1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam

129 1,7K 24
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những phương pháp dựa trên những dự đoán hoàn hảo, phân tích kỹ thuật hay phân tích cơ bản và những quyết định đầu tư có cơ sở hợp lý của những người khác trong thị trường dường như khôn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

  

ĐOÀN SƠN HẢI

NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT HÀNH VI TRÊN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Khánh Hòa – 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

  

ĐOÀN SƠN HẢI

NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT HÀNH VI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT HÀNH VI TRÊN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu của bản thân, được đúc kết từ quá trình học tập và nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, dưới sự hướng dẫn của Thầy TS Nguyễn Văn Ngọc

Tác giả luận văn

Đoàn Sơn Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu

Chân thành cảm ơn các Thầy Cô Khoa Sau đại học đã tham gia giảng dạy chương trình Cao học trong thời gian qua

Chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Ngọc

đã tận tình hướng dẫn, những ý kiến đóng góp quý báu của Thầy đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Chân thành cảm ơn TS Lê Đạt Chí đã tặng tài liệu về Tài Chính Hành Vi và đồng thời đã trao đổi thêm về đề tài, những góp ý để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn

Tác giả luận văn

Phạm Thị Anh Thư

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cảm ơn ii

Lời cam đoan iii

Mục lục iv

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vẽ vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỪ LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ ĐẾN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI 9

1.1 Cơ sở bắt nguồn lý thuyết về tài chính hành vi 9

1.1.1 Tài chính chuẩn tắc (truyền thống) 9

1.1.2 Lý thuyết thị trường hiệu quả: 9

1.2 Lý thuyết Tài chính hành vi: 11

1.2.1 Tài chính hành vi là gì 12

1.2.2 Lý thuyết triển vọng: 12

1.2.3 Lý thuyết đầu cơ bong bóng: 15

1.3 Những nguyên lý cơ bản của thuyết hành vi 17

1.3.1 Hành vi không hợp lý: 17

1.3.1.1 Tính toán bất hợp lý 18

1.3.1.2 Tự điều chỉnh hành vi 19

1.3.1.3 Lý thuyết hối tiếc 20

1.3.1.4 Tâm lý sợ mất mát 20

1.3.1.5 Định nghĩa hẹp 22

1.3.1.6 Mâu thuẩn về nhận thức 22

1.3.1.7 Dựa vào kinh nghiệm 23

1.3.1.8 Quá tự tin, phản ứng quá mức 23

1.3.1.9 Lệch lạc do tình huống điểm hình 25

1.3.1.10 Tâm lý bảo thủ 25

1.3.1.11 Hiệu ứng điểm tham khảo 26

Trang 6

1.3.2 Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống 27

1.3.2.1 Tâm lý bầy đàn 27

1.3.2.2 Phân loại hành vi bầy đàn 29

1.3.2.3 Các nguyên nhân tạo nên hiệu ứng bầy đàn 31

1.3.3 Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá 32

1.3.3.1 Rủi ro cơ bản 34

1.3.3.2 Chi phí thực hiện 35

1.3.3.3 Rủi ro từ những nhà đầu tư gây nhiễu 36

Kết luận chương I: 37

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÂM LÝ HÀNH VI TRÊN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM 39

2.1 Tổng quan thị trường bất động sản Việt Nam 39

2.1.1 Lịch sử hình thành thị trường bất động sản tại Việt Nam 39

2.2 Thực trạng thị trường bđs Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2013 43

2.2.1 Thị trường bđs Việt Nam giai đoạn bong bóng đầu cơ 2006 - 2010 43

2.2.2 Thực trạng thị trường sau bong bóng đầu cơ giai đoạn 2010 – 2013 46 2.3 Kết quả điều tra của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường bđs Việt Nam 51

2.3.1 Mô tả mẫu khảo sát 51

2.3.2 Tâm lý của nhà đầu tư trên thị trường bất động sản Việt Nam 52

2.3.2.1 Sự tự tin và tự đánh giá khả năng của nhà đầu tư 52

2.3.2.2 Sự thay đổi hành vi các nhà đầu tư: 54

2.3.2.3 Sự ảnh hưởng của Tâm lý đám đông 64

2.3.2.4 Yếu tố tác động đến hiệu quả đầu tư: 69

2.3.2.5 Quyết định của nhà đầu tư dựa vào kinh nghiệm 70

2.4 Kết quả nghiên cứu 76

Kết luận chương II: 76

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ỨNG XỬ VỚI TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH HÀNH VI TRÊN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM 77

3.1 Cơ sở để đề xuất các đề nghị mang tính chất nguyên tắc 78

3.2 Kinh nghiệm cho các chủ đầu tư tạo dựng bất động sản 79

3.2.1 Chủ đầu tư là nguyên nhân trực tiếp đầu tiên gây nên hiện tượng bong bóng 79

Trang 7

3.2.2 Cái giá của chạy theo tâm lý đám đông 80

3.2.3 Hoạch định nguồn lực về tài chính không phù hợp 81

3.2.4 Sự tự tin quá mức đã dẫn đến các dạng đầu tư quá mức 82

3.3 Một số đề xuất về nguyên tắc tâm lý cho các nhà đầu tư cá nhân 84

3.3.1 Quá tự tin mình là nhà đầu tư giỏi 84

3.3.2 Thị trường không có trí nhớ 85

3.3.3 Ảnh hưởng bởi hiệu ứng Gắn với nhận định 84

3.3.4 Không chấp nhận thua lỗ 86

3.3.5 Không thể quên sai lầm trong quá khứ 86

3.3.6 Không công nhận sai lầm của bản thân 87

3.3.7 Tâm lý đầu tư bầy đàn 87

3.4 Đề xuất một số nguyên tắc cho các nhà hoạch định chính sách 88

3.4.1 Nguyên tắc 1 88

3.4.2 Nguyên tắc 2 90

3.4.3 Nguyên tắc 3 91

3.4.4 Nguyên tắc 4 93

3.4.5 Nguyên tắc 5 94

3.4.6 Nguyên tắc 6 95

3.4.7 Nguyên tắc 7 96

Kết luận chương 3 97

KẾT LUẬN CHUNG 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Phụ lục 1 108

Phụ lục 2 114

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACBR : Công ty cổ phần địa ốc ACB

BĐS : Bất động sản

BFMI : Tài chính hành vi vi mô

BFMA : Tài chính hành vi vĩ mô

CP : Cổ phần

CBRE : CB Richard Ellis Group, Inc hãng bất động sản đa quốc gia có trụ sở ở

Los Angeles

CAPM : (Capital Asset Pricing Model) Mô hình định giá tài sản vốn

EMH : (Efficient Market Hypothesis) Giả thuyết thị trường hiệu quả

FDI : đầu tư trực tiếp vốn nước ngoài

FIA : Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

GS : Giáo sư

HCM : Hồ Chí Minh

IT : (Information Technology) Công nghệ thông tin

NHNN : Ngân hàng nhà nước

SBV : (The State bank of Viet Nam) Ngân hàng nhà nước Việt Nam

ThS : Thạc sĩ

Tp : Thành phố

USD : đơn vị tiền tệ của Mỹ

VAMC : Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

VCCI : Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Giá bất động sản tại một số dự án ở TP HCM 44

Bảng 2.2 Thống kê lãi suất qua đêm liên ngân hàng 10/2011 47

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1 Mô tả sự lựa chọn của con người trong lý thuyết triển vọng 14

Hình 2.1 Diễn biến thị trường bất động sản Việt Nam 1991 – 2012 43

Hình 2.2 Nguồn vốn FDI đầu tư vào bất động sản, giai đoạn 2004-2012 45

Hình 2.3 Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2001-2012 47

Trang 9

Hình 2.4 CPI cả nước qua các tháng 48

Hình 2.5 Thống kê lượng căn hộ tồn kho quý IV/2012 49

Hình 2.6 Dư nợ bất động sản từ năm 2010 – 30/10/2012 49

Hình 2.7 Giá trị thị trường thứ cấp bđs (% thay đổi so với quý trước) 50

Hình 2.8 Mức độ tự tin của nhà đầu tư vào thị trường BĐS đang đầu tư 53

Hình 2.9 Mức độ tự tin khả năng lựa chọn BĐS đầu tư 54

Hình 2.10 Phân bổ lại tỷ lệ đầu tư vào các kênh đầu tư hiện tại 55

Hình 2.11 Phân bổ lại tỷ lệ nguồn vốn đầu tư 55

Hình 2.12 Mức độ quan tâm những BĐS ngắn hạn, (lướt sóng) hiện tại .56

Hình 2.13 Mức độ quan tâm những BĐS dài hạn, thời điểm hiện tại 57

Hình 2.14 Chiến lược đầu tư giữa 2 giai đoạn thị trường 57

Hình 2.15 So sánh phân khúc đầu tư 59

Hình 2.16 So sánh mức độ quan tâm đến pháp lý dự án 60

Hình 2.17 Mức độ quan tâm đến tiến độ xây dựng dự án 60

Hình 2.18 Mức độ quan tâm đến năng lực chủ đầu tư phát triển dự án 61

Hình 2.19 Sự thay đổi trong giá trị đầu tư tài sản 62

Hình 2.20 Quan tâm đến diện tích tài sản đầu tư 62

Hình 2.21 Những kênh thông tin ảnh hưởng đến nhà đầu tư 64

Hình 2.22 Nhận định nhà đầu tư về giá BĐS thời điểm bùng nổ 2006 - 2010 65

Hình 2.23 Các yếu ảnh hưởng đến giá trong suốt giai đoạn 2006-2013 66

Hình 2.24 Đánh giá của nhà đầu tư về thị trường BĐS hiện tại 68

Hình 2.25 Đánh giá thị trường BĐS trong 6 tháng tới 68

Hình 2.26 Nguyên nhân thất bại trong đầu tư từ 2006-2013 69

Hình 2.27 Mức độ tự tin tiên đoán thị trường phát triển trong tương lai 71

Hình 2.28 Nhà đầu tư phản ứng khi thông tin phát ra trên thị trường 72

Hình 2.29 Mức độ tự tin nhà đầu tư khi gặp tình trạng thị trường tương tự trong tương lai 73

Hình 2.30 Thái độ nhà đầu tư khi đứng trước một dự án đang tăng giá 74

Hình 2.31 Kinh nghiệm nhà đầu tư về xu thế thị trường 75

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với quá trình toàn cầu hóa của xu thế thế giới, nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh Hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam cũng xây dựng đầy đủ các thị trường của nền kinh tế thị trường, trước nhu cầu phát triển đó thị trường bất động sản ở Việt Nam ra đời cùng với sự phát triển ngày càng đầy đủ hơn các thị trường vốn, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Thị trường bất động sản Việt Nam đến nay vẫn còn non trẻ, hoạt động còn manh mún, không theo quy luật tự nhiên của thị trường, chưa bắt nhịp theo kịp sự phát triển của các nước trên thế giới

Điểm qua thời gian thị trường bất động sản hình thành từ năm 1990 đến nay chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy thị trường trải qua 3 chu kỳ bùng nổ và đóng băng Đặc biệt giai đoạn gần đây từ năn 2006 – 2013, chu kỳ này đã có lúc phát triển quá nóng từ 2006 - 2010 và hình thành nên hiện tượng bong bóng đầu cơ đồng thời xuất hiện nhiều câu hỏi khá thú vị Có những thời điểm thị trường phát triển nóng có lúc đến mức khó tin

Tại tp Hồ Chí Minh chỉ trong 3 tháng đầu năm 2007 giá đất ở Quận 7 đã tăng vọt

từ 20-50%, từ một nền đất nhà phố khu vực này chỉ khoảng 11triệu đồng/m2 sau đó tăng 13 – 15 triệu đồng/m2 Sau 3 tháng đã tăng lên đến 30-35 triệu đồng/m2 Tại dự

án Phú Mỹ-quận 7, giá nhà-đất cũng đua nhau tăng Trước đây, giá nền đất ở khu vực này chỉ khoảng 3 – 5 triệu/m2, sau đó 2 tháng chào bán với giá 17 – 20 triệu đồng/m2

Ở khu dân cư Phú Thuận, thời điểm giữa tháng 3/2007, giá nền nhà chỉ là 6,7 triệu đồng/m2, nhưng đến cuối tháng giá đã lên hơn 8 triệu đồng/m2 Các quận Bình Chánh, Quận 2, Quận Tân Bình đều nhanh chóng tăng giá nhà đất đến mức chóng mặt Từ khu Nam Sài Gòn đến khu lân cận khu đô thị mới Thủ Thiêm, lan rộng sang Nhơn Trạch, Long Thành (Đồng Nai) Bến Cát, Thủ Dầu Một (Bình Dương) nơi nào giá đất cũng tăng ít nhất 3 lần

Tại Hà Nội cũng không kém cạnh trong vấn đề sốt đất: Những căn hộ chung cư ở khu đô thị mới như The Manor, Garden cũng được những người có thu nhập cao hết sức săn tìm Từ cuối năm 2007, khu The Manor tăng từ hơn 1.000 USD/m2

lên đến mức 1.800-2.000 USD/m2

năm 2008 Còn khu Ciputra (Tây Hồ) cũng có giá lên đến

Trang 11

1.500-1.600 USD/m2 so với mức 800-900 USD/m2 trong năm 2008 Tại Hà Nội trong năm 2010, hầu như giá đất trên toàn địa bàn đều tăng Tăng giá mạnh nhất là bất động sản tại phía tây như các khu đô thị Văn Phú, Văn Khê, Nam Cường, Gelexemco, Nam

An Khánh, Bắc An Khánh

Kể từ cuối năm 2010 thị trường trên cả hai miền Nam, Bắc đã đi vào đóng băng

mà khởi đầu là thị trường tp Hồ Chí Minh xuất hiện hiện tượng chững lại kể từ tháng 4/2008 trên thị trường bất động sản bắt đầu xuất hiện làn sóng tháo chạy Làn sóng tháo chạy đã kéo giá nhà đất liên tục sụt giảm, với tốc độ sụt giảm ngày càng gia tăng Sau 6 tháng liên tục giảm giá, đến cuối năm 2008 nhà đất trên thị trường đã mất bình quân 50% giá trị so với thời đỉnh điểm cơn sốt

Còn tại Hà Nội thì kể từ sau năm 2010 cuộc tháo chạy của các nhà đầu tư mới thực sự rõ nét Mặc dù cả căn hộ chung cư, biệt thự, đất nền đều giảm giá trông thấy, nhưng người mua vẫn chẳng đoái hoài Thậm chí, các nhà đầu tư thứ cấp tìm cách chạy khỏi thị trường với giá trị cắt lỗ tới 30% so với giá gốc trên hợp đồng, trên 50%

so với giá ở thời điểm cao nhất Thị trường Hà Nội chứng kiến làn sóng tháo chạy và giảm giá kịch liệt ở mọi phân khúc, song vẫn không thu hút được người mua “Cái chết” đã cận kề

Cuộc tháo chạy trong âm thầm của nhiều đại gia bất động sản diễn ra trong nhiều năm qua, đến thời điểm này, các đại gia bất động sản liên tục hạ giá để rút vốn cắt lỗ

do tồn kho quá nhiều

Ai cũng có thể nhận thấy hiện tượng bong bóng BĐS đã được hình thành ở Việt Nam từ lâu với sự cách biệt quá lớn giữa mặt bằng giá cả nhà đất và mặt bằng thu nhập của 80% người dân, những người có mức thu nhập trung bình hoặc rất khiêm tốn Sau khoảng thời gian kinh tế tăng trưởng liên tục gần hai mươi năm, nguy cơ bong bóng BĐS xì hơi cuối 2012, đầu 2013 đã khiến nhiều người, nhiều doanh nghiệp chỉ còn “nằm chờ chết”

Theo tiến sỹ Alan Phan - nhà nghiên cứu về bất động sản ở Việt Nam, những yếu

tố vô hình không định lượng lại thường có một tầm quan trọng đáng kể với người tiêu dùng hay nhà đầu cơ thứ cấp Đó là tác động mạnh mẽ của các nhà đầu cơ, với sự hỗ trợ đắc lực của các chủ đầu tư cho dự án, cũng như những tài trợ bất đắc dĩ của các ngân hàng và tâm lý bầy đàn của đám đông

Yếu tố tâm lý bầy đàn nổi trội trong đầu tư bất động sản ở Việt Nam là một trong

Trang 12

những lý do không thể không nói đến Chuyện “ai sao tôi vậy” ở các nhà đầu tư Việt Nam rất phổ biến nên các phán đoán hoặc quyết định mua, bán BĐS của họ thường nghe theo gia đình, bạn bè và đám đông nào đó trong xã hội chứ không cố gắng đi tìm những cơ hội đặc thù khác biệt Đặc tính này khiến thị trường thường dao động về một phía, không cân bằng và gây ra hiện tượng bong bóng thường xuyên hơn

Những phương pháp dựa trên những dự đoán hoàn hảo, phân tích kỹ thuật hay phân tích cơ bản và những quyết định đầu tư có cơ sở hợp lý của những người khác trong thị trường dường như không thể áp dụng trong thực tế ở thị trường bất động sản trong nước Tài c hính h ành v i là một hệ thuyết kinh tế đòi hỏi phải hiểu và dự đoán được những ẩn ý trong hệ thống thị trường tài chính của việc đưa ra những nhận định tâm lý (Olsen, 1998) Bằng cách hiểu hành vi của con người và cơ chế tâm lý khi đưa ra các quyết định tài chính, những mẫu tài chính chuẩn có thể được nâng cao để phản ánh và giải thích tốt hơn thực tế phát triển của thị trường bất động sản hiện nay Xuất phát từ những vấn đề nêu trên là cơ sở để tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Hiện tượng thị trường bất động sản Việt Nam trong giai đoạn vừa qua trong thời gian tăng trưởng nóng đã được xem như hiện tượng bong bóng đầu cơ Hiện tượng này được xem là hành vi không hợp lý của những người tham gia vào thị trường bất động sản trong thời gian vừa qua Thông qua việc khảo sát các nhà đầu tư cá nhân trong lĩnh vực đầu tư bất động sản để xem họ đã thay đổi hành vi của họ như thế nào trong suốt thời gian thị trường bất động sản có dấu hiệu đầu cơ bong bóng cho đến khi thị trường rơi vào tình trạng đóng băng từ năm 2006 đến nay

Mục tiêu chung của luận văn này nhằm tìm ra mục tiêu đầu tư và những nhân tố tác động ảnh hưởng đến quyết định đầu tư bất động sản của các nhà đầu tư cá nhân thứ cấp trong thời điểm thị trường bất động sản biến động không tuân theo những quy luật kinh tế thông thông thương, đồng thời tìm hiểu xem nhân tố nào gây nên hiện tượng đầu cơ bong bóng trong lĩnh vực bất động sản Việt Nam trong thời gian trước

và sau thời kỳ bong bóng đầu cơ, khi mà các nhà đầu tư cá nhân tham gia vào cuộc chiến đầu tư bong bóng, mọi người ai cũng hiểu rõ và nhận thức được tầm nghiêm trọng của bong bóng đầu cơ nhưng vẫn đầu tư mặc dù biết rằng thị trường đầu tư bất

Trang 13

động sản sẽ lao tuột dốc và rơi vào đóng băng trong thời gian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về Tài chính hành vi

- Phân tính tài chính hành vi của nhà đầu tư trên thị trường bất động sản Việt Nam năm 2006 – 2013

- Qua hiện tượng hành vi bất thường của những nhà đầu tư thứ cấp diễn ra trên thị trường BĐS Việt Nam, luận văn đã đưa ra những kiến nghị hướng đến 3 thành phần chính trong đã đúc kết những bài học kinh nghiệm cho các chủ đầu

tư phát triển BĐS Bên cạnh đó, việc thống kê sắp xếp, phân loại những nhóm cảm xúc có thể ảnh hưởng lên quyết định đầu tư nhằm giúp các nhà đầu tư có cái nhìn tổng quan hơn tránh được ảnh hưởng của những nhân tố này nâng cao hiệu quả của đầu tư, đồng thời đề xuất những nguyên tắc cơ bản trong việc soạn thảo và ban hành chính sách cho các nhà quản lý liên quan đến lĩnh vực BĐS tại Việt Nam

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát thực nghiệm dựa trên một bản câu hỏi dành cho những cá nhân đầu tư bất động sản thứ cấp đã tham gia đầu tư trong suốt giai đoạn 2006-2013 trên cả 2 miền Bắc mà đại diện là thị trường Hà Nội, và miền Nam - Khu vực tp Hồ Chí Minh đại diện cho thị trường bất động sản Việt Nam

Giả thiết rằng rằng mặc dù phần lớn các nhà đầu tư trong giai đoạn 2006 - 2013

có thể nhận ra sự nghiêm trọng của bong bóng đầu cơ nhưng họ vẫn tiếp tục các hoạt động đầu tư dù biết rằng nguy cơ thị trường chững lại và đóng băng là trong tương lai gần kề Nắm bắt được những nhân tố gây ra bong bóng đầu cơ và cách mà yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của chúng ta sẽ giúp ta tránh được những

sự cố của hiện tượng này và nâng cao hiệu quả của thị trường bất động sản trong nước hiện nay

Phạm vi nghiên cứu

Khái niệm thị trường BĐS thì rộng lớn bao gồm: BĐS du lịch, nhà ở, cao ốc văn phòng, khách sạn, đất nông nghiệp và phi nông nghiệp Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này được nghiên cứu chỉ khảo sát được tập trung vào các nhà đầu tư thứ cấp

cá nhân đầu tư vào lĩnh vực BĐS nhà ở, biệt thự và căn hộ chung cư trong phạm vi ở

Trang 14

2 thị trường bất động sản chính sôi động nhất trước đây so với cả nước là Hà Nội và

Tp Hồ Chí Minh

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng

Phương pháp định lượng liên quan đến cuộc khảo sátthực hiện dưới 3 hình thức Hình thức thứ nhất là bảng câu hỏi điều tra phát trực tiếp và phỏng vấn trực tiếp, hình thức thứ 2 là phỏng vấn qua điện thoại, hình thức thứ 3 là tạo form khảo sát trực tuyến gởi qua email gởi đến đến nhà đầu tư cá nhân, thông tin dữ liệu khách hàng cá nhân được thu thập từ cơ sở dữ liệu của các đơn vị phát triển bất động sản như ACBR, Sacomreal, Sông Đà Thăng Long, Đất Xanh được tập trung phân tích nhằm rút ra những chỉ số thống kê đóng vai trò trung tâm, trên cơ sở đó tập trung cho những dữ liệu mang tính chất ra quyết định và hành vi trong thực tế gắng liền với sự tồn tại của lý thuyết tài chính hành vi đồng thời nhắm vào những chỉ số dữ liệu làm nổi bật sự tồn tại của bong bóng đầu cơ

Phương pháp định tính được vận dụng những lý luận cơ sở của thuyết tài chính hành vi nhằm mô tả lý và giải thích cho sự tồn tại của bong bóng đầu cơ trong thời kỳ vừa qua, đồng thời mô tả những khái niệm cơ bản trong tài chính hành vi nhằm làm sáng tỏ hơn vấn đề cần nghiên cứu

Từ những kết quả của cuộc khảo sát này, tôi rút ra kết luận về cách ra quyết định

và hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thực tế gắn liền với sự tồn tại của lý thuyết tài chính, song song với điều đó tôi nhắm đến những yếu tố mà gắn với sự tồn tại của

bong bóng đầu cơ

5 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Lĩnh vực Tài chính hành vi đang phát triển nhanh chóng và sử dụng các kiến thức từ tâm lý học để tìm hiểu cách thức hành vi con người ảnh hưởng đến quyết định các nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà quản lý trên các thị trường kinh tế, tài chính Tài chính hành vi là một đề tài không mới trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế thực nghiệm trên thế giới nhưng thực sự nó chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều tại Việt Nam Mặc dù Tài chính hành vi chưa được công nhận là trường phái kinh tế chính thống tuy nhiên nó có thể giải thích và bổ

sung được những vấn đề mà kinh tế học chuẩn tắc chưa lý giải được

Trang 15

Tình hình nghiên cứu ngoài nước

 Tversky và Kahneman (1974) trình bày chi tiết phương pháp kinh nghiệm và những lệch lạc xảy ra khi đưa ra những quyết định trong sự không chắc chắn Nghiên cứu sau này của họ về lý thuyết triển vọng, cuối cùng đã giúp cho Daniel Kahneman giành được giải thưởng Nobel Kinh tế vào năm 2002

vì đã kết hợp những nhận thức từ nghiên cứu tâm lý cho khoa học kinh tế, đặc biệt là đề cập đến cách nhìn và việc tạo quyết định của con người trong điều kiện có rủi ro

 Nghiên cứu của Sven Van Hoof (2009) trong luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế tài chính quốc tế, đại học Maastricht University Hà Lan với đề tài: “

350 years Prospect theory alongside the Amsterdam Canals” mục tiêu đề tài nhằm phân tích mối quan hệ giữa giá chuyển nhượng và thuyết kỳ vọng trong suốt thời gian dài từ 1649-1974 từ đó tìm ra bằng chứng của lý thuyết triển vọng và hiệu ứng ngược vị thế (prospect theory and the disposition effect), bên cạnh đó nó cũng kiểm tra sự ảnh hưởng giữa các thế hệ với thuyết hành vi

 Bài viết nghiên cứu của Burton G Malkiel (2010), đại học Princeton về đề tài “ Bubbles in assest prices”, đã khẳng định hiện tượng bong bóng giá tài sản trên thế giới là tồn tại, thông qua đó đề xuất hướng dự báo và điều chỉnh chính sách điều tiết tiền tệ quốc gia

 Nghiên cứu của Liu và Song (2001) về đề tài: “sự thăng trầm của thị trường chứng khoán, nên chăng có lỗi của các nhà phân tích?” nhằm giải thích hiện tượng bong bóng đầu cơ, đã kết luận rằng các nhà phân tích tài chính nói chung bị ảnh hưởng của hiệu ứng quá lạc quan về cổ phiếu IT trước sự sụp

đổ của thị trường vào tháng 3 năm 2000 Bên cạnh đó lợi nhuận dự kiến trước vụ sụp đổ thì không hợp lý, vì thế hành vi của các nhà phân tích chịu một phần trách nhiệm cho hiện tượng bong bóng đầu cơ

 Một nghiên cứu khác McNichols et al (1997) chỉ ra rằng các nhà phân tích

có xu hướng thêm vào cổ phiếu các công ty mà họ thích và loại ra cổ phiếu các công ty mà họ không thích trong danh sách các công ty đầu tư Họ diễn giải các chứng cứ (các mẫu) của họ bằng cách phân tích như là một lời lý giải thiên vị cho hiện tượng quan sát thông thường mà qua đó các lợi nhuận

Trang 16

dự báo thường rất lạc quan

 Trong khảo sát của Shiller (1987) nhằm nghiên cứu hành vi của các nhà đầu

tư trong mối liên hệ với vụ sụp đổ thị trường chứng khoán vào tháng 10 năm

1987 Kết quả khảo sát của ông cho thấy nhiều nhà đầu tư nghĩ rằng họ có thể tiên đoán thị trường và điều thú vị rằng cả người mua và người bán đều nghĩ rằng thị trường đã vượt giá trị trước vụ sụp đổ Hầu hết các nhà đầu tư cho rằng vụ sụ đổ xảy ra là do tâm lý của các nhà đầu tư

Tính hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thể

về Tài chính hành vi trong lĩnh vực bất động sản Tuy nhiên, có một số nghiên cứu cung cấp những kiến thức nền tảng về lý thuyết Tài chính hành vi và một số đề tài luận văn có liên quan đến đề tài này như sau:

 Tài chính hành vi và những bất thường của thị trường chứng khoán Việt Nam - Thạc sỹ Lê Đạt Chí, Tạp chí kinh tế phát triển tháng 7 năm

2007 Nghiên cứu này đều chủ yếu đề cập đến phân tích Tài chính hành

vi trên thị trường chứng khoán Việt Nam

 Nghiên cứu lý thuyết hành vi trong việc ra quyết định đầu tư tài chính của Th.s Ngô Thị Xuân Bình- Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM đã

đề cập đến một số quan điểm rất cơ bản của các học giả nghiên cứu tài chính hành vi phát hiện thông qua các nghiên cứu thực nghiệm của mình trong suốt hai thập kỷ vừa qua

 Bài viết của Th.s Trần Thị Hải Lý trên tạp chí Tài chính và Phát triển

số 5 tháng 6 năm 2010 đề cập đến hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong đó có trình bày nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế hiệu ứng hành vi bầy đàn trên thị trường Chứng khoán Việt Nam

 Trong Tạp chí kinh tế tháng 7 năm 2007 Ths Hồ Quốc Tuấn cũng đưa

ra vấn đề Tài chính Hành vi Nghiên cứu và ứng dụng tâm lý học về tài chính, qua đó có nêu lên khung lý thuyết về tài chính hành vi đồng thời chỉ ra những ứng dụng của nó trọng thực tiễn áp dụng vào lĩnh vực tài chính

 Luận văn thạc sĩ về đề tài Tài chính hành vi như Ứng dụng lý thuyết

Trang 17

Tài chính Hành vi để lý giải cho những bất thường trên thị trường Chứng khoán Việt Nam của Vũ Đình Kết năm 2011, đề tài này ứng dụng những lý thuyết Tài chính hành vi để lý giải cho những bất thường trên thị trường chứng khoán Việt Nam đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Về mặt lý luận

Qua các phân tích thị trường bất động sản Việt Nam hiện nay và các hành vi về tài chính của con người bằng cả 2 phương pháp: định tính và định lượng từ đó đưa ra những khuyến nghị mang tính chất hết sức chặt chẽ và khoa học về bản chất thị trường

bất động sản nước ta hiện nay

6.2 Về mặt thực tiễn

Dựa vào cơ sở nghiên cứu này các tổ chức, cá nhân và các đơn vị quản lý có liên quan lĩnh vực bất động sản có thể tham khảo các đề nghị sẽ được nêu ở phần cuối trong quá trình quyết định đầu tư, kinh doanh hay ra quyết định quản lý ở cấp nhà nước

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần như Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,…Luận văn này được chia thành ba chương như sau:

Chương 1: Lý thuyết tài chính hành vi

Chương 2: Phân tích tâm lý hành vi trên thị trường bất động sản Việt Nam Chương 3: Giải pháp ứng xử với tác động của tài chính hành vi trên thị trường bất động sản Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI 1.1 Cơ sở bắt nguồn lý thuyết về tài chính hành vi

1.1.1 Tài chính chuẩn tắc

Nền tảng của tài chính chuẩn tắc (truyền thống) dựa trên giả định rằng những người tham gia thị trường, các cá nhân, các tổ chức, và thậm chí cả thị trường đều là hợp lý Tính trung bình, những người này đưa ra các quyết định không lệch lạc và tối đa hóa lợi ích bản thân của họ Bất kỳ cá nhân nào đưa ra quyết định kém tối ưu đều sẽ phải nhận tỉ suất lợi nhuận thấp Theo thời gian, mọi người hoặc là tìm tòi để đưa ra quyết định tốt hơn, hoặc rời bỏ thị trường Đồng thời, các sai lầm của những người tham gia thị trường không tương quan với nhau, vì thế chúng không đủ sức ảnh hưởng đến giá cả thị trường

Sự hợp lý của những người tham gia thị trường đưa đến một trong những lý thuyết kinh điển trong tài chính chuẩn tắc, đó là giả thuyết về thị trường hiệu quả (EMH) Những người tham gia thị trường hợp lý đã phản ánh tất cả các thông tin đã được biết và những xác suất liên quan đến sự không chắc chắn trong tương lai vào giá hiện hành Do đó, giá cả thị trường nói chung là đúng Những thay đối trong giá

vì vậy liên quan đến việc nhận thức thông tin trong ngắn hạn Trong dài hạn, những thay đối trong giá, hoặc tỷ suất lợi nhuận, phản ánh phần bù cho rủi ro phải gánh chịu Một khái niệm cơ bản và truyền thống khác là mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng Những người tham gia thị trường hợp lý e ngại rủi ro sẽ yêu cầu mức một tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn cho các khoản đầu tư có rủi ro cao hơn Trong nhiều thập kỷ qua, các học giả tài chính đã cố gắng mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi bằng mô hình định giá tài sản mà điểm hình là mô hình định giá tài sản vốn (CAPM)

1.1.2 Lý thuyết thị trường hiệu quả

Tài chính cổ điển xây dựng khung lý thuyết dựa trên hai nguyên tắc chính Nguyên tắc đầu tiên đó là Thị trường luôn hiệu quả (Fama, 1970) Nguyên tắc thứ hai

là các nhà đầu tư đều hành xử hợp lý (Fama, 1995) Hai trụ cột này dường như không dành cho thị trường bất động sản Theo như Genesove và Mayer (2001) thì thị trường bất động sản có hai đặc điểm chính Đặc điểm đầu tiên là giá cả được đưa ra và quyết định bởi bên bán căn cứ một phần vào các thuộc tính của đơn vị bất động sản đó Đặc

Trang 19

điểm quan trọng thứ hai là khối lượng giao dịch sẽ giảm khi giá bất động sản giảm xuống

Trong quá khứ, Thị trường bất động sản dường như là thị trường không hoàn hảo (Dean, Dogan 1995) Các thị trường chứng khoán khác có cả một quá trình dài nghiên cứu và được xem là thị trường hoàn hảo Lý do cho việc thiếu các nghiên cứu về đặc điểm hiệu quả của thị trường bất động sản là việc thiếu các dữ liệu đầy đủ Thị trường hiệu quả là thị trường nơi đó giá đã phản ánh tất cả những thông tin đã được cung cấp (Fama, 1970) Năm 1980 Grossman và Stiglitz đã chỉ ra rằng: không nên có chi phí bổ sung cho việc có thông tin thêm về tài sản định đầu tư Đến năm 1991, Fama đã bổ sung thêm về định nghĩa thị trường hiệu quả như sau: “giá cả đã phản ánh thông tin tại điểm mà ở đó lợi nhuận biên bao gồm hoạt động lấy thông tin, không vượt quá chi phí biên” (“prices reflect the information to the point where the marginal benefits of acting

on information do not exceed the marginal costs”)

Fama (1970) đã thảo luận rằng, các nguồn lực về tài chính nên phân bổ sao cho hiệu quả nhất, dòng vốn đầu tư được điều chỉnh rủi ro sao cho tốt nhất tại điểm lợi nhuận cận biên Fama (1970) gọi hình thức hiệu quả này là “ hiệu quả phân bổ” Theo Eugene Fama (1970) Thị trường hiệu quả có 3 phiên bản: dạng yếu (weak form), dạng bán-mạnh (semi-strong form) và dạng mạnh (strong form)

Phiên bản dạng mạnh (strong form) của lý thuyết này khẳng định mạnh mẽ về

tính hiệu quả của thị trường tài chính, rằng giá cả đã phản ánh tất cả thông tin đã công

bố trong quá khứ, hiện tại, cũng như các thông tin nội bộ (insider) Cơ sở đứng sau lý thuyết này là: nếu có thông tin nội bộ, những người biết thông tin nội bộ sẽ mua bán ngay chứng khoán (chứng khoán ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là cổ phiếu) để thu lợi nhuận, và như vậy giá chứng khoán sẽ thay đổi, đến khi nào người trong cuộc không còn kiếm lời được nữa

Phiên bản dạng bán mạnh (semi-strong form) của lý thuyết cho rằng: giá cả

chứng khoán đã chịu tác động đầy đủ của thông tin công bố trong quá khứ cũng như thông tin vừa công bố xong Nhà đầu cơ không thể dựa vào thông tin trong quá khứ cũng như thông tin vừa được công bố để có thể mua rẻ bán đắt chứng khoán, vì ngay khi thông tin được công bố, giá chứng khoán đã thay đổi phản ánh đầy đủ thông tin vừa công bố

Trang 20

Phiên bản dạng yếu (weak form) của lý thuyết này cho rằng: giá cả các sản

phẩm tài chính đã phản ánh đầy đủ thông tin đã công bố trong quá khứ (nghĩa là dựa vào thông tin trong quá khứ thì nhà đầu cơ không thắng được thị trường)

Với việc xem xét ba hình thức hiệu quả thì những đặc tính quan trọng nhất của lý thuyết thị trường hiệu quả đã được thảo luận Trong lý thuyết thị trường hiệu quả, thông tin đóng một vai trò cực kỳ quan trọng Khi tất cả các thông tin cung cấp cho thị trường có sẵn, giá cả sẽ luôn phản ánh chính xác dựa trên thông tin đó và không bị sai lệch Khi thị trường có sự chênh lệch về giá thì ngay lập tức, các nhà đầu tư có cơ hội tạo ra lợi nhuận gần như không có rủi ro gì trong các phi vụ đầu tư của mình, hành vi này sẽ điều chỉnh giá mới trở về đúng giá trị của nó và tính hiệu quả của thị trường được thiết lập lại Khi thông tin công bố đóng vai trò quan trọng trong quyết định tính hiệu quả thì sự phân biệt giữa ba hình thức thị trường hiệu quả được hình thành Lĩnh vực bất động sản tập trung tham chiếu vào thông tin lịch sử vì vậy nó cũng được xem

là hình thức yếu (weak form) của thị trường hiệu quả

Lý thuyết thị trường hiệu quả được phát triển bởi Giáo sư Eugene Fama tại University of Chicago Booth School of Business trong luận văn tiến sỹ của mình vào đầu những năm 1960s Lý thuyết này được chấp nhận rộng rãi cho đến những năm 1990s thì bị đặt câu hỏi, khi kinh tế học tài chính hành vi nổi lên được chấp nhận rộng rãi

1.2 Lý thuyết Tài chính hành vi

Theo tài chính truyền thống chuẩn tắc, trong một thị trường hiệu quả giá tài sản được xác lập bởi các nhà đầu tư lý trí, luôn hành xử một cách hợp lý và kết quả là sự cân bằng thị trường dựa trên các hành xử hợp lý được thực hiện

Tài chính hành vi là một lĩnh vực nghiên cứu về kinh tế thực nghiệm, được xem là trường phái khá mới so với các trường phái tài chính học truyền thống Những luận điểm cơ bản của các trường phái tài chính cổ điển luôn tin rằng các quyết định của nhà đầu tư trên thị trường luôn dựa trên tính duy lý, hay nói cách khác họ luôn tin rằng có tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái hiệu quả Đây là cơ chế kinh doanh chênh lệch giá của hàng hóa trên thị trường tài chính Những nhà đầu tư nhận thấy có cơ hội kiếm lợi nhuận từ sự chênh lệch giá của các tài sản tài chính, lập tức họ tận dụng cơ chế “Mua tài sản ở nơi có giá thấp và bán nó ở nơi có giá cao” Khi đó, động thái này của các nhà đầu tư sẽ tự động điều chỉnh thị trường, xác lập giá cả về

Trang 21

trạng thái cân bằng hay hợp lý Cơ chế này được xem là nền tảng cơ bản cho nhiều mô hình lý thuyết tài chính hiện đại như “thuyết thị trường hiệu quả”, lý thuyết mô hình định giá tài sản (CAPM - Capital Asset Pricing Model)

1.2.1 Tài chính hành vi là gì?

Tài chính hành vi là một phân nhánh mới của tài chính, ứng dụng những qui luật tâm lý học, xã hội học và nhân loại học vào tài chính, góp phần giải thích những bất thường trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung Tài chính hành vi bổ sung cho lý thuyết tài chính truyền thống bằng cách giới thiệu khía cạnh hành vi đối với quá trình ra quyết định Tài chính hành vi được chia làm hai mảng:

(i) Tài chính hành vi vi mô (BFMI) nghiên cứu các thiên lệch hành vi của nhà đầu tư;

(ii) Tài chính hành vi vĩ mô (BFMA): phát hiện và mô tả các bất thường trong giả thuyết thị trường hiệu quả mà mô hình hành vi có thể giải thích được

Trong tài chính hành vi vi mô, người ta chia làm hai hướng nghiên cứu: nghiên cứu sự thiên lệch hành vi trong bản thân mỗi cá nhân (Individual Bias), và nghiên cứu

sự thiên lệch hành vi do sự tương tác giữa các cá nhân với nhau (Collective Bias), trong đó các nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi những nhà đầu tư khác và bắt đầu hành xử như một đám đông xúc cảm (emotional crowd) Tương tự như đối với tài chính truyền thống được xây dựng trên một số nguyên lý và lý thuyết như nguyên lý chênh lệch (Arbitrage Principle) của Miller và Modigliani, nguyên lý danh mục của Markowitz, lý thuyết về định giá tài sản vốn của Sharpe, Lintner, Black và lý thuyết định giá hợp đồng chọn (Option) của Black, Scholes, Merton (Statman, 1999) Tài chính hành vi đã giới thiệu lý thuyết triển vọng (Prospect Theory) và lý thuyết ra quyết định dựa trên kinh nghiệm chủ quan (Heuristics) làm nền tảng cho cơ sở giải thích hành vi không hợp lý của các nhà đầu tư

1.2.2 Lý thuyết triển vọng

Đây là một lý thuyết mới được Daniel Kahneman và Amos Tversky đưa ra khi các ông nghiên cứu thực nghiệm bằng các mô hình mô tả về quyết định được thực hiện trong điều kiện có mức rủi ro và phát triển thành một lý thuyết mới “lý thuyết triển vọng” Đây là lý thuyết mở đầu của tài chính hành vi và là cơ sở cho những lý

Trang 22

thuyết sau đó

Các nghiên cứu thực nghiệm phát triển nên mô hình lý thuyết triển vọng

Vấn đề 1: Giả sử bạn phải chọn lựa giữa hai quyết định hiện hữu sau

 Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Có 84% câu trả lời chon P1 đối với quyết định 1: chọn chắc chắn có $240  phù hợp với sự e ngại rủi ro Và 87% chọn P4 đối với quyết định 2: chọn tham gia trò chơi may rủi  phù hợp với sự ưa thích rủi ro, hay tâm lý “làm liều” của các nhà “chơi bài”

Kết luận 1: Con người đôi khi thể hiện sự e ngại rủi ro và đôi khi lại thể hiện sự ưa

thích rủi ro Tùy thuộc vào bản chất của triển vọng mà họ nghĩ tới

 Chọn P7: bạn chắc chắn còn lại $400 (sau khi mất $100)

 Chọn P8: may mắn bạn giữ nguyên số tiền ban đầu $500 (xác suất 50%), không may mắn bạn chỉ còn $300 (tức mất $200)

 Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Có 72% chọn P5  thể hiện sự e ngại rủi ro

Trang 23

- Và 64% chọn P8  thể hiện sự ưa thích rủi ro

Cho thấy, thái độ đối với rủi ro không tương đồng với việc được và mất Khi được thì người ta e ngại rủi ro hơn, còn khi mất thì người ta thường thích rủi ro hơn,

nghĩa là sự thay đổi của mức tài sản họ thực sự nhận được, chứ không phải giá trị tài

sản (mức giàu có) cuối cùng Con người đánh giá kết quả dựa trên một điểm tham chiếu, điểm tham chiếu này thường là mức tài sản ban đầu Trong khi đó, lý thuyết hữu dụng kỳ vọng giả định con người đánh giá kết quả dựa trên mức giàu có cuối cùng

Kết luận 2: Việc đánh giá các triển vọng của con người phụ thuộc vào việc lời hay lỗ

so với một điểm tham chiếu (reference point) Điểm tham chiếu này thường là mức tài sản ban đầu (original value)

Vấn đề 3: Với x bằng bao nhiêu sẽ cho chúng ta thấy sự khác nhau giữa P9(0) và

P10(0.5,x,- $25)

 Kết quả nghiên cứu cho thấy:

P9 là chắc chắn Với P10, x= $61, lớn hơn gấp hai lần trị tuyệt đối của khoản mất

(-$25)

Trong một trò may rủi, với việc mất đi $25, đòi hỏi phải nhận được $61 để thấy không có sự khác nhau giữa việc chấp nhận hay không chấp nhận trò chơi may rủi

Và điều này cho thấy con người e ngại “sự mất mát”

Kết luận 3: Con người e ngại mất mát (thua lỗ) vì mất mát lớn hơn được, và tâm lý

mất mát thường nặng hơn cái nhận được

Hình 1.1 Mô tả sự lựa chọn của con người trong lý thuyết triển vọng

Nguồn: Lý thuyết triển vọng Kahneman and Tversky (1979)

Trang 24

Trong hình này người ta đánh giá hàm giá trị thông qua

(i) Điểm tham khảo hay điểm tham chiếu (reference point)

(ii) Hàm giá trị lõm (concave) ở miền lời và lồi ra (convex) ở miền lỗ

(iii) Điểm tham chiếu chỉ mang tính chất tham khảo để tách hàm giá trị ra thành hai miền: miền lời (gains) và miền lỗ (losses) Điều này nói lên:

 Thái độ đối với rủi ro không tương đồng với việc được và mất Tức là, người

ta có khuynh hướng sợ mất mát (loss aversion) hơn trong miền lời và chấp nhận rủi ro hay “làm liều hơn” trong miền lỗ

 Hàm giá trị được xác định dưới dạng lời và lỗ liên quan đến điểm tham chiếu, chứ không phải dưới dạng giá trị tài sản tuyệt đối cuối cùng

Chẳng hạn như tình huống người chơi bài bạc Khi họ lời, họ thường có khuynh hướng nghỉ chơi sớm, để chắc chắn có tiền Khi họ lỗ, họ thường có khuynh hướng “làm liều” hơn, chơi tiếp và chấp nhận rủi ro lỗ hơn, với hi vọng tìm lại được vốn Lý thuyết triển vọng này có thể dẫn đến một số hiệu ứng, đó là sự tính toán bất hợp lý (mental accouting)

1.2.3 Lý thuyết đầu cơ bong bóng

Hiện tượng bong bóng kinh tế (đôi khi còn gọi là "bong bóng đầu cơ",

"bong bóng thị trường", "bong bóng tài chính" hay "speculative mania") là hiện tượng chỉ tình trạng thị trường trong đó giá hàng hóa hoặc tài sản giao dịch tăng đột biến đến một mức giá vô lý hoặc mức giá không bền vững Mức giá cao thái quá này của thị trường không hề phản ánh mức độ thỏa dụng hay sức mua của người tiêu dùng theo như các lý thuyết kinh tế thông thường

Bong bóng kinh tế xuất hiện khi có hiện tượng đầu cơ đối với các tài sản cơ

sở, làm cho giá bị đẩy lên cao, do vậy càng khuyến khích hoạt động đầu cơ hơn nữa Theo sau bong bóng kinh tế bao giờ cũng là một cú giảm giá đột ngột, được gọi là sự sụp đổ của thị trường hay "bong bóng vỡ" Cả giai đoạn bong bóng phình

to và giai đoạn bong bóng nổ đều là kết quả của hiện tượng "phản ứng thuận chiều", khi đại đa số những người tham gia thị trường đều có phản ứng đồng nhất với nhau Giá cả trong giai đoạn bong bóng kinh tế bao giờ cũng biến động vô cùng thất thường, hỗn loạn và gần như không thể dự đoán được nếu chỉ căn cứ vào cung, cầu trên thị trường

Trang 25

Cơ chế của bong bóng kinh tế thường được giải thích bằng một lý thuyết có tên là "lý thuyết về kẻ ngốc hơn" Lý thuyết này giải thích hành vi của những người tham gia vào một thị trường với sự lạc quan thái quá (anh ngốc) Những anh ngốc này sẵn sàng mua những hàng hóa được định giá quá cao, với mong đợi sẽ bán được nó cho một tay đầu cơ tham lam khác (kẻ ngốc hơn) ở một mức giá cao hơn nhiều Bong bóng sẽ tiếp tục phình to thêm chừng nào mà anh chàng ngốc này vẫn còn tìm được một kẻ ngốc hơn mình sẵn sàng mua những hàng hóa đó Và bong bóng kinh tế sẽ kết thúc khi anh ngốc cuối cùng trở thành "kẻ ngốc nghếch nhất", người trả giá cao nhất cho thứ hàng hóa được định giá quá cao và không tìm được người mua nào khác cho chúng, lúc đó bóng nổ

1.2.3.1 Vấn đề của đầu cơ bong bóng

Các nhà kinh tế học nhìn nhận bong bóng kinh tế như một hiện tượng gây tác động tiêu cực lên nền kinh tế, bởi vì các nguồn lực được phân bổ vào những mục đích không tối ưu Thêm vào đó, khi bong bóng nổ, nó có thể gây thiệt hại một khối lượng của cải khổng lồ đồng thời kèm theo một giai đoạn bất ổn kinh tế kéo dài Hậu quả của bong bóng kinh tế không chỉ tàn phá nền kinh tế của một quốc gia, mà ảnh hưởng của nó có khi còn lan ra ngoài biên giới

Một đặc trưng quan trọng của bong bóng kinh tế là ảnh hưởng của nó đến thói quen tiêu dùng Những người tham gia vào thị trường trong đó các tài sản được định giá quá cao có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, vì họ có cảm giác là họ giàu hơn Nhiều nhà quan sát lấy thị trường bất động sản ở Anh, Úc, Tây Ban Nha

và nhiều vùng của Mỹ trong thời gian gần đây làm ví dụ cho ảnh hưởng này Ngay

cả ở Việt Nam, cuối năm 2006, và đầu năm 2007, khi thị trường chứng khoán nóng lên, thị trường bất động sản đang đóng băng bỗng nhiên cũng ấm trở lại

Đến một lúc nào đấy, sớm muộn rồi bong bóng cũng vỡ, những người nắm giữ những tài sản bị định giá quá cao này lại bắt đầu có cảm giác nghèo đi, đồng thời từ bỏ thói quen tiêu dùng tùy tiện của mình, gây cản trở đến tăng trưởng kinh

tế, và tệ hơn, làm trầm trọng thêm suy thoái kinh tế Do đó, một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Ngân hàng Trung ương là phải để mắt đến sự tăng giá bất thường trên các thị trường, đặc biệt là thị trường chứng khoán, để nhanh chóng tiến hành những biện pháp ưu tiên nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ quá mạnh đối với các tài sản tài chính

Trang 26

Khi hiện tượng bong bóng kinh tế diễn ra trên thị trường bất động sản người

ta gọi là "bong bóng bất động sản" Thực ra rất khó phân biệt một bong bóng bất động sản với một thị trường theo chiều giá lên thông thường, người ta chỉ có thể làm được điều đó khi tất cả đã xảy ra rồi, nếu có sự "nổ bóng" thì đó mới đúng là bong bóng Điểm lại lịch sử kinh tế thế giới có thể kể ra rất nhiều bong bóng kinh điển như: Vụ đầu cơ hoa Tulip (1637); Vụ công ty South Sea Company (1720); Cuộc Đại Suy Thoái (1929-1933); Bong bóng kinh tế Nhật (thập niên 1980); Bong bóng dotcom (1995 - 2000); Bong bóng Poseidon (1970)

1.3 Những nguyên lý cơ bản của thuyết hành vi

Các mô hình được đề xuất bởi lý thuyết tài chính hành vi sẽ có thể đúng nếu trên thị trường tồn tại một trong ba điều kiện cơ bản sau Nếu cả ba đều tồn tại, lý thuyết tài chính hành vi dự báo rằng việc định giá sai không những là tồn tại, mà còn là rất đáng kể (lớn hoặc đến mức nghiêm trọng) và kéo dài Ba điều kiện đó bao gồm:

 Tồn tại hành vi không hợp lý

 Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống

 Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính

1.3.1 Hành vi không hợp lý

Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý

“đúng” những thông tin mà họ có hoặc do thị trường cung cấp, từ đó dẫn đến những

kỳ vọng lệch lạc về bất động sản trong tương lai mà họ sẽ đầu tư vào Ngoài ra, trong một số trường hợp, dựa trên kinh nghiệm hay nhận thức sẵn có, họ cũng mắc phải những “lệch lạc trong nhận thức” (cognitive biases) Những nghiên cứu về các hành vi không hợp lý tiêu biểu trong thị trường tài chính và bất động sản là sự kết hợp chủ yếu giữa trường phái tâm lý nhận thức (cognitive psychology) với trường phái tâm lý hành

vi (behavioral psychology) giúp đưa ra nhiều luận điểm giải thích hành vi bất hợp lý của con người trong xã hội nhất là trong thị trường đầu tư tài chính Nhận thức sai lệch sẽ dẫn đến hành vi sai lệch, nhưng hành vi sai lệch thì chưa chắc do nhận thức sai, mà có thể do tính chủ quan trong hành vi người thực hiện

 Tâm lý học hành vi: do John Broadus Watson (1878 – 1958) người Mỹ chủ trương không mô tả hay giảng giải về các trạng thái ý thức của con

Trang 27

người, mà chỉ cần nghiên cứu hành vi của họ là đủ Hành vi được quan niệm là tổng số các cử động bề ngoài được nảy sinh để đáp lại một kích thích hay mong muốn nào đó của con người

 Tâm lý học nhận thức: Đại diện sáng giá cho trường phái này là Jean Piaget (1896 - 1980) Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học nhận thức là hoạt động nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường, với

cơ thể và não bộ Trường phái này đã phát hiện được nhiều sự kiện khoa học có giá trị đạt tới một trình độ mới như tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ

Có rất nhiều các biểu hiện về hành vi sai lệch hay bất thường của con người giúp giải thích hành vi của các nhà đầu tư bất hợp lý thậm chí rất vô lý trên thị trường,

nhưng trong phần này chúng ta chỉ tập trung về một số các biểu hiện thường thấy nhất

1.3.1.1 Tính toán bất hợp lý

Tính toán bất hợp lý (metal account) Chúng ta có xu hướng tách riêng các quyết định mà đúng ra phải được kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng tượng của chúng ta (metal account) và tối đa hoá lợi ích từng tài khoản Và vì thế, đôi khi chúng ta đưa ra các quyết định nhìn tưởng là hợp lý, nhưng thật ra là sai lầm

Ví dụ, có người có xu hướng tách biệt ra hai ngân sách gia đình, một dành cho mua thức ăn trong gia đình, một dành cho đi ăn nhà hàng cuối tuần Và khi chi tiêu mua đồ ăn, người này thường không mua hải sản cao cấp vì nghĩ rằng nó mắc và chỉ

ăn thịt bình thường, nhưng khi vào ăn nhà hàng, người này lại gọi tôm hùm, thay vì

ăn một bữa thịt bình thường (đương nhiên rẻ hơn tôm hùm) Nếu thay vì như vậy, người này đi mua tôm hùm cho bữa ăn tại nhà, và chỉ ăn thịt bình thường trong nhà hàng, anh ta có thể tiết kiệm tiền Vấn đề nằm ở chỗ anh ta đã tách biệt ra hai tài khoản riêng cho thức ăn tại nhà và đi ăn cuối tuần!

Sự tính toán bất hợp lý (mental accounting) giúp giải thích được rất nhiều hiện tượng như hiện tượng lựa chọn ngược với sở thích (preference reversals), tâm lý sợ thua lỗ (loss aversion), hiệu ứng phân bổ tài sản Tính toán bất hợp lý còn thể hiện rất

rõ khi người ta có tâm lý không thực hiện những giao dịch bán các nhà khi mang lại lời nhỏ và càng không muốn bán khi thấy dấu hiệu lỗ lúc thị trường bất động sản trở nên tệ đi ngay trong thời gian đầu của chu kỳ suy thoái Hay có thể lý giải hiệu ứng

Trang 28

này bằng hiệu ứng tự lừa dối (sợ rằng nếu bán mà bị lỗ sẽ cảm thấy bản thân ra quyết định kém), và hiệu ứng tiếc nuối (lỡ bán rồi giá lên thì sao)

Hiệu ứng phân bổ tài khoản lý giải một phần vì sao trong thị trường bất động sản tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giá tại

Mỹ, Nhật và Việt Nam trong thời gian vừa qua

(Crane và Hartzell, 2008) đã xem xét góc độ liệu Quỹ tín thác đầu tư Bất động sản (REITs) có đối diện với vấn đề thiên lệch tương tự như các nhà đầu tư trong hai tài liệu khác Crane và Hartzell đã tìm thấy chứng cứ đáng lưu ý về hiệu ứng phân bổ tài sản (disposition effect) Ngoài ra họ cũng nhìn vào kích cỡ của các tài sản và quy mô các công ty Ở góc độ kích cỡ các tài sản, Crane và Hartzell kết luận rằng có hiệu ứng phân bổ tài khoản (disposition effect) rất mạnh cho những tài sản nhỏ Cùng một kết luận như vậy cho quy mô các công ty, đối với những công ty nhỏ sự thiên lệch này xảy

ra nhiều hơn

Tính toán bất hợp lý (metal accounting) có thể đưa đến kết quả là “tiền tốt được ném vào sau tiền xấu” bởi hoạt động liên tục của việc mạo hiểm đầu tư không lợi nhuận với hy vọng rằng việc phục hồi thị trường sẽ bằng một cách nào đó xảy ra trong tương lai Nó cũng giải thích định kiến mà có lợi ích cho các nhà đầu tư với sự không

tự kiểm soát hoàn hảo – một dạng hiện tượng được trình bày sau đây

1.3.1.2 Tự điều chỉnh hành vi

Sự tự điều chỉnh hành vi (self – control) nhằm giảm nhẹ hiệu ứng tính toán bất hợp lý và tâm lý chấp nhận rủi ro trong miền lỗ Chẳng hạn, bằng cách thiết lập các tài khoản riêng biệt và xem xét mức giới hạn chi tiêu (Thaler và Shefrin, 1981) (Glick, 1957) nói rằng sự miễn cưỡng (relunctance) thực hiện chấp nhận lỗ để tạo nên vấn đề tự kiểm soát , ông nhận định những nhà đầu tư chuyên nghiệp là những người

có xu hướng để các khoản lời của họ “đi tiếp” Tự kiểm soát các khoản lỗ là vấn đề quan trọng nhất Vấn đề của nhà đầu tư là thể hiện sự tự kiểm soát và đủ quyết định

để chấp nhận những thua lỗ trong các tài sản đã đầu tư của họ tại mức lỗ Như trường hợp người chủ nhà khi quyết định bán căn nhà của họ, họ không chắc rằng tính toán của mình có hợp lý hay không, nhưng họ biết sẽ cân nhắc và điều chỉnh lại tổng

số tiền họ được và mất

Tâm lý tự điều chỉnh hành vi cũng giải thích một phần hiện tượng các nhà đầu

tư bất động sản quyết định cắt lỗ những bất động sản đang xuống giá trong tình trạng

Trang 29

tình hình thị trường bất động sản đóng băng như hiện nay

1.3.1.3 Lý thuyết hối tiếc

Lý thuyết hối tiếc (Regret theory), có một xu hướng khiến con người cảm thấy hối tiếc khi vi phạm lỗi hoặc ra những quyết định sai lầm, thậm chí những lỗi nhỏ Đó làm một cảm giác hối hận về một quyết định đã gây ra những kết quả xấu Nếu một người không muốn phải hối hận thì anh ta phải thay đổi hành vi của mình theo cách

mà đôi khi trong vài trường hợp thì sẽ không hợp lý Thuyết hối tiếc có thể giải thích được sự thật rằng các nhà đầu tư trì hoãn bán những cổ phiếu đang giảm giá trong khi

đó lại tăng tốc việc bán những cổ phiếu lên giá (Shefrin và Statman, 1985) Lý thuyết này cũng lý giải rằng khi các nhà đầu tư muốn bán một trong số các tài sản về bất động sản mà họ đang đầu tư, thì họ có xu hướng lựa chọn tránh việc bán những tài sản bất động sản đang có xu hướng giảm giá để không bị mắc sai lầm và theo cách này

họ sẽ không cảm thấy hối tiếc Họ sẽ chọn bán các tài sản đang có lời hoặc đang lên giá để không cảm thấy hối tiếc nếu sau đó thị trường giảm giá đi xuống Hành vi này được dẫn chứng bằng cách sử dụng cái dữ liệu thương mại của Ferris, Haugen và Makhija (1988) và Odean (1996)

1.3.1.4 Tâm lý sợ mất mát

Tâm lý sợ mất mát (loss aversion) Theo Kahnemann và Tversky thì hàm giá trị thể hiện đường không cân xứng giữa giá trị mà người ta đặt cho phần nhận được và phần mất đi Những bằng chứng thực nghiệm của Kahneman và Tversky chỉ ra rằng giá trị mất đi 1$ thì “nặng” gấp 02 lần giá trị nhận được $1 Hay người ta sẽ buồn gấp đôi nếu mất đi 1$ so với việc nhận được 1$ lời Điều này cũng được diễn tả trong hiện tượng mà ở đó người ta có khuynh hướng đánh cược nhiều hơn khi lỗ, họ có khuynh hướng “nắm giữ cái lỗ” với hi vọng giá sẽ được hồi phục

Trong tâm lý sợ mất mát đó là tâm lý sợ mất mát thiện cận, (Samuelson, 1963) đã mô phỏng nó bằng một ví dụ khi ông làm một thí nghiệm nhỏ Ông đã yêu cầu đồng nghiệp của mình chơi một trò đặt cược nhỏ hoặc là anh ta nhận được 200$ với xác suất 0.5, hoặc là mất 100$ với xác suất 0.5 Kết quả là người đồng nghiệp này không tham gia ván này, nhưng anh ta lại cá một trăm lần Với 100 lần cá như vậy, tổng giá trị thắng kỳ vọng của anh ta là 5000$, và hầu như anh ta không có mất mát bất kỳ khoản tiền nào Hành động như vậy, được (Benartzi và Thaler, 1995) gọi là “tâm lý sợ mất

Trang 30

mát thiện cận” (myopic loss aversion) Đó là sự kết hợp giữa tính nhạy cảm đối với mất mát hơn là nhận được và khuynh hướng đánh giá thu nhập một cách thường xuyên Tâm lý của nhà đầu tư đôi khi được thể hiện trong tâm lý thiển cận, thiếu tầm nhìn, vì họ nhìn nhận sự việc từ một phía và bỏ qua điều gì có thể xảy ra, vì vậy nhà đầu tư chỉ lên kế hoạch cho một thời kỳ nắm giữ nào đó thôi (Bodie et all, 2000) Hai giả định của tâm lý sợ mất mát thiện cận (myopic loss aversion) được kiểm nghiệm Đầu tiên, nhà đầu tư thể hiện tâm lý sợ mất mát thiện cận bằng việc sẵn lòng chấp nhận rủi ro nếu họ đánh giá giá trị đầu tư của họ ít thường xuyên hơn Thứ hai, tất cả những thu nhập tăng lên đủ để hạn chế mất mát, nhà đầu tư sẽ chấp nhận rủi ro nhiều hơn Tâm lý sợ mất mát thiện cận cũng chỉ ra rằng mọi người có xu hướng nhạy cảm hơn với mất mát tài sản hơn giá trị tăng lên

(Genesove và Mayer, 2001) nghiên cứu thị trường bất động sản Boston Condominium trong giai đoạn 1990 - 1997 trong nghiên cứu này, họ đã tìm tra bằng chứng cho tâm lý sợ thua lỗ (loss aversion) giải thích hành vi của người bán Với hành vi của người bán họ đã chỉ ra quá trình định ra giá bán và quyết định bán căn hộ

của họ với một cái giá cụ thể Có ba kết luận chính của nghiên cứu này là: “chủ sở hữu

căn hộ chung cư đưa ra một mất mát danh nghĩa, và họ đặt ra giá bán cao hơn 30% giữa giá bán dự kiến của tài sản và giá gốc mua vào, đạt được giá bán cao hơn 3

25 18% của sự chênh lệch đó và đưa ra tỷ lệ mạo hiểm bán thấp hơn những người bán khác” (Genesove và Mayer, 2001) Tỷ lệ mạo hiểm này là cơ hội để bán tài sản đó

trong một thời gian nhất định, phát hiện của họ giúp giải thích tâm lý sợ thua lỗ (loss aversion) trong thị trường nhà ở cá nhân Ngoài ra kết luận của họ liên quan đến tâm lý

sợ thua lỗ (loss aversion) và thuyết kỳ vọng, Genesove và Mayer cũng tìm thấy bằng chứng có liên quan đến đặc điểm thị trường nhà ở Hai kết luận chính đối với thị trường nhà ở cá nhân là giá được xác định bởi các đặc điểm người bán cũng như các thuộc tính của tài sản đó, trong đó chỉ ra rằng thị trường còn xa với một thị trường tài sản hoàn hảo (Genesove và Mayer, 2001) Đặc điểm quan trọng thứ hai mà Genesove

và Mayer (2001) tìm thấy rằng khối lượng giao dịch sẽ giảm khi giá đang giảm

Bất động sản thương mại là loại thứ hai của bất động sản có liên quan đến học thuyết triển vọng và tâm lý sợ thua lỗ (loss aversion) Trong nghiên cứu của (Bokhari và Geltner, 2010), bất động sản thương mại liên kết với tâm lý sợ thua lỗ (loss aversion)

và cái neo (anchoring) Cái neo (anchoring) là một tiến trình đưa ra giá bán cho một

Trang 31

người mua tiềm năng để đo lường giá trị của một tài sản Do việc tham chiếu vào cái neo (anchoring) này mà có sự thiên lệch đến sự kỳ vọng vào giá trị đó (Bokhari, Geltner 2010), kết quả là giá đưa ra không ngang bằng với giá cả thị trường Bokhari

và Geltner tìm ra bằng chứng cho hiện tượng này Theo những chứng cứ của họ, cái neo (anchoring) đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định giá của bất động sản thương mại Các bằng chứng liên quan đến tâm lý sợ thua lỗ (loss aversion) trong tài liệu của Bokhari và Geltner rất phù hợp với bằng chứng trong tài liệu của Genesove

và Mayer (2001) “ Tâm lý sợ thua lỗ (loss aversion) có tầm quan trọng và tác động tương đồng trong thị trường nhà ở cá nhân” (Bokhari, Geltner, 2010) Ngoài những phát hiện này, Bokhari và Geltner cũng kết luận rằng các nhà đầu tư có lớn và có kinh nghiệm chịu tâm lý sợ thua lỗ (loss aversion) lớn hơn các nhà đầu tư cá nhân nhỏ

1.3.1.5 Định nghĩa hẹp

Định nghĩa hẹp (Narrow Framing) là cô lập một khái niệm hay phân tích một vấn đề trong một khuôn khổ hạn hẹp, tách biệt, và cố gắng đưa ra quyết định tối ưu cho khuôn khổ hạn hẹp ấy, thay vì cho toàn cục Tuy nhiên, nó cũng có thể đưa đến sai lầm Định nghĩa hẹp và các tính toán bất hợp lý là những hiệu ứng trong tâm lý hành

vi, thuộc trường phái tâm lý học nhận thức Sử dụng tính toán bất hợp lý và định nghĩa hẹp, chúng ta có thể giải thích nhiều hiện tượng như lựa chọn nghịch với sở thích (preference reversals), sợ thua lỗ (loss aversion), và hiệu ứng phân bổ tài khoản khá phổ biến Phương pháp này có thể hữu ích trong một số trường hợp giới hạn về nguồn lực, hay không đủ thời gian phân tích nhiều

1.3.1.6 Mâu thuẫn về nhận thức

Mâu thuẫn về nhận thức chỉ phát sinh khi thua lỗ Bởi vì con người thường khó chấp nhận mình bị lỗ, còn khi lời thì họ thích nói nhiều về điều đó hơn Họ không chấp nhận sai lầm mà thường tìm lý lẽ để biện hộ và níu kéo hy vọng

Do đó, khi nhà đầu tư thua lỗ, thay vì họ thừa nhận “tôi đầu tư bị lỗ” thì họ lại nghĩ “việc đầu tư của tôi sẽ tốt trở lại” Lý thuyết này giải thích nguyên nhân các nhà đầu tư càng lún sâu vào các khoản đầu tư lỗ, thay vì thừa nhận và đầu tư vào những bất động sản mới Nó thể hiện rằng chúng ta sẽ lo sợ thua lỗ 10 triệu hơn là vui mừng khi lời 10 triệu Và khi lỗ 50% thì sẽ không bán, còn lãi chừng 5% thì sẽ rất dễ bán dù chỉ

có kích thích nhỏ

Trang 32

1.3.1.7 Dựa vào kinh nghiệm

Heuristics có thể được định nghĩa như là “sử dụng kinh nghiệm và nỗ lực thực

tế để đưa ra quyết định” bởi vì sự thật rằng ngày càng có nhiều thông tin đang lan truyền rất nhanh, những người ra quyết định dựa vào thị trường tài chính thì nhận được thông tin ngày càng phức tạp Điều này ngụ ý việc sử dụng Heuristics thường là một quá trình không thể tránh khỏi nhưng luôn luôn hiệu quả Heuristics có lẽ giúp giải thích tại sao thị trường thỉnh thoảng hành xử trong cách vô ý thức, mà đối lập với mô hình lý thuyết thị trường hiệu quả Heuristics giúp các nhà đầu tư trong quá trình ra quyết định của họ

Heuristics là một nguyên tắc ngắn gọn của “quy tắt ngón tay” cái giúp các nhà đầu tư trong tiến trình ra quyết định của họ (Stracca, 2004) Một Heuristics khá nổi tiếng là 1/n do (Bernartzi and Thaler, 2001) tìm ra như sau: ví dụ khi đối mặt với N lựa chọn làm thế nào để đầu tư số tiền tiết kiệm của mình, nhiều người đã nhanh chóng sử dụng quy tắc 1/N, có nghĩa là nếu có N loại hình đầu tư, họ sẽ đầu tư 1/N số tiền của mình vào mỗi loại hình đầu tư đó hay nói cách khác, trong danh mục tài sản đầu tư của các nhà đầu tư, họ sẽ chia đều số tiền này

1.3.1.8 Quá tự tin/ phản ứng quá mức

Quá tự tin (Over confidence), phản ứng quá mức (under reaction), Các nhà nghiên cứu về tâm lý đã tiến hành một số thí nghiệm để kiểm chứng giả thuyết là con người thường có xu hướng tin tưởng chắc chắn vào khả năng của mình cũng như có thái độ rất lạc quan vào viễn cảnh tương lai

Tại một số trường đại học, những người tham gia vào nghiên cứu được hỏi về trình độ lái xe của họ so với mọi người khác trong nhóm, hoặc so với tất cả những ai lái xe, thì có trên 80% được hỏi khẳng định họ lái xe giỏi và an toàn hơn những những người khác Tại một nghiên cứu khác mà đối tượng cũng là sinh viên, khi được hỏi về việc dự đoán tương lai và viễn cảnh của bản thân mình cũng như của các bạn đồng môn, phần lớn sinh viên rất lạc quan khi nói về tương lai của chính họ với những tưởng tượng về sự phát triển trong sự nghiệp, hạnh phúc trong hôn nhân và khỏe mạnh Tuy nhiên, khi được hỏi họ sẽ phỏng đoán về tương lai của các bạn học như thế nào, họ lại tin rằng các bạn của mình có nhiều khả năng trở thành những kẻ thất bại, nghiện ngập, ốm yếu, ly dị

Có những nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi các tác giả khác trong hoàn

Trang 33

cảnh và thời điểm khác nhau Kết quả đều chỉ ra rằng, con người hầu như đều có xu hướng tự tin hay thổi phồng quá mức về năng lực của mình

GS Daniel Kahneman - người đã nhận giải Nobel kinh tế học 2002 cho công trình nghiên cứu kết hợp cùng GS Amos Tversky về “thuyết triển vọng”- cũng đã lập luận trong nghiên cứu của mình rằng xu hướng quá tự tin đặc biệt rất phổ biến trong giới đầu tư Họ thường có xu hướng thổi phồng kỹ năng của chính mình và chối bỏ vai trò của sự may rủi Trong một thí nghiệm của mình để đánh giá khả năng phán đoán xác suất của một nhà đầu tư, GS Kahneman đã rút ra kết luận: “Nếu một nhà đầu tư nói rằng anh ta chắc chắn quyết định đầu tư của mình đúng đến 99% thì thật ra họ chỉ chắc chắn có 80% mà thôi” Đây chính là kết quả mà những chuyên gia về tài chính hành vi muốn nhấn mạnh về thái độ quá tự tin của nhà đầu tư

Sự kết hợp của quá tự tin (over confidence) và phản ứng quá mức (over reaction) gây cho con người có tâm lý thái quá trong cảm nhận mức độ tin cậy về kiến thức của họ, họ đánh giá quá thấp rủi ro và đánh giá quá cao khả năng điều chỉnh những sự kiện, mà dẫn tới khối lượng giao dịch lớn và gây ra đầu cơ bong bóng Sự cả tin thái quá mà một người có càng lớn, rủi ro càng cao

(De Bondt and Thaler, 1985) chỉ ra rằng người ta có xu hướng phản ứng thái quá đối với những sự kiện tin tức gây xúc động và không mong đợi Những kết quả phản ứng thực tế gần đây cho thấy hiện tượng quá tự tin và phàn ứng thái quá đối với thị trường căn hộ trên thị trường bất động sản trên cả nước vào đẩu những năm 2007 cho đến giữa năm 2008 đã tạo nên hiệu ứng làn sóng tranh mua bất kể dự án nào thuộc các khu vực Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội Tiếp theo sau đó, thời điểm thị trường bất động sản đi xuống thì tâm lý bi quan (under reaction) đã làm cho thị trường gần như đóng băng như thời điểm 2010 – 2013 cho dù các dự án căn hộ chung cư đã giảm xuống giá sàn, thậm chí có những chủ đầu tư như Hoàng Anh Gia Lai tuyên bố giảm 50% giá trị các căn hộ, nhưng cũng không kích thích được nhu cầu của thị trường

(Barber và Odean, 2001) gần đây đã nghiên cứu về hiện tượng quá tự tin và tìm thấy bằng chứng cho sự hiện diện của hành vi thiên vị này này Người quá tự đánh giá quá cao khả năng của riêng mình (Barber và Odean, 2001) còn tìm thấy rằng đặc biệt

là nam giới và các doanh nghiệp có xu hướng đánh giá quá khả năng của mình Một ví

dụ về hành vi quá tự tin là mọi người không đa dạng hóa đủ danh mục đầu tư của mình Các nhà đầu tư chỉ thích đầu tư vào tài sản bất động sản hoặc chứng khoán mà

Trang 34

họ đã quen thuộc nhất Họ sẽ đầu tư vào các công ty mà họ biết là sự lựa chọn hàng đầu trong việc đầu tư của họ Các nhà đầu tư quá tập trung với các biến động thị trường địa phương mà họ nắm rõ

1.3.1.9 Lệch lạc do tình huống điểm hình

Lệch lạc do tình huống điển hình (Representativeness), thường được diễn tả một cách đơn giản là xu hướng không quan tâm nhiều đến những nhân tố dài hạn, mà thường chỉ đặt nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình ngắn hạn đã xãy ra trong quá khứ

(Tversky và Kahneman, 1974) đưa ra một định nghĩa hàn lâm hơn cho tình huống này là người ta đánh giá xác suất xảy ra của những sự kiện trong tương lai dựa vào mức độ “tương tự” với một tình huống điển hình nào đó đã xảy ra Điểm quan trọng là người ta thường chỉ quan tâm đến một tình huống điển hình của một giai đoạn ngắn thay vì quan tâm đến một mẫu hình điển hình trong một giai đoạn dài (điều này gọi là luật số quan sát nhỏ, “law of small numbers”), nghĩa là họ quy kết những mẫu hình hay những sự kiện rất hiếm khi xảy ra (luật quan sát số nhỏ) thành những mẫu hình chuẩn cho tất cả (luật quan sát số lớn) và lấy đó làm cơ sở cho họ đưa ra quyết định Hay nói cách khác họ đang nhầm lẫn áp dụng c ho “luật quan sát số nhỏ” vào trường hợp phải áp dụng “luật quan sát số lớn” Nếu sai lầm này diễn ra trong các nhà đầu tư nhỏ lẻ và tần suất thấp thì sẽ không là vấn đề gì, nhưng nều nó lặp đi lặp lại với tần xuất nhiều hơn, mạnh mẽ hơn thì sẽ thành một con số khủng khiếp, ảnh hướng rất lớn đến thị trường

Chẳng hạn cho rằng điều kiện thị trường bất động sản lại "nóng" lên và tạo nên cơn "sốt đất" lần thứ ba từ đầu năm 2007 tới giữa năm 2008, giá đất trên thị trường tăng lên từ ba tới bốn lần tùy từng địa điểm, từng địa phương Cơn "sốt đất" lần này thì các nhà đầu tư đương nhiên sẽ cho rằng xác suất giá bất động sản còn lên nữa là cao hơn xác xuất giá bất động sản sẽ giảm Nhưng nếu nhìn cho c ả một giai đoạn 1991-2012, người ta sẽ thấy thị trường lúc lên, lúc xuống, không phải lên mãi không ngừng, thì sẽ có đánh giá khác về xác suất tăng hoặc giảm

Tâm lý bảo thủ (convervatism) ám chỉ một hiện tượng tâm lý mà ở đó người ta ngờ vực bất kỳ thông tin mới và đưa ra quá nhiều đối trọng đến khả năng xảy ra trước

Trang 35

có của các sự kiện trong một tình huống đã xảy ra trước đó hoặc đã định sẵn mẫu hình (Edward, 1968) kết luận rằng “người ta lấy ở đâu đó từ hai đến năm quan sát để làm một quan sát có giá trị làm thay đổi ý kiến của anh ta” Theo đó, người ta sẽ chậm thay đổi ý kiến của mình hơn Vì thế, người ta sẽ mất nhiều thời gian hơn trước khi kết luận về khuynh hướng xảy ra tiếp theo

Tâm lý bảo thủ giống như một “rào cản vô hình”, ngăn người ta thay đổi quan điểm/ý kiến của mình trước những cái mới Tâm lý bảo thủ thường đi kèm với phản ứng thái quá hay hời hợt là một trong những nguyên nhân gây ra một xu hướng, động lực và cục bộ nào đó Khi điều kiện thay đổi (thông tin mới về triển vọng nền kinh tế chẳng hạn) người ta thường có xu hướng chậm phản ứng với những thay đổi đó, và gắn nhận định của mình với một tình huống chung trong một giai đoạn dài hơi trước đó Chẳng hạn như khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng kinh tế kém đi chỉ là tạm thời, dài hạn vẫn là đi lên, mà không nhận thấy có

thể tin đó phát đi tín hiệu một chu kỳ suy thoái nhiều năm đã bắt đầu

Hiệu ứng điểm tham khảo (Anchoring), đó là quá trình ra quyết định mà những định lượng được yêu cầu và là nơi mà những định lượng này bị ảnh hưởng bởi các lời khuyên Trong tâm trí mỗi người, đề có vài điểm tham chiếu (điểm neo), ví dụ giá trị chuyển nhượng các giao dịch nhà đất trước đây Khi có được các thông tin mới họ sẽ điều chỉnh căn cứ vào điểm tham chiếu cũ này một cách bị động đến nơi mà thông tin mới yêu cầu Khi thiếu các thông tin về giá tài sản và các thông tin có liên qua, thì giá giao dịch của các tài sản mang tính chất tương tự trong quá khứ có lẽ là yếu tố quyết định quan trọng để hình thành nên giá tài sản tại thời điểm hôm nay Vì thế, điểm thao khảo là giá được ghi nhớ gần đây nhất

Xu hướng của nhà đầu tư là sử dụng điểm thao khảo này để làm cơ sở cho các giao dịch bất động sản mang tính tương đồng ở các giao dịch kế tiếp Loại bắt chước này có lẽ giải thích tại sao giá bất động sản có sự thay đổi cùng chiều, và tại sao giá cả lại dao động như thế ? Hiệu ứng này thường xuyên xảy ra trong lĩnh vực đầu

tư bất động sản, thông thường các nhà đầu tư quyết định đầu tư vào một loại hình bất động sản nào đó họ sẽ thực hiện tiến trình tìm hiểu thông tin về bất động sản: tính pháp lý, đặc điểm bất động sản, đặc tính bất động sản và cuối cùng là tham chiếu giá của các bất động sản có tính tương đồng với bất động sản sẽ dự định đầu

Trang 36

Thuật ngữ Anchoring xuất hiện liên quan tới “giá kết dính” mà thường được nói tới bởi các nhà kinh tế vĩ mô Ngay khi giá quá khứ được sử dụng như là đề nghị tham khảo cho giá hiện tại, giá mới sẽ có xu hướng gần với giá quá khứ Giá trị của hàng hóa càng không rõ ràng, công cụ tham khảo sẽ càng quan trọng Sự tham khảo sẽ là công cụ quyết định giá quan trọng (Shiller,1998)

1.3.2 Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống

Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng của giao dịch của nhà đầu tư này lên trên thị trường là không đáng kể (cho dù là tổ chức đầu tư lớn thì ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc một mình) Chỉ khi hành vi không hợp lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu

tư có cùng một hành vi không hợp lý như nhau) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và có thể bắt đầu kéo dài

Một nghiên cứu của Rober Shiller về hành vi có tính đầu cơ và xã hội học Ông nhấn mạnh rằng: “Đầu tư vào các tài sản mang tính đầu cơ là một hoạt động xã hội Các nhà đầu tư dành một phần đáng kể thời gian rảnh của họ để bàn luận về đầu

tư, đọc sách về đầu tư hay bàn tán về những thành công hay thất bại của người khác trong đầu tư Vì thế, có thể nói những quyết định của nhà đầu tư (bao gồm cả giá của tài sản đầu cơ) sẽ bị ảnh hưởng bởi trào lưu xã hội Thái độ hay phong cách dường như sẽ thay đổi theo nhiều chủ để phổ biến khác nhau: chẳng hạn như chủ đề về thực phẩm, quần áo, y tế hay chính trị Những thay đổi trong thái độ thường xảy ra rộng rãi hơn và thường xuất hiện mà không có bất kỳ lý do hợp lý rõ ràng nào Thái độ hay phong cách liên quan đến đầu tư cũng sẽ thay đổi một cách tự nhiên hoặc theo phản ứng xã hội với một số sự kiện được ghi nhận rộng rãi”

Người ta nói chung khá tin bạn bè, mối quan hệ đồng nghiệp hơn là thông tin đại chúng Những phương tiện truyền thông như tivi, radio,… có khả năng lan truyền thông tin nhanh nhưng nó vẫn chưa có khả năng chúng tạo ra hành vi chủ động vẫn còn hạn chế Giao tiếp giữa các cá nhân với nhau là một trong những giao tiếp xã hội nhất mà con người có thể Trong số những người được hỏi điều gì cuốn hút họ đầu tiên khi đầu tư vào một công ty, thì chỉ có 6% trả lời là báo chí và thời gian (Shiller

Trang 37

và Pound, 1986) Thậm chí nếu một người đọc rất nhiều, thì sự quan tâm và hành động của họ xuất hiện tương đồng với giao tiếp mang tính cá nhân

Rủi ro mang tính hệ thống này hàm ý có sự tồn tại của hiệu ứng bầy đàn

Tuy nhiên hành vi bầy đàn, khác với các loại thuật toán hay sự trải nghiệm khác ở chỗ

nó dẫn dắt người ta lạc hướng khi họ theo khuynh hướng chung của thị trường Tức là hành động theo đám đông, khi đó các nhà đầu tư không thật sự “độc lập” nữa

Hành vi bầy đàn là thuật ngữ dùng để chỉ sự điều chỉnh tương thích với một

phương thức thực hiện và được thể hiện như là “một sự tương đồng trong hành vi theo

sau các quan sát tương tác” về hành động và kết quả phát sinh từ những hành động

này giữa các cá nhân (Hirshleifer và Teoh, 2003)

Đó là hành vi mà các cá nhân thiết lập dựa trên việc quan sát hành động của

những người khác, hay nói cách khác đó là hành động bắt chước nhau “Hành vi bầy

đàn – mọi người hành động theo những gì mà những người khác đang làm, thậm chí ngay cả khi thông tin riêng của họ cho thấy nên hành động một cách khác đi”

(Banerjee (1992)

Tâm lý bầy đàn thể hiện ở cả nhà đầu tư nhỏ lẻ và cả các nhà đầu tư tổ chức Đối với nhà đầu tư nhỏ lẻ, vì những giới hạn trong việc sở hữu thông tin cũng như những trường hợp xem xét như được đề cập ở trên, những người này dễ dàng bị cuốn vào các “trò chơi tạo ra xu thế” hay nói một cách đơn giản là các trò “làm giá” của các

tổ chức Đồng thời, những tin đồn, các thông tin ngoài luồng với chất lượng thấp đôi khi cũng “được” các nhà đầu tư nhỏ lẻ “tận dụng một cách triệt để” và kết cục là tạo ra một đám đông hành động giống nhau theo một cách bất hợp lý Còn đối với các nhà đầu tư tổ chức, tâm lý bầy đàn được tạo ra từ những người quản lý, ban điều hành các

tổ chức này Những người quản lý các tổ chức, các định chế tham gia thị trường không phải với mục tiêu đưa thị trường về trạng thái hợp lý, hiệu quả thông qua kinh doanh chênh lệch giá Mà những người này tham gia thị trường cũng chỉ vì mục đích kiếm tiền và bảo vệ cho sự an toàn trong nghề nghiệp của chính họ Vì thành quả hoạt động của họ bị đánh giá (Sharfstein và Stein, 1990) trên cơ sở so sánh với thành quả hoạt động của những người có vị trí tương tự và vì trình độ cũng như uy tín nghề nghiệp của họ là không đồng đều, cho nên không khó để thấy rằng những nhà quản lý với trình độ/uy tín kém hơn có xu hướng “bắt chước” những hành động của những người

có trình độ/uy tín cao hơn, vì điều này sẽ cải thiện hình ảnh nghề nghiệp của họ

Trang 38

(Scharfstein và Stein, 1990; Trueman, 1994) Tuy nhiên, đến lượt những chuyên gia được cho là có trình độ/ uy tín cao cũng có thể sẽ chọn cách hành động theo đám đông, mặc dù họ biết rằng đó không phải là hành động, quyết định tới ưu, nếu như họ nhận thấy rằng rủi ro từ sự thất bại tiềm tàng là lớn hơn so với những ích lợi có thể đạt được nếu thực hiện hành động riêng lẻ (Graham, 1999)

1.3.2.2 Phân loại hành vi bầy đàn

- Hành vi “gượng ép” (enforced herd behavior hay not voluntarily) Chẳng hạn,

mọi người cảm thấy không thể thắng được đám đông, nên để tránh bị dậm chân mà họ gượng ép theo đám đông

- Hành vi “tự nguyện” (voluntary): Thể hiện ở những người khôn ngoan nhất,

họ tham gia vào hành vi bầy đàn chủ yếu với mục đích đầu cơ mang tính cá nhân mang tính lợi dụng, khi họ đưa vào “tài khoản ảo” trong đầu mình quan điểm/đánh giá của người khác, và thậm trí họ biết việc hành xử trong bầy đàn

là sai hay không có cơ sở

Hành vi bất hợp lý, dù là hành vi cá nhân hay hành vi của nhóm, đều gây ra sự xáo trộn trong thị trường, người ta gọi hiện tượng này là những “kẻ náo loạn thị

trường” hay “những người giao dịch nhiễu” (noise traders) Một nhà đầu tư thiếu

thông tin nội bộ, họ thường hành động một cách thiếu lý lẽ dựa trên lời đồn như thể

họ đang nắm bắt thông tin đó

Theo nghiên cứu của (Bikhchandani & Sharma, 2000) thì đề cập đến 3 dạng chính:

- Tâm lý bầy đàn theo thông tin

Nhà đầu tư có thể theo dõi hành động của các Nhà đầu tư khác nhưng không thể biết rằng họ có nắm giữ thông tin bí mật gì không Ngay cả khi những cá nhân có trao đổi với nhau thì vẫn có những hoài nghi, và họ giám sát hành động thay vì chỉ bằng lời nói Bằng cách giám sát, họ sẽ suy tính và đưa ra quyết định riêng của mình Thật ra bầy đàn theo thông tin vì người ta tin rằng có thể một người nào đó biết được những thông tin mà mình không biết, và họ nghĩ thông tin này có thể là đúng, có thể là những thông tin mật

bị tiết lộ, vì thế mà họ hành động theo

- Tâm lý bầy đàn theo danh tiếng

Trang 39

Một giả thuyết khác là hành vi bầy đàn theo danh tiếng của những nhà quản lý quỹ đầu tư và các chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư bất động sản Họ được thuê mướn để đưa ra những báo cáo, nhận định, dự đoán thị trường, hay giá cả Nếu dự đoán của họ khác xa so với những dự báo từ các chuyên gia hay nhà phân tích khác, và đặc biệt khi

dự đoán của họ lại không chính xác thì danh tiếng của họ sẽ bị tổn hại, họ sẽ không được thăng tiến hoặc thậm chí bị sa thải Do vậy, những nhà quản lý quỹ đầu tư hay các nhà phân tích (đặc biệt là những người ít kinh nghiệm) sẽ bắt chước theo những dự báo của những người khác Điều này tạo ra tâm lý bầy đàn theo danh tiếng

- Tâm lý bầy đàn theo thù lao

Nếu mức thù lao của một nhà quản lý đầu tư phụ thuộc vào tỉ suất lợi nhuận của danh mục đầu tư so với tỉ suất sinh lợi tham chiếu (benchmark) Benchmark có thể là một chỉ số hoặc tỉ suất sinh lợi của những nhà quản lý khác Khi đó nhà quản lý có thể có xu hướng lựa chọn những khoản đầu tư không hiệu quả vì nhà quản lý có thể sẽ quan sát những người khác hay benchmark để bắt chước cho theo kịp, và điều này cũng có thể dẫn tới hành vi bầy đàn Nếu thù lao của Nhà đầu tư giảm khi tỉ suất lợi nhuận nhỏ hơn benchmark thì càng có động lực để nhà quản lý bắt chước theo những người khác

Nhìn chung, việc phân loại các dạng tâm lý bầy đàn như trên chỉ mang tính tham khảo, chứ chưa có một chuẩn mực được chấp nhận chung nào về vấn đề này Tuy nhiên,

có một điểm cần đặc biệt chú ý là cần nhận thức rõ rằng tâm lý bầy đàn thường được đề cập trong các nghiên cứu, phân tích là tâm lý bầy đàn có chủ ý (intentional herding), khác với tâm lý bầy đàn giả (spurious herding) tạo ra khi các nhóm nhà đầu tư đưa ra các quyết định tương tự nhau dựa trên các phân tích độc lập từ các tập hợp thông tin tương tự nhau

Tâm lý bầy đàn dĩ nhiên không phải là “đặc sản” của riêng thị trường bất động sản hay thị trường chứng khoán Việt Nam Mà tồn tại ngay cả những nước phát triển, cũng

có những giai đoạn tương tự Vấn đề là dường như tâm lý bầy đàn hiện vẫn chi phối quá nhiều đến hành vi của đa số các nhà đầu tư cá nhân Tâm lý bầy đàn xuất hiện ở hầu hết các thị trường mới nổi thậm chí ngay cả ở các thị trường phát triển thì vẫn có những giai đoạn tồn tại tâm lý này Và trong rất nhiều nguyên nhân được đề cập đến trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, thì tâm lý bầy đàn cũng là một nguyên nhân đáng kể

Trang 40

1.3.2.3 Các nguyên nhân tạo nên hiệu ứng bầy đàn

Thứ nhất, đó là áp lực tuân theo xã hội Hầu hết mọi người đều muốn hòa

đồng và được chấp nhận bởi xã hội thay vì bị ruồng bỏ, do đó họ thường cư xử theo hành vi của đám đông Khi áp lực lớn tới mức buộc phải tuân theo thì một người thay đổi quan điểm riêng không phải chỉ vì anh ta thực sự tin vào quan điểm đám đông mà chỉ là việc thay đổi quan điểm riêng dễ hơn việc thoát

ra khỏi xã hội

Thứ hai, đó là trí tuệ đám đông Ngay cả khi bạn tin rằng hành động của đám

đông là sai, bạn vẫn thực hiện theo họ bởi tin rằng họ có thông tin gì mà bạn chưa biết Khi người ta bị đương đầu với những đánh giá của một nhóm lớn,

họ có khuynh hướng thay đổi những câu trả lời “sai” của họ Họ nghĩ đơn giản rằng tất cả những người khác không thể sai hay “đám đông luôn đúng”

Thứ ba, đó là áp lực từ chính nhà đầu tư Họ hoài nghi về khả năng của mình

và có phần quá tin vào khả năng của đám đông Mâu thuẫn trong lựa chọn của

họ nên theo đám đông hay tách lập với đám đông, kết quả là họ thiên về đám đông Họ bán theo tâm lý bầy đàn bởi họ được an ủi rằng nếu mình mất tiền thì những người khác cũng sẽ mất

Nguồn gốc của hành vi bầy đàn có thể do các nhân tố tâm lý và cũng có thể đó là hành vi bầy đàn dựa trên sự suy tính hợp lý, khôn ngoan Ở góc độ tâm lý, hành vi bầy đàn được cho là phát sinh từ chính bản chất con người, theo đó con người có xu hướng hướng đến sự tuân theo (Hirshleifer, 2001) qua quá trình trao đổi thông tin gữa các cá nhân Sự trao đổi thông tin này có thể là bằng cách nói chuyện trực tiếp giữa các cá nhân (Shiller, 1995) hay một sự hiểu ngầm khi các cá nhân quan sát sự lựa chọn của những người khác (Bihkchandani và đồng sự, 1992) Ngoài ra, còn có các nhân tố hành vi khác tác động đến cách hành xử của nhà đầu tư như: sự phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán máy móc, lệch lạc nhận thức do tình huống điển hình, tự tin thái quá, tính toán bất hợp lý, bảo thủ, theo khuôn mẫu Khi tâm lý con người mắc phải những hiện tượng tâm lý trên thì họ có khuynh hướng thờ ơ, hoặc phản ứng chậm, phản ứng với mức độ yếu, không phù hợp hoặc phản ứng quá mức trước những thông tin được công bố Tất cả những yếu tố này đều tác động đến quyết định của con người, và đặc biệt trong những hoàn cảnh mà có rất ít thời gian để suy nghĩ đưa ra quyết định, hành

Ngày đăng: 05/03/2015, 14:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Thị Xuân Bình (2010), “Nghiên cứu lý thuyết hành vi trong việc ra quyết định đầu tư tài chính”, Tạp chí Ngân hàng, (10/2010), tr. 15-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lý thuyết hành vi trong việc ra quyết định đầu tư tài chính”, "Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Ngô Thị Xuân Bình
Năm: 2010
2. Nguyễn Thị Cành (2004), Phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học kinh tế, nhà xuất bản đại học Quốc gia, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thị Cành
Nhà XB: nhà xuất bản đại học Quốc gia
Năm: 2004
3. Lê Đạt Chí (2007), „Tài chính hành vi và những bất thường của thị trường chứng khoán VN”, Tạp chí Phát triển kinh tế, (201), tr. 6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Lê Đạt Chí
Năm: 2007
4. H. Kent Baker and John R. Nofsinger, sách dịch GS.Ts Phan Thị Bích Nguyệt, (2012). Tài chính hành vi, nhà xuất bản Kinh tế, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính hành vi
Tác giả: H. Kent Baker and John R. Nofsinger, sách dịch GS.Ts Phan Thị Bích Nguyệt
Nhà XB: nhà xuất bản Kinh tế
Năm: 2012
5. H. Kent Baker and John R. Nofsinger, sách dịch GS.Ts Phan Thị Bích Nguyệt, (2012); Tài chính hành vi, Nhà đầu tư, doanh nghiệp và Thị trường, nhà xuất bản Kinh tế, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính hành vi, Nhà đầu tư, doanh nghiệp và Thị trường
Nhà XB: nhà xuất bản Kinh tế
6. Vũ Đình Kết (2011), Ưng dụng những lý thuyết Tài chính hành vi để lý giải cho những bất thường trên thị trường chứng khoán Việt Nam, luận văn thạc sỹ kinh tế, đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ưng dụng những lý thuyết Tài chính hành vi để lý giải cho những bất thường trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Kết
Năm: 2011
7. Trần Thị Hải Lý (2010), “Hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nguyên nhân và một số giải pháp”, Tạp chí Phát triển và hội nhập, (6/2010), tr.18-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nguyên nhân và một số giải pháp”, "Tạp chí Phát triển và hội nhập
Tác giả: Trần Thị Hải Lý
Năm: 2010
8. Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, nhà xuất bản Thống kê, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2005
9. Trần Ngọc Thơ (2004), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, nhà xuất bản Thống Kê tái bản lần 2, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Tác giả: Trần Ngọc Thơ
Nhà XB: nhà xuất bản Thống Kê tái bản lần 2
Năm: 2004
10. Hồ Quốc Tuấn (2007), “Tài chính hành vi, Nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào tài chính”, Tạp chí Phát triển kinh tế, (7/2007), tr. 10-13. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính hành vi, Nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào tài chính”, "Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Hồ Quốc Tuấn
Năm: 2007
11. Altman, Edward I. (1968), "Financial Ratios, Discriminant Analysis and the Prediction of Corporate Bankruptcy", Journal of Finance, pp. 189–209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Ratios, Discriminant Analysis and the Prediction of Corporate Bankruptcy
Tác giả: Altman, Edward I
Năm: 1968
12. Anil K. Makhija, Stephen P. Ferris, Robbert A. Haugen (1988), “Predicting Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predicting
Tác giả: Anil K. Makhija, Stephen P. Ferris, Robbert A. Haugen
Năm: 1988
13. Alan D. Crane & Jay C. Hartzell (2008), “Is There a Disposition Effect in Corporate Investment Decisions? Evidence from Real Estate Investment Trusts”, McCombs School of Business The University of Texas at Austin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is There a Disposition Effect in Corporate Investment Decisions? Evidence from Real Estate Investment Trusts
Tác giả: Alan D. Crane & Jay C. Hartzell
Năm: 2008
14. Adam J. Levitin & Susan M. Wachter (2009), “Explaining the Housing Bubble”, The Georgetown Law Journal, (Vol. 100:1177), pp. 1179-1252 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Explaining the Housing Bubble
Tác giả: Adam J. Levitin, Susan M. Wachter
Nhà XB: The Georgetown Law Journal
Năm: 2009
15. Andrei Shleifer and Robert W. Vishny (1997), "The Limits of Arbitrage", Journal of Finance, 52(1), pp. 35-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Limits of Arbitrage
Tác giả: Andrei Shleifer and Robert W. Vishny
Năm: 1997
16. Banerjee, Abhijit V (1992), "A Simple Model of Herd Behavior", Quarterly Journal of Economics, 107 (3), pp. 797–817 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Simple Model of Herd Behavior
Tác giả: Banerjee, Abhijit V
Năm: 1992
17. Barber, B. and Odean, T. (2001), “Boys will be boys: gender, overconfidence, and common stock investment”. Quarterly Journal of Economics 116,pp. 261–29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Boys will be boys: gender, overconfidence, and common stock investment”." Quarterly Journal of Economics 116
Tác giả: Barber, B. and Odean, T
Năm: 2001
18. Barberis, N., and A. Shleifer (2003), “Style investing”, Journal of Financial Economics 68,pp.161−199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Style investing”, "Journal of Financial Economics 68
Tác giả: Barberis, N., and A. Shleifer
Năm: 2003
19. Black, F. and Scholes, M. (1973), “Pricing of options and corporate liabilities”, Journal of Political Economy, 81, pp.637–54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pricing of options and corporate liabilities”, "Journal of Political Economy
Tác giả: Black, F. and Scholes, M
Năm: 1973
20. Bokhari, Sheharyar and David Geltner (2010). “Estimating Real Estate Price Movements for High Frequency Tradable Indexes in a Scarce Data Environment.” The Journal of Real Estate Finance and Economics, PP. 1-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimating Real Estate Price Movements for High Frequency Tradable Indexes in a Scarce Data Environment.”" The Journal of Real Estate Finance and Economics
Tác giả: Bokhari, Sheharyar and David Geltner
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Diễn biến thị trường bất động sản Việt Nam 1991 – 2012 - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.1 Diễn biến thị trường bất động sản Việt Nam 1991 – 2012 (Trang 52)
Hình 2.2 Nguồn vốn FDI đầu tƣ vào bất động sản, giai đoạn 2004-2012 - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.2 Nguồn vốn FDI đầu tƣ vào bất động sản, giai đoạn 2004-2012 (Trang 54)
Hình 2.3 Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2001-2012 (đơn vị:%) - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.3 Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2001-2012 (đơn vị:%) (Trang 56)
Bảng 2.2 Thống kê lãi suất qua đêm liên ngân hàng 10/2011 - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Bảng 2.2 Thống kê lãi suất qua đêm liên ngân hàng 10/2011 (Trang 56)
Hình 2.4 CPI cả nước qua các tháng - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.4 CPI cả nước qua các tháng (Trang 57)
Hình 2.5 Thống kê lƣợng căn hộ tồn kho quý IV/2012 - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.5 Thống kê lƣợng căn hộ tồn kho quý IV/2012 (Trang 58)
Hình 2.6 Dƣ nợ bất động sản từ năm 2010 – 30/10/2012 - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.6 Dƣ nợ bất động sản từ năm 2010 – 30/10/2012 (Trang 58)
Hình 2.7 Giá trị thị trường thứ cấp BĐS (% thay đổi so với quý trước) - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.7 Giá trị thị trường thứ cấp BĐS (% thay đổi so với quý trước) (Trang 59)
Hình 2.8 Mức độ tự tin của nhà đầu tư vào thị trường BĐS đang đầu tư - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.8 Mức độ tự tin của nhà đầu tư vào thị trường BĐS đang đầu tư (Trang 62)
Hình 2.10 Phân bổ lại tỷ lệ đầu tƣ vào các kênh đầu tƣ hiện tại - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.10 Phân bổ lại tỷ lệ đầu tƣ vào các kênh đầu tƣ hiện tại (Trang 64)
Hình 2.11 Phân bổ lại tỷ lệ nguồn vốn đầu tƣ - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.11 Phân bổ lại tỷ lệ nguồn vốn đầu tƣ (Trang 64)
Hình 2.12 Mức độ quan tâm những BĐS ngắn hạn, lướt sóng hiện tại - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.12 Mức độ quan tâm những BĐS ngắn hạn, lướt sóng hiện tại (Trang 65)
Hình 2.14 Chiến lược đầu tư giữa 2 giai đoạn thị trường - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.14 Chiến lược đầu tư giữa 2 giai đoạn thị trường (Trang 66)
Hình 2.13 Mức độ quan tâm đến những bất động sản dài hạn, trong thời điểm  hiện tại - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.13 Mức độ quan tâm đến những bất động sản dài hạn, trong thời điểm hiện tại (Trang 66)
Hình 2.15 So sánh phân khúc đầu tƣ - nghiên cứu lý thuyết hành vi trên thị trường bất động sản việt nam
Hình 2.15 So sánh phân khúc đầu tƣ (Trang 68)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm