DNTN: Doanh nghiệp tư nhân DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước DNVVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ ĐTNT: Đối tượng nộp thuế GDP Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội GTGT: Giá trị gia tăng H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VÕ QUỐC KHÁNH
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hoà, 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VÕ QUỐC KHÁNH
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài "Hoàn thiện quản lý thuế đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Chi cục Thuế huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An" là công trình nghiên
cứu của bản thân tôi và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào Mọi
sự giúp đỡ để hoàn thành đề tài nghiên cứu này đã được cảm ơn đầy đủ, các thông tin trích dẫn trong đề tài nghiên cứu này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả đề tài
Võ Quốc Khánh
Trang 4LỜI CÁM ƠN!
Để có thể hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Kinh tế, khoa Sau đại học trường Đại học Nha trang đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo, cán bộ công chức Cục thuế tỉnh Nghệ An; Chi cục Thuế huyện Diễn Châu; phòng thống kê huyện Diễn Châu; phòng Tài Chính - Kế hoạch huyện Diễn Châu và các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo, TS Phan Thị Dung là người trực tiếp hướng dẫn khoa học và đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành tốt nhất luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn đứng bên cạnh tôi động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo; đồng chí và đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hoà, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Võ Quốc Khánh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Bản chất, chức năng của thuế 7
1.1.3 Hệ thống thuế, phân loại thuế và các yếu tố cấu thành một sắc thuế 10
1.1.4 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 14
1.1.5 Phân biệt thuế với lệ phí, phí 17
1.2 QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 19
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 19
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm về thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 27
1.2.3 Nội dung quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 29
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THU THUẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 32
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 32
1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra học cho Việt Nam 35
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU 38
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN DIỄN CHÂU 38
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 38
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
2.1.3 Khái quát tình hình phát triển doanh nghiệp vừa nhỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu 39
Trang 62.2 KHÁI QUÁT VỀ CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU 41
2.2.1 Sự hình thành và phát triển 41
2.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 43
2.2.3 Chức năng nhiệm vụ 44
2.2.4 Tình hình sử dụng cán bộ, công chức ngành thuế 45
2.2.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật 47
2.2.6 Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách giai đoạn 2010-2012 48
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU 51
2.3.1 Quản lý doanh nghiệp đăng ký thuế(cấp mã số thuế), kê khai thuế 51
2.3.2 Quản lý doanh thu và thuế giá trị gia tăng 53
2.3.3 Quản lý thuế thu nhập chịu thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp 55
2.3.4 Quản lý thu nộp thuế và quản lý nợ thuế 57
2.3.5 Công tác kiểm tra thuế 59
2.3.6 Các công tác khác 60
2.4 ĐÁNH GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC THUẾ VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU 62
2.4.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach alpha 62
2.4.2 Phân tích nhân tố 67
2.4.3 Phân tích hồi quy 70
2.4.4 Phân tích so sánh ý kiến đánh giá về các kía cạnh điều tra giữa hai nhóm đối tượng là Công chức thuế và DNV&N 74
2.5 NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DNV&N Ở CHI CỤC THUẾ HUYỆN DIỄN CHÂU 77
2.5.1 Về công tác quản lý doanh nghiệp đăng ký thuế (cấp mã số thuê), kê khai thuế 77
2.5.2 Về công tác quản lý doanh thu, thuế giá trị gia tăng 77
2.5.3 Về công tác quản lý thu nhập chịu thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp 78
2.5.4 Công tác quản lý thu nộp thuế và quản lý nợ thuế 79
2.5.5 Về công tác kiểm tra thuế 79
2.5.6 Về công tác tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế 80
2.5.7 Về công tác tổ chức bộ máy quản lý thu thuế 80
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 81
Trang 7CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ
HUYỆN DIỄN CHÂU 82
3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 82
3.1.1 Định hướng 82
3.1.2 Mục tiêu của Chi cục thuế huyện Diễn Châu 83
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 84
3.2.1 Giải pháp về quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế 84
3.2.2 Giải pháp về quản lý doanh thu, thuế giá trị gia tăng và hóa đơn chứng từ của Doanh nghiệp 85
3.2.3 Giải pháp về quản lý công tác kê khai và quyết toán thuế Thu nhập doanh nghiệp 87
3.2.4 Giải pháp về quản lý thu nộp thuế và quản lý nợ thuế 88
3.2.5 Giải pháp về kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế 89
3.2.6 Các giải pháp khác 91
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 104
Trang 8DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
DNVVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ĐTNT: Đối tượng nộp thuế
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
GTGT: Giá trị gia tăng
HTX: Hợp tác xã
NSNN: Ngân sách Nhà nước
QLT: Quản lý thuế
SXKD: Sản xuất kinh doanh
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP
ngày 30/6/2009 của Chính phủ 20
Bảng 2.1 Diện tích, dân số, lao động huyện Diễn Châu giai đoạn 2010 – 2012 39
Bảng 2.2 Cơ cấu loại hình DNV&N tại huyện Diễn Châu 40
Bảng 2.3 Tình hình sử dụng lao động ở Chi cục Thuế Diễn Châu giai đoạn 2010 – 2012 46
Bảng 2.4 Tài sản và cơ sở vật chất giai đoạn 2010-2012 47
Bảng 2.5 Kết quả thực hiện dự toán thu Ngân sách trên địa bàn giai đoạn 2010 - 2012 49
Bảng 2.6 Kết quả thực hiện dự toán thu các sắc thuế của doanh nghiệp giai đoạn 2010-2012 50
Bảng 2.7 Tình hình doanh nghiệp đăng ký thuế (cấp mã số thuế) giai đoạn 2010 - 2012 51
Bảng 2.8 Tình hình DN khai thuế, nộp thuế so với đăng ký thuế cấp mã số thuế) giai đoạn 2010- 2012 52
Bảng 2.9 Doanh thu thực hiện của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh năm 2010 - 2012 53
Bảng 2.10 Tình hình thực hiện dự toán thuế GTGT của DN giai đoạn 2010 – 2012 54
Bảng 2.11 Tình hình thực hiện dự toán thuế TNDN của DN giai đoạn 2010 – 2012 55
Bảng 2.12 Bảng phân loại nợ thuế qua ba năm 2010 -2012 58
Bảng 2.13 Tình hình kiểm tra thuế tại trụ sở doanh nghiệp 60
Bảng 2.14 Tình hình tuyên truyền, hổ trợ đối tượng nộp thuế giai đoạn 2010 - 2012 61
Bảng 2.15 Hệ số Cronbach Alpha của các biến đo lường mức độ tập huấn, hỗ trợ doanh nghiệp 63
Bảng 2.16 Hệ số Cronbach Alpha của các biến đo lường quy định về kê khai thuế 64
Bảng 2.17 Hệ số Cronbach Alpha của các biến đo lường quy định về thuế GTGT 64
Bảng 2.18 Hệ số Cronbach Alpha của các biến đo lường quy định về thuế TNDN 65
Bảng 2.19 Hệ số Cronbach Alpha của các biến đo lường quy định về thuế công tác kiểm tra thuế 66
Bảng 2.20 Hệ số Cronbach Alpha của các biến đo lường đánh giá sự phù hợp của chính sách thuế 67
Bảng 2.21: Hệ số KMO và Bartlett's Test của nhân tố 68
Trang 10Bảng 2.22: Kết quả phân tích nhân tố tác động 68
Bảng 2.23 Ma trận hệ số tương quan của các nhân tố 70
Bảng 2.24 Bảng hệ số xác định bội và các thông số tóm tắt mô hình 71
Bảng 2.25 Bảng phân tích ANOVA kiểm định sự phù hợp mô hình hồi quy 71
Bảng 2.26 Kết quả ước lượng hàm hồi quy đa biến 71
Bảng 2.27: Kết quả phân tích tương quan hạng giữa phần dư với các biến độc lập 74
Bảng 2.28: Trị trung bình các nhóm thống kê đối với bị tác động “Sự phù hợp của công tác quản lý thuế” 75
Bảng 2.29: Trị trung bình các nhóm thống kê đối với các nhân tố tác động 76
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Kết quả thu ngân sách của nước ta giai đoạn 2010 - 2012 14 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu loại hình DNV&N tại huyện Diễn Châu 40 Biểu đồ 2.2: Phân phối chuẩn của phần dư 73
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Hệ thống thuế ở Việt Nam 11
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế huyện Diễn Châu 44
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm thực hiện cải cách chính sách và quản lý thuế kể từ năm 1990, ngành thuế đã có những đóng góp đáng kể vào việc phát triển kinh tế xã hội Hệ thống chính sách thuế đã đảm bảo bao quát tương đối đầy đủ các nguồn thu hiện có và đang từng bước phù hợp với nền kinh tế đang chuyển đổi theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế Công tác quản lý thuế đã từng bước được chuyên môn hoá, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của cá nhân và tập thể trong quản lý thuế, bảo đảm tính công khai, dân chủ
Chi cục Thuế huyện Diễn Châu được thành lập năm 1990, có nhiệm vụ triển khai thực hiện chính sách thuế và thu ngân sách trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Kết quả hoạt động của Chi cục trong thời gian qua cho thấy: Dự toán thu năm sau luôn cao hơn năm trước; tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế từng bước được cải cách, hiện đại hoá; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ công chức thuế ngày càng được nâng lên Hiện nay với gần 364 doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) đang hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nhân tố quan trọng trong việc đóng góp nguồn thu cho Ngân sách nhà nước ở địa phương Tuy nhiên, công tác quản lý thuế tại Chi cục nói chung, quản lý thuế đối với DNV&N nói riêng hiện tại vẫn còn có nhiều vướng mắc, bất cập cả về quy trình quản lý, ứng dụng công nghệ tin học và bố trí nguồn nhân lực Trình độ quản lý thuế của một số công chức thuế chưa đáp ứng được yêu cầu công cuộc cải cách hành chính, hiện đại hoá ngành thuế; tình trạng doanh nghiệp kê khai đăng ký thuế ít hơn số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập; tình hình nộp thuế chưa phản ảnh đúng quy mô hoạt động SXKD của doanh nghiệp vẫn còn tồn tại
Mặt khác, hội nhập kinh tế trong khu vực và thế giới đòi hỏi ngành Thuế ngoài việc phải xây dựng hệ thống chính sách thuế tương thích, công tác quản lý thuế phải được cải cách và hiện đại hoá theo các chuẩn mực quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi đồng nhất về thuế với quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội quốc gia Đây là một vấn đề đòi hỏi không những phải có sự nổ lực của Ngành thuế, sự quan tâm của Chính phủ mà còn cần sự góp sức của giới học giả và những người quan tâm
Trang 13Để đạt được mục tiêu tăng thu cho Ngân sách, nâng cao năng lực quản lý thuế, góp phần đẩy mạnh cải cách thủ hành chính trong lĩnh vực thuế tại địa phương Đồng thời, để đáp ứng được yêu cầu về công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế thì việc xây dựng hoàn thiện chính sách thuế nói chung và quản lý thu thuế đối với DNV&N nói riêng là
một đòi hỏi cấp thiết Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi chọn đề tài "Hoàn thiện
quản lý thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục Thuế huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An" làm luận văn thạc sĩ cuối khoá học
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu thuế đối với các DNV&N tại Chi cục Thuế huyện Diễn Châu Trên cơ sở đó nhằm đề xuất các giải pháp giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ và Chi cục Thuế Diễn Châu nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý thuyết và thực tiễn của việc quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế huyện Diễn Châu đặt trong tổng thể vấn đề quản lý thu thuế, phí và lệ phí trong toàn ngành Thuế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Chi cục Thuế huyện Diễn Châu và các doanh nghiệp
vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (với 125 trong số 364 doanh nghiệp vừa và nhỏ được chọn ngẫu nhiên để nghiên cứu)
- Phạm vi về thời gian: Đề tài dự kiến được thực hiện trong thời gian tối thiểu
là 6 tháng, từ tháng 5 năm 2013, đến hết tháng 10 năm 2013 Phạm vi số liệu thứ cấp dùng để phân tích trong đề tài là số liệu tại chi cục từ năm 2010-2012
Trang 144 Phương pháp nghiên cứu
Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu trên, luận văn sử dụng các
phương pháp sau:
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các nguồn tài liệu, báo cáo của Chi Cục
Thuế huyện Diễn Châu; Niên giám thống kê huyện Diễn Châu; các báo cáo tài liệu của
các ban ngành huyện Diễn Châu; thông tin đã được công bố trên các giáo trình, báo,
tạp chí, công trình và đề tài khoa học trong và ngoài nước
- Số liệu sơ cấp: Được tiến hành thu thập trên cơ sở các doanh nghiệp hoạt động
sản xuất kinh doanh trên địa bàn và số lượng cán bộ công chức quản lý thu thuế thuộc
Chi Cục Thuế huyện Diễn Châu Cụ thể chọn 125 mẫu trong tổng số 364 DNV&N
đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện Diễn Châu và 30 cán bộ công
chức Thuế trong tổng số 59 cán bộ công chức của Chi cục Thuế huyện Diễn Châu để
tiến hành điều tra
4.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Các phương pháp sử dụng nghiên cứu đề tài bao gồm: Phương pháp phân
tích tổng hợp, phân tích thống kê, phân tích so sánh, phương pháp chuyên gia, Việc
xử lý và tính toán các số liệu, các chỉ tiêu nghiên cứu được tiến hành trên máy tính với
sự hỗ trợ của phần mềm SPSS, Excel và phần mềm tin học của Tổng Cục Thuế
5 Đóng góp dự kiến của đề tài
5.1 Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và bổ sung các vấn đề lý luận và thực tiễn về
quản lý thuế trong cơ chế thị trường đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
5.2 Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu là một trong những đóng góp thực tiễn cho
ngành thuế tại Chi cục thuế huyện Diễn Châu nói riêng và ngành thuế Việt Nam nói
chung trong việc hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị luận văn được cấu trúc thành 3 chương
như sau:
- Chương 1: Tổng quan lý luận về thuế và quản lý thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nh
- Chương 2: Thực trạng quản lý thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Chi cục Thuế huyện Diễn Châu
Trang 15- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục Thuế huyện Diễn Châu
7 Tóm tắt nội dung các chương trong luận văn
Chương 1: Trong chương này, tác giả tổng quan lý luận về thuế và quản lý thuế
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục Thuế huyện Diễn Châu, tác giả sẽ làm
rõ các khái niệm về thuế; bản chất, chức năng của thuế; phân loại và các yếu tố cấu thành sắc thuế; vai trò của thuế Đồng thời tác giả hệ thống hoá các cơ sở lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như việc quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp vừa
và nhỏ
Chương 2: Trong chương này, tác giả tập trung phân tích thực trạng quản lý thu
thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục Thuế huyện Diễn Châu trên cơ sở các số liệu thứ cấp từ năm 2010-2012 và thông qua số liệu sơ cấp mà tác giả điều tra thu thập
Chương 3: Trên cơ sở thực trạng quản lý thu thuế của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Chi cục Thuế huyện Diễn Châu ở chương 2, tác giả đề xuất một số giải pháp mang tính chiến lược nhằm ngày một hoàn thiện công tác thu thuế với các đối tượng trên trong thời gian tới
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ
1.1.1 Khái niệm
Hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật Sự ra đời của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối
kháng và sự xuất hiện của nhà nước (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright,
2011-2013) Tuy nhiên lý luận về kinh tế của thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống
nhất tuyệt đối khái niệm về thuế Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này
Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Để đạt được quyền lực công cộng đó, cần phải có những đóng góp của những người công
dân của nhà nước, đó là thuế” (Lê Văn Ái, 2000)
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua
con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước.” (Trần Bình Minh-
“Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế” (Lê Văn Ái, 2000)
Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Trong cuốn từ điển của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng:
“Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được
Trang 17của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và
dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản” (Lê Văn Ái, 2000)
Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn
“Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ K.P.Makkohhell và C.L.Bryu như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó
không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật” (Lê Văn
Ái, 1996)
Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho rằng,
để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa đó phải nêu bật các khía cạnh sau đây: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định
Từ việc phân tích những quan niệm về thuế của thế giới và của nước ta nêu trên, chúng ta có thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế là:
Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh dưới nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội
Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ỹ nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước
Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định
Từ các đặc trưng trên của thuế , ta có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế
như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà
nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
Trang 181.1.2 Bản chất, chức năng của thuế
1.1.2.1 Bản chất của thuế
Thuế là một phạm trù kinh tế đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử, thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
Bản chất của thuế được thể hiện bởi hai đặc trưng cơ bản nhất (Phan Hiển
Minh, Nguyễn Ngọc Thanh & Châu Thành Nghĩa, 2001), đó là:
Tính cưỡng chế là đặc tính cơ bản nhất của thuế Trong thời Phong Kiến ở phương Tây (điển hình là ở Pháp), đã có lúc tính chất này bị phủ định Nhưng rất tiếc, mọi nỗ lực nhằm hướng tới một hệ thống thuế có tính chất “tự nguyện” đều nhanh chóng bị đổ vỡ Các nhà đảo chính trong khi thực hiện các cuộc lật đổ chính quyền cũ đều lấy lòng nhân dân bằng cách hứa hẹn sẽ xây dựng một hệ thống thuế có tính chất
tự nguyện Nhưng khi đã nắm được chính quyền thì họ lại phải tái khẳng định lại tính cưỡng chế của thuế khoá (thông qua những định chế pháp luật)
Tại sao thuế lại có tính cưỡng chế? Câu trả lời rất đơn giản: Không ai muốn nộp thuế dù cho họ có rất nhiều tiền đi chăng nữa Trong khi đó bất cứ Nhà nước nào cũng phải cần có ngân sách để tối thiểu là duy trì bộ máy hoạt động của bản thân nhà nước Tính “cưỡng chế”, do đó, trở thành điều kiện cần và đủ của bất kỳ hệ thống nào trên thế giới Không chỉ các nhà kinh tế học tư sản mà ngay cả K Marx cũng phải thừa nhận rằng: Thuế, đó là “Nghĩa vụ cần thiết để nuôi dưỡng nhà nước pháp quyền, thuế
là nguồn sống… đối với nhà nước hành pháp Chính phủ mạnh và thuế cao là hai khái
niệm đồng nhất” (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2011-2013)
Đặc tính cơ bản thứ hai của thuế là: không có sự tương thích giữa việc nộp thuế và lợi ích nhận được từ việc nộp thuế Xét cho cùng thì việc nộp thuế là tập trung một phần nguồn lực vào tay Nhà nước để sau đó chúng được chi tiêu vào các hoạt động công ích (nói cách khác là để tài trợ cho hàng hóa công cộng) Một mặt, mọi người đều nhận được hàng hóa công cộng như nhau (không có sự định suất, hoặc sự định suất là vô ích), nhưng mặt khác, khối lượng thuế phải nộp của những người khác nhau là không giống nhau Mọi người đều sử dụng chung một hệ thống an sinh xã hội, một con đường… nhưng người giàu hơn lại phải nộp thuế nhiều hơn Điều này tạo nên
sự khác biệt giữa thuế và giá cả Trong khi việc nộp thuế được xem như một nghĩa vụ
Trang 19không thể thoái thác và khối lượng các lợi ích mà người nộp thuế nhận được từ Nhà nước không liên quan gì đến khối lượng thuế đã chi trả, thì việc trả tiền để nhận được một món hàng hoặc dịch vụ (qua giá) hoàn toàn mang tính chất tự nguyện và thường
có sự tương xứng về mặt giá trị Kết quả là thuế thường được xem như là nặng nề hơn
là giá cho dù người nộp thuế có tán thành các chi tiêu của Nhà nước, anh ta có thể không nhận thức được mối quan hệ trực tiếp nào giữa khối lượng thuế đã nộp và lợi ích cá nhân nhận được từ các hoạt động chung của nhà nước Mặt khác, các người tiêu dùng tuy có phàn nàn về giá cả tăng cao nhưng lại nhận thức được một cái gì đó mình
mong muốn (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2011-2013)
1.1.2.2 Chức năng của thuế
Chức năng của một sự vật hay đối tượng nào đó là sự thể hiện công dụng vốn
có của nó Đối với một phạm trù kinh tế, chức năng phản ánh bản chất sự tác động vốn
có của nó, là phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có của phạm trù Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối của nó trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng
Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính vốn có của các quan hệ tài chính Tuy nhiên, thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng của mình bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính
Mặc dù chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của thuế, nhưng thông qua quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy thuế luôn thực hiện hai chức năng: (1) chức năng phân phối và phân phối lại và (2)
chức năng điều tiết kinh tế (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2011-2013):
- Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là loại chức năng cơ bản, đặc thù nhất Thông qua chức năng này, các quỹ bằng tiền của nhà nước được hình thành Đây chính là sức mạnh cơ sở vật chất đảm bảo cho sự hoạt động và tồn tại của nhà nước Mặc dù nhà nước có nhiều phương pháp mở rộng hay thu hẹp quy mô ngân sách nhưng việc sử dụng công cụ thuế tỏ ra là có ưu thế hơn cả Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là sự huy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào NSNN Phần lớn thuế là đánh trên hàng hóa và thu nhập Người có thu nhập cao và có tiền chi tiêu cho nhiều hàng hóa hơn là người nộp thuế nhiều hơn; nói cách khác là những người giàu có là những người phải chịu nhiều thuế (tính về số tuyệt đối) hơn Số tiền này sau đó lại được nhà nước chi tiêu vào hàng hóa công cộng,
Trang 20trợ cấp hưu trí, bệnh tật,… tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội Đây chính là chức năng phân phối và phân phối lại của thuế Cũng theo các suy luận trên, trong một chừng mực đáng kể, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế
Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng tăng Điều này được giải thích bởi sự mở rộng các chức năng của Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhà nước vào các quá trình kinh tế
- Bàn đến chức năng điều tiết kinh tế của thuế có nghĩa là phải xem thuế như là một tác nhân tích cực của quá trình tái phân phối và thông qua đó tác động đến qua trình tái sản xuất của doanh nghiệp Chức năng này không tách rời khỏi chức năng phân phối và phân phối lại của thuế mà cả hai chức năng đều có quan hệ tác động hỗ tương rất chặt chẽ Tại các nước tư bản công nghiệp phát triển và ngày nay, kể cả tại các nước đang phát triển, chức năng điều tiết kinh tế của thuế ngày càng được chú ý và được tăng cường đáng kể
Một hệ thống thuế ổn định sẽ tác động đáng kể vào các hoạt động của nền kinh
tế, cụ thể là theo ba hướng sau:
Thứ nhất, thuế sẽ ảnh hưởng đến mức độ và cơ cấu của tổng cầu; đồng thời thông qua cơ chế cung - cầu thị trường, thuế có thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất Điều này phụ thuộc rất lớn vào thu nhập mà người dân sử dụng: Nếu người dân dành hầu hết thu nhập của mình cho tiêu dùng thì sự thay đổi mức thuế đánh vào tiêu dùng ngay lập tức tác động vào mức cầu cá nhân và ảnh hưởng đến tổng mức cầu có khả năng thanh toán được của nền kinh tế Cụ thể là thuế sẽ làm giảm thu nhập của nhân dân Với việc làm nhỏ đi phần thu nhập có thể chi tiêu cho các hộ gia đình, mức thuế cao hơn có xu hướng làm cho các hộ gia đình giảm mức chi cho tiêu dùng của họ, do đó làm giảm mức cầu và GNP thực tế Ngoài ra, thuế còn có thể tác động đến mức sản lượng tiềm năng Việc giảm thuế đánh vào máy móc, thiết bị hay thu nhập có được từ việc đầu tư sản xuất, kinh doanh sẽ làm tăng sự đầu tư vào sản xuất kinh doanh làm khả năng sản xuất của nền kinh tế
Thứ hai, thuế thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tiền lương Bởi vì khi tính toán tiền lương, giới chủ nhân và người làm thuê bao giờ cũng chú ý đến tiền thuế như là một yếu tố của tiền lương phải được xem xét tới
Thứ ba, thuế hàng hóa, thuế lợi tức còn tác động đến việc mua sắm, sử dụng và
Trang 21phục hồi tài sản cố định (sau đây viết tắt là TSCĐ) trong doanh nghiệp TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, thường xuyên bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình cho đến khi không còn tác dụng nữa Sau đời phục vụ của mình, TSCĐ cần được phục hồi Việc phục hồi này được tiến hành bằng các lập quỹ khấu hao Quỹ khấu hao là một loại quỹ được hình thành từ một bộ phận lợi tức không phải chịu thuế Quy mô của quỹ khấu hao - trong chừng mực đáng kể - chịu sự tác động của mức thuế (nhất là thuế lợi tức)
Giữa hai chức năng (chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều tiết kinh tế) của thuế tồn tại mối quan hệ chặt chẽ Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết kinh tế Nhưng chức năng điều tiết kinh tế của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng
và theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẫn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Mâu thuẫn của chức năng phân phối và phân phối lại là mâu thuẫn giữa sự cần thiết mở rộng nguồn thu về thuế của Nhà nước và sự phản kháng hoặc không hài lòng tất cả mọi người khi nộp thuế Mâu thuẫn của chức năng điều tiết kinh tế biểu hiện ở chỗ: Nhu cầu thực tế của sự can thiệp của Nhà nước đối với quá trình sản xuất kinh doanh đụng chạm phải lợi ích kinh tế của từng nhà doanh nghiệp
1.1.3 Hệ thống thuế, phân loại thuế và các yếu tố cấu thành một sắc thuế
1.1.3.1 Khái niệm hệ thống thuế
Suy cho cùng, cơ sở nộp thuế đều bắt nguồn từ thu nhập, song do yêu cầu của quá trình tái sản xuất, thu nhập vận động qua một chu trình kinh tế và thay đổi hình thái biểu hiện của nó
Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập luân chuyển trong một vòng khép kín: người lao động nhận được tiền công, dùng tiền công này để mua hàng hoá, dịch vụ của
Trang 22các công ty, đến lượt các công ty lại dùng số tiền thu được để trả lãi cho vốn đầu tư, tiền thuê đất đai, tiền công và những thành phần này chi tiêu dưới nhiều dạng để mua hàng hoá, dịch vụ
Chính sự biến đổi đa dạng này đã tạo ra khả năng đánh thuế của Chính phủ trên
sự luân chuyển của dòng thu nhập khép kín Trong dòng luân chuyển đó nảy sinh các cơ
sở khác nhau, do đó xuất hiện các hình thức thuế khác nhau
Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế, phương pháp thu nộp thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định
Sơ đồ 1.1: Hệ thống thuế ở Việt Nam
1.1.3.2 Phân loại thuế
Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luật thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Ðể định hướng xây dựng và quản lý hệ thống thuế, việc sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chất thành những nhóm khác nhau, gọi là phân loại thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Tuỳ thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà cơ cấu và nội dung các Luật thuế
có khác nhau Cũng tuỳ thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thông thường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:
Trang 23- Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào Ngân sách Nhà nước, thuế được phân làm 2 loại: Thuế trực thu và thuế gián thu
+ Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
+ Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp
Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế
- Căn cứ vào đối tượng đánh thuế, theo cách phân loại này thuế được chia thành: Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng, thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốn của Ngân sách Nhà nước, thuế khác và lệ phí, phí
Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một
cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế (Quốc Hội nước
CHXHCNVN, 2006)
1.1.3.3 Các yếu tố cơ bản cấu thành một sắc thuế
Khác với các hình thức động viên tài chính khác, thuế thực hiện chuyển giao thu nhập dưới các hình thức biểu hiện cụ thể của mình bằng một sắc thuế Mỗi sắc
Trang 24thuế đều phải được quy định bằng một văn bản pháp luật và được gọi là một luật thuế Trong một luật thuế thông thường chứa đựng các yếu tố cơ bản sau đây:
- Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một luật thuế (Đối tượng nộp thuế):
Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một luật thuế chỉ rõ khoản thuế đó do chủ thể nào phải nộp Luật thuế gọi chủ thể đó là đối tượng nộp thuế (ĐTNT)
Đối tượng nộp thuế theo luật định là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm phải nộp thuế cho Nhà nước theo luật pháp quy định Đối tượng nộp thuế không nhất thiết là đối tượng chịu thuế Trong nhiều trường hợp đối tượng nộp thuế cũng chính là đối tượng chịu thuế, khi trong sắc thuế đó người nộp thuế không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác
- Khách thể chịu sự điều chỉnh của luật thuế (Đối tượng chịu thuế):
Khách thể trong luật thuế chỉ rõ đối tượng được đưa ra làm cơ sở tính thuế hay đối tượng chịu thuế Trong luật thuế, người ta gọi khách thể là đối tượng chịu thuế
Do cơ sở thuế là thu nhập, hàng hoá hay tài sản, do đó đối tượng chịu thuế cũng
có thể là thu nhập, giá trị hàng hoá hoặc giá trị của tài sản Mỗi một luật thuế có một đối tượng chịu thuế riêng Đối tượng chịu thuế có thể được tính trên một đơn vị, trên một đơn vị vật lý hoặc một đơn vị giá trị
- Mức thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng chịu thuế (Thuế suất):
Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế Trong ngôn ngữ luật thuế người ta gọi mức thuế phải nộp là thuế suất hay định suất
Trong một luật thuế, thuế suất hay định suất là linh hồn của sắc thuế, mang trong mình nó gánh nặng của thuế, thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Vì vậy, việc xác định thuế suất trong một luật thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích chung của quốc gia vừa phải chú ý thích đáng đến lợi ích của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế
Thuế suất (t) được xác định dựa trên hai yếu tố: tổng số thuế cần huy động cho Nhà nước (T) và cơ sở thuế (C):
t = T/C Tổng số thuế cần huy động phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong từng thời kỳ, mức thu nhập và mức tích luỹ đạt được trong nền kinh tế quốc dân
Trang 25Cơ sở thuế là một bộ phận của đối tượng tính thuế được xác định làm căn cứ tính thuế Cơ sở thuế thường thấp hơn đối tượng tính thuế, bởi vì tồn tại mức tối thiểu không phải nộp thuế, miễn giảm thuế Một cơ sở thuế sau khi tính và nộp một loại thuế tương ứng có thể trở thành cơ sở của một loại thuế khác
1.1.4 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với qúa trình phát triển kinh tế - xã hội Thuế được coi là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội Thuế điều tiết thu nhập trong xã hội và góp phần
đảm bảo công bằng xã hội (Đăng Thuỷ, 2011)
1.1.4.1 Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước
Để có một nền tài chính Quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồn thu
từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Đặc biệt đối với nước ta hiện nay, các khoản viện trợ giảm xuống nhiều thì thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách quốc gia,
là một bộ phận cơ bản của chính sách tài chính quốc gia
Biểu đồ 1.1: Kết quả thu ngân sách của nước ta giai đoạn 2010 - 2012
Tổng thu NSNN 461,500 674,500 740,500
Số thu thuế nội địa 294,700 425,000 494,600
Trang 26từng bước được mở rộng và phát triển hội nhập.Trong bối cảnh đó thu ngân sách hàng năm tăng đều đặn năm sau cao hơn năm trước đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, góp phần tích lũy cho Ngân sách và cả việc chi trả nợ vay Được như vậy thuế đã góp phần tích cực trong việc tăng thu Ngân sách Tỷ lệ động viên GDP vào Ngân sách Nhà nước ngày càng tăng Trong đó mức động viên thuế và phí chiếm vai trò quan trọng
Ngân sách Nhà nước được thu từ nhiều nguồn khác nhau: Từ thuế, Phí - lệ phí, viện trợ nước ngoài, tín dụng nhưng thuế và phí, đặc biệt là thuế là nguồn thu chủ yếu,
là bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia ở các nước phát triển, thuế chiếm trên dưới 90% tổng thu ngân sách Ở Việt Nam vai trò của thuế trong tổng thu ngân sách chiếm tỷ trọng lớn ngày càng tăng Trong năm 1990 tỷ trọng thuế và phí trong Tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) là 76,8%, năm 2012 tăng lên 90% và tỷ lệ điều tiết từ GDP hàng năm khoảng 24-25%; tốc độ thu ngân sách qua các năm được thể hiện theo
biểu đồ trên về kết quả thu ngân sách của nước ta (Tổng Cục Thuế, 2013)
Với cơ cấu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất, đồng bộ giữa các thành phần kinh tế đã bao quát toàn bộ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
Các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng của xã hội thuế đã hoàn thành được nhiệm
vụ tập trung tích lũy ngân sách đảm bảo cho yêu cầu chi của Nhà nước về các mặt: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển
1.1.4.2 Thuế là công cụ quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thuế là một công cụ sắc bén của Nhà nước để quản lý kinh tế - xã hội với chức năng chủ yếu là đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, hướng dẫn tiêu dùng khuyến khích sản xuất phát triển theo định hướng
của Nhà nước (Phan Hiển Minh, Nguyễn Ngọc Thanh & Châu Thành Nghĩa, 2001)
Một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc là chính sách thuế phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ Do vậy, bằng các sắc thuế khác nhau áp dụng đối với từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau Nhà nước điều chỉnh quy
mô đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực khác nhau
Thực hiện cân đối hàng - tiền, cân đối cung cầu ở tầm vĩ mô, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các ngành, các vùng lãnh thổ giữa Trung ương và Địa phương
Trang 27đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng tích lũy trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Đây là điều kiện quan trọng ổn định để thúc đẩy tốc độ phát triển của nền kinh tế
Thông qua Pháp luật thuế Nhà nước xác định đúng đắn cơ cấu và quan hệ giữa các sắc thuế, quy định chính xác, hợp lý đối tượng nộp thuế, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thuế để đảm bảo việc thu đúng thu đủ đồng thời khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho xã hội, khuyến khích những thành phần kinh tế cần thiết, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả Đồng thời hạn chế, thu hẹp những ngành nghề, những mặt hàng cần thiết phải hạn chế kể từ sản xuất đến tiêu dùng xã hội theo định hướng của chiến lược phát triển kinh
tế của Đảng, Nhà nước có lợi cho quốc kế dân sinh
"Khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế
cạnh tranh và chống độc quyền không thể áp dụng một cơ chế tài chính đồng nhất cho các doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay (giữa các doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trường và các doanh nghiệp phục vụ các lợi ích công cộng) để điều tiết kinh tế - xã hội Mặt khác để chống độc quyền cần thiết phải có Luật về mặt tài chính cần phải sử dụng công cụ thuế"
Thuế góp phần khuyến khích việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái đồng thời khuyến khích việc khai thác, sử dụng một cách tiết kiệm có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, vật tư trong nước
Bằng các quy định phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, Thuế không những khuyến khích được hoạt động xuất khẩu hàng hoá nội địa, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển đồng thời thuế đã tạo điều kiện tốt cho quan hệ hợp tác quốc tế
trong khu vực và quốc tế (Phan Hiển Minh, Nguyễn Ngọc Thanh & Châu Thành
tế Mọi tổ chức, cá nhân đều phải chịu sự điều chỉnh giống nhau của Pháp luật thuế
(Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, 2005)
Trang 28Thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân bằng các sắc thuế và các mức thuế suất khác nhau đối với từng lĩnh vực, từng mức thu nhập Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các cá nhân trong xã hội Bằng cách đó, Nhà nước thu hẹp, rút ngắn khoảng cách chênh lệch quá mức về thu nhập giữa các bộ phận trong xã hội Người có thu nhập cao phải nộp thuế cao, người
có thu nhập thấp nộp thuế thu nhập ít (Tổng cục Thuế, 2005)
Nhưng đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp, các cá nhân sản xuất kinh doanh giỏi, có hiệu quả bằng cách thừa nhận các khoản thu nhập hợp pháp của họ
Trong điều kiện kinh tế chưa phát triển, ý thức Pháp luật, tính tự giác của số lớn các đối tượng nộp thuế chưa cao Để đảm bảo sự công bằng về nghĩa vụ nộp thuế thì một việc hết sức quan trọng là phải tăng cường công tác quản lý thu thuế Thông qua việc kiểm tra, thanh tra việc chấp hành Pháp luật thuế phát hiện và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm Pháp luật thuế Từ yêu cầu đó trong mọi luật thuế đều quy định rõ các biện pháp xử phạt, cưỡng chế Nhờ đó thuế đã góp phần tích cực trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội nói chung
1.1.5 Phân biệt thuế với lệ phí, phí
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật của các cá nhân
và pháp nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp
Lệ phí là khoản thu vừa mang tính chất phục vụ cho đối tượng nộp lệ phí về việc thực hiện một số thủ tục hành chính vừa mang tính chất động viên sự đóng góp cho ngân sách Nhà nước
Phí là khoản thu mang tính chất bù đắp chi phí thường xuyên hoặc bất thường như phí về xây dựng, bảo dưỡng, duy tu của Nhà nước đối với những hoạt động phục
Trang 29Trong khi đó lệ phí, phí được ban hành đưới dạng Nghị định, Quyết định của chính phủ; Quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Xét về mục đích và mức độ ảnh hưởng đối với nền kinh tế - xã hội thì thuế
có 3 tác dụng lớn:
- Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước
- Ðiều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và định hướng phát triển kinh tế
- Ðảm bảo sự bình đẳng giữa những chủ thể kinh doanh và công bằng xã hội
Như vậy, chúng ta thấy thuế có tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính quốc gia Trong khi đó lệ phí, phí không có những tác dụng nói trên, nó chỉ có tác dụng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Hơn nữa, việc tạo nguồn này không phải dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trước hết dùng để bù đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan cung cấp cho xã hội một số dịch vụ công cộng như: dịch vụ công chứng, dịch vụ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan
Ngoài dấu hiệu là thuế được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước, thuế còn được phân biệt với lệ phí, phí ở chỗ các cá nhân và pháp nhân có nghĩa
vụ nộp thuế cho Nhà nước nhưng không trên cơ sở được hưởng những lợi ích vật chất tương ứng mang tính chất đối giá Trong khi đó hình thức lệ phí, phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá Tính bắt buộc của lệ phí và phí chỉ xảy ra khi chủ thể nộp lệ phí, phí thừa hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp
Bên cạnh đó, thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế thể hiện ở chỗ Nhà nước thu thuế từ các cá nhân và pháp nhân trong xã hội nhưng không bị ràng buộc bởi trách nhiệm phải hoàn trả lại cho người nộp Người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được các lợi ích vật chất
từ việc sử dụng các dịch vụ công cộng do Nhà nước sử dụng các khoản chi của ngân sách Nhà nước để thực hiện các chính sách kinh tế xã hội chung cho cả cộng đồng Tuy nhiên, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà
họ đã nộp cho Nhà nước Tính chất này của thuế cho phép chúng ta phân biệt thuế với
Trang 30lệ phí, phí và các khoản thu mà Nhà nước tập trung vào ngân sách Nhà nước nhưng ràng buộc trách nhiệm hoàn trả cho đối tượng nộp dưới các hình thức như vay nợ, tạm ứng cho ngân sách Nhà nước
1.2 QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ
là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình Ở Việt Nam, theo Nghị định
số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí
ưu tiên)”, cụ thể như sau:
Trang 31Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ theo Nghị định số
56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô
Số lao động
Tổng nguồn vốn
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
II Công nghiệp
và xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người III Thương mại
và dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
Nguồn: Chính Phủ - http://vanban.chinhphu.vn/
1.2.1.2 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, kể cả các nước có trình độ phát triển cao Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu như hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm huy động tối đa các nguồn lực và hỗ trợ cho công nghiệp lớn
Ở Việt Nam, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ nên doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thu hút vốn, làm cho nền kinh tế năng
động và hiệu quả hơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Nguyễn Xuân Thọ, 2003)
Vai trò của các DNVVN thể hiện qua các mặt sau đây:
- Tạo ra việc làm mới, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp
- Huy động các nguồn vốn và sức mạnh của xã hội trong sản xuất, kinh doanh
- Đóng góp quan trọng vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá
và hiện đại hoá
- Tạo thêm thu nhập cho phần lớn người lao động
- Đóng góp vào phát triển đồng đều giữa các vùng khác nhau
- Góp phần giải quyết các vấn đề xã hội
Trang 32- Đóng góp cho ngân sách Nhà nước
- Đào tạo các cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp lớn trong tương lai và tạo nền tảng kinh tế ban đầu cho sự phát triển của các doanh nghiệp lớn
- Cùng với các doanh nghiệp lớn tạo ra các mối liên kết hiệu quả trong tổng thể các chuỗi giá trị và chuỗi giá trị toàn cầu
1.2.1.3 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp vừa
Thực tiễn cho thấy các doanh nghiệp nói chung là đối tượng thực hiện tương đối tốt nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước như thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán, đăng ký kê khai, chấp hành khá tốt pháp luật về thuế Bên cạnh mặt tích cực đó vẫn còn nhiều tồn tại cần phải khắc phục để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế và quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp đều là đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Vì vậy họ đều tính toán khi nộp thuế bởi nó liên quan đến lợi ích của doanh nghiệp Nếu không phải nộp thuế hoặc nộp thuế ít thì tỷ lệ để lại được dùng vào mở rộng sản xuất kinh doanh, lợi nhuận để lại nhiều hơn Cho nên còn một số doanh nghiệp tìm cách nộp thuế càng ít càng tốt Vì vậy những vi phạm về thuế vẫn cứ tiếp diễn dưới các hình thức như: tìm kẻ hở, lách luật để tránh thuế, tăng chi phí để giảm thu nhập chịu thuế thậm chí có một số doanh nghiệp còn trốn thuế như hạch toán sai chi phí, doanh thu vì vậy đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa sự quản lý của cơ quan thuế
Ngoài ra, các doanh nghiệp vẫn còn một số vi phạm về việc đăng ký, kê khai, quyết toán thuế, dây dưa nộp thuế, nợ đọng thuế gây khó khăn phức tạp trong quá trình quản lý thu thuế và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế
Trang 33Những tồn tại trên xuất phát từ một số nguyên nhân như: cơ chế chính sách thuế vẫn còn nhiều hạn chế chưa quy định chi tiết, cụ thể; giữa các luật có khi không đồng
bộ gây khó khăn cho công tác thực hiện Công tác quản lý thuế vẫn còn nhiều mặt yếu kém, đội ngũ cán bộ thuế vẫn có những cán bộ chưa thực sự nắm chắc chuyên môn nghiệp vụ còn thụ động, thiếu kiên quyết, lúng túng, chưa có biện pháp cứng rắn trong quá trình xử lý các trường hợp vi phạm Mặt khác, nhiều doanh nghiệp chưa thực
sự am hiểu chính sách thuế, thậm chí còn một số doanh nghiệp không tuân thủ các quy định về pháp luật thuế để trốn thuế, gian lận thuế
Qua sự phân tích trên cho thấy việc tăng cường công tác quản lý thuế đối với các DNVVN là rất cần thiết đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ mới có thể nâng cao hiệu quả của công tác này, góp phần chống thất thu, tăng thu ngân sách, hạn chế sự
vi phạm của các doanh nghiệp, đồng thời giúp Nhà nước quản lý và điều tiết các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung đúng định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.1.4 Các sắc thuế thu vào doanh nghiệp
Thuế đối với doanh nghiệp là thuế đánh vào các pháp nhân kinh doanh bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân (DNTN), công ty cổ phần (CTCP), công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên (TNHH), công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty hợp danh, hợp tác xã (HTX)
1.2.1.4.1 Thuế Giá trị gia tăng (GTGT)
Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch
vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng (Đăng Thuỷ, 2011)
Giá trị gia tăng = Tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra – Giá trị hàng hoá, dịch
vụ mua vào tương ứng
- Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho SXKD và tiêu dùng
- Đối tượng nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT hoặc nhập khẩu hàng hoá thuộc diện chịu thuế GTGT
- Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất Giá tính thuế GTGT được quy định cụ thể tại Điều 7 Luật thuế GTGT áp dụng cho từng loại hàng hoá, dịch vụ
Ví dụ: Giá tính thuế đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT, đối với hàng hoá nhập khẩu giá tính thuế là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu v.v
Trang 34Luật thuế GTGT của Việt Nam hiện nay quy định các mức thuế suất là: 0%, 5%, 10% áp dụng cho các nhóm hàng hoá dịch vụ
- Phương pháp tính thuế GTGT: Gồm có 02 phương pháp tính thuế; phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
+ Phương pháp khấu trừ thuế:
Số thuế phải nộp = thuế GTGT đầu ra - thuế GTGT đầu vào
Trong đó: Thuế GTGT đầu ra bằng giá tính thuế hàng hoá dịch vụ bán ra nhân (x) thuế suất; Thuế GTGT đầu vào = Tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu
+ Phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT: Theo phương pháp này, số thuế GTGT mà đối tượng nộp thuế phải nộp = GTGT của hàng hoá, dịch vụ nhân (x) với thuế suất
1.2.1.4.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của
các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh (Đăng Thuỷ, 2011)
Căn cứ theo Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp hiện hành thì Thuế TNDN được quy định như sau:
- Đối tượng nộp thuế TNDN: Là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:
+ Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu
tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp Nhà nước; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư; Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung
+ Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực;
+ Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã;
+ Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam
Trang 35Thu nhập
chịu thuế
Các khoản thu nhập khác
Thu nhập
tính thuế
Thu nhập chịu thuế
Thu nhập được miễn thuế
Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định
+ Doanh nghiệp nước ngoài, tổ chức nước ngoài sản xuất kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính
- Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập tính thuế và thuế suất:
Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước theo quy định
Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:
= - +
Thu nhập chịu thuế được tính như sau:
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định như sau:
= Doanh thu - Chi phí được trừ +
Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ chi phí được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó Doanh nghiệp có nhiều hoạt động kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập của từng hoạt động nhân với thuế suất tương ứng
Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải hạch toán riêng để kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, không được bù trừ với thu nhập hoặc lỗ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh khác
Trang 36- Miễn, giảm thuế TNDN: Luật thuế TNDN có các quy định về miễn thuế, giảm thuế TNDN áp dụng cho các đối tượng đầu tư sản xuất, kinh doanh thuộc ngành nghề,
lĩnh vực ưu đãi đầu tư (Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, 2006)
1.2.1.4.3 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Theo luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành thì luật thuế này chỉ điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế phát sinh từ hoạt động xuất, nhập khẩu hàng mậu dịch qua biên giới Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu
- Đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là các tổ chức và cá nhân có hàng hoá được phép xuất, nhập khẩu thuộc diện chịu thuế
- Căn cứ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm: Số lượng từng mặt hàng ghi trong tờ khai hàng xuất khẩu, nhập khẩu, giá tính thuế và thuế suất
Trong đó: Giá tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được áp dụng cụ thể đối với từng trường hợp Giá tính thuế đối với hàng xuất khẩu là giá bán cho khách hàng tại cửa khẩu không bao gồm chi phí vận chuyển và phí bảo hiểm theo hợp đồng bán hàng; Giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu là giá mua của khách hàng tại cửa khẩu nhập bao gồm chi phí vận tải và chi phí bảo hiểm theo hợp đồng mua hàng (giá CIF)
- Thuế suất: Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập nhập khẩu bao gồm các thuế suất tỷ
lệ % áp dụng cho từng mặt hàng xuất nhập khẩu
- Miễn, giảm thuế, hoàn lại thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu:
+ Hàng xuất khẩu, nhập khẩu được miễn thuế trong một số trường hợp như hàng viện trợ không hoàn lại, hàng tạm nhập, tái xuất
+ Chế độ giảm thuế được áp dụng trong một số trường hợp thiệt hại hàng hoá trong quá trình vận chuyển, bốc xếp bị hư hỏng, mất mát
+ Hoàn lại thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong từng trường hợp hàng đã nộp thuế
nhưng thực tế không xuất, không nhập vào Việt Nam (Quốc Hội nước CHXHCN Việt
Nam, 2005)
1.2.1.4.4 Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)
Thuế TTĐB là một loại thuế gián thu thông qua chế độ thu thuế TTĐB, nhà nước động viên một bộ phận thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước, đồng thời nhà nước thực hiện hướng dẫn và điều tiết tiêu dùng của xã hội
Trang 37- Đối tượng nộp thuế: bao gồm các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoá và kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB
- Căn cứ tính thuế TTĐB là giá tính thuế của hàng hoá dịch vụ chịu thuế và thuế suất Giá tính thuế đối với hàng hoá sản xuất trong nước là giá do cơ sở sản xuất bán ra tại nơi sản xuất chưa có thuế TTĐB, đối với hàng hoá nhập khẩu là giá tính thuế nhập khẩu cộng (+) thuế nhập khẩu
- Thuế suất: Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt gồm các thuế suất tỷ lệ % quy định áp dụng có tính chất phân biệt giữa các nhóm hàng hoá, dịch vụ và giữa các hàng hoá, dịch vụ trong cùng một nhóm nhằm thực hiện chính sách điều tiết sản xuất và tiêu dùng của nhà nước
- Miễn, giảm thuế TTĐB: Thuế TTĐB là thuế gián thu có tác dụng lớn trong việc điều tiết tiêu dùng của xã hội Do đó luật thuế TTĐB chỉ quy định giảm thuế trong một số trường hợp như; cơ sở sản xuất mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB gặp
khó khăn do thiên tai, địch hoạ, tai nạn bất ngờ (Quốc Hội nước CHXHCN Việt
Nam, 2008)
1.2.1.4.5 Thuế tài nguyên
Là loại thuế điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế tài nguyên với các tổ chức và cá nhân khai thác tài nguyên thuộc chủ quyền của Việt Nam
- Đối tượng nộp thuế tài nguyên bao gồm mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế, không phân biệt nghành nghề, hình thức khai thác có địa điểm cố định hay lưu động có khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc chủ quyền của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác, giá tính thuế và thuế suất
- Sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác là số lượng, trọng lượng hay khối lượng của tài nguyên khai thác thực tế trong kỳ nộp thuế, không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên
+ Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên tại nơi khai thác tài nguyên
+ Biểu thuế tài nguyên gồm các thuế suất tỷ lệ % áp dụng theo nhóm và loại tài nguyên
- Miễn, giảm thuế tài nguyên: được áp dụng đối với các trường hợp nhằm khuyến khích đầu tư, khuyến khích sản xuất hoặc để thực hiện một số chính sách kinh
tế - xã hội của nhà nước (Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, 2009)
Trang 381.2.1.4.6 Thuế môn bài
Thuế môn bài là thuế đăng ký kinh doanh được tính theo năm, thông qua chế độ thu thuế môn bài Nhà nước thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Mức thuế môn bài được áp dụng theo số tuyệt đối và được phân biệt theo 2 nhóm: Tổ chức kinh tế và hộ kinh doanh cá thể Đối với doanh nghiệp (tổ chức) thì mức môn bài được quy định từ 1.000.000đ đến 3.000.000đ tuỳ theo vốn đăng ký
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm về thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
+ Đều đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế,
+ Đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý bằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định Chủ thể quản lý là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp) Đối tượng bị quản lý là các tổ chức
và cá nhân có nghĩa vụ về thuế Mục đích quản lý là để đối tượng nộp thuế và các đối tượng có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình Phương tiện quản lý là sử dụng các qui định về đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, thanh tra thuế với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất cần thiết để quản lý
Quản lý nhà nước về thuế là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế, còn quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong
bộ máy Nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật định nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác của chính đối tượng nộp thuế và sự hỗ trợ của cơ quan thuế và các cơ quan Nhà nước
có liên quan
Trang 39- Quản lý thu thuế đối với DN nói chung và DNVVN nói riêng là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để tổ chức hướng dẫn, điều hành, giám sát việc thực thi pháp luật về thuế đối với các doanh nghiệp nhằm động viên
nguồn thu vào ngân sách nhà nước
- Đối với CBCC thuế, quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế DNVVN nói riêng bao gồm 3 hoạt động riêng biệt, liên tiếp nhau: xác định đối tượng nộp thuế, xác định số thuế phải nộp và thu thuế Chức năng chủ yếu của quản lý ở đây là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng các khoản phạt theo luật thuế để răn đe những đối tượng nộp thuế vi phạm Đồng thời, quản lý thu thuế cũng đảm bảo bên thứ ba có giao dịch mua bán hay cung cấp dịch vụ với đối tượng nộp thuế phải báo cáo đầy đủ, trung thực các giao dịch kinh tế có phát sinh thuế nộp ngân sách nhà nước theo quy định của luật
(Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, 2008)
- Đối với một cơ quan thuế, quản lý thu thuế hay quản lý thu thuế đối với DNVVN là một quá trình giống như quá trình sản xuất Trong đó, đầu vào gồm nhân công (cán bộ công chức thuế), tài liệu và các thông tin, còn đầu ra là số thu cho Nhà nước và sự công bằng cho người nộp thuế
- Quản lý thu thuế đối với DNVVN bao gồm các hoạt động: hoạch định mục tiêu, phân cấp quản lý, xây dựng và ban hành quy trình thủ tục, đề ra giải pháp tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, sắp xếp tổ chức bộ máy và nhân sự để thực hiện các
khâu công việc (Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, 2008)
1.2.2.2 Những đặc điểm chủ yếu quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Quản lý thu thuế đối với đối với DNVVN là quản lý thu thuế đối với những pháp nhân và là những đối tượng nộp thuế lớn Số thu từ DNVVN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nội địa, do vậy quản lý thu thuế đối với DNVVN được đặc biệt quan tâm và đặt ưu tiên hàng đầu Hầu hết cơ quan thuế các nước cũng tập trung không ngừng và đáng kể các nguồn lực vào việc quản lý nhóm đối tượng nộp thuế này
- Quản lý thu thuế trên cơ sở ĐTNT thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng
từ Theo chế độ hiện hành, các doanh nghiệp đều phải mở sổ sách kế toán, và hạch toán kế toán theo chế độ qui định và thực hiện nghĩa vụ thuế theo phương pháp kê khai thuế
- Doanh nghiệp có phạm vi kinh doanh rộng hơn và mức độ phức tạp cao hơn
so với đối tượng là hộ cá thể Ngày nay, nhiều doanh nghiệp có phạm vi kinh doanh
Trang 40trên phạm vi cả nước Vì vậy việc kiểm soát chi phí và thu nhập khi tính thuế là hết sức phức tạp Nhiều doanh nghiệp không trốn thuế một cách "ngây ngô" như các cá nhân kinh doanh bằng cách gian lận hoá đơn hay bán hàng không xuất hoá đơn Các doanh nghiệp này luôn xuất trình đủ hoá đơn, chứng từ và hạch toán rất bài bản, nhưng đằng sau những số liệu "sạch sẽ" đó, là cả một kế hoạch tránh thuế hết sức tinh vi Do
đó quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp đòi hỏi đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao Có như vậy, mới phát hiện được các thủ thuật trốn thuế, tránh thuế hết sức tinh vi của các đối tượng này, từ đó đề xuất hoàn thiện chính sách hoặc xử lý đối tượng vi phạm
1.2.3 Nội dung quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.3.1 Hoạch định mục tiêu quản lý
Mục tiêu là trạng thái tương lai, là đích phải đạt tới mà hệ thống quản lý mong muốn đạt tới Nó có vai trò chi phối và định hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống Mục tiêu quản lý phải được xác định trước, nó luôn chi phối, dẫn dắt cả chủ thể
và đối tượng quản lý trong toàn bộ quá trình hoạt động Xác định mục tiêu đúng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động quản lý
Mục tiêu của quản lý thuế nói chung thường được xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể như: số thuế thu trong một thời gian nhất định; tỷ lệ huy động nguồn thu từ thuế vào ngân sách nhà nước; tốc độ tăng trưởng về số thu của thời kỳ kế hoạch so với thời
kỳ trước; tỷ trọng các sắc thuế (thường hay quan tâm đến tỷ trọng của thuế gián thu và
thuế trực thu trong tổng thu ngân sách) cần đạt được trong từng thời kỳ.v.v (Lê Văn Ái,
1996) Tuy nhiên vì thuế có các chức năng cơ bản là huy động nguồn lực tài chính cho
Nhà nước và điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước, do đó xét đến cùng, mục tiêu của quản lý thuế là nhằm làm cho đối tượng nộp thuế thực hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình, đồng thời Nhà nước thực hiện được các
mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế (Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, 2006)
Mục tiêu cụ thể của quản lý thuế đối với DNVVN, đó là làm cho các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình trên cơ sở mức độ tuân thủ tự nguyện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngày càng cao Điều
đó cũng có nghĩa là số thuế thu từ doanh nghiệp sẽ tiến gần đến số thuế tiềm năng, hay thất thu thuế ngày càng giảm thiểu và tiến dần tới 0; số thu của ngân sách Nhà nước từ doanh nghiệp sẽ là lớn nhất trong điều kiện chính sách thuế ổn định, đồng thời chi phí