Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, Việt Nam bắt đầu đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng của thị t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Phan Thị Thu Cúc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
-o0o -
Trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ, với sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của các Giảng viên trường Đại học Nha Trang cùng sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, đến nay luận văn thạc sĩ của em đã được hoàn thành
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban chủ nhiệm Khoa Sau đại học, Khoa Kinh tế đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong học tập và trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ
Em xin chân thành cảm ơn Giáo viên hướng dẫn Thầy Phạm Xuân Thuỷ và Cô
Võ Hải Thuỷ, các thầy cô trong Khoa Kinh tế đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, ngày 30 tháng 11 năm 2013
Phan Thị Thu Cúc
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt ix
Danh mục các bảng biểu x
Danh mục các hình ảnh xi
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ xii
Danh mục các phụ lục xii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ 7
1.1 Các vấn đề cơ bản về hoạt động bán lẻ 7
1.1.1 Khái niệm bán lẻ 7
1.1.2 Phân loại bán lẻ 8
1.1.2.1 Phân theo loại hình bán lẻ 8
1.1.2.2 Phân theo nơi bán hàng 9
1.1.2.3 Phân theo phương thức tổ chức doanh nghiệp bán lẻ 12
1.1.3 Vai trò và chức năng của hoạt động bán lẻ 13
1.1.3.1 Vai trò của hoạt động bán lẻ 13
1.1.3.2 Chức năng của hoạt động bán lẻ 14
1.2 Những vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển thị trường bán lẻ 16
1.2.1 Khái niệm thị trường bán lẻ 16
1.2.2 Khái niệm phát triển thị trường bán lẻ 17
1.2.3 Các yếu tố cơ bản của thị trường bán lẻ 17
1.2.3.1 Người bán lẻ 17
1.2.3.2 Khách hàng 17
1.2.3.3 Hàng hóa và dịch vụ 18
1.2.4 Hệ thống kênh phân phối trên thị trường bán lẻ 18
1.2.4.1 Tổ chức các kênh phân phối trên thị trường bán lẻ 18
1.2.4.2 Điều kiện để lựa chọn kênh phân phối 21
1.2.5 Nội dung cơ bản của phát triển thị trường bán lẻ 23
1.2.5.1 Phát triển thị trường bán lẻ theo chiều rộng 23
1.2.5.2 Phát triển thị trường bán lẻ theo chiều sâu 23
Trang 61.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường bán lẻ 25
1.2.6.1 Các chính sách của Nhà nước 25
1.2.6.2 Các yếu tố kinh tế 25
1.2.6.3 Dân cư 26
1.2.6.4 Cơ sở hạ tầng 26
1.2.6.5 Yếu tố khoa học kỹ thuật 27
1.2.7 Các xu hướng phát triển thị trường bán lẻ 27
1.2.7.1 Thương mại truyền thống vẫn tồn tại và phát triển tốt 27
1.2.7.2 Các dạng thức và phối hợp bán lẻ mới 27
1.2.7.3 Sự gia tăng cạnh tranh giữa các loại cửa hàng bán lẻ 28
1.2.7.4 Cạnh tranh giữa hình thức bán lẻ qua cửa hàng và bán lẻ không qua cửa hàng 28
1.2.7.5 Sự phát triển của những tập đoàn bán lẻ lớn 28
1.2.7.6 Đầu tư ngày càng nhiều vào công nghệ 28
1.3 Những vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển thị trường xăng dầu 29
1.3.1 Tổng quan về mặt hàng xăng dầu 29
1.3.1.1 Khái niệm xăng dầu 29
1.3.1.2 Đặc điểm lý hoá và công dụng của dầu Diesel 29
1.3.1.3 Phân loại dầu Diesel 30
1.3.1.4 Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của dầu Diesel 30
1.3.2 Sự hình thành và phát triển của thị trường xăng dầu Việt Nam 31
1.3.2.1 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2000 32
1.3.2.2 Giai đoạn từ năm 2000 đến tháng 9/2008 33
1.3.2.3 Giai đoạn từ tháng 9/2008 đến tháng 12/2009 34
1.3.2.4 Giai đoạn từ cuối năm 2009 - 2013 36
1.4 Một số bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới về phát triển thị trường bán lẻ 39
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 43
Chương 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ DẦU DIESEL CHO KHAI THÁC THUỶ SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NHA TRANG 44
2.1 Tổng quan về ngành kinh doanh xăng dầu tỉnh Khánh Hòa 44
2.1.1 Các doanh nghiệp đầu mối phân phối xăng dầu tại Khánh Hòa 44
Trang 72.1.2 Hệ thống kho dự trữ, phương tiện vận tải xăng dầu tại Khánh Hòa 44
2.1.3 Mạng lưới cửa hàng bán lẻ xăng dầu tại Khánh Hòa 45
2.2 Tổng quan về ngành khai thác thuỷ sản tỉnh Khánh Hoà 46
2.2.1 Sản lượng khai thác thủy sản tại tỉnh Khánh Hòa 46
2.2.2 Năng lực khai thác thủy sản tại tỉnh Khánh Hòa 47
2.2.2.1 Số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản tại Khánh Hòa 47
2.2.2.2 Số lượng lao động và trình độ khai thác thủy sản 48
2.2.2.3 Tổ chức các tổ đội khai thác thủy sản 48
2.2.2.4 Cơ sở hậu cần phục vụ cho khai thác thủy sản tại Khánh Hòa 49
2.3 Thực trạng phát triển thị trường bán lẻ dầu Diesel phục vụ khai thác thuỷ sản trên địa bàn thành phố Nha Trang 51
2.3.1 Phân tích nhu cầu Diesel phục vụ khai thác thuỷ sản trên địa bàn thành phố Nha Trang 51
2.3.1.1 Khối lượng bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thủy sản tại các cửa hàng Nha Trang trong những năm qua 51
2.3.1.2 Nhu cầu sử dụng dầu Diesel cho khai thác thủy sản xa bờ trong những năm qua 52
2.3.2 Phân tích nguồn cung ứng dầu Diesel phục vụ khai thác thuỷ sản trên địa bàn thành phố Nha Trang 53
2.3.2.1 Các doanh nghiệp đầu mối phân phối dầu Diesel tại Nha Trang 53
2.3.2.2 Các kênh phân phối bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thủy sản tại Nha Trang 53
2.3.2.3 Sự phân bố mạng lưới cửa hàng bán lẻ dầu Diesel phục vụ khai thác thuỷ sản tại Nha Trang 54
2.3.2.4 Quy mô các cửa hàng bán lẻ dầu Diesel 56
2.3.2.5 Hệ thống trang thiết bị phục vụ cho hoạt động bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thuỷ sản 57
2.3.3 Phân tích tình hình cạnh tranh trên thị trường bán lẻ dầu Diesel phục vụ khai thác thuỷ sản tại Nha Trang 61
2.3.4 Phân tích nhu cầu tiêu thụ dầu Diesel và sự hài lòng của khách hàng đối với hoạt động bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thủy sản tại thành phố Nha Trang 63
2.3.4.1 Giới thiệu chung về cuộc điều tra của tác giả 63
Trang 82.3.4.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 64
2.3.4.3 Kết quả xử lý mẫu nghiên cứu 65
2.3.5 Phân tích tác động của biến động giá bán lẻ dầu Diesel đối với hoạt động khai thác thuỷ sản 76
2.3.5.1 Biến động giá xăng dầu tại Việt Nam 76
2.3.5.2 Đánh giá tác động của giá xăng dầu đối với ngành khai thác thủy sản 77
2.3.6 Phân tích vai trò can thiệp và điều tiết của nhà nước trên thị trường bán lẻ dầu Diesel 79
2.3.6.1 Sự can thiệp và điều tiết thị trường bán lẻ của nhà nước qua chính sách giá bán lẻ xăng dầu 79
2.3.6.2 Chính sách thu phí bảo trì đường bộ qua giá bán lẻ xăng dầu và tác động của nó đối với các tàu, ghe khai thác thủy sản sử dụng dầu Diesel 83
2.3.6.3 Chính sách khuyến khích ưu đãi của nhà nước đối với doanh nghiệp sản xuất, đầu mối nhập khẩu xăng dầu 84
2.3.6.4 Công tác quản lý nhà nước đối với thị trường bán lẻ dầu Diesel trên địa bàn thành phố Nha Trang 84
2.3.7 Đánh giá chung tình hình phát triển thị trường bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Nha Trang 89
2.3.7.1 Về nhu cầu sử dụng dầu Diesel 89
2.3.7.2 Về tình hình cạnh tranh trên thị trường bán lẻ dầu Diesel 89
2.3.7.3 Về sự hài lòng của khách hàng đối với hoạt động bán lẻ dầu Diesel 90
2.3.7.4 Về vai trò can thiệp và điều tiết của nhà nước đối với thị trường bán lẻ dầu Diesel 91
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 94
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ DẦU DIESEL PHỤC VỤ KHAI THÁC THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NHA TRANG 96
3.1 Định hướng phát triển thị trường xăng dầu đến năm 2020 của Việt Nam 96
3.1.1 Định hướng phát triển hệ thống sản xuất xăng dầu 96
3.1.2 Định hướng phát triển hệ thống phân phối xăng dầu 96
3.2 Quan điểm, mục tiêu, phương hướng phát triển thị trường bán lẻ xăng dầu của tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 97
Trang 93.2.1 Quan điểm phát triển thị trường bán lẻ xăng dầu tỉnh Khánh Hòa 97
3.2.2 Mục tiêu phát triển thị trường bán lẻ xăng dầu tỉnh Khánh Hòa 97
3.2.3 Định hướng phát triển phát triển thị trường bán lẻ xăng dầu tỉnh Khánh Hòa dến năm 2020 97
3.2.3.1 Tiêu chí chọn địa điểm xây dựng cửa hàng 98
3.2.3.2 Định hướng quy hoạch số lượng cửa hàng xăng dầu trên toàn tỉnh 99
3.3 Triển vọng phát triển thị trường bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Nha Trang giai đoạn 2015-2020 99
3.3.1 Dự báo một số chỉ tiêu phát triển thị trường bán lẻ dầu Diesel 99
3.3.1.1 Dự báo số lượng tàu khai thác thủy sản giai đoạn 2015-2020 99
3.3.1.2 Dự báo khối lượng nhu cầu tiêu thụ dầu Diesel giai đoạn 2015-2020 100
3.3.2 Một số xu hướng phát triển trên thị trường bán lẻ dầu Diesel 101
3.3.2.1 Xu hướng phát triển nhu cầu mua dầu Diesel của ngư dân 101
3.3.2.2 Xu hướng phát triển cung ứng dầu Diesel cho khai thác thủy sản 102
3.3.3 Phân tích, đánh giá triển vọng phát triển thị trường bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Nha Trang giai đoạn 2015-2020 103
3.3.3.1 Những điểm mạnh 103
3.3.3.2 Những điểm yếu 103
3.3.3.3 Cơ hội phát triển 104
3.3.3.4 Những thách thức 105
3.4 Các giải pháp phát triển thị trường bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thuỷ sản trên địa bàn thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà 105
3.4.1 Các giải pháp nhằm phát triển cầu tiêu dùng của thị trường bán lẻ dầu Diesel 105
3.4.1.1 Giảm chi phí sản xuất nâng cao thu nhập của ngư dân 106
3.4.1.2 Tăng cường an ninh trên biển và hợp tác nghề cá trong khu vực 106
3.4.1.3 Tăng số lượng tàu khai thác nhằm tạo việc làm và nâng cao thu nhập của ngư dân 107
3.4.2 Các giải pháp nhằm phát triển nguồn cung trên thị trường bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thủy sản 107
3.4.2.1 Phát triển các doanh nghiệp phân phối xăng dầu 107
3.4.2.2 Phát triển các doanh nghiệp, cơ sở bán lẻ dầu Diesel 109
Trang 103.4.3 Các giải pháp về đầu tư, xây dựng phát triển mạng lưới bán lẻ 110
3.4.3.1 Về vốn và đất đầu tư 110
3.4.3.2 Về bố trí địa điểm, diện tích, khoảng cách xây dựng mới cửa hàng, tàu dầu 111
3.4.3.3 Cải tạo, nâng cấp, di dời các cửa hàng bán dầu Diesel ven cảng cá, bến tàu trong đô thị 111
3.4.4 Giải pháp kết nối các kênh phân phối dầu Diesel với các ngành dịch vụ khác có liên quan 111
3.4.4.1 Kết nối các kênh phân phối dầu Diesel với các dịch vụ tài chính, bảo hiểm 111
3.4.4.2 Kết nối các kênh phân phối dầu Diesel với dịch vụ vận tải 112
3.4.4.3 Kết nối các kênh phân phối dầu Diesel với dịch vụ thông tin liên lạc 112
3.5 Một số kiến nghị nhằm phát triển hệ thống phân phối bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thủy sản tại Nha Trang 112
3.5.1 Kiến nghị đối với Bộ Công thương và các bộ ngành có liên quan 112
3.5.1.1 Đẩy nhanh cải cách thủ tục hành chính của ngành Công thương trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu 112
3.5.1.2 Điều chỉnh vai trò can thiệp và điều tiết của Nhà nước đối với thị trường bán lẻ dầu Diesel 113
3.5.2 Kiến nghị đối với tỉnh Khánh Hòa 113
3.5.2.1 Tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo ngành, địa phương trong công tác quản lý kinh doanh dầu Diesel 113
3.5.2.2 Nâng cao trách nhiệm và hiệu quả của công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 114
3.5.2.3 Bồi dưỡng đào tạo cho cán bộ quản lý, nhân viên bán hàng 115
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 116
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC .xiii
Trang 11DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CPI Chỉ số giá
CPC Phân loại sản phẩm trung tâm (Central Products Classification)
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
UBND Ủy ban nhân dân
USA Mỹ (United State of America)
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Đặc tính lý hoá của dầu Diesel 30
Bảng 1.2: Các thông số kỹ thuật của dầu Diesel 31
Bảng 1.3: Danh sách các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu và Nhà máy lọc dầu tại Việt Nam (tính đến tháng 9/2013) .38
Bảng 2.1: Sự phân bố các cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 45
Bảng 2.2: Sản lượng khai thác thuỷ sản tại Khánh Hoà từ năm 2010-2012 46
Bảng 2.3: Số lượng tàu phân theo nhóm nghề và công suất toàn tỉnh Khánh Hòa (tính đến tháng 8/2013) 47
Bảng 2.4: Số lượng tàu khai thác thuỷ sản xa bờ tại Khánh Hoà từ năm 2009-2012 48
Bảng 2.5: Tình hình bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thuỷ sản tại Nha Trang từ năm 2010-2012 52
Bảng 2.6: Nhu cầu sử dụng dầu Diesel cho khai thác thủy sản tại Nha Trang 52
Bảng 2.7: Số cửa hàng bán lẻ dầu Diesel phục vụ khai thác thủy sản tại Nha Trang 55
Bảng 2.8: Quy mô cửa hàng bán lẻ dầu Diesel phục vụ khai thác thủy sản tại Nha Trang 57
Bảng 2.9: Tỷ trọng các thành phần kinh tế tham gia bán lẻ xăng dầu trên địa bàn thành phố Nha Trang 61
Bảng 2.10: Mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu 64
Bảng 2.11: Tỉ lệ khách hàng mua dầu tại các địa điểm khảo sát 66
Bảng 2.12: Số lần khách hàng mua dầu trong tháng 67
Bảng 2.13: Mức độ hài lòng về vị trí cửa hàng bán dầu 68
Bảng 2.14: Vấn đề đo lường, chất lượng và giá cả tại cửa hàng ven bờ 69
Bảng 2.15: Chất lượng các dịch vụ khác tại cửa hàng ven bờ 70
Bảng 2.16: Đánh giá chung sự hài lòng của khách hàng đối với các cửa hàng ven bờ
70
Bảng 2.17: Mức độ hài lòng về vị trí tàu bán dầu 71
Bảng 2.18: Vấn đề đo lường, chất lượng và giá cả tại tàu dầu 71
Bảng 2.19: Chất lượng các dịch vụ khác tại tàu dầu 72
Bảng 2.20: Đánh giá chung sự hài lòng của khách hàng đối với tàu dầu 73
Bảng 2.21: Thang đo các nhận định 73
Bảng 2.22: Tổng hợp đánh giá sự hài lòng của khách hàng 74
Trang 13Bảng 2.23: Dự báo số tàu khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Nha Trang tỉnh
Khánh Hòa giai đoạn 2015 – 2020 100
Bảng 2.24: Dự báo nhu cầu sử dụng dầu Diesel cho khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2015 – 2020 101
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH Hình 1.1: Các cửa hàng xăng dầu 10
Hình 1.2: Các cửa hàng hạ giá 10
Hình 1.3: Các siêu thị kinh doanh tổng hợp 11
Hình 1.4: Các trung tâm thương mại 11
Hình 1.5: Nhà máy lọc dầu Dung Quất 39
Hình 2.1: Kiểm định đo lường các trụ bơm xăng dầu 87
Trang 14DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Các kênh phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối
cùng 19
Sơ đồ 2.1: Kênh phân phối dầu Diesel cho khai thác thuỷ sản 54
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trên thế giới năm 2008 – 2009 35
Biểu đồ 1.2: Diễn biến giá sản phẩm – dầu thô tại Việt Nam năm 2009 36
Biểu đồ 2.1: Thành phần kinh tế tham gia bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thủy sản tại thành phố Nha Trang 62
Biểu đồ 2.2: Thu nhập hàng tháng của mẫu nghiên cứu 65
Biểu đồ 2.3: Địa điểm khách hàng thường xuyên mua dầu Diesel 67
Biểu đồ 2.4: Số lần khách hàng mua dầu Diesel trong một tháng 68
Biểu đồ 2.5: Sự hài lòng của khách hàng khi mua dầu tại cửa hàng 75
Biểu đồ 2.6: Sự hài lòng của khách hàng khi mua dầu tại tàu dầu 76
Biểu đồ 2.7: Diễn biến giá dầu Diesel tại Việt Nam từ năm 2007 – 8/2013 77
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC Phụ lục 01: Quy hệ thống bán lẻ xăng dầu trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015, định hướng đến 2020 xiii
Phụ lục 02: Bảng câu hỏi phỏng vấn người tiêu dùng về thị trường bán lẻ dầu Diesel phục vụ khai thác thủy sản tại thành phố Nha Trang xix
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xăng dầu là mặt hàng vật tư thiết yếu, có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng đối với mọi quốc gia Xăng dầu không chỉ là mặt hàng an ninh năng lượng quốc gia, mà còn là nguồn nhiên liệu quan trọng tác động rất lớn đối với tất cả những ngành sản xuất kinh doanh và đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt của cuộc sống hàng ngày của con người
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, Việt Nam bắt đầu đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng của thị trường xăng dầu kể từ năm 1989 [1]; tính đến nay trong cả nước đã có đến 17 doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu với hệ thống phân phối rộng khắp với gần 10.000 cửa hàng bán lẻ xăng dầu Trong năm 2012, tổng khối lượng xăng dầu bán lẻ trong cả nước đạt 15,522 triệu m3 với tổng mức bán lẻ lên đến 351.495,69 tỷ đồng; trong số đó tổng mức bán lẻ dầu Diesel chiếm 8,596 triệu m3, chiếm trên 55% [2] Như vậy, trong số các chủng loại xăng dầu được tiêu thụ trên cả nước, mặt hàng dầu Diesel được tiêu thụ nhiều nhất, điều đó cho thấy dầu Diesel đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, để có thể tồn tại và phát triển trong một thế giới năng động, vận hành theo cơ chế thị trường, đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO thì cũng đồng nghĩa với việc thị trường bán lẻ xăng dầu Việt Nam bước vào sân chơi lớn với nhiều cơ hội và thách thức; cạnh tranh gay gắt là thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu Đồng thời trong thời gian tới không xa, khi Nhà nước mở cửa cho các công ty nước ngoài (FDI) với tiềm lực tài chính mạnh
mẽ đầu tư kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam, thì sự cạnh tranh trên thị trường bán lẻ xăng dầu sẽ trở nên ngày càng khốc liệt; và sự thua sút của các doanh nghiệp Việt Nam ngay chính trên sân nhà của mình là một điều có thể thấy trước
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, tỉnh Khánh Hoà nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng có rất nhiều thế mạnh để phát triển ngành khai thác thuỷ sản Dầu Diesel là mặt hàng có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành khai thác thủy sản, là nguồn nhiên liệu chủ yếu cho các tàu hoạt động đánh bắt thuỷ sản Chi phí cho dầu Diesel có thể chiếm từ 50% đến 70% trong tổng chi phí của một chuyến biển đánh bắt
xa bờ Trong những năm qua, sự gia tăng mạnh mẽ của số lượng tàu cá, đặc biệt là các
Trang 16tàu khai thác thuỷ sản xa bờ công suất lớn đã làm cho nhu cầu tiêu thụ dầu Diesel cho khai thác thuỷ sản tại tỉnh Khánh Hoà nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng tăng mạnh, kéo theo đó là sự phát triển nhanh của thị trường bán lẻ dầu Diesel Tuy nhiên sự phát triển của thị trường bán lẻ dầu Diesel tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa vẫn còn ở nhiều hạn chế và bất cập Hoạt động bán lẻ dầu disel cho khai thác thuỷ sản vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ; sự phân bố các cửa hàng xăng dầu chưa hợp
lý, chưa đảm bảo về số lượng, chất lượng Bên cạnh đó cơ chế điều hành giá xăng dầu của Chính phủ còn nhiều bất cập dẫn đến nhiều lần tăng giá xăng dầu, ảnh hưởng lớn đến đời sống hàng ngày của người dân, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành nghề nhạy cảm với giá xăng dầu, đặc biệt là ngành khai thác thủy sản
Là một cán bộ làm công tác quản lý ngành trong lĩnh vực xăng dầu, tôi thực sự trăn trở về những vấn đề trên Đó chính là lý do khiến tôi chọn đề tài cho luận văn thạc
sĩ “Phát triển thị trường bán lẻ dầu Diesel phục vụ khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Nha Trang” nhằm đánh giá toàn diện thực trạng thị trường bán lẻ dầu
Diesel phục vụ khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Nha Trang, phân tích rõ những mặt mạnh và những mặt hạn chế, chỉ ra các nguyên nhân tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển của thị trường này, từ đó đề xuất những giải pháp góp phần thúc đẩy thị trường bán lẻ dầu Diesel trên địa bàn thành phố Nha Trang trong những năm sắp tới phát triển mạnh mẽ và bền vững, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của nghề cá tỉnh Khánh Hòa nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu trong nước:
Từ trước đến nay các tài liệu trong nước nghiên cứu về phát triển thị trường xăng dầu và vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động này không nhiều Luận án tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu về kinh doanh xăng dầu được tiến hành vào năm 1995 của Nguyễn Cao Vãng với đề tài “Kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay” Năm 2001, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ “Đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước đối với mặt hàng xăng dầu trong tình hình mới” Năm 2010, luận án tiến sĩ của Nguyễn Duyên Cương với đề tài “Đổi mới hoạt động kinh doanh xăng dầu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”
Trang 17Năm 2011, luận án tiến sĩ của Bùi Thị Hồng Việt, nghiên cứu về “Chính sách quản lý nhà nước đối với kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam”; và một số luận văn thạc
sĩ nghiên cứu về: phát triển hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu, chiến lược marketing…của một số công ty, tập đoàn xăng dầu tại Việt Nam Các luận án, luận văn này chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động kinh doanh xăng dầu của Việt Nam
và cơ chế, chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động này Đặc biệt loại hình kinh doanh dầu Diesel phục vụ khai thác thuỷ sản là ngành nghề đặc thù đối với một số tỉnh
có vùng biển, do đó các đề tài nghiên cứu về hoạt động kinh doanh này đến nay hầu như chưa có
Một vài năm trở lại đây, khi giá dầu thô thế giới biến động theo chiều hướng tăng
do những bất ổn của tình hình chính trị thế giới kéo theo việc giá bán lẻ xăng dầu trong nước liên tục bị điều chỉnh tăng, vì thế trên các tạp chí khoa học trong nước xuất hiện một loạt các nghiên cứu liên quan đến thị trường xăng dầu và vai trò quản lý nhà nước đối với thị trường này Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc lý giải tại sao nhà nước phải bình ổn giá xăng dầu và bình ổn bằng cách nào
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Các luận án nước ngoài liên quan đến kinh doanh xăng dầu và các chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động này cũng không nhiều
Ví dụ: Strategic Petroleum Reserve: United States energy security, Oil politics, and petroleum reserves policies in the twentieth century – Beaubourf B.A – 1997; Energy consumption in Yemen: Economics and policy – Dahan A.A – 1996; Petrolium development in the context of self-reliance: China’s changing policy since
1960 – Lee H.P – 1989; An application of rational choice theory to petroleum policies
in Canada, Britian and Norway – Edwards M.A – 1988; Petroleum politics in Japan: State and industry in a changing policy context – Caldwell M.A – 1981; The politics of public enterprise oil and the French state – Feigenbaum H.B – 1981… Hầu hết các nghiên cứu này đều tập trung vào vai trò quản lý của nhà nước đối với kinh doanh xăng dầu ở những khía cạnh khác nhau Một số xem xét vai trò, vị trí của các tập đoàn xăng dầu quốc gia trong việc đảm bảo nguồn cung và định giá hợp lý các sản phẩm xăng dầu trên thị trường Một số khác lại nghiên cứu các chính sách quản lý nhà nước đối với kinh doanh xăng dầu, song hầu hết các tài liệu chỉ nghiên cứu từng chính sách riêng lẻ tác động đến kinh doanh xăng dầu như thế nào
Trang 18Nghiên cứu về chính sách dự trữ xăng dầu chiến lược của Mỹ, Beaubourf (1997)
đã chỉ ra vai trò dự trữ xăng dầu trong việc ổn định nguồn cung và nên dự trữ bao nhiêu và cách thức dự trữ như thế nào Nghiên cứu về chính sách định giá xăng dầu của Northwest Territories, Rattray (2000) đã đưa ra lý do tại sao nhà nước không nên kiểm soát giá xăng dầu trong nước mà nên để thị trường tự điều chỉnh Nghiên cứu về chính sách thuế xăng dầu của 120 quốc gia giai đoạn 1990 – 1991, Gupta and Mahler (1994) đã giải thích tại sao xăng dầu lại bị đánh nhiều loại thuế với thuế suất cao và các quốc gia xác định tỉ lệ thuế như thế nào… Song các nghiên cứu trên đều được tiến hành ở những quốc gia có đặc điểm thị trường xăng dầu khác xa so với Việt Nam Tóm lại, trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu về hoạt động kinh doanh xăng dầu và quản lý nhà nước đối với kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam Đã có những kiến nghị, giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh xăng dầu và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam đề cập một cách tổng thể, toàn diện về phát triển thị trường xăng dầu và
cơ chế, chính sách quản lý nhà nước đối với mặt hàng xăng dầu
Trong khi đó, việc ban hành và thực thi chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu ở nước ta trên thực tế còn mang tính đối phó với sự thay đổi, ngắn hạn, chưa thực sự chủ động, để tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường xăng dầu Việt Nam phát triển bền vững, ổn định
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Nghiên cứu phương hướng và giải pháp nhằm phát triển thị
trường bán lẻ dầu Diesel tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa phục vụ khai thác thủy sản đến năm 2020
Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích thực trạng thị trường bán lẻ dầu Diesel trên địa bàn thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa để tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu, những cơ hội và nguy cơ đối với hệ thống phân phối bán lẻ dầu Diesel
- Phân tích các nguyên nhân tác động đến sự phát triển của thị trường bán lẻ dầu Diesel trên địa bàn thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa
- Phân tích sâu sắc các yếu tố quyết định đến sự thành công trong tương lai của hai loại cửa hàng bán lẻ dầu Diesel (tàu dầu và cửa hàng dầu Diesel ven bờ cảng cá, bến tàu)
Trang 19- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển hợp lý, bền vững đối với thị trường bán lẻ dầu Diesel tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa theo xu hướng kết hợp linh hoạt giữa hệ thống phân phối bán lẻ truyền thống và hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại nhằm tạo ra bước chuyển biến tích cực đối với thị trường này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Thị trường bán lẻ dầu Diesel phục vụ khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa Cụ thể là:
- Các cửa hàng, tàu bán dầu Diesel cho khai thác thủy sản tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa
- Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh mặt hàng dầu Diesel (DO 0,25%S) phục vụ khai thác thủy sản tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Phân tích tình hình thị trường bán lẻ dầu Diesel phục vụ
khai thác thủy sản tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa, chủ yếu đi sâu vào tình
hình phát triển hệ thống phân phối, đo lường, chất lượng, giá cả xăng dầu
- Phạm vi về không gian: Các tàu dầu và cửa hàng bán lẻ dầu Diesel xây cạnh các
cầu cảng tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa
- Phạm vi về thời gian: Số liệu sơ cấp được nghiên cứu trong thời gian dự kiến từ
tháng 01/2013 đến tháng 09/2013 Số liệu thứ cấp thu thập trong khoảng thời gian từ
2009 đến 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kết hợp giữa các phương pháp:
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp:
+ Số liệu thứ cấp: Nguồn thông tin này thu thập từ những tài liệu liên quan đã được công bố của các cửa hàng bán lẻ dầu Diesel tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa, các Tổng Công ty xăng dầu, Bộ Công thương, Bộ Tài chính, các cơ quan thống
kê các cấp, các sở, ban ngành, các trường đại học để phân tích, tổng hợp
+ Số liệu sơ cấp: Lấy từ điều tra trực tiếp các tàu dầu và cửa hàng bán lẻ dầu Diesel xây cạnh các cầu cảng tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa, phỏng vấn ban giám đốc, cửa hàng trưởng các cửa hàng dầu Diesel, khách hàng theo phiếu điều tra với bảng câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn Số liệu được thu thập thông qua điều tra,
Trang 20phỏng vấn về năng lực các cửa hàng bán lẻ dầu Diesel chủ yếu liên quan đến mức độ đầu tư, doanh thu, chi phí những thuận lợi, khó khăn, phương hướng phát triển, những
ý kiến, kiến nghị …
- Phương pháp điều tra khảo sát: Tiến hành điều tra khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp nhằm nghiên cứu thị trường và hệ thống phân phối bán lẻ dầu Diesel, nghiên cứu xu hướng tiêu dùng dầu Diesel của các tàu khai thác thủy sản tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa
- Phương pháp chuyên gia: Dự báo để định hướng phát triển thị trường bán lẻ dầu Diesel tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020
6 Những đóng góp khoa học của nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa toàn bộ cơ sở lý luận liên quan đến phát triển thị
trường bán lẻ
- Về mặt thực tiễn: Vận dụng lý luận trên để phân tích thực trạng thị trường bán
lẻ dầu Diesel phục vụ khai thác thuỷ sản trên địa bàn thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà, đặc biệt phân tích sâu vai trò điều tiết thị trường bán lẻ xăng dầu của Nhà nước, qua đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân để làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu, đề xuất phương hướng chung và các giải pháp cụ thể góp phần phát triển thị trường bán lẻ dầu Diesel phục vụ khai thác thuỷ sản trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chủ yếu của luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển thị trường bán lẻ
Chương 2: Thực trạng thị trường bán lẻ dầu Diesel cho khai thác thủy sản trên địa
bàn thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển thị trường bán lẻ dầu Diesel cho
khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ 1.1 Các vấn đề cơ bản về hoạt động bán lẻ
1.1.1 Khái niệm bán lẻ
Theo từ điển American Heritage, bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng, thường
là với khối lượng nhỏ và không bán lại [34]
Trong cuốn sách Quản trị Marketing, Philip Kotler đã định nghĩa: Bán lẻ bao
gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho
người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh
[14]
Theo phân loại sản phẩm chính tạm thời của Liên Hợp quốc (CPC- Central
Products Classification) trong từ điển bách khoa mở Wikipedia: Bán lẻ là hoạt động
bán hàng hoá cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan [13]
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bán lẻ là hình thức bán từng cái, từng ít một trực
tiếp cho người tiêu dùng [28]
Từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa: Bán lẻ bao gồm việc bán hàng cho cá
nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không cố định
và thông qua các dịch vụ liên quan [22]
Theo NAICS (North American Industry Classification System), US năm 2002, lĩnh vực bán lẻ (mã ngành 44-45) bao gồm những cơ sở kinh doanh bán lẻ hàng hoá (thường không có hoạt động chế biến) và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng Quá trình bán lẻ là khâu cuối cùng trong phân phối hàng hoá Các nhà bán lẻ tổ chức việc bán hàng theo khối lượng nhỏ cho người tiêu dùng [33]
Từ những khái niệm trên đây, có thể hiểu rằng : Bán lẻ là bán với khối lượng nhỏ; bán trực tiếp cho người tiêu dùng; bán lẻ hàng hoá và các dịch vụ có liên quan; người tiêu dùng mua để phục vụ cho nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình, không dùng để kinh doanh (bán lại); không bao gồm tiêu dùng cho sản xuất (phân biệt giữa hàng tư liệu tiêu dùng và
tư liệu sản xuất); bán lẻ là công đoạn cuối cùng trong khâu lưu thông để sản phẩm đến với người tiêu dùng; bán lẻ tại một địa điểm cố định, hoặc không cố định và thông qua các dịch vụ khác
Về bản chất, bán lẻ là một trong những hoạt động kinh tế (economic activities) của nền kinh tế và thuộc khu vực dịch vụ Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của
Trang 22Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngành dịch vụ phân phối bao gồm 4 phân ngành: đại lý; bán buôn; bán lẻ (bao gồm cả hoạt động bán hàng đa cấp); nhượng quyền thương mại [24] Ở Việt Nam, Nghị định 75/CP ngày 27/10/1993 về phân ngành kinh tế, bán lẻ thuộc ngành thương nghiệp, sửa chữa thiết bị - phân ngành cấp 1
và thuộc khu vực dịch vụ Hiện nay, Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ, bán lẻ thuộc phân ngành cấp 1 - Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa
ô tô, xe máy và xe có động cơ khác (nhóm G)
Danh mục CPC xác định rằng “dịch vụ chính do các nhà bán buôn và bán lẻ thực hiện là bán lại hàng hóa kèm theo hàng loạt các dịch vụ phụ trợ có liên quan khác như: bảo quản, lưu kho hàng hóa; sắp xếp và phân loại đối với hàng hóa khối lượng lớn, bốc
dỡ và phân phối lại đối với hàng hóa khối lượng nhỏ; dịch vụ giao hàng; dịch vụ bảo quản lạnh; các dịch vụ khuyến mãi do những người bán buôn thực hiện; và các dịch vụ liên quan đến việc kinh doanh của người bán lẻ như chế biến phục vụ cho bán hàng, dịch vụ kho hàng và bãi đỗ xe” [13]
1.1.2 Phân loại bán lẻ
Các tổ chức bán lẻ rất đa dạng và những hình thức mới vẫn tiếp tục xuất hiện do
đó có nhiều cách phân loại Ví dụ phân loại theo quy mô thì các loại hình bán lẻ có các
cơ sở bán lẻ lớn, vừa và nhỏ Hay phân loại theo các chủ thể tham gia bán lẻ thì các loại hình bán lẻ gồm có doanh nghiệp bán lẻ, hợp tác xã bán lẻ, cá thể hộ gia đình Nếu phân theo địa điểm quy tụ cửa hàng thì có khu kinh doanh trung tâm, trung tâm mua bán vùng, trung tâm mua bán địa phương…Sau đây là một số cách phân loại thường dùng:
1.1.2.1 Phân theo loại hình bán lẻ
Bán lẻ được phân theo hai loại hình cơ bản là kênh bán lẻ truyền thống và kênh bán lẻ hiện đại
a) Kênh bán lẻ truyền thống
Kênh bán lẻ truyền thống thường là tập hợp ngẫu nhiên của các tổ chức, cá nhân độc lập với nhau Kênh phân phối truyền thống được phân làm hai loại cơ bản:
Loại thứ nhất là các điểm bán cố định với diện tích không cần lớn lắm (khoảng
10m2 trở lên) Các điểm bán này thường đặt ngay tại địa điểm của gia đình, nằm trong các khu dân cư, trên các đường phố, tất cả các ngõ hẻm nơi mà bất cứ người tiêu dùng nào có nhu cầu đều có thể mua được
Trang 23Loại thứ hai là xe đẩy lưu động Xe đẩy lưu động chở những mặt hàng thiết yếu,
thường là các loại đồ uống, rau, củ, quả…đến cửa, ngõ của bất cứ khu dân cư nào
b) Kênh bán lẻ hiện đại
Kênh bán lẻ hiện đại là hình thức kinh doanh chuyên môn hóa hoặc tổng hợp, có
cơ cấu và chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú, đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang thiết bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh, có phương thức phục vụ văn minh, nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng [14]
Kênh bán lẻ hiện đại là kiểu kinh doanh quy mô lớn, hoạt động kinh doanh được
tổ chức khoa học, điều kiện và cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh được thiết kế bền vững và hiện đại, có khả năng trưng bày một khối lượng hàng hóa lớn, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tham quan và mua sắm của các đối tượng khách hàng Khách hàng gần như hoàn toàn tự phục vụ, tự lựa chọn và thực hiện mua hàng Người tiêu dùng luôn đóng vai trò trung tâm; quyền lợi của người tiêu dùng bước đầu được quan tâm, bảo vệ [11]
1.1.2.2 Phân theo nơi bán hàng
Căn cứ vào nơi bán hàng, bán lẻ được phân thành: bán lẻ tại cửa hàng, bán lẻ không qua cửa hàng
a) Bán lẻ tại cửa hàng
Đây là loại hình bán lẻ phổ biến nhất hiện nay Theo loại hình bán lẻ này, các tổ chức hay cá nhân bán lẻ có một địa điểm kinh doanh cố định Tại đây người ta tổ chức trưng bày hàng hóa, người tiêu dùng cuối cùng tới đây để lựa chọn sản phẩm theo nhu cầu, mua và thanh toán trực tiếp Các địa điểm bán hàng này tùy theo quy mô, tính chất của từng loại cửa hàng mà người ta phân ra các loại cửa hàng khác nhau Các kiểu cửa hàng bán lẻ chủ yếu:
Cửa hàng chuyên doanh: Cửa hàng chuyên doanh bán một chủng loại hẹp sản
phẩm nhưng rất đa dạng Ví dụ về những cửa hàng bán lẻ chuyên doanh là các cửa hàng xăng dầu, cửa hàng khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), cửa hàng dầu nhờn…
Các cửa hàng chuyên doanh còn có thể được phân loại nhỏ hơn nữa theo mức độ chuyên hẹp của cửa hàng Ví dụ: Một cửa hàng xăng dầu là cửa hàng một chủng loại, tàu bán dầu Diesel là cửa hàng chủng loại hạn chế, còn cửa hàng dầu mỡ nhờn (nhớt)
là cửa hàng chuyên doanh hẹp
Trang 24Một số nhà phân tích cho rằng trong tương lai những cửa hàng chuyên doanh hẹp
sẽ phát triển nhanh nhất để lợi dụng những cơ hội ngày càng nhiều để phân khúc thị trường, xác định thị trường mục tiêu và chuyên môn hóa sản phẩm
Hình 1.1: Các cửa hàng xăng dầu
Cửa hàng hạ giá: Cửa hàng hạ giá bán những hàng hóa tiêu chuẩn với giá thấp
hơn do chấp nhận mức lời thấp hơn và bán với những khối lượng lớn hơn Cửa hàng
hạ giá đích thực thường xuyên bán hàng với giá thấp hơn, bán phần lớn là những nhãn hiệu toàn quốc, chứ không phải hàng kém phẩm chất Những cửa hàng hạ giá đầu tiên cắt giảm chi phí bằng cách sử dụng những cơ sở giống như nhà kho ở những khu vực tiền thuê nhà rẻ, nhưng đông người qua lại Họ cắt giảm mạnh giá cả, quảng cáo rộng rãi và bán các chủng loại sản phẩm với bề rộng và bề sâu vừa phải
Hình 1.2: Các cửa hàng hạ giá
Siêu thị: Siêu thị là một loại hình bán lẻ hiện đại, mới xuất hiện tại Việt Nam
Siêu thị là một cửa hàng tự phục vụ, tương đối lớn, chi phí thấp, mức lời thấp, khối lượng lớn, được thiết kế để phục vụ tất cả những nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt và các sản phẩm chăm sóc nhà cửa Siêu thị bán rất nhiều mặt hàng khác nhau Giá cả tại siêu thị thường ổn định, theo sự ấn định của người kinh doanh, không linh hoạt như giá cả tại chợ Siêu thị thường phải đáp ứng một số quy định nhất định về cơ sở vật chất: quy mô, địa điểm, kho…; quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng hàng hóa bày bán tại siêu thị…Quy định này tùy thuộc vào cơ quan quản lý của siêu thị này
Trang 25Hình 1.3: Các siêu thị kinh doanh tổng hợp
Trung tâm thương mại: Trung tâm thương mại thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu
của người tiêu dùng, đa dạng hóa các mặt hàng Thông thường các trung tâm thương mại kết hợp với siêu thị, và các nguyên tắc bán lẻ có chiết khấu và bán lẻ tại kho Danh mục hàng hóa của nó vượt ra ngoài phạm vi những hàng hóa thông thường, bao gồm
cả hàng thực phẩm và phi thực phẩm, đồ gỗ, các thiết bị lớn và nhỏ, quần áo và rất nhiều những mặt hàng khác
Bán trực tiếp: Một phương án bán hàng trực tiếp được gọi là marketing nhiều
cấp, theo đó những công ty tuyển mộ những người kinh doanh độc lập làm người phân phối các sản phẩm của mình, những người này lại tuyển mộ và bán hàng cho những người phân phối phụ, rồi cuối cùng những người này cuối cùng sẽ tuyển mộ những người khác để bán sản phẩm của mình, thường là tại nhà khách hàng Hệ thống này còn gọi là phương thức “bán hàng hình tháp” Bán hàng trực tiếp là một phương thức rất tốn kém và tốn rất nhiều chi phí vào việc thuê, huấn luyện, quản lý và động viên lực lượng bán hàng
Bán hàng tự động: Phương thức bán hàng tự động đã được áp dụng cho rất
nhiều loại hàng hóa khác nhau, bao gồm những hàng hóa mua ngẫu hứng có giá trị
Trang 26thông dụng cao (thuốc lá, nước giải khát, cà phê, kẹo, báo, tạp chí) và những sản phẩm khác (hàng dệt kim, mỹ phẩm, thức ăn nhanh) Máy bán hàng có nhiều trong các nhà máy, văn phòng, các cửa hiệu bán lẻ lớn, trạm xăng, khách sạn, nhà hàng và nhiều nơi khác Chúng cung cấp dịch vụ bán hàng tự phục vụ 24/24, và hàng hóa lúc nào cũng tươi sống Song bán hàng tự động là một kênh tương đối tốn kém và giá hàng được bán thường cao hơn từ 15 đến 20% Chi phí bán hàng cao vì thường xuyên phải nạp hàng ở nhiều điểm rất phân tán, máy hay hỏng hóc và ở một số địa điểm tỷ lệ mất cắp cao Đối với khách hàng những chuyện bực mình nhất là máy hư, hết hàng và một thực
tế nữa là không thể trả lại hàng
Dịch vụ mua hàng: Dịch vụ mua hàng là một hình thức người bán lẻ không có
kho hàng phục vụ những khách hàng đặc biệt, thường là nhân viên của các tổ chức lớn, như trường học, bệnh viện, công đoàn và các cơ quan nhà nước Những người thuộc tổ chức đó khi trở thành thành viên của dịch vụ mua hàng sẽ được quyền mua hàng trong bảng danh sách lựa chọn của người bán lẻ và người bán lẻ đồng ý dành cho các thành viên của dịch vụ mua hàng những khoản chiết khấu
1.1.2.3 Phân theo phương thức tổ chức doanh nghiệp bán lẻ
Có năm loại doanh nghiệp bán lẻ chính:
a) Mạng lưới công ty
Các cửa hàng của mạng lưới là hai hay nhiều cửa hàng cùng thuộc một quyền sở hữu
và kiểm soát, có chung một bộ phận thu mua và tiêu thụ tập trung, một quyền sở hữu và kiểm soát, và bán những chủng loại hàng hóa tương tự nhau Mạng lưới công ty xuất hiện trong tất cả các loại hình bán lẻ, nhưng chúng phát triển mạnh nhất ở các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng bách hóa tổng hợp, các cửa hàng tạp hóa, các cửa hàng thực phẩm, cửa hàng dược phẩm, cửa hàng giày dép và cửa hàng trang phục nam nữ [5]
b) Mạng lưới tự nguyện và hợp tác xã bán lẻ
Sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ từ phía các mạng lưới công ty đã đưa những người bán lẻ độc lập đến chỗ hình thành hai kiểu hiệp hội Thứ nhất là mạng lưới tự nguyện gồm một nhóm những người bán lẻ độc lập được người bán buôn bảo trợ, thu xếp để mua một số lượng lớn hàng hóa và cùng bán Thứ hai là hợp tác xã bán lẻ, gồm những người bán lẻ độc lập đứng ra thành lập một tổ chức mua hàng tập trung và cùng hợp lực để thực hiện những biện pháp khuyến mãi [5]
c) Hợp tác xã tiêu thụ
Trang 27Hợp tác xã tiêu thụ là mọi công ty bán lẻ thuộc quyền sở hữu của chính những khách hàng của nó Hợp tác xã tiêu thụ do dân cư của một cộng đồng lập ra khi họ cảm thấy rằng những người bán lẻ ở địa phương phục vụ không chu đáo, vì đòi giá quá cao hay bán những sản phẩm kém chất lượng Họ chung tiền để mở một cửa hàng của chính mình, rồi họ biểu quyết về những chính sách của cửa hàng đó và bầu ra một nhóm người để quản lý nó [5]
d) Tổ chức đặc quyền
Tổ chức đặc quyền là một sự liên kết theo hợp đồng giữa người cấp đặc quyền (người sản xuất, người bán buôn hay tổ chức dịch vụ) và người hưởng đặc quyền (những người kinh doanh độc lập mua quyền sở hữu hay khai thác một hay nhiều đơn
vị trong hệ thống đặc quyền) Các tổ chức đặc quyền thường được xây dựng trên cơ sở một sản phẩm, dịch vụ độc đáo nào đó hay phương pháp kinh doanh, hay trên cơ sở tên thương mại, bằng sáng chế hay uy tín mà người cấp đặc quyền đã tạo ra [5]
e) Tập đoàn bán lẻ
Các tập đoàn bán lẻ là những công ty tự do, kết hợp một số hướng và hình thức bán lẻ khác nhau dưới quyền sở hữu tập trung với sự nhất thể hóa tới một mức độ nào đó chức năng phân phối và quản lý của mình Trong tương lai phương thức bán lẻ đa dạng hóa chắc chắn
sẽ được ngày càng nhiều mạng lưới công ty chấp nhận [15]
1.1.3 Vai trò và chức năng của hoạt động bán lẻ
1.1.3.1 Vai trò của hoạt động bán lẻ
a) Vai trò góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Khi hoạt động bán lẻ phát triển tốt, lành mạnh thì nhờ đó hoạt động sản xuất tăng, phục vụ được nhu cầu của người tiêu dùng và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế [11]
b) Vai trò điều tiết hàng hóa
Hoạt động bán lẻ điều tiết hàng hóa từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng Nó điều tiết hàng hóa ở tất cả các vùng miền từ thành phố, nông thôn, vùng sâu vùng xa bất kể nơi đâu có nhu cầu [11] Hoạt động bán lẻ phát triển đảm bảo cung cấp hàng hóa công bằng cho tất cả mọi người dân ở tất cả các vùng miền trên cả nước Do vậy hoạt động bán lẻ có vai trò góp phần vào việc giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực
c) Vai trò điều tiết thị trường
Sự phát triển của hoạt động bán lẻ cũng tăng cường khả năng tự điều tiết của thị trường, ít chịu sự điều tiết của Nhà nước hơn Khi hoạt động bán lẻ phát triển tức là
Trang 28hàng hóa phong phú và với nhiều nhà phân phối cùng các quy định cạnh tranh lành mạnh thì chắc chắn người tiêu dùng sẽ nhận được những hàng hóa tốt nhất với giá cả hợp lý nhất [11]
Trong nền sản xuất hàng hóa kinh tế thị trường có xuất hiện mâu thuẫn cơ bản giữa một nền sản xuất hàng hóa lớn và nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Sở dĩ có mâu thuẫn đó là do vô số người tiêu dùng khác nhau lại có những nhu cầu sở thích khác nhau Khi xã hội càng phát triển thì những nhu cầu này ngày càng tăng lên Trong khi đó các doanh nghiệp phải tăng quy mô sản xuất để tối đa hóa lợi nhuận Và hoạt động bán lẻ có vai trò giải quyết được mâu thuẫn cơ bản đó
d) Vai trò phát triển kinh tế – xã hội
Người bán lẻ cũng là một tế bào của nền kinh tế, sự phát triển của thị trường bán
lẻ chịu tác động lớn bởi những yếu tố kinh tế xã hội, nhưng ngược lại thị trường này cũng có tác động ngược trở lại tới toàn bộ nền kinh tế [11] Doanh thu của những người bán lẻ tăng, tổng doanh thu của thị trường bán lẻ lớn có ảnh hưởng tích cực làm tăng GDP Sự bình ổn của thị trường bán lẻ có nghĩa rằng chỉ số CPI đang ở mức phù hợp, lạm phát thấp… đây là những biểu hiện đáng mừng của nền kinh tế Sự ổn định của nền kinh tế góp phần tạo nên sự ổn định của xã hội, các vấn đề xã hội được giải quyết hài hòa Sự phát triển của một ngành sẽ tạo thêm nhiều cơ hội việc làm, góp phần giải
quyết nạn thất nghiệp và các vấn đề phát sinh từ nạn thất nghiệp
1.1.3.2 Chức năng của hoạt động bán lẻ
Hoạt động bán lẻ có rất nhiều chức năng:
a) Chức năng khai thác một số nhóm mặt hàng và dịch vụ thích hợp
Những cửa hàng bán lẻ cần phải khai thác một số lượng lớn các sản phẩm được sản xuất bởi nhiều công ty khác nhau Điều này là cần thiết vì nó mang lại cho khách hàng sự thoải mái trong việc lựa chọn sản phẩm, nhãn hiệu, mùi vị, màu sắc, quy cách bao bì, đóng gói và cả các mức giá khác nhau [14] Chính vì vậy cho nên các cửa hàng bán lẻ phải rất thận trọng trong việc chọn lựa những nhóm hàng hóa và dịch vụ thích hợp nhất cho từng cửa hàng, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng ở khu vực mà cửa hàng tọa lạc
b) Chức năng chia những lô hàng lớn thành những đơn vị nhỏ
Chúng ta đều biết rằng bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng là điều không
hề đơn giản đối với đa số những người sản xuất và người bán sỉ [14] Do vậy những
Trang 29người sản xuất và người bán sỉ thường thích bán từng lô lớn cho những người bán lẻ chuyên nghiệp để họ chia nhỏ ra rồi bán lại cho người tiêu dùng theo quy cách phù hợp với thói quen mua sắm của người tiêu dùng tại địa phương ấy
c) Chức năng trưng bày hàng hóa và cung cấp dịch vụ cộng thêm
Người bán lẻ tạo ra mặt bằng trưng bày hàng hóa rộng lớn có thể trưng bày hàng hóa một cách đa dạng và phong phú, giúp khách hàng thoải mái xem, thử, chọn lựa trước khi quyết định mua Không chỉ chấp nhận thanh toán bằng nhiều hình thức, nhiều loại thẻ tín dụng phổ biến, nhiều người bán lẻ còn phát hành thẻ tín dụng riêng của họ nhằm giúp cho khách hàng có được một hạn mức tín dụng để mua hàng trước
và trả tiền sau [14]
d) Chức năng phân loại và tiêu chuẩn hóa các loại hàng hóa
Người tiêu dùng có những nhu cầu rất khác nhau và khả năng chi trả cho những nhu cầu đó cũng rất khác nhau Người tiêu dùng ở nông thôn có mức thu nhập khác với người tiêu dùng ở thành thị [14] Những người trẻ có những yêu cầu về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng hàng hóa khác với người già Hoạt động bán lẻ đã thực hiện chức năng sắp xếp, phân loại số lượng hàng hóa gần nhất với nhu cầu của người tiêu dùng Tiêu chuẩn hóa là công việc tìm kiếm những sản phẩm đồng nhất giữa những người sản xuất có thể thay thế cho nhau
e) Chức năng lưu kho, bảo quản sản phẩm
Đối với mọi hàng hóa đều có thời hạn sử dụng và điều kiện bảo quản nhất định Chức năng này của hoạt động bán lẻ là đảm bảo hàng hóa giữ được chất lượng nguyên gốc nhất có thể khi đến tay người tiêu dùng Thước đo của chức năng này là khả năng đảm bảo sự ăn khớp về thời gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng [14]
f) Chức năng vận tải
Dựa vào việc mua bán hàng hóa của người sản xuất với người tiêu dùng thì người bán lẻ có thể tự mình thực hiện chức năng vận tải hàng hóa trong hệ thống phân phối của mình
g) Chức năng cung cấp tài chính
Chức năng này thể hiện ở việc những người bán lẻ cung cấp tài chính tín dụng cần thiết cho một hoạt động sản xuất hàng hóa nào đó Có thể người bán lẻ cung cấp tài chính trước một phần cho người sản xuất Việc thực hiện chức năng này tùy thuộc vào khả năng tài chính của người bán lẻ và mối quan hệ giữa người bán lẻ và người sản xuất
Trang 30h) Chức năng thông tin
Chức năng này được thể hiện qua hai chiều Một mặt, thông qua các hoạt động quảng bá, marketing của người bán lẻ thì các thông tin về sản phẩm sẽ được giới thiệu đến người tiêu dùng, người tiêu dùng sẽ nắm bắt được những thông tin cần thiết đáp ứng được những nhu cầu của họ [14] Mặt khác, qua hoạt động bán lẻ, người bán lẻ là người tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng Họ là những người hiểu rõ nhu cầu, thị hiếu, thu nhập của người tiêu dùng nhất Qua đó người bán lẻ sẽ cung cấp những thông tin phản hồi tới người sản xuất để người sản xuất có thể điều chỉnh sản xuất, đưa ra những sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất với nhu cầu của người tiêu dùng
i) Chức năng chia sẻ rủi ro
Mức độ chia sẻ rủi ro tùy thuộc vào mối quan hệ giữa người bán lẻ và người sản xuất Nếu như người sản xuất tự phân phối hàng hóa của mình thì sự chia sẻ rủi ro bằng không Nếu như người bán lẻ mua đứt hàng hóa của người sản xuất thì sau đó họ sẽ tự chịu trách nhiệm về bảo hành, vận chuyển hàng hóa cho khách hàng Khi đó rủi ro đối với người sản xuất đã được chuyển sang cho người bán lẻ tại thời điểm bán xong sản phẩm đó [14] Trong trường hợp những người sản xuất gởi bán sản phẩm, hay người bán lẻ là đại
lý hoa hồng, tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất thì rủi ro lúc này được chia sẻ cho cả người sản xuất và người bán lẻ đến khi bán, bảo hành xong sản phẩm
j) Một số chức năng khác
Những người bán lẻ như các siêu thị hiện đại còn thực hiện chức năng chế biến, nhất là đối với hàng thực phẩm Ngoài ra những người bán lẻ còn thực hiện các công việc khác như đóng gói, gắn nhãn mác…
Tóm lại hoạt động bán lẻ có vai trò và chức năng vô cùng quan trọng trong nền kinh tế Nó được coi là một mắt xích không thể thiếu của quá trình tái sản xuất đảm bảo cho quá trình này thông suốt, từ đó đem lại hiệu quả kinh tế xã hội
1.2 Những vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển thị trường bán lẻ
1.2.1 Khái niệm thị trường bán lẻ
Thị trường bán lẻ là thị trường mà ở đó kết thúc quá trình lưu thông của hàng hoá, hàng hoá đi vào lĩnh vực tiêu dùng và giá trị hàng hoá được thực hiện đầy đủ Những người bán lẻ và người tiêu dùng là hai tác nhân chính của thị trường Những người bán lẻ (cá nhân, tổ chức) và người tiêu dùng tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa trong một khuôn khổ khung pháp lý nhất định [17]
Trang 31Thị trường bán lẻ là thị trường trong lĩnh vực dịch vụ phân phối, có vị trí kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, thuộc khu vực dịch vụ của nền kinh tế Trên thị trường bán
lẻ hàng tiêu dùng, các dịch vụ hỗ trợ, bổ sung luôn gắn liền với từng loại hàng hóa khác nhau [24]
1.2.2 Khái niệm phát triển thị trường bán lẻ
Thị trường với tư cách là một phạm trù kinh tế, nó vận động và phát triển tuân theo những qui luật khách quan của nó (qui luật cung – cầu, qui luật giá trị, qui luật cạnh tranh…) Trong đó, cạnh tranh chính là động lực chủ yếu của quá trình phát triển thị trường nói chung và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng nói riêng
Trong các nền kinh tế thị trường hiện đại, phát triển thị trường cần được hiểu như một quá trình nhiều mặt liên quan đến những thay đổi nội tại của thị trường, cũng như những thay đổi về thái độ và thể chế Về cơ bản, phát triển thị trường nói chung và thị trường bán lẻ bao hàm một loạt những thay đổi, qua đó thị trường chuyển từ trạng thái
mà đa số cho là không thỏa đáng sang trạng thái được cho là tốt hơn cho cả nền kinh tế
và người dân (người tiêu dùng cuối cùng)
Tóm lại, phát triển thị trường bán lẻ là quá trình phát triển đồng bộ và bền vững các thành tố cơ bản của thị trường, bao gồm cung, cầu, giá cả và trình độ cạnh tranh trên thị trường Phát triển thị trường bán lẻ là quá trình tác động của thể chế và hệ thống chính sách của Nhà nước cả ở cấp trung ương và cấp địa phương
1.2.3 Các yếu tố cơ bản của thị trường bán lẻ
1.2.3.2 Khách hàng
Khách hàng của thị trường bán lẻ là những người mua hàng hóa về để tiêu dùng cho nhu cầu cá nhân chứ không phải nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời
Trang 32Khách hàng của thị trường bán lẻ mang tính chất quần chúng lớn với những đặc điểm sau:
- Phân tán (về nhu cầu trên một mặt hàng với số lần mua…)
- Lượng mua trên mỗi lần mua ít
- Số lần tham gia thị trường (số lần mua) lớn
- Số lượng khách hàng lớn, nếu họ có sự liên kết sẽ tạo nên một áp lực cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp
1.2.3.3 Hàng hóa và dịch vụ
Hàng hoá kinh doanh trên thị trường bán lẻ thường phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Do vậy, hàng hóa của thị trường bán lẻ thường có nhiều mặt hàng, đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng tương ứng với nhiều mức giá khác nhau
Dịch vụ là yếu tố rất quan trọng đối với thị trường bán lẻ hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, nhiều khi chính dịch vụ là yếu tố tạo ra thế mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp chứ không phải chất lượng sản phẩm Chất lượng là thuộc tính cố hữu của sản phẩm, đây là yêu cầu cần phải hoàn thành tốt đối với mọi đối tượng sản phẩm nếu nó muốn tồn tại và được khách hàng chấp nhận Bởi vậy theo đuổi chiến lược về chất lượng
sẽ gặp phải rào cản bắt chước cao và chỉ có thể thực hiện trong thời gian ngắn [15]
Riêng đối với người bán lẻ hàng tiêu dùng, nhiều khi sản phẩm của họ là những sản phẩm cùng nguồn gốc, vì thế họ không thể cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
mà chỉ có thể cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ (phong cách phục vụ, dịch vụ hậu mãi, bán hàng có quà tặng…)
1.2.4 Hệ thống kênh phân phối trên thị trường bán lẻ
1.2.4.1 Tổ chức các kênh phân phối trên thị trường bán lẻ
Phân phối là toàn bộ những hoạt động, cách thức để đưa hàng hóa từ nhà sản xuất tới tay người tiêu dùng Các hoạt động cách thức này có thể là đóng gói, vận chuyển,
dự trữ, bán lẻ…Hoạt động phân phối có thể coi là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng dù có thể người sản xuất tự cung cấp hàng hóa hay cung cấp hàng hóa qua trung gian tới người tiêu dùng Thông qua hoạt động phân phối hàng hóa có thể lưu thông trên phạm vi toàn xã hội để đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng của người tiêu dùng Dòng chảy của hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng theo các kênh phân phối khác nhau [11]
Trang 33Trong nền kinh tế ngày nay hầu hết những người sản xuất đều không bán hàng hóa của mình trực tiếp cho những người tiêu dùng cuối cùng Xen vào giữa họ và những người tiêu dùng cuối cùng là rất nhiều các nhà trung gian thực hiện các chức năng khác nhau và mang những tên gọi khác nhau Dù hàng hóa được phân phối như thế nào thì kênh phân phối của thị trường bán lẻ về cơ bản cũng chỉ bao gồm 3 thành viên: người sản xuất, người trung gian và người tiêu dùng cuối cùng
Do sự đa dạng của khâu trung gian mà hàng hóa có thể đi từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng qua rất nhiều kênh phân phối, với các cấp độ kênh khác nhau, thể hiện qua sơ đồ 1.1 sau [14]:
Sơ đồ 1.1: Các kênh phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng
cuối cùng
Kênh cấp 0: Người sản xuất trực tiếp đưa hàng hóa của mình tới tận tay người
tiêu dùng cuối cùng mà không thông qua một khâu trung gian nào khác Hàng hóa được bán tại các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của người sản xuất, bán hàng lưu động, bán hàng dây chuyền, các đơn đặt hàng qua điện thoại, truyền hình, bưu điện, Internet… Đây còn gọi là kênh phân phối hàng hóa trực tiếp
- Ưu điểm: Hàng hóa tiêu thụ nhanh chóng Vì hàng hóa đến thẳng tay người tiêu dùng nên giá cả hợp lý hơn Đồng thời, do không phải qua khâu trung gian nên người sản xuất có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn Đặc biệt, ưu điểm lớn nhất của kênh phân phối này là người sản xuất có thể dễ dàng nắm bắt, nhận biết kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng
- Nhược điểm: Để thực hiện đưa hàng hóa theo con đường này và đảm bảo được nguyên tắc lợi nhuận thì người tiêu dùng cuối cùng ở đây phải là đối tượng tiêu dùng
Người sản
xuất
Người tiêu dùng cuối cùng
Kênh cấp 0
Ngườibán lẻ Kênh cấp 1
Người bán lẻ
Người bán lẻ
Người bán buôn
Người bán buôn
Đại lý môi giới Kênh đa cấp
Kênh cấp 2
Trang 34lớn và ổn định Trên thực tế doanh nghiệp rất khó để tìm kiếm được những người tiêu dùng đáp ứng được yêu cầu đó
- Ứng dụng: Con đường trực tiếp thường được áp dụng trong trường hợp bán những hàng hóa có giá trị lớn, những hàng hóa có tính chất thương phẩm đặc biệt (hàng tươi sống, hàng kém bền…) Ví dụ: cửa hàng bán và giới thiệu xe hơi, xe máy…
Kênh cấp 1: Người sản xuất đưa hàng hóa của mình tới tay người tiêu dùng cuối
cùng thông qua khâu trung gian là những nhà bán lẻ
- Ưu điểm: Trong trường hợp này, hàng hóa được lưu thông theo con đường ngắn, chỉ qua một khâu trung gian là nhà bán lẻ, người sản xuất có thể tận dụng được
vị trí bán hàng, hệ thống phân phối của người bán lẻ Qua đó, người sản xuất có thể tăng được uy tín về hàng hóa của mình Ngoài ra, người sản xuất cũng rất dễ dàng trong việc điều chỉnh hoạt động bán hàng của mình
- Nhược điểm: Rõ ràng trong trường hợp này lợi nhuận đã bị phân chia một phần cho người bán lẻ Người sản xuất cũng khó điều phối hàng hóa của mình do các địa điểm bán hàng thuộc sở hữu của nhiều người bán lẻ khác nhau
- Ứng dụng: Những người sản xuất có quy mô nhỏ thường kiêm cả hoạt động bán buôn thì nên áp dụng kênh phân phối này Những người bán lẻ cần phải đáp ứng được yêu cầu là phải có vốn lớn và mạng lưới tiêu thụ rộng rãi
Kênh cấp 2: Người sản xuất đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng thông qua
kênh phân phối trung bình là qua người bán buôn đến người bán lẻ rồi mới đến người tiêu dùng cuối cùng
- Ưu điểm: Để mở rộng được thị trường thì người sản xuất cần phải có vốn lớn, quan hệ rộng, có bí quyết trong sản xuất, phân phối, bảo quản hàng hóa… Không phải người sản xuất nào cũng đáp ứng được yêu cầu đó Khi đó, để mở rộng thị trường thì những người sản xuất này sẽ nhờ đến vai trò của những người bán buôn Cũng nhờ có vai trò của người bán buôn và bán lẻ mà người tiêu dùng có thêm nhiều chủng loại hàng hóa tiêu dùng hơn, có thêm nhiều sự lựa chọn hơn mà không tốn nhiều thời gian
và công sức để tìm kiếm
- Nhược điểm: Chi phí sản xuất hàng hóa chắc chắn sẽ tăng lên, từ đó người sản xuất bị chia sẻ lợi nhuận nhiều hơn Người sản xuất cũng không thể tự điều chỉnh được thị trường phân phối của mình do còn phải phụ thuộc nhiều vào hoạt động của người
Trang 35bán buôn Đến kênh phân phối này, do chi phí sản xuất tăng lên nên giá cả khi đến tay của người tiêu dùng cuối cùng đã tăng cao so với kênh 1 và 2
- Ứng dụng: Mở rộng thị trường phân phối hàng hóa Hoặc khi người sản xuất khó nhận biết được người tiêu dùng cuối cùng của mình
Kênh đa cấp: Hàng hóa đến tay người tiêu dùng qua một kênh phân phối phức tạp nhất Kênh phân phối này dùng các đại lý bán hàng hay người môi giới mà đại diện người sản xuất và bán cho người bán buôn, trong nhiều trường hợp cũng cho người bán lẻ
- Ưu điểm: Khi áp dụng kênh phân phối này, người sản xuất có thể chuyên tâm vào sản xuất, khâu phân phối được giao cho những đại lý hoặc nhà môi giới Người tiêu dùng thì tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức trong việc tìm kiếm những sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bản thân
- Nhược điểm: Các kênh phân phối không trực tiếp dẫn tới giá cao hơn cho người tiêu dùng cuối cùng Càng nhiều thành viên tham gia vào kênh này, giá cuối cho người tiêu dùng càng cao Vì vậy đối với kênh phân phối phức tạp nhất này, người tiêu dùng
sẽ phải trả một mức giá cao nhất
- Ứng dụng: Trường hợp này ứng dụng khi hàng hóa phải thâm nhập vào những thị trường có những luật lệ, quy tắc nghiêm ngặt hoặc là những thị trường đầu tiên mà người sản xuất bán hàng hóa của mình Tại những thị trường này, để có thể bán được hàng hóa thì cần có những người am hiểu sâu sắc thị trường đó, có mối quan hệ tốt với những người bán buôn – đó chính là người môi giới Và kênh phân phối này đặc biệt phổ biến trong ngành thực phẩm và quần áo
1.2.4.2 Điều kiện để lựa chọn kênh phân phối
Trên thực tế người sản xuất không chỉ áp dụng duy nhất một con đường để đưa hàng hóa của mình tới người tiêu dùng cuối cùng mà thường kết hợp nhiều con đường phân phối khác nhau Khi lựa chọn các kênh phân phối hàng hóa, người sản xuất cần chú ý xem xét các điều kiện sau:
a) Xem xét về thị trường
Chúng ta cần phải xem xét các biến số thị trường dưới đây:
- Số lượng các khách hàng tiềm năng: Nếu số lượng khách hàng tiềm năng ít thì người sản xuất có thể sử dụng lực lượng bán hàng của họ để bán hàng trực tiếp cho
Trang 36người tiêu dùng cuối cùng Khi lượng khách hàng tiềm năng lớn thì cần phải sử dụng đến các trung gian
- Mức độ tập trung về mặt địa lý của thị trường: Người sản xuất có thể sử dụng các chi nhánh của mình để bán cho các thị trường tập trung Nhưng họ phải sử dụng các trung gian trong trường hợp khách hàng phân bố phân tán Khách hàng phân bố càng rộng thì kênh càng dài
- Quy mô của các đơn đặt hàng: Khi quy mô của đơn đặt hàng lớn thì người sản xuất có thể bán trực tiếp Ngược lại, khi quy mô nhỏ thì bán gián tiếp qua trung gian
Số lượng mua trong mỗi lần càng ít thì kênh càng dài
b) Xem xét về môi trường
Đó là môi trường kinh tế, pháp luật… Khi kinh tế quốc gia suy thoái thì nên giảm bớt trung gian và các dịch vụ không quan trọng để giảm chi phí Luật pháp các nước cũng quy định về việc được sử dụng các trung gian hay không đối với các hàng hóa, dịch vụ nào đó
c) Xem xét về sản phẩm
- Giá trị của mỗi đơn vị sản phẩm: Các sản phẩm có giá trị càng cao thì cần kênh phân phối càng ngắn Các sản phẩm có giá trị càng thấp thì kênh càng dài Tuy nhiên, nếu sản phẩm giá trị thấp nhưng giá trị lô hàng lớn thì cần kênh ngắn hơn
- Đặc điểm của hàng hóa: Các sản phẩm chóng hư hỏng thì càng cần các kênh ngắn Các sản phẩm cồng kềnh, nặng nề cũng cần các kênh ngắn để giảm chi phí bốc
dỡ, vận chuyển
- Đặc tính kỹ thuật của hàng hóa: Các sản phẩm có giá trị cao, đòi hỏi mức độ chăm sóc khách hàng cao, những hàng hóa không tiêu chuẩn cũng cần bán trực tiếp
d) Xem xét về các trung gian
- Các dịch vụ mà trung gian có thể cung cấp: Người sản xuất sẽ lựa chọn các trung gian có khả năng cung cấp các dịch vụ khách hàng mà người sản xuất không cung cấp được hoặc nếu cung cấp sẽ tốn chi phí cao
- Sự sẵn có các trung gian mà người sản xuất cần
- Thái độ của các trung gian đối với các chính sách của người sản xuất
e) Xem xét về bản thân người sản xuất
Trang 37Người sản xuất cần phải xem xét về nguồn tài chính của bản thân doanh nghiệp mình, khả năng quản lý, mong muốn quản lý kênh, xem xét về kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh và xem xét về mục tiêu phân phối của kênh
1.2.5 Nội dung cơ bản của phát triển thị trường bán lẻ
1.2.5.1 Phát triển thị trường bán lẻ theo chiều rộng
Sự phát triển của thị trường bán lẻ theo chiều rộng được xác định qua các tiêu chí
cơ bản như [14]:
- Tốc độ tăng trưởng về qui mô của thị trường bán lẻ: Được xác định bằng khối lượng và giá trị hàng hóa được bán ra (doanh số) trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm so với năm trước đó
- Sự thay đổi về cơ cấu chủng loại hàng hoá được bán ra trên thị trường qua các năm, bao gồm cả cơ cấu hàng hóa theo chủng loại hàng hóa, theo mức giá Thị trường phát triển khi chủng loại hàng hóa được tiêu thụ trên thị trường ngày càng phong phú
đa dạng và mở rộng ở nhóm hàng phi thực phẩm và hàng hóa có giá trị cao, tỷ lệ tiêu thụ hàng thực phẩm và hàng hóa giá rẻ ngày càng thu hẹp,…
- Sự thay đổi về cơ cấu và mức độ bao phủ của các loại hình bán lẻ truyền thống (chợ, cửa hàng độc lập, sạp hàng,…) và hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi,…) Sự thay đổi này có thể được xác định bằng số lượng cơ sở bán lẻ của từng loại hình, hoặc tổng diện tích kinh doanh của từng loại hình, hoặc thị phần bán ra của từng loại hình,… Ví dụ, thị trường phát triển khi thị phần bán ra của các loại hình bán lẻ hiện đại tăng nhanh và ngày càng chiếm tỷ lệ cao
1.2.5.2 Phát triển thị trường bán lẻ theo chiều sâu
Sự phát triển của thị trường bán lẻ theo chiều sâu được xác định qua các tiêu chí
cơ bản như [14]:
- Mức độ thỏa mãn nhu cầu mua sắm của khách hàng hay chỉ số hài lòng của khách hàng Chỉ số hài lòng của khách hàng là chỉ số dựa trên ý kiến đánh giá của khách hàng về hàng loạt các chỉ tiêu như: chất lượng hàng hóa, khả năng lựa chọn hàng hóa, sự mong đợi của khách hàng về các dịch vụ trước trong và sau khi bán hàng,
sự cảm nhận về chất lượng hàng hóa và dịch vụ so với giá của hàng hóa… Chỉ số hài lòng của khách hàng đã được nhiều quốc gia, nền kinh tế phát triển trên thế giới như
Mỹ (ACSI), Châu Âu (EPSI), Nhật Bản (JCSSI), Singapore (CSISG) ứng dụng nhằm
đo lường sự thõa mãn của khách hàng đối với các sản phẩm, hàng hóa của doanh
Trang 38nghiệp, ngành kinh tế và cả nền kinh tế
- Mức độ kết nối các kênh phân phối hàng hóa từ các thị trường tập trung, thị trường đô thị với thị trường nông thôn Sự kết nối này không chỉ khắc phục những hạn chế về năng lực của các nhà phân phối ở khu vực nông thôn, mà còn tạo điều kiện cho dòng chảy hàng hóa về thị trường nông thôn nhanh hơn, chủng loại hàng hóa phong phú và đa dạng hơn, tiết kiện chi phí lưu thông,… Đồng thời, có thể lồng ghép các kênh phân phối sản phẩm từ khu vực thành thị về các thị trường nông thôn, miền núi, hải đảo…
- Mức độ kết nối dịch vụ phân phối hàng hoá với các ngành dịch vụ có liên quan, đặc biệt là các ngành dịch vụ vận tải, ngân hàng, bưu chính - viễn thông, dịch vụ logistics, Trong đó, phát triển thị trường dịch vụ tín dụng sẽ tác động đến thị trường bán lẻ trên các phương diện như: đáp ứng nhu cầu vốn cho các nhà bán lẻ để mở rộng hoạt động kinh doanh; cung cấp tín dụng cho sản xuất và tiêu dùng của dân cư trên địa bàn, quá đó giúp người dân mở rộng sản xuất, gia tăng thu nhập và kích “cầu” tiêu dùng Phát triển thị trường kinh doanh bất động sản làm gia tăng khả năng cung cấp mặt bằng kinh doanh bán lẻ, tạo điều kiện thuận lợi để người có khả năng kinh doanh gia nhập thị trường bán lẻ Phát triển thị trường vận tải sẽ góp phần rút ngắn thời gian, chi phí vận chuyển hàng hóa đến thị trường bán lẻ ở vùng sâu vùng xa Phát triển thị trường bưu chính, viễn thông sẽ góp phần đa dạng hóa các phương thức bán lẻ như: bán lẻ qua mạng, bán lẻ qua điện thoại…[5]
- Tình trạng cạnh tranh trên thị trường bán lẻ: Cạnh tranh chính là động lực chủ yếu của sự phát triển thị trường Tuy nhiên, bất kỳ sự cạnh tranh thiếu lành mạnh nào cũng làm cho thị trường bị phát triển méo mó, lệch lạc Môi trường cạnh tranh lành mạnh phụ thuộc vào hai yếu tố quan trọng là khung khổ pháp luật và sự vận hành của
cơ chế thị trường Theo Luật Cạnh tranh của Việt Nam hiện nay, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh như: giả mạo chỉ dẫn thương mại; xâm phạm bí mật kinh doanh; mua chuộc, dụ dỗ, ép buộc trong kinh doanh và gièm pha doanh nghiệp khác; gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; lôi kéo nhân viên của đối thủ cạnh tranh; quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; khuyến mãi nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử trong Hiệp hội; bán hàng đa cấp bất chính…
- Mức độ rủi ro của thị trường, hoặc tính ổn định trong quá trình phát triển thị trường Trong đó, những yếu tố cơ bản tác động đến mức độ rủi ro của thị trường bán
Trang 39lẻ hàng tiêu dùng, như: tình trạng bất ổn trong lưu chuyển vốn của doanh nghiệp và của nền kinh tế; nguy cơ xảy ra lừa đảo trong quan hệ mua – bán; tình trạng lạm phát của nền kinh tế tăng cao; sức mua thực tế trên thị trường thiếu ổn định; nguồn cung cấp hàng hóa không ổn định.
1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường bán lẻ
1.2.6.1 Các chính sách của Nhà nước
Đây là yếu tố có tác động quyết định tới sự hình thành và phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ Các phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ như: phân phối, kế hoạch hóa, tự do buôn bán hay hoạt động theo cơ chế thị trường có quản lý của Nhà nước… Các chính sách của Nhà nước thông qua các văn bản pháp luật sẽ quyết định phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ
Hiện nay, chính sách của Nhà nước Việt Nam định hướng thị trường bán lẻ phát triển theo kiểu kinh tế thị trường có quản lý Chính sách của Nhà nước cũng thể hiện chiến lược phát triển thị trường bán lẻ theo từng nhóm hàng, nhóm đối tượng… tham gia vào thị trường [27] Ví dụ: tại Việt Nam, các chính sách liên quan tới thị trường bán lẻ đều có những quy định hạn chế tiêu dùng những mặt hàng cao cấp, hàng xa xỉ phẩm; hay hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp, cơ sở bán lẻ trong nước
Các chính sách của Nhà nước còn có vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các nhóm đối tượng tham gia vào thị trường bán lẻ Thị trường bán lẻ càng phát triển thì các chính sách của Nhà nước càng có xu hướng thông thoáng hơn và tạo ra môi trường kinh doanh công bằng, tuân thủ pháp luật Ngoài ra, các chính sách của Nhà nước cũng thể hiện mức độ can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh thương mại
Trang 40sẽ có nhu cầu mua sắm nhiều hàng hóa hơn, cả về số lượng và chủng loại hàng hóa Đó là một điều kiện tốt thúc đẩy thị trường bán lẻ phát triển
- Lạm phát: Tác động tới giá cả của hàng hóa Khi lạm phát cao sẽ làm cho giá cả hàng hóa tăng lên, đồng nội tệ mất giá, từ đó làm giảm sức mua của người tiêu dùng
và thị trường bán lẻ cũng bị đình trệ Ngược lại, nếu lạm phát được giữ ở mức ổn định, điều đó cũng thể hiện một nền kinh tế phát triển bền vững, giá cả hàng hóa ổn định, người tiêu dùng chi tiêu, mua sắm nhiều hơn và từ đó cũng thúc đẩy thị trường bán lẻ phát triển
- Tình hình thu hút vốn FDI: Thể hiện lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực này Khi lượng vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực bán lẻ cao điều đó chứng tỏ thị trường bán lẻ của chúng ta có nhiều tiềm năng, có sự tăng trưởng đáng kể Đồng thời cũng thể hiện những chính sách quan tâm của Nhà nước đối với lĩnh vực này, Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư, khuyến khích đầu tư phát triển thị trường bán
lẻ, và xây dựng một môi trường cạnh tranh công bằng cho các đối tác nước ngoài khi đầu tư vào lĩnh vực này
1.2.6.3 Dân cư
Đây là yếu tố tác động tới sự sống còn của thị trường bán lẻ Thị trường bán lẻ được coi là thị trường trung gian giữa những người sản xuất, người cung ứng và người tiêu dùng Do vậy, sức mua, thị hiếu mua sắm của người tiêu dùng là yếu tố định hướng sự phát triển của thị trường Mật độ dân cư đông hay thưa, dân số trẻ hay già, tốc độ tăng trưởng dân số nhanh hay chậm,… tất cả đều có tác động tới sự phát triển của thị trường bán lẻ
1.2.6.4 Cơ sở hạ tầng
Các yếu tố về cơ sở hạ tầng có liên quan đến việc sản xuất kinh doanh trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tập thể, cá nhân tham gia thị trường bán lẻ Sự phát triển của cơ sở hạ tầng góp phần to lớn vào sự phát triển của thị trường bán lẻ Cơ
sở hạ tầng của nền kinh tế có liên quan tới sự phát triển của thị trường bán lẻ bao gồm một số yếu tố sau:
- Quá trình hiện đại hóa mạng lưới giao thông vận tải: Sự phát triển của mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy sẽ giúp cho việc vận chuyển hàng hóa diễn ra dễ dàng hơn, thông suốt và tiện lợi hơn, giúp hàng hóa đến tay người tiêu dùng nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng