Ở nhiều nước, người ta chia ngành dịch vụ ra thành 3 nhóm: 1 Nhóm các dịch vụ kinh doanh: Gồm vận tải, thông tin liên lạc, tài chính, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, các dịch vụ nghề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-
CHU QUANG LUÂN
HOÀN THIỆN DỊCH VỤ HẢI QUAN ĐIỆN TỬ TẠI CỤC HẢI QUAN NGHỆ AN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 31 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Nha Trang - 2012
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này hoàn toàn là kết quả học tập và nghiên cứu của chính bản thân Nếu có gì sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Chu Quang Luân
Trang 3Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn vừa qua, tôi đã nhận được rất nhiều sự đóng góp ý kiến, động viên, giúp đỡ từ phía gia đình, người thân, thầy cô, bè bạn… Chính vì thế, trong trang đầu tiên của luận văn này, tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng và chân thành nhất đến tất cả mọi người
Đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô khoa Kinh tế trường Đại học Nha Trang, Quý thầy cô thỉnh giảng ở các trường khác, đã truyền đạt những kiến thức cơ bản và bổ ích trong suốt quá trình học tập theo chương trình cao học
Tiếp đến, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh, người hướng dẫn khoa học, với lòng nhiệt tâm, sự tận tụy đầy trách nhiệm đã giúp tôi thực hiện luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn các anh chị em lớp cao học quản trị kinh doanh 2009 đã cùng sát cánh, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn Tôi cũng không quên cảm ơn Lãnh đạo, cán bộ, công chức Cục Hải quan Nghệ An đã giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thiện các bảng câu hỏi nghiên cứu, giúp tôi
có căn cứ để thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gởi lời cảm ơn đến gia đình, người thân đã giúp đỡ, động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn !
Chu Qang Luân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài luận văn 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
4 Phương pháp nghiên cứu: 3
5 Kết cấu của luận văn: 4
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về hải quan điện tử và dịch vụ hải quan điện tử 5
1.1 Hải quan điện tử và dịch vụ hải quan điện tử 5
1.1.1 Hải quan điện tử 5
1.1.2 Dịch vụ hải quan điện tử 5
1.1.2.1 Khái niệm 5
1.1.2.2 Đặc điểm 6
1.1.2.3 Sự khác biệt giữa dịch vụ hải quan điện tử và dịch vụ hải quan truyền thống 8
1.2 Vai trò và sự cần thiết của dịch vụ hải quan điện tử 9
1.2.1 Vai trò 9
1.2.2 Sự cần thiết phải triển khai dịch vụ hải quan điện tử 10
1.3 Các loại hình dịch vụ hải quan điện tử 11
1.3.1 Tra cứu, tìm kiếm điện tử 11
1.3.2 Tư vấn hải quan trực tuyến, giải đáp thắc mắc 12
1.3.3 Thanh toán điện tử 12
1.3.3.1 Định nghĩa 12
1.3.3.2 Thanh toán điện tử trong lĩnh vực Hải quan 13
1.3.4 Khai báo hải quan điện tử 15
1.3.4.1 Định nghĩa 15
1.3.4.2 Các hình thức khai báo Hải quan điện tử 15
1.3.5 Thông quan điện tử 18
1.3.5.1 Mô hình kiến trúc thông quan điện tử 18
1.3.5.2 Mô hình trao đổi thông tin 19
1.4 Nội dung và yêu cầu triển khai dịch vụ hải quan điện tử 20
1.4.1 Về sản phẩm dịch vụ 21
Trang 51.4.2 Về đối tượng khách hàng 21
1.4.3 Về địa bàn khu vực 21
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai dịch vụ hải quan điện tử 22
1.5.1 Các nhân tố bên ngoài 22
1.5.1.1 Hệ thống các văn bản pháp lý 22
1.5.1.2 Sự hợp tác của “bên thứ ba” 22
1.5.2 Các nhân tố bên trong 23
1.5.2.1 Hạ tầng công nghệ thông tin 23
1.5.2.2 Nguồn nhân lực công nghệ thông tin 24
1.5.2.3 Nguồn lực tài chính 25
1.6 Kinh nghiện triển khai dịch vụ hải quan điện tử tại một số quốc gia 26
1.6.1 Về mô hình triển khai 26
1.6.2 Về phương pháp thực hiện 26
1.6.3 Về mức độ thực hiện 26
1.6.4 Về điều kiện thực hiện 26
Chương 2: Thực trạng triển khai dịch vụ hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An trong những năm qua 28
2.1 Giới thiệu về Cục Hải quan Nghệ An 28
2.1.1 Thông tin khái quát 28
2.1.1.1 Lịch sử hình thành 28
2.1.1.2 Quá trình phát triển 28
2.1.1.3 Chức năng 31
2.1.1.4 Nhiệm vụ 31
2.1.1.5 Bộ máy cục Hải quan Nghệ An 33
2.1.2 Tình hình hoạt động 33
2.2 Đánh giá các điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động triển khai dịch vụ hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An 37
2.2.1 Hoạt động xuất nhập khẩu và xuất nhập cảnh trên địa bàn 37
2.2.2 Điều kiện pháp lý và thực thi 40
2.2.2.1 Khung pháp lý triển khai dịch vụ hải quan điện tử 40
2.2.2.2 Tính tuân thủ pháp luật 41
2.2.2.3 Hệ thống pháp luật phức tạp, không ổn định 43
Trang 62.2.3 Điều kiện công nghệ và cơ sở hạ tầng 44
2.2.3.1 Điều kiện công nghệ 44
2.2.3.2 Về cơ sở hạ tầng 45
2.2.4 Nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực 46
2.2.5 Chính sách đãi ngộ tiền công, tiền lương 48
2.3 Kết quả triển khai từng loại dịch vụ HQĐT tại Cục hải quan Nghệ An 48
2.3.1.1 Nhóm dịch vụ Hải quan trên cổng thông tin điện tử 48
2.3.1.2 Nhóm dịch vụ Khai báo từ xa 49
2.3.1.3 Dịch vụ thông quan điện tử 51
2.3.1.4 Dịch vụ thanh toán điện tử 52
2.4 Đánh giá chung về kết quả triển khai dịch vụ hải quan điện tử tại Cục hải quan Nghệ An trong thời gian qua 53
2.4.1 Những kết quả đạt được 53
2.4.2 Những khó khăn tồn tại 57
2.4.2.1 Khó khăn 57
2.4.2.2 Tồn tại 58
2.4.3 Nguyên nhân 59
Chương 3- Một số giải pháp hoàn thiện dịch vụ hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An 62
3.1 Cơ hội và thách thức đối với việc triển khai dịch vụ Hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An 62
3.1.1 Cơ hội 62
3.1.2 Thách thức 64
3.2 Định hướng phát triển, cải cách hiện đại hóa Cục HQ nghệ An hướng đến năm 2020 65
3.2.1 Quan điểm về cải cách, hiện đại hóa HQ Nghệ An 65
3.2.2 Định hướng 65
3.2.2.1 Định hướng chung 65
3.2.2.2 Định hướng về triển khai dịch vụ Hải quan điện tử 65
3.3 Các giải pháp hoàn thiện dịch vụ HQĐT tại Cục HQ Nghệ An 66
3.3.1 Nâng cấp và mở rộng các loại hình dịch vụ HQ điện tử 66
3.3.1.1 Giai đoạn 2012-2015 66
Trang 73.3.1.2 Giai đoạn 2015-2020 69
3.3.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ đối với khách hàng 71
3.3.2.1 Xây dựng chính sách khách hàng hợp lý 71
3.3.2.2 Quan tâm công tác chăm sóc khách hàng 72
3.3.3 Nâng cấp hạ tầng cơ sở CNTT 73
3.3.4 Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực 74
3.3.4.1 Đào tạo cán bộ công chức 75
3.3.4.2 Sử dụng cán bộ công chức 76
3.3.5 Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính 76
3.3.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền 76
3.4 Một số kiến nghị 77
KẾT LUẬN 81
Trang 8CÁC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ
BCTK Báo cáo thông kê
HQĐT Hải quan điện tử
HS Mã số hàng hóa xuất nhập khẩu
KETOAN559 Phần mềm kế toán thuế hải quan
LAN Local Area Network ( Hệ thống mạng Cục bộ)
NSNN Ngân sách nhà nước
SLXNK Số liệu xuất nhập khẩu
TCHQ Tổng cục Hải quan
TMĐT Thương Mại điện tử
TQĐT Thông quan điện tử
TTDL Trung tâm dữ liệu
TTĐT Thanh toán điện tử
TTHC Thủ tục hành chính
TTHQĐT Thủ tục hải quan điện tử
VNACCS/VCIS Hệ thống thông quan điện tử do Nhật Bản tài trợ
WAN Wide Area Network (Hệ thống mạng diện rộng)
WCO World Customs Organization (Tổ Chức Hải quan thế giới)
Trang 95 Bảng 2.5 Thống kê tình hình triển khai DV HQĐT 51
6 Bảng 2.6 Thống kê kết quả triển khai DV TQĐT 52
7 Bảng 2.7 - Thống kê các hình thức khai báo 54
8 Bảng 2.8 - Thống kê kết quả thực hiện thông quan điện
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 1.1 Tư vấn trên cổng thông tin điện tử 15
2 Hình 1.2 Các hình thức khai báo Hải quan điện tử 19
3 Hình 1.3 Mô hình kiến trúc Hệ thống Thông quan điện
4 Hình 1.4 Mô hình trao đổi thông tin thông quan điện tử 24
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1 Số thu thuế/Chỉ tiêu được giao 47
2 Biểu đồ 2.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu 48
3 Biểu đồ 2.3 Khoảng cách từ trụ sở DN đến điểm làm
4 Biểu đồ 2.4 Lượt hành khách & Phương tiện XNC 49
5 Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ các hình thức khai báo 62
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài luận văn
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các hoạt động thương mại, đầu tư và du dịch ngày càng phát triển, đòi hỏi các cơ quan quản lý phải đẩy mạnh cải cách hành chính, đáp ứng với yêu cầu chung của sự phát triển đó Một trong những công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho cải cách hành chính là triển khai các dịch vụ giao dịch điện tử Phương hướng chung của công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia là thực hiện Chính phủ điện tử Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật giao dịch điện
tử số 51/2005/QH10 ngày 29/11/ 2005 Chính phủ ban hành Nghị định số
27/2007NĐ-CP ngày 23/02/2007 về giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính
Là cơ quan thuộc Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan có nhiệm vụ: thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, Hải quan Việt Nam đề ra các chương trình cải cách, phát triển và hiện đại hoá, lấy công nghệ thông tin làm nền tảng để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã và đang tạo ra một cuộc cách mạng trong phương pháp quản lý và cách thức hoạt động của Hải quan Việt Nam Trong những năm gần đây, trước sức ép phải tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, đặc biệt
là thương mại quốc tế phục vụ cho tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế của quốc gia buộc cơ quan Hải quan phải tiến hành hiện đại hóa hoạt động quản lý và chính công nghệ thông tin đã tạo ra cơ hội giúp cơ quan Hải quan giải quyết được khó khăn của mình
Nhờ vào CNTT và viễn thông, các trung tâm dịch vụ trực tuyến được thiết lập, các phương pháp quản lý truyền thống dựa trên việc xử lý giấy tờ được thay thế dần bằng phương thức xử lý các giao dịch điện tử Qua các cổng thông tin này, người dân
và DN nhận được thông tin, có thể hỏi đáp pháp luật, được phục vụ hoặc giải quyết các thủ tục trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của mình, như khai HQ từ xa,
Trang 13thanh toán các khoản tài chính như thuế, lệ phí v.v mà không phải mất thời gian, chi phí đến tại trụ sở cơ quan HQ như trước đây
Về mặt pháp lý, trên cơ sở Luật giao dịch điện tử, Bộ Tài chính đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005
về việc thí điểm thủ tục hải quan điện tử và Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg ngày 12/8/2009 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tưóng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 222/2009/TT-BTC ngày 25/11/2009 hướng dẫn thí điểm thủ tục hải quan điện tử Những kết quả đạt được trong thời gian vừa qua là rất khả quan Tổng số lượng doanh nghiệp và tổng lượng tờ khai hải quan tham gia dịch vụ hải quan điện tử đã không ngừng tăng lên, giảm được sự ùn tắc hàng hoá, phương tiện ở cửa khẩu, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam được tăng lên do giảm được các chi phí đi lại và thời gian làm thủ tục thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh
Tuy nhiên, dịch vụ hải quan điện tử trong ngành Hải quan thời gian qua còn bộc
- Nguồn nhân lực, vật lực của ngành chưa đáp ứng yêu cầu
- Chưa có sự đồng thuận hợp tác từ phía doanh nghiệp và người dân
Cục Hải quan Nghệ An là đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải quan, với bề dày truyền thống và kinh nghiệm hơn 56 năm xây dựng và trưởng thành đã nhanh chóng tiếp cận với tiến trình hiện đại hoá của ngành Hải quan Việt Nam Những kết quả về triển khai dịch vụ hải quan điện tử trong thời gian qua đã góp phần vào việc tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu Đồng thời tạo điều kiện cho đơn vị đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Hải quan Nghệ An hướng tới chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả Tuy vậy, với những khó khăn khách quan và chủ quan, việc triển khai dịch vụ hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An trong thời gian qua có thể nói là chưa đáp ứng yêu cầu chung
Trang 14của ngành và sự phát triển tăng lên không ngừng của các doanh nghiệp tham gia hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Nguyên nhân là:
- Khung khổ pháp lý về giao dịch điện tử và dịch vụ hải quan điện tử chưa hoàn thiện;
- Sự hợp tác với “ bên thứ ba” như là các cơ quan nhà nước, các nhà cung cấp dịch vụ, các doanh nghiệp… chưa chặt chẽ và thiếu tính đồng bộ
- Hạ tầng công nghệ thông tin chưa được đảm bảo;
- Nguồn nhân lực chất lượng cao vừa thiếu, vừa yếu;
- Chưa có một sự nghiên cứu đầy đủ, hệ thống về dịch vụ Hải quan điện tử
Từ những nguyên nhân nêu trên, việc tìm ra các giải pháp để triển khai tốt dịch
vụ hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An trong thời gian tới là một vấn đề cấp
bách và cần thiết Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài:” Hoàn thiện dịch vụ hải quan điện tử
tại Cục Hải quan Nghệ An” cho luận văn thạc sỹ
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá thực trạng những thuận lợi, khó khăn, cũng như kết quả và những tồn tại, hạn chế trong việc triển khai dịch vụ HQĐT tại Cục Hải quan Nghệ An trong thời gian qua
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện triển khai dịch vụ HQĐT tại Cục Hải quan Nghệ An trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các loại dịch vụ liên quan đến hải quan điện tử như: Tra cứu điện tử, tư vấn hải quan trực tuyến, giải đáp thắc mắc, thanh toán điện tử, khai hải quan điện tử, thông quan điện tử Khách thể là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hành khách, người khai hải quan, người nộp thuế, đại lý hải quan
- Phạm vi nghiên cứu: Tại Cục Hải quan Nghệ An
- Thời gian nghiên cứu: Đối với số liệu thứ cấp: Nghiên cứu trong khoảng thời gian 2007 – 2011; đối với số liệu sơ cấp: tại thời điểm khảo sát, điều tra, thăm dò ý kiến được thực hiện trong năm 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp điều tra phỏng vấn và chuyên gia;
Trang 15- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm ba chương:
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng, biểu đồ, tài liệu tham khảo, nội dung được chia thành 3 chương:
- Chương 1:Những vấn đề cơ bản về dịch vụ Hải quan điện tử
- Chương 2: Thực trạng triển khai dịch vụ Hải Quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ
An
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện dịch vụ Hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An
Trang 16Chương 1 Những vấn đề cơ bản về hải quan điện tử và dịch vụ hải quan điện tử
1.1 Hải quan điện tử và dịch vụ hải quan điện tử
1.1.1 Hải quan điện tử
Hải quan điện tử là việc thực hiện các giao dịch Hải quan bằng phương tiện điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan Hải quan
Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử,
kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương
tự
1.1.2 Dịch vụ Hải quan điện tử
1.1.2.1 Khái niệm
a) Khái niệm về dịch vụ
Dịch vụ là ngành không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Dịch
vụ được hiểu theo hai quan niệm sau:
- Dịch vụ là lĩnh vực phục vụ bao gồm các ngành sản xuất ( thuộc về quá trình lưu thông hàng hóa và phục vụ nhu cầu con người)
- Dịch vụ là một dạng hoạt động (giao dịch và phục vụ) nhằm thỏa mãn trực tiếp những nhu cầu của từng cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng dân cư Quan niệm này cho rằng dịch vụ không chỉ trong lĩnh vực phi sản xuất mà còn có dịch vụ sản xuất Ví dụ: dịch vụ cơ khí, dịch vụ nông nghiệp,…
Cơ cấu các ngành dịch vụ hết sức phức tạp Ở nhiều nước, người ta chia ngành dịch vụ ra thành 3 nhóm:
1) Nhóm các dịch vụ kinh doanh: Gồm vận tải, thông tin liên lạc, tài chính, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, các dịch vụ nghề nghiệp …
2) Nhóm các dịch vụ tiêu dùng: gồm các hoạt động bán buôn, bán lẻ, du lịch, các dịch vụ cá nhân (như y tế, giáo dục, thể dục thể theo),…
3) Các dịch vụ công: gồm các dịch vụ hành chính công, các hoạt động đoàn thể
b) Khái niệm dịch vụ Hải quan điện tử
Là một thành phần của ngành dịch vụ sử các phương tiện điện tử nhằm thỏa mãn trực tiếp những nhu cầu của cá nhân, các tổ chức kinh tế xã hội, cộng đồng dân cư
để thực hiện quyền và nghĩa vụ về lĩnh vực Hải quan Ví dụ: khai báo Hải quan điện
tử, thông quan điện tử, tính thuế XNK, giám sát Hải quan, tra cứu thông tin, giải đáp vướng mắc và tư vấn trực tuyến…
Trang 17Có thể nói dịch vụ Hải quan điện tử là sự đan xen giữa nhóm dịch vụ công và nhóm dịch vụ kinh doanh
1.1.2.2 Đặc điểm
a) Đặc điểm của dịch vụ
Dịch vụ có các đặc trưng cơ bản khác với sản phẩm hữu hình khác, như tính vô hình, tính không thể tách rời khỏi nguồn gốc, tính không ổn định về chất lượng, tính không lưu giữ được
Trong hầu hết các ngành kỹ nghệ sản xuất, sản phẩm được bao gói và chuyên chở qua các trung gian, các đại lý, đến những người bán buôn, các cửa hàng bán lẻ rồi đến tay người tiêu dùng cuối cùng Đối với dịch vụ, người tiêu dùng có thể phải đến nơi mà ở đó dịch vụ được “tạo ra” Nghĩa là, dịch vụ được bán hay cung cấp cho khách hàng trước khi họ cảm nhận được lợi ích thực sự của nó Chính điều này làm cho khách hàng cảm thấy liều lĩnh khi mua những dịch vụ, do vậy để mua một dịch vụ hay một sản phẩm kèm theo dịch vụ, khách hàng phải được thông tin đầy đủ những gì mà
họ sẽ có trong toàn bộ các giai đoạn của quá trình mua và sử dụng sản phẩm hay dịch
vụ Vì thế, việc tuyên truyền, quảng cáo đóng vai trò rất quan trọng để câu dẫn khách hàng đến quyết định mua một dịch vụ
Dịch vụ về cơ bản là không cụ thể,do vậy nó rất dễ bắt chước Điều này làm cho việc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn và đó cũng chính là thách thức chủ yếu của marketing dịch vụ
Một dịch vụ có thể do nhiều tổ chức cung ứng, do đó các giải pháp mix cũng chịu tác động bởi các chính sách của các tổ chức mà doanh nghiệp sản xuất liên kết để cung cấp dịch vụ cho khách hàng
marketing-Một đặc trưng rất cơ bản của dịch vụ là tính không tách rời được Trong đa số các trường hợp, dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời, và chỉ được hoàn thành cùng với sự hoàn thành tiêu dùng của khách hàng Nếu chưa có khách hàng, chưa có
hệ thống tạo ra dịch vụ
Do dịch vụ được thực hiện bởi những người cung cấp khác nhau, ở những thời gian và địa điểm khác nhau và có cả sự can thiệp của khách hàng trong quá trình tạo ra dịch vụ đã tạo ra tính không ổn định của dịch vụ Vì thế khó có thể kiểm tra trước chất lượng dịch vụ và điều này gây khó khăn trong quản lý chất lượng của dịch vụ Một đặc điểm rất quan trọng nữa là phối thức dịch vụ (services-mix) có cấu trúc phức tạp đòi
Trang 18hỏi tính tổng hợp và tính đồng bộ cao, là một tập hợp có kết cấu hợp lý bao gồm nhiều dịch vụ liên quan mật thiết với nhau và tác động qua lại với nhau, bổ sung cho nhau trong quá trình tạo ra lợi ích cho khách hàng Việc phối hợp các dịch vụ này với nhau
ở những mức độ và kết cấu khác nhau sẽ hình thành nên những phối thức dịch vụ khác nhau Vấn đề là mỗi doanh nghiệp cần phải biết khéo léo kết hợp các loại dịch vụ khác nhau đó để tạo ra cho mình một tập hợp dịch vụ tương đối hoàn chỉnh phù hợp với những thế mạnh của mình, đồng thời đáp ứng tốt nhất nhu cầu có tính đặc thù của từng thị trường mục tiêu mà doanh nghiệp đã lựa chọn Mặt khác, do thị trường luôn thay đổi, đòi hỏi doanh nghiệp phải thiết kế một cấu trúc dịch vụ sao cho có thể điều chỉnh linh hoạt theo sự thay đổi nhu cầu và thị hiếu của khách hàng để tránh lãng phí vì chi phí thiết kế dịch vụ mới thường rất tốn kém
b) Đặc điểm của dịch vụ Hải quan điện tử
Dịch vụ Hải quan điện tử có những đặc điểm của một ngành dịch vụ, ví dụ: Tính vô hình hay tính không thể tách rời…Ngoài ra dịch vụ Hải quan điện tử là dịch
vụ mang tính chất chuyên ngành của một cơ quan quản lý nhà nước về Hải quan nên
Vậy, dịch vụ Hải quan điện tử vừa có những đặc điểm chung vừa có những đặc điểm riêng nhưng tất cả đều phải đáp ứng được yêu cầu của cơ quan Hải quan và phía cộng đồng doanh nghiệp
Trang 191.1.2.3 Sự khác biệt giữa dịch vụ hải quan điện tử và dịch vụ hải quan truyền thống
Có thể nói Hải quan truyền thống và Hải quan điện tử là hai mặt đối lập để giải quyết một vấn đề ở những thời điểm, giai đoạn phát triển khác nhau Nói là truyền thống nhưng thực chất là cách làm thủ công chiếm nhiều thời gian, chi phí, phiền hà, phức tạp Còn Hải quan điện tử là việc áp dụng các phương thức điện tử, tiến bộ khoa học, công nghệ thay cho việc làm thủ công trước đây, góp phần cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa về Hải quan Thúc đẩy sự phát triển, tạo môi trường thương mại thông thoáng, đơn giản, minh bạch thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc thế và khu vực
Sự khác biệt giữa dịch vụ Hải quan truyền thống và Hải quan điện tử có thể mô tả như sau:
SỰ KHÁC NHAU GIỮA HQ TRUYỀN THỐNG VÀ HQĐT Tên dịch vụ HQ truyền thống HQ điện tử
Tra cứu thông tin
Tra cứu trên các tài liệu dưới dạng văn bản giấy
Tra cứu trên các phương tiện điện tử có kết nối internet, dưới dạng dữ liệu đã được
mã hóa
Tư vấn/ Giải đáp thắc mắc
- Trao đổi bằng văn bản giấy
- Gặp gỡ để trao đổi trực tiếp
Trao đổi trực tuyến thông qua cổng thông tin điện tử
do cơ quan Hải quan xây dựng
Khai báo hải quan và xử lý
thông tin khai báo
- Khai báo trên các mẫu văn bản giấy định sẵn
- Yêu cầu sự hiện diện của
cả người khai HQ và công chức Hải quan để trực tiếp
xử lý thông tin trên bộ hồ sơ giấy
- Khai báo bằng các phần mềm máy tính
- Hệ thống HQĐT tự động hoặc bán tự động xử lý thông tin đã khai báo và phản hồi vào hệ thống CNTT của người khai hải quan
Thanh toán
- Người khai hải quan nộp tiền mặt các khoản bị thu vào Kho bạc Nhà nước
- Công chức hải quan nhận trực tiếp các biên lai thu tiền
- Người khai Hải quan chuyển khoản thông qua tài khoản tại các ngân hàng để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán hải quan
Trang 20từ Kho bạc Nhà nước để hoạch toán kế toán
- Cán bộ Hải quan khai thác chứng từ trên phần mềm máy tính kết nối với Ngân hàng và Kho bạc
Từ sự mô tả trên cho ta thấy vai trò to lớn của dịch vụ Hải quan điện tử trong công cuộc cải cách và hiện đại hóa của ngành Hải quan
1.2 Vai trò và sự cần thiết của dịch vụ hải quan điện tử
1.2.1 Vai trò
Có thể thấy, việc triển khai thực hiện các dịch vụ HQĐT là chiến lược cải cách
và hiện đại hoá của ngành Hải quan Việt Nam Các doanh nghiệp đều nhận thấy rằng, tham gia, sử dụng các dịch vụ Hải quan điện tử, nhất là thủ tục HQĐT sẽ tăng khả năng cạnh tranh trong môi trường thương mại quốc tế, giảm được thời gian thông quan
và tiết kiệm chi phí
Ngoài ra, mở rộng các mô hình dịch vụ Hải quan điện tử góp phần thực hiện tốt việc đánh giá tổng thể thực trạng các thủ tục hành chính (TTHC) hiện hành, phát hiện các bất cập, trên cơ sở đó đưa ra các phương án giải quyết, hoàn thiện hệ thống TTHC theo hướng đơn giản, thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp; tạo bước chuyển căn bản trong cải cách TTHC, nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch của TTHC; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội; góp phần phòng chống tham nhũng và lãng phí
Triển khai thực hiện các dịch vụ HQĐT giúp doanh nghiệp chủ động về thời gian làm thủ tục hải quan, thay vì trước đây chỉ có thể khai báo hải quan trong giờ hành chính, nay hệ thống khai HQĐT của cơ quan hải quan tiếp nhận tờ khai 24/24h; quá trình khai báo, doanh nghiệp nhận được thông tin phản hồi từ cơ quan hải quan nhanh chóng, kịp thời, giúp cho việc khai báo được thuận lợi, chính xác; thực hiện khai HQĐT, doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí đi lại, phô tô, in ấn hồ sơ; điểm mấu chốt là thực hiện thủ tục HQĐT giúp thời gian thông quan lô hàng được rút ngắn (chỉ 3-5 phút), đối với lô hàng miễn kiểm tra, doanh nghiệp chỉ cần hoàn thành thủ tục hải quan qua mạng, đối với lô hàng phải kiểm tra thực tế thì thủ tục đơn giản, nhanh gọn hơn rất nhiều Chính vì vậy, các doanh nghiệp XNK luôn mong muốn được hợp tác và sẵn sàng ủng hộ ngành Hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục HQĐT
Trang 211.2.2 Sự cần thiết phải triển khai dịch vụ hải quan điện tử
Triển khai dịch vụ Hải quan điện tử là góp phần vào thực hiện kế hoạch cải cách, phát triển hiện đại hóa ngành với mục tiêu đổi mới, hiện đại hóa một cách mạnh
mẽ, toàn diện các mặt công tác Hải quan nhằm nâng cao năng lực quản lý, tạo thuận lợi cho hoạt động giao lưu thương mại và thực hiện đầy đủ các cam kết Quốc tế
Các dịch vụ Hải quan điện tử sẽ đáp ứng yêu cầu đặt ra cho ngành Hải quan là phải quản lý lượng hàng hóa XNK, lượng hành khách, phương tiện vận tải XNC ngày càng gia tăng; Phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động buôn bán vận chuyển ma tuý, chất gây nghiện, vũ khí, văn hóa phẩm đồi truỵ, phản động ngày càng gia tăng và phức tạp hơn, xuất hiện những hình thức buôn lậu và gian lận mới như: vi phạm bản quyền, xâm phạm sở hữu trí tuệ, vi phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, rửa tiền, buôn lậu động thực vật quý hiếm… Nhưng số lượng cán bộ công chức Hải quan không thể tăng theo tỷ lệ thuận Trong khi đó, hoạt động quản lý Nhà nước về Hải quan vẫn phải đảm bảo tạo thuận lợi, thông thoáng cho hoạt động XNK, đầu tư, du lịch, dịch vụ như thủ tục hải quan phải đơn giản, minh bạch, cung cấp thông tin nhanh chóng, công khai, đặc biệt là phải thông quan nhanh, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp, tạo môi trường thu hút đầu tư nước ngoài nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của dất nước đến năm 2020 liên quan đến hoạt động quản lý Nhà nước về Hải quan và thu ngân sách và yêu cầu cải cách nền hành chính Quốc gia
Xuất phát từ yêu cầu hội nhập và xu hướng phát triển của Hải quan quốc tế cũng như khu vực, Hải quan Việt Nam cần phải thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế liên quan đến Hải quan Trong khuôn khổ WTO, ASEAN, APEC, ASEM, WCO và các tổ chức Quốc tế khác, Việt Nam cần phải đảm bảo hệ thống pháp luật về Hải quan đầy đủ, thống nhất, rõ ràng và công khai, phù hợp với các cam kết quốc tế; đảm bảo cho các quy định của pháp luật hải quan được thực hiện nghiêm chỉnh, bình đẳng cho mọi đối tượng Bên cạnh đó, cũng cần nhìn nhận sự phát triển của Hải quan Việt Nam trong bối cảnh phát triển thương mại quốc tế như việc xuất hiện các hình thức bảo hộ mới trong điều kiện thuế ngày càng giảm, yêu cầu về luân chuyển, trao đổi hàng hóa ngày càng nhanh chóng, các loại hình vận chuyển đa phương thức, thương mại điện tử ngày càng phát triển và trở thành phổ biến, sự xuất hiện của các nguy cơ khủng bố quốc tế, tội phạm ma tuý gia tăng
Trang 22Hải quan Việt Nam đang phấn đấu trở thành Hải quan tiên tiến trong khu vực ASEAN Hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, với phương châm hành động của Hải quan Việt Nam là “Chuyên nghiệp - Minh bạch - Hiệu quả“ Tầm nhìn đến năm 2015 và
2020 là quản lý Hải quan hướng tới tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư và du lịch, thực hiện Hải quan điện tử, cơ quan Hải quan hoạt động có tính chuyên nghiệp, minh bạch và liêm chính
Trên đây là những lý do cơ bản cho thấy sự cần thiết phải triển khai dịch vụ Hải quan điện tử Với các loại hình dịch vụ Hải quan điện tử cơ bản được đề cập ở mục 3
1.3 Các loại hình dịch vụ hải quan điện tử
1.3.1 Tra cứu, tìm kiếm điện tử
Hiện nay, ngành Hải quan nói chung và Cục Hải quan các tỉnh, thành phố nói riêng đều đã xây dựng cổng thông tin điện tử có các tính năng phù hợp với các nghiệp
vụ góp phần nâng cao hiệu quả điều hành đồng thời hỗ trợ các hoạt động chỉ đạo của các lãnh đạo các cấp về công tác quản lý của cán bộ công chức (các tính năng về điều hành tác nghiệp); đảm bảo thông tin phục vụ hoạt động của bộ máy hành chính Cổng thông tin điện tử còn là điểm cung cấp thông tin về mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế,
xã hội cũng như các dịch vụ công trực tuyến, phục vụ nhu cầu thông tin của công dân, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội, cán bộ công chức, khách du lịch, các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Đặc biệt Cổng thông tin điện tử là nơi tra cứu thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả và chính xác về các lĩnh vực của ngành Hải quan Ở đây, người dân, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội, cán bộ công chức và các nhà đầu tư trong và ngoài nước đều có thể tra cứu, tìm kiếm được các nội dung sau:
- Danh mục hàng hóa XNK,
- Biểu thuế XNK;
- Phân loại hàng hoá;
- Mã HS;
- Thư viện văn bản điện tử;
- Tỷ giá hối đoái;
- Tình trạng nợ thuế;
- Thông tin khác
Trang 23Ngoài ra cán bộ công chức Hải quan còn có thể sử dụng các chương trình ngành như: SLXNK, Quản lý rủi ro, kết toán 559, chương trình vi phạm, Chương trình trị giá
tính thuế… để tra cứu, tìm kiếm thông tin trên các lĩnh vực công tác Hải quan (Phụ
lục 1)
1.3.2 Tư vấn hải quan trực tuyến, giải đáp thắc mắc
Hiện nay, việc tư vấn Hải quan trực tuyến được thực hiện chủ yếu trên các kênh dịch vụ sau: Tư vấn trực tuyến trên cổng thông tin điện tử; qua chương trình Skype, chương trình messger yahoo và hỗ trỡ thủ tục Hải quan điện tử qua trình duyệt teamviewer
Trong đó, việc tư vấn trực tuyến qua cổng thông tin điện tử là kênh chính thức
để giải đáp các vướng mắc về nghiệp vụ Hải quan và các vấn đề liên quan
Hình1.1 Tư vấn Hải quan trên cổng thông tin điện tử
1.3.3 Thanh toán điện tử
1.3.3.1 Định nghĩa
Thanh toán điện tử là việc thanh toán tiền thông qua các thông điệp điện tử thay cho trao tay tiền mặt (Theo báo cáo quốc gia về kỹ thuật thương mại điện tử của Bộ Thương mại)
Trang 241.3.3.2 Thanh toán điện tử trong lĩnh vực Hải quan
Ngành Hải quan đang nỗ lực thực hiện những cấu phần quan trọng của quá trình hiện đại hóa hải quan như tự động hóa thủ tục hải quan, khai báo điện tử, kiểm tra, giải phóng hàng nhanh nhằm vừa tạo thuận lợi thương mại, vừa đảm bảo được quản lý hải quan Một khâu không thể thiếu trong quá trình đó là thanh toán điện tử các khoản thu của hải quan
Vai trò của Thương mại điện tử và Thanh toán điện tử
Theo Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2006-2007, hệ thống thanh toán điện tử (TTĐT) yếu kém luôn được đánh giá là trở ngại lớn đối với phát triển thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam Phương thức thanh toán được áp dụng chủ yếu hiện nay vẫn là phương thức giao dịch B2C (Business to Consumer) là tiền mặt – giao hàng
Tuy nhiên, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đã tạo dấu ấn thúc đẩy TMĐT, TTĐT khẳng định chỗ đứng trong đời sống kinh tế - xã hội Giai đoạn tới được đánh giá sẽ là giai đoạn bùng nổ của TTĐT trong tất cả các lĩnh vực thương mại, ngân hàng, tài chính với các doanh nghiệp và người tiêu dùng Phương thức kinh doanh B2B (Business to Business) sẽ chiếm ưu thế nổi trội so với B2C trong các giao dịch thương mại điện tử
TMĐT cũng như TTĐT sẽ giúp các doanh nghiệp làm giảm các chi phí phát sinh, xử lý, phân phối, dự trữ và giảm thiểu chi phí trong thu nhận thông tin, giảm các chi phí hành chính, chi phí vô hình trong quá trình mua hàng
TMĐT cho phép doanh nghiệp có thể giảm mức tồn kho cũng như các chi phí quản lý đồng thời giúp giảm thời gian trong quá trình mua và bán, từ khâu thanh toán đến khâu giao hàng hoá và dịch vụ
Ngoài ra, còn các lợi ích khác như quảng cáo công ty, cải tiến các dịch vụ cung cấp cho khách hàng, tìm các đối tác mới, đơn giản hoá các qui trình, giảm thời gian giao hàng, tăng hiệu quả, giảm lưu trữ giấy tờ tài liệu, dễ dàng cập nhật thông tin, giảm chi phí vận tải cũng như tăng khả năng đáp ứng linh hoạt
Việc thanh toán đối với các khoản thu của Hải quan hiện nay
Trong thời điểm ngành Hải quan đang áp dụng thông quan điện tử, việc thanh toán các khoản thu của doanh nghiệp như thuế, lệ phí cần phải đảm bảo chính xác, đơn giản và kịp thời, tạo thuận lợi thương mại Nếu không giải quyết tốt khâu này, thời
Trang 25gian thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ bị chậm trễ, gây bức xúc cho doanh nghiệp
Trước năm 2010 việc thanh toán các khoản thu của Hải quan được thực hiện bằng thủ công Các khách hàng, doanh nghiệp khi thực hiện nghĩa vụ thuế và lệ phí thì thanh toán cho Kho bạc Nhà nước Sau đó, Hải quan sẽ xác nhận đối chiếu trên cơ sở các biên lai, chứng từ giấy Với trường hợp nộp thuế ngay, doanh nghiệp cần xuất trình bản chính của giấy chuyển tiền vào tài khoản thuế tại Kho bạc hoặc bản chính bảo lãnh nộp thuế của Ngân hàng nơi doanh nghiệp giao dịch
Hạn chế của mô hình này là thời gian thực hiện thông quan sẽ chậm do luồng thông tin giữa Kho bạc Nhà nước và Hải quan chưa được xử lý trực tuyến Thời gian xác nhận tiền đã có trên tài khoản Kho bạc Nhà nước bị kéo dài do việc đối chiếu thủ công, việc đi lại giải quyết các khâu lặp lại nhiều lần
Việc áp dụng thanh toán điện tử sẽ giải quyết hạn chế của mô hình này Kết nối thông tin giữa hệ thống thanh toán của Ngân hàng, Hải quan điện tử và hệ thống thanh toán Kho bạc sẽ làm thủ tục thanh toán được đơn giản và chính xác Khách hàng có thể khai báo thủ tục và nộp thuế, lệ phí bằng hệ thống giao dịch trực tuyến thay vì giao dịch trực tiếp tại Ngân hàng, Kho bạc, Hải quan
Chính vì lẽ đó, Ngày 2/4/2009, Lễ ký kết Thỏa thuận khung hợp tác tổ chức phối hợp thu Ngân sách Nhà nước giữa Kho bạc Nhà nước – Ngân hàng Công thương Việt Nam – Tổng cục Hải quan đã diễn ra tại trụ sở của Ngân hàng Công thương Việt Nam
Theo thỏa thuận này, Tổng cục Hải quan, Kho bạc Nhà nước và Vietinbank sẽ
tổ chức xây dựng quy trình, kết nối thông tin để phối hợp triển khai thực hiện ủy quyền thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phí, lệ phí và các khoản thu khác của Ngân sách Nhà nước liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu Quy trình này
sẽ thông qua hệ thống các chi nhánh, điểm giao dịch hoặc qua hệ thống ATM của Vietinbank theo phạm vi ủy nhiệm thu Ngân sách Nhà nước của Kho bạc Nhà nước
Việc ký kết thoả thuận hợp tác này được đánh giá là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay khi ngành Hải quan thực hiện cải cách, hiện đại hóa theo hướng Hải quan điện tử Doanh nghiệp sẽ thuận lợi và nhanh chóng hơn trong khâu thông quan hàng hóa do rút ngắn được thời gian chờ xác nhận nộp thuế từ Kho bạc nhà nước
Trang 26Tổng cục trưởng TCHQ Lê Mạnh Hùng đã phát biểu tại buổi lễ: “Việc ký kết thoả thuận hợp tác giữa Kho bạc Nhà nước- Tổng cục Hải quan – Ngân hàng Công thương Việt Nam, không chỉ phục vụ tốt cho công tác quản lý thu NSNN mà còn là cơ hội trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin phục vụ cho công tác quản lý và phòng ngừa rủi ro, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động của các bên.”
Tuy nhiên việc kết nối Kho bạc Nhà nước – Tổng cục Hải quan và Ngân hàng vẫn còn nhiều hạn chế cần được hoàn thiện hơn trong thời gian tới Ví dụ: Hoàn thiện hành lang an toàn pháp lý, hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, tăng tốc đường truyền, giảm độ trễ trong trao đổi thông tin, dữ liệu và kêu gọi sự tham gia tích cực hơn nữa của cộng đồng doanh nghiệp
1.3.4 Khai báo hải quan điện tử
1.3.4.1 Định nghĩa
Khai báo Hải quan điện tử là việc người khai Hải quan sử dụng các chương trình khai báo do cơ quan Hải quan cung cấp hoặc được cung cấp bởi đối tác khác để tạo lập các thông điệp dữ liệu điện tử cần khai báo theo khuôn dạng định sẵn hợp với chuẩn dữ liệu mà cơ quan Hải quan đã công bố Việc truyền, nhận dữ liệu được thực hiện thông qua kết nối internet, kết nối WAN, LAN
1.3.4.2 Các hình thức khai báo Hải quan điện tử
Theo lịch sử phát triển của ngành Hải quan cũng như sự phát triển của công nghệ thông tin mà khai báo Hải quan điện tử cũng trải qua các hình thức khác nhau
phù hợp với từng giai đoạn khác nhau Nó bao gồm các hình thức sau:
Hình 1.2: Các hình thức khai báo điện tử
Trang 27a) Khai báo và kết nối bằng thiết bị lưu trữ ngoại vi
Việc khai báo và kết nối trên thiết bị ngoại vi như đĩa mềm, USB, băng từ, ổ cứng di động…được thực hiện từ những năm 2006 trở về trước Việc khai báo chủ yếu được thực hiện trên các file dữ liệu đã được định sẵn và các thiết bị ngoại vi này được phép kết nối trực tiếp với máy tính của cơ quan Hải quan để truyền dữ liệu vào hệ thống phần mềm quản lý của cơ quan Hải quan Khai báo qua thiết bị ngoại vi giúp doanh nghiệp chuẩn bị trước dữ liệu sẽ khai báo cho cơ quan Hải quan Còn cơ quan Hải quan sử dụng dữ liệu đó mà không mất thời gian cập nhật vào hệ thống quản lý của mình, cũng như chi phí cho việc khai báo là rất thấp
Tuy nhiên, Phương pháp khai báo này nhanh chóng bị loại bỏ vì nhiều hạn chế như người khai Hải quan vẫn phải chi phí đi lại, phải nộp hồ sơ giấy và phải làm thủ công các công đoạn khác như khai thủ công Khai báo qua thiết bị ngoại vi còn là cơ hội trực tiếp lây lan các loại virus làm cho hệ thống công nghệ thông của cơ quan Hải quan thiếu an toàn
b) Khai báo tại phòng khai
Tiến xa hơn khai báo qua thiết bị ngoại vi là người khai Hải quan dùng hệ thống phòng khai của cơ quan Hải quan để khai báo, truyền nhận dữ liệu với cơ quan Hải quan thông qua hệ thống mạng Wan, Lan Phương pháp này có nổi trội hơn khai báo qua thiết bị ngoại vi là sử dụng phần mềm khai báo đầu cuối để truyền nhận dữ liệu Việc truyền nhận được thực hiện trong cùng hệ thống mạng của cơ quan Hải quan nên đảm bảo an toàn hơn
c) Khai báo từ xa
Khai báo từ xa là hình thức doanh nghiệp sử dụng một trong ba phương thức sau để truyền nhận dữ liệu với cơ quan Hải quan bằng một trong ba hình thức sau: Khai báo thông qua website; khai báo bằng phần mềm miễn phí đầu cuối do Hải quan cung cấp và khai báo qua phần mềm đầu cuối có phí do các đối tác bên ngoài cung cấp Tất cả các lựa chọn này đều được khai báo thông qua đường Internet
- Việc khai báo qua website Hải quan rất thuận tiện, người khai chỉ cần tìm một máy tính bất kỳ, ở một vị trí bất kỳ mà có kết nối Internet là có thể khai báo Hải quan Khai báo qua website có thể nói là rất năng động nhưng cũng có những mặt hạn chế, như dữ liệu sau khi khai báo không lưu trữ được, tức người khai không thể sử dụng lại
dữ liệu đó cũng như không thể sửa chữa để khai lại khi có sai sót Hoặc khi mất điện
Trang 28đột ngột thì việc cập nhật dữ liệu để khai báo lại phải làm lại từ đầu Chính vì những hạn chế đó mà đa số doanh nghiệp lựa chọn phương pháp khai báo bằng thiết bị kết nối đầu cuối
- Khai báo qua phần mềm miễn phí Hải quan, điều đầu tiên cho ta thấy đó là doanh nghiệp không phải chi phí tiền bạc cho việc mua phần mềm khai báo Việc sử dụng phần mềm miễn phí của cơ quan Hải quan người khai yên tâm về chuẩn dữ liệu
để kết nối với cơ quan Hải quan Trên phần mềm đã được cài đặt và cấu hình kết nối đến cơ quan Hải quan, người khai Hải quan tiến hành tạo lập thông tin tờ khai, các chứng từ kèm theo của bộ hồ sơ như tờ khai trị giá, hóa đơn thương mại, vận đơn, hợp đồng… Sau khi tạo lập xong dữ liệu, người khai tiến hành khai báo đến cơ quan Hải quan Nếu dữ liệu đúng và đủ sẽ được cơ quan Hải quan chấp nhận và trả thông tin phản hồi về cho doanh nghiệp Còn dữ liệu không được chấp nhận cũng có phản hồi để doanh nghiệp sửa chữa và khai bổ sung
Thuận lợi của việc sử dụng phầm mềm đầu cuối để khai báo là dữ liệu khai báo được lưu trữ trên máy tính của doanh nghiệp, dó đó doanh nghiệp có thể sử dụng lại
dữ liệu đã dùng cho các lần khai báo sau Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể khai thác
dự liệu đó để phục vụ cho công tác quản lý, báo cáo, thanh khoản Tuy nhiên đây là phần mềm miễn phí nên công việc bảo trì và hỗ trỡ gặp nhiều khó khăn vì không có người theo dõi quản lý phần mềm thường xuyên Chức năng của phần mềm chưa đáp ứng được hoàn toàn mong muốn nghiệp vụ của doanh nghiệp Nên việc lựa chọn các phần mềm có phí sẽ mang lại hiệu quả công việc cao hơn
- Khai báo bằng phần mềm có phí: Các phần mềm này đều được xây dựng dựa trên chuẩn dữ liệu mà cơ quan Hải quan đã công bố Về cơ bản nó giống với phần mềm miễn phí của cơ quan Hải quan Vì là mất phí nên người sử dụng có thể yên tâm
về chế độ bảo hành, bảo dưỡng, nâng cấp cũng như sự hỗ trợ khác từ phía đối tác cung cấp phần mềm Các chức năng của phần mềm có thể được thiết kế, cài đặt theo yêu cầu quản lý, khai báo của từng doanh nghiệp, không bị hạn chế như phần mềm miễn phí mà cơ quan Hải quan cung cấp Ở đây việc thiết lập dữ liệu và khai báo hoàn toàn giống với việc tạo lập và khai báo ở phần mềm miễn phí Dù là phần mềm miễn phí hay phần mềm có phí của các công ty khác nhau nhưng về cơ bản là giống nhau về chức năng, nhiệm vụ khai báo
Trang 29Phần mềm này tiếp tục được phát triển, nâng cấp để phục vụ cho thông quan điện tử Có thể nói khai báo điện tử là một phần trong kế hoạch hiện đại hóa ngành Hải quan Là bước chuẩn bị, tạo nền tảng cho việc thực hiện thông quan điện tử khi thời gian đến
1.3.5 Thông quan điện tử
Là việc ứng dụng công nghệ thông vào tất cả các khâu trong qui trình nghiệp vụ hải quan, bao gồm: khai báo, tiếp nhận, kiểm tra, phân luồng, xác nhận thông quan, giám sát hàng hóa đều được tự động hóa 100% Mọi thông tin đều được mã hóa, truyền nhận thông qua đường internet Mọi chứng từ điện tử đều có giá trị như chứng
từ giấy để làm thủ tục Hải quan (trừ trường hợp hàng hóa thuộc diện phải kiểm tra thực tế)
1.3.5.1 Mô hình kiến trúc thông quan điện tử
Mô hình thông quan điện tử hiện tại mà toàn ngành Hải quan đang dùng là mô hình tập trung cấp Cục và được chia thành 3 khối cơ bản
- Khối thứ nhất là khối phía người khai Hải quan (khối doanh nghiệp) thường gọi là “khối đầu” Thông tin đầu tiên được tạo lập từ khối này, được truyền đến cơ quan Hải quan bằng đường Internet để bắt đầu cho một qui trình thông quan điện tử
- Khối thứ hai hay còn gọi “khối giữa” là khối nằm ở cấp Cục Khối này có nhiệm vụ tiếp nhận thông tin, lưu trữ tạm thời, kiểm tra logic, vận chuyển thông tin về
“khối cuối” bằng hệ thống websevice, và trả phản hồi cho người khai Hải quan bằng kết nối internet
- Khối thứ 3 hay còn gọi là “khối cuối”, khối này là tập hợp các Chi cục Hải quan cùng một Cục Dữ liệu khai báo của doanh nghiệp tập trung ở Cục được chuyển
về cho các Chi cục thông qua hệ thống mạng WAN Khi dữ liệu về đến đây sẽ được View lên giao diện người dùng để xử lý Trả thông tin về cấp Cục để phản hồi kết quả
xử lý cho người khai Hải quan
Ở cấp Cục và các Chi cục được trang bị hệ thống phần cứng và hệ thống phần mềm đảm bảo cho việc xử lý và lưu trữ dữ liệu được an toàn và trọn vẹn
Trang 30Hình 1.3 Mô hình kiến trúc hệ thống TQĐT
1.3.5.2 Mô hình trao đổi thông tin
- Thông tin tạo ra bởi người khai Hải quan được truyền theo đường Internet đến
hệ thống tiếp nhận ở cấp Cục Hải quan tỉnh, thành phố Hệ thống tiếp nhận ở đây sẽ kiểm tra logic, cấp số tiếp nhận nếu dữ liệu gửi đến là hợp chuẩn, đồng thời trả phản hồi (số tiếp nhận) về cho doanh nghiệp và chuyển dữ liệu đến Chi cục thực hiện thủ tục HQĐT để xử lý Hệ thống tiếp nhận, vận chuyển thông tin cấp cục làm việc hoàn toàn tự động
- Thông tin tạo ra khi Chi cục xử lý dữ liệu được trả về cấp Cục để phản hồi cho doanh nghiệp Thông tin tạo ra khi xử lý dữ liệu ở cấp Chi cục bao gồm: Thông tin kiểm tra sơ bộ ( chấp nhận, hay từ chối bản khai của người khai Hải quan), Thông tin
về số tờ khai, thông tin về lệnh phân luồng tờ khai, thông tin về kiểm tra hồ ( nếu là tờ khai luồng vàng hoặc đỏ), thông tin về kiểm tra thực tế hàng hóa (tờ khai luồng đỏ), kết quả chấp nhận thông quan và các thông tin khác
- Ngoài việc trao đổi thông tin giữa Doanh nghiệp – Cục Hải quan – Chi cục Hải quan thì thông tin tờ khai còn được đẩy lên hệ thống giám sát ở cấp Tổng cục để Chi cục Hải quan cửa khẩu thực hiện cập nhật kết quả xác nhận hàng hóa đã qua khu vực giám sát Hải quan
Thông tin trao đổi Doanh nghiệp – Hải quan và giữa các cấp Hải quan với nhau đều là thông tin hai chiều Riêng thông tin Doanh nghiệp – Hải quan được trao đổi bằng đường Internet còn thông tin giữa các cấp Hải quan được trao đổi thông qua hệ
Trang 31thống mạng LAN, WAN của ngành Ta có thể mô tả việc trao đổi thông tin như hình dưới
Hình 1.4 Mô hình trao đổi thông tin TQĐT
1.4 Nội dung và yêu cầu triển khai dịch vụ Hải quan điện tử
Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động
thương mại quốc tế tăng trưởng mạnh mẽ, điều này là cơ hội và cũng là thách thức với
cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan, là một trong các ngành được giao quản lý và thực thi các chính sách về hoạt động kinh tế đối ngoại của đất nước Hải quan Việt Nam đã gia nhập công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà hoá thủ tục hải quan (gọi là Công ước KYOTO sửa đổi); là đơn vị chủ trì thuộc Bộ Tài chính triển khai cơ chế một cửa quốc gia và ASEAN; đồng thời, Hải quan Việt Nam đã và đang triển khai dự án thông quan điện tử do Nhật Bản tài trợ (VNACCS/VCIS)…Những yêu cầu thực hiện nghĩa vụ pháp lý trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đòi hỏi Hải quan Việt Nam phải tiếp tục đổi mới phương thức quản lý theo yêu cầu của quản lý Hải quan hiện đại bằng việc cung cấp các dịch dụ Hải quan điện tử một cách toàn diện trong hầu hết các hoạt động quản lý của Hải quan
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, ngày 25/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 448/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Hải quan đến năm
2020, theo đó “đến năm 2020…thủ tục hải quan chủ yếu được thực hiện bằng phương thức điện tử tại các địa bàn trọng điểm…”
Trang 32Mặt khác, nhằm đẩy mạnh và cụ thể hóa Chương trình cải cách thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Chính phủ mà cụ thể là Mục X Nghị quyết 25/NQ-CP, Điều 7 Nghị quyết số 68-NQ/CP ngày 27/12/2010 cuả Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính, theo đó đến năm 2012, cắt giảm 10% - 20% chi phí làm thủ tục hải quan cho công dân và doanh nghiệp; giảm 30% thời gian thông quan tại cửa khẩu, đơn giản hóa hơn nữa 13 thủ tục quy định về thủ tục Hải quan điện tử
Vậy, triển khai các dịch vụ Hải quan điện tử là yêu cầu cấp thiết để hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra
1.4.1 Về sản phẩm dịch vụ
Hiện nay, sản phẩm dịch vụ Hải quan điện tử được khách hàng và cơ quan Hải quan sử dụng chủ yếu là nhóm sản phẩm về tra cứu thông tin điện tử; tư vấn điện tử; thu/nộp điện tử các khoản thuế, lệ phí và thu khác về Hải quan và đặc biệt là dịch vụ
về thông quan điện tử
1.4.2 Về đối tượng khách hàng
Đối tượng khách hàng mà các dịch vụ Hải quan điện tử hướng tới là cộng đồng doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức có hoạt động xuất nhập khẩu; hành khách, phương tiện xuất nhập cảnh, người khai hải quan, người nộp thuế, đại lý hải quan và cơ quan quản lý nhà nước về Hải quan
1.4.3 Về địa bàn khu vực
Dịch vụ Hải quan được triển khai sâu rộng trong toàn ngành Hải quan, ở tất cả các địa bàn Hải quan : Điều 6 Luật Hải quan hiện hành quy định: “Địa bàn hoạt động hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực
ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hoá XNK trong lãnh thổ
và trên vùng biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở DN khi tiến hành kiểm tra sau thông quan và các địa bàn hoạt động hải quan khác theo quy định của pháp luật Trong địa bàn hoạt động Hải quan, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hoá, phương tiện vận tải Chính phủ quy định cụ thể phạm vi địa bàn hoạt động hải quan”
Trang 331.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai dịch vụ hải quan điện tử
Việc triển khai dịch vụ Hải quan điện tử chịu chi phối và ảnh hưởng của nhiều nhân tố Bao gồm các nhân tố về bên ngoài, các yếu tố bên trong, các nguồn nội lực và ngoại lực… các yếu tố đó thể hiện như sau:
1.5.1 Các nhân tố bên ngoài
Hải quan là một cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất trên toàn quốc nên khi triển khai dịch vụ Hải quan điện tử thì chịu ảnh hưởng của các yêu tố bên ngoài như:
Hệ thống văn bản pháp luật; Khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ (“bên thứ 3”)
1.5.1.1 Hệ thống các văn bản pháp lý
Dịch vụ Hải quan điện tử dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, được tiến hành trên môi trường mạng đòi hỏi tính pháp lý rất cao Các dịch vụ Hải quan điện tử chỉ có thế triển khai được hiệu quả và an toàn khi các giao dịch điện tử này được công nhận
về mặt pháp lý Trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó Luật Hải quan năm 2001 (sửa đổi bổ sung năm 2005), Luật Giao dịch điện tử 2005, Luật công nghệ thông tin 2006 được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực nhằm đảm bảo tính pháp lý cho việc phát triển các dịch vụ công, trong đó có dịch vụ Hải quan điện tử, giúp cho việc triển khai các dịch vụ này được thuận lợi Tuy nhiên, việc chậm quy định, hướng dẫn triển khai Luật giao dịch điện tử về chữ ký số của các cơ quan chức năng là một trở ngại lớn trong việc triển khai dịch vụ Hải quan điện tử, đặc biệt là thủ tục Hải quan điện tử trong giai đoạn hiện nay
Tuy đã có khá nhiều văn bản pháp luật (phụ lục kèm theo), nhưng nhìn chung
hệ thống đó vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, nhiều văn bản nhỏ lẻ nội dung chồng chéo, chưa hoàn toàn thống nhất gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý và thực thi nhiệm vụ
1.5.1.2 Sự hợp tác của “bên thứ ba”
Để triển khai và thực hiện thành công các dịch vụ Hải quan điện tử ngành Hải quan cần sự hợp tác chặt chẽ, đồng bộ với các đối tác như là các cơ quan quản lý Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà cung cấp dịch vụ…
- Là một đơn vị hành chính quản lý Nhà nước về Hải quan, nên ngành Hải quan thường xuyên phải phối hợp với rất nhiều cơ quan, đơn vị quản lý Nhà nước ở các lĩnh vực khác nhau trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao Việc phối hợp đó rất
Trang 34cần sự nhất quán, đồng bộ trong trao đổi thông tin giữa các đơn vị Bộ, ngành Tuy nhiên, một thực tế rằng: Việc xây dựng một hệ thống dịch vụ điện tử kết nối các cơ quan Nhà nước với nhau phục vụ nhu cầu trao đổi thông tin còn rất hạn chế, manh mún và thiếu đồng bộ
- Ngành Hải quan triển khai các dịch vụ Hải quan điện tử chủ yếu là phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu của cộng đồng doanh nghiệp Do đó muốn thành công ngành Hải quan rất cần sự hợp tác ủng hộ của những khách hàng này Mặc dù ngành Hải quan đã có các giải pháp thu hút doanh nghiệp thực hiện các thủ tục Hải quan điện
tử Nhưng do nhiều nguyên nhân mà phản ứng của doanh nghiệp với Hải quan điện tử còn chậm và thiếu nhiệt tình, làm cho việc triển khai các dịch vụ Hải quan điện tử gặp không ít khó khăn
Ngoài ra để triển khai thành công các dịch vụ Hải quan điện tử ngành Hải quan rất cần sự hợp tác của các nhà cung cấp dịch vụ khác, bao gồm: các nhà cung cấp hệ thống phần cứng, hệ thống đường truyền và hệ thống phần mềm Trong thời gian qua các nhà cung cấp dịch vụ có cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình nhưng tình hình không được cải thiện nhiều Ví dụ: chất lượng đường truyền thấp, không ổn định, thời gian khắc phục lâu; Chỉ có bốn doanh nghiệp xây dựng được phần mềm tương thích trong việc truyền nhận dữ liệu với cơ quan Hải quan là Công ty cổ phần Softech, Công ty Thái Sơn, Công ty TNHH Thương mại-Dịch vụ CNTT G.O.L
và Công ty TNHH Dịch vụ E-Customs FCS thuộc Công ty Hệ thống Thông tin FPT;…
Ngoài sự cần thiết hợp tác của “bên thứ ba” thì các nhân tố bên trong của cơ quan Hải quan là đóng vai trò cốt yếu
1.5.2 Các nhân tố bên trong
1.5.2.1 Hạ tầng công nghệ thông tin
Ngành Hải quan được xem là đơn vị dẫn đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách thủ tục hành chính Với cơ sở hạ tầng công nghệ thông từ trung ương đến địa phương được đầu tư theo lộ trình hiện đại hóa của ngành trong từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể đảm bảo công cuộc hiện đại hóa ngành Hải quan thực sự có hiệu quả
Ngành Hải quan hiện có 33 trụ sở cục Hải quan tỉnh, thành phố, hơn 200 Chi cục được trang bị khoảng 8.840 máy trạm, 883 máy chủ các loại (từ năm 2002 đến nay) Tính trung bình mỗi Chi cục có 4 máy chủ vừa để quản trị mạng vừa để chạy
Trang 35ứng dụng, trong khi đó, tại Chi cục đang sử dụng hơn 10 phần mềm ứng dụng khác nhau theo mô hình phân tán Hệ quả là các đơn vị đều chung tình trạng thiếu máy chủ, không có máy dự phòng Chủ trương của ngành Hải quan là hạn chế đầu tư tại Chi cục
để chuyển dần về mô hình tập trung Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu trước mắt thì tối thiểu mỗi năm vẫn cần 150 – 200 máy chủ thay thế, bổ sung (chưa tính máy chủ để triển khai phần mềm mới) Hệ thống phòng máy chủ ở các Cục Hải quan tỉnh, thành phố chưa được thiết kế theo đúng tiêu chuẩn, đang sử dụng hệ thống làm mát dân dụng thay vì sử dụng hệ thống chuyên dụng, rồi hệ thống điện cung cấp cho phòng máy chủ còn thiếu ổn định
Về máy trạm thì khoảng 80% cán bộ, công chức Hải quan được trang bị máy tính, trong đó, 100% cán bộ nghiệp vụ được trang bị máy tính nối mạng Số lượng máy trạm hiện tại về cơ bản đủ, song do nhiều máy tính được trang bị từ quá lâu, tốc độ xử
lý chậm, đến hạn thanh lý, vì thế, mỗi năm cần trang bị khoảng 1.200 – 1.500 máy để thay thế
Bên cạnh đó, hệ thống mạng LAN, WAN ngành Hải quan mặc dù đã được quy hoạch, thiết kế và triển khai đồng bộ từ năm 2004, song đến thời điểm hiện tại cũng đã đến lúc cần phải đầu tư, nâng cấp và bổ sung thêm thiết bị dự phòng
Ngoài ra, hệ thống an ninh, an toàn cũng có nhu cầu phải tăng cường đầu tư hơn nữa Hệ thống hiện tại đã được thiết kế và triển khai từ năm 2005 Đến nay, các đơn vị đều đã được triển khai hệ thống AD, email, đầu tư trang bị một số công cụ bảo mật ở mức tối thiểu Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao về chuẩn hoá hệ thống và đảm bảo an ninh thông tin, đặc biệt đối với việc triển khai thủ tục hải quan điện tử, khai hải quan từ xa, kết nối trao đổi thông tin với cơ quan Thuế, Ngân hàng, Kho bạc, thì rất cần phải đầu tư, tăng cường hơn nữa hệ thống an ninh, an toàn cho các đơn vị
1.5.2.2 Nguồn nhân lực công nghệ thông tin
Toàn ngành Hải quan có hơn 495 cán bộ, công chức làm công tác tin học, trong
đó có khoảng 30 cán bộ có trình độ là Thạc sỹ, 215 cán bộ có trình độ là Kỹ sư và 250 cán bộ là Cử nhân Đội ngũ cán bộ, công chức của ngành có đủ năng lực, trình độ chuyên môn để xây dựng, triển khai các dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng đòi hỏi hiện đại hóa ngành Hải quan
Cục Công nghệ thông tin & Thống kê Hải quan là đầu mối tập trung để định hướng, xây dựng và triển khai các dịch vụ về Hải quan điện tử Dưới Cục Công nghệ
Trang 36thông tin là các Trung tâm Công nghệ thông tin hoặc các phòng, ban Công nghệ thông tin trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố Ngoài ra, ngành Hải quan còn được hỗ trợ của Cục tin học Bộ Tài chính và các đối tác bên ngoài Để xây dựng và triển khai thành công các dịch vụ Hải quan điện tử ngành Hải quan cần phải huy động toàn bộ nguồn lực nói trên
Tuy nhiên, trình độ công nghệ thông tin ngành Hải quan là không đồng đều và thiếu nguồn lực có chất lượng cao, thiếu hẳn đội ngũ chuyên gia về công nghệ thông tin, nên gặp không ít khó khăn khi triển khai các dự án công nghệ thông tin mang tầm
cỡ khu vực và quốc tế
1.5.2.3 Nguồn lực tài chính
Nguồn kinh phí để triển khai các dịch vụ Hải quan điện tử được lấy từ ngân sách Nhà nước Thông quan các “gói dự án” phục vụ hiện đại hóa ngành Hải quan, được Chính phủ phê duyệt hàng năm Trên cơ sở đó Tổng cục Hải quan mới phân bổ kinh phí cho từng Cục Hải quan địa phương để triển khai các dịch vụ ở cấp Cục và cấp Chi cục Tranh thủ được nguồn kinh phí này sẽ rất thuận lợi cho việc triển khai các dịch vụ Hải quan điện tử nói riêng và thực hiện thành công mục tiêu hiện đại hóa ngành Hải quan nói chung
Tuy nhiên, để tiếp cận được nguồn kinh phí này Tổng cục Hải quan phải xây dựng được các đề án hiện đại hóa cho từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể và phải dự trù được nguồn kinh phí có độ chính xác cao để Chính phủ phê duyệt Đây là một thuận lợi để có được nguồn kinh phí chính thức, nhưng cũng là một khó khăn cho cả quá trình thực hiện Vì để hoàn thành một đề án có độ chính xác cao phải mất rất nhiều công sức và thời gian Trong quá trình thực hiện nếu có phát sinh lớn sẽ rất khó để bổ sung nguồn kinh phí, điều này làm giảm tiến độ triển khai các chương trình hiện đại hóa ngành Hải quan theo kế hoạch đã đề ra
Ngoài ra, ngành Hải quan còn có thể tranh thủ các nguồn vốn ODA được các cơ quan chính thức của Chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ, để đảm bảo nguồn lực tài chính thực hiện mục tiêu đến năm 2020 Hải quan Việt Nam trở thành một lực lượng Hải quan tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
Trang 371.6 Kinh nghiệm triển khai dịch vụ Hải quan điện tử tại một số quốc gia
Dịch vụ Hải quan điện tử được thực hiện tại rất nhiều quốc gia trên thế giới và
đã đạt được nhiều kết quả khả quan Đặc biệt là một số quốc gia trong khu vực có nhiều mặt tương đồng với Việt Nam như: Singapore, Thailand, Malaysia đã triển khai rất thành công Đây là những kinh nghiệm quý báu để Hải quan Việt Nam triển khai các dịch vụ Hải quan điện tử của mình
1.6.1 Về mô hình triển khai
Mô hình dịch vụ Hải quan điện tử của các nước đều gồm 3 thành phần
- Khách hàng: Cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, đại lý Hải quan
- Cơ quan hay tổ chức truyền nhận dữ liệu (VAN): Là tổ chức trung gian kết nối khách hàng với cơ quan Hải quan
- Cơ quan Hải quan: Để triển khai Hải quan điện tử được tốt, hầu hết các nước đều lựa chọn phương án thiết lập các Trung tâm dữ liệu Trung ương và các Hải quan vùng
1.6.2 Về phương pháp thực hiện
Hầu hết các nước đều có sự lựa chọn triển khai thí điểm trước khi đưa mô hình vào thực hiện chính thức Ví dụ: Thái Lan trong giai đoạn thí điểm chọn ra 8 doanh nghiệp có quá trình chấp hành Luật Hải quan tốt, tham gia hệ thống tại sân bay quốc tế Bangkok Sau đó, tiếp tục triển khai tại các cảng và các khu vực khác
1.6.3 Về mức độ thực hiện
Việc thực hiện dịch vụ Hải quan điện tử có thể ở 3 mức độ khác nhau:
- Các chứng từ khai điện tử thay thế toàn bộ hồ sơ giấy phải nộp (Singapore, Nhật bản, Hàn quốc)
- Các chứng từ khai điện tử không thay thế hoàn toàn cho bộ hồ sơ giấy, người khai vẫn có trách nhiệm nộp hồ sơ khai điện tử để làm thủ tục thông quan (đa số các nước đang áp dụng hệ thống thông quan tự động thực hiện theo phương pháp này)
- Sau khi khai Hải quan điện tử, người khai vẫn phải nộp hồ sơ giấy và trên cơ
sở đó cơ quan Hải quan làm thủ tục hải quan tiếp theo (Hải quan Philliippin)
1.6.4 Về điều kiện thực hiện
- Có đầy đủ cơ sở pháp lý để triển khai các dịch vụ Hải quan điện tử trong toàn ngành nói chung và Cục Hải quan Nghệ An nói riêng
Trang 38- Nguồn nhân lực thực hiện (bao gồm Hải quan, đại lý Hải quan, Doanh nghiệp) phải phù hợp và đủ khả năng đáp ứng yêu cầu công việc Riêng đội ngũ cán bộ, công chức Hải quan các nước đều chú trọng xây dựng lực lượng chuyên gia giỏi, cử đi đào tạo tại WCO và các nước phát triển trên thế giới
Tóm lại: những vấn đề đặt ra tại chương 1 đã nêu tổng quan về Hải quan điện
tử và triển khai dịch vụ Hải quan điện tử Vai trò và sự cần thiết phải triển khai dịch vụ Hải quan điện tử trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng của nền kinh
tế, sự gia tăng nhanh chóng của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và hành khách xuất nhập cảnh là hết sức cần thiết
Triển khai dịch vụ Hải quan điện tử vừa phải đảm bảo tạo thuận lợi tối đa cho các tổ chức, cá nhân tham gia xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh nhưng vẫn đảm bảo sự tuân thủ pháp luật Hải quan Những tiện ích mà dịch vụ Hải quan điện tử mang lại cho cộng đồng doanh nghiệp, người dân và cho cả cơ quan Hải quan là rất rõ nét và thiết thực, đặc biệt là giảm thiểu các thủ tục hành chính, chi phí thời gian; tuy nhiên do mới triển khai trong giai đoạn đầu, một số dịch vụ còn đang trong giai đoạn thí điểm ( thanh toán điện tử, thủ tục Hải quan điện tử), quá trình triển khai cũng có những thuận lợi, khó khăn nhất định Những vấn đề này sẽ được đánh giá, làm rõ hơn qua thực tế triển khai dịch vụ HQĐT tại Cục Hải quan Nghệ An
Trang 39Chương 2: Thực trạng triển khai dịch vụ Hải quan điện tử tại Cục Hải quan Nghệ An trong những năm qua
2.1 Giới thiệu về Cục Hải quan Nghệ An
2.1.1 Thông tin khái quát
2.1.1.1 Lịch sử hình thành
Cách đây 56 năm, ngày 19/05/1956, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ký Nghị định số 161/BTN-NĐ-TC về việc thành lập Chi sở Hải quan Nghệ An, tiền thân của Cục Hải quan tỉnh Nghệ An ngày nay Từ
đó đến nay, ngày 19/5 hàng năm trở thành ngày thành lập của Hải quan Nghệ An
2.1.1.2 Quá trình phát triển
Trải qua 56 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, đồng hành cùng với sự phát triển và lớn mạnh của ngành Hải quan Việt Nam, Cục Hải quan Nghệ An cũng đã trải qua những năm tháng vinh quang và đáng tự hào theo dòng lịch sử của đất nước và của tỉnh Nghệ An Trong những ngày đầu mới thành lập, bộ máy, tổ chức của Chi sở Hải quan Nghệ An còn đơn giản, gọn nhẹ, lực lượng chủ yếu là những cán bộ, nhân viên Hải quan Liên khu 4 gồm: Văn phòng Chi sở, phòng Hải quan Mường Xén, Đội Kiểm nã thuốc phiện, với quân số 25 người Địa bàn hoạt động của Chi sở Hải quan Nghệ An bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh Nhiệm vụ của Chi sở Hải quan Nghệ An lúc đó làm thủ tục cho hàng hoá xuất nhập khẩu qua cảng Bến Thuỷ, phòng Hải quan Mường Xén, tích cực đấu tranh chống buôn lậu qua biên giới và trong nội địa, góp phần vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế Lúc đó, Nhà nước có chủ trương chuyển từ chính sách quản lý ngoại thương sang chế độ Nhà nước độc quyền về ngoại thương, nhiệm vụ của ngành Hải quan nói chung và Hải quan Nghệ An nói riêng là thực hiện chế độ: " thu bù chênh lệch ngoại thương ", đảm bảo cho việc thực hiện đúng đắn chế độ Nhà nước độc quyền về ngoại thương, ngoại hối, thi hành chính sách thuế quan và chống buôn lậu qua biên giới, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất 1961 -1965 Những chuyến hàng xuất khẩu đầu tiên gồm: Lạc, cam, bưởi, gỗ, song mây của Nghệ An và một số tỉnh Bắc miền trung được cán bộ Hải quan Nghệ An kiểm tra và làm thủ tục đã đến với các nước trên thế giới
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nghệ An là một trong những tỉnh của khu Bốn bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt nhất, trở thành tuyến lửa, là
Trang 40trọng điểm đánh phá của giặc Mỹ suốt đêm ngày Các sân bay, bến cảng, nhà ga, các cửa khẩu là những mục tiêu thường xuyên đánh phá của đế quốc Mỹ Cán bộ chiến sĩ Hải quan Nghệ An đã thực hiện chủ trương “quân sự hoá” của ngành, mỗi cán bộ, công chức Hải quan là một chiến sĩ, với khẩu hiệu tất cả cho tiền tuyến “bám tàu, bám hàng, bám cửa khẩu”, vượt qua mưa bom bão đạn của kẻ thù để làm thủ tục cho hàng hoá nhập khẩu qua cảng Bến Thuỷ và xuất khẩu qua cửa khẩu Nậm Cắn để chi viện cho chiến trường Hình ảnh người chiến sĩ Hải quan ngồi trên ca nô, vượt qua bãi thuỷ lôi để ra làm thủ tục nhập cảnh cho tàu Hồng Kỳ ở đảo Ngư, hình ảnh chiến sỹ Hải quan nơi cửa khẩu biên giới bám cửa khẩu, chống trả máy bay mỹ bằng súng bộ binh, vừa bám trụ làm thủ tục cho phương tiện, hàng hoá thông suốt mãi mãi là một hình ảnh đẹp về bản lĩnh của người chiến sĩ Hải quan quê Bác Thời kỳ này, cùng với quân dân cả nước, cán bộ chiến sỹ Hải quan Nghệ An đã làm thủ tục cho hàng triệu lượt người, phương tiện, vũ khí, lương thực qua cửa khẩu đường bộ, đường biển, góp phần cùng quân dân cả nước đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào như lời căn dặn của Bác trước lúc đi xa
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cách mạng nước ta bước vào giai đoạn mới: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Tổ chức Hải quan hai miền Bắc, Nam cũng được hợp nhất thành Cục Hải quan trung ương thuộc Bộ Ngoại thương Lúc này, Chi cục Hải quan Nghệ An được đổi tên thành Chi cục Hải quan Nghệ Tĩnh, đã nhanh chóng củng cố và phát triển hệ thống tổ chức các cửa khẩu biên giới, cảng biển và các Đội kiểm soát lưu động trong nội địa Đến năm 1984, sau khi Hội đồng Nhà nước ra Nghị quyết 547, Hội đồng Bộ trưởng (Nay là Chính phủ ) ban hành Nghị định số 139/HĐBT ngày 20/10/1984 thành lập Tổng cục Hải quan, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, là công cụ chuyên chính nửa vũ trang của Đảng và Nhà nước, có chức năng: Kiểm tra hàng hoá, hành lý, ngoại hối và các công cụ vận tải xuất nhập qua biên giới nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thi hành chính sách thuế XNK, ngăn ngừa, chống các hành vi vi phạm luật lệ Hải quan và các luật lệ khác liên quan đến XNK, XNC chống các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới, nhằm đảm bảo thực hiện đúng đắn chế độ Nhà nước độc quyền về ngoại thương, ngoại hối, góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục vụ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Lúc bấy giờ, Hải quan Nghệ An đã được bổ sung lực lượng từ các nguồn quân đội,