theo hướng bền vững Đây chính là tiềm năng vàđộng lực cho sự phát triển của tỉnh Tuy nhiên trước yêu cầu đổi mới, côngnghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay tỉnh Hải Dương cần khai thác và sử dụnghợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi thế về các điều kiện tựnhiên Vấn đề này đặt ra cho đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnhnhững yêu cầu nhằm thực hiện hiệu quả quá trình khai thác, sử dụng phùhợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên Như vậy để phát huy những thế mạnh
về tài nguyên thiên nhiên, cần thiết phải khai thác nó một cách hiệu quả vàphù hợp, có chiến lược lâu dài và khoa học Điều đó đặt ra những yêu cầu tolớn và cấp bách đòi hỏi sự đóng góp nhiều hơn nữa của đội ngũ trí thức tỉnhHải Dương trong quá trình đổi mới hiện nay
2.1.3 Điều kiện về kinh tế
Hải Dương với những điều kiện thuận lợi trên nhiều mặt và cùng vớicon người Hải Dương năng động, nhạy bén đã không ngừng phát triển trênmọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Tổng sản phẩm trên toàn tỉnh (GDP)năm 2011 đạt 39.028 tỷ đồng theo giá thực tế, và 14.689 tỷ đồng ( theo giá sosánh năm 1994), tăng 9,3% so với năm trước [5] GDP là tổng sản phẩm nộiđịa, tức tổng sản phẩm quốc nội, là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm
và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ trong mộtkhoảng thời gian nhất định, thường là một năm GDP là một trong những chỉ
số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó
Trong 9,3% tăng trưởng GDP chung, khu vực nông lâm nghiệp
và thủy sản đóng góp 0,7 điểm phần trăm, khu vực công nghiệp và xâydựng đóng góp 5,4 điểm phần trăm, khu vực dịch vụ đóng góp 3,2điểm phần trăm
Trang 32Tổng số vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2011 đạt 20.148
tỷ đồng [14], tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn nhà nướcđạt 3.879 tỷ đồng, giảm 8,2% so với cùng kỳ năm trước, vốn ngoài nhà nướcđạt 11.444 tỷ đồng, tăng 32,7 % so với cùng kỳ năm trước, vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài đạt 4.825 tỷ đồng Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạtkết quả cao so với cùng kỳ năm trước, do tiếp nhận được một số dự án quy
mô đầu tư lớn như dự án Nhà máy Nhiệt điện Hải Dương (trên 2,25 tỷUSD), dự án dệt Pacific (trên 300 triệu USD), công ty may Tinh Lợi (120triệu USD), tổng vốn đầu tư đăng kí đạt 2 tỷ 866,4 triệu USD, vốn đầu tưthực hiện năm 2011 ước đạt 300 triệu USD Đến nay trên địa bàn tỉnh HảiDương có 225 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng kí đạt 5 tỷ465,9 triệu USD, vốn thực hiện đạt 1 tỷ 961,8 triệu USD bằng 35,9% tổng
số vốn đăng kí [ 5, tr.8]
Với hơn 100 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanhnghiệp FDI hiện đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã thu hút đượcmột lực lượng lao động trực tiếp lên đến hơn 85.000 người lao động và hàngngàn người lao động gián tiếp Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào các lĩnhvực công nghiệp ô tô, điện tử, dây cáp điện, hàng may mặc, hàng nông sảnthực phẩm, chế biến thức ăn chăn nuôi…Số lượng các doanh nghiệp lớn cótiềm lực tài chính cũng như có điều kiện đầu tư công nghệ, dây chuyền sảnxuất hiện đại có xu hướng tập trung vào tỉnh Hải Dương ngày càng nhiều, điểnhình như các tập đoàn Sumidenso của Nhật Bản, tập đoàn Brother, Qualcommcủa Hoa Kỳ…Các doanh nghiệp FDI hoạt động có hiệu quả đã góp phần quantrọng vào việc làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương Chỉtính riêng năm 2010, doanh thu của các doanh nghiệp FDI đạt gần 1.765 tỷUSD, tăng 18,7% so với năm 2009, nộp ngân sách nhà nước 97 triệu USD,chiếm 42,4% tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh
Đạt được những thành quả trên là do Hải Dương đã biết phát huy tối
đa các lợi thế của một vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đồng thời tỉnh cũng
Trang 33tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng đáp ứng điều kiện của các nhà đầu tư Bêncạnh đó, các nhà đầu tư cũng bị hấp dẫn bởi sự chủ động kịp thời của chínhquyền tỉnh trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến thủ tục hànhchính Chính quyền tỉnh Hải Dương luôn chú trọng đến việc tạo cơ chếthông thoáng nhưng đúng luật trong hoạt động đẩy mạnh thu hút FDI HảiDương đang thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong việc giải quyếtnhững chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài triển khai
dự án trên địa bàn tỉnh
Phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương, Lê Hồng Văn khẳngđịnh: “ Các doanh nghiệp FDI đang đầu tư hoạt động tại Hải Dương đã gópphần làm thay đổi diện mạo theo chiều hướng tích cực cho tỉnh, các doanhnghiệp FDI tạo nhiều việc làm có thu nhập ổn định, cơ sở hạ tầng ngày càngđược xây dựng đồng bộ, hiện đại…" Nhờ đó, Hải Dương đã trở thành tỉnh
có tốc độ phát triển nhanh, ổn định, bền vững
Có thể nói tỉnh Hải Dương đã có nhiều chính sách khuyến khích vàtạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư chú trọng công tác quy hoạchcác cụm, khu công nghiệp Chính phủ đã cho phép tỉnh Hải Dương quyhoạch, đầu tư xây dựng đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 tổngcộng 18 khu công nghiệp tập trung với diện tích gần 4000 ha; trong đó 10khu công nghiệp đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết với diện tích quyhoạch là 2.086 ha…[3, tr.13] Đồng chí Lê Hồng Văn cũng nhấn mạnh: “Hải Dương đang thực sự chủ động trong việc thực hiện các phương thức,triển khai các chính sách phù hợp nhất để thu hút FDI, ngày càng khẳngđịnh là một địa phương có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài”
Những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đã tạo nên nhân
tố quan trọng, trở thành nền tảng cho sự phát triển nông nghiệp và côngnghiệp theo hướng bền vững Đây chính là tiềm năng và động lực cho sựphát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Tuy nhiên, kinh tế của tỉnh vẫn còn chưa
Trang 34phát triển chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của tỉnh, chất lượngtăng trưởng chưa cao Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành,lĩnh vực còn chậm và chưa hợp lý Những hạn chế đó xuất phát từ nhữngnguyên nhân cơ bản như: trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành có nơi chưa tậptrung quyết liệt nhất là vào khâu quan trọng có tính đột phá Công tác bố tríđội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật còn yếu và thiếu, chưa đồng bộ giữa cácngành, các lĩnh vực Từ thực tế đó, yêu cầu tỉnh Hải Dương cần thiết phải cóchiến lược phát triển kinh tế xã hội đồng bộ, phát huy một cách có hiệu quảcác thế mạnh của tỉnh, bố trí và sử dụng nguồn nhân lực trí thức một cáchphù hợp và hiệu quả hơn nữa.
2.1.4 Điều kiện văn hóa – xã hội, dân cư
Hải Dương là một tỉnh có dân số đông vào loại bậc nhất trong cảnước Theo Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở, tại thời điểm điềutra, ngày 1 tháng 4 năm 2009, tổng số nhân khẩu toàn tỉnh Hải Dương là1.703.492 người, chiếm 2% dân số cả nước (dân số cả nước là 85.798.573người), trong đó nam chiếm 48,9%, nữ chiếm 51,1%, nhân khẩu thành thịchiếm 19,1%, nhân khẩu nông thôn chiếm 80,9%
Trong đó số người trong độ tuổi lao động là 936920 người, chiếm55% dân số, lao động trong độ tuổi 18 – 30 chiếm 40% tổng số lao động, tỷ
lệ lao động qua đào tạo chiếm 19 – 20%, lao động phổ thông có trình độ vănhóa trung học phổ thông chiếm 60 – 65%
Như vậy, sau 10 năm, dân số tỉnh Hải Dương tăng thêm 52686 người,bình quân mỗi năm tăng 0,3% Tỷ lệ tăng thấp hơn so với cả nước và vùngđồng bằng sông Hồng và giảm mạnh so với thời kỳ 10 năm trước Tỉnh HảiDương là tỉnh có số dân thứ 11/63 tỉnh thành trong cả nước và đứng thứ5/11 tỉnh thành trong vùng đồng bằng sông Hồng
Người lao động Hải Dương cần cù, năng động, tiếp thu, nắm bắt kỹthuật nhanh Với lực lượng lao động đông đảo, có trình độ văn hóa lại gần
Trang 35với các thành phố nên việc cung ứng lao động lâu dài cũng như thời vụ chonhu cầu của khu vực này rất thuận lợi.
Trên địa bàn tỉnh có 10 dân tộc Đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm99,74% dân số toàn tỉnh Các dân tộc thiểu số như dân tộc Sán Dìu có 1516người (chiếm 0,09%); dân tộc Tày có 469 người (chiếm 0,0028%), dân tộcNùng có 75 người (chiếm 0,00045%), dân tộc Thái có 65 người (chiếm0,00039%); dân tộc Mông có 17 người (chiếm 0,0001%), dân tộc Dao có 27người (chiếm 0,00016%); dân tộc Thổ có 21 người (chiếm 0,00012%), vàcác dân tộc khác chiếm 0,213% [5, tr 17]
Những năm gần đây, trình độ dân trí, đời sống văn hóa – xã hội củanhân dân có nhiều tiến bộ, ngày càng nâng lên Chất lượng giáo dục – đào tạo
có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng thực chất hơn Tỉnh Hải Dương đượccông nhận đạt chuẩn giáo dục trung học cơ sở Các chương trình y tế quốc gia,chính sách y tế cho người nghèo được thực hiện đạt kết quả tốt
Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa xã hội ởkhu dân cư, cơ quan đơn vị đạt kết quả khá Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóathể dục thể thao ngày càng phát triển về hình thức và nội dung Vấn đề giảiquyết việc làm, lao động cho nhân dân được tỉnh đặc biệt chú trọng và quan tâm
Trong những năm qua công tác an ninh quốc phòng được tỉnh chútrọng và đặc biệt quan tâm và ngày càng hoàn thiện Không ngừng củng cố
và tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhândân; chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang đảm bảo số lượng, chất lượngđược nâng lên, đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống,không để bị động bất ngờ Cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kĩ thuật cholĩnh vực an ninh quốc phòng được tỉnh chú trọng đầu tư An ninh quốcphòng được đảm bảo và giữ vững trên địa bàn toàn tỉnh
Chính những điều kiện thuận lợi của môi trường tự nhiên, sự pháttriển kinh tế xã hội và ổn định an ninh quốc phòng là môi trường thuận lợi
Trang 36hóa Đây cũng chính là những yếu tố tác động rất thuận lợi cho đội ngũ tríthức ngày càng tăng nhanh về số lượng và chất lượng Tuy nhiên những vấn
đề đó đặt ra yêu cầu mới cho đội ngũ trí thức nghiên cứu kiện toàn và đòihỏi những kết quả mới để phát huy hơn nữa những yếu tố tự nhiên, khai tháchợp lý tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Để thực hiện những vấn đề đó thực sự hiệu quả, cần thiết phải có cáchnhìn nhận đánh giá khách quan, khái quát về thực trạng đội ngũ trí thức củatỉnh Hải Dương hiện nay Qua đó có thể thấy được vai trò hết sức quan trọngcủa đội ngũ trí thức trong các lĩnh vực kinh tế xã hội Từ đó xác định mộtchiến lược phát triển hiệu quả, đúng đắn còn mắc phải để đưa ra những giảipháp phù hợp, thiết thực, nhằm nâng cao chất lượng một cách toàn diện độingũ trí thức tỉnh nhà Có như vậy mới sử dụng một cách hiệu quả nguồnnhân lực, đặc biệt là đội ngũ trí thức tỉnh nhà
2.2 Thực trạng đội ngũ trí thức tỉnh Hải Dương hiện nay
Ở tỉnh Hải Dương, quá trình phát triển kinh tế - xã hội gắn liền vớinhững đóng góp to lớn của đội ngũ trí thức Đội ngũ trí thức tỉnh Hải Dươngtrưởng thành có đặc trưng nổi bật là xuất thân từ tất cả các giai cấp và cáctầng lớp trong xã hội, nhất là từ giai cấp công nhân và nông dân Phần lớn tríthức trưởng thành trong tỉnh được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo trongnước và ngoài nước Bằng những hoạt động thực tiễn, trí thức Hải Dương đã
có những đóng góp to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa củatỉnh Qua quá trình học tập và công tác, đội ngũ trí thức tỉnh Hải Dươngkhông ngừng lớn mạnh cả về chất lượng và số lượng
2.2.1 Về số lượng
Cùng với sự phát triển của đội ngũ trí thức nước nhà, trong nhữngnăm đổi mới hiện nay, đội ngũ trí thức tỉnh Hải Dương đã có những bướcphát triển đáng kể về số lượng và chất lượng
Từ thời kỳ đổi mới đến nay số lượng trí thức phát triển mạnh Đội ngũtrí thức tỉnh Hải Dương có số lượng khá đông và tăng nhanh Năm 2003,
Trang 37tỉnh Hải Dương có 24.840 người có trình độ cao đẳng trở lên Nhưng đếnnăm 2009, kết quả điều tra cho thấy số lượng trí thức tăng nhanh về mọimặt, hơn 2,2% số dân có trình độ cao đẳng trở lên tức là khoảng 37477người, tăng hơn 7,5% so với năm 2003, trong đó có hơn 1200 người có trình
độ trên đại học, tăng hơn 400 người [ phụ lục 1]
Như vậy, so với thời kỳ trước đổi mới số lượng trí thức tăng lênrất nhiều Đặc biệt trong 10 năm trở lại đây, từ năm 1999 đến năm 2009,
số lượng trí thức đã tăng lên 3 lần Tuy nhiên so với yêu cầu của quátrình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi đội ngũ trí thức cầntăng cường nhiều hơn nữa trong các ngành nghề và các lĩnh vực khácnhau, vì thế số lượng trí thức hiện nay của tỉnh chưa đáp ứng kịp thờivới quá trình phát triển
Nếu so sánh với các tỉnh lân cận như Quảng Ninh, Hải Phòng, HưngYên thì số lượng trí thức của tỉnh Hải Dương vẫn còn hạn chế về số lượng
Năm 2009 tỉnh Quảng Ninh có 33.720 người có trình độ từ cao đẳng trởlên, cứ 1 vạn dân thì có 195 người trình độ cao đẳng trở lên Tỉnh Hưng Yên cóhơn 28.000 người có trình độ cao đẳng trở lên, có 217 người/ 1 vạn dân cótrình độ cao đẳng trở lên [ 33] Hải Phòng có gần 39.000 người có trình độ caođẳng trở lên, cứ 1 vạn dân thì có 231 người có trình độ cao đẳng trở lên [ 34 ].Trong khi đó tỉnh Hải Dương với rất nhiều điều kiện thuận lợi hơn thì mới chỉ
có 202 người có trình độ cao đẳng/ 1 vạn dân Qua đó phản ánh sự hạn chế về
số lượng đội ngũ trí thức của tỉnh Hải Dương chưa đáp ứng kịp thời đối vớiquá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
So với năm 2003, đến nay số lượng cán bộ công chức, viên chức cótrình độ cao đẳng trở lên đã tăng 2,84 lần Số lượng tăng nhanh qua cácnăm: Năm 1999, cứ 1 vạn dân thì có 134 người có trình độ cao đẳng trở lên;năm 2009 đã tăng lên 185 người/ 1 vạn dân Như vậy so với sự gia tăng sốlượng giữa năm sau với năm trước thì số lượng đội ngũ trí thức có chiều
Trang 38hướng gia tăng, tuy nhiên nếu so với sự gia tăng của dân số tỉnh thì tỷ lệbình quân trí thức hiện nay trên đầu người dân vẫn còn thấp.
Như vậy, tính từ năm 1999 đến nay thì số lượng trí thức tỉnh đã tănglên nhanh chóng Những năm gần đây, khi sự phát triển kinh tế đang diễn ratheo xu hướng hội nhập, công nghiệp hóa thì lực lượng trí thức trên địa bàntỉnh cơ bản đã ổn định và phát triển theo xu hướng ngày càng tăng về sốlượng Đặc biệt trong những năm gần đây, khi xã hội hóa giáo dục, các loạihình đào tạo như liên thông, chuyên tu, tại chức, từ xa, liên kết mở rộng thìđội ngũ trí thứcđã có sự chuyển biến mạnh mẽ, tăng nhanh Tuy nhiên, đứngtrước xu thế phát triển mới, kinh tế hội nhập, công nghiệp hóa ngày càngdiễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi đội ngũ trí thức cần phải tăng nhiều hơn nữa cả về
số lượng và chất lượng Đây cũng chính là yêu cầu, đòi hỏi và thách thứctrong sự nghiệp phát triển đội ngũ trí thức hiện nay, đặc biệt là nguồn nhânlực trí thức có chất lượng cao
2.2.2 Về chất lượng
Năm 2003, toàn tỉnh Hải Dương có 24840 người có trình độ cao đẳngtrở lên Trong đó trình độ cao đẳng là 7.350 người; đại học 18705 người; sauđại học là 785 người, trong đó thạc sĩ 653 người, tiến sĩ là 132 người [26, tr.135] Đến năm 2009 số lượng tăng lên là 37.477 người Trong đó trình độcao đẳng là 9985 người, đại học là 26292 người, trên đại học là 1200 người,trong đó thạc sĩ là 994 người, tiến sĩ là 206 người [ phụ lục 1]
Trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay, yêu cầu về trình độ ngoại ngữ
và tin học đang đặt ra những thách thức rất lớn cho đội ngũ trí thức tỉnh HảiDương Điều này đang là thực trạng chung của đội ngũ trí thức Việt Nam
“Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, về sự thành thạo tiếng Anhtrong nguồn nhân lực, Việt Nam được 2,62 điểm, đứng ở vị trí thấp nhất12/12 nước trong khu vực” [29, tr 225] Qua đó phản ánh chất lượng nguồnnhân lực chung còn nhiều hạn chế Ngoài đội ngũ trí thức hoạt động trongnhững lĩnh vực chuyên môn cần đến ngoại ngữ, tin học như công tác giảng
Trang 39dạy, đối ngoại, du lịch… thì hầu hết đội ngũ trí thức của tỉnh còn bị hạn chếrất lớn Chỉ có 14395 người có trình độ ngoại ngữ từ bằng A trở lên vớitiếng Anh là chính (chiếm 45%), còn các ngoại ngữ khác chiếm tỷ lệ khôngđáng kể Trong lĩnh vực tin học, đội ngũ trí thức sử dụng chủ yếu là tin họcvăn phòng với hai phần mềm thông dụng nhất là Word và Excel(Powerpoint và các phần mềm chuyên dụng rất ít) Tỷ lệ thường xuyên sửdụng các phần mềm để ứng dụng vào công việc là không nhiều Có mộtnghịch lý thường thấy rõ đó là có những cán bộ giữ chức vụ càng cao thìtrình độ ứng dụng tin học càng kém, chỉ chủ yếu sử dụng chương trình Word
để xử lý văn bản, còn các chương trình khác thì phải thông qua hệ thốngnhân viên, tham mưu và chuyên gia
Công tác nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vàosản xuất được đội ngũ trí thức của tỉnh chú trọng trong việc nâng cao chấtlượng và giá trị sản phẩm hàng hóa Ứng dụng có hiệu quả những tiến bộ vềkhoa học kĩ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi, pháttriển công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng Đặc biệt trong công tác ứngdụng công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý trong các cơ quan Đảng,Nhà nước và các ngành được đội ngũ trí thức tỉnh thực hiện tích cực đã gópphần nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế xã hội của tỉnh Số trí thứctham gia vào các cơ quan quản lý, hành chính sự nghiệp, các cơ quan Đảng,Nhà nước đã phát huy tốt vai trò và năng lực của mình, góp phần quan trọngtrong hoạt động phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Nghiên cứu khoa học và công nghệ, tham gia đào tạo là chức năng,nhiệm vụ chính của đội ngũ trí thức, nhưng tỷ lệ tham gia trực tiếp vàoquá trình nghiên cứu khoa học và triển khai còn thấp Khi tham gianghiên cứu thì các đề tài còn có nhiều điểm chưa tiếp cận được với trình
độ khoa học và công nghệ của khu vực và trên thế giới, khả năng hội nhậpcòn rất hạn chế nếu không nói là có nguy cơ tụt hậu so với sự phát triển
Trang 40Đội ngũ trí thức tỉnh Hải Dương có khả năng nhạy bén, linh hoạt,
có trình độ để tiếp cận nhanh chóng với những cái mới và cập nhật vậndụng kịp thời Nhiều người có những sáng kiến, ý tưởng sáng tạo, lậpthành công trình nghiên cứu khoa học, đề tài có giá trị ở các cấp cơ sở,cấp tỉnh và cấp Nhà nước
Trải qua quá trình đào tạo, sử dụng và phát triển, đội ngũ trí thức củatỉnh đã có những đóng góp to lớn trong tổng kết, xây dựng luận cứ khoa học,phát triển lý luận, cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Trung ương vàxây dựng các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng anninh của tỉnh
Đội ngũ trí thức của tỉnh có lòng yêu nước, luôn trung thành với sựlãnh đạo của Đảng, họ tin vào sự nghiệp đổi mới, gắn bó với quê hương, tâmhuyết với nghề nghiệp và là nhân tố tích cực đẩy mạnh sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Nếu có sự lãnh đạo sát sao, quan tâmthích đáng của Đảng Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh cùng sự quyết tâm và sángtạo của đội ngũ trí thức vươn lên làm chủ tri thức thì bất kì nhiệm vụ khókhăn, phức tạp như thế nào cũng có thể vượt qua
Bên cạnh những mặt mạnh, ưu thế cần phát huy thì đội ngũ trí thứctỉnh Hải Dương hiện nay đang đứng trước những yêu cầu và thách thức mới,cần phải tự hoàn thiện thêm về năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, trình độ vànăng lực công tác Số cán bộ có trình độ ngoại ngữ còn ít, nhiều người chưa
có đủ trình độ để giao dịch quốc tế và khai thác các tài liệu nước ngoài Cónhững sở ngành có rất ít cán bộ đạt trình độ học vấn thạc sĩ, tiến sĩ Hầu nhưkhông có những chuyên gia có đủ trình độ, khả năng đảm đương những dự
án lớn và thiếu trầm trọng những chuyên gia đầu đàn để đào tạo, hướng dẫnđội ngũ cán bộ kế cận
Trí thức trong tỉnh nhạy bén, linh hoạt, năng động nhưng ít có điềukiện đi sâu, vươn xa nên không bền và ít có kết quả trong sáng tạo và nghiêncứu khoa học, hoạt động khoa học thiếu gắn bó mật thiết và chưa đáp ứng