1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang

143 736 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa - DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước - DNTN: Doanh nghiệp tư nhân - ĐKKD: Đăng ký kinh doanh - ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long - EU European Union: Liên minh Châ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

======

NGUYỄN THUM EM

NGHIÊN CỨU NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC

CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA

TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHA TRANG - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

======

NGUYỄN THUM EM

NGHIÊN CỨU NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC

CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA

TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số : 60 34 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Kim Long

NHA TRANG - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Nguyễn Thum Em, là học viên lớp cao học QTKDKG2. Niên khóa 2009-2012, chuyên ngành Quản trị kinh doanh Tôi xin cam đoan Đề tài luận văn

“Nghiên cứu Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Kiên Giang” là do

tôi nghiên cứu, tìm hiểu với sự hướng dẫn của thầy TS Lê Kim Long, hoàn toàn không có sự sao chép của người khác Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, các nguồn tài liệu được trích dẫn rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Kiên Giang, ngày 25 tháng 4 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thum Em

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành nhất, người viết xin tri ân đến toàn thể quý thầy cô Trường Đại học Nha Trang, đặc biệt là thầy, cô khoa Kinh tế và Khoa Sau đại học đã truyền đạt những kiến thức vô cùng quý báu trong thời gian học tập tại trường

Xin ghi ơn thầy TS Lê Kim Long đã nhiệt tình hướng dẫn chỉ bảo để tôi có thể vận dụng kiến thức đã học tại trường vào công việc thực tế nhằm hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và hết sức quý báu từ lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng UBND tỉnh, Trung tâm Xúc tiến Thương Mại đầu tư Kiên Giang và Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang, cũng như sự quan tâm của Lãnh đạo Sở Tài chính đã tạo điều kiện và cung cấp tài liệu, số liệu quý báu trong thời gian tôi nghiên cứu đề tài này

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn /

Nguyễn Thum Em

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ viii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH .4

1.1 Một số khái niệm: 4

1.1.1 Lợi thế cạnh tranh: 4

1.1.2 Năng lực cạnh tranh: 4

1.1.3 Năng lực cạnh tranh quốc gia 5

1.1.4 Năng lực cạnh tranh ngành 6

1.1.5 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 7

1.1.6 Năng lực cạnh tranh sản phẩm 8

1.1.7 Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ 8

1.2 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 9

1.2.1 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 9

1.2.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 10

1.2.2.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là gì ? 10

1.2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của PCI 10

1.2.2.3 Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 12

1.2.2.4 Các chỉ số và cách thức đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Trích dẫn theo Website của VCCI) 14

1.2.2.5 Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 23

1.2.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 28

1.2.2.7 Ưu điểm và hạn chế của chỉ số PCI 32

1.2.2.8 Kinh nghiệm của 1 số địa phương về cải thiện chỉ số PCI nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Kiên Giang .33

Tóm tắt chương 1 36

Trang 6

Chương 2: THỰC TRẠNG CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH

CỦA TỈNH KIÊN GIANG GIAI ĐOẠN 2005-2011 37

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội tỉnh Kiên Giang 37

2.1.1 Điều kiện tự nhiên: 37

2.1.1.1 Vị trí địa lý kinh tế: 37

2.1.1.2 Địa hình: 38

2.1.1.3 Các nguồn tài nguyên 39

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 41

2.1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 41

2.1.2.1.1 Tăng trưởng kinh tế theo ngành 41

2.1.2.1.2.Tăng trưởng kinh tế theo thành phần kinh tế 43

2.1.2.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 43

2.1.2.1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu theo ngành 43

2.1.2.1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế 44

2.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm 45

2.1.2.3 Hiện trạng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng 47

2.1.2.4 Hiện trạng đầu tư phát triển 48

2.2 Thực trạng về chất lượng điều hành PCI của cả nước giai đoạn 2009-2012: 49

2.3 Thực trạng về chất lượng điều hành PCI của ĐBSCL giai đoạn 2009-2012: 51

2.4 Tổng quan Tình hình PCI của tỉnh Kiên Giang trong những năm qua 52

2.4.1 Tình hình PCI của Kiên Giang giai đoạn năm 2005-2012 52

2.4.2 Phân tích biến động các chỉ số thành phần: 55

2.4.2.1 Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường 56

2.5.2.2 Chỉ số Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất 60

2.4.2.3 Chí số Tính minh bạch và tiếp cận thông tin 64

2.4.2.4 Chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước 67

2.5.2.5 Chỉ số Chi phí không chính thức 71

2.5.2.6 Chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 75

2.4.2.7 Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 79

2.5.2.8 Chỉ số Đào tạo lao động: 84

2.4.2.9 Chỉ số thiết chế pháp lý 88

2.5 So sánh Chỉ số PCI của Kiên Giang với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: 93

Trang 7

2.5.1 Điểm số và thứ hạng của các tỉnh khu vực ĐBSCL 93

2.5.2 Các Chỉ số thành phần của tỉnh Kiên Giang so sánh với các tỉnh trong vùng: 98

2.6 Đánh giá các Chỉ số thành phần của các tỉnh trong khu vực ĐBSCL 102

2.6.1 Điểm mạnh và điểm yếu các chỉ số thành phần của Kiên Giang 104

2.6.1.1 Về điểm mạnh: 104

2.6.1.2 Về điểm yếu: 105

Tóm tắt chương 2 106

Chương 3: MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA TỈNH KIÊN GIANG GIAI ĐOẠN 2011-2020: 107

3.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011-2020 107

3.1.1 Bối cảnh phát triển, cơ hội và thách thức: 107

3.1.1.1 Bối cảnh phát triển: 107

3.1.1.2 Những cơ hội và thách thức: 108

3.1.2 Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011-2020: 109

3.1.2.1 Quan điểm phát triển 109

3.1.2.2 Mục tiêu phát triển 110

3.1.3 Định hướng phát triển các ngành và sản phẩm chủ lực: 111

3.1.3.1 Định hướng phát triển các ngành nông - lâm - thủy sản 111

3.1.3.2 Định hướng phát triển ngành công nghiệp 112

3.1.3.3 Định hướng phát triển các ngành dịch vụ 112

3.2 Nguyên tắc cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh 113

3.2.1 Cải thiện môi trường kinh doanh của tỉnh là mục tiêu cao nhất 113

3.2.2 Thực hiện theo thứ tự ưu tiên, có lộ trình và là công việc thường xuyên, lâu dài 113

3.2.3 Nâng cao nhận thức và gắn kết chỉ tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, chỉ số năng lực cạnh tranh với các chương trình hoạt động của các sở, ban ngành và các huyện thị 114

3.2.4 Chú trọng các công tác quảng bá, cải thiện cảm nhận của cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư đối với môi trường kinh doanh tại tỉnh 114

3.2.5 Có cơ chế giám sát và theo dõi quá trình thực hiện 114

Trang 8

3.3 Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Kiên Giang 115

3.3.1 Những điểm làm chưa tốt của các chỉ số 115

3.3.2 Các giải pháp để cải thiện các chỉ số thành phần 117

3.3.2.1 Những giải pháp chung 117

3.3.2.2 Những giải pháp cụ thể: 118

3.3.2.2.1 Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường: để thời gian đăng ký kinh doanh được cải thiện tốt hơn và chỉ số chi phí gia nhập thị trường được duy trì và cải thiện được tốt hơn, ở chỉ số này Kiên Giang cần thực hiện: 118

3.3.2.2.2 Chỉ số Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất 119

3.3.2.2.3 Chỉ số Tính minh bạch và tiếp cận thông tin 120

3.3.2.2.4 Chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước 121

3.3.2.2.5 Chỉ số Chi phí không chính thức 121

3.3.2.2.6 Chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 122

3.3.2.2.7 Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 122

3.3.2.2.8 Chỉ số Đào tạo lao động 124

3.3.2.2.9 Chỉ số thiết chế pháp lý 125

3.3.3 Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động của chính quyền tỉnh 125

Tóm tắt chương 3 127

KẾT LUẬN 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Trọng số của các chỉ số thành phần 27

Bảng 2.1: Tổng giá trị tăng thêm 2000-2010 41

Bảng 2.2: Động thái tốc độ tăng trưởng kinh tế, 2001-2010 42

Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế năm 2000-2005 và ước năm 2010 44

Bảng 2.4: Cơ cấu kinh tế năm 2000-2005 và ước năm 2010 44

Bảng 2.5: Biến động dân số, lao động việc làm đến năm 2010 45

Bảng 2.6: Năng suất lao động đến năm 2010 46

Bảng 2.7: Tổng hợp vốn đầu tư phát triển 2001-2010 48

Bảng 2.8 Xếp hạng PCI Kiên Giang so với cả nước và ĐBSCL 2005-2012: 53

Bảng 2.9: Các chỉ tiêu của chỉ số gia nhập thị trường năm 2009-2012 58

Bảng 2.10: Các chỉ tiêu của chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất năm 2009- 2012 62

Bảng 2.11: Các chỉ tiêu của chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin năm 2009-2012 66

Bảng 2.12: Các chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước năm 2009-2012 70

Bảng 2.13: Các chỉ tiêu của chỉ số Chi phí không chính thức năm 2009- 2012 74

Bảng 2.14: Các chỉ tiêu của chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh năm 2010, 2011 .78

Bảng 2.15: Các chỉ tiêu của chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp năm 2010, 2011 82

Bảng 2.16: Các chỉ tiêu của chỉ số Đào tạo lao dộng năm 2009- 2012 87

Bảng 2.17: Các chỉ tiêu của chỉ số Thiết chế pháp lý năm 2009- 2012 91

Bảng 2.18: Thứ hạng PCI của Kiên Giang so với các tỉnh trong vùng 95

Bảng 2.19: Thay đổi điểm số PCI của Kiên Giang và các tỉnh trong vùng 96

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Hình 1.1: Biểu đồ “hình sao” thể hiện kết quả điều hành của từng tỉnh theo chỉ số

thành phần năm 2009 25

Hình 1.2: Mô hình phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 27

Biểu đồ: 2.1 Chất lượng điều hành PCI của cả nước 50

Biểu đồ: 2.2 Chỉ số thành phần của cả nước 2009-2012 51

Biểu đồ: 2.3 Chất lượng điều hành PCI của khu vực ĐBSCL 51

Biểu đồ: 2.4 Chỉ số thành phần của khu vực ĐBSCL 52

Biểu đồ 2.5: Điểm số và thứ hạng của tỉnh Kiên Giang 2005-2012 53

Biểu đồ 2.6: Điểm số các chỉ số thành phần PCI giai đoạn 2007-2011 .55

Biểu đồ 2.7: Chi phí gia nhập thị trường của Kiên Giang 2005-2012 56

Biểu đồ 2.8: Thứ hạng Chi phí gia nhập thị trường của Kiên Giang 2005-2012 56

Biểu đồ 2.10: Xu hướng Chi phí gia nhập thị trường từ 2005-2012 57

Biểu đồ 2.11: Chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất 2005-2012 60

Biểu đồ 2.12: Thứ hạng Chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất của Kiên Giang năm 2005-2012 60

Biểu đồ 2.13: Xu hướng Chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất từ 2005-2012 61

Biểu đồ 2.14: Chỉ số Tính minh bạch và tiếp cận thông tin của Kiên Giang 2005-2012 64

Biểu đồ 2.15: Thứ hạng tính minh bạch và tiếp cận thông tin 2005-2012 64

Biểu đồ 2.16: Xu hướng tính minh bạch và tiếp cận thông tin từ 2005-2012 65

Biểu đồ 2.17: Chỉ số Chi phí thời gian của Kiên Giang 2005-2012 67

Biểu đồ 2.18: Thứ hạng Chi phí thời gian thực hiện các quy định của Nhà Nước 2005-2012 68

Biểu đồ 2.19: Xu hướng Chi phí thời gian từ 2005-2012 69

Biểu đồ 2.20: Chỉ số Chi phí không chính thức của Kiên Giang 2005-2012 71

Biểu đồ 2.21: Thứ hạng Chỉ số Chi phí không chính thức của Kiên Giang 2005-2012 .72

Biểu đồ 2.22: Xu hướng Chi phí không chính thức từ 2005-2012 73

Trang 11

Biểu đồ 2.23: Chỉ số tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh của tỉnh Kiên

Giang 2005-2012 75

Biểu đồ 2.24: thứ hạng Chỉ số tính năng động và tiên phong của lãnh đạo của Kiên Giang 2005-2012 76

Biểu đồ 2.25: Xu hướng Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo Kiên Giang, An Giang và tỉnh trung vị từ 2005-2012 77

Biểu đồ 2.26: Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Kiên Giang 2006-2012 80

Biểu đồ 2.27: Xếp hạng Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp2007-2011 80

Biểu đồ 2.28: Xu hướng Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp từ 2006-2012 81

Biểu đồ 2.29: Chỉ số Đào tạo lao động tỉnh Kiên Giang 2006-2012 84

Biểu đồ 2.30: xếp hạng Chỉ số Đào tạo lao động của tỉnh Kiên Giang 2005-2011 85

Biểu đồ 2.31: Xu hướng Đào tạo lao động từ 2006-2012 86

Biểu đồ 2.32:Chi số Thiết chế pháp lý của Kiên Giang 2006-2011 88

Biểu đồ 2.33:Xếp hạng Chi số Thiết chế pháp lý của Kiên Giang 2006-2011 89

Biểu đồ 2.34: Xu hướng Thiết chế của từ 2005-2012 90

Biểu đồ: 2.35 Chất lượng điều hành PCI của các tỉnh ĐBSCL 94

Biểu đồ 2.38: Thay đổi thứ hạng của cả tỉnh ĐBSCL (2006-2012) 98

Biểu đồ 2.39: Các chỉ tiêu tốt của tỉnh Kiên Giang năm 2012 99

Biểu đồ 2.40: Các chỉ tiêu TB của tỉnh Kiên Giang năm 2012 100

Biểu đồ 2.41 Các chỉ tiêu chưa tốt của tỉnh Kiên Giang năm 2012 101

Trang 12

- DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa

- DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước

- DNTN: Doanh nghiệp tư nhân

- ĐKKD: Đăng ký kinh doanh

- ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

- EU (European Union): Liên minh Châu Âu

- FDI (foreign direct investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài

- GCI (Global Compitiveness Index): Năng lực cạnh tranh toàn cầu

- GDP (Gross Dosmetic Product): Tổng sản phẩm nội địa

- GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- HĐH: Hiện đại hóa

- IMD (International Institute for Management Development): Viện Quốc tế về Quản

lý và Phát triển

- KCN: Khu công nghiệp

- KTTT: Kinh tế thị trường

- NLCT: Năng lực cạnh tranh

- ODA ( official development assistance): Hỗ trợ phát triển nước ngoài

- PCI (Provincial Competitiveness Index): Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

- TNHH: Trách Nhiệm Hữu Hạn

- UBND: Ủy ban nhân dân

- USAID (United States Agency for International Development): Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ

- USD (United States Dollar): Đô la mỹ

Trang 13

- VCCI (Vietnam Chamber of Commerce and Industry): Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam

- VNCI (Vietnam Competitiveness Initiatives): Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam

- WEF (World Economic Forum): Diễn đàn Kinh tế Thế giới

- WTO (World Trade Organization): Tổ chức thương mại thế giới

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Ngày nay, dưới sự tác động của quá trình cải cách sang nền kinh tế thị trường

và hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò và vị trí của chính quyền địa phương các cấp (gồm HĐND, UBND, và các cơ quan chuyên môn) ngày càng được phân cấp mở rộng Họ

có quyền chủ động hơn trong việc lập và thực thi các chiến lược và kế họach phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, mở rộng khả năng thực hiện các quan hệ trực tiếp với các đối tác nước ngoài để thu hút vốn, công nghệ cũng như hợp tác sản xuất nhằm khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có Xuất phát từ tình hình trên, các địa phương phải tự thân vận động như một doanh nghiệp theo định hướng thị trường Các nhà lãnh đạo cần biết xây dựng địa phương mình thành một sản phẩm hấp dẫn, đồng thời cần biết cách quảng bá các nét đặt thù của “sản phẩm” này một cách hiệu quả đến các thị trường mục tiêu của mình

Sự phát triển kinh tế xã hội các tỉnh trong những năm qua cũng cho thấy chính quyền cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và địa phương Chính quyền đã đang và cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư ở địa phương Nhiều địa phương đã thành công trong việc thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho người dân Những thành công đó đã khiến các nhà nghiên cứu, các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm hơn dến vai trò cấp tỉnh mà cụ thể hơn là cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam Năng lực cạnh tranh được tạo nên từ tập hợp nhiều yếu tố khác nhau, tác động đa chiều, đan xen và ảnh hưởng qua lại rất phức tạp Hiện nay năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được đánh giá thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI – Provincial Competitiveness Index) của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi cả nước

Trong những năm qua Kiên Giang đã tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng và có nhiều nỗ lực, tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư Về lợi thế so sánh,

Kiên Giang sẳn có nhiều tiềm năng, như một nước Việt Nam thu nhỏ vì chúng ta có

biển, đảo, khóang sản, đồng bằng, rừng, núi, biên giới trên đất liền… là nguồn tài

nguyên thiên nhiên phong phú được thừa hưởng để phát triển kinh tế Bên cạnh những

lợi thế về điều kiện tự nhiên, Kiên Giang còn là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế

Trang 15

trọng điểm Tây Nam Bộ của Chính phủ, có cửa khẩu quốc tế Hà Tiên, có tuyến hành lang ven biển phía Nam thông thương với Campuchia và Thái Lan, mở ra nhiều cơ hội giao thương mới; đồng thời có sân bay và cảng biển quốc tế Phú Quốc sẽ là cầu nối của vùng đồng bằng sông Cửu Long với các quốc gia trong khu vực và thế giới Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát của PCI thì năng lực cạnh tranh của tỉnh nhiều năm liền chưa tốt Đặc biệt là từ năm 2009 đến năm 2011 chỉ số có tăng điểm nhưng thứ hạng bị sụt giảm…

Từ đó, đặt ra vấn đề làm sao có thể thu hút vốn đầu tư, khai thác các nguồn lực của tỉnh và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Hiện đã có một số đề tài nghiên cứu

về chủ đề này như: “Nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Hải Dương” của Tiến sĩ Phan Nhật Thanh; “Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa” của Sinh viên Nguyễn Thị Thu Thảo; các Báo cáo tham luận tổng hợp đề xuất giải pháp nâng cao PCI của thành phố Đà Nẵng năm 2009; Báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà nẵng (2010); Báo cáo nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và đề xuất kế hoạch cải thiện môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh của tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng …Tuy nhiên, chủ đề này nghiên cứu về Kiên Giang vẫn còn bỏ ngỏ Là một cán bộ của tỉnh, tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào sự phát

triển của tỉnh Vì vậy, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Kiên Giang ”

Qua nghiên cứu đề tài và báo cáo trên tác giả đã hệ thống được một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là gì ? các phương pháp tiếp cận PCI Phân tích đánh giá thực trạng của điểm số PCI và các chỉ

số thành phần có so sánh đánh giá với cả nước, khu vực và các tỉnh lân cận, để biết được vị trí của tỉnh đang nằm ở vị trí nào so với cả nước và khu vực Đồng thời, các đề tài trên đã nêu lên một số hạn chế tồn tại chung mà các tỉnh gặp phải và đề xuất giải pháp cải thiện Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại sự so sánh điểm số tổng PCI và các chỉ số thành qua từng năm, rồi đánh giá kết luận đề xuất biện pháp xử lý nên trong đánh giá và nhận định những ưu điểm và hạn chế còn chung chung chưa thật

sự cụ thể nên không thấy được trong các chỉ số hạn chế đang yếu kém ở các tiểu chỉ số thành phần nào để có giải pháp khắc phục…Do đó, với nội dung nghiên cứu của đề tài này tác giả muốn đánh giá được tình hình, xu hướng chung về chỉ số PCI của cả nước, khu vực ĐBSCL và đối thủ có khả năng cạnh tranh trực tiếp với Kiên Giang qua điểm

Trang 16

số tổng hợp PCI, các chỉ số thành và tiểu thành phần của các chỉ số qua từng năm để qua đó thấy được đâu là điểm mạnh, điểm yếu của Kiên Giang và với tình hình kinh tế

xã của địa phương để có giải pháp khắc phục những yếu kém kịp thời, đồng thời phát hiện những tiểu chỉ số thành phần tốt hoặc đang có xu hướng tuột dốc để có chiến lược duy trì và cải thiện lâu dài

2 Mục tiêu nghiên cứu : phân tích thực trạng PCI của tỉnh Kiên giang và đề xuất

những giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

3 Phạm vi nghiên cứu : Địa phương được chọn nghiên cứu là tỉnh Kiên Giang, có

xem xét với các quan hệ với một số tỉnh ở Việt Nam

Luận văn sử dụng những số liệu PCI từ năm 2005-2012

4 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh: các

phương pháp này sử dụng chủ yếu trong việc nghiên cứu bài học, kinh nghiệm, phân tích đánh giá thực trạng chỉ số NLCT của tỉnh Kiên Giang, đề xuất hệ thống giải pháp

và kiến nghị liên quan đến nâng cao chỉ số NLCT tỉnh Kiên Giang

5 Bố cục luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Chương II: Thực trạng thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2005-2012

Chương III: Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Kiên Giang

Trang 17

có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia) Ngoài ra còn xuất hiện thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được

1.1.2 Năng lực cạnh tranh:

Từ nhiều thập kỉ trước đây, thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” đã trở nên khá phổ biến đối với nhiều nhà kinh tế, hoạch định chính sách trên thế giới dưới nhiều quan điểm nghiên cứu bằng cách sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Nhưng ở Việt Nam thuật ngữ này mới thực sự được biết đến trong vài năm gần đây Khái niệm “Năng lực cạnh tranh” được sử dụng trong các nghiên cứu ở nhiều phạm vi, cấp độ khác nhau: toàn cầu, quốc gia, địa phương, doanh nghiệp, sản phẩm… Ở mỗi cấp độ khác nhau thì năng lực cạnh tranh được hiểu theo theo cách khác nhau

Có rất nhiều thuật ngữ khác nhau liên quan đến quá trình cạnh tranh giữa các chủ thể được sử dụng song hành cùng với thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” (Competitiveness) như: “Sức cạnh tranh” (Competitive Edge), “Khả năng cạnh tranh” (Competitive Capacity), “Lợi thế cạnh tranh” (Competitive Advantage) và “Tính cạnh tranh” (Competitivity) Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc

sử dụng những thuật ngữ này Và trong thực tế, các thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh”,

“Sức cạnh tranh” và “Khả năng cạnh tranh” đều được dùng là “Competitiveness”

Theo quan điểm của K.Marx, “cạnh tranh” là “sự ganh đua đấu tranh gay gắt giữa các nhà TB nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Theo từ điển kinh doanh (1992) thì

Trang 18

cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” Khái quát lại hệ thống lý thuyết về cạnh tranh cho thấy, cạnh tranh là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau, là một phạm trù rất rộng và mang tính lâu dài Khái niệm cạnh tranh được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, ngành hoặc quốc gia…điều này chỉ khác nhau ở mục tiêu được đặt ra là ở quy mô doanh nghiệp hay quốc gia mà thôi Trong khi đối với một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận cao thì đối với quốc gia là tạo việc làm nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân Tóm lại cạnh tranh là quan

hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể cạnh tranh ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu của mình

Liên quan đến quá trình cạnh tranh, năng lực cạnh tranh được hình thành thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, chính phủ quốc gia, các doanh nhân và cả các nhà nghiên cứu Từ khái niệm cạnh tranh có thể hiểu rộng ra NLCT là tập hợp những điều kiện vốn có hoặc khả năng đủ để giành thắng lợi, tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh (cá nhân hay tổ chức, DN hay quốc gia) trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn

có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “Chuẩn” về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất: Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu, phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất trong cuốn niên giám cạnh tranh thế giới Cả hai phương pháp này đều do một số Giáo sư đại học Havard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng

1.1.3 Năng lực cạnh tranh quốc gia

Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức

Trang 19

sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian”

Lương Gia Cường (2003) cho rằng năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân”[3]

Theo đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao, là tăng năng lực sản xuất bằng việc đổi mới, sử dụng các công nghệ cao hơn, đào tạo kỹ năng liên tục, quan tâm đến công bằng xã hội và bảo vệ môi trường

Ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Đó là sự hiện diện của các ngành công nghiệp tạo nên những ưu việt trong các ngành công nghiệp hiệu quả hơn, tiến nhanh đến chi phí sản xuất hiệu quả Là những nghành công nhiệp liên quan mang tính cạnh tranh quốc tế có thể phối hợp và chia sẻ các hoạt động trong chuỗi mắc xích khi nó cạnh tranh

1.1.4 Năng lực cạnh tranh ngành

Theo M.E.Porter (1980) thì một ngành (sản phẩm hay dịch vụ) là một nhóm doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm hay dịch vụ mà những sản phẩm hay dịch vụ này cạnh tranh trực tiếp với nhau Ngành còn được định nghĩa là một nhóm các công

ty chào bán một sản phẩm hay một danh mục sản phẩm có thể hoàn toàn thay thế được

Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng của đạt năng suất cao, sử dụng đầu vào thấp nhất để tạo được nhiều đầu ra nhất trong một ngành Trong cạnh tranh ngành chủ thể cạnh tranh là ngành Cũng có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng của ngành đó trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn các ngành khác trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế

Có rất nhiều cách để phân tích năng lực cạnh tranh của ngành, tác giả M.E.Porter (1980) đưa ra cách phân tích năng lực cạnh tranh dựa vào phân tích cấu trúc trong quản trị chiến lược [4] Theo đó năng lực cạnh tranh ngành bị ảnh hưởng bởi các nhóm nhân tố: điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; trình độ phát triển khoa học - công nghệ; nguồn nhân lực; kết cấu hạ tầng; trình độ tổ chức quản lý ngành; thể chế kinh tế- xã hội

Trang 20

1.1.5 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị phần, tạo thu nhập cao và phát triển bền vững

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây

là yếu tố nội lực của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối thủ của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh [4]

Thực tế cho thấy, không có một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này

và hạn chế về mặt khác Nhưng không phải vì thế mà các doanh nghiệp không thể tạo dựng được lợi thế cạnh tranh cho riêng mình, có thể thông qua việc tạo ra sự khác biệt sản phẩm và dịch vụ, thỏa mãn được thị hiếu khách hàng bằng những cách thức mà đối thủ cạnh tranh không thể thực hiện hoặc bằng cách đi trước đón đầu, tạo ra nhu cầu mới cho khách hàng, tận dụng những nguồn lực có sẵn để tăng giá trị cho khách hàng đồng thời hạ thấp chi phí và giảm giá cả

Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong còn yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay

Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm- dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến

vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Trang 21

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định lượng và định tính Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở các ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm : giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói; kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng, thông tin

và xúc tiến thương mại; năng lưc nghiên cứu và phát triển, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần, vị thế tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp

Một doanh nghiệp có thể sản xuất kinh doanh một hay nhiều sản phẩm dịch vụ nên người ta còn phân biệt NLCT của DN với NLCT của sản phẩm dịch vụ

1.1.6 Năng lực cạnh tranh sản phẩm

Trong thực tế việc đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm, người ta chỉ mới xem xét trên phương diện định tính Điều này không tránh khỏi những cảm tính trong đánh giá, do vậy không đảm bảo tính chính xác Kết quả của việc đánh giá không chính xác có thể ảnh hưởng không tốt đến các quyết định quản lý liên quan đến sản phẩm của công ty Bởi vậy, việc sử dụng các chỉ tiêu định lượng vào việc phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là hết sức cần thiết Trong việc đo lường sức cạnh tranh cho một sản phẩm người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm và bao gói, doanh thu và sản phẩm, thị phần của sản phẩm,

tổ chức phân phối sản phẩm, khả năng cung ứng của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được tạo ra từ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không có NLCT của sản phẩm cao trong khi NLCT của bản thân doanh nghiệp thấp Điều này cho thấy mối quan hệ giữa NLCT DN ảnh hưởng cơ bản

và lâu dài đến NLCT sản phẩm

1.1.7 Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ

Khi nói đến năng lực cạnh tranh, các nhà nghiên cứu thường xem xét dưới các cấp độ như: năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành, năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ Giữa các cấp độ này đều có mối quan hệ hai chiều tác động lẫn nhau rất mật thiết, tạo điều kiện cho nhau hay chế

Trang 22

định nhau, phụ thuộc lẫn nhau Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể tạo cơ hội thuận lợi mở đường cho doanh nghiệp khai thác điểm mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngược lại, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo đảm tính bền vững của năng lực cạnh tranh quốc gia Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao đòi hỏi phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao Tương tự, quan hệ giữa năng lực cạnh tranh của sản phẩm/ dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng vậy Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua năng lực của các sản phẩm/ dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh

1.2 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

1.2.1 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia, mọi địa phương Để thực hiện mục tiêu ấy, mỗi quốc gia, địa phương sẽ có những chính sách và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình Tuy nhiên, bất kỳ quốc gia, địa phương nào cũng phải tìm lời giải đáp cho vấn đề nguồn lực cho đầu tư phát triển ở đâu và cách thức huy động các nguồn lực ấy như thế nào Tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư và phát triển DN là lời giải đáp của mỗi chính phủ, chính quyền địa phương Khả năng của một địa phương cấp tỉnh trong thu hút các DN, các tổ chức và

cá nhân đầu tư phát triển kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đã định chính là năng lực cạnh tranh của tỉnh đó Do vậy, một tỉnh có NLCT cao thể hiện ở sự hấp dẫn về đầu tư và kinh doanh đối với các DN, nhà đầu tư hay đã tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đó

Cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và cũng là cấp độ cạnh tranh có tính gay gắt, đa dạng hơn thì trong phạm vi một quốc gia, cạnh tranh giữa các tỉnh (hay vùng) có mức độ được hiểu mềm dẻo và linh hoạt hơn

Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh (vùng) nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương (vùng) đó sẵn có hoặc tự tạo ra như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên phong phú hoặc chất lượng con người, cơ sở hạ tầng, chính sách thu hút đầu tư Đan xen với sự ganh đua có tính chất hợp tác, liên kết cùng phát triển dựa trên lợi thế có sẵn của nhau Vì thế việc liên kết hợp tác giữa các địa phương nhằm xoá bỏ giới hạn địa giới hành chính và phân chia các nguồn lực nhằm bổ sung và hỗ trợ cho nhau để tăng cường năng lực cạnh tranh của các tỉnh

Trang 23

Như vậy, thực chất NLCT cấp tỉnh là khả năng ganh đua của các tỉnh nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan

hệ liên kết với những địa phương khác trong phạm vi quốc gia Như vậy, vai trò của chính quyền địa phương là tạo môi trường thúc đẩy thu hút đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vai trò ấy được xác định trên các mặt sau: (1) Định hướng phát triển thông qua các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, chính sách phát triển kinh tế; (2) Tạo môi trường pháp lý và kinh

tế cho các DN hoạt động và cạnh tranh lành mạnh; (3) Điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính công; (4) Kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế theo pháp luật, chính sách đã đề ra

Để nâng cao NLCT cấp tỉnh, cả nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất (hay nguồn lực mềm) đều rất quan trọng Trong khi các nguồn lực vật chất dễ nhận biết, lượng hoá thì nguồn lực phi vật chất không phải lúc nào và ai cũng nhìn nhận ra được và nhìn nhận như nhau Vì thế, khi nói đến NLCT và tạo dựng NLCT cho địa phương mình, mỗi tỉnh nhìn nhận và cách làm khác nhau Trong tư duy cạnh tranh cũ,

có tỉnh đã “xé rào” để thu hút các nhà đầu tư Trong tư duy “cạnh tranh phát triển bền vững”, NLCT của tỉnh được đánh giá chủ yếu trong “con mắt” của nhà đầu tư và DN

mà không chỉ dưới góc nhìn chính quyền tỉnh Đồng thời, các tỉnh cạnh tranh đặt trong mối quan hệ hợp tác, liên kết để phát huy tốt nhất lợi thế của mỗi tỉnh trong khuôn khổ luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế

1.2.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

1.2.2.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là gì ?

Theo tài liệu của VCCI thì chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay gọi tắt là PCI (Provinvial Competitiveness Index) là chỉ số dùng để đo lường và xếp hạng công tác điều hành kinh tế của các tỉnh dựa trên môi trường kinh doanh để thúc đẩy phát triển của vực kinh tế tư nhân thông qua cảm nhận của các doanh nghiệp các trên địa bàn các tỉnh PCI được phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố chính thức từ năm 2005 Tuy nhiên, việc đánh giá và xếp hạng về PCI cho tất cả 64 tỉnh, thành phố trong cả nước chỉ được tiến hành hàng năm từ năm 2006

1.2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của PCI

Ý tưởng xây dựng chỉ số PCI bắt nguồn từ một nghiên cứu trước đây của Qũy châu Á và VCCI Đó là nghiên cứu “Những thực tiễn tốt trong điều hành kinh tế cấp

Trang 24

tỉnh ở Việt Nam”, được thực hiện vào năm 2003 - 2004 tại 14 tỉnh của Việt Nam Nghiên cứu này tập trung vào quan hệ tương tác giữa các yếu tố điều hành kinh tế và

sự phát triển của tỉnh, thành đó Kết quả của dự án nghiên cứu này sau đó đã trở thành

cơ sở khởi động một dự án nghiên cứu khác có quy mô lớn hơn, nghiên cứu về sự khác biệt giữa các tỉnh, thành Dự án nghiên cứu thứ hai do VNCI đảm nhận VNCI là

dự án phát triển kinh tế do Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh tại Việt Nam (PCI) là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa VNCI và VCCI Chỉ số PCI được xây dựng nhằm mục đích lý giải nguyên nhân tại sao trong cùng một nước, một số tỉnh, thành có

sự phát triển năng động của khu vự tư nhân, tạo ra việc làm và tăng trưởng kinh tế… tốt hơn các tỉnh, thành khác Bằng cách thực hiện điều tra mới đối với DN để tìm hiểu đánh giá của các DN đối với môi trường kinh doanh ở tỉnh, thành; kết hợp dữ liệu điều tra với các dữ liệu khác thu thập được từ các nguồn chính thức về các địa phương

Năm 2005, chỉ số PCI được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông

và thu hút được sự quan tâm từ cộng đồng các DN, các nhà tài trợ cũng như chính quyền địa phương, đồng thời cũng ghi nhận nhiều đóng góp ý kiến từ các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước Theo Báo cáo chi tiết chỉ số PCI năm 2005 do VCCI công

bố, chỉ số PCI được cấu thành từ 9 chỉ số thành phần, bao gồm: (1) Chi phí gia nhập thị trường, (2) Tiếp cận đất đai, (3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin, (4) Chi phí

về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, (5) Chi phí không chính thức, (6) Thực hiện chính sách của Nhà nước, (7) Ưu đãi đối với DNNN, (8) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, (9) Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân

Đến năm 2006, đã có sự thay đổi trong các chỉ số cấu thành nên chỉ số tổng hợp PCI Chỉ số thực hiện chính sách của Nhà nước được thay thế bằng hai chỉ số mới là: Đào tạo lao động và Thiết chế pháp lý, hình thành nên 10 chỉ số thành phần Nguyên nhân của sự thay đổi này:

 Đào tạo lao động: trong nhiều năm qua, các DN liên tục phàn nàn về năng lực yếu kém của lực lượng lao động Các DN gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và tuyển dụng lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp Chính vì vậy, việc chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất lượng lực lượng

Trang 25

lao động địa phương sẽ có ý nghĩa cự kỳ quan trọng đối với môi trường kinh doanh trên địa bàn

 Thiết chế pháp lý: việc phát triển pháp luật và giải quyết các tranh chấp một cách chính quy luôn là một mắc xích trong quá trình cải cách, chuyển đổi ở Việt Nam Tăng cường thể chế cho các cơ quan tư pháp và tòa án địa phương trở nên cấp thiết khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO Ngoài ra, có rất ít DN thực sự hiểu biết một cách thấu đáo về các trình tự, thủ tục pháp lý để có thể phân biệt rạch ròi, chi tiết các thiết chế pháp lý khác nhau

Đến năm 2009, khi quá trình cổ phần hóa các DNNN diễn ra một cách mạnh

mẽ, ảnh hưởng của các DNNN không còn tác động mạnh đến khu vực kinh tế tư nhân, nhóm nghiên cứu của VCCI đã bỏ chỉ số Ưu đãi đối với DNNN và đổi tên chỉ số Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân thành Dịch vụ hỗ trợ DN Thông qua việc đối thoại với các lãnh đạo tỉnh, doanh nghiệp, đại diện các hiệp hội và các chuyên gia nghiên cứu cho thấy nên bổ sung chỉ số này vào các chỉ số thành phần Tất cả các chuyên gia đều đồng tình với quan điểm các dịch vụ hỗ trợ DN có vai trò then chốt để các DN thành công trong hoạt động kinh doanh Tại thời điểm này, những đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ tư nhân như: các công ty tư vấn, công ty kế toán, tư vấn chiến lược,

và các luật sư vốn vẫn còn “xa lạ” đối với số đông các DN Việt Nam và cũng chỉ tập trung tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh Trong khi đó, các DN lại có nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ này nhưng lại thiếu đi những dịch vụ mang tính chuyên nghiệp và đáng tin cậy

Cho đến nay, VCCI đã công bố thường niên Báo cáo chi tiết chỉ số PCI (từ năm

2005 - 2012), các Báo cáo này đã đóng góp một phần rất lớn trong việc cải thiện môi trường kinh doanh tại các tỉnh, thành trên cả nước; giúp cho các chính quyền địa phương nhận biết được đâu là điểm mạnh và điểm yếu của địa phương mình, từ đó đề

ra hướng giải quyết nhằm phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu, đưa kinh tế địa phương phát triển

1.2.2.3 Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI

Kể từ khi công bố, PCI ngày càng được sử dụng như một công cụ quan trọng để

đo lường và đánh giá công tác quản lý, điều hành kinh tế của chính quyền 63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam dựa trên cảm nhận của khu vực kinh tế tư nhân Những tỉnh có

Trang 26

công tác điều hành tốt hơn, thì sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có và đạt được mức phúc lợi từ kinh tế cao hơn

Trên thực tế, kết quả điều tra PCI đã được nhiều tổ chức và cá nhân đón nhận, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn và đời sống:

- Ở góc độ chính quyền địa phương: PCI đã và đang được sử dụng để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường kinh doanh của địa phương mình, tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương tốt hơn, giám sát việc thực hiện công tác quán

lý điều hành của bộ máy hành chính, từ đó đưa ra chính sách phù hợp nhằm cải thiện chất lượng điều hành kinh tế PCI còn là thước đo để đánh giá, so sánh các nỗ lực và tiến bộ của từng tình so với các tỉnh, thành khác Các nhà lãnh đạo cũng có thể sử dụng dữ liệu PCI để đánh giá các thay đổi chính sách và đo lường trực tiếp tác động các chính sách này Điều tra PCI cũng cung cấp các thông tin quan trọng về tác động của những sáng kiến cải cách ở cấp Trung ương và địa phương, trong đó có Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước (Đề án 30) do Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo là nỗ lực cải cách thể chế mang tính đột phá tại Việt Nam giúp đẩy nhanh quá trình đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp Chỉ số PCI cũng góp phần hỗ trợ quá trình phân cấp quản lý hiện nay bằng việc cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách những thiếu sót trong quá trình thực hiện chính sách từ cấp trung ương xuống cấp địa phương, qua đó giúp chính quyền tỉnh nâng cao năng lực và hiệu quả thực hiện, và cung ứng các dịch vụ công tốt hơn Chẳng hạn như nhiều tỉnh đã cải thiện tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin và văn bản pháp luật nhằm tuân thủ các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới

và Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ

- Ở góc độ doanh nghiệp: Vai trò điều hành kinh tế của chính quyền trở nên đặc biệt quan trọng đối với những quyết định của DN DN bày tỏ quan ngại về các triển vọng trong tương lai vì rất khó dự đoán các sự kiện kinh tế khách quan nằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà hoạch định chính sách trong nước và thậm chí cả những quyết định chính sách được đưa ra Trong bối cảnh này việc đảm bảo các chính sách và quy định, minh bạch và công bằng là hết sức cần thiết, giúp DN dự báo chính xác hơn về triển vọng kinh doanh trong tương lai Chẳng hạn, khi được tiếp cận đầy đủ với thông tin về những thay đổi chính sách, phát triển cơ sở hạ tầng, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, các DN sẽ dự báo tốt hơn về triển vọng đầu tư của họ trong tương lai DN cũng sẽ

Trang 27

mạnh dạn đầu tư hơn nếu thấy yên tâm về triển vọng kinh doanh dài hạn Và ngược lại, khi DN lo lắng về những thay đổi bất ngờ trong quy định, cơ sở hạ tầng, hay đất đai đồng thời doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao công nghệ và mở rộng hoạt động do thiếu nhân sự thì DN sẽ do dự trước các dự án quy mô lớn, và chỉ đầu tư cầm chừng để thăm dò thị trường

- Đối với cộng đồng các nhà tài trờ quốc tế, gồm các tổ chức song và đa phương: các chỉ tiêu cụ thể trong kết quả PCI đã được sử dụng như là một cơ sở để theo dõi và đánh giá các dự án phát triển kinh tế tại địa phương đặt dự án

- Dữ liệu điều tra PCI cũng được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về tình hình hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân, các nhân tố quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, chính sách công nghiệp, xóa đói giảm nghèo, kể

cả vai trò của Quốc hội trong hoạch định chính sách

1.2.2.4 Các chỉ số và cách thức đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Trích dẫn theo Website của VCCI)

Có nhiều cách để phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư cấp tỉnh, trong đó có cách phân loại theo nhóm yếu tố truyền thống (như điều kiện tự nhiên – địa lý, xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng, quy mô thị trường…) và nhóm yếu tố nguồn lực mềm bao gồm những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh, những khía cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của chính quyền cấp tỉnh Nhóm yếu tố truyền thống là những nhân tố căn bản, quan trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng rất khó hoặc thậm chí không đạt được trong thời gian ngắn Nhóm yếu tố nguồn lực mềm là nhân tố quyết định đến sự hấp dẫn đầu

tư và phát triển sản xuất kinh doanh của DN Vì vậy, NLCT cấp tỉnh được xác định theo các tiêu chí xác định khả năng của nguồn lực mềm và chỉ số NLCT cấp tỉnh hiện nay được cấu thành từ hệ thống các chỉ số thành phần sau:

(1) Chi phí gia nhập thị trường: là chỉ số thành phần xác định về thời gian

hoàn thành các thủ tục và giấy tờ cần thiết để DN chính thức đi vào hoạt động Chỉ số này nhằm đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các DN mới thành lập giữa các tỉnh với nhau Được đo lường bởi các chỉ tiêu cụ thể như sau:

Trang 28

- Thời gian đăng ký kinh doanh – số ngày Theo quy trình một “cửa liên thông” quy định tại Thông tư liên bộ số 05 - 08, thời gian để các sở KHĐT hoàn thành các thủ tục đăng ký kinh doanh không quá 5 ngày trên thực tế có nhiều tỉnh lên tới 15 ngày

- Thời gian đăng ký kinh doanh bổ sung - số ngày (Giá trị trung vị): Vì nhiều lí

do khác nhau, doanh nghiệp đã đăng kí có thể phải đăng kí bổ sung Lý do có thể do chủ doanh nghiệp muốn thay đổi hình thức pháp lí của doanh nghiệp, tăng vốn đăng kí hay thay đổi ngành nghề sản xuất

- Số giấy phép đăng kí và giấy phép cần thiết để doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động Chỉ cần một loại giấy phép gặp khó khăn thôi cũng có thể là một gánh nặng cho doanh nghiệp Vì doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian và đi lại nhiều lần mới có được giấy phép đó Luật Doanh nghiệp tạo nền tảng cho việc hủy bỏ hàng trăm yêu cầu cấp phép không cần thiết Tiếp sau việc ban hành Luật Doanh nghiệp, một loạt Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định của Chính phủ về việc bãi bỏ nhiều loại giấy phép Tuy nhiên đáng tiếc là nhiều Bộ có liên quan và Ủy ban Nhân dân tỉnh

đã tìm cách tạo ra nhiều giấy phép hơn, khiến cho thời gian gia nhập thị trường của doanh nghiệp lâu hơn và tốn nhiều chi phí hơn Chỉ số PCI cố gắng đo lường sự khác nhau về giấy phép trong cả nước; Thời gian chờ đợi để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- % doanh nghiệp mất hơn 1 tháng để khởi sự kinh doanh Doanh nghiệp chỉ chờ đợi 1 tháng sẽ được giải quyết xong hồ sơ

- % doanh nghiệp mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh doanh Doanh nghiệp có thể phải chờ đợi tới cả một quý tài chính mới được giải quyết xong hồ sơ và thủ tục cần thiết cho hoạt động kinh doanh

(2) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: Là chỉ số ghi nhận

những khó khăn tìm kiếm mặt bằng sản xuất kinh doanh không những doanh nghiệp mất đi cơ hội đầu tư mà còn hạn chế khả năng tiếp cận nguồn tín dụng, vì doanh nghiệp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp tại các ngân hàng Mặt khác, liệu doanh nghiệp có cảm thấy yên tâm về tính ổn định của mặt bằng sản xuất, họ sẽ đầu tư lâu dài trên mặt bằng đó Còn nếu doanh nghiệp cho rằng có khả năng đất cho thuê bị đòi lại hoặc bị chèn ép, thay đổi những điều khoản quan trọng trong hợp đồng thuê đất, họ sẽ điều chỉnh lập dự án đầu tư hoặc phương án kinh doanh ngắn hạn Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp không thể tìm được đất cho mình nên phải

Trang 29

thuê lại mặt bằng từ các DNNN hoặc các cơ quan nhà nước ở tỉnh Do đó doanh nghiệp bị hạn chế nhiều khi muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì thường phải tốn kém nhiều chi phí giao dịch mới Được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

- % doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Theo pháp luật của Việt Nam, đất đai thuộc sở hửu toàn dân Kể từ năm 1993, các cá nhân và doanh nghiệp được cấp quyền sở hữu đất thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) Giấy chứng nhận này công nhận về mặt pháp lí quyền sử dụng đất lâu dài của chủ sở hữu đối với phần đất được giao (ít nhất là 20 năm và nhiều nhất là 70 năm) và năm quyền đi kèm là quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, thế chấp và cho thuê đất đai Trong đó, đặc biệt quan trọng là quyền được dùng GCNQSD để làm thế chấp khi vay vốn ngân hàng Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm số doanh nghiệp tư nhân

có GCNQSDĐ lâu dài và ổn định khác nhau rất nhiều giữa các tỉnh Ở nhiều tỉnh, rất nhiều doanh nghiệp được hưởng các quyền sử dụng đất không chính thức thông qua thừa kế hay qua chuyển nhượng “chui” không hợp pháp

- % diện tích đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCNQSD (theo dữ liệu của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường) Dữ liệu này thuộc dạng dữ liệu cứng nhằm đánh giá quan điểm của doanh nghiệp về mức độ tiếp cận đất đai Các loại đất ở đây bao gồm: đất nông nghiệp, đất hộ gia đình, đất sản xuất, đất thành thị, đất sử dụng cho mục đích quân sự và tôn giáo

- Doanh nghiệp đánh giá rủi ro bị thu hồi đất (1: Rất cao đến 5: Rất thấp) Sau khi nhà đầu tư có giấy chứng nhận quyền sử hữu DĐ, yếu tố quan trọng nhất quyết định mức độ cam kết, quy mô đầu tư của doanh nghiệp chính là việc nhà đầu tư lo ngại

về khả năng mặt bằng sản xuất của họ bị thu hồi hoặc buộc phải di dời

- Nếu bị thu hồi đất, doanh nghiệp sẽ được bồi thường thỏa đáng (% luôn luôn hoặc thường xuyên) nếu bị thu hồi đất, doanh nghiệp sữ được bồi thường thỏa đáng việc cơ quan chức năng địa phương đưa ra những công bố khi cần thiết sẽ giảm bớt phần nào lo lắng về rủi ro bị thu hồi mặt bằng của doanh nghiệp Suy cho cùng các doanh nghiệp đều có nhu cầu về: một cơ sở hạ tầng tốt hơn, mở rộng mặt bằng hiện có, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho phát triển, dẫn đến sự thay đổi sở hữu của một diện tích lớn cho việc xây dựng và hình thành khu công nghiệp, chính phủ cũng phải sử dụng đất để nâng cấp cải thiện các dịch vụ công tốt hơn Trong những trường hợp đó, vấn đề cần quan tâm là liệu những cá nhân hoặc doanh nghiệp

Trang 30

bị buộc phải chuyển nhượng đất đai có được đền bù thiệt hại xứng đáng với giá trị của

lô đất không Đó là những vấn đề không đơn giản

- Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợp với sự thay đổi của giá thị trường (% đồng ý) do sự quan liêu khi định giá đất và sự lên xuống thất thường của giá đất trên thị trường mỗi ngày Ngoài ra một số doanh nghiệp còn e ngại đó là sự khác biệt giữa giá trị của lô đất trong tương lai so với giá trị thị trường tại thời điểm hiện tại Một khi cơ sở hạ tầng mới được xây dựng, quy hoạch, bố trí sử dụng hợp lí, cá lô đất

sẽ bị đẩy giá đất lên cao hơn rất nhiều trong tương lai, nhưng giá trị thị trường hiện thời chỉ phản ánh điều kiện, hiện trạng của lô đất tại thời điểm đó

- DN không gặp cản trở về mặt bằng kinh doanh Chỉ tiêu này đo lường khả năng các dự án đầu tư hủy bỏ do không có mặt bằng , doanh nghiệp đã bỏ lỡ mất cơ hội mở rộng mặt bằng sản xuất vì các vấn đề khó khăn tiếp cận đất đai

(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: là chỉ số đo lường khả năng tiếp

cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định đó và mức

độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp Nó được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

- Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch: Doanh nghiệp đánh giá khả năng tiếp cận các văn bản như Ngân sách tỉnh, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm,

10 năm, hàng năm, Chương trình hành động phát triển khu vực kinh tế tư nhân, bản đồ quy hoạch đất

- Tính minh bạch của các tài liệu pháp lí: Doanh nghiệp đánh giá khả năng tiếp cận các quyết định và nghị quyết của UBND tỉnh, mẫu hồ sơ đăng kí và sử dụng đất, thay đổi các thông tin về các chính sách thuế

- Cần có "mối quan hệ" để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh (% quan trọng) Chỉ tiêu này thể hiện phần trăm số doanh nghiệp cho rằng để tiếp cận được với các tài liệu trên, phải có mối quan hệ cá nhân mới nhận được những tài liệu trên, việc phải có mối quan hệ với cơ quan Nhà nước ở tỉnh là quan trọng hoặc thậm chí rất quan trọng

Trang 31

- Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh doanh (% đồng ý) Chỉ tiêu này đánh giá mức độ nhất quán trong áp dụng chính sách thuế đối với các doanh nghiệp ở trong cùng một tỉnh Mặc dù thương lượng tiền thuế là tình trạng rất phổ biến đối với các hộ kinh doanh cá thể nhưng đối với các doanh nghiệp tư nhân, họ có mã số thuế và định kì nộp thuế trên cơ sở hóa đơn giá trị gia tăng

- Khả năng tiên liệu việc thực thi pháp luật của tỉnh (% Luôn luôn hoặc Thường xuyên) Điều này cho thấy vai trò quan trọng của lãnh đạo của tỉnh đối với từng địa phương, giúp cho doanh nghiệp có thể nắm bắt được tình hình thực thi pháp luật của tỉnh để từ đó có thể làm theo

- Độ mở của trang web tỉnh Yếu tố minh bạch kinh doanh là yếu tố then chốt đối với thành công của doanh nghiệp Khi được tiếp cận đầy đủ với thông tin về những thay đổi chính sách, phát triển cơ sở hạ tầng, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, các doanh nghiệp sẽ dự báo tốt hơn về triển vọng đầu tư của họ trong tương lai Doanh nghiệp cũng sẽ mạnh dạn đầu tư hơn nếu thấy yên tâm về triển vọng kinh doanh dài hạn Và ngược lại, khi doanh nghiệp lo lắng về những thay đổi bất ngờ trong quy định,

cơ sở hạ tầng, hay đất đai, doanh nghiệp sẽ do dự cầm chừng để thăm dò thị trường

- Các hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phản biện các chính sách, quy định của tỉnh (% Quan trọng hoặc Rất quan trọng) Các hiệp hội này giúp đỡ và hỗ trợ cho các doanh nghiệp hoạt động, giúp cho các doanh nghiệp

có thể yên tâm hoạt động

(4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: là chỉ số

dùng để đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra Sau khi luật doanh nghiệp ra đời nhiều doanh nghiệp tư nhân vẫn cho rằng hoạt động thanh tra và kiểm tra vẫn đang là gánh nặng đối với doanh nghiệp Các cơ quan nhà nước ở địa phương vẫn tiến hành thanh tra kiểm tra quá nhiều, và thời gian thanh tra và kiểm tra thường kéo dài Ở một mức độ nào đó hoạt động thanh tra và kiểm tra vẫn là cần thiết Vấn đề đặt ra là các cơ quan quản lí chức năng cần hoàn thành trách nhiệm đó song không được có những hành vi can thiệp gây tốn kém cho doanh nghiệp.Nó được

đo lường bởi các chỉ tiêu:

Trang 32

- % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước

Số lần thanh tra (tất cả các cơ quan)

- Số giờ làm việc với thanh tra thuế

- Các cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả hơn (% Đồng ý)

- Số lần doanh nghiệp phải đi lại để lấy các con dấu và chữ ký cần thiết giảm (% Đồng ý)

- Thủ tục giấy tờ giảm (% Đồng ý)

- Các loại phí, lệ phí của nhiều thủ tục giảm (% Đồng ý)

- Không có bất kỳ sự thay đổi nào sau khi thực hiện CCHCC (% Có)

(5) Chi phí không chính thức: là chỉ tiêu dùng để đo lường các khoản chi phí

không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không

Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:

- % DN cho rằng các DN cùng ngành trả chi phí không chính thức Chỉ tiêu này được thiết kế với mục đích để doanh nghiệp có thể nhận định về tình trạng này đối với doanh nghiệp cùng ngành nói chung chứ không phải thông tin về hành vi đưa và nhận hối lộ của chính doanh nghiệp

- % DN phải chi hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức Chỉ

số này phân Phần trăm doanh nghiệp cho rằng các doanh nghiệp cùng ngành phải trả các chi phí không chính thức

- Chính quyền tỉnh sử dụng các quy định riêng của địa phương để trục lợi (% Đồng ý) này là một chỉ tiêu mới được cập nhật xác định mức độ tham nhũng Tham nhũng, hối lộ là một vấn nạn, những rào cản do diễn giải sai lệch chính sách nhằm chèn ép doanh nghiệp phải đưa hối lộ của các nhân viên cũng không kém phần nguy hại

- Công việc được giải quyết sau khi đã trả chi phí không chính thức (% thường xuyên) rất nhiều doanh nghiệp tin rằng các khoản chi phí không chính thức này cũng

có lợi với điều kiện là nếu mất tiền tiêu cực phí thì doanh nghiệp được kết quả như ý muốn Có rất nhiều doanh nghiệp tự nguyện đưa thêm tiền bồi dưỡng cho các nhân

Trang 33

viên nhà nước sau khi đã đóng đủ các khoản phí và lệ phí như quy định trên dơ sở tin tưởng rằng họ sẽ được đền bù xứng đáng

- DN trả hoa hồng để có được hợp đồng từ các cơ quan nhà nước (% Đúng) Các doanh nghiệp thường muốn có các hoạt đồng từ các cơ quan nhà nước nên thường hay tìm cách có được các hợp đồng này từ các cán bộ làm trong nhà trường và họ có thể ăn chia hoa hồng với nhau

- DN chi trả chi phí không chính thức Nhằm tìm hiểu doanh nghiệp có trả các chi phí không chính thức hay không

(6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: là chỉ số đo lường

lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:

- Cán bộ tỉnh nắm vững các chính sách, quy định hiện hành trong khung khổ pháp luật để giải quyết khó khăn, vướng mắc cho DN (% Đồng ý): Chỉ tiêu này đánh giá khả năng này áp dụng các quy định pháp luật hiện hành của lãnh đạo tỉnh

- Tỉnh sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết những trở ngại đối với cộng đồng doanh nghiệp tư nhân (% Đồng ý) Thước đo này đánh giá chức năng tìm kiếm những cơ hội hay “khoảng trống trong khuôn khổ pháp luật hiện hành của lãnh đạo tỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp”

- Cảm nhận của DN về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu vực tư nhân (% Tích cực hoặc Rất tích cực)

(7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: Chỉ số này dùng để đo lường các dịch vụ

của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:

- Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm trước hoặc đăng ký tổ chức cho năm nay

- Số lượng các nhà cung cấp dịch vụ công là tư nhân trong tỉnh

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)

Trang 34

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh trên (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)

- DN đã sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- DN đã sử dụng các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

(8) Đào tạo lao động: Các doanh nghiệp liên tục phàn nàn về năng lực yếu kém

của lực lượng lao động Các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm và tuyển dụng lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp Trong khi đó hàng năm nhu cầu cần giải quyết việc làm của nước ta lên tới hơn 1 triệu người Hai sự việc mâu thuẫn này cho thấy khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra công ăn việc làm mới, thu hút lực lượng lao động trẻ, tuy nhiên các DNTN không sẵn sàng tiếp nhận những lao động phổ thông mà ngược lại chỉ nhận những lao động có tay nghề, có khả năng đóng góp vào công việc kinh doanh, sản xuất của họ

Trang 35

Chính vì vậy, việc chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất lượng lực lượng lao động địa phương sẽ có ý nghiã cực kỳ quan trọng đối với môi trường kinh doanh trên địa bàn Có nhiều doanh nghiệp đã tự đầu tư cho việc đào tạo đội ngũ nhân viên của mình Vấn đề là, khi những người lao động sau một thời gian đào tạo, lại bị các công ty khác lôi kéo Chính vì vậy các doanh nghiệp thường ngại đầu tư cho việc đào tạo lao động của mình Chỉ số này dùng để đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh

để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:

- Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp: Giáo dục phổ thông (% Tốt hoặc Rất tốt)

-Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp: Dạy nghề (% Tốt hoặc Rất tốt)

- DN đã sử dụng dịch vụ tuyển dụng và giới thiệu việc làm (%)

- DN đã sử dụng dịch vụ giới thiệu việc làm nói trên của nhà cung cấp dịch vụ

tư nhân (%)

- DN có ý định sẽ sử dụng lại nhà cung cấp dịch vụ nói trên cho dịch vụ giới thiệu việc làm (%)

- % tổng chi phí kinh doanh dành cho đào tạo lao động

- % tổng chi phí kinh doanh cho tuyển dụng lao động

- % doanh nghiệp hài lòng với chất lượng lao động

- Số lượng học viên tốt nghiệp trường đào tạo nghề/số lao động chưa qua đào tạo

- Số lao động tốt nghiệp THCS (% tổng lực lượng lao động)

(9) Thiết chế pháp lý: Chỉ số này dùng để đo lường lòng tin của doanh nghiệp

tư nhân đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:

- Hệ thống tư pháp cho phép các doanh nghiệp tố cáo hành vi tham nhũng của các công chức (% thường xuyên)

- Doanh nghiệp tin tưởng và khả năng bảo vệ của pháp luật (bản quyền hoặc thực thi hợp đồng (% Đồng ý)

Trang 36

- Số lượng vụ việc tranh chấp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Tòa

án kinh tế cấp tỉnh thụ lý trên 100 doanh nghiệp

- Tỉ lệ % nguyên đơn không thuộc nhà nước trên tổng số nguyên đơn tại Toàn

án kinh tế tỉnh

- Doanh nghiệp sử dụng tòa án hoặc các thiết chế pháp lý khác để giải quyết tranh chấp (%)

- Số tháng trung vị để giải quyết vụ kiện tại tòa

- % Chi phí (chính thức và không chính thức) để giải quyết tranh chấp trong tổng giá trị tranh chấp

1.2.2.5 Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Để xây dựng chỉ số PCI và xếp hạng chỉ số PCI được tiến hành theo ba bước đó là: (1) Thu thập dữ liệu; (2) Xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần; (3) Xây dựng chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) Cụ thể phương pháp như sau:

Bước 1: Thu thập số liệu:

Quá trình thu thập số liệu PCI gồm có: thứ nhất, các chuyên gia nghiên cứu tiến hành điều tra các doanh nghiệp trong nước đảm bảo mẫu đại diện đủ lớn, có thể đại diện cho tổng thể mẫu các doanh nghiệp để có thể thu thập thông tin đánh giá của các doanh nghiệp Thứ hai, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập các nguồn số liệu chính thống đã được công bố ở địa phương Mục tiêu là kết hợp các số liệu khách quan ( số liệu “cứng”) và số liệu chủ quan ( số liệu “mềm”: thể hiện cảm nhận đánh giá của các doanh nghiệp được điều tra), để có thể cho những kết quả đáng tin cậy hơn so với chỉ

sử dụng một trong hai số liệu trên

Số liệu “mềm”: Để có thể điều tra và thu thập số liệu “mềm”, các chuyên gia

tiến hành:

- Chọn mẫu: nhóm nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu là lập danh sách doanh nghiệp điều tra từ danh sách các doanh nghiệp nộp thuế của cơ quan thuế, tiến hành phân tổ điều tra Do không có điều kiện điều tra toàn bộ các doanh nghiệp ở địa bàn mỗi tỉnh trên cả nước, nên mẫu điều tra theo hình thức phân tổ được lập ra để đại diện cho toàn bộ các doanh nghiệp Để tiến hành chọn mẫu, danh sách doanh nghiệp được chia thành 24 nhóm, theo ba tiêu chí: (1) Loại hình của doanh nghiệp: Công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân; (2) Ngành nghề của doanh nghiệp: Công nghệ/ sản xuất, dịch vụ/ thương mại, nông nghiệp (nông, lâm, thủy sản), tài nguyên

Trang 37

thiên nhiên (khai khoáng); (3) Tuổi của doanh nghiệp: thành lập trước năm 2000 (năm Luật Doanh Nghiệp có hiệu lực) và thành lập từ sau năm 2000

Phân nhóm doanh nghiệp VCCI tiến hành phân nhóm, chọn mẫu một cách ngẫu nhiên và lập ra danh sách doanh nghiệp sẽ gửi phiếu điều tra Số lượng doanh nghiệp được gửi phiếu điều tra ở tỉnh căn cứ vào số lượng doanh nghiệp dân doanh ở tỉnh đó

và số lượng gửi phiếu phản hồi ở các năm trước đó Đối với các tỉnh có số lượng dân doanh dưới 500 doanh nghiệp thì tất cả các doanh nghiệp ở tỉnh đó đều được gửi phiếu điều tra

- Công cụ thu thập: phiếu điều tra gồm các câu hỏi về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và đánh giá của các doanh nghiệp về các khía cạnh khác nhau trong hoạt động quản lý và điều hành kinh tế của địa phương

- Phương pháp điều tra: VCCI gửi phiếu điều tra cho doanh nghiệp trong mẫu

đã chọn Để đạt được tỉ lệ phản hồi cao, VCCI đã tuyển chọn và huấn luyện cộng tác viên để gọi điện thoại đến các doanh nghiệp xác nhận phiếu điều tra đã được gửi đến đúng địa chỉ và thuyết phục doanh nghiệp trả lời Đối với các doanh nghiệp chưa nhận được điều tra thì VCCI tiến hành gửi lại một lần nữa Đối với các doanh nghiệp trả lời, VCCI gửi tặng một cuốn sách mà doanh nghiệp lựa chọn kèm theo thư cảm ơn của VCCI

Số liệu “cứng”: Các phương pháp được cơ quan nghiên cứu sử dụng và thu

thập số liệu như: lấy ý kiến chuyên gia, và số liệu thống kê

- Lấy ý kiến chuyên gia: thu thập ý kiến của các chuyên gia về chất lượng quản lý và điều hành đối với từng tỉnh để hiệu chỉnh những sai lệch trong đánh giá của các doanh nghiệp trong tính toán chỉ số cuối cùng

- Số liệu thống kê: để tiến hành thu thập số liệu từ các nguồn công bố chính thức và bên thứ ba như: niên giám thống kê của tổng cục thống kê, kết quả của các cuộc điều tra, các báo cáo, ấn phẩm của ngân hàng thế giới ,các công ty

Bước 2: Xử lí dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần:

Như đã trình bày, một trong những cách tiếp cận quan trọng của PCI là so sánh chất lượng điều hành kinh tế giữa mỗi tỉnh với thực tiễn tốt nhất về điều hành kinh tế ở Việt Nam, chứ không phải so sánh với một chuẩn mực lý tưởng nào đó Vì vậy để có

cơ sở so sánh, đánh giá giữa các tỉnh thành, chúng ta cần một đơn vị thống nhất, nên mỗi chỉ tiêu sẽ được chuẩn hóa theo thang 10 điểm như sau:

Trang 38

 Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành tốt thì sử dụng công thức sau đây để chuẩn hóa điểm: 9*[

Minimum Maximum

Minimum ovince i

 Pr

]+1

 Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành không tốt thì lấy 11 trừ

Minimum Maximum

Minimum ovince i

áp dụng lại qui trình tính điểm chỉ tiêu như trên để tạo ra từng chỉ số thành phần cho mỗi tỉnh Sau khi chuẩn hóa, toàn bộ các chỉ số của một tỉnh sẽ được thể hiện trên một

sơ đồ hình sao Hình 1.1 dưới đây thể hiện ví dụ điểm cụ thể của 9 chỉ số thành phần của một vài tỉnh, thành Độ dài của mỗi đường gân của ngôi sao thể hiện điểm của từng chỉ số thành phần với thang điểm tuyệt đối là 10

Hình 1.1: Biểu đồ “hình sao” thể hiện kết quả điều hành của từng tỉnh theo

chỉ số thành phần năm 2009

(Nguồn: Báo cáo Nghiên Cứu Chính Sách-VCCI, số 14)

Bước 3: Xây dựng chỉ số tổng hợp PCI:

Nếu lấy điểm của tất cả các chỉ số thành phần cộng lại với nhau, tổng điểm sẽ là

Trang 39

chỉ số PCI tổng hợp chưa có trọng số với điểm tối đa là 100 Mặc dù đây là phương pháp dễ dàng nhất để tính chỉ số PCI, nhưng lại không thực sự phù hợp nếu muốn sử dụng PCI như một công cụ chính sách Lý do là vì trong các chỉ số thành phần, có những chỉ số có vai trò quan trọng hơn những chỉ số còn lại khi lí giải sự khác biệt về kết quả phát triển khu vực kinh tế tư nhân Do đó mỗi chỉ số thành phần cần được tính toán trọng số tương ứng với mức độ đóng góp thực sự của từng chỉ số đối với việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân Để làm được việc này, trong giai đoạn 2005-2009, VCCI sử dụng phương pháp hồi qui đa biến để đo lường tác động của từng chỉ số thành phần tới một số chỉ số vốn được coi là có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân (tỉ lệ doanh nghiệp dân doanh, vốn đầu tư dài hạn của khu vực tư nhân tính trên bình quân đầu người, lợi nhuận bình quân trên một doanh nghiệp tính theo triệu đồng), khống chế ảnh hưởng mà các điều kiện truyền thống (khoảng cách tới thị trường tính bằng số km từ trung tâm tỉnh lị tới Hà Nội hoặc TP

Hồ Chí Minh, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng ban đầu) đem lại cho sự phát triển kinh tế tư nhân, từ đó tính ra mức độ đóng góp tương đối (hay còn gọi là trọng số) của chúng đối với các chỉ số thành phần Nhưng từ năm 2009 về sau VCCI sử dụng phương pháp tính trọng số mới bằng cách cũng chọn ra ba biến kết quả quan trọng thể hiện sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp tư nhân trên 1000 dân, mức đầu tư trên đầu người, lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp) Các biến số này được hồi qui theo từng chỉ số thành phần, trong đó loại trừ tác động của các nhân tố cấu trúc (mật độ dân số, diện tích, khoảng cách từ Hà Nội hoặc TP Hồ Chí Minh theo kilomet), cơ sở hạ tầng (đo bằng tỉ lệ đường được rải nhựa trong tỉnh) và sử dụng thêm các biến giả (biến phân đôi) cho 7 vùng ở Việt Nam để tính ra trọng số cho mỗi chỉ số thành phần Những trọng số này được làm tròn tới 5% gần nhất để phân thành ba loại

cơ bản như bảng 1.1 dưới đây :

Trang 40

5 Chi phí không chính thức 9.00% 10% Trung bình

(Nguồn: Báo cáo Nghiên Cứu Chính Sách-VCCI, số 14)

Những trọng số này được gắn vào các chỉ số thành phần tương ứng để tính ra chỉ số PCI tổng hợp cuối cùng

Hình 1.2: Mô hình phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

(Nguồn: Báo cáo Nghiên Cứu Chính Sách-VCCI, số 12)

Ngày đăng: 05/03/2015, 14:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Lương Gia Cường (2003) – Nhà xuất bản Giao Thông vận tải, “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao Thông vận tải
[5]. Hà Phạm (2008), “xây dựng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: xây dựng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt
Tác giả: Hà Phạm
Năm: 2008
[6]. Nguyễn Thị Thu Thảo (2011), khóa luận tốt nghiệp “ Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh Khánh Hòa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thảo
Năm: 2011
[7]. Phan Nhật Thanh (2010), Luận án tiến sỹ “Nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Hải Dương” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Hải Dương
Tác giả: Phan Nhật Thanh
Năm: 2010
[27].“Chỉ số PCI: Công cụ giám sát của doanh nghiệp” (http://dddn.com.vn/20100 114084332923cat130/chi-so-pci-cong-cu-giam-sat-cua-doanh-nghiep.htm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số PCI: Công cụ giám sát của doanh nghiệp
[28]. “PCI – Công cụ đột phá” (http://dddn.com.vn/2012051409469683cat183/pci-cong-cu-tao-dot-pha.htm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: PCI – Công cụ đột phá
[29]. “ Đòn bẩy cải thiện đầu tư” (http://www.baohungyen.vn/content/viewer.asp?a =19454&z=120) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đòn bẩy cải thiện đầu tư
[31]. “ Làm gì để cải thiện chỉ số PCI ” (http://www.baomoi.com/Lam-gi-de-cai-thien-chi-so-PCI/45/8105073.epi) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì để cải thiện chỉ số PCI
[30]. Phương hướng cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh (http://vietnameselawconsultancy.com/vietnamese/content/browse.php?action=shownews&topicid=1579) Link
[32].Trang web chính thức của chỉ số năng lực cạnh tranh PCI (http://www.pciv ietnam.org/) Link
[4]. Viên nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương Học viện năng lực cạh tranh Châu Á (2010) Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010 Khác
[8]. Báo cáo tham luận tổng hợp đề xuất giải pháp nâng cao PCI của thành phố Đà Nẵng năm 2009 Khác
[9]. Báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà nẵng (2010) Khác
[10]. Báo cáo nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và đề xuất kế hoạch cải thiện môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh của tỉnh Đồng Tháp, An Giang Khác
[11]. Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế-xã hội tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 Khác
[12]. VCCI và USAID (2005), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2005 của Việt Nam Khác
[13]. VCCI và USAID (2006), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2006 của Việt Nam Khác
[14]. VCCI và USAID (2007), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2007 của Việt Nam Khác
[15]. VCCI và USAID (2008), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2008 của Việt Nam Khác
[16]. VCCI và USAID, Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2009 của Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ hình sao. Hình 1.1 dưới đây thể hiện ví dụ điểm cụ thể của 9 chỉ số thành phần  của  một  vài  tỉnh,  thành - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Sơ đồ h ình sao. Hình 1.1 dưới đây thể hiện ví dụ điểm cụ thể của 9 chỉ số thành phần của một vài tỉnh, thành (Trang 38)
Hình 1.2: Mô hình phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Hình 1.2 Mô hình phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Trang 40)
Bảng 2.1: TỔNG GIÁ TRỊ TĂNG THÊM 2000-2010 - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.1 TỔNG GIÁ TRỊ TĂNG THÊM 2000-2010 (Trang 54)
Bảng 2.2: ĐỘNG THÁI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, 2001-2010 - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.2 ĐỘNG THÁI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, 2001-2010 (Trang 55)
Bảng 2.8. Xếp hạng PCI Kiên Giang so với cả nước và ĐBSCL 2005-2012: - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.8. Xếp hạng PCI Kiên Giang so với cả nước và ĐBSCL 2005-2012: (Trang 66)
Bảng 2.9: Các chỉ tiêu của chỉ số gia nhập thị trường năm 2009-2012 - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.9 Các chỉ tiêu của chỉ số gia nhập thị trường năm 2009-2012 (Trang 71)
Bảng 2.10: Các chỉ tiêu của chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất năm 2009- 2012 - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.10 Các chỉ tiêu của chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất năm 2009- 2012 (Trang 75)
Bảng 2.11: Các chỉ tiêu của chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin năm 2009-2012 - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.11 Các chỉ tiêu của chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin năm 2009-2012 (Trang 79)
Bảng 2.13: Các chỉ tiêu của chỉ số Chi phí không chính thức năm 2009- 2012 - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.13 Các chỉ tiêu của chỉ số Chi phí không chính thức năm 2009- 2012 (Trang 87)
Bảng 2.14: Các chỉ tiêu của chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh năm 2010, 2011 - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.14 Các chỉ tiêu của chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh năm 2010, 2011 (Trang 91)
Bảng 2.15: Các chỉ tiêu của chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp năm 2010, 2011. - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.15 Các chỉ tiêu của chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp năm 2010, 2011 (Trang 95)
Bảng 2.16: Các chỉ tiêu của chỉ số Đào tạo lao dộng năm 2009- 2012 - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.16 Các chỉ tiêu của chỉ số Đào tạo lao dộng năm 2009- 2012 (Trang 100)
Bảng 2.17: Các chỉ tiêu của chỉ số Thiết chế pháp lý năm 2009- 2012 - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.17 Các chỉ tiêu của chỉ số Thiết chế pháp lý năm 2009- 2012 (Trang 104)
Bảng 2.18: Thứ hạng PCI của Kiên Giang so với các tỉnh trong vùng - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.18 Thứ hạng PCI của Kiên Giang so với các tỉnh trong vùng (Trang 108)
Bảng 2.37: Thay đổi thứ hạng của các tỉnh trong vùng (giai đoạn 2006-2011) - nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang
Bảng 2.37 Thay đổi thứ hạng của các tỉnh trong vùng (giai đoạn 2006-2011) (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm