Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến rủi ro, đặc biệt do không thể có được thông tin cân xứng về việc sở dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng vay, nến bất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
ĐỖ ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
ĐỖ ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN – HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN THỊ DUNG
Nha Trang - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực Quá trình điều tra, thống kê nghiêm túc, kết quả trung thực khách quan Toàn bộ nội dụng chưa công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu tương tự nào khác
Tác giả luận văn
Đỗ Anh Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 5
1.1.1 Tín dụng ngân hàng 5
1.1.2 Rủi ro tín dụng 10
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 30
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng 30
1.2.2 Sự cần thiết quản trị rủi ro tín dụng : 30
1.2.3 Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng : 31
1.3 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 34
1.3.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của một số nước trên thế giới 34
1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam 42
Kết luận chương I: 43
CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI 44
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 44
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 44
2.1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức và bộ máy điều hành 45
2.2 Hoạt động kinh doanh tại SHB trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011 52
2.2.1 Hoạt động huy động vốn 53
2.2.2 Hoạt động tín dụng 54
2.2.3 Thu nhập từ hoạt động dịch vụ 58
2.2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh 58
2.3 Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 60
2.3.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 60
2.3.2 Cơ sở pháp lý về quản trị rủi ro tín dụng 69
2.3.3 Các chỉ số dự phòng rủi ro tín dụng: 70
2.3.4 Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 71
2.4 Đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội 95
Trang 52.4.1 Những thành tựu đã đạt được 95
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 97
Kết luận chương II: 108
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI 109
3.1 Định hướng phát triển của NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội trong thời gian tới 109
3.1.1 Mục tiêu hoạt động của SHB đến năm 2015 109
3.1.2 Mục tiêu phát triển hoạt động tín dụng đến năm 2015 110
3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 111
3.2.1 Nâng cao chất lượng tín dụng 111
3.2.2 Những giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng tại SHB: 112
3.2.3 Các giải pháp hạn chế tổn thất khi xảy ra rủi ro tín dụng: 116
3.3 Một số kiến nghị 116
3.3.1 Đối với Chính phủ 116
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 119
3.3.3 Kiến nghị với khách hàng 123
3.3.4 Đối với Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội: 124
Kết luận chương III: 127
KẾT LUẬN 128
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình và cơ cấu huy động vốn tại SHB giai đoạn 2008 – 2011 53
Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ tín dụng tại SHB giai đoạn 2008 – 2011 56
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh tại SHB giai đoạn 2008 – 2011 59
Bảng 2.4: Cơ cấu nhóm nợ tại SHB giai đoạn 2008 – 2011 65
Bảng 2.5: Tỷ lệ rủi ro mất vốn giai đoạn 2008 – 2011 67
Bảng 2.6: Tỷ lệ dự phòng rủi ro giai đoạn 2008 – 2011 70
Bảng 2.7: Hệ số khả năng bù đắp rủi ro tín dụng giai đoạn 2008 – 2011 71
Bảng 2.8: Bảng tỷ lệ khấu trừ tối đa 74
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của SHB 45
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình cấp tín dụng tại phòng khách hàng chi nhánh 61
Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức hoạt động, cơ cấu giám sát và quản lý rủi ro tín dụng 92
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong hoạt động kinh doanh của các Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) nói chung, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) nói riêng, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu yếu cho các Ngân hàng Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi được vốn vay, làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của Ngân hàng, làm giảm khả năng cung cấp vốn cho nền kinh tế và cuối cùng ảnh hưởng đến lợi nhuận Ngân hàng Do vậy, quản trị rủi ro tín dụng tức là làm thế nào xác định,
đo lường và kiểm soát rủi ro ở mức có thể chấp nhận được luôn là vấn đề mà các NHTM quan tâm
Với quy mô ngày càng mở rộng và phát triển, tính đến ngày 31/12/2011 SHB
đã có gần 160 điểm giao dịch và 2.840 cán bộ nhân viên, tổng dư nợ năm 2011 đạt 29.161,9 tỷ đồng, dự kiến dư nợ năm 2012 đạt khoảng 58.134 tỷ đồng Hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong hoạt động của Ngân hàng và đây là hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nợ quá hạn, nợ xấu có xu hướng ngày càng gia tăng theo sự tăng trưởng tín dụng
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát tăng trưởng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng trong thời gian tới Để đạt được mục tiêu này, SHB cần phải phân tích, nhận dạng, đo lường được các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng để đề ra các giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu công tác quản trị rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn – Hà Nội” làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn của mình
2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Như đã trình bày, tín dụng là hoạt động chủ yếu của NHTM Việt Nam hiện nay, nó mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân hàng Tuy nhiên, bản thân tín dụng lại chứa đựng rất nhiều rủi ro nên các ngân hàng luôn tìm cách nhằm kiểm soát và hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng Đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này, tác giả xin trình bày một số tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 9- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Hoàng Thị Lan Phương (2005) về: “Một số biện
pháp quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”
đã dựa vào số liệu thứ cấp, ý kiến của cán bộ ngân hàng và những thông tin từ báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh để phân tích và nêu ra một
số nguyên nhân gây ra RRTD của các NHTM trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
là tăng trưởng tín dụng nóng; cán bộ tín dụng thiếu thông tin và năng lực phân tích thông tin … đề tài cũng đề ra một số niện pháp nhằm kiểm soát RRTD của các NHTM trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh như sau: Chính sách tín dụng phù hợp, tuân thủ quy trình – quy định khi xem xét cấp cấp tín dụng và chú trọng quá trình kiểm tra sau khi cho vay Các giải pháp này giúp tác giả có cái nhìn đầy đủ hơn về RRTD, về quản trị RRTD làm cơ sở nghiên cứu cho luận văn của mình
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Dương Thị Hằng Nga (2007) về: “Quản
trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Đồng Nai trong thời kỳ hội nhập Quốc tế”, tác giả đã nêu ra một số nguyên nhân gây ra RRTD đối với Ngân hàng
Ngoại thương Đồng Nai là công tác quản lý của ngân hàng còn yếu, công tác thu thập thông tin và hồ sơ khách hàng còn sơ sài, quyết định cho vay chưa chặt chẽ… trên cơ
sở phân tịch, đánh giá đề tài cũng đề ra một số biện pháp nhằm hạn chế RRTD
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Vũ Xuân Sáng (2008) về: “Phân tích RRTD của
các Ngân hàng thương mại Nhà Nước trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu” đã sử dụng
phương pháp định lượng thông qua mô hình hồi quy và phương pháp định tính đã xác định được các nhân tố gây ra RRTD tại các NHTM tại tỉnh Bạc Liêu Cụ thể, các nhân tố đó là khả năng tài chính của người vay, tình hình đảm bảo nợ vay, ngành nghề tạo ra thu nhập trả nợ, kiểm tra – giám sát vốn vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, kinh nghiệm của người vay, nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp kém hiệu qủa, các NHTM thường thiếu thông tin khi quyết định cho vay, đạo đức của cán bộ ngân hàng, người đi vay… Từ đó, tác giả rút ra những giải pháp đối với các ngân hàng cần phải thực hiện ngăn ngừa và xử lý tốt RRTD
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Vũ Văn Đĩnh (2010) về: “Biện pháp giảm rủi ro
tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” đã trình bày một số nguyên nhân gây ra RRTD tại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
là quy trình nghiệp vụ tín dụng đơn giản; trình độ, năng lực cán bộ chưa đủ mạnh;
Trang 10hệ thống thông tin quản lý rủi ro tín dụng còn thiếu chuẩn xác và chưa đầy đủ … Từ
đó, tác giả đề ra một số giải pháp để hạn chế RRTD do các nguyên nhân trên gây ra
3 Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động tín dụng, rủi ro trong hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
- Trên cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề tài đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn – Hà Nội, điểm mạnh, điểm yếu của mô hình quản trị rủi tín dụng các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các biện pháp góp phần hạn chế rủi ro tín dụng để góp phần nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu giữa lý luận và thực tiễn nguyên nhân dẫn đến rủi
ro tín dụng và hoạt động quản trị rủi ro tín dụng
- Về không gian: Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB)
- Về Thời gian: Nội dung phân tích tình hình hoạt động tín dụng căn cứ theo
số liệu trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011
5 Phương pháp nghiên cứu:
Cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng, đề tài nghiên cứu đã được thực hiện trên cơ sở:
- Luận văn thu thập, tổng hợp và xử lý thông tin từ hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo chuyên đề tình hình cho vay của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội và các tài liệu nội bộ khác, thông tin từ các nguồn sách báo, các phương tiện truyền thông, …
- Trao đổi kinh nghiệm với các cán bộ tín dụng công tác tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội và các cán bộ công tác trong ngành tài chính, ngân hàng nói chung trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và một số tỉnh thành khác
Trang 11- Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề trên cơ sở lý luận, các số liệu thực tế tổng hợp được, các ý kiến nhận định của các cán bộ tín dụng, tác giả sử dụng các phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và đưa ra giải pháp để quản trị rủi ro tín dụng
6 Những đóng góp khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM
- Phân tích thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chỉ ra được những kết quả đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó
- Đề xuất một số giải pháp nhằm quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI
Trang 12CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Tín dụng ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Creditumco nghĩa là một sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau hay nói cách khác đó là lòng tin
Tín dụng theo nghĩa phổ biến là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay Mối quan hệ tín dụng bao gồm hai mặt cơ bản:
- Là quan hệ vay mượn về vốn giữa hai đối tác: Một đối tác là chủ thể cho vay còn đối tác khác là người đi vay
- Là quan hệ hoàn trả: Sự dịch chuyển vốn giữa hai đối tác là sự dịch chuyển quyền sử dụng vốn tạm thời Người vay phải trả cả gốc và lãi cho người sở hữu vốn sau một thời gian thoả thuận Sự hoàn trả là đặc trưng của hoạt động tín dụng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc có hoàn trả
Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (ban hành kèm theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để
sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”
Căn cứ theo điều 20 của Luật các Tổ chức Tín dụng số 07/1997/QHX đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/1998 thì “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng”
Căn cứ theo Điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/06/2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 thì “Tổ chức Tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương
Trang 13mại, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng Để đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời trong hoạt động tín dụng, đòi hỏi các ngân hàng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác định như đã thoả thuận
- Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn theo đúng mục đích được thoả thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quy định khác của ngân hàng cấp trên
- Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án (hoặc dự án) có hiệu quả Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất
Như vậy, hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM bởi
nó mang lại thu nhập từ lãi lớn nhất cho ngân hàng Tuy nhiên đây cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất cho các NHTM
1.1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng
* Đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong quá trình hội nhập hiện nay, các doanh nghiệp luôn phải chịu áp lực cạnh tranh gay gắt, do đó, nhu cầu đầu tư phát triển luôn được đặt lên hàng đầu Tuy nhiên, khó khăn đầu tiên đối với các doanh nghiệp khi quyết định đầu tư mở rộng sản xuất bao giờ cũng là thiếu vốn, và thông thường để giải quyết những khó khăn này các doanh nghiệp cần có sự giúp đỡ từ các ngân hàng Như vậy, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng không những thu được lợi nhuận mà còn góp phần đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng và giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội
Tín dụng ngân hàng góp phần làm giảm hệ số tiền nhàn rỗi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Trong nền kinh tế, luôn xuất hiện hiện tượng một nhóm người hay
tổ chức có tiền nhàn rỗi còn một nhóm tổ chức hay cá nhân khác lại thiếu vốn để sản xuất, kinh doanh Vì vậy tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian để giải quyết việc ứ đọng vốn ở nơi này và bù đắp sự thiếu hụt ở nơi khác Từ nguồn lợi nhuận thu được thông qua hoạt động tín dụng đã thúc đẩy ngân hàng đẩy mạnh hơn nữa trong công tác huy động vốn và do đó lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư sẽ giảm
Trang 14đi đáng kể Bên cạnh đó, ngân hàng sẽ sử dụng nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu sản xuất, đầu tư phát triển kinh tế Như vậy, tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư
Tín dụng ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế Trong nền kinh tế, doanh nghiệp chủ động chọn lĩnh vực đầu tư để mang lại hiệu quả cao nhất; nhưng trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế phải có sự cân đối trong cơ cấu kinh tế giữa các vùng lãnh thổ, các ngành và trong nội bộ ngành kinh tế Thông qua chính sách tín dụng, lãi suất sẽ là đòn bẩy kích thích đầu tư phát triển, góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu quốc tế Thông qua hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM sẽ làm tăng tính cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế, bên cạnh đó các doanh nghiệp sản xuất có điều kiện để thay đổi công nghệ, máy móc thiết bị nhằm tăng năng suất lao động, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu Sự phát triển của doanh nghiệp xuất khẩu có tác động đến sự phát triển của ngoại thương, phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế, mở rộng sự hợp tác quốc tế
Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển kinh tế và thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Với việc vay vốn phải đảm bảo hoàn trả đủ gốc và lãi đúng theo thời hạn đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm đủ biện pháp nhằm tăng nhanh vòng quay vốn, thu hồi vốn để trả nợ và lãi vay ngân hàng đúng hạn Do vậy, hoạt động kinh tế sẽ trở nên nhộn nhịp và có tính cạnh tranh khốc liệt hơn
* Đối với ngân hàng cấp tín dụng
Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Trước hết, hoạt động tín dụng là hoạt động tiền đề cho sự ra đời của NHTM, đem lại thu nhập lớn cho ngân hàng Trong bảng tài sản của ngân hàng thì 2/3 tài sản Có là các khoản cho vay, vì vậy việc duy trì và mở rộng hoạt động tín dụng mang ý nghĩa sống còn đối với các NHTM, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng bao giờ cũng chiếm khoảng trên dưới 70% tổng lợi nhuận của ngân hàng NHTM thực hiện chức năng tập trung huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để tiến hành cho vay Nếu các ngân hàng không thực hiện được việc duy trì và mở rộng tín dụng thì nguồn vốn ngân hàng sẽ bị ứ đọng, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của ngân
Trang 15hàng Hơn nữa, việc nâng cao chất lượng tín dụng và mở rộng hoạt động tín dụng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng phát triển thêm các hoạt động khác như dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, tư vấn… kết quả là ngân hàng vừa tăng được nguồn vốn, vừa phát triển các dịch vụ, tăng thu nhập và phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh
1.1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng
Theo TS Nguyễn Minh Kiều (2008) dựa vào mục đích của tín dụng thì ngân hàng có thể chia thành các loại sau:
Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp,
Cho vay tiêu dùng cá nhân;
Cho vay mua bán bất động sản;
Cho vay sản xuất nông nghiệp;
Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu …
* Phân loại theo thời hạn tín dụng:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động;
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 đến 5 năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định;
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư
Việc phân loại tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng
vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của hoạt động tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng
* Phân loại theo hình thức: Chiết khấu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính
- Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn
- Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định
- Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của mình khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết
- Cho thuê tài chính là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng
Trang 16thuê theo những thoả thuận nhất định Sau một thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng Đây thường là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là ngân hàng với khách hàng thuê Khi hết thời gian thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê
* Phân loại theo mục đích vay vốn: Cho vay bất động sản; cho vay công
nghiệp và thương mại; cho vay nông nghiệp; cho vay các định chế tài chính; cho vay cá nhân; cho thuê
* Phân loại theo tài sản đảm bảo:
- Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là loại tín dụng mà khi cho vay, bảo lãnh đòi hỏi người vay phải có các tài sản thế chấp, cầm cố như bất động sản, chứng khoán, giấy tờ có giá, phương tiện máy móc… hoặc bảo lãnh của bên thứ ba để đảm bảo cho khoản vay
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Là loại tín dụng mà khi cho vay, bảo lãnh không có tài sản đảm bảo tức là không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản than khách hàng; hoặc các khoản tín dụng theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu, không cần tài sản đảm bảo
* Phân loại theo hình thái giá trị
- Tín dụng bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thái tín dụng được cấp bằng tiền
- Tín dụng bằng tài sản: Là loại tín dụng mà hình thái giá trị của tín dụng được cấp bằng tài sản Đối với các NHTM hình thức tín dụng này chủ yếu dưới hình thức thuê mua
* Phân loại theo rủi ro
- Tín dụng lành mạnh: Là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
- Tín dụng có vần đề: Là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như khách hàng chậm tiêu thụ hàng hoá, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, khách hàng gặp thiên tai…
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Là các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…
- Nợ quá hạn khó đòi: Là các khoản nợ đã quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản đảm bảo có giá trị thấp, khách hàng chây ỳ không chịu trả nợ…
Trang 171.1.2 Rủi ro tín dụng
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng :
hàng đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc việc khách hàng mất khả năng thanh toán Điều này có nghĩa
là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi vay có thể bị trì hoãn, thậm chí
là không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian bị tổn thương trong hoạt động của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác như tài trợ thương mại, thấu chi, bao thanh toán…
- Rủi ro tín dụng: Theo Điều 2 “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng” ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
1.1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
* Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp :
Tính chất đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, cũng như các hậu quả do rủi
ro tín dụng gây ra
Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi thực hiện phòng ngừa và hạn chể rủi
ro tín dụng cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào Bên cạnh đó, trong quá trình xử lý hậu quả rủi ro tín dụng cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả của rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp
* Rủi ro tín dụng có tính tất yếu :
Các chuyên gia kinh tế đều cho rằng hoạt động kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro (chủ yếu là rủi ro tín dụng) ở mức độ phù hợp để đạt được mức lợi nhuận tương ứng
Trang 18Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến rủi ro, đặc biệt do không thể có được thông tin cân xứng về việc sở dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng vay, nến bất cứ khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi
ro đối với hoạt động tín dụng của các NHTM
Vì vậy, trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, các NHTM cần chủ động
có các biện pháp thích hợp để xác định rủi ro, định lượng rủi ro, quản lý rủi ro và kiểm soát rủi ro
* Rủi ro tín dụng có thể dự báo trước hoặc không thể dự đoán :
- Các rủi ro có thể dự báo trước: Danh mục cho vay hay đầu tư của một NHTM luôn luôn có một số khoản thất thoát tiềm tàng chưa được xác định Tuy nhiên, nếu giả định rằng các đặc điểm chung của danh mục cho vay nhìn chung vẫn giống nhau trong một giai đoạn hợp lý thì các NHTM có thể dự báo các khoản thất thoát này với một mức độ tương đối chính xác bằng cách nghiên cứu các đặc điểm diễn biến của danh mục cho vay theo thời gian
- Các rủi ro không thể dự báo trước: Có nhiều sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát của các NHTM, các cú sốc ngoại sinh do các điều kiện chưa phát sinh tại thời điểm ký một thỏa thuận kinh doanh, … là những nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro
mà các NHTM không thể dự báo trước
1.1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng
Việc phân loại rủi ro tín dụng là để chúng ta nhìn nhận rủi ro từ các góc độ khác nhau Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng, nhưng chủ yếu là dựa trên 2 tiêu chí cơ bản sau:
* Theo phương diện quản lý thì rủi ro tín dụng được chia thành 2 loại:
+ Rủi ro tín dụng có thể kiểm soát được (hay còn gọi là rủi ro khả kháng): Là loại rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể phần nào dự đoán được chủ thể gây ra rủi ro
đó, ước tính được mức độ ảnh hưởng, dự kiến được thời gian chúng phát sinh và từ
đó có biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế ở mức thấp nhất Những rủi ro tín dụng thuộc loại này thường do chủ quan con người gây ra, cụ thể có thể là do khách hàng hoặc chính bản thân ngân hàng gây cho mình, thông thường là xuất phát từ phía khách hàng
+ Rủi ro tín dụng không thể kiểm soát được (hay còn gọi là rủi ro bất khả kháng): Là loại rủi ro tín dụng mà các ngân hàng không thể dự đoán được, không
Trang 19biết chúng sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán được một cách chính xác nhất những ảnh hưởng mà chúng gây ra Những rủi ro tín dụng loại này thường không do con người gây ra mà chủ yếu là do những bất lợi về các yếu tố tự nhiên gây ra như hạn hán, lũ lụt, mất mùa hoả hoạn… Các NHTM thường phải tập trung vào ngăn chặn những rủi ro có thể kiểm soát được, còn rủi ro không thể kiểm soát được thì chỉ có cách là chống đỡ
* Theo tính chất của rủi ro tín dụng thì có thể chia thành 2 loại:
+ Rủi ro sai hẹn: Là rủi ro khi người vay vốn không hoàn trả gốc và lãi tiền vay đúng hẹn như trong hợp đồng tín dụng
+ Rủi ro mất vốn: Là rủi ro khi người vay vốn không hoàn trả gốc và lãi vay một cách đầy đủ
Dù phân chia theo cách nào đi nữa thì rủi ro tín dụng luôn mang lại cho ngân hàng nhiều tổn thất Việc tìm hiểu, nghiên cứu rủi ro tín dụng để từ đó đưa ra những biện pháp quản lý nhằm hạn chế rủi là một vấn đề được các ngân hàng luôn chú trọng
1.1.2.4 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Các chỉ tiêu sau đây được sử dụng rộng rãi nhất trong việc đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại:
* Tỷ lệ nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng Nợ quá hạn là biểu hiện đặc trưng nhất của rủi ro tín dụng, là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, khi người vay vi phạm nguyên tắc của tín dụng là phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, gây
đổ vỡ lòng tin của người cấp tín dụng đối với người được cấp tín dụng
* Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay:
* Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ cho vay:
Số dư nợ xấu
Trang 20Nợ xấu là các khoản nợ được phân vào nhóm 3, 4 và 5; tỷ lệ nợ xấu trên tổng
dư nợ cũng là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của TCTD Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt, tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng quản lý rủi ro của ngân hàng càng kém, khả năng không thu hồi được nợ càng lớn
* Tỷ lệ giữa các khoản xoá nợ trong năm so với tổng dư nợ cho vay:
Dư nợ các khoản xoá nợ trong năm
Tỷ lệ các khoản xoá nợ trong năm =
Các khoản xoá nợ là các khoản vay được ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi vốn và được phân vào nhóm 5 theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc NHNN Các khoản vay này được ngân hàng dùng quỹ dự phòng cụ thể để xử lý rủi
ro và theo dõi ở ngoại bảng
* Tỷ lệ giữa dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng dư nợ cho vay kỳ báo cáo:
* Tỷ lệ giữa dự phòng tổn thất tín dụng so với các khoản nợ xấu:
1.1.2.5 Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Nhận diện rủi ro, qua đó có những giải pháp tối ưu giúp ngăn ngừa và xử lý các khoản tín dụng có rủi ro là khâu quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Sau khi khoản vay phát sinh và được phân loại, ngân hàng luôn phải theo dõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau:
Trang 21* Nhóm các dấu hiệu từ phía khách hàng:
Các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:
Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng;
Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà không có sự giải thích minh bạch;
Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục;
Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng;
Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn;
Thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn;
Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoặc không muốn hoàn trả, hoặc do việc tiêu thụ hàng, thu hồi công nợ chậm hơn dự tính;
Mức vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến;
Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị của tài sản đảm bảo giảm sút so với định giá khi cho vay Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, bán hay trao đổi hoặc đã biến mất không còn tồn tại;
Có dấu hiệu cho thấy khách hàng tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng;
Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất thường khác không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc không từ hoạt động được
đề xuất trong phương án vay vốn;
Có dấu hiệu sử dụng nhiều tài khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn;
Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn với giá cao với mọi điều kiện
Các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty:
Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng;
Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độ hoạt động của khách hàng;
Trang 22 Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý như sự gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tiếp khách …;
Thay đổi thường xuyên tổ chức của ban điều hành;
Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý;
Xuất hiện dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: Mải mê theo đuổi một sản phẩm không thích hợp về mặt thời gian và năng lực hiện tại mà không chú ý đến các yếu
Khó khăn trong phát triển sản phẩm dịch vụ mới;
Các dấu hiệu liên quan khác:
Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước như: Chính sách thuế, xuất nhập khẩu; thay đổi các biến cố kinh tế vĩ mô: Tỷ giá, lãi suất; thay đổi công nghệ kỹ thuật sản xuất, thị hiếu tiêu dùng; mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn; thêm đối thủ cạnh tranh…;
Thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh xảy ra;
Đối với khách hàng là tư nhân cá thể có dấu hiệu người vay bị bệnh kéo dài hoặc chết
* Nhóm các dấu hiệu từ chính sách tín dụng của ngân hàng:
Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng, ví
dụ như đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với thực tế; đánh giá khách hàng chỉ qua thông tin do khách hàng cung cấp mà bỏ qua các kênh thông tin bên ngoài khác…;
Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính bảo đảm của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hay các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp;
Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng;
Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không rõ
Trang 23ràng, không xác định rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay, cố ý thoả hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có tiềm ẩn rủi ro;
Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc lỏng lẻo tạo kẽ hở cho khách hàng lợi dụng;
Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không thuộc phân đoạn thị trường tối ưu của ngân hàng;
Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng;
Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá như: Giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ hay thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với các TCTD khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao
Bên cạnh đó, các khoản nợ không trả được khi đến hạn ở các cấp độ khác nhau cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ khác nhau
Từ trước đó rủi ro tín dụng cho thấy rủi ro ở độ rộng với những tầng nấc khác nhau Vấn đề không phải là ở con số nợ xấu chiếm bao nhiêu phần trăm tổng dư
nợ, mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp Dù áp dụng phương pháp nào, tính chính xác của kết quả phụ thuộc rất nhiều vào việc cán bộ tín dụng các cấp có thực sự nghiêm túc trong việc nhìn nhận rủi ro tín dụng và chính sách quản lý rủi ro
có nhằm mục tiêu tạo nên tính minh bạch trong việc xác định rủi ro hay không
Có nhiều tiêu chí phản ánh rủi ro tín dụng của các NHTM như:
Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, trên vốn sở hữu, trên quỹ dự phòng tổn thất
Nợ đáng nghi ngờ (có vấn đề, nợ nhóm 2): Khả năng chuyển thành nợ xấu cao
Nợ không có tài sản bảo đảm
Hiện tại, nếu áp dụng phân loại nợ theo các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) được thừa nhận thì tình hình nợ quá hạn và nợ xấu của các NHTM VN nghiêm trọng hơn nhiều lần so với báo cáo của từng ngân hàng vì:
Nhiều khoản nợ các NHTM đang hạch toán ở tài khoản nợ trong hạn nhưng thực tế đã là nợ xấu vì khách hàng kinh doanh thua lỗ hoặc đã khó khăn trong việc trả nợ đầy đủ, đúng hạn
Trang 24Không ít khoản vay trong danh mục tín dụng của các NHTM là nợ trong hạn xong đã được ngân hàng gia hạn hoặc đảo nợ do người vay không đủ khả năng thanh toán
Do phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro xử lý nợ xấu chưa nhất quán với thông lệ quốc tế nên hiện nay việc đánh giá chất lượng tín dụng thực chất như thế nào là hết sức khó khăn, thậm chí không thể làm được Đây là trở ngại rất lớn đối với các NHTMVN khi bước vào cạnh tranh và hội nhập với các ngân hàng có yếu
tố nước ngoài Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp đánh giá chất lượng tín dụng, áp dụng dần các chuẩn mực IAS trong phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi
ro xử lý nợ xấu là vấn đề hết sức cấp thiết đối với hệ thống NHTM VN
1.1.2.6 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Qua các dấu hiệu nhận biết rủi ro ở trên, rủi ro tín dụng chủ yếu do các nguyên nhân sau:
* Nguyên nhân từ các nhân tố vĩ mô:
Bao gồm: Môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, hệ thống thông tin
Môi trường kinh tế:
Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng chịu tác động trực tiếp của môi trường kinh tế Môi trường kinh tế không thuận lợi làm cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, làm cho khả năng trả nợ vay của doanh nghiệp bị hạn chế, dẫn đến rủi ro cho ngân hàng do không thu hồi được nợ
Trong một nền kinh tế tăng trưởng lành mạnh, tiềm năng sản xuất và tiêu dùng của xã hội còn lớn thì hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều điều kiện để phát triển Nhưng một nền kinh tế bị khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cao, sản xuất bị đình trệ, đầu
tư giảm sút, tất cả đều tác động đến khả năng thu hồi vốn tín dụng của ngân hàng Đặc biệt, trong xu thế hội nhập như hiện nay, không chỉ môi trường kinh tế trong nước mà các biến động về kinh tế tài chính trên thế giới cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụng của ngân hàng Bởi quá trình tự do hoá tài chính
và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các NH trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ
Trang 25xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút
Môi trường pháp lý:
Đây là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới khả năng phát sinh rủi ro tín dụng của ngân hàng Hệ thống pháp luật ban hành không đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia kinh doanh và các ngành có liên quan còn yếu kém Chính những nhân tố này đã không tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp, không tạo ra tính an toàn cho hoạt động kinh doanh, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên nợ quá hạn cho ngân hàng Môi trường pháp lý không đồng
bộ vừa gây khó khăn, vừa tạo khe hở để những kẻ xấu lợi dụng gây rủi ro cho doanh nghiệp và ngân hàng
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ Những văn bản này đều có quy định: Trong những hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là
cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa án xử lý qua con đường tố tụng… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng
Ngoài ra, rủi ro tín dụng còn chịu sự tác động của các nhân tố khác như thiên tai, chiến tranh hoặc những thay đổi ở tầm vĩ mô như thay đổi Chính phủ, chính sách kinh
tế, hàng rào thuế quan… Những nhân tố này vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay, sự thay đổi này thường xuyên xảy ra tác động tới người vay, có thể tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay, do đó cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng
Trang 26 Hệ thống thông tin:
phát triển của khách hàng trong tương lai (gồm cả thông tin về tài chính và phi tài chính) và đặc biệt là các thông tin thống kê về các chỉ tiêu trung bình ngành phục vụ cho việc xếp loại khách hàng vay
nghiệp nhằm đánh giá khách hàng có quan hệ tín dụng mà còn sử dụng thông tin vào những mục đích khác như mở rộng đối tượng cho vay, thực hiện công tác marketing đến khách hàng truyền thống, khách hàng tiềm năng, và mở rộng thị phần trên thị trường Tuy nhiên :
Hệ thống thông tin của Việt Nam hiện nay còn khá nhiều bất cập, Việt Nam chưa có cơ chế công bố thông tin đầy đủ Trong thời gian qua, trung tâm thông tin tín dụng (CIC) trực thuộc NHNN hoạt động đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp hoạt động hoat động một cách độc lập và hiệu quả
Vai trò nối kết các NHTM của trung tâm thông tin tín dụng (CIC) còn lỏng lẻo, chưa đạt được kết quả như mong muốn
hoạt động tín dụng Nếu các NHTM cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin bất cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu
* Nguyên nhân từ phía khách hàng:
Nguyên nhân từ phía khách hàng là một trong những nguyên nhân chính và cổ điển nhất gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng, bởi khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay Khách hàng có thể do vô ý hay cố ý không thực hiện trả nợ vay cho ngân hàng đúng hạn Nguyên nhân từ phía khách hàng có thể xem xét trên các mặt sau: Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, cố tình lừa đảo để chiếm dụng vốn ngân hàng Để đạt được mục đích của mình, họ sẵn sàng tìm mọi cách đối phó với ngân hàng như cung cấp thông tin sai, mua chuộc cán bộ tín dụng nhằm vay được nhiều tiền Nhiều khách hàng kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, họ chây ỳ với kỳ vọng có thể quỵt nợ hoặc chiếm dụng vốn vay của ngân hàng càng lâu càng tốt Đây là một hành động có chủ ý của người vay được
Trang 27tính toán chuẩn bị trước nhằm chiếm đoạt tiền vay và được coi là trường hợp tồi tệ nhất trong các nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng
Khách hàng làm ăn thua lỗ dẫn đến mất khả năng trả nợ cho ngân hàng, nguyên nhân có thể do trình độ yếu kém của khách hàng trong dự đoán các vấn đề
về kinh doanh, khả năng thích ứng thị trường thấp, quản lý điều hành sản xuất kinh doanh yếu kém, thiếu sự linh hoạt làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không hiệu quả, thậm chí thua lỗ
Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng
Như vậy, rủi ro từ phía khách hàng luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và là chủ yếu trong hoạt động tín dụng Việc phòng tránh cũng rất khó khăn, phức tạp vì khách hàng của ngân hàng rất đa dạng, trình độ khác nhau, kinh doanh trong nhiều lĩnh vực do đó ngân hàng phải nâng cao chất lượng thẩm định dự án trước khi cho vay, tăng cường công tác giám sát thực hiện khoản vay và đa dạng hoá đầu tư nhằm phân tán rủi ro
* Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
Cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng :
Đạo đức của cán bộ tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng để giải quyết vấn đề về rủi ro tín dụng Một cán bộ hạn chế về năng lực có thể được bồi dưỡng thêm để nâng cao trình độ, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi
về mặt nghiệp vụ thì thật sự nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng Điều này có thể nhấn thấy qua các vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến hoạt động ngân hàng đều có sự tiếp tay của những cán bộ tín dụng cùng với khách hàng hoặc bản thân cán bộ tín dụng cố ý :
Trang 28 Thực hiện trái với quy định tín dụng
Trực tiếp thu nợ nhưng không nộp mà dùng cho mục đích cá nhân
Lập hồ sơ giả để vay tiền cá nhân, nhờ người vay hộ,…
Tẩy xóa, sửa chữa những chứng từ có giá để thế chấp vay tiền
Định giá TSBĐ không đúng giá trị thực do thông đồng với khách hàng Bên cạnh vấn đề đạo đức, năng lực, trình độ, kinh nghiệm của một bộ phận cán
bộ tín dụng hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu công việc Điều này có thể thấy trong thực tế qua việc bố trí công việc chưa phù hợp với trình độ chuyên môn, bản thân từng cán bộ chưa có ý thức tự nâng cao nghiệp vụ Ngoài ra có thể nhận thấy rõ nét nhất là công tác phân công cán bộ tín dụng quản lý khách hàng của các NHTM hiện nay không theo chuyên ngành kinh tế, từ đó dẫn đến việc :
Cán bộ tín dụng làm việc theo kiểu đa năng, không chuyên sâu vào một ngành nghề cụ thể nào nên không có nhiều kiến thức chuyên ngành Khách hàng khi cung cấp các dự án, có nhiều thông số kỹ thuật máy móc chuyên ngành hoàn toàn xa lạ với cán bộ tín dụng
Thuê chuyên gia đánh giá đòi hỏi chi phí cao nên chủ yếu các ngân hàng thường làm trong những trường hợp này là tìm hiểu thông tin thông qua sách, báo, tạp chí chuyên ngành, qua mạng internet
Nếu cán bộ tín dụng không có kiến thức chuyên môn về chuyên ngành cần thẩm định sẽ đưa ra những đánh giá sai, gây bức xúc cho khách hàng hoặc ngược lại, khách hàng thông tin sai mà không biết, gây ra những quyết định sai lầm trong cho vay
Chính sách, quy trình tín dụng và sự vận dụng chính sách, quy trình tín dụng chưa nghiêm túc :
- Nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến chất lượng tín dụng của các NHTM đó chính là chính sách tín dụng Tuy nhiên, chính sách tín dụng chỉ phát huy tác dụng khi được xây dựng trên cơ sở khách quan và sự nghiêm túc của việc ban hành và vận dụng Thực tế, vẫn còn nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến chính sách tín dụng chưa thật sự hợp lý:
Chính sách tín dụng của các NHTM hiện nay phần lớn đều chưa đạt tầm chiến lược, chưa theo nguyên tắc thị trường, thậm chí còn bị cuốn theo các hội chứng, phong trào, khẩu hiệu phát triển kinh tế và theo chủ nghĩa thành tích
Trang 29 Các NHTM hầu như chưa xây dựng được chính sách tín dụng khoa học, phù hợp thể hiện được quan điểm và chiến lược riêng
Ngoài ra, các NHTM không có chiến lược phát triển rõ nét hay nói cách khác chưa quản trị về danh mục cho vay theo lĩnh vực sở trường
Chính sách tín dụng với vấn đề lãi suất vẫn còn khá nhiều bất cập
Mô hình thích hợp cho việc lượng hóa mức độ rủi ro của khách hàng để từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro hầu như chưa được các NHTM đầu
tư xây dựng
pháp luật về ngân hàng và những đặc thù trong hoạt động của riêng mỗi ngân hàng Thông thường, quy định tín dụng được thống nhất qua các bước sau :
Quy trình tín dụng nếu không phát huy được tác dụng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng quản lý rủi ro tín dụng Trên thực tế, không phải quy trình tín dụng của các NHTM luôn đảm bảo tính hợp lý và chặt chẽ, biểu hiện như :
Thông tin cần phải thực hiện các bước của quy trình không được quy định chi tiết và đầy đủ, cũng như mối quan hệ giữa các bước chưa được nhận thức đúng đắn
Trên thực tế, việc phân định rõ giữa khâu thẩm định và cho vay ở nhiều NHTM vẫn chưa thật sự tách biệt Chỉ một vài ngân hàng đang tiến hành triển khai, áp dụng quy trình tín dụng mới với việc phân chia độc lập giữa ba chức năng: Quan hệ khách hàng, quản lý rủi ro và quản lý nợ Tuy vậy, giữa mô hình phân chia cũ và mới, bên cạnh những ưu điểm vẫn tồn tại những hạn chế chưa thể khắc phục ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng
Thẩm định
hồ sơ vay vốn của KH
Ra quyết định và ký kết HĐTD
Thanh lý HĐTD và xử
lý tranh chấp
Giải ngân và theo dõi thu hồi nợ
Tiếp nhận
HS khách
hàng vay
vốn
Trang 30 Do sức ép cạnh tranh trong việc mở rộng thị phần tín dụng, trong quá trình vận dụng không ít NHTM đã bỏ qua các bước của quy trình, hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng, không chú ý đúng mức đến tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ, nguồn trả nợ của khách hàng vay nên nảy sinh nhiều sai pham: về điều kiện vay vốn, về việc lập hồ sơ vay vốn, về việc kiểm tra, quản lý nợ vay, cơ cấu lại thời gian trả nợ (điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ gốc và lãi)
Việc nhận thức chưa đầy đủ và vận dụng chưa thật sự nghiêm túc của cán bộ tín dụng đối với các chính sách và quy trình tín dụng cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các NHTM vì nếu nhận thức đầy đủ, thực hiện nghiêm túc các quy định, nhất là thẩm tra chặt chẽ khả năng tài chính, hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, các điều kiện về bảo đảm tiền vay của khách hàng rồi mới quyết định đầu tư thì khả năng thu hồi vốn là rất lớn Ngược lại, nếu buông lỏng quản lý hoặc thẩm tra chưa đầy đủ đã quyết định đầu tư thì mức độ rủi ro sẽ gia tăng, thậm chí có khi mất vốn
Công tác thẩm định :
Đánh giá uy tín, năng lực quản trị, năng lực tài chính của khách hàng :
bộ thực hiện công tác thẩm định trong việc tiếp cận thông tin về khách hàng khi nguồn thông tin và khả năng phát tín hiệu của khách hàng còn hạn chế Hiện nay, công tác đánh giá uy tín của khách hàng chủ yếu dựa vào các quan hệ trong quá khứ: Khách hàng vay trả đúng hạn được xem là khách hàng có uy tín, còn đối với khách hàng mới quan hệ thì chủ yếu dựa vào ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng khi tiếp xúc với khách hàng, hoặc qua một số thông tin thu thập được Trong khi đó đối tượng khách hàng xem là chiến lược phục vụ của ngân hàng là khu vực kinh tế
tư nhân thì còn quá non trẻ, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có danh tiếng trên thị trường, ý thức của doanh nghệp trong việc xây dựng uy tín và thương hiệu chưa cao, các hiệp hội ngành thì chưa phát huy vai trò của mình, chưa hỗ trợ nhiều cho các doanh nghiệp thành viên phát triển, nhất là việc giới thiệu các thành viên cho thị trường nên đã dẫn đến việc thu thập thông tin để đánh giá đối với khu vực kinh tế trên là rất khó khăn,
Trang 31+ Về năng lực quản trị: Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp và cũng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đồng vốn của ngân hàng Tuy nhiên, việc đánh giá nguồn nhân lực, nhất là bộ phận lãnh đạo của ngân hàng hiện nay hoàn toàn chưa có cơ sở, chủ yếu là liệt kê bằng cấp và
số năm công tác
việc phân tích số liệu trên các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp Hiện nay,
do Việt Nam chưa có quy định về minh bạch thông tin nên có thể nói độ tin cậy của các báo cáo tài chính chưa thật sự cao, nhất là đối với các DNTN Các NHTM dù biết kiểm toán báo cáo tài chính là tốt nhưng cũng không dám đề nghị khách hàng thực hiện vì sợ mất khách hàng Từ những số liệu chưa thực sự tin cậy nên việc phân tích báo cáo tài chính sẽ không phản ánh đúng thực chất năng lực tài chính của khách hàng
Đánh giá hiệu quả phương án/dự án vay :
các NHTM Tuy nhiên, do có nhiều nhân tố chủ quan và khách quan tác động nên
đã dẫn đến chất lượng đánh giá phương án/dự án vay chưa thật sự hiệu quả :
khía cạnh như yếu tố thị trường, kỹ thuật, công nghệ và cả các yếu tố kinh tế, xã hội của dự án Tuy nhiên, việc thẩm định dựa án trong một môi trường thiếu thông tin như Việt Nam là một thách thức lớn đối với các cán bộ thẩm định
nghiên cứu thị trường Do đó, khi đánh giá thị trường đối với sản phẩm của dự án, cán bộ thẩm định chủ yếu phải dựa vào các nguồn thông tin không chính thức, thu thập qua báo chí, internet…
hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn yếu
xuyên thay đổi, không có tính minh bạch và không có tính dự báo cũng có thể gây
ra nhiều rủi ro cho dự án như: Các chiến lược phát triển vùng, ngành, các quy định liên quan đến xuất nhập khẩu, các tiêu chuẩn về môi trường,…
Trang 32+ Một khó khăn khác trong công tác thẩm định dự án đó là xác định một suất chiết khấu phù hợp mức độ rủi ro của dự án và doanh nghiệp vay vốn
nghiệp giữa các NHTM chưa có sự thống nhất, chưa được tiến hành thường xuyên, định kỳ, một số ngân hàng xem việc này chỉ mang tính hình thức
=> Kết quả là việc đánh giá dự án không mang tính khả thi, nhất là trong điều
kiện trình độ cán bộ thẩm định chưa được chuyên sâu
Xuất phát từ tài sản bảo đảm:
tín dụng, và là mắc xích quan trọng trong quy trình cho vay và thu hồi nợ, xử lý các khoản nợ có vấn đề Tuy nhiên, việc giám sát, quản lý, đánh giá, phân loại, dự báo, cảnh báo về danh mục các TSBĐ mà một NHTM lựa chọn, xét ưu tiên nhận làm bảo đảm tiền vay chưa được làm thường xuyên, chưa có tính hệ thống mà chỉ dừng lại ở mức kiểm tra trên hồ sơ pháp lý, định kỳ đánh giá lại giá trị để điều chỉnh mức
dư nợ cho vay hoặc yêu cầu khách hàng bổ sung
thỏa thuận hoặc thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định trên cơ sở giá trị thị trường tại thời điểm xác định, có tham khảo đến các loại giá như quy định của Nhà nước (nếu có), giá mua, giá trị còn lại trên sổ sách kế toán và các yếu tố khác
về giá Tuy nhiên, trên thực tế, trừ những động sản có giá trị lớn hàng tỷ đồng, các NHTM mới thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn định giá, còn lại đa số việc định giá đều do các bên thỏa thuận, và như vậy cho thấy giá trị TSBĐ được định giá còn mang tính chủ quan và thiếu tính khoa học
NHTM sử dụng một cách thích hợp, dẫn đến việc nếu định giá thấp khách hàng không hài lòng, nhưng nếu định giá cao, NHTM sẽ khó đảm bảo khả năng thu hồi
nợ vay và lãi vay trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán, khi đó buộc NHTM phải thanh lý tài sản thế chấp, cầm cố
bị đẩy lên cao do đầu cơ vượt xa giá trị thực đã làm nảy sinh tư tưởng lạm dụng và TSBĐ Sẽ rất rủi ro nếu cán bộ tín dụng quên rằng khoản vay cần phải được trả bằng chính dòng tiền tạo ra bởi phương án sản xuất kinh doanh chứ không phải
Trang 33bằng tiền bán TSBĐ TSBĐ chỉ là sự đảm bảo cuối cùng khi phương án kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro ngoài dự kiến Tâm lý dựa chủ yếu vào TSBĐ sẽ làm giảm chất lượng thẩm định khoản vay nên sẽ không đánh giá chính xác được hiệu quả và sự an toàn của khoản vay dễ dẫn đến việc cho vay những dự án rủi ro, khách hàng không uy tín
NHTM Từ sự lựa chọn không chắc chắn khách hàng tốt để cung cấp tín dụng nên
để giảm bớt rủi ro, các NHTM đã tính một phần rủi ro vào trong lãi vay ngân hàng, làm cho khách hàng vay tốt phải gánh chịu một mức lãi vay cao hơn mức đáng ra
họ được hưởng Đây cũng là tâm lý thường thấy ở các NHTM của các nước đang phát triển
đốc, kiểm tra việc khách hàng có mua bảo hiểm đúng định kỳ để đến khi phương tiện bị tai nạn, việc trục vớt, sửa chữa phải bỏ thêm rất nhiều vốn, gây khó khắn lâu dài về khả năng thanh toán khoản nợ vay…
cũng là vấn đề cần được quan tâm Khi thế chấp, cầm cố tài sản chỉ có khách hàng biết rõ về hiện trạng của tài sản như sự hỏng hóc trong các dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị, hoặc ngôi nhà rất khó bán do một số đặc điểm đặc biệt Trong khi
đó trình độ của cán bộ thường không đáp ứng đầy đủ chuyên môn trong tất cả các lĩnh vực nên không thể đánh giá được chính xác hiện trang của máy móc thiết bị cũng như nắm được những thông tin không tốt về đất đai, nhà ở, điều này ảnh hưởng rất lớn đến giá trị mua bán của tài sản Vì vây, khi xảy ra rủi ro, việc phát mãi tài sản để thu hồi nợ không ít khó khăn
chỉnh, chi phối của nhiều văn bản luật, dưới luật chồng chéo nhau, đặc biệt đối với TSBĐ là bất động sản
cản trở không ít cho các NHTM như :
Việc các ngân hàng phải đối mặt với những khó khắn trong thời gian trước khi bán đấu giá tài sản
Trang 34 Trong việc phát mãi TSBĐ, các NHTM chưa có quyền trong việc bán, quản
lý và khai thác tài sản thuộc quyền tiếp quản
Sự phối hợp giữa cơ quan công an, việc kiểm soát, tòa án, các sở, ban ngành, chính quyền địa phương trong việc xử lý TSBĐ còn nhiều hạn chế, chưa đồng
bộ, chặt chẽ và kịp thời
Việc xác định quyền sở hữu thực sự của khách hàng đối với tài sản cũng là vấn đề khó khăn
Vướng mắc khi NHTM nhận lại TSBĐ từ cơ quan thi hành án
Thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng cho người mua, người nhận tài sản của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền còn quá nhiêu khê
Thông tin tín dụng:
các cơ quan chức năng như cơ quan thuế, chi cục thống kê, hay các cơ quan chủ quản
thuộc khá nhiều vào số liệu của khách hàng cung cấp mà chưa chủ động tìm kiếm thông tin hay nói cách khác có tình trạng thông tin bất cân xứng giữa các NHTM và khách hàng vay Việc thu thập thông tin của mỗi ngân hàng về khách hàng, về ngành nghề, về môi trường kinh tế mà khách hàng đang hoạt động, về các văn bản mới được ban hành, về tình hình diễn biến giá cả thì trường trong và ngoài nước, đặc biệt là những cảnh báo về các ngành hàng ngân hàng đang và sẽ đầu tư chưa được thực hiện một cách thường xuyên và có tính hệ thống
Xuất phát từ hoạt động kiểm soát nội bộ:
hàng, bộ phận này chưa thật sự hoạt động có hiệu quả, nhất là tình trạng thiếu nhân
sự, cũng như trình độ của cán bộ chưa đáp ứng cả về nghiệp vụ lẫn kinh nghiệm nên không thể phát hiện các sai phạm để có những khuyến cáo kịp thời nhằm chấn chỉnh
và tư vấn cho ban điều hành về những rủi ro tín dụng có thể xảy ra
NHNN do:
Xét về thời gian, công tác kiểm soát nội bộ của các NHTM xử lý kịp thời, nhanh chóng các vấn đề ngay khi mới phát hiện
Trang 35 Xét về tính sâu sát của người kiểm soát viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh nên mọi vấn đề được hiểu đúng
* Nguyên nhân khác:
trị, xã hội trong và ngoài nước cũng ảnh hưởng đến chất lượng các khoản cấp tín dụng của các NHTM Biểu hiện rõ nét nhất là tình hình biến động giá cả các mặt hàng mà các NHTM đang đầu tư, hoặc các cơ chế, chính sách thương mại, chính sách xuất nhập khẩu các nước áp dụng đối với Việt Nam (hạn ngạch, chính sách bảo hộ, hay các vụ kiện thương mại,…)
động không nhỏ đến hoạt động cấp tín dụng của các NHTM Với môi trường hội nhập, các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, nguy cơ thua lỗ là điều có thể xảy ra Bản thân các NHTM trong môi trường hội nhập kinh tế cũng gặp phải những nguy
cơ rủi ro khi phải cạnh tranh với các NHTM nước ngoài vốn mạnh hơn về mọi mặt, khi vấn đề nợ xấu gia tăng vì hầu hết những khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ
bị các ngân hàng nước ngoài thu hút…
tế vẫn có những thay đổi đột ngột, hàng lang pháp lý chưa thật sự an toàn, điều chỉnh quy hoạch các ngành, các vùng chưa phù hợp…
=> Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân từ các
nguyên nhân khách quan do nền kinh tế và các cơ quan quản lý Nhà nước đến các nguyên nhân chủ quan của chính bản thân các NHTM, và các nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn,…các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng riêng từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, cũng như định hướng mô hình phát triển ở Việt Nam
năng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay Năng lực cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng và các nguồn của ngân
Trang 36hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật chất Do vậy biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là các biện pháp liên quan đến việc đào tạo, bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi của cán bộ trong quá trình xử lý công việc Thực hiện tốt các biện pháp này có thể cho rằng con đường quản lý rủi ro tín dụng của ngành ngân hàng coi như thành công một bước
1.1.2.7 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
* Đối với ngân hàng cấp tín dụng
Rủi ro tín dụng làm ảnh hưởng đến uy tín, thu nhập của ngân hàng, làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng và có nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng Rủi
ro tín dụng là kết quả tất yếu của một hoạt động tín dụng không lành mạnh cả về số lượng và chất lượng Rủi ro tín dụng xảy ra làm cho ngân hàng không thu được vốn
và lãi theo đúng thời hạn để tiếp tục thực hiện hoạt động cấp tín dụng Do vậy, rủi
ro tín dụng sẽ làm giảm tốc độ quay vòng vốn của ngân hàng, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, kết quả là uy tín và sức cạnh tranh của ngân hàng sẽ giảm theo Nếu mức
độ rủi ro trong tầm kiểm soát của ngân hàng thì ngân hàng có thể bù đắp bằng các quỹ dự phòng rủi ro hoặc vốn tự có, còn nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nghiêm trọng thì sẽ làm mất khả năng thanh toán của ngân hàng và lòng tin của khách hàng với ngân hàng sẽ bị giảm sút nhanh chóng Mặt khác, hoạt động tín dụng có liên quan mật thiết với nhiều hoạt động khác trong ngân hàng do đó khi rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ làm giảm thu nhập của ngân hàng từ hoạt động tín dụng mà còn làm giảm thu nhập từ các hoạt động khác Một khi thu nhập không thể bù đắp nổi chi phí thì
sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng
* Đối với nền kinh tế
Rủi ro tín dụng không chỉ ảnh hưởng tới ngân hàng mà còn ảnh hưởng tới toàn
bộ nền kinh tế Bởi hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hoá cao nên khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hoặc bị phá sản ngay lập tức nó sẽ ảnh hưởng đến các ngân hàng khác trong nền kinh tế, gây nên các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Rủi ro tín dụng có thể gây ra hậu quả tiêu cực tới mọi đối tượng trong xã hội, làm giảm lòng tin của công chúng vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, cũng như hiệu lực các chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ
Những hậu quả nặng nề có thể gây ra bởi rủi ro tín dụng cho thấy sự cần thiết phải quan tâm đến hoạt động xác định, đo lường, quản lý và kiểm soát rủi ro và do
Trang 37đó, việc phòng ngừa, hạn chế và quản lý rủi ro tín dụng không chỉ là nhiệm vụ của ngân hàng mà còn là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể có liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng
* Khái niệm:
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn
* Mục tiêu :
Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chiến lược hoạt động tín dụng ngay cả trong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không ngừng gia tăng Nói một cách cụ thể hơn thì quản trị rủi ro tín dụng phải nhằm vào việc hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn cho kinh doanh của mỗi NHTM bằng các chính sách, các biện pháp quản lý, giám sát các hoạt động tín dụng khoa học hiệu quả và kiểm soát rủi ro trong hoạt động để :
Bảo vệ ngân hàng trong việc tránh khỏi những thất bại, mất mát không dự tính trước
Bảo đảm mức độ rủi ro mà ngân hàng gánh chịu không vượt quá khả năng về vốn và tài chính
Bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng đến khả năng cạnh tranh và khả năng tồn tại của ngân hàng
1.2.2 Sự cần thiết quản trị rủi ro tín dụng :
1.2.2.1 Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, tiềm
ẩn nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro tín dụng :
kiến cho rằng các NHTM cần đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi
Trang 38ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi
ro có thế chấp nhận được
được chứ không thể chối bỏ rủi ro Nói một cách khác, hoạt động kinh doanh của các NHTM là dùng uy tín của chính ngân hàng để có thể thu hút nguồn vốn huy động và dùng năng lực quản trị rủi ro, đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng để sử dụng nguồn vốn huy động được và phát triển các dịch vụ khác với tư cách là người “trung gian” các lực lượng cung và các lực lượng cầu về các dịch vụ ngân hàng
1.2.2.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi
ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng :
quan mang đến rủi ro, nhiều yếu tố bất khả kháng nên ngân hàng không thể tránh khỏi rủi ro Chính vì vậy, hàng năm các NHTM được phép và cần phải trích lập quỹ
dự phòng rủi ro hạch toán vào chi phí
thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ tăng, và ngược lại Như vây, hiệu quả kinh doanh của các NHTM tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro Khi rủi ro quá lớn đến mức các NHTM mất khả năng thanh toán, khi đó sẽ dẫn đến tình trạng phá sản
1.2.2.3 Quản trị rủi ro tín dụng tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của các NHTM :
lãnh đạo, quản lý, điều hành phải đặc biệt quan tâm, Vì vậy, những nhà quản trị NHTM cần được trang bị các kiến thức về quản trị rủi ro, cung cấp những thông tin kinh tế cập nhật, có đội ngũ tham mưu chuyên nghiệp, phòng ngừa, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh Theo đó, nhiều ý kiến khằng định: “Quản trị rủi ro nghiệp vụ chủ đạo và là thước đo năng lực “sống còn” của một NHTM”
1.2.3 Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng :
NHTM phải tiến hành nhằm bảo đảm chất lượng của quá trình quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng được tốt nhất
Trang 39 Hoạch định chiến lược
Xác định rủi ro hiện có và rủi ro tiềm ẩn
Xây dựng các chính sách và quy trình tín dụng
Giám sát và kiểm tra quy trình tín dụng
Cơ cấu tổ chức và quản trị tín dụng
Trách nhiệm cá nhân đối với chất lượng tín dụng
Hệ thống tính điểm và xếp hạng tín dụng
Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng :
động tín dụng nhằm xác định phản ứng của ngân hàng đối với rủi ro và thái độ sẵn sàng chấp nhận các rủi ro
độ rủi ro của từng thời kỳ và phải được phổ biến đến từng nhân viên ngân hàng Thông thường việc hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng được xây dựng bởi bộ phận quản lý rủi ro tín dụng
Xác định rủi ro hiện có và rủi ro tiềm ẩn :
định rủi ro được thực hiện theo từng khoản vay, từng khách hàng, nhóm khách hàng, theo mặt hàng và lĩnh vực đầu tư, theo khu vực địa lý, theo dạng hợp đồng tín dụng, theo dạng TSBĐ, theo trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng,…
mục tín dụng, chú ý các rủi ro mới trước đó chưa được phát hiện
pháp đo xác suất các kết quả
Xây dựng các chính sách và quy trình tín dụng :
quy định của pháp luật, đảm bảo phù hợp với chiến lược tín dụng của ngân hàng nhằm để duy trì các chuẩn mực cấp tín dụng an toán, đánh giá đúng các cơ hội kinh doanh mới và kịp thời phát hiện cũng như quản lý chặt chẽ các khoản tín dụng có vấn đề
Trang 40 Giám sát và kiểm tra quy trình tín dụng :
kiểm tra và đánh giá lại tài sản thế chấp,…)
Cơ cấu tổ chức :
soát Các bộ phận chủ chốt có trách nhiệm liên quan đến quá trình quản trị rủi ro tín dụng bao gồm :
Trách nhiệm cá nhân đối với chất lượng cho vay :
có cơ chế thù lao phù hợp, đảm bảo lựa chọn nhân viên đủ năng lực đảm đương công việc Ngoài ra cũng còn có cơ chế bổ nhiệm, thưởng phạt có hiệu quả, cơ chế đào tạo lại nhằm khuyến khích nâng cao trách nhiệm cá nhân đối với chất lượng tín dụng
Hệ thống tính điểm và xếp hạng tín dụng :
sở các thông tin định lượng và thông tin định tính nhằm thống nhất định giá rủi ro tín dụng đối với khách hàng theo một thang điểm chuẩn Cần xây dựng hệ thống tính điểm tín dụng riêng theo từng đối tượng khách hàng
hạng khách hàng cũng như khoản vay