Tác giả Trần Đức cho rằng: Trang trại sẽ là lực lượng chủ lực trong các tổ chức sản xuất Nông - Lâm nghiệp ở các nước Tư bản cũng như các nước đang phát triển và khẳng định đây là một hì
Trang 1i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
NGÔ XUÂN TOẢN
PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯNG NGUYÊN
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2013
Trang 2ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
NGÔ XUÂN TOẢN
PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH
NGHỆ AN
Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS ĐỖ THỊ THANH VINH
Khánh Hòa - 2013
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là do tôi thu thập và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả
Ngô Xuân Toản
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn: Khoa kinh tế, khoa sau đại học, hội đồng khoa học Trường Đại học Nha Trang, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin cảm ơn chính quyền các xã, thị trấn, UBND huyện Hưng nguyên, các cơ quan đơn vị phòng nông nghiệp, chi cục thống kê huyện, các chủ trang trại, các cán bộ công chức, viên chức Huyện, xã Cục thống kê Tĩnh Nghệ an đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện đi thực tế cơ sở và đóng góp nhiều ý kiến cho nội dung nghiên cứu của đề tài
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đỗ Thị Thanh Vinh- Trưởng khoa kinh tế- Trường Đại Học Nha Trang đã tận tình bồi dưỡng kiến thức tư duy năng lực, phương pháp nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song do trình độ có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp và độc giả để luận văn được hoàn thiện và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Nghệ An, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Ngô Xuân Toản
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HèNH vii
PHầN Mở đầU 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại 10
1.1 Khỏi niệm và bản chất của kinh tế trang trại 10
1.1.1 Khỏi niệm về kinh tế trang trại 10
1.1.2 Khỏi niệm trang trại gia đỡnh 12
1.1.3 Bản chất của kinh tế trang trại 17
1.2 Vai trũ và vị trớ của kinh tế trang trại 17
1.3 Đặc trưng của kinh tế trang trại 18
1.4 Tiờu chớ nhận dạng kinh tế trang trại – Hệ thống cỏc chỉ tiờu đỏnh giỏ hiệu quả 19
1.5 Điều kiện ra đời và phỏt triển của kinh tế trang trại 21
1.6 Phõn loại trang trại 23
1.7 Cỏc kinh nghiệm phỏt triển kinh tế trang trại trờn thế giới và Việt Nam 26
1.7.1 Vài nột về phỏt triển Kinh tế trang trại ở một số nước trờn thế giới 26
1.7.2 Phỏt triển Kinh tế trang trại nụng nghiệp ở nước ta 30
1.7.3 Tỡnh hỡnh chung về phỏt triển kinh tế trang trại ở Việt nam 32
1.7.4 Xu thế phỏt triển kinh tế trang trại ở Việt nam hiện nay 34
Túm tắt chương 1 35
Chương 2: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIấN CỨU KINH TẾ TRANG TRẠI HUYỆN HƯNG NGUYấN – TỈNH NGHỆ AN 36
2.1 Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội huyện Hưng nguyên – Tỉnh Nghệ An 36
2.1.1 Vị trớ địa lý, địa hỡnh 36
2.1.2 Tài nguyờn thiờn nhiờn 36
2.2 Phương phỏp nghiờn cứu thiết lập bản biểu điều tra 40
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1 Thực trạng phỏt triển trang trại trờn địa bàn 41
Trang 6iv
3.1.1 Số lượng và loại hỡnh trang trại 41
3.1.2 Qui mụ sản xuất của trang trại 42
3.1.3 Lao động của trang trại 44
3.1.4 Vốn sản xuất và hiệu quả sản xuất của trang trại 45
3.1.5 Hiệu quả sản xuất của trang trại 46
3.1.6 Tỡnh hỡnh tiờu thụ hàng húa nụng sản 47
3.1.7 Cơ chế chính sách và mối quan tâm của cán bộ, chính quyền 47
3.1.8 Một số mụ hỡnh trang trại, gia trại sản xuất cú hiệu quả trờn địa bàn huyện Hưng Nguyờn 49
3.2 Những đỏnh giỏ về phỏt triển Kinh tế trang trại ở huyện 53
3.2.1 Những mặt đạt được 53
3.2.2 Những mặt hạn chế 54
3.3 Điều tra khảo sỏt ý kiến của cỏc chủ trang trại trờn địa bàn Huyện 56
3.3.1 Phương phỏp thiết lập xõy dựng bản biểu điều tra: Sử dụng phiếu cõu hỏi .56
3.3.2 Kết quả khảo sát 56
3.3.3 Một số kết quả tham quan, tham vấn, chia sẻ kinh nghiệm 63
3.3.3.1 Tham quan học tập kinh nghiệm tại cỏc huyện trong tỉnh và các tỉnh bạn 63
3.3.3.2 Hoạt động tham vấn chuyờn gia 65
3.4 Kết quả cỏc mụ hỡnh trang trại sản xuất cú hiệu quả trờn địa bàn huyện đạt được như sau 66
3.4.1 Vựng dọc Sụng Lam: 66
3.4.2 Mụ hỡnh vựng Giữa: 66
3.4.3 Mụ hỡnh Vựng ngoài: 67
Túm tắt chương 3 68
CHương 4 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI HUYỆN HƯNG NGUYấN 69
4.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 69
4.2 Cỏc giải phỏp đề xuất nhằm phỏt triển Kinh tế trang trại ở huyện Hưng Nguyờn 70
4.2.1 Qui hoạch vựng phỏt triển kinh tế trang trại 71
4.2.2 Tiến hành giao đất, cho thuờ đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) 73
4.2.3 Nõng cao trỡnh độ ứng dụng KHCN ở cỏc trang trại 75
Trang 7v
4.2.4 Hỗ trợ trang trại xây dựng cơ sở hạ tầng, tiếp cận thị trường, tiêu thụ hàng hoá 76
4.2.5 Nâng cao năng lực quản lý của chủ trang trại và nâng cao tay nghề của người lao động 76
4.2.6 Thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với phát triển kinh tế trang trại 77
4.2.7 Một số giải pháp cụ thể đối với các loại hình sản xuất của trang trại 79
4.3 X©y dùng c¸c mô hình về KTTT các vùng trên địa bàn huyện 82
4.3.1 Vùng ngoài: Bao gồm các xã Hưng Tây, Hưng Yên Nam, Hưng Yên Bắc, Hưng Trung 82
4.3.1.1 Đặc điểm của vùng 82
4.3.1.2 Mô hình Lý thuyết Kinh tế trang trại trên địa bàn 84
4.3.2 Vùng giữa: Bao gồm 9 xã Hưng Phúc, Thịnh, Mỹ, Thắng, Tiến, Thông, Tân, Thị trấn, Đạo 88
4.3.2.1 Đặc điểm của vùng 88
4.3.2.2 Mô hình lý thuyết kinh tế trang trại của vùng 90
4.3.3 Vùng dọc sông Lam: Gồm 10 xã Hưng Lĩnh, Long, Xá, Xuân, Lam, Phú, Khánh, Nhân, Châu, Lợi 92
4.3.3.1 Đặc điểm tình hình của vùng 92
4.3.3.2 Mô hình lý thuyết vùng dọc sông Lam 95
4.4 Tổ chức khảo nghiệm lấy ý kiến về tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp phát triển mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn Huyện Hưng Nguyên-Tĩnh Nghệ An 96
4.4.1 Khảo sát lấy ý kiến 96
4.4.2 Kết quả khảo sát các giải pháp 97
Tóm tắt chương 4 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC iii
Trang 8vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Hiện trạng biến động sử dụng đất huyện Hưng Nguyên (1995 – 2012) 38
Bảng 2: Dân số và lao động huyện Hưng Nguyên năm 2010-2012 39
Bảng 3: Loại hình và số lượng trang trại trên địa bàn huyện 42
Bảng 4: Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa trên địa bàn Hưng Nguyên 47
Bảng 5: Tổng hợp về quy mô và hiệu quả sản xuất của các trang trại 56
Bảng 6: Cơ cấu, số lượng trang trại phân theo vùng ở các địa phương 58
Bảng 7: Chỉ tiêu cơ bản trang trại năm 2012 59
Bảng 8: Một số chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế trang trại huyện Hưng Nguyên cuối năm 2012 60
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1: Trang trại ông Nguyễn Huy Tiến 50
Hình 2: Trang trại ông Lê Quốc Tân 51
Hình 3: Trang trại ông Hoàng Nam Cung 52
Trang 10phần Mở đầu
1 Tớnh cấp thiết của đề tài
Trang trại – hỡnh thức tổ chức kinh tế cơ sở tất yếu của sản xuất nụng nghiệp đó
và đang phỏt triển mạnh mẽ ở nước ta trong những năm gần đõy, gắn liền với sự phỏt triển kinh tế thị trường theo định hướng xó hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lónh đạo Sự phỏt triển trang trại đó mang lại những thành tựu hết sức quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nụng nghiệp nụng thụn theo hướng tập trung chuyờn canh, sản xuất hàng hoỏ, thỳc đẩy xuất khẩu cỏc sản phẩm cú giỏ trị cao Sự chuyển dịch đú khụng những đem lại hiệu quả về mặt kinh tế mà cũn mang lại hiệu quả về mặt
xó hội, mụi sinh, mụi trường gúp phần phủ xanh đất trống đồi nỳi trọc, giải quyết việc làm ổn định cho một bộ phận lớn lao động và gúp phần vào việc xoỏ đúi giảm nghốo ở khu vực nụng nghiệp và nụng thụn
Đại hội XI của Đảng đó khẳng định “Đẩy nhanh cụng nghiệp hoỏ - hiện đại hoỏ nụng nghiệp nụng thụn”1 Nụng nghiệp nụng thụn là địa bàn chiến lược quan trọng, cần phải phỏt triển nụng nghiệp nụng thụn và chuyển hướng sản xuất nụng nghiệp từ
tự tỳc tự cấp, sản xuất nhỏ, manh mỳn sang sản xuất hàng hoỏ Để thực hiện được những vấn đề trờn, thỡ một yếu tố rất quan trọng là chỳng ta phải thỳc đẩy việc phỏt triển kinh tế trạng trại, vỡ kinh tế trạng trại là một trong những tế bào cấu tạo nờn kinh
tế nụng nghiệp nụng thụn Khi thành phần kinh tế này phỏt triển, thỡ sẽ kộo theo sự phỏt triển của nụng nghiệp nụng thụn, sẽ tạo đà và điều kiện thuận lợi cho chúng ta cụng nghiệp hoỏ - hiện đại hoỏ nụng nghiệp nụng thụn
Với vai trũ quan trọng như vậy, nhưng cựng với sự phỏt triển kinh tế trang trại ở nước ta và trờn địa bàn tỉnh Nghệ An núi chung, trờn địa bàn huyện Hưng Nguyờn hiện nay mặc dự kinh tế trang trại đó cú nhiều chuyển biến với nhiều hỡnh thức và quy mụ khỏc nhau nhưng nhỡn chung do tỏc động nhiều mặt cả chủ quan lẫn khỏch quan làm ảnh hưởng đến quy mụ, số lượng, hiệu quả sản xuất, trong đú cú nhiều tỏc động tớch cực cần phỏt huy nhưng cũng cú khụng ớt tỏc động tiờu cực gõy khú khăn cản trở cần được hạn chế và thỏo gỡ trong thời gian tới để thỳc đẩy mạnh hơn sự phỏt triển của kinh tế trang trại trờn địa bàn Vỡ vậy cần thiết phải cú sự nghiờn cứu hết sức cụ thể để
đề ra giải phỏp phự hợp nhằm giỳp cho chớnh quyền cú những quyết sỏch phự hợp để đẩy nhanh phỏt triển kinh tế trang trại trờn địa bàn Với ý nghĩa đú, tụi đó lựa chọn đề
tài "Phỏt triển mụ hỡnh kinh tế trang trại trờn địa bàn huyện Hưng Nguyờn- Tĩnh
Nghệ An" làm luận văn cao học cho mỡnh
1
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI
Trang 112 Mục tiêu nghiªn cøu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Xây dựng luận cứ khoa học để chính quyền địa phương xây dựng chủ trương, chính sách phù hợp nhằm phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Hưng Nguyên
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại
- Nghiªn cøu thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Hưng Nguyên
- Khảo sát nhu cầu nguyện vọng của người dân, tổ chức tham gia vào lĩnh vực kinh tế trang trại ở địa bàn huyện Hưng Nguyên
- Dự thảo được mô hình kinh tế trang trại cho vùng ven sông Lam, vùng giữa và vùng ngoài thuộc huyện Hưng Nguyên - TÜnh NghÖ An
- Đề xuất một số giải pháp phát triển nền kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Hưng nguyên trong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá vµ c«ng cuéc n«ng th«n míi
3 Đối tượng, phạm vi nghiªn cứu
- Đối tượng nghiªn cứu: Mô hình và hiệu quả kinh tế xã hội của các trang trại thuộc 23 xã, thị trấn huyện Hưng Nguyên - Tỉnh Nghệ An
- Địa điểm phạm vi nghiên cứu: Địa bàn huyện Hưng Nguyên- TÜnh NghÖ An
- Sè liÖu thu thËp tõ n¨m 2009-2012
- Điều tra khảo sát được thực hiện vào tháng 5 và 6 năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập sè liÖu
a Thu thËp sè liÖu thứ cấp:
Các số liệu phục vụ cho phân tích thực trạng hiệu quả kinh tế xã hội của các trạng trại ở Hưng Nguyên được thu thập qua các báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Lao động và TBXH, Ban quản lý trang trại tỉnh Nghệ An
b Thu thËp sè liÖu sơ cấp:
Để tìm hiểu thực trạng hiệu quả của các trang trại cũng như những khó khăn mà các chủ trang trại đang phải đương đầu, làm cơ sở để đề xuất các giải pháp; tác giả đã tiến hành phương pháp phỏng vấn ý kiến chuyên gia và điều tra khảo sát thực tế bằng bản câu hỏi định tính
4.2 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
Tác giả đã sử dụng tổng hợp các phương pháp như : thống kê, mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp để phân tích thực trạng phát triển mô hình trang trại Ngoài ra còn
sử dụng phần mềm excel để xử lý các số liệu thu thập được từ kết quả khảo sát
Trang 125 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
5.1 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu trang trại trờn thế giới
Vấn đề trang trại đặc biệt là trang trại hộ gia đỡnh đó được cỏc nước, cỏc tổ chức quốc tế và cỏc nhà khoa học hết sức quan tõm, đó cú nhiều cụng trỡnh đi sõu vào nghiờn cứu những vấn đề cụ thể về phỏt triển kinh tế trang trại, đề ra cỏc giải phỏp nhằm khắc phục, thỏo gỡ những điều cũn bất cập trong quỏ trỡnh xõy dựng và phỏt triển Nhà kinh tế học người Nga TraiNop đó tổng kết cỏc kinh nghiệm về xõy dựng và phỏt triển kinh tế trang trại ở Mỹ, Anh, Phỏp, Đức và ở Nga trong thời kỳ cải cỏch nụng nghiệp (1906-1910), đó chứng minh hiệu quả và sức sống mónh liệt của kinh tế
hộ nụng dõn trờn mảnh đất của họ Những năm gần đõy kinh tế trang trại đó lớn mạnh
về nhiều mặt cựng với sự hợp tỏc, giỳp đỡ của cỏc nước phỏt triển, cỏc tổ chức quốc tế, cỏc tổ chức phi chớnh phủ với cỏc nước đang phỏt triển thụng qua cỏc chương trỡnh hợp tỏc kỹ thuật, chương trỡnh lõm nghiệp xó hội được thực hiện dưới hỡnh thức cỏc dự
ỏn hỗ trợ đầu tư cho cỏc hộ gia đỡnh ở giai đoạn ban đầu xõy dựng trang trại Năm
1982 tổ chức FAO đó tài trợ cho một số dự ỏn nghiờn cứu cỏc hoạt động lõm nghiệp ở Bang Gugarat (ấn Độ) Nụng dõn cỏc huyện Bhargagr và Khada ở Bang này đó được tham gia vào cỏc hoạt động trang trại Thực hiện cỏc mụ hỡnh sản xuất mới đú là kỹ thuật trồng thõm canh và xen canh cỏc loài cõy, ứng dụng tiến bộ mới trong khõu khai thỏc và chế biến nụng lõm sản mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cỏc nụng trại Người
ta dựng phương phỏp so sỏnh giữa tỷ số trong chi phớ đầu tư và lợi ớch thu được từ hoạt động trang trại với cỏc loại hỡnh sản xuất kinh doanh cỏc loài cõy trồng khỏc qua đú tự người dõn sẽ kết luận mụ hỡnh nào là hiệu quả
Ở Harahigh lands Etrrn Ethiopia do mật độ dõn số cao, nụng nghiệp kộm phỏt triển, khụng đỏp ứng được nhu cầu phỏt triển của nhõn dõn trong vựng, dẫn đến tỡnh trạng khai thỏc tài nguyờn rừng quỏ mức làm ảnh hưởng xấu đến mụi trường Một tỏc giả tỡnh nguyện người Đức đó thực hiện nghiờn cứu và xõy dựng hệ thống trang trại trong 3 năm, ụng sử dụng phương phỏp lụgic và tiếp cận đi từ điều tra tỡnh hỡnh đặc điểm điều kiện tự nhiờn, điều kiện kinh tế xó hội của khu vực, hiện trạng sử dụng đất đai, trỡnh độ canh tỏc và khả năng cung cấp sản phẩm cho nụng dõn đối với cỏc loại cõy đem trồng Nhằm đưa ra được hệ thống trang trại phự hợp, tập trung cỏc mối liờn kết của cỏc trang trại Nụng- Lõm nghiệp, thiết kế cỏc mụ hỡnh nụng lõm kết hợp và phương phỏp dự đoỏn của ICRAF đó khắc phục được nạn phỏ rừng, khai thỏc lõm sản quỏ mức, cải thiện được mụi trường và ổn định đời sống nhõn dõn trong vựng
Trang 13Ở Nêpan với sự giúp đỡ của Chính phủ Australia dự án lâm nghiệp xã hội Nêpan-Australia (NAFP) giữa chính phủ Nêpan và cục trợ gióp phát triển Australia (AIDAB), nội dung của dự án là nghiên cứu sự xói mòn đất ở Nêpan và những nguyên nhân gây nên Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đó là hoạt động sử dụng đất không hợp lý của con người đã tác động đến dòng chảy của các sông đổ vào Ấn
Độ và Bangladesh, gây ra lũ lụt và lắng đọng trầm tích ở vùng hạ lưu, dự án đã chỉ ra cho thấy việc trồng rừng không chỉ đem lại lợi ích về kinh tế và môi trường sinh thái
mà còn mang lại lợi ích cho quốc gia trong khu vực Trong dự án này người ta đã sử dụng phương pháp phân tích chi phí và thu nhập để phân tích tài chính của các hộ khi tham gia trồng rừng và đánh giá hiệu quả kinh tế
Các kết quả nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả tại Hoa Kỳ, Canada, Brazin
và các nước đang phát triển đã chỉ ra được những ưu thế của trang trại gia đình quy mô nhỏ cho việc đảm bảo cho sự phát triển ổn định, bền vững của nông nghiệp, nông thôn Việc các trang trại gia đình quy mô nhỏ và vừa “góp phần tạo ra sự thịnh vượng đối với sự tiến bộ toàn diện trong cuộc sống nông thôn bao gồm nhà cửa tốt hơn, giáo dục, dịch vụ y tế, giao thông, sự đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh tại địa phương, và
có nhiều cơ hội đối với giải trí và văn hoá hơn”
“Ủy ban Quốc gia về Trang trại nhỏ” (NCFS) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cũng đó công bố một bản báo cáo có tính bước ngoặt vào năm 1998 với nhan
đề “Thời gian hành động” Trong đó USDA thừa nhận “Những giá trị công cộng” của trang trại gia đình bao gồm:
- Tính đa dạng: Các trang trại nhỏ chứa đựng tính đa dạng của quan hệ sở hữu, của hệ thống canh tác, của cảnh quan môi trường, của sự đa dạng sinh học, của văn hoá và các giá trị truyền thống Sự phát triển của các trang trại nhỏ góp phần làm tăng tính đa dạng sinh học, làm tăng sự hấp dẫn của phong cảnh nông thôn và làm mở rộng không gian sống
- Những lợi ích về môi trường: Trang trại gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra những lợi ích môi trường cho xã hội Việc đầu tư vào các trang trại này sẽ cung cấp cho chính phủ một sự chia sẻ trong cương vị quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia
- Trao quyền hợp pháp và chịu trách nhiệm cộng đồng: Các trang trại nhỏ đó mang lại cho người nông dân một ý nghĩa lớn hơn đối với trách nhiệm cá nhân và cảm
Trang 14giác được kiểm soát cuộc sống của chính mình, đặc điểm này không dễ có được đối với công nhân trong các nhà máy Những chủ trang trại hoạt động dựa vào những doanh nghiệp và các cơ sở cung cấp dịch vụ tại địa phương để đáp ứng các nhu cầu của mình Điều này có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra cơ hội để mang lại lợi ích lớn hơn đối với cộng đồng và hạnh phúc của bản thân những người trong trang trại Ngược lại, những chủ trang trại nhỏ ở địa phương sẽ tự cảm thấy phải có trách nhiệm cao hơn trong việc kiểm soát bất cứ hoạt động tiêu cực nào mà nó có thể gây ra tác hại đối với cộng đồng
- Bổn phận của gia đình: Trang trại gia đình có bổn phận nuôi dưỡng những đứa trẻ lớn lên và thu nhận những giá trị truyền thống Những kỹ năng canh tác đó trải qua
từ thế hệ này đến thế hệ khác dưới cấu trúc sở hữu gia đình Khi những đứa trẻ không tiếp tục làm nông, những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm canh tác có thể sẽ bị mất
5.2 Tình hình nghiên cứu trang trại ë ViÖt Nam
Phát triển kinh tế trang trại ở Việt nam một vấn đề còn tương đối mới Bởi vậy
nó phong phú cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn đối với đất nước ta đang trong thời
kỳ đổi mới chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Trong những năm gần đây trang trại gia đình phát triển mạnh
mẽ và nảy sinh không ít vấn đề cần giải quyết đã được đăng tải trên các phương tiện Thông tin đại chóng cũng như trong các tài liệu nghiên cứu Vấn đề trang trại ở nước
ta đang được nhiều nhà khoa học tìm tòi, nghiên cứu và đã đưa ra những quan điểm và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại Tác giả Trần Đức cho rằng: Trang trại
sẽ là lực lượng chủ lực trong các tổ chức sản xuất Nông - Lâm nghiệp ở các nước Tư bản cũng như các nước đang phát triển và khẳng định đây là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của nhiều quốc gia trên thế giới trong thế kỷ XX
Quan niệm về kinh tế trang trại ở nước ta Lê Trọng đã đưa ra như sau : “Kinh tế trang trại bao gồm kinh tế Nông - Lâm - Ngư trại, là hình thức tổ chức kinh tế bao gồm chủ trang trại và một số lượng lao động nhất định được trang bị tư liệu sản xuất để tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường” [8] Trần Hữu Quang đưa ra ý kiến của mình: “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất Nông - Lâm nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có
tư cách pháp nhân và tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất hàng hoá Nông - Lâm sản, tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình và đáp ứng nhu cầu xã hội”
Trang 15Từ những quan điểm của mình, các tác giả đã đưa ra một số giải pháp về chính sách nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Những cuộc hội thảo khoa học, chương trình và đề tài nghiên cứu về trang trại đã được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau
Dự án nghiên cứu về khả năng phát triển các loài cây phục vụ cho chương trình phát triển trang trại Đề tài KN 03-05 thuộc chương trình KN 03 do Giáo sư - Tiến sỹ Phùng Ngọc Lan làm chủ nhiệm đề tài : "Nghiên cứu xây dựng mô hình lâm nghiệp xã hội vùng đồi nói phía Bắc Bắc Bộ "thực hiện từ tháng 6/1992 đến tháng 9/1995 [16]
Đã đề cập đến những nội dung và kết quả đạt được một cách cụ thể trong đó có những nội dung cần quan tâm
Đề tài "Nghiên cứu hiện trạng kinh tế trang trại ở các tỉnh miền nói Phía Bắc,
đề xuất một số kiến nghị về định hướng chính sách nhằm khuyến khích phát triển trang trại lâm nghiệp ở nước ta hiện nay" do Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuấn làm chủ nhiệm
đề tài [17] Tác giả đã nghiên cứu thực trạng và tình hình sản xuất kinh doanh của các trang trại lâm nghiệp ở 5 tỉnh miền nói phía Bắc, làm cơ sở để đưa ra một số giải pháp thiết thực cho sự phát triển kinh tế trang trại của khu vực nghiên cứu
Qua thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại đã thể hiện ưu thế và lợi thế về mặt kinh tế so với kinh tế hộ gia đình Vì vậy chính phủ đã có Nghị quyết số 03/2000/NQ-
CP của chính phủ ngày 02/02/2000 nhưng xung quanh lý luận và thực tiễn kinh tế trang trại còn nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ như việc tích tụ đất để phát triển kinh tế trang trại có làm bần cùng hoá nông dân, chính sách hạn điền đang thực thi có tốt cho việc phát triển kinh tế trang trại…cần phải có nghiên cứu đúc rút thực tiễn để kiểm nghiệm lý luận cho mô hình kinh tế, từ đó có căn cứ tốt để ra các chính sách trong quá trình phát triển mô hình trang trại
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến nay cả nước có gần khoảng 120.000 trang trại, bình quân mỗi năm số trang trại tăng gần 6%, diện tích đất sử dụng trên 900.000 ha, đa số trang trại là quy mô nhỏ Các trang trại chuyên trồng cây nông nghiệp chiếm 55,3%, chăn nuôi gia sóc, gia cầm chiếm 10,3 %, lâm nghiệp chiếm 2,2%, nuôi trồng thuỷ sản chiếm 27,3% và sản xuất kinh doanh tổng hợp chiếm 4,9% Hàng năm, các trang trại tạo khoảng 30 vạn việc làm thường xuyên và 6 triệu ngày công lao động thời vụ, đóng góp cho nền kinh tế trên 12.000 tỷ đồng giá trị sản lượng Việc phát triển nhanh cả số lượng lẫn chất lượng trang trại đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn
Trang 16Các tổng kết, đánh giá tại các địa phương về kinh tế trang trại đều có chung một kết luận hiện nay sự phát triển trang trại mặc dù đã có nhiều sự hỗ trợ nhà nước, những phần lớn các trang trại đang phát triển mang tính tự phát phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên
và kinh nghiệm của các chủ trang trại, Khoa học kỹ thuật được áp dụng chưa nhiều
Hội nghị tổng kết chăn nuôi trang trại do Bộ NN-PTNT tổ chức, tập trung giai đoạn 2001- 2006, định hướng và giải pháp phát triển giai đoạn 2007- 2015 kết luận: Phần lớn trang trại phát triển tự phát, hầu hết các địa phương đều chưa có quy hoạch lâu dài cho khu chăn nuôi tập trung, dẫn đến tình trạng đầu tư, xây dựng trang trại tùy tiện
Quy mô trang trại còn nhỏ thể hiện rõ ở vốn, trình độ chủ trang trại, kỹ thuật, số lao động Người có vốn lại thiếu kỹ thuật, ngược lại người có kỹ thuật thì không có vốn Một đối tượng khác vừa thiếu vốn vừa thiếu kỹ thuật, cho nên hiệu quả chưa được phát huy
Tại Nghệ An, qua tổng kết kinh tế trang trại của tác giả Hoàng Đức Ân cho thấy Kinh tế trang trại ở Nghệ An tuy thời gian phát triển chưa dài, nhưng những kết quả đạt được đã thể hiện là nhân tố mới trong nông nghiệp và nông thôn, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh [18] Kinh tế trang trại (KTTT) ở Nghệ An trong thời gian qua đã phát triển với nhiều loại hình Nhìn chung các trang trại đã lựa chọn mô hình sản xuất, kinh doanh đúng hướng sản xuất hàng hóa, khai thác tốt tiềm năng đất đai và tạo ra khối lượng nông sản phẩm lớn, đa dạng Kinh tế trang trại đã mở ra hướng làm ăn mới, được hộ nông dân tích cực hưởng ứng, hình thành đội ngũ nông dân năng động, dám nghĩ, dám làm ở mỗi địa phương ngày càng nhiều điển hình đơn vị và hộ sản xuất, kinh doanh giỏi Tinh thần hợp tác, tương trợ giữa các chủ trang trại được phát huy tốt
Tuy vậy, việc phát triển kinh tế trang trại ở Nghệ An vẫn còn những hạn chế: Trước mắt là thiếu vốn đầu tư để phát triển sản xuất Cơ chế vay vốn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc (thế chấp, tín chấp, kỳ hạn…) nên không thực hiện được Nhiều loại hình trang trại như trồng rừng, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả đòi hỏi thời gian dài và có sự đầu tư vốn lớn, các hộ kinh tế trang trại đang còn nhỏ, lẻ chưa tích tụ được vốn để tái đầu tư Nhiều chủ trang trại vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, thời hạn cho thuê đất ở một số địa phương còn rất ngắn, vì vậy chủ trang trại không dám đầu tư lớn
Trang 17Một số sản phẩm làm ra ở một số vùng không được tự chủ bán, hoặc bị cấm vận chuyển tiêu thụ ra khỏi địa bàn (ví dụ trồng tre lấy măng, nuôi baba) nguyên nhân luật chưa đồng bộ và cụ thể
Chính sách thu thuế đối với các trang trại chưa rõ ràng, thiếu nhất quán ở các địa phương; các chủ trang trại thường ít được tiếp cận đầy đủ thông tin về thị trường, chưa nắm bắt rõ quy luật cung cầu Sản phẩm nông sản làm ra thị trường tiêu thụ không ổn định, thường bị ép cấp, ép giá
Nhiều trang trại phát triển còn thụ động, không có chiến lược, định hướng lâu dài Trình độ tổ chức quản lý sản xuất ở các trang trại còn thấp (Đại học, cao đẳng chiếm 2,8 %; Trung cấp 6,63 %; số còn lại chưa qua đào tạo ở các trường Đại học, Cao đẳng ,Trung cấp hay dạy nghề…)
c Tình hình nghiên cứu tại vùng thực hiện đề tài
Hưng Nguyên là một huyện vùng đồng bằng chiêm trũng nằm phía tả ngạn con sông Lam, địa thế chia làm 23 xã, thÞ trÊn thuộc 3 vùng: Vùng trong gồm 10 xã dọc sông lam, vùng giữa gồm 9 xã và vùng ngoài gồm 4 xã Với cơ cấu kinh tế Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế chiếm 36% Đây là điều kiện phù hợp cho việc đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại trong nông nghiệp Ngay từ những năm 90 kinh tế trang trại trên địa bàn đã bắt đầu hình thành với việc xuất hiện nhiều mô hình sản xuất tập trung các loại cây lương thực, thực phẩm Sau khi chuyển đổi ruộng đất nhiều hộ gia đình đã tích tụ được ruộng đất và tập trung sản xuất với quy mô lớn hơn, sản xuất đa dạng hơn như việc nhận đất trồng, chăm sóc rừng với quy mô lớn tại xã Hưng Yên B¾c, Hng Yªn Nam, Hưng Tây, tổ chức sản xuất tổng hợp trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi trên địa bàn các xã vùng giữa
và dọc sông Lam… Đến nay số trang trại sản xuất nông, lâm ngư nghiệp ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như quy mô trang trại Tuy nhiên thực tiễn vẫn cho thấy kinh
tế trang trại trên địa bàn còn phát triển chưa xứng với tiềm năng Diện tích đất trang trại đến nay chỉ chiếm 1,2 % diện tích đất nông lâm nghiệp của toàn huyện Hầu hết các trang trại được phát triển mang tính tự phát vì vậy hiệu quả kinh tế còn chưa cao, một số trang trại thậm chí còn đem đến sự thua lỗ, môi trường sinh thái bị ảnh hưởng xấu khi đầu tư phân bón, thuốc BVTV không đóng cách… Một số vấn đề cần được xem xét giải quyết như quy mô đất, quy mô vay vốn, mức độ sử dụng sinh hoá học, quy mô tài sản cố định và kiến thức của chủ hộ ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả kinh tế
Trang 18trang trại, từ đú cú thể xỏc định đúng đối tượng cần tỏc động, thứ tự ưu tiờn tỏc động
và rút ra những giải phỏp thỏo gỡ khú khăn cho việc phỏt triển kinh tế trang trại Trong khi đú chưa cú một cụng trỡnh nào nghiờn cứu một cỏch nghiờm tỳc hiệu quả cỏc mụ hỡnh trang trại ở đõy Cỏc nội dung đỳc kết chỉ trờn cơ sở tổng kết bỏo cỏo hàng năm, chưa được điều tra khảo sỏt một cỏch kỹ lưỡng Vỡ vậy, cần thiết phải cú sự đầu tư khảo sỏt, đỏnh giỏ lại thực trạng kinh tế trang trại trờn địa bàn để từ đú đề ra những giải phỏp phự hợp đề xuất với cấp uỷ, chớnh quyền huyện thực hiện nhằm tạo điều kiện
để kinh tế trang trại phỏt triển theo đúng hướng và nõng cao hiệu quả kinh tế trang trại trờn địa bàn
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm :
- Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại
- Chương II: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu kinh
tế trang trại trên địa bàn huyện Hưng Nguyên -Tĩnh Nghệ An
- Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương IV: Các giải pháp phát triển mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Hưng nguyên -Tĩnh Nghệ An
Trang 19Chương 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại
1.1 Khỏi niệm và bản chất của kinh tế trang trại
1.1.1 Khỏi niệm về kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại là một khỏi niệm khụng cũn mới với cỏc nước kinh tế phỏt triển và đang phỏt triển Song đối với nước ta vẫn đang cũn là một vấn đề mới, do nước ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nờn việc nhận thức chưa đầy đủ về kinh tế trang trại là điều khụng thể trỏnh khỏi, đồng thời cũn một nguyờn nhõn là việc nghiờn cứu lý luận và đầu tư cho phỏt triển kinh tế trang trại ở nước ta vẫn chưa được quan tõm đỳng mức Đối với mỗi nước, mỗi vựng lónh thổ đều cú một cỏch nhỡn nhận riờng về lý luận Kinh tế trang trại và đưa ra cỏc khỏi niệm khỏc nhau về kinh tế trang trại
Theo một số nhà khoa học trờn thế giới thỡ khỏi niệm về kinh tế trang trại như sau: Lờnin đó phõn biệt kinh tế trang trại “Người chủ trang trại bỏn ra thị trường hầu hết cỏc sản phẩm làm ra, cũn người tiểu nụng thỡ dựng đại bộ phận sản phẩm sản xuất được, mua bỏn càng ớt càng tốt” [8]
Quan điểm của Mỏc đó khẳng định, điểm cơ bản của trang trại gia đỡnh là sản xuất hàng hoỏ, khỏc với kinh tế tiểu nụng là sản xuất tự cấp tự tỳc, nhưng cú điểm giống nhau là lấy gia đỡnh làm cơ sở làm nũng cốt
Ở cỏc nước tư bản phỏt triển như Mỹ, Anh và một số vựng lónh thổ ở Chõu Á: như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và một số nơi khỏc trong khu vực Họ quan niệm:
“Trang trại là loại hỡnh sản xuất Nụng- Lõm-Ngư nghiệp của hộ gia đỡnh nụng dõn sau khi phỏ vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự tỳc khộp kớn của hộ tiểu nụng, vươn lờn sản xuất nhiều nụng sản, hàng hoỏ, tiếp cận với thị trường, từng bước thớch nghi với nền kinh tế cạnh tranh” [8] Quan điểm trờn đó nờu được bản chất của kinh tế trang trại là hộ nụng dõn, nhưng chưa đề cập đến vị trớ của chủ trang trại trong toàn bộ quỏ trỡnh tỏi sản xuất sản phẩm của trang trại
Trước khi cú nghị quyết số 03 của Chớnh phủ thống nhất nhận thức về tớnh chất
và vị trớ của Kinh tế trang trại, cỏc nhà khoa học trong nước đó cú một số quan điểm như sau :
Quan điểm 1: “Kinh tế trang trại (hay kinh tế nụng trại, lõm trại, ngư trại ) là hỡnh thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xó hội, dựa trờn cơ sở hợp tỏc và phõn cụng lao động xó hội, bao gồm một số người lao động nhất định được chủ trang bị
Trang 20những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường và được nhà nước bảo hộ” [15] Quan điểm trên đã khẳng định kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất hàng hoá, cơ sở cho nền kinh tế thị trường và vai trò của người chủ trang trại trong quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chưa thấy được vai trò của hộ gia đình trong các hoạt động kinh tế và sự phân biệt giữa người chủ với người lao động khác
Quan điểm 2: “Kinh tế trang trại là kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở mức độ cao” Quan điểm trên cho thấy cơ bản quyết định của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá ở trình độ cao nhưng chưa thấy được vị trí, vai trò của nền kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường và chưa thấy được vai trò của người chủ trang trại trong quá trình sản xuất kinh doanh.[15]
Quan điểm 3 cho rằng: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong Nông-Lâm-Ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình phát triển sản xuất kinh doanh,
có phương pháp tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao” [15] Quan điểm trên
đã khẳng định kinh tế thị trường (nền kinh tế hàng hoá đã phát triển cao) là tiền đề chủ yếu cho việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại Đồng thời khẳng định vai trò vị trí của chủ trang trại trong quá trình quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại
Từ các quan điểm trên đây đã hình thành khái niệm chung về kinh tế trang trại là: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất trong Nông-Lâm-Ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ
và trình độ kỹ thuật cao hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường”
Sau khi nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/2/2000 của chính phủ về kinh tế trang trại ra đời đã quy định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản Mặt khác, theo
Trang 21quy định tại Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) có hai nhóm đối tượng có thể tham gia đầu tư sản xuất theo mô hình trang trại, đó là hộ nông dân, hộ công nhân viên nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, các loại hộ thành thị (gọi chung là hộ gia đình) và cá nhân Từ đó, hình thành nên hai loại hình kinh doanh là trang trại gia đình
và trang trại cá nhân Trong đó, cơ bản phổ biến là loại hình trang trại hộ gia đình - đây là loại hình có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta
Nghị quyết 03 đã thống nhất đầy đủ về nhận thức và vị trí của Kinh tế trang trại trên cơ sở 3 nội dung sau:
- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản
- Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn,
kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới
- Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn
1.1.2 Khái niệm trang trại gia đình
Đối với Kinh tế trang trại gia đình, theo tác giả Lê Trường Sơn – Phòng đào tạo sau đại học của trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh cho rằng hiện nay, khái niệm về trang trại gia đình chưa được ghi nhận một cách chính thức trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Theo tác giả, khái niệm về trang trại gia đình bên cạnh việc phải thể hiện được những nét bản chất về kinh tế của trang trại gia đình còn phải xác định được những đặc điểm của trang trại gia đình, làm cho nó phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác trong nông, lâm, ngư nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường [12] Để làm được điều này, nhất thiết phải dựa trên những đặc điểm của trang trại gia đình đang tồn tại ở nước ta hiện nay
Trang 22Căn cứ vào các quy định tại Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành, cũng như thực trạng hình thành và phát triển của trang trại gia đình thời gian vừa qua, có thể thấy trang trại gia đình ở Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau:
* Thứ nhất: Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế trong lĩnh vực nông, lâm,
ngư nghiệp
- Trang trại gia đình là đơn vị trực tiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội, bao gồm nông, lâm, thủy sản, đồng thời quá trình kinh tế trong trang trại gia đình là quá trình khép kín với các khâu của quá trình tái sản xuất luôn kế tiếp nhau, bao gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng
- Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế có một cơ cấu thống nhất, đó là dựa trên cơ sở hộ gia đình bao gồm chủ hộ và các thành viên khác trong gia đình Chủ trang trại (thường là chủ hộ) là người đại diện cho trang trại gia đình trong các quan hệ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Chủ trang trại là người có kiến thức, có kinh nghiệm kinh doanh, am hiểu thị trường và trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh tại trang trại Đây là những tố chất rất cần thiết cho một nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường và về cơ bản chúng không có ở người chủ hộ nông dân sản xuất tự cung tự cấp
- Tài sản và vốn sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng (đối với đất đai) chung của các thành viên trong hộ gia đình Bằng công sức, tài sản và vốn chung các thành viên của hộ gia đình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp dưới hình thức trang trại gia đình Đồng thời chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh doanh bằng những tài sản chung đó
- Xuất phát từ bản chất kinh tế của trang trại, nên hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình luôn gắn liền với một vị trí diện tích đất đai nhất định Thực tế cho thấy, đây vừa là địa điểm sản xuất kinh doanh đồng thời cũng là trụ sở giao dịch của trang trại gia đình trong các quan hệ nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, để thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thị trường, không ít trang trại gia đình đã mở thêm các địa điểm giao dịch gần các trung tâm thương mại lớn nhằm tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của mình
Theo pháp luật hiện nay, trang trại gia đình bước đầu cũng đã được quy định cho một số quyền và nghĩa vụ trong sản xuất kinh doanh ở một số lĩnh vực như : đất
Trang 23đai, thuế, đầu tư, tín dụng, lao động, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo hộ, v.v… Trên cơ sở những quyền và nghĩa vụ này, trang trại gia đình hoàn toàn tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ lựa chọn phương hướng sản xuất, quyết định kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tổ chức sản xuất, đến tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm…
Hiện nay, theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 về đăng ký kinh doanh, trang trại gia đình đang phải đăng ký kinh doanh dưới danh nghĩa hộ kinh doanh cá thể Vấn đề đăng ký kinh doanh cho trang trại gia đình hiện vẫn chưa được
đề cập đến trong các văn bản pháp luật Tuy nhiên, đây là một việc làm hết sức cần thiết để thể hiện sự chính thức thừa nhận và bảo hộ của Nhà nước đối với trang trại gia đình, đây còn là cơ sở để một hộ là trang trại gia đình được hưởng các chính sách ưu tiên và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã xác định đây là một trong những vấn đề bất cập, cần phải được giải quyết kịp thời
* Thứ hai: Mục đích chủ yếu của trang trại gia đình là kinh doanh nông sản
phẩm hàng hoá theo nhu cầu thị trường Đây là đặc điểm quan trọng nhất của trang trại gia đình Mục tiêu của trang trại gia đình là sản xuất nông, lâm, thủy sản để bán, khác hẳn với kinh tế hộ tự cấp tực túc là chính Trang trại gia đình là một hình thức tổ chức sản xuất nông lâm ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ tự chủ trong cơ chế thị trường mang tính chất sản xuất hàng hoá rõ rệt Vì vậy, đặc trưng cơ bản của trang trại gia đình là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy tiêu chí giá trị nông sản hàng hoá và tỷ suất hàng hoá bán ra trong năm luôn luôn được sử dụng làm thước đo chủ yếu của trang trại Ở Việt Nam, thực tiễn sản xuất của các trang trại gia đình trong những năm vừa qua cho thấy, trang trại nào cũng lấy sản xuất hàng hoá là hướng chính và tỷ suất hàng hoá của các trang trại trại phổ biến từ 70 – 80% đối với những trang trại đã đi vào sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản Theo một kết quả điều tra năm
2001 cho thấy: Ở nước ta trong năm 2000, giá trị hàng hoá của các trang trại trong cả nước đạt 4.965,9 tỷ đồng, bình quân một trang trại đạt 81,7 triệu đồng, tỷ suất hàng hoá là 92,6%1 Đặc trưng sản xuất hàng hoá cho phép phân biệt rõ ràng ranh giới giữa trang trại gia đình với kinh tế hộ nông dân, sản xuất tự cấp tự túc và với hộ phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn
Trang 24* Thứ ba: Trong trang trại gia đình, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất
và tiền vốn được tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá Trong nông nghiệp cũng như trong các ngành sản xuất vật chất khác, sản xuất hàng hoá chỉ có thể được tiến hành khi các yếu tố sản xuất được tập trung với quy mô nào đó Do đó, ở các trang trại gia đình sản xuất hàng hoá chỉ có thể được thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất,… được tập trung tới quy mô đủ lớn Đặc điểm này được quy định bởi chính đặc điểm về mục đích sản xuất của trang trại Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục thống kê, sự tập trung các yếu tố sản xuất của trang trại gia đình được biểu thị về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu, đó là: Quy mô diện tích ruộng đất của trang trại (nếu là trang trại chăn nuôi thì là số lượng gia súc, gia cầm…)
và quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại Thực tế cho thấy, các trang trại gia đình có quy mô lớn hơn rất nhiều so với kinh tế hộ gia đình nông dân Theo liên hiệp các hội khoa học và kỷ thuật năm 2012 thì trong năm 2000 co 3.075 trang trại đến năm 2005 co 5.916 trang trại tăng18,47%/năm Đến hết 2012 lên 30.000 trang trại thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Bình quân mỗi trang trại gia đình có quy mô đất 6,6ha/trang trại và vốn đầu tư bình quân 291,4 triệu đồng/trang trại Trong đó vốn
tự có 91,3% vay 8,7% chủ yếu là vốn vay trực tiếp ngân hàng 48,08% quy mô giá trị sản xuất hàng hóa đạt 92 triệu /trang trại thu nhập bình quân 44 triệu /trang trại/năm và của người lao động 16 triệu /năm Các nhà kinh tế dự báo rằng trong tương lai kinh tế trang trại chính là kinh tế hộ nông dân chiếm vị trí quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp với 70-80% giá trị sản lượng toàn ngành trong khi nông dân chỉ còn dưới 50% lao động
* Thứ tư: Lao động trong các trang trại gia đình chủ yếu là dựa trên các thành
viên trong hộ, ngoài ra có thuê mướn lao động Lực lượng lao động trong trang trại chủ yếu là chủ trang trại và các thành viên trong gia đình, đây là những người có quan
hệ huyết thống, gần gũi như: cha mẹ, vợ chồng, anh em Lao động được tổ chức gọn nhẹ, đơn giản, quản lý điều hành linh hoạt, dễ dàng, hiệu quả lao động cao Ngoài ra,
để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, trang trại gia đình còn phải thuê mướn lao động bên ngoài nhất là vào thời vụ gieo trồng, thu hoạch Quy mô thuê muớn lao động trong trang trại tùy thuộc vào quy mô sản xuất kinh doanh của trang trại Có hai hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại gia đình, đó là: thuê lao động thường xuyên và thuê lao động theo thời vụ Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, năm
Trang 252012 bình quân 1 trang trại sử dụng 6 lao động (quy ra thường xuyên), lao động trong gia đình chiếm 45%; hầu hết trang trại đều có sử dụng lao động thuê ngoài, số lượng lao động thuê ngoài trong các trang trại chiếm khoảng 55% tổng số lao động trong các trang trại, trong đó chủ yếu là lao động thời vụ (khoảng 70%) Trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản do tính chất sản xuất khá ổn định nên sử dụng lao động thời vụ ít hơn (từ 10 – 20%)3
* Thứ năm: Cách thức tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh trong trang trại gia đình
ngày càng mang tính khoa học, chuyên nghiệp Trong kinh tế hộ gia đình nông dân do tính chất sản xuất đơn giản và quy mô sản xuất nhỏ với mục đích tự cung tự cấp là chính, do vậy việc điều hành sản xuất của chủ hộ vẫn còn mang nặng tính gia trưởng, người chủ hộ chỉ cần có kinh nghiệm sản xuất và cần cù lao động theo kinh nghiệm cha truyền con nối Nhưng đối với trang trại gia đình, với mục đích chính là sản xuất hàng hoá và bị các yếu tố lợi nhuận, giá cả, cạnh tranh chi phối ngày càng nhiều thì cách quản lý theo kiểu gia trưởng không còn phù hợp nữa Sản xuất đòi hỏi phải có phương án hợp lý lựa chọn cây trồng, vật nuôi, quy hoạch ruộng đất, xây dựng kết cấu
hạ tầng kỹ thuật sản xuất, áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất thâm canh, kế hoạch tài chính, hạch toán giá thành, lợi nhuận, phân tích kinh doanh… Do vậy việc quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại đòi hỏi phải dựa trên
cơ sở những kiến thức khoa học và ngày càng mang tính chuyên nghiệp, đi vào chiều sâu Như vậy, mặc dù cũng dựa trên cơ sở hộ gia đình, nhưng trang trại gia đình có sự khác biệt rất lớn so với hộ gia đình thể hiện ở mục đích, quy mô và trình độ sản xuất Trang trại gia đình đã và đang ngày càng thể hiện rõ tính chất của một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn ở nước ta
Từ những đặc điểm nêu trên dưới góc độ pháp lý khái niệm về trang trại gia đình với tư cách là một chủ thể kinh doanh độc lập trong nền kinh tế thị trường có thể hiểu như sau: “Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, dựa trên cơ sở hộ gia đình, có mục đích chủ yếu là kinh doanh nông sản hàng hoá, trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ, tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh” Khái niệm này vừa thể hiện được bản chất về mặt kinh tế của trang trại nhưng đồng thời cũng thể hiện được những đặc trưng của loại hình trang trại gia đình, là cở sở để phân biệt trang trại gia đình với các loại hình kinh doanh khác đang tồn tại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Trang 261.1.3 Bản chất của kinh tế trang trại
Từ sau nghị quyết X của Bộ Chính Trị (Tháng 4/1998) về đổi mới kinh tế nông nghiệp, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nước ta được điều chỉnh một bước Song phải đến nghị quyết VI của Ban chấp hành trung ương(khoá VI – 3/1989) hộ gia đình
xã viên mới được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ cùng với một loại các chính sách kinh tế được ban hành Kinh tế hộ nông dân nước ta đã có bước phát triển đáng kể Một bộ phận nông dân có vốn, kiến thức, kinh nghiệm sản xuất và quản lý, có ý chí làm ăn đã đầu tư và phát triển Nông - Lâm - Thuỷ sản, họ trở lên khá giả Trong đó một số hộ chuyển sang sản xuất hàng hoá Song đại bộ phận các hộ nông dân sản xuất với mục tiêu chủ yếu là để tiêu dùng, số sản phẩm đưa ra bán trên thị trường là sản phẩm dư thừa Sau khi đã dành cho tiêu dùng Số sản phẩm hàng hoá một mặt chưa ổn định, còn phụ thuộc vào kết quả sản xuất từng năm và mức tiêu dùng của từng gia đình
và mặt khác” Họ chỉ bán cái mà mình có chứ chưa bán cái mà thị trường cần”
Như vậy muốn phân biệt kinh tế trang trại với kinh tế hộ nông dân là căn cứ và mục tiêu sản xuất Đối với hộ nông dân mục tiêu sản xuất của họ là để tiêu dùng, sản xuất nhắm đáp ứng nhu cầu đa dạng về lương thực, thực phẩm và các nhu cầu khác của họ Ngược lại, mục tiêu sản xuất của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường về các loại Nông-Lâm-Thuỷ sản, sản phẩm sản xuất ra là để bán C Mác đã nhấn mạnh “Kinh tế trang trại bán đại bộ phận nông sản được sản xuất ra thị trường, các hộ nông dân thì bán ra mua vào càng ít bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Như vậy trình độ phát triển của kinh tế hộ nông dân chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hoá phải tự cung tự cấp Để có nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn phải chuyển kinh tế hộ nông dân sang phát triển kinh tế trang trại” [8]
1.2 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong vấn đề nông nghiệp thế giới, ngày nay trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong nền nông nghiệp các nước ở các nước đang phát triển trang trại gia đình có vai trò to lớn quyết định trong sản xuất nông nghiệp, ở đây tuyệt đại bộ phận nông sản phẩm cung cấp cho
xã hội được sản xuất ra từ các trang trại gia đình
Ở nước ta kinh tế trang trại mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây Song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện khá rõ nét cả về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường
Trang 27- Về mặt kinh tế, các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hoá cao mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại
ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các loại nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn so với kinh tế nông hộ Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn
- Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm tăng thêm thu nhập cho lao động Điều này rất
có ý nghĩa trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm, một trong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn và tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh do đó phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt xã hội nông thôn nước ta
- Về mặt môi trường: Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực và lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo
vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm không gian sinh thái trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng
Các trang trại ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trồng đồi núi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai - những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thaí trên các vùng đất nước
1.3 Đặc trưng của kinh tế trang trại
Ngay từ khi kinh tế trang trại mới hình thành ở một số nước công nghiệp hoá Tây Âu, C Mác dã là người đầu tiên đưa ra nhận xét chỉ rõ đặc trưng cơ bản của kinh
tế trang trại với kinh tế tiểu nông Người chủ trang trại sản xuất và bán tất cả, kể cả thóc giống Còn người tiểu nông sản xuất và tự tiêu thụ hầu hết các sản phẩm làm ra và mua bán càng ít càng tốt
Thông tư số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại đã quy định rất rõ về đặc trưng của Kinh tế trang trại ở Việt nam như sau:
Trang 28- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất Nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá với quy mô lớn, kinh doanh có lãi
- Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như: đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá
+ Quan hệ thị trường: chịu sự chi phối của thị trường
+ Hạch toán: dưới hình thức hạch toán giá trị để xác định lỗ lãi
+ Lao động: lao động gia đình và thuê mướn nhân công
+ Quy mô sản xuất: lớn, tập trung hóa, chuyên môn hóa cao
- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất,
sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ
1.4 Tiêu chí nhận dạng kinh tế trang trại – Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Để xác định một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông nghiệp có phải là trang trại hay không, thì phải có tiêu chí để nhận dạng trang trại có căn cứ khoa học tiêu chí nhận dạng trang trại cần phải hàm chứa được đặc trưng cơ bản của trang trại, nhằm đảm bảo tính chính xác của việc nhận dạng trang trại, chúng ta đi vào xác định các tiêu chí về mặt định tính cũng như mặt định lượng của trang trại
Về mặt định tính, tiêu chí trang trại biểu hiện đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuất nông sản hàng hoá
Về mặt định lượng, tiêu chí nhận dạng trang trại thông qua các chỉ tiêu cụ thể nhằm để nhận dạng, phân biệt loại cơ sở sản xuất nào được coi là trang trại, loại cơ sở nào không được coi là trang trại và để phân loại giữa các trang trại với như về quy mô
Các loại chỉ tiêu cụ thể chủ yếu thường dùng để xác định tiêu chí định hướng của trang trại là tỷ suất hàng hoá, khối lượng và giá trị sản lượng nông sản hàng hoá và các chỉ số phụ, bổ sung thường dùng là quy mô đất trồng trọt, số đầu gia súc, gia cầm chăn nuôi, quy mô vốn đầu tư, quy mô lao động sử dụng, thu nhập trên đơn vị đất đai, lao động, vốn đầu tư Tuy nhiên trong thực tế thường chỉ chọn 1, 2 chỉ số tiêu biểu nhất chỉ rõ được, lượng hàng hoá được đặc trưng cơ bản nhất của trang trại và dễ nhận biết nhất
Trang 29Các chỉ tiêu kinh tế:
Các tiêu chí đánh giá:
+ Lãi = Giá trị sản lượng - chi phí sản xuất
+ Lãi suất = lãi/chi phí sản xuất x100
+ Thu nhập = Lãi + giá trị công lao động của gia đình
+ Thu nhập ngày công = thu nhập/số ngày công của hộ
+ Giá thành sản phẩm = Chi phí sản xuất/số lượng sản phẩm
+ Giá thành một đơn vị diện tích = Giá trị sản lượng/diện tích canh tác
+ Giá bán = Giá thành thành phẩm + 1 khoản lãi + cước vận chuyển
Gbđ + C + Gđt+ Giá trị khấu hao thiết bị: GK =
T Trong đó: GK: Giá trị khấu hao thiết bị T: Thời gian sử dụng
Gbđ: Giá trị ban đầu Gđt: Giá trị đào thải C: Các chi phí bổ sung Mk: Mức độ khấu hao
GK
Gbđ + C - GđtTrên thế giới, để nhận dạng thế nào là một trang trại, ở các nước phổ biến chỉ sử dụng tiêu chí định tính chung có đặc trưng là sản xuất nông sản hàng hoá, không phải
là sản xuất tự túc Chỉ có một số ít nước sử dụng tiêu chí định lượng như (Mỹ, Trung quốc) ở Mỹ trước đây có quy định một cơ sở sản xuất được coi là trang trại khi có giá trị sản lượng nông sản hàng hoá đạt 250USD trở lên và hiện nay quy định là 1000USD trở lên ở Trung Quốc quy định tiêu chí của các hộ chuyên (tương tự như trang trại) có
tỷ suất hàng hoá, 70 - 80% trở lên và giá trị sản lượng hàng hoá cao gấp 2 - 3 lần bình quân của các hộ nông dân
Ở Việt Nam, kinh tế trang trại mới hình thành trong những năm gần đây, những
đã có sự hiện diện hầu hết các ngành sản xuất Nông, Lâm nghiệp, ở các vùng kinh tế với các quy mô và phương thức sản xuất kinh doanh đa dạng Theo Thông tư liên tịch
số 69 liên bộ Nông nghiệp & PTNT, Tổng cục Thống Kê và Thông tư số BNN điều chỉnh về tiêu chí xác định trang trại thì Kinh tế trang trại phải đạt 1 trong 2 tiêu chí sau:
Trang 3074/2003/TT-Tiêu chí 1: Giá trị hàng hoá và sản lượng bình quân 1 năm đối với các tỉnh Bắc
và Duyên hải miền trung từ 40 triệu đồng trở lên; đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
Tiêu chí 2: Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông
hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
- Đối với trang trại trồng trọt:
+ Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh Bắc và Duyên hải miền trung; từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên
+ Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3 ha trở lên đối với đối với các tỉnh Bắc và Duyên hải miền trung; từ 5ha trở lên với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên
+ Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5ha trở lên
- Trang trại Lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trên cả nước
- Đối với trang trại chăn nuôi:
+ Chăn nuôi đại gia súc (trâu bò…): Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
+ Chăn nuôi gia súc (lợn, dê…): Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với
20 con lợn trở lên, đối với dê cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), Dê thịt từ 200 con trở lên
- Chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngan ngỗng…): Có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính đầu con dưới 7 ngày tuổi)
- Trang trại Nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có
từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp có từ 1ha trở lên)
Ngày 13/4/2011 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ra thông tư số 27 trong
đó có mục xác định tiêu chí của kinh tế trang trang lên mức độ cao hơn so với các văn bản trước đó
1.5 Điều kiện ra đời và phát triển của kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại là sản phẩm tất yếu của quá trình công nghiệp hoá được hình thành và phát triển ở các nước công nghiệp phát triển, các nước đang phát triển đi lên công nghiệp hoá Nó là đội quân tự chủ sản xuất nông sản hàng hoá ở các nước công nghiệp phát triển và là đội xung kích trong sản xuất nông sản hàng hoá ở các nước đang phát triển Kinh tế trang trại ở một quốc gia được hình thành và phát triển khi hội
tụ những điều kiện cần và đủ
Trang 31- Điều kiện cần đối với trang trại (điều kiện vĩ mô)
+ Quốc gia đó phải có nền kinh tế đã chuyên môn hoá hoặc trong quá trình công nghiệp hoá
+ Mỗi quốc gia có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, trong đó thị trường nông nghiệp đầu vào, đầu ra đều là hàng hoá
+ Nhà nước công nhận và khuyến khích phát triển kinh tế trang trại
- Điều kiện đủ đối với kinh tế trang trại
+ Có một bộ phận dân cư có nguyện vọng, sở thích hoạt động sản xuất nông sản hàng hoá, hoạt động kinh doanh trang trại
+ Người chủ phải có trình độ kiến thức quản lý KTTT sản xuất hàng hoá
+ Có tiềm năng về tư liệu sản xuất kinh doanh (vốn đất đai, thiết bị)
Vốn sản xuất bao gồm vốn tự có vốn đi vay trong đó vốn tự có phải chiếm phần lớn phải có đủ vốn thì các ý đồ của chủ mới có khả năng thực thi Còn đất đai là điều kiện quan trọng, là tiền đề cho việc hình thành trang trại Không có đất đai thì không thể coi là sản xuất nông nghiệp Những điều kiện trên không đòi hỏi phải thật đầy đủ đồng bộ, hoàn chỉnh ngay từ đầu mà có sự biến động và phát triển qua từng giai đoạn
ở Việt Nam, sự ra đời của hình thức kinh tế trang trại gia đình được bắt nguồn từ các chính sách đổi mới kinh tế nói chung và chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn nói riêng trong từng năm gần đây
Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (31/10/1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động cho phép gia đình chủ động sử dụng một phần lao động và thu nhập song chưa thay đổi gì về quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, vẫn giữ chế độ phân phối theo ngày công Tiếp đến là nghị quyết 10 của Bộ chính trị (5/4/1988) đã nâng cao mức tự chủ kinh doanh của hội xã viên trên cả 3 mặt Tư liệu sản xuất, được giao khoán ruộng đất từ 15 năm trở lên, không bị hạn chế việc mua sắm tư liệu khác, trâu,
bò và nhiều công cụ lao động thuộc tài sản tập thể được chuyển thành sở hữu của xã viên, tổ chức lao động, tự đảm nhận phần lớn các khâu trong quy trình sản xuất và phân phối (ngoài phần đóng góp và trao đổi thoả thuận với các hợp tác xã, xã viên hưởng toàn bộ phần thu nhập còn lại xoá bỏ chế độ hợp tác phân phối theo ngày công)
Từ chỗ chỉ được làm chủ phần kinh tế gia đình với tính cách là sản phẩm phụ, qua khoán 100 đến 10 hộ xã viên đã trở thành chủ thể chính trong sản xuất nông nghiệp đồng thời với việc thừa nhận hộ gia đình nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, đảng
Trang 32và nhà nước từng bước tạo dựng môi trường thể chế thuận lợi cho kinh tế hộ gia đình
tự do phát triển sản xuất và dịch vụ, bình đẳng trong các quan hệ kinh tế Xác định nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia sản xuất phát triển theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Luật đất đai được Quốc Hội thông qua ngày 14/7/1993 thực hiện việc giao đất lâu dài trong hộ nông dân, thừa nhận nông dân
có 5 quyền sử dụng đất Ngoài ra nhà nước còn ban hành các chính sách, các chương trình dự án nhằm hỗ trợ vốn cho các hộ nông dân làm giàu và phát triển kinh tế như: chỉ thị số 202- về cho vay vốn sản xuất Nông - Lâm nghiệp đến hộ sản xuất Quyết định 327/CP ngày 15/9/1992 của chủ tịch HĐBT về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc,rừng bãi bồi ven biển quyết định Trung Ương V khoá 7, nghị quyết trung ương I khoá VIII đã vạch ra đường lối chiến lược, tạo ra bước ngoặt
cơ bản cho sự đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn như phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn như phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững và toàn diện kinh tế xã hội ở địa phương Đường lối chiến lược trên đã giải phóng và phát huy triệt để mọi tiềm năng kinh tế hộ gia đình nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường, chuẩn bị những điều kiện chín muồi cho sự ra đời của một hình thức kinh tế mới: kinh tế trang trại
Đến nay kinh tế trang trại đã được hình thành và phát triển trên khắp các vùng của cả nước, đặc biệt phát triển mạnh ở miền nam, trung du và miền núi, ven biển Đã xuất hiện mô hình trang trại như: trang trại thuần nông, trang trại thuần lâm nghiệp, trang trại chuyên chăn nuôi, trang trại chuyên nuôi trồng thuỷ sản, trang trại phát triển tổng hợp nông lâm nghiệp, nông ngư nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, kết hợp với công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hoặc dịch vụ
1.6 Phân loại trang trại
Có nhiều cách phân loại trang trại khác nhau nhưng ta có thể phân theo các tiêu chí cơ bản sau:
a Theo tổ chức quản lý:
- Trang trại gia đình độc lập: Là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh độc lập theo từng gia đình, do chủ gia đình quản lý điều hành Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay
Trang 33- Trang trại hợp tác: Là loại hình hợp tác tự nguyện của một số trang trại gia đình với nhau hình thành một trang trại quy mô lớn hơn để tăng khả năng kinh doanh
- Trang trại cổ phần: Là loại hình tổ chức hợp tác các trang trại gia đình hình thành một trang trại lớn nhỏ theo nguyên tắc công ty cổ phần và hoạt động theo nguyên tắc công ty cổ phần, loại hình này chủ yếu phát triển trong lĩnh vực chế biến, tiêu thụ sản phẩm
- Trang trại ủy thác: Là trang trại mà chủ doanh nghiệp cho người khác quản lý một phần hay toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, trong khoảng thời gian nhất định (loại hình này có ở các nước tư bản)
b Theo cơ cấu sản xuất:
- Trang trại Kinh doanh tổng hợp: Là trang trại sản xuất kinh doanh nhiều sản phẩm gắn trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp với các ngành ngư nông nghiệp
- Trang trại sản xuất chuyên môn hóa: Là trang trại tập trung sản xuất kinh doanh chuyên môn một loại sản phẩm
c Theo hình thức sở hữu:
- Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất là loại hình phổ biến hiện nay
- Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất, vốn lại đi thuê người khác
- Trang trại thuê hoàn toàn tư liệu sản xuất của chủ khác để SXKD
* Theo tính chất và quy mô sở hữu:
+ Trang trại gia đình
+ Trang trại tiểu chủ
+ Trang trại tư nhân
Để rõ hơn sự khác biệt giữa kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại, chúng ta có thể so sánh dựa trên bảng dưới đây:
Khái
niệm:
Là hình thức tổ chức SX của nền SX xã hội
hoạt động kinh doanh nông lâm ngư nghiệp
theo quy mô lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế,
được đầu tư quản lý điều hành sản xuất tạo ra
sản phẩm hay dịch vụ theo khả năng sản xuất
kinh doanh của hộ và yêu cầu xã hội
Là hình thức sản xuất cơ sở trong nông lâm ngư nghiệp, có mục đích sản xuất chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô rộng lớn và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn, với tư cách quản
Trang 34lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao hoạt động tự chủ và luôn gắn liền với thị trường
- Lao động: Sử dụng lao động gia đình là chính
- Quy mô: Nhỏ, manh mún
- Khoa học kỹ thuật: Kinh nghiệm canh tác
truyền thống
- Chủ hộ: Vừa là chủ gia đình, vừa điều hành
sản xuất vừa trực tiếp sản xuất, đa số trình độ
văn hóa, KHKT thấp, bảo thủ, cố hữu, thiếu
năng động, chậm đối mới
- Mục đích SX: SX hàng hóa, kinh doanh có lãi
- Quan hệ thị trường: Chịu sự chi phối của thị trường
- Hạch toán SX: Có hạch toán để xác định lỗ lãi
- Lao động: Lao động gia đình và thuê mướn nhân công
- Quy mô: Lớn, tập trung hóa, chuyên môn hóa cao
- Khoa học kỹ thuật: Biết áp dụng tiến
bộ KHKT mới
- Chủ trang trại: Là người có trình độ văn hóa, biết áp dụng KHKT, có năng lực tổ chức, quản lý, kinh doanh; có ý chí vươn lên làm giàu chính đáng, dám nghĩ dám làm
+ Hộ sản xuất hàng hóa lớn: Có điều kiện đất
đai lao động, vốn, kỹ thuật Đây là nền móng
để hình thành trang trại
+ Hộ tiểu nông sau sẽ không có khả năng phát
triển KTTT:
., Hộ ít đất hoặc không có đất, ít vốn hoặc
không có khả năng tích lũy, huy động vốn
., Hộ du canh du cư, không có sự giao lưu hàng
hóa
., Chủ hộ thỏa mãn với cuộc sống hiện có,
không có khát vọng vươn lên làm giàu
Trang 351.7 Các kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại trên thế giới và Việt Nam
1.7.1 Vài nét về phát triển Kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới
Trên thế giới kinh tế trang trại xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ XVII đầu thế kỷ XVIII, trải qua vài thế kỷ tồn tại và phát triển kinh tế trang trại được khẳng định là mô hình kinh tế phù hợp đạt hiệu quả cao trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia đều có điều kiện tự nhiên khác nhau, phong tục tập quán khác nhau cho nên có các mô hình trang trại khác nhau
Loại hình trang trại gia đình sử dụng sức lao động trong gia đình là chính, kết hợp thuê nhân công phụ theo mùa vụ, là mô hình sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp thế giới Châu Âu cái nôi của cuộc cách mạng công nghiệp lần I đã xuất hiện hình thức tổ chức trang trại nông nghiệp sản xuất hàng hoá thay thế cho hình thức sản xuất tiểu nông và hình thức điền trang của các thế lực phong kiến
Ở nước Anh đầu thế kỷ thứ XVII sự tập trung ruộng đất đã hình thành lên những xí nghiệp công nghiệp tư bản tập trung trên quy mô rộng lớn cùng với việc sử dụng lao động làm thuê Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp ở đây giống như mô hình hoạt động của các công xưởng công nghiệp, thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô và sử dụng nhiều lao động làm thuê đã không dễ dàng mang lại hiệu quả mong muốn Sang đầu thế kỷ XX, lao động nông nghiệp bắt đầu giảm, nhiều nông trại đã bắt đầu giảm lao động làm thuê Khi ấy thì 70 - 80% nông trại gia đình không thuê lao động Đây là thời kỳ thịnh vượng của nông trại gia đình, vì khi lao động nông nghiệp giảm thì sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ đã thu hút lao động nhanh hơn độ tăng của lao động nông nghiệp Tiếp theo nước Anh, các nước: Pháp, Ý, Hà lan, Đan mạch, Thuỵ điển sự xuất hiện và phát triển kinh tế trang trại gia đình ngày càng tạo ra nhiều nông sản hàng hoá, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp hoá Với vùng Bắc Mỹ xa xôi mới được tìm ra sau phát kiến địa lý vĩ đại, dòng người khẩu thực từ Châu Âu vẫn tiếp tục chuyển đến Bắc Mỹ và chính công cuộc khẩu thực trên quy mô rộng lớn đã mở đường cho kinh tế trang trại ở Bắc Mỹ phát triển
Ở Châu Á, dưới chế độ phong kiến lâu dài kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hoá ra đời chậm hơn Tuy vậy, vào cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX sự xâm nhập của tư bản phương tây vào các nước Châu Á, cùng việc thu nhập phương thức sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa đã làm nẩy sinh hình thức kinh tế trang trại trong nông nghiệp
Trang 36Trong quá trình phát triển kinh tế trang trại ở các nước trên thế giới đã có sự biến động lớn về quy mô, số lượng và cơ cấu trang trại Nước Mỹ là nơi có kinh tế trang trại rất phát triển Năm 1950 ở Mỹ có 5.648.000 trang trại và giảm dần số lượng đến năm 1960 còn 3.962.000 trang trại Trong khi đó diện tích bình quân của trang trại tăng lên, năm 1950 là 56 ha, năm 1960 là 120 ha, năm 1970 là 151 ha năm 1992 là 198,7 ha Nước Anh năm 1950 là 543.000 trang trại, đến năm 1957 còn 254.000 trang trại Tốc độ giảm bình quân trang trại hàng năm là 2,1% Nước Pháp năm 1955 có 2.285.000 trang trại, đến năm 1993 chỉ còn 801.400 trang trại Tốc độ giảm bình quân hàng năm là 2,7% Diện tích bình quân của các trang trại qua các năm có xu hướng tăng lên ở Anh năm 1950 diện tích bình quân 1 trang trại là 36 ha, năm 1987 là 71 ha
ở pháp năm 1955 diện tích bình quân 1 trang trại là 14 ha đến năm 1993 là 35ha Cộng hoà liên bang Đức năm 1949 là 11 ha năm 1985 là 15 ha, Hà Lan năm 1960 là 7 ha đến năm 1987 là 16 ha
Như vậy ở các nước Tây Âu và Mỹ số lượng các trang trại đều có xu hướng giảm còn quy mô của trang trại lại tăng ở Châu Á, kinh tế trang trại có những đặc điểm khác với trang trại ở các nước Tây Âu và Mỹ Do diện tích đất canh tác trên đầu người thấp, bình quân 0,15 ha/người Đặc biệt là các nước vùng Đông Á như: Đài Loan 0,047 ha/người, Malaixia là 0,25 ha/người, Hàn Quốc 0,053 ha/người, Nhật Bản là 0,035 ha/người trong khi đó ở các quốc gia và vùng lãnh thổ này dân số đông lên có ảnh hưởng đến quy mô trang trại ở các nước Châu Á có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Đài Loan Hàn Quốc, sự phát triển trang trại diễn ra theo quy luật số lượng trang trại giảm, quy mô trang trại tăng Nhật Bản: năm 1950 số trang trại là 6.176.000 đến năm 1993 số trang trại còn 3.691.000 Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm là 1,2%.Diện tích trang trại bình quân năm 1950 là 0,8 ha năm 1993 tăng lên là 1,38 ha, tốc độ tăng bình quân là 1,3%
Ở Đài loan và Hàn Quốc trang trại cũng phát triển theo quy luật chung: khi bước vào công nghiệp hoá thì trang trại phát triển nhanh , khi công nghiệp đã phát triển thì trang trại đã giảm về số lượng
Như vậy lúc bắt đầu, công nghiệp hoá đã tác động tích cực đến sản xuất Nông - Lâm – Ngư nghiệp do đó số lượng các trang trại tăng nhanh Nhưng khi công nghiệp hoá đến mức tăng cao thì một mặt công nghiệp thu hút lao động từ nông nghiệp, mặt khác nó lại tác động làm tăng năng lực sản xuất của các trang trại bằng việc trang bị
Trang 37máy móc thiết bị thay thế lao động thủ công, đồng thời trong nông nghiệp sử dụng ngày càng nhiều các chế phẩm công nghiệp Do vậy số lượng các trang trại giảm đi nhưng quy mô diện tích, đầu động vật nuôi lại tăng lên, tất nhiên còn có sự tác động của thị trường thể hiện ở nhu cầu về số lượng, chất lượng sản phẩm từ nông nghiệp tăng nhanh, người lao động, chủ trang trại tích luỹ nhiều kinh nghiệm cũng như trình
độ văn hoá, trình độ chuyên môn cũng được nâng cao
- Ruộng đất: Phần lớn trang trại sản xuất trên ruộng đất thuộc sở hữu của gia đình Nhưng cũng có những trang trại phải hình thành một phần ruộng đất hoặc toàn
bộ tuỳ thuộc vào từng người, ở Pháp năm 1990: 70% trang trại gia đình có ruộng đất riêng, 30% trang trại phải lĩnh canh một phần hay toàn bộ ở Anh: 60% trang trại có ruộng đất riêng, 22% lĩnh canh một phần, 18% lĩnh canh toàn bộ Ở Đài Loan năm 1981: 84% trang trại có ruộng đất riêng, 9% trang trại lĩnh canh một phần và 7% lĩnh canh toàn bộ
- Vốn sản xuất : trong sản xuất và dịch vụ, ngoài nguồn vốn tự có các chủ trang trại còn sử dụng vốn vay của ngân hàng nhà nước và tư nhân, tiền mua hàng chịu các loại vật tư kỹ thuật của các cửa hàng và công ty dịch vụ Năm 1960 vốn vay tín dụng của các trang trại Mỹ là 20 tỷ USD, năm 1970 là 54,5 tỷ USD bằng 3,7 lần thu nhập thuần tuý của các trang trại và năm 1985 bằng 6 lần thu nhập của các trang trại
- Máy móc và trang thiết bị phục vụ sản xuất: ở châu Âu 70% trang trại gia đình mua máy dùng riêng ở Mỹ 35 % số trang trại, ở Miền Bắc, 75% trang trại ở Miền tây, 52% trang trại ở Miền nam có máy riêng Nhiều trang trại lớn ở Mỹ sử dụng máy tính điện tử để tổ chức sử dụng kinh doanh trồng trọt và chăn nuôi Còn ở Châu Á như Nhật Bản, năm 1985 có 67% số trang trại có máy kéo nhỏ và 20% có máy kéo lớn, ở Đài Loan năm 1981 bình quân một trang trại có máy kéo 2 bánh là 0,12 chiếc, máy cày 0,05 chiếc, máy liên hợp thu hoạch 0,02 chiếc, máy sấy 0,03 chiếc, với việc trang bị máy móc như trên, các trang trại ở Đài Loan đã cơ giới hoá 95% công việc làm đất, 91% công việc cấy lúa 80% gặt đập và 50% việc sấy hạt Tại Hàn Quốc, đến năm 1983 trang bị máy kéo nhỏ 2 bánh, máy bơm nước, máy đập lúa đã vượt mức đề ra đối với năm 1986 và 30% các trang trại đã có 3 máy nông nghiệp, máy kéo nhỏ, 23% sử dụng chung máy kéo lớn ở Philippin 31% trang trại sử dụng chung ôtô vận tải ở nông thôn, 10% sử dụng chung máy bơm nước và 10% sử dụng chung máy tuốt lúa, việc sử dụng chung đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Trang 38- Lao động: do mức độ cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp đạt mức độ cao lên số lượng và tỷ lệ lao động làm việc trong các trang trại ở các nước phát triển và chỉ chiếm 10% tổng lao động xã hội ở Mỹ các trang trại có thu nhập 100.000USD/năm không thuê lao động, các trang trại có thu nhập từ 100.000- 500.000USD/năm thuê từ 1 - 2 năm lao động ở Tây Âu và Bắc Mỹ, bình quân 1 trang trại có quy mô diện tích từ 25 -
30 ha chỉ sử dụng 1 - 2 lao động gia đình và 1 - 2 lao động thuê ngoài làm theo thời
vụ ở Châu Á như Nhật Bản: năm 1990 mỗi trang trại có khoảng 3 lao động, nhưng chỉ
có 1/3 lao động làm nông nghiệp ở Đài Loan năm 1985, mỗi trang trại có 1,3 lao động, số lao động dư thừa đi làm việc ngoài nông nghiệp, hoặc làm nông nghiệp một phần còn một số nước đang phát triển ở Châu Á tốc độ tăng dân số trong thời kỳ công nghiệp hoá vẫn nhanh Vì vậy việc giúp lao động ra khỏi nông nghiệp rất khó khăn làm cho một số nước quy mô trang trại cũng tăng và nông dân
- Cơ cấu trong tổng thu nhập của các trang trại cũng có sự biến đổi: trang trại chuyên môn làm nông nghiệp thì giảm xuống, còn trang trại làm một phần lâm nghiệp Kết hợp với ngành nghề phi nông nghiệp lại tăng lên ở Nhật Bản năm 1945 có 53,4% trang trại chuyên làm nông nghiệp 46,5% trang trại làm một phần nông nghiệp tăng lên 85% Cơ cấu thu nhập của trang trại cũng vậy, năm 1954 trong tổng thu thì thu nhập phi nông nghiệp ở Đài Loan năm 1955 có 40a5 trang trại chưa làm nông nghiệp và 60% ,làm một phần nông nghiệp nhưng đến năm 1980 trang trại chuyên nông nghiệp chiếm 9% còn 91 % làm một phần nông nghiệp kết hợp với ngành nghề phi nông nghiệp Như vậy cơ cấu thu nhập của các trang trại chuyên làm nông nghiệp ngày càng giảm, còn các trang trại làm 1 phần nông nghiệp và phi nông nghiệp thì lại tăng lên
- Quan hệ của trang trại trong cộng đồng: Sự hình thành và phát triển của trang trại chịu tác động lớn của các đơn vị sản xuất (tư nhân, HTX, nhà nước ) và các đơn
vị dịch vụ (Ngân hàng thông tin liên lạc ) trên địa bàn Trang trại mua từ thị trường các hàng hoá phục vụ cho sản xuất và đời sống đồng thời bán ra thị trường nông sản phẩm mà mình sản xuất ra Sản xuất càng phát triển thì mối quan hệ của trang trại với thị trường và các tổ chức trên địa bàn ngày càng chặt chẽ và không thể thay thế ở Nhật bản hiện nay 99,20% số trang trại gia đình tham gia các hoạt động của trên 4000 HTX nông nghiệp ở các cơ sở làng, xã, có hệ thống dọc trên huyện, tỉnh và cả nước Các HTX này thực hiện việc cung ứng đầu vào, tiêu thụ sản phẩm của các trang trại ở Đài Loan hình thành một hệ thống đưa tiến bộ KHKT về sản xuất tới từng làng xã như
Trang 39trung tâm mạ (RNC) Năm 1990 có 1785 NRC phục vụ toàn bộ diện tích cấy lúa 2 vụ của Đài Loan Ngoài ra còn tổ chức nhiều hình thức kết hợp như: Hiệp hội những chủ trang trại, hiệp hội sử dụng nước, hiệp hội những người đánh cá những HTX tiêu thụ quả
- Từ quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới cho chúng
và công nghệ tiên tiến từ đó giá trị sản phẩm hàng hoá cũng tăng Việc mở rộng uy
mô sản xuất và gắn liền với quy trình công nghiệp hoá
+ Cơ cấu thu nhập của trang trại có sự thay đổi, lúc đầu chủ yếu thu về nông nghiệp nhưng càng phát triển thì thu từ nông nghiệp giảm trong khi thu từ ngành nghề phi nông nghiệp tăng
+ Đất đai của trang trại gồm nhiều loại sở hữu khác nhau trong đó chủ yếu là đất thuộc sở hữu của hộ gia đình Người chủ trang trại có toàn quyền quyết định về cách sử dụng đất đai đó sao cho có hiệu quả nhất
+ Hệ thống dịch vụ cung ứng đầu vào đầu ra tương đối tiện lợi thị trường rộng khắp đảm bảo cho các trang trại đi sâu vào sản xuất chuyên môn hoá
+ Các trang trại sử dụng lao động làm thuê, đồng thời chủ trang trại cũng là người lao động, họ có trình độ văn hoá, KHKT và kinh nghiệm sản xuất
+ Chính phủ có vai trò rất quan trọng trong việc tạo điều kiện cho các trang trại hình thành và phát triển Chính phủ ban hành các chính sách về ruộng đất, chính sách về vốn với lãi suất ưu đãi, chính sách trợ giá, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đã từng bước tạo dựng môi trường cho các trang trại phát triển
1.7.2 Phát triển Kinh tế trang trại nông nghiệp ở nước ta
Quá trình hình thành kinh tế trang trại ở Việt Nam diễn ra như sau :
Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ phong kiến dân tộc (thế kỷ - giữa thế Kỷ XIX) Trong thời kỳ phong kiến dân tộc một số triều đại phong kiến đã có chính sách khai khẩu đất hoang bằng cách lập đồn điền, doanh điền, được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau: điền trang, điền doanh, thái ấp Thời kỳ Lý Trần: do nhu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp và góp phần giải quyết nạn phiêu tán, tập trung nhân lực xây dựng cơ sở kinh tế cho từng lớp quý tộc được biểu hiện qua nhiều cách thức như điền trang, thái ấp , đồn điền
Trang 40- Thời Lê Nguyễn: hình thức sản xuất nông nghiệp lúc này là các trại ấp, gồm Trại
ấp ban cấp và trại ấp khai hoang do các quan lại và các công thần cai quản Những trại
ấp ở thời kỳ này đã có vai trò tích cực trong phát triển sản xuất nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác sử dụng nguồn nhân lực của địa phương và tù binh
Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc:
Mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại trong thời kỳ này là nhằm vào việc khai thác những vùng lãnh thổ rộng lớn mà chúng ta đạt được Thiết lập ở đó các đồn điền tăng sức sản xuất ở khu vực thuộc địa thông qua đó dễ phát triển mối quan hệ về thương mại quốc tế, chính phủ thuộc địa đã có nhiều chính sách và biện pháp trực tiếp thúc đẩy sự ra đời đồn điền của người pháp ở Việt Nam như: chính sách ruộng đất, chính sách thuế, chính sách khen thưởng
Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ 1954 - 1990
- Thời kỳ 1954 - 1975: Trước những năm 1975 nền công nghiệp miền bắc mang nặng tính kế hoạch hoá tập trung và có các hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu như: các nông lâm trường quốc doanh, các HTX nông nghiệp, ruộng đất tư liệu sản xuất được tập trung hoá, kinh tế tư nhân bị thu hẹp tuy vậy hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này rất thấp kém
- Ở miền nam trong thời kỳ 1954 - 1975 các hình thức tổ chức sản xuất ở vùng tạm chiến chủ yếu là các đồn điền, dinh điền, các HTX kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hoá
- Thời kỳ 1975 đến nay:
Từ cuối những năm 1970 hiệu quả sản xuất thấp kém trong các HTX ở miền bắc dẫn đến sự khủng hoảng của mô hình tập thể hoá nông nghiệp Trong thập niên 80, đặc biệt là đại hội VI của Đảng 12/1986 đã đề ra các chủ trương đổi mới nền kinh tế nước ta tiếp đó Bộ Chính Trị có nghị quyết 10 (4/1988) về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp và khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ Với mục tiêu giải phóng sản xuất phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, chuyển nền nông nghiệp nước ta sang sản xuất hàng hoá, nghị quyết 10 đã đề ra chủ trương giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế hộ
Sau nghị quyết 10, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, nghị quyết, luật đất đai, luật dân sự, luật doanh nghiệp, luật đầu tư và các nghị định nhằm thể chế hoá chính sách đối với kinh tế tư nhân trong nông nghiệp
Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ V khóa VII năm 1993 đã chủ trương khuyến khích phát triển các nông lâm ngư nghiệp trang trại với quy mô thích hợp, luật đất đai năm 1983 và nghị quyết 64/CP ngày 27/9/1993 cũng đã thể chế hoá chính sách