Do vậy, việc quản lý rủi ro tín dụng đối với những khoản vay này là cần thiết và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.. Vai trò của tí
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-o0o -
NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NAM Á – CHI NHÁNH
NHA TRANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-o0o -
NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NAM Á – CHI NHÁNH
NHA TRANG
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH
Khánh Hòa - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Chương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này
Trước hết tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Trâm Anh
đã định hướng ý tưởng nghiên cứu, tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, sửa luận văn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài để hoàn thành cuốn luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn quý Thầy Cô trong hội đồng bảo
vệ đề tài thạc sĩ đã có những ý kiến đóng góp, lời khuyên quý báu để công trình nghiên cứu được hoàn thành có chất lượng
Xin gửi lời cảm ơn quý Anh Chị em đồng nghiệp tại ngân hàng Nam Á – Chi nhánh Nha Trang và các ngân hàng khác đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Nha Trang, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Chương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NHTM 5
1.1 Tín dụng cá nhân của NHTM 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm tín dụng cá nhân 5
1.1.2 Phân loại tín dụng cá nhân 8
1.1.3 Vai trò của tín dụng cá nhân 11
1.2 Rủi ro trong tín dụng cá nhân của NHTM 12
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng cá nhân 12
1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cá nhân 14
1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng 16
1.2.4 Chỉ số đo lường rủi ro tín dụng 18
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân của NHTM 19
1.3.1 Quan niệm quản lý rủi ro tín dụng cá nhân 19
1.3.2 Quy trình quản lý rủi ro tín dụng 20
1.3.2.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng 20
1.3.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng 21
1.3.2.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng 22
1.3.2.4 Tài trợ rủi ro tín dụng 22
1.3.3 Một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM 23
1.3.3.1 Mô hình định tính 23
1.3.3.2 Mô hình chất lượng: 23
1.3.3.3 Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng 25
1.4 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng trên thế giới 29
Trang 61.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 29
1.4.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 30
1.4.3 Kinh nghiệm của Mỹ 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NAM Á – CN NHA TRANG GIAI ĐOẠN 2010 - 2013 36
2.1 Khái quát về hoạt động của Ngân hàng TMCP Nam Á – CN Nha Trang 36
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng Nam Á 36
2.1.2 Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng Nam Á - CN Nha Trang 39
2.1.3 Sản phẩm chính của Ngân hàng Nam Á dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp 42
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang giai đoạn 2010 - 2013 43
2.2.1 Công tác huy động vốn 43
2.2.2 Công tác cho vay 46
2.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 49
2.2.4 Rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á - CN Nha Trang giai đoạn 2010 - 2013 52
2.3 Điều tra khảo sát nguyên nhân gây ra RRTD tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang giai đoạn 2010 - 2013 54
2.4 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang giai đoạn 2010 – 2013 57
2.4.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng 57
2.4.2 Công tác đo lường rủi ro tín dụng 60
2.4.2.1 Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 60
2.4.2.2 Mô hình chất lượng 6C 61
2.4.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng 62
2.4.3.1 Né tránh rủi ro 62
2.4.3.2 Ngăn ngừa rủi ro 63
2.4.3.3 Giảm thiểu tổn thất 66
2.4.3.4 Phân tán rủi ro 68
2.4.3.5 Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ 69
Trang 72.4.3.6 Quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng 70
2.4.4 Công tác tài trợ RRTD 71
2.5 Đánh giá công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang giai đoạn 2010 - 2013 72
2.5.1 Kết quả đạt được 72
2.5.2 Những tồn tại trong công tác quản lý rủi ro tín dụng 73
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG NAM Á – CHI NHÁNH NHA TRANG 79
3.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang trong thời gian tới 79
3.1.1 Mục tiêu kinh doanh 79
3.1.2 Nội dung các mục tiêu cụ thể của Chi nhánh trong thời gian tới 80
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang 82
3.2.1 Hoàn thiện công tác nhận diện rủi ro tín dụng 83
3.2.2 Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro tín dụng 83
3.2.3 Hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng 84
3.2.4 Nhóm giải pháp tài trợ rủi ro 89
3.3 Nhóm giải pháp hỗ trợ 92
3.3.1 Nâng cao trình độ và năng lực cán bộ tín dụng 92
3.3.2 Tăng cường công tác thông tin tín dụng 93
3.3.3 Duy trì và tranh thủ mối liên hệ hợp tác, giúp đỡ của các cơ quan chức năng 95
3.4 Một số kiến nghị đối với chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Nam Á 96
3.4.1 Kiến nghị đối với NHNN, Chính phủ và các ban ngành có liên quan 96
3.4.2 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Nam Á 97
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 102
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng tính điểm số tín dụng tiêu dùng 26 Bảng 1.2: Bảng tổng hợp điểm cho khách hàng 27 Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha
Trang giai đoạn 2010 - 2013 44 Bảng 2.2: Tình hình dư nợ cho vay tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha
Trang giai đoạn 2010 - 2013 46 Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nam Á – CN
Nha Trang giai đoạn 2010-2013 50 Bảng 2.4: Tình hình rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á – CN
Nha Trang giai đoạn 2010 - 2013 52 Bảng 2.5: Kết quả khảo sát về nhận định rủi ro 55 Bảng 2.6: Kết quả khảo sát nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Nam Á – CN Nha Trang giai đoạn 2010 - 2013 56 Bảng 2.7: Bảng tổng hợp xếp hạng khách hàng cá nhân năm 2013 của
Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang 60 Bảng 2.8: Quy trình cấp tín dụng tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang 63 Bảng 2.9: Mức phân quyền cấp tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại
Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang 65 Bảng 2.10: Bảng tổng phân loại TSBĐ khách hàng cá nhân năm 2013 của
Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang 67 Bảng 2.11: Tình hình tín dụng cá nhân theo ngành kinh tế của Ngân hàng
Nam Á – CN Nha Trang giai đoạn 2010 – 2013 69 Bảng 2.12: Tỷ lệ tối đa áp dụng để xác định giá trị của tài sản bảo đảm 71 Bảng 2.13: Sử dụng dự phòng để xử lý RRTD tại Ngân hàng Nam Á – CN
Nha Trang giai đoạn 2010 - 2013 72 Bảng 3.1: Phân loại nợ theo kết quả xếp hạng tín dụng 89 Bảng 3.2: Kết quả khảo sát giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro
tín dụng tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang 96 Bảng 3.3: Kết quả khảo sát mức độ đánh giá các đề xuất 98
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động phân theo kỳ hạn và thời gian 44
Biểu đồ 2.2: Tình hình dư nợ phân theo thời gian và thành phần kinh tế 47
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang 40
Sơ đồ 2.2: Nhận diện rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang 57
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
4 CN Nha Trang Chi nhánh Nha Trang
5 CVQHKH Chuyên viên quan hệ khách hàng
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với cơ cấu dự nợ tín dụng cá nhân chiếm tỷ trọng trên 70% trong tổng dư
nợ cho vay của Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang, cho thấy tín dụng cá nhân
có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng Hiện nay, cho vay đối với khách hàng cá nhân là một thị trường rất tiềm năng để các NHTM khai thác và cũng là thị trường cạnh tranh chính của các NHTM Mảng tín dụng này mang lại cho ngân hàng mức lợi nhuận cao, song đây cũng là khoản mục kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro Tuy quy mô mỗi khoản vay cá nhân là nhỏ nhưng số lượng các khoản vay là lớn; khách hàng cá nhân thì đa dạng, phức tạp; thông tin tài chính về khách hàng cá nhân không rõ ràng, minh bạch như các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Hơn nữa, tình hình tài chính
cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc hay sức khỏe của họ Do vậy, việc quản lý rủi ro tín dụng đối với những khoản vay này là cần thiết và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Điều này, khiến mỗi ngân hàng phải xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro tín dụng cá nhân riêng cho mình
Vậy, quản lý rủi ro tín dụng cá nhân và những nội dung của quản lý rủi ro
là gì? Một chương trình quản lý rủi ro toàn diện phải có những yếu tố nào? Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng cá nhân hiện nay tại Ngân hàng Nam Á – Chi nhánh Nha Trang và những biện pháp được nào coi là hiệu quả để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng?
Đó chính là lý do em chọn đề tài “Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại ngân hàng TMCP Nam Á – Chi nhánh Nha Trang” được lựa chọn làm đối
tượng nghiên cứu trong luận văn này
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống về cơ sở lý luận về quản lý rủi ro tín dụng cá nhân của NHTM
- Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng trong thời gian qua của Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang, từ đó đánh giá những mặt tích cực cũng như hạn chế của những biện pháp phòng chống rủi ro áp dụng trong thời gian qua
Trang 12- Đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng, góp phần cao hiệu quả và chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Á – Chi nhánh Nha Trang
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Nam Á – Chi nhánh Nha Trang giai đoạn 2010 - 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng, đề tài nghiên cứu đã được thực hiện trên cơ sở:
- Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Á – Chi Nhánh Nha Trang
- Trao đổi kinh nghiệm với các cán bộ tín dụng công tác tại Ngân hàng Nam Á Đồng thời, ghi nhận các ý kiến, nhận định của các cán bộ tín dụng qua các mẫu điều tra về nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các giải pháp góp phần hạn chế rủi ro tín dụng
- Trên cơ sở lý luận, các số liệu thực tế tổng hợp được, kết quả các mẫu điều tra và các ý kiến nhận định của cán bộ tín dụng, tác giả sử dụng các phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, công tác quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nam Á – CN Nha Trang
5 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng cá nhân và quản lý RRTD cá nhân của NHTM Việt Nam
- Khái quát thực trạng RRTD, quản lý RRTD cá nhân của Ngân hàng Nam
Á – CN Nha trang trong thời gian qua
- Đề xuất các giải pháp phù hợp với Ngân hàng Nam Á – CN Nha trang nhằm hạn chế RRTD cá nhân trong thời gian tới
6 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Như đã trình bày, tín dụng là hoạt động chủ yếu của NHTM Việt Nam hiện nay, nó mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân hàng Tuy nhiên, bản thân tín
Trang 13dụng lại chứa đựng rất nhiều rủi ro nên các ngân hàng luôn tìm cách nhằm kiểm soát và hạn chế đến mức thấp nhất RRTD Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này, tác giả xin trình bày một số tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thái (2007) về: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” Tác giả đã nêu ra một số nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đó là: Quy trình cấp tín dụng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, chưa đa dạng hóa danh mục đầu tư đúng mức, năng lực phân tích,
dự báo, thẩm định rủi ro của CBTD còn yếu, tâm lý ỷ lại TSTC, Đề tài cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế RRTD đó là: Xây dựng chính sách tín dụng đầy đủ bằng văn bản, có bộ máy quản lý RRTD chuyên trách, chú trọng nâng cấp hệ thống thông tin báo cáo
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Lê Thị Hồng Điều (2008) về: “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” Tác giả đã nêu ra một số nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là: Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ, đạo đức nghề nghiệp của cán
bộ, thiếu sự kiểm tra giám sát sau khi cho vay, tốc độ tăng trưởng tín dụng, trên cơ sở phân tích, đánh giá đề tài cũng đề ra một số giải pháp nhằm hạn chế RRTD do các nguyên nhân trên gây ra
- Tương tự, luận văn thạc sĩ kinh tế của Trần Nguyễn Hạ Đoan (2010) về:
“Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài gòn Công Thương – Chi Nhánh Đà Nẵng” Tác giả đã nêu ra một số nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Sài gòn Công Thương – Chi nhánh Đà Nẵng đó là: Chưa thẩm định kỹ dự án về thị trường tiêu thụ và chưa tiến hành tái thẩm định khi dự án đi vào hoạt động, hồ sơ pháp lý liên quan đến khoản vay chưa đầy đủ, Từ đó, tác giả đề ra một số giải pháp nhằm hạn chế RRTD do các nguyên nhân trên gây ra như: Nâng cao năng lực quản lý rủi ro tín dụng cho cán bộ quản trị và tác nghiệp, thực hiện nghiêm túc quy trình tín dụng, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, đánh giá khách hàng Các giải pháp này, giúp tác giả có cái nhìn đầy
đủ hơn về RRTD, về quản trị RRTD làm cơ sở nghiên cứu cho luận văn của mình
Trang 147 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được kết cấu thành
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng Cá nhân của NHTM Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý rủi ro tín dụng Cá nhân tại
Ngân hàng TMCP Nam Á – Chi nhánh Nha Trang giai đoạn 2010 - 2013
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín
dụng Cá nhân tại Ngân hàng TMCP Nam Á – Chi nhánh Nha Trang
Trang 15CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được nước CHXHCN Việt Nam thông qua thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Có nhiều cách định nghĩa nhưng tựu lại thì tín dụng ngân hàng chứa ba nội dung:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro
Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay cá nhân có quy mô rất
Trang 16nhỏ với rủi ro vỡ nợ cao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp Cùng với sự phát triển, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới những cá nhân như một khách hàng trung thành, tiềm năng Cho tới những năm 1920 và 1930 nhiều ngân hàng lớn đã thành lập phòng tín dụng cá nhân lớn mạnh Sau Chiến tranh thế giới thứ II, tín dụng cá nhân đã trở thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất Mặc dù tốc
độ tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do cạnh tranh về cho vay đối với cá nhân ngày càng trở nên gay gắt trong nền kinh tế Tuy nhiên, khách hàng cá nhân vẫn là khách hàng mục tiêu của các ngân hàng thương mại và vẫn tạo ra
một trong số những nguồn thu quan trọng nhất
Trước đây, người vay tiền, nhất là cá nhân ít có tiếng nói Người ta chỉ cấp rất ít hoặc không cấp tín dụng cho họ Tín dụng cấp cho cá nhân trên thực tế được xem là không lành mạnh Hơn nữa đối với một chủ ngân hàng có danh tiếng thì chỉ quan tâm đến tín dụng cho các doanh nghiệp Có thời kỳ đó được coi là chức năng cao quý của những ngân hàng lớn Sau đó, các ngân hàng khác với tư cách là người đi tiên phong đã tiến hành những hoạt động mà các ngân hàng cổ điển khác xem thường hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân
Đó cũng chính là một trong những lý do quan trọng đóng góp vào sự thành công của những ngân hàng mới
Muốn đề cập chủ yếu tới các doanh nghiệp, song cũng không quên tầm quan trọng không ngừng tăng lên của tín dụng đối với cá nhân Sự tăng lên này
có phần bắt nguồn từ sự đình trệ nào đó của tín dụng đối với các doanh nghiệp lớn, do sự cải tiến của việc tự cấp vốn, việc thực hiện mạnh mẽ các nghiệp vụ tài chính, sự phát triển của các thị trường và cũng do việc tăng trưởng yếu ớt của đầu tư bởi giá cả thực tế của tín dụng đã buộc chỉ tiến hành các đầu tư có doanh lợi thực sự
Vậy tín dụng cá nhân là gì? Trên cơ sở định nghĩa “Tín dụng ngân hàng”
nêu trên và trong phạm vi của luận văn này, ta có thể hiểu Tín dụng cá nhân là
Trang 17hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời gian nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh tế cá thể [1] Các cá nhân đi vay là những ai? Họ có thể là những người buôn bán nhỏ, nông dân, hộ thủ công nghiệp, thợ may, cơ khí, thanh niên, phụ nữ, sinh viên, tài xế taxi, cơ sở sản xuất nhỏ… Hoặc là đại diện của hộ gia đình (là những người được các thành viên có đủ năng lực pháp luật và hành vi dân sự trong hộ gia đình uỷ quyền những người thay mặt hộ gia đình ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay và cam kết cùng trả nợ cho Ngân hàng)
Các đặc tính cho vay cá nhân:
- Thường là các khoản vay vốn ngắn và trung hạn, đặc biệt là các khoản vay mua bất động sản thời gian có thể lên tới 15 – 20 năm
- Quy mô khoản vay: Ngoại trừ những khoản vay mua bất động sản, hầu hết các khoản vay tiêu dùng đều có giá trị nhỏ nhưng số lượng các khoản vay thì lớn, mỗi cán bộ tín dụng quản lý một lượng khách hàng khoảng từ 100 – 200 khách hàng
- Lãi suất cho vay phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế: Tăng lên khi nền kinh tế
mở rộng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái
- Đối tượng vay vốn khách hàng cá nhân có thể là những người buôn bán nhỏ, công nhân viên chức, công nhân, nông dân, người sản xuất nhỏ… hoặc là đại diện của hộ gia đình người mà được các thành viên có đủ năng lực pháp luật
và hành vi dân sự trong hộ gia đình ủy quyền thay mặt hộ gia đình ký hợp đồng tín dụng Hiện nay, những người có thu nhập cao có nhu cầu vay nhiều hơn so với người có thu nhập thấp và họ thường vay với nhu cầu cao hơn so với thu nhập hàng năm của mình để đạt được mức sống như mong muốn hơn là một sự lựa chọn chỉ được dùng trong tình trạng khẩn cấp
- Nguồn trả nợ: Thường được lấy từ lương, các khoản thu nhập định kỳ hàng tháng hoặc thu nhập từ hoạt động kinh doanh cá nhân khác
Trang 18- Chi phí quản lý khoản vay cá nhân lớn do ngân hàng thường phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông tin người vay trước khi đưa ra quyết định cho vay Hơn nữa việc quản lý những khoản tín dụng có giá trị thường nhỏ, số lượng các khoản tín dụng thì lớn không hề đơn giản đối với ngân hàng Do đó, chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ cho vay cá nhân thường cao hơn so với việc cho vay theo loại hình khác
- Rủi ro: Các khoản tín dụng cá nhân thường tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng nguyên nhân là do thông tin cá nhân thường không được cung cấp đầy đủ gây khó khăn cho việc thẩm định và quyết định cho vay đối với khoản tín dụng cá nhân Mặt khác, tình hình tài chính của cá nhân và hộ gia đình
có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc hay sức khỏe của họ Các thông tin tài chính của cá nhân thường không rõ ràng và minh bạch như báo cáo tài chính được kiểm toán của doanh nghiệp
- Lợi nhuận: Đối với ngân hàng thì khoản mục cho vay cá nhân là khoản mục cho vay mang lại lợi nhuận cao do rủi ro và chi phí cho vay cá nhân lớn nên ngân hàng thường đặt ra mức lãi suất cao đối với khoản mục cho vay này Mức lãi suất này phải đáp ứng được phần lợi nhuận mong đợi dự kiến và phần bù đắp khi rủi ro xảy ra
1.1.2 Phân loại tín dụng cá nhân
Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra hầu hết các nguồn thu của Ngân hàng Ngân hàng cung cấp rất nhiều hình thức tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàng với nhiều mục đích sử dụng khác nhau Có nhiều tiêu thức phân loại tín dụng khác nhau, tuỳ theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng Để tránh nhầm lẫn và có cái nhìn tổng quát về các loại hình tín dụng, khi xem xét tín dụng ngân hàng, chúng ta phải phân loại theo các tiêu thức khác nhau để thuận lợi cho quá trình quản lý
Trong bài viết này, với mục đích tiếp cận những vấn đề liên quan đến rủi
ro tín dụng cá nhân, từ đó đưa ra những biện pháp nhằm tăng cường quản lý rủi
Trang 19ro này Do đó, chỉ xin phép tiếp cận với những tiêu thức phân loại tín dụng mà
có ảnh hưởng đến mục đích bài viết
- Theo đối tượng khách hàng vay vốn, tín dụng được chia làm hai loại: + Tín dụng cá nhân: Là các cá nhân hay đại diện hộ gia đình vay vốn
nhằm mục đích tiêu dùng hay tài trợ cho sản xuất kinh doanh cá nhân
+ Tín dụng đối với doanh nghiệp: Đối tượng đi vay là các doanh nghiệp,
tổ chức có tư cách pháp nhân Doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng để mua sắm
trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ…
Khách hàng vay vốn của ngân hàng rất đa dạng, việc phân loại theo đối tượng vay giúp xác định rõ người vay, người đại diện vay vốn để có những biện pháp quản lý tín dụng Ví như, đối với một doanh nghiệp lớn, nơi mà trách nhiệm được chia nhỏ thì việc quản lý khác so với những món vay cá nhân, nơi mà ông chủ là người quyết định tối cao
- Theo mục đích vay, tín dụng được chia làm hai loại:
+ Cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ cho
mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình Các khoản cho vay là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như mua nhà, mua sắm các phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt học tập
… trước khi họ có đủ năng lực tài chính để hưởng thụ
+ Cho vay kinh doanh: Đối với hầu hết các ngân hàng, cho vay kinh doanh
thường được gọi là các khoản cho vay thương mại và công nghiệp Đây được xem là một trong những khoản mục cho vay quan trọng nhất của hầu hết các NHTM Vay kinh doanh nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lưu động, tài sản cố định và hầu hết đó là những khoản vay trung dài hạn
Như vậy, người đi vay sau khi nhận được quyền sử dụng vốn vay, sẽ sử dụng cho các mục đích khác nhau như tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh Mục đích sử dụng vốn vay khác nhau sẽ đưa đến những nội dung quản lý rủi ro tín dụng khác nhau Việc phân loại tín dụng theo tiêu thức mục đích vay là rất quan trọng, bởi lẽ mục đích vay vốn là yếu tố hàng đầu quyết định đến việc sử dụng vốn vay của khách hàng và khả năng thu hồi vốn vay của ngân hàng Tuỳ theo
Trang 20mục đích vay, khách hàng và ngân hàng xác định nguồn trả nợ ngân hàng Đối với khoản vay tài trợ cho sản xuất, kinh doanh, nguồn trả nợ chính là từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đó Đối với những khoản vay tiêu dùng, nguồn trả nợ là nguồn thu nhập của người vay Từ đó cho thấy, với mỗi mục đích vay khác nhau sẽ dẫn đến nguồn trả nợ khác nhau, mỗi nguồn này lại chịu sự tác động của các yếu tố không giống nhau và chứa đựng những rủi ro tiềm tàng khác nhau Vì lý do này, mỗi NHTM lại phải xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro tín dụng cho mỗi loại hình mục đích vay vốn
- Theo thời hạn sử dụng, tín dụng được chia thành ba loại:
+ Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn không quá một năm,
dùng để “bổ sung” phần vốn lưu động còn thiếu phát sinh trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp, đôi khi cũng được doanh nghiệp bổ trợ tạm thời cho vốn đầu tư dài hạn khi có nguồn đảm bảo chi trả trong ngắn hạn Đối với mỗi hộ gia đình, tín dụng ngắn hạn được sử dụng để mua sắm đồ dùng phục vụ nhu cầu cá nhân
+ Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được
thực hiện để phục vụ cho những đầu tư dài hạn hay đầu tư vào tài sản cố định
+ Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của khoản vay cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng Thời gian càng dài, rủi ro tiềm ẩn của khoản vay càng cao Ngân hàng phải có những chính sách quản lý ngay cả khi rủi ro còn là tiềm ẩn
- Theo phương thức đảm bảo đối với khoản vay, tín dụng được chia làm hai loại:
+ Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản
+ Tín dụng không có tài sản bảo đảm
Phân loại theo phương thức đảm bảo giúp các nhà quản lý ngân hàng có thể đưa ra những biện pháp giám sát, kiểm tra và thu hồi nợ phù hợp với từng khoản vay
Trang 21Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng ngày càng xuất hiện nhiều loại khác nhau, với những ưu điểm mới nhằm đáp ứng nhu cầu đó
1.1.3 Vai trò của tín dụng cá nhân
Đối với ngân hàng :
- Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian trong nền kinh tế, với hoạt động chính là huy động tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội để thực hiện cho vay đối với nền kinh tế Hoạt động cho vay của ngân hàng phải đảm bảo bù đắp được tất cả chi phí có liên quan và tạo ra được một khoản sinh lời cần thiết để hoạt động kinh doanh của ngân hàng có lãi và tăng trưởng Đối với tín dụng cá nhân là một danh mục cho vay với lãi suất hấp dẫn, đặc biệt là cho vay tiêu dùng thường có lãi suất cho vay cao hơn lãi suất cho vay kinh doanh Hơn nữa, số lượng các món vay cá nhân lớn nên rủi ro sẽ được phân tán do đó thu nhập từ cho vay khách hàng cá nhân là một nguồn thu không nhỏ và có thể
bù đắp được chi phí hoạt động
- Ngoài ra, khi ngân hàng thương mại kết hợp với các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa như hàng điện tử gia dụng để giúp người tiêu dùng có thể mua hàng trả góp Việc làm này giúp ngân hàng tăng thêm khách hàng, tránh được rủi ro khách hàng sử dụng vốn sai mục đích
- Mặt khác, khi thực hiện tài trợ cho khách hàng là cá nhân thì ngân hàng có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư do nhu cầu sản xuất và đặc biệt là nhu cầu tiêu dùng của khách hàng luôn đa dạng Do đó, ngân hàng có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình và có thể nâng cao thu nhập đồng thời phân tán rủi ro có thể gặp trong hoạt động tín dụng
Trang 22một khoản tiền lớn để thỏa mãn những nhu cầu đó mà phải qua tích lũy Trong nhiều trường hợp người ta có thể hưởng thụ khi về già Các khoản vay tiêu dùng
đã giúp khách hàng giải quyết vấn đề đó, giúp kết hợp nhu cầu hiện tại với khả năng thanh toán trong tương lai để nâng cao chất lượng cuộc sống của chính bản thân họ
Đối với nền kinh tế :
- Thông qua việc cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng đã trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Bằng việc cho vay sản xuất kinh doanh đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình, ngân hàng tài trợ vốn cho khu vực kinh tế tư nhân, hộ gia đình, thúc đẩy sự phát triển của thành phần kinh
tế này Mặt khác, như chúng ta đã biết, sản xuất, lưu thông và tiêu dùng là một quá trình trong đó có sự gắn kết chặt chẽ Sản xuất ra sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng, do vậy tiêu dùng kích thích sản xuất, là đích mà sản xuất hướng tới Muốn đẩy mạnh sản xuất thì phải đẩy mạnh tiêu dùng Thông qua cho vay tiêu dùng, ngân hàng đã góp phần đáng kể vào việc kích cầu nền kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của nền kinh tế
- Thông qua cấp tín dụng cho người tiêu dùng, ngân hàng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện tái sản xuất sức lao động, nâng cao khả năng làm việc, hiệu quả công việc mà họ đảm nhận
- Ngoài ra, việc kết hợp với các doanh nghiệp xây dựng, kinh doanh hàng điện tử cho khách hàng có thể mua hàng trả góp thì ngân hàng đã giúp những doanh nghiệp này bán được hàng và có vốn để tiếp tục tái sản xuất, mở rộng sản xuất
1.2 Rủi ro trong tín dụng cá nhân của NHTM
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng cá nhân
Rủi ro tín dụng trong hoạt động rất đa dạng nó có thể là rủi ro khi ngân hàng bị ứ đọng vốn, rủi ro thiếu vốn khả dụng do sự chênh lệch về tỷ trọng giữa vốn cho vay và vốn đi vay theo tiêu thức thời gian, rủi ro tín dụng khi các vật bảo đảm tín dụng không còn giá trị như khi đánh giá ban đầu trước khi cho vay hay rủi ro tín dụng khi ngân hàng không thu hồi được nợ Theo điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
Trang 23trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì,
“Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa
vụ của mình theo cam kết” Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này chỉ xem xét rủi ro tín dụng khi ngân hàng không thu hồi được nợ hay còn gọi là nợ quá hạn, nợ khó đòi đối với những khoản tín dụng cá nhân
Như vậy, từ định nghĩa trên ta có thể hiểu: Rủi ro tín dụng cá nhân là khả
năng có thể xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng do khách hàng cá nhân vay vốn không thực hiện được các nghĩa vụ theo đúng cam kết của mình dẫn đến việc ngân hàng có thể bị thiệt hại Có nghĩa là cá nhân vay vốn không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ Hoặc nói một cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả
về mặt số lượng và thời hạn Các ngân hàng sẽ không bị đe dọa bởi rủi ro tín dụng nếu luôn luôn nhận lại được cả gốc và lãi của các khoản vay đúng thời hạn, ngược lại nếu người vay gặp khó khăn tài chính, thì cả gốc và lãi khoản vay bị đặt trong tình trạng rủi ro không thu hồi được
Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không
có hiệu quả Khi gặp phải rủi ro tín dụng ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng
Như vậy, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói
Trang 24chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay
1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cá nhân
Rủi ro ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt động Rủi ro thất thoát tài sản khi cấp tín dụng cá nhân có thể phát sinh khi một bên đối tác (cá nhân vay vốn) không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là
nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn
Việc phân loại rủi ro tín dụng cá nhân theo nguyên nhân dẫn đến rủi ro hợp lý sẽ giúp nâng cao khả năng và hiệu quả áp dụng những phương pháp phù hợp trong việc quản lý rủi ro Cơ sở khoa học của việc phân loại rủi ro sẽ tạo điều kiện cho các nhà quản trị ngân hàng có thể xác định rõ ràng vị trí của từng loại rủi ro, nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hệ thống
Rủi ro tín dụng cá nhân dẫn đến nợ quá hạn do nhiều nguyên nhân và tuỳ vào từng tiêu thức phân loại, mục đích nghiên cứu hoặc đứng dưới giác độ khác nhau, người ta có thể phân loại theo những nhóm nguyên nhân khác nhau
Thứ nhất, các nguyên nhân khách quan
- Rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng thuộc về thiên nhiên như: Thiên
tai, dịch họa, sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng… gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng của mình Những nguyên nhân này có thể gây ra những ảnh hưởng xấu đến hoạt động của khách hàng cá nhân Lĩnh vực hoạt động của cá nhân thường có phạm
vi nhỏ, chỉ một thay đổi nhỏ cũng có thể gây ra những tác động mạnh mẽ đến hoạt động đó Từ đó, dẫn đến khả năng không hoàn trả được nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng xảy ra
- Rủi ro do thay đổi cơ chế chính sách như: Chính trị, điều chỉnh chính sách,
chế độ luật pháp của nhà nước hoặc thay đổi địa giới hành chính các địa phương, sự sáp nhập hay tách ra của các bộ ngành trong nền kinh tế Những thay
Trang 25đổi và điều chỉnh này tuy cần thiết trong quá trình phát triển của đất nước, nhưng đôi khi cũng có tác động tiêu cực đến quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng của mình
- Rủi ro do môi trường pháp lý: Nếu môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh sẽ
không đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh, dẫn đến các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng Cơ chế, chính sách, quy định của Nhà nước, của chính quyền các cấp thay đổi cũng có thể dẫn đến rủi ro khi khách hàng sử dụng vốn vay của khách hàng
- Rủi ro do thiếu thông tin: Do thiếu hoặc không thể biết hết các thông tin về
khách hàng, ngân hàng thường phải đối mặt với các rủi ro như:
+ Rủi ro do sự thiếu chính xác trong cung cấp thông tin cho ngân hàng của các cơ quan chức năng có liên quan, hoặc do thiếu các quy định, chế tài cần thiết của nhà nước trong việc cung cấp thông tin như chế độ báo cáo tài chính của khách hàng các quy định về cung cấp và sử dụng thông tin
+ Rủi ro đạo đức: Mặc dù ngân hàng đã cố gắng kiểm tra kĩ càng, nhưng khách hàng vẫn cố tình vi phạm, che dấu thông tin hoặc làm sai lệch thông tin về mình như cố tình lập báo cáo tài chính thiếu trung thực, cố tình sử dụng vốn sai mục đích…Trong lĩnh vực tài chính sau khi cấp tín dụng, những người được cấp tín dụng luôn luôn có xu hướng muốn thực hiện các đầu tư rủi ro hơn những người cho vay mong đợi, vì chủ đầu tư sẽ có được những khoản lợi nhuận rất lớn nếu dự án thành công, trong khi những người cấp tín dụng chỉ nhận được một khoản lợi ích cố định Ngược lại, nếu dự án thất bại thì bên cho vay sẽ bị mất một phần hoặc toàn bộ vốn do không được hoàn trả đầy đủ
- Rủi ro do nhân tố quốc tế: Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, tín dụng
trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với tín dụng quốc tế, dễ bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế, chính trị quốc tế, các chính sách tài chính của các quốc gia
Thứ hai, các nguyên nhân chủ quan
- Rủi ro do ngân hàng không có chính sách cho vay rõ ràng, phù hợp với thực trạng nền kinh tế Chính sách cho vay của một ngân hàng là kim chỉ nam
Trang 26cho hoạt động tín dụng của ngân hàng đó Chính sách cho vay thống nhất, đầy
đủ và đúng đắn sẽ giúp CBTD xác định đúng phương hướng khi thực hiện nhiệm vụ của mình, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng Ngược lại, một chính sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất sẽ làm cho hoạt động tín dụng lệch lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo ra kẽ hở cho người sử dụng vốn, dẫn đến tín dụng – nợ quá hạn
- Rủi ro do tính toán không chính xác hiệu quả đầu tư dự án xin vay, dẫn đến các quyết định sai lầm trong cho vay Cán bộ tín dụng chưa được đào tạo đầy đủ, không am hiểu về lĩnh vực kinh doanh mà mình đang cho vay hoặc đôi khi, do chính CBTD cố ý cho vay, mặc dù biết dự án cho vay không hiệu quả, gây rủi ro cho ngân hàng
- Rủi ro do ngân hàng đánh giá chưa đúng mức về khoản vay, về người đi vay hoặc do chủ quan tin tưởng vào khách hàng quen của mình mà coi nhẹ khâu kiểm tra về tình hình tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và tương lai, nguồn trả nợ…
- Rủi ro do thiếu thông tin tín dụng, hoặc thông tin tín dụng không chính xác, kịp thời, dẫn đến ngân hàng không có danh sách “phân loại khách hàng” để có sự phân tích, đánh giá khách hàng cá nhân một cách khách quan, đúng đắn
- Rủi ro do ngân hàng thiếu một cơ chế theo dõi, quản lý rủi ro, thiếu hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc các nghành nghề, lĩnh vực sản phẩm, địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, chưa đủ các tiêu thức để đo lường rủi ro, rủi ro tối đa cho phép chấp nhận đối với từng khách hàng, nhóm khách hàng thuộc các ngành khác nhau
1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng
- Đối với hoạt động của ngân hàng:
+ Rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng cá nhân nói riêng xảy ra có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh làm giảm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng Dù xảy ra ở mức độ nào thì RRTD cũng để lại những thiệt hại cho ngân hàng
Trang 27+ Rủi ro tín dụng cá nhân làm cho lợi nhuận suy giảm: Khi xảy ra ở mức
độ nhẹ là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng hơn là ngân hàng không thu được cả vốn lẫn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Mặt khác ngày nay, hoạt động tín dụng cá nhân chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng tài sản có của một NHTM, đó là hoạt động tạo ra lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng Do vậy, nếu có rủi ro trong hoạt động tín dụng cá nhân thì lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm sút
+ Rủi ro tín dụng cá nhân làm giảm uy tín của ngân hàng: Một ngân hàng
có rủi ro tín dụng cá nhân lớn thể hiện là một ngân hàng kinh doanh kém, điều này thể hiện nguy cơ bị mất vốn cao Trong khi đó, ngân hàng kinh doanh bằng nguồn vốn huy động được từ nguồn tiền gửi, tiền tiết kiệm của dân cư, do vậy dân chúng sẽ thiếu lòng tin vào khả năng kinh doanh và khả năng hoàn trả của ngân hàng Kết quả là khả năng huy động vốn của ngân hàng gặp khó khăn + Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng: Các khoản tín dụng cá nhân có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, trong khi
đó thì ngân hàng phải thanh toán những khoản tiết kiệm, tiền gửi của dân cư khi đến hạn Khi rủi ro tín dụng ở mức nhẹ thì ngân hàng có đủ khả năng để chi trả, nhưng khi rủi ro tín dụng xảy ra ở mức độ nghiêm trọng, khi đó uy tín của ngân hàng bị giảm sút dẫn đến việc rút tiền của dân cư tăng lên thì khả năng thanh khoản của ngân hàng bị giảm sút nghiêm trọng
+ Rủi ro tín dụng cá nhân là nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng: Khi rủi
ro tín dụng cá nhân xảy ra với tình trạng kéo dài không khắc phục được, với sự tác động trên 3 phương diện trên dẫn đến một mức độ nào đó thì sẽ đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản
- Đối với nền kinh tế:
Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng với tư cách là trung gian tài chính của đời sống kinh tế, nó có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với các tổ chức kinh tế Vì vậy, kinh doanh ngân hàng gặp phải rủi ro tất yếu sẽ gây ra những ảnh hưởng đối với nền kinh tế và đời sống kinh tế
xã hội Rủi ro làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm, từ đó ngân hàng không có khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng và chi trả chậm đối với người cho
Trang 28vay Vì vậy, xét trong nền kinh tế rủi ro làm cho sản xuất bị đình trệ, các doanh nghiệp phải đóng cửa, hàng hoá không đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường, tới một chừng mực nào đó làm giá cả hàng hóa tăng vọt, đó chính là một trong những nguyên nhân của lạm phát Mặt khác, các ngân hàng thường lập thành một hệ thống chặt chẽ có mối liên hệ với nhau, khi một ngân hàng gặp phải rủi
ro có nguy cơ dẫn đến phá sản dễ dàng kéo theo tình trạng khủng hoảng của cả
hệ thống ngân hàng, gây mất ổn định trên thị trường tiền tệ Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế phát triển, mọi hoạt động thanh toán giao dịch của khách hàng đều được thực hiện qua ngân hàng, các doanh nghiệp sống chủ yếu nhờ vốn ngân hàng, nên khi ngân hàng gặp rủi ro lớn có thể gây chậm trễ trong công tác thanh toán của khách hàng, làm cản trở trực tiếp quá trình chu chuyển vốn tất yếu làm giảm lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.4 Chỉ số đo lường rủi ro tín dụng
Việc kinh doanh khó có thể thất bại qua một đêm, do vậy mà sự thất bại
đó thường có một vài dấu hiệu báo động Có dấu hiệu biểu hiện mờ nhạt, có dấu hiệu biểu hiện rất rõ ràng Ngân hàng cần có phương pháp nhận ra những dấu hiệu này để từ chối cho vay (trong trường hợp trước khi cho vay) hoặc để ngăn ngừa xử lý kịp thời (trong trường hợp đã cho vay) Các dấu hiệu này đôi khi không phải có thể nhận ra ngay trong một thời điểm mà phải sau một quá trình quan sát và nghiên cứu Có thể sắp xếp các dấu hiệu của rủi ro tín dụng theo các nhóm sau:
Thứ nhất: Nợ quá hạn là những khoản nợ mà khách hàng không trả được
khi đến hạn thanh toán đã ghi trên hợp đồng tín dụng
Có thể nói đây là một chỉ tiêu rộng rãi nhất để đánh giá kết quả quản lý rủi
ro tín dụng của NHTM Chỉ tiêu này càng cao thì mức độ rủi ro tín dụng của NHTM càng lớn, việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng chưa tốt Tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng được xác định như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn trong kỳ =
Số dư nợ quá hạn trong kỳ
*100%
Tổng dư nợ trong kỳ
Trang 29Thứ hai: Tỷ lệ nợ xấu
Nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu nợ quá hạn thôi thì chưa đủ để đánh giá một cách đúng đắn việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng Ngoài chỉ tiêu số tuyệt đối người ta còn sử dụng chỉ tiêu số tương đối là tỷ lệ nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng được xác định như sau:
Tỷ lệ nợ xấu trong kỳ =
Số dư nợ xấu trong kỳ
*100%
Tổng dư nợ trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh bao nhiêu phần trăm tổng dư nợ chưa thanh toán bị quá hạn Tỷ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng của ngân hàng càng lớn, phản ánh việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng chưa tốt Ngược lại, tỷ lệ này thấp phản ánh việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng đạt kết quả tốt
Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp trong một số trường hợp không đồng nghĩa với việc ngân hàng không có rủi ro tín dụng Vì rủi ro có thể đang tiềm tàng trong tổng dư nợ hiện tại của ngân hàng, không phải là những khoản vay chưa đến hạn thanh toán là không có rủi ro Vì thế ngoài hai chỉ tiêu định lượng cơ bản trên người ta còn sử dụng chỉ tiêu định tính sau:
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân của NHTM
1.3.1 Quan niệm quản lý rủi ro tín dụng cá nhân
Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân là một bộ phận của quản lý rủi ro tín dụng nằm trong khuôn khổ quản lý rủi ro chung của ngân hàng thương mại Ban lãnh đạo NHTM có trách nhiệm xây dựng mục tiêu, chiến lược, nhiệm vụ kinh doanh đối với đối tượng khách hàng cá nhân, trong đó xác định rõ những rủi ro và lợi nhuận của ngân hàng, để thiết lập một hệ thống kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng cá nhân hiệu quả, ban lãnh đạo ngân hàng phải tổ chức, giám sát các hoạt
Trang 30động tín dụng theo đúng quy định, đánh giá mức độ rủi ro của hoạt động tín dụng, đưa ra các biện pháp tổ chức để hạn chế rủi ro, đặt ra các hạn mức và giám sát rủi ro Quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả là điểm căn bản cho một phương pháp quản lý rủi ro toàn diện và thành công của bất kỳ ngân hàng nào
Như vậy, quản lý rủi ro tín dụng cá nhân được hiểu là toàn bộ quá trình phòng ngừa, kiểm tra, giám sát liên tục bắt đầu từ khâu thẩm định đánh giá khách hàng cũng như khoản vay của khách hàng trước khi quyết định cho vay, đến giải ngân, theo dõi và các biện pháp xử lý những khoản nợ có vấn đề nhằm giảm thiểu mức độ rủi ro có thể xảy ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng [3]
Mục đích chính của hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của các NHTM là nhằm bảo đảm cho hoạt động tín dụng của ngân hàng không phải gánh chịu những rủi ro có thể làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại của ngân hàng Quản lý rủi ro giúp đảm bảo mức độ rủi ro mà ngân hàng gánh chịu không vượt quá khả năng về vốn và tài chính của ngân hàng
1.3.2 Quy trình quản lý rủi ro tín dụng
Các nhà quản trị ngân hàng luôn đứng trước nhiều thách thức: Làm thế nào để tăng lợi nhuận với rủi ro thấp hơn, hay nên chấp nhận mức độ rủi ro tổng thể là bao nhiêu để tăng lợi nhuận? Khó có thể tìm ra câu trả lời! Tùy từng thời
kỳ mà mỗi ngân hàng lại đề ra những kế hoạch khác nhau trong đánh đổi lợi nhuận và rủi ro để giải quyết cả hai vấn đề thu nhập và rủi ro một cách hợp lý
Theo nguyên tắc chung trong quản lý rủi ro thì việc quản lý rủi ro phải đảm bảo thực hiện đồng bộ những nội dung sau [3]:
- Nhận diện rủi ro
- Đo lường rủi ro
- Kiểm soát rủi ro
- Tài trợ rủi ro
1.3.2.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng
Nhận dạng rủi ro là việc nhận ra những hoạt động hay điều kiện tạo nên hay làm gia tăng khả năng tổn thất Nhà quản trị rủi ro phải hiểu được bản chất
Trang 31của những rủi ro, nó xuất hiện như thế nào và tác động ra sao để dẫn đến tổn thất? Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc nghiên cứu, xem xét môi trường hoạt động của tổ chức nhằm theo dõi các rủi ro đang có, nhận dạng các rủi ro mới và điều tiết các thay đổi về quy luật các rủi ro của tổ chức
Sau khi nhận dạng được các loại rủi ro, ngân hàng phải tiến hành ngay các bước xác định mức độ nghiêm trọng của nó và nguyên nhân gây ra rủi ro, đồng thời phải phân loại ngay chất lượng khoản vay [3]
1.3.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng
Để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong các quyết định cho vay, các ngân hàng cần có các phương pháp nhằm xác định khả năng trả nợ của khách hàng Điều này phụ thuộc vào khối lượng thông tin về khách hàng mà các ngân hàng có thể thu thập được Đối với cấp tín dụng cá nhân, phần lớn nguồn thông tin thu thập được là do sự cung cấp của khách hàng và sự điều tra của ngân hàng (không giống như tín dụng đối với doanh nghiêp còn có sự công bố thông tin rộng rãi trên các báo cáo tài chính…) Tuy nhiên, lợi thế của công nghệ thông tin đang làm cho sự đánh giá rủi ro tín dụng về mặt lượng thậm chí của một khách hàng nhỏ cũng trở nên có tính khả thi và chi phí thấp
Có hai phương pháp tương đối cơ bản mà các NHTM thường sử dụng để đánh giá RRTD là mô mình phản ánh định tính và mô hình phản ánh định lượng Các phương pháp này không loại trừ lẫn nhau nên NHTM có thể sử dụng cả hai phương pháp để phân tích đánh giá mức độ RRTD của khách hàng
Để sử dụng được phương pháp định tính trong đánh giá RRTD, ngân hàng phải thu thập được các thông tin liên quan đến chất lượng về người vay bằng cách tự thu thập qua điều tra, thẩm định hoặc mua thông tin từ các Trung tâm phân loại và đánh giá khách hàng Các thông tin về người vay bao gồm các yếu
tố cơ bản về khả năng tài chính của người vay vốn, uy tín của người vay, chất lượng các phương án đầu tư, tài sản thế chấp, các yếu tố liên quan đến thị trường
Phương pháp định lượng RRTD cho phép ban lãnh đạo ngân hàng đánh giá mức độ rủi ro gặp phải của ngân hàng liệu đã đáp ứng được chiến lược quản
lý RRTD hay chưa Thực hiện phương pháp này các ngân hàng phải áp dụng hệ
Trang 32thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng như một quy trình đánh giá, xác suất một khách hàng tín dụng không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng Mức độ RRTD thay đổi theo từng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá thang điểm, dựa vào thông tin tài chính và phi tài chính của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng [3]
1.3.2.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng
Kiểm soát rủi ro là những hoạt động tập trung vào việc ngăn ngừa, né tránh hay làm giảm bớt tính bất định của các yếu tố rủi ro, nâng cao các biểu hiện tích cực, giảm thiểu các biểu hiện tiêu cực các yếu tố rủi ro, thu thập được các nguồn thông tin chính xác về yếu tố rủi ro giúp cho việc đo lường rủi ro được chính xác và chủ động Ngoài ra, kiểm soát rủi ro còn bao gồm các biện pháp phòng ngừa, khắc phục và làm giảm tổn thất ở mức thấp nhất có thể được nếu tổn thất xảy ra hoặc hạn chế độ lớn của tổn thất làm cho tổn thất nằm trong giới hạn cho phép của tổ chức tín dụng Các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm:
- Né tránh rủi ro: Là chủ động né tránh trước khi có rủi ro xảy ra hoặc loại
bỏ những nguyên nhân gây rủi ro
- Ngăn ngừa rủi ro: Là tìm cách giảm bớt số lượng các rủi ro xảy ra hoặc loại bỏ chúng hoàn toàn
- Giảm thiểu tổn thất: Các biện pháp giảm thiểu tổn thất tấn công vào các rủi ro bằng cách làm giảm bớt giá trị thiệt hại khi tổn thất xảy ra (tức là giảm nhẹ sự nghiêm trọng của tổn thất)
- Đa dạng hóa sản phẩm nhằm phân tán rủi ro: Đây là một nỗ lực nhằm giảm sự tác động của tổn thất lên toàn bộ ngân hàng [3]
1.3.2.4 Tài trợ rủi ro tín dụng
Trong kinh doanh tín dụng, các NHTM thường luôn luôn phải chấp nhận một mức độ rủi ro và không thể tránh né hoàn toàn rủi ro Do đó, một khi tổn thất xảy ra thì phải giải quyết bằng cách tài trợ cho rủi ro đó
Thông thường, các NHTM hiện nay tài trợ rủi ro tín dụng bằng biện pháp chủ yếu là là dùng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng để bù đắp tổn thất Việc lập quỹ
dự phòng rủi ro được coi là một trong những biện pháp quan trọng để quản lý rủi
Trang 33ro tín dụng Ở hầu hết các nước trên thế giới đều thành lập quỹ dự phòng rủi ro
để bù đắp các khoản cấp tín dụng bị rủi ro nếu có xảy ra Có hai loại dự phòng thường được sử dụng là dự phòng chung và dự phòng cụ thể Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Số tiền dự phòng
cụ thể phải trích được tính theo công thức sau:
R = max { 0 , (A - C) } x r
Trong đó:
R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích A: Giá trị của khoản nợ
C: Giá trị của tài sản đảm bảo r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể Ngoài ra, các NHTM có thể phát mại tài sản đảm bảo để tài trợ rủi ro tín dụng Tuy nhiên, công việc này mất rất nhiều thời gian và công sức của ngân hàng và của cả khách hàng vay [3]
1.3.3 Một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM
Để xác định chính xác mức độ rủi ro của mỗi khoản vay, các ngân hàng thường áp dụng một số mô hình cụ thể để đánh giá rủi ro tín dụng Các mô hình này rất đa dạng, bao gồm cả mô hình phản ánh về mặt định tính và mô hình phản ánh về mặt định lượng Đặc điểm của các mô hình này là không loại trừ lẫn nhau, nên một ngân hàng có thể sử dụng cùng một lúc nhiều mô hình khác nhau
để phân tích và đánh giá mức độ rủi ro của khoản vay
1.3.3.2 Mô hình chất lượng:
Dựa trên yếu tố 6C
Trang 34- Tư cách người vay (Character): Tiêu chuẩn này thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích rõ ràng và thiện chí trả nợ của người vay Cán
bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, phải nắm chắc mục đích đó và phải xác định xem có phù hợp với chính sách hiện hành của ngân hàng hay không, lịch sử đi vay và trả nợ của khách hàng; thu thập thông tin về khách hàng từ nhiều nguồn khác như: Tổ chức xếp hạng doanh nghiệp (Rating company), Trung tâm phòng ngừa rủi ro (Risk management Center)… Nếu phát hiện người vay gian dối trong kế hoạch sử dụng và trả nợ như đã thỏa thuận thì cán bộ tín dụng phải từ chối cho vay, nếu không rủi ro tín dụng sẽ phát sinh cho ngân hàng
- Năng lực của người vay (Capacity): Tuỳ thuộc vào quy định luật pháp của từng nước Nhưng nhìn chung, cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng Việc đánh giá này sẽ phần nào đảm bảo khả năng thu hồi nợ và phòng tránh rủi ro cho ngân hàng
- Thu nhập của người vay (Cash): Tiêu chuẩn thu nhập của người vay chủ yếu tập trung vào câu hỏi: Người vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ hay không? Xác định nguồn trả nợ của người vay như: luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản thế chấp, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán… Bất cứ nguồn thu hợp pháp nào của khách hàng đều có thể sử dụng để trả
nợ vay cho ngân hàng Tuy nhiên, ngân hàng ưu tiên quan tâm hơn cả và coi nguồn thu căn bản để trả nợ đó là nguồn thu được tạo ra từ chính khoản vay
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng
và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng trong trường hợp xảy ra những rủi ro người đi vay không trả được nợ Một khoản tín dụng nếu được đảm bảo bằng tài sản của người vay hoặc người bảo lãnh sẽ gắn chặt trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của người đi vay Tuy nhiên, đối với từng ngân hàng tài sản thế chấp, cầm cố phải đáp ứng những điều kiện nhất định Khi đánh giá khía cạnh đảm bảo tiền vay, cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến những
Trang 35yếu tố nhạy cảm như: giá trị, tuổi thọ điều kiện và mức độ chuyên dụng của tài sản, đồng thời khía cạnh công nghệ cũng cần được chú ý
- Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng theo từng thời kỳ như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thanh toán phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ của NHTW quy định theo từng thời kỳ Đánh giá các điều kiện tức là đánh giá xu hướng ngành
và điều kiện kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của khách hàng Cán bộ tín dụng phải biết được thực trạng công việc và ngành nghề kinh doanh của khách hàng, cũng như khi các điều kiện kinh tế thay đổi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của người vay Những yếu tố thay đổi cả điều kiện bên trong (việc mua sắm, đầu tư, chính sách lương thưởng…) và điều kiện bên ngoài (định hướng phát triển kinh tế xã hội của nhà nước, chính sách thuế)
- Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như các thay đổi trong pháp luật và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không?
Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình này là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD [9]
1.3.3.3 Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Để đưa ra được một mô hình quản lý rủi ro hiện đại và hiệu quả phù hợp với từng ngân hàng, trước hết các ngân hàng cần phải lượng hóa được rủi ro tín dụng
Không giống như các mô hình khác, mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng lại dựa trên các yếu tố liên quan đến tiêu dùng của khách hàng (chủ yếu áp dụng đối với khách hàng là cá nhân) Dựa vào một số các tiêu chuẩn mà mô hình sẽ đưa ra điểm cho danh mục đó Do biết chắc có lựa chọn bất lợi sẽ xảy ra, ngân hàng sẽ sử dụng cơ chế sàng lọc (screening) nhằm lựa chọn dự án tốt, khách hàng tốt để cho vay Các yếu tố, tiêu chí quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng nhằm sàng lọc, đánh giá lựa chọn khách hàng bao gồm: mức độ tín nhiệm của khách hàng (thể hiện qua thương hiệu, mối quan hệ lâu dài, kinh nghiệm, trình độ quản lý, khả năng hiểu
Trang 36biết và thực hiện dự án…); năng lực tài chính hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác Cụ thể:
Mô hình cho điểm tín dụng thường sử dụng 7 đến 12 hạng mục, mỗi hạng mục cho điểm từ 1 đến 10 Ví dụ, bảng dưới đây cho thấy những hạng mục và điểm của chúng thường được sử dụng ở các ngân hàng Mỹ [9]
Bảng 1.1: Bảng tính điểm số tín dụng tiêu dùng
1
Nghề nghiệp của người vay
Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh
Công nhân có kinh nghiệm (tay nghề cao)
Nhân viên văn phòng
Sinh viên
Công nhân không có kinh nghiệm
Công nhân bán thất nghiệp
Kinh nghiệm nghề nghiệp
Nhiều hơn 1 năm
Từ 1 năm trở xuống
5
2
5
Thời gian sống ở địa chỉ hiện hành
Nhiều hơn 1 năm
1 năm trở xuống
2
1
Trang 37Các tài khoản tại ngân hàng
Các tài khoản tiết kiệm và phát hành séc
Tài khoản tiết kiệm
(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Văn Tiến 2005, Ngân hàng thương mại)
Khách hàng có điểm cao nhất theo mô hình với 8 mục trên là 43 điểm thấp nhất là 9 điểm Giả sử ngân hàng biết rằng, mức 28 điểm là ranh giới giữa khách hàng có tín dụng tốt và khách hàng có tín dụng xấu; trên cơ sở đó, ngân hàng hình thành 1 khung chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số như sau:
Cho vay đến 1000$
Cho vay đến 2500$
Cho vay đến 3500$
Cho vay đến 8000$
(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Văn Tiến 2005, Ngân hàng thương mại)
Mô hình này bao gồm một hệ thống các tiêu chí liên quan đến từng đối tượng khách hàng, mỗi chỉ tiêu có điểm số khác nhau phụ thuộc vào tính chất và
Trang 38tầm quan trọng của chúng Căn cứ vào tình trạng của khách hàng và thang điểm của ngân hàng, cán bộ tín dụng sẽ quyết định số điểm tương ứng cho từng chỉ tiêu, sau đó cộng tổng số điểm Khi đã có tổng số điểm, căn cứ vào bảng chuẩn cán bộ tín dụng có thể đệ trình quyết định cho vay hoặc từ chối yêu cầu xin vay Với tổng số điểm cao hơn mức điểm chuẩn thì khách hàng đó được vay và thấp hơn mức điểm chuẩn thì ngân hàng từ chối Mức điểm chuẩn tuỳ thay đổi theo từng thời kỳ và phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nền kinh tế cũng như tiềm lực tài chính của ngân hàng và khách hàng Tuy nhiên đối với tín dụng cá nhân, trong trường hợp đánh giá một khách hàng vay vốn, có khi tổng số điểm thấp hơn mức điểm chuẩn để cho vay song lại cao hơn mức chuẩn khác, thì ngân hàng vẫn có thể xem xét kèm theo một số điều kiện bổ sung
Mỗi ngân hàng có thể tự lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu và thang điểm riêng cho mình, dựa vào chính sách tín dụng của ngân hàng đó
Đối với tín dụng cá nhân, có thể bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Các chỉ tiêu tài chính: Thu nhập hàng năm của người vay, số dư tiền gửi tại ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác mà khách hàng có giao dịch…
- Chỉ tiêu phi tài chính: Tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng
cư trú, số người ăn theo…
Mô hình điểm số theo chỉ tiêu đã loại bỏ được sự đánh giá chủ quan trong quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng của ngân hàng Hơn nữa, mô hình này cũng đã xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu
tố, đánh giá các yếu tố phi tài chính bên cạnh các yếu tố tài chính của khách hàng
Tuy nhiên, không thể phủ nhận được những khó khăn mà hệ thống đánh giá xếp hạng tín dụng theo kiểu này sẽ gặp phải đó là vấn đề thông tin không cân xứng giữa ngân hàng thương mại và khách hàng vay Một hạn chế nữa là nó không thể điều chỉnh nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế cũng như chưa phản ánh được những trường hợp khách hàng có hoàn cảnh cá biệt
Một mô hình điểm số không linh hoạt có thể ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng, bỏ sót những khách hàng lành mạnh, làm giảm lòng tin của
Trang 39khách hàng vào dịch vụ của ngân hàng Vì vậy, mỗi ngân hàng phải tự xây dựng cho mình một mô hình chấm điểm tín dụng phù hợp với đặc điểm, tiềm lực tài chính của ngân hàng và các khách hàng
1.4 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng trên thế giới
1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Hoạt động tín dụng tại Trung Quốc cho thấy các khoản Nợ xấu của ngân hàng thương mại tại nước này thường xuất phát từ:
Thứ nhất, dư nợ tín dụng tăng quá nhanh, trong khi cho vay những lĩnh
vực ngoài thị trường truyền thống và dựa vào thế chấp, người bảo lãnh, danh tiếng – là những nguồn trả nợ thứ yếu – mà không đánh giá nguồn trả nợ chính
Thứ hai, trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng có nhiều hạn chế so
với tiêu chuẩn
Thứ ba, coi nhẹ các tiêu chuẩn an toàn tín dụng như: cho vay với kỳ vọng
tài sản hình thành từ vốn vay sẽ có giá trị cao (tuy nhiên tình trạng sốt và giảm giá nhà đất nghiêm trọng ở Thượng Hải gần đây đã làm cho sự kỳ vọng vô nghĩa, giá bất động sản sụt giảm, trị giá thế chấp không đủ bù đắp khoản vay, thanh khoản kém, nguy cơ không trả được nợ là rất lớn); Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản thế chấp quá cao; Cho vay đảm bảo bằng chính cổ phiếu ngân hàng mình; Cơ cấu khoản vay kém hiệu quả, cho vay quá khả năng chi trả; Không văn bản hoá thoả thuận cụ thể về mục đích và cách sử dụng khoản vay, kế hoạch nguồn trả nợ
Thứ tư, giám sát sau giải ngân kém; không giám sát thỏa đáng các khoản
cho vay xây dựng, như đi thực địa, tiến độ rút vốn vay, thanh tra,…Không có chứng từ địa chỉ giao dịch với khách hàng vay, hồ sơ pháp lý không đầy đủ; Không thu thập, xác minh và phân tích các báo cáo trong suốt kỳ hạn hiệu lực khoản vay; Không nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo như chu kỳ luân chuyển tồn kho và khoản phải thu chậm lại, chu kỳ các khoản phải trả dài ra và phát sinh lỗ ròng trong kinh doanh
Trang 40Nhận biết và xử lý sớm các nguyên nhân trên là điều kiện quan trọng nhất để giảm thiểu rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Trung Quốc [6]
1.4.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
- Hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế Nhật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khi nền kinh tế có vấn đề thì ngành kinh doanh ngân hàng cũng không thể hoạt động tốt được Cho dù ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ đối với các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ, nhưng hệ thống ngân hàng cũng có thể làm tình hình xấu hơn và trì trệ sự ổn định của nền kinh tế nếu bản thân ngân hàng cũng gặp khó khăn Nếu như phần lớn các khoản cho vay của ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp không khỏe mạnh, thì không chỉ ngân hàng hoạt động không hiệu quả, mà nền kinh tế cũng sẽ bị ảnh hưởng
- Thực tế hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Nhật Bản cho thấy việc cho vay không chặt chẽ cùng với chính sách mở rộng quá tham vọng càng được kích thích thêm do cạnh tranh trên thị trường là kết quả gây ra thua lỗ của ngân hàng Mặt khác, do không có kinh nghiệm với những khoản vay bị thất thoát nghiêm trọng trước đây nên các ngân hàng Nhật không biết cách quản lý khi có phát sinh lãi lỗ tín dụng
- Các ngân hàng không hiểu rõ hậu quả nghiêm trọng của việc trì hoãn những biện pháp dứt khoát đối với các khách hàng vay có rủi ro, do đó mức lỗ lãi của ngân hàng không thể được giải quyết nhanh chóng và với phí tổn thấp hơn Nói cách khác, ngân hàng nên chủ động trong việc đánh giá một khách hàng có tiềm năng rủi ro trong tương lai gần và xa, từ đó có biện pháp xử lý càng sớm càng tốt
- Ngoài ra, thực tế ở Nhật cũng cho thấy, nếu mức lỗ của ngân hàng vượt quá khả năng của các ngân hàng thương mại, Nhà nước sẽ dùng các nguồn quỹ quốc gia để can thiệp và tất yếu Ban điều hành các ngân hàng cũng phải được thay thế
- Hiện nay các ngân hàng Nhật đã xử lý thành công các vấn đề liên quan đến tài sản không thu hồi được Tổ chức dịch vụ tài chính (The Financial Service Agency) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc ép các ngân hàng thực hiện công tác dự phòng cần thiết cũng như xử lý những khoản nợ xấu mà trước đây